VIETNAMI KATONÁK MAGYARORSZÁGON - CỰU HỌC VIÊN QUÂN SỰ TẠI HUNGARY
vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K

Bàn Tròn Ba Lan – Những Bài học
Bạn đọc cầm trên tay cuốn thứ hai mươi tư[1]* của tủ sách SOS2, cuốn Bàn Tròn Ba Lan – Những Bài học. Đây là bản dịch của bản gỡ băng của Hội thảo được tổ chức từ ngày 7 đến 10 tháng 4 năm 1999, nhân kỷ niệm 10 năm của Bàn Tròn Ba Lan, tại Đại học Michigan, Hoa Kỳ.


1. CHUYÊN TRANG HỘI HỮU NGHỊ ::: 13/09/2017 - 20:37:33

2. SỐNG VUI, SỐNG KHỎE... ::: 02/09/2017 - 09:07:55

3. VK1972: BỐN MƯƠI NĂM ẤY TRÀN ĐẦY TÌNH XƯA... ::: 17/08/2017 - 22:33:14

4. VIẾT VỀ CÁC ANH, CÁC CHỊ... ::: 05/07/2017 - 18:00:24

5. VNKATONÁK họp mặt hoành tráng ::: 03/07/2017 - 10:42:41

6. Mỗi tuần sưu tầm một chuyện ::: 30/06/2017 - 09:08:42

7. CON ĐƯỜNG TỚI HẠNH PHÚC – AZ ÚT A BOLDOGSÁGHOZ ::: 23/06/2017 - 21:27:28

8. 999 năm Thăng Long - Hà Nội ::: 13/05/2017 - 09:00:20

9. TẢN MẢN NĂM THÁNG CUỘC ĐỜI... ::: 11/05/2017 - 07:49:58

10. Trại sơ tán Ba Vì ::: 10/05/2017 - 14:08:00

11. Cột mốc biên cương ::: 24/04/2017 - 14:56:09

12. THA THẨN VỀ THƠ ::: 01/04/2017 - 21:51:53

13. HUNGARY THÁNG 6/2015 ::: 29/01/2017 - 12:23:35

14. CHÚC MỪNG NĂM MỚI! ::: 26/01/2017 - 20:48:59

15. TIN TỨC - THÔNG BÁO ::: 07/01/2017 - 10:47:07



Công ty CP Phát triển Hạ tầng Vĩnh Phúc

ClustrMaps!
Làm việc xua đuổi xa ta ba mối họa lớn: buồn chán, thói hư và túng bấn.
(Voltaire)
Tác phẩm song ngữ: Chí Phèo (Phần VI)
22/08/2006

Thị nở bên vườn chuối
Thị nở bên vườn chuối
Chí Phèo sinh ra trong một gia đình Chí Thức lò gạch, ở một vùng đất đang quy hoạch có tên là làng Vũ Đại.

Ngay từ bé, Chí Phèo đã bộc lộ những năng khiếu phi thường về rượu. Dù rượu ngoại hay rượu nội, dù rượu thuốc hay rượu lậu, cậu bé Chí mới nếm là biết được ngay. Học tới lớp ba, Chí Phèo được cử vào đội tuyển uống rượu quốc gia, sau đó đi thi tranh giải vô địch uống rượu quốc tế tổ chức tại Tây Ban Nha, Chí Phèo đã xuất sắc đoạt huy chương vàng (huy chương bạc thuộc về A Phủ).

Trích áng văn chương chưa từng có trong lịch sử (Bài làm trong kỳ thi tốt nghiệp PTTH niên học 2005-2006)

Vì thế, Chí Phèo mới được vênh vênh ra về: hắn thấy hắn oai thêm bậc nữa. Hắn tự đắc: "anh hùng làng này cóc có thằng nào bằng ta!" Cụ bá thấy mình thắng bên địch mà không cần đến hội đồng làm biên bản xem chừng thích chí. Cụ đưa luôn cho anh đầy tớ chân tay mới luôn năm đồng.

Így eshetett meg, hogy Chi Phéo magasra emelt fejjel térhetett vissza, olyan büszkén, mint még soha. "A falu összes hőse közül nincs egyetlenegy sem, aki a nyomomba léphetne, a bokámig sem érhetnek fől!" - gondolta. A Méltóságos is elégedetnek látszott, mivel visszakapta a pénzét anélkül, hogy a faluvezetők tanácsához fordult volna segítségért. Öt piasztert adott mindjárt új szolgájának.

- Cả năm chục đồng này phần anh, nhưng nếu anh lấy cả thì chỉ ba hôm là tan hết. Vậy anh cầm lấy chỗ này uống rượu còn để tôi bán cho anh mảnh vườn; không có vườn đất thì làm ăn gì?

- Chi, az ötven piaszter, amit visszahoztál nekem, a tied. De ha mind nálad maradna, legföljebb három napig tartana ki. Fogd ezt az ötöt, ez elég lesz arra, hogy vedelhess kedvedre, a többire én vigyázok. Eladok majd érte neked egy darab kertet. Hogyan is élhetnél föld nélkül?

Chí Phèo "vâng dạ" ra về. Mấy hôm sau, cụ bá bảo lý Cường cho hắn năm sào vườn ở bãi sông cắm thuế của một người làng hôm nọ. Chí Phèo bỗng thành ra có nhà. Hồi ấy hắn mới đâu hăm bảy hay hăm tám tuổi...

És egy tisztelettudó "igenis" után Chi Phéo elment. Néhány nappal később Ong Ly Kien, cu Ba Kien szólt a fiának, hogy adja neki azt a telket, amit most foglalt le egy fizetésképtelen adózótól. A telek - néhány köböl mindössze - a folyóparton volt. Chi Phéo így egyik napról a másikra háztulajdonossá lett. És ekkor még csak huszonhét-huszonnyolc éves lehetett...

Bây giờ thì hắn đã thành người không tuổi rồi . Ba mươi tám hay ba mươi chín? Bốn mươi hay là ngoài bốn mươi? Cái mặt hắn không trẻ cũng không già: nó không còn phải là mặt người: nó là mặt của một con vật lạ, nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi? Cái mặt hắn vàng vàng mà lại muốn xạm màu gio; nó vằn dọc vằn ngang, không thứ tự, biết bao nhiêu là vết sẹo. Vết những mảnh chai của bao nhiêu lần ăn vạ kêu làng, bao nhiêu lần, hắn nhớ làm sao nổi? Bao nhiêu việc ức hiếp, phá phách, đâm chém, mưu hại người ta giao cho hắn làm! Những việc ấy chính là cuộc đời của hắn; cuộc đời mà hắn cũng chả biết đã dài bao nhiêu năm rồi. Bởi vì ngay đến cái thẻ có biên tuổi hắn cũng không có, trong sổ làng người ta vẫn khai hắn vào hạng dân lưu tán, lâu năm không về làng. Hắn nhớ mang máng rằng có lần hắn hai mươi tuổi, rồi hắn đi ở tù, rồi hình như hắn hăm nhăm không biết có đúng không? Bởi từ đấy thì đối với hắn không còn ngày tháng nữa. Bởi vì từ đấy hắn bao giờ cũng say. Nhưng cơn say của hắn tràn cơn này qua cơn khác, thành một cơn dài, mênh mông, hắn ăn trong lúc say, thức dậy vẫn còn say, đập đầu rạch mặt chửi bới, dọa nạt trong lúc say, uống rượu trong lúc say, để rồi say nữa, say vô tận. Chưa bao giờ hắn tỉnh và có lẽ hắn chưa bao giờ tỉnh táo, để nhớ rằng có hắn ở đời. Có lẽ hắn cũng không biết rằng hắn là con quỷ dữ của làng Vũ Đại, để tác quái cho bao nhiêu dân làng. Hắn biết đâu hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện. Hắn biết đâu vì hắn làm tất cả những việc ấy trong khi người hắn say; hắn say thì hắn làm bất cứ cái gì người ta sai hắn làm. Tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn mỗi lần hắn qua.

Most talán a legagyafúrtabb ember sem tudná megmondani a korát. Harmincnyolc vagy harminckilenc esztendős lenne? Esetleg negyven vagy még több? Az arcáról itélve se nem fiatal, se nem idős. Már nincs is neki emberi ábrázata. A képe leginkább valami különös, idegen állatéra emlékeztet. És ha egy állatot nézünk, vajon biztosan eltaláljuk-e a korát? A ráncok és az üvegdarabok hasította sebhelyek - mennyi botrányos verekedés bélyegei - úgy összekeristolták ezt a sárga álarcot, hogy már teljesen szürkének látszik. Hány hőzöngés tette ilyenné, hány erőszakoskodás, szabotálás, gyilkosság juttatta idáig? Chi Phéo maga sem tudná megmondani. Hiszen ez volt eddig az élete; olyan élet, amelynek éveit képtelen összeszámolni. Még adókönyve sincs - pedig abban szerepel az adózó életkora. A falu anyakönyvében és lajstromaiban régóta "eltüntként" jegyezték. Chi Phéo homályosan emlékezik, hogy volt ő valaha húszesztendős is... aztán börtönbe került... majd egy nap huszonöt éves lett... de ebben már bizonytalan. Ettől kezdve az idő nem napokat vagy hónapokat jelentett számára. Hiszen ez idő óta sohasem józanodott ki az alkohol gőzéből. A vedelései megállás nélkül követték egymást egészen addig, amíg magába nem olvasztotta minden eszméletét egy végtelen, hatalmas részegség. Berúgott - evett; berúgott - aludt; még minig mámoros volt, amikor másnaposan fölébredt, és kínjában ököllel verte a fejét, karmolászta az arcát, szitkozódott, fenyegetőzött tehetetlenül. Kivetkőztette magából az ital, és újra csak ivott, hogy még részegebb legyen, hogy megint visszajusson a határtalan mámor birodalmába. Soha nem tért igazán magához, talán soha nem világosodott meg az elméje annyira, hogy láthassa, tudhassa: még ebben a világban él. Valószinüleg nem is tudott többet magáról, mint hogy ő az a veszett kutya, amelyik rettegésben tartja Vu Đai falut. Hogyan is tudna hát számot vetni önmagával: hány családot tett tönkre, hány életet tört össze, mennyi örömet zúzott szét, és hány becsületes embert kényszerített sírni, vérezni? Hogyan is ébredne rá arra, hogy mit tett - hiszen mindent részegen követett el. És amikor Chi Phéo ivott - mindenre képes volt. Az egész falu félt tőle, mindenki igyekezett kitérni az útjából.

Vì thế cho nên hắn chửi hay là chẳng vì cái gì hắn cũng chửi, cứ rượu xong là hắn chửi. Hắn chửi như những người say rượu hát. Giá hắn biết hát thì có lẽ hắn không cần chửi. Khổ cho hắn và cho người hắn lại không biết hát. Thì hắn chửi, cũng như chiều nay hắn chửi... Hắn chửi trời và đời. Hắn chửi cả làng Vũ Đại. Hắn chửi tất cả những đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng mặc, ai mà hoài hơi, tức mình hắn chửi đứa nào đẻ ra chính hắn, lại càng không ai cần! Và hắn lấy thế làm ức lắm; bởi vì người ta không thể chửi nhau một mình; chửi nhau một mình thì còn văn vẻ gì! Thế là chắc chắn dã có một cớ để tức tối, một cớ rất chính đáng để hắn có thể hùng hổ đi báo thù. Phải, hắn phải báo thù, báo thù vào bất cứ ai. Hắn phải vào nhà nào mới được, bất cứ nhà nào. Hắn sẽ rẽ vào bất cứ ngõ nào hắn gặp để đập phá đốt nhà hay lăn ra kêu làng nước. Phải đấy, hắn sẽ rẽ vào bất cứ ngõ nào hắn gặp... Á, đâu kia rồi mau mau.

Chi Phéo meg éppen ezért ócsárolta az embereket. No meg azért is, mert örömét lelte a szitkozódásban. Attól a pillanttól kezdve, hogy fölhajtott egy pohárral, máris fröcsköltek a szájából a káromkodások. Mert amikor Chi Phéo részeg, káromkodik - míg mások... énekelnek. Lehet, hogy soha nem züllött volna idáig, ha tudott volna énekelni. De szerencsétlenségére és másokéra - nem tudott dalolni. Hát kárpótolta magát a gorombaságok ordítozásával... Ezen az estén is épp ezt teszi... Felelőségre vonja az eget és az életet. Felelőségre vonja egész Vu Đait. Mindenkit lehord a sárga földig, aki nem utasítja vissza a szitkait. (De mit is törődnének vele az emberek? Ki lenne az a bolond, aki szót veszteget Chi Phéo káromlásaira?) Hát Chi Phéo felbőszültségében köp azokra, akik világra segítették. De erre inkább fütyülnek az emberek. És ez a részvétlen csönd végképp kivetkőzteti önmagából Chi Phéót: hiszen annak semmi értelme, hogy egyedül szitkozódik az ember! Akkor hiányzik a dolog sava-borsa, akkor nincs a botránynak "varázsa"! Ilyenkor elönti Chi Phéo agyát a vér, és bosszúra gondol. Igen, megbosszúlja magát, meg fogja bosszúlni, teljesen mindegy, hogy kin! Csak be kell mennie egy házba találomra! Be fog fordulni az első utcácskába, hogy kiraboljon vagy fölgyújtson egy házat, esetlega földre veti magát, hogy csődület legyen! Ez az! Be fog menni az első útjába eső közbe! Hohó! Már itt is van, na gyerünk gyorsan, gyorsan!

Nhưng mà mặt trăng lên, mặt trăng rằm vành vành. Và ánh trăng chảy trên đường trắng tinh. Ồ, cái gì đây, đen và méo mó trên đường trăng nhễ nhại? Nó xệch xạc về bên trái, thu gọn vào rồi lại dài loang ra, xé rách vài chỗ. Nó cứ quần quật dưới chân Chí Phèo. Chí Phèo đứng lại và nhìn nó và hắn bỗng nghiêng ngả cười. Hắn cười ngặt nghẽo, cười rũ rượi. Giá hắn cứ chửi lại còn dễ nghe! Cái vật xệch xạc trên đường là bóng hắn. Thế là hắn cười, và hắn quên báo thù: hắn đi qua ngõ đầu tiên rồi. Bây giờ thì đến ngõ nhà tự Lãng, một anh thầy cúng có một bộ râu lờ phờ.

Mindeközben fölkelt a hold - a szép, kerek telihold. A fény szétfolyik a fehér úton. De mi ez a formátlan fekete tömeg, ami mindig elmozdul a holdvilág áztatta ösvényen? Hol jobbra, hol balra tántorodik, váratlanul összezsugorodik, hogy aztán egy pillanat múlva újra meg újra megnyúljon; néha szinte szétszakad, elormótlanodik - de soha nem tágít Chi Phéo lábától. Chi Phéo megáll, figyeli a sötét foltot, aztán hirtelen felröhög, de úgy, hogy kis híjján eldönti a röhögés. Fogja az oldalát is, mert belésajdult. (Talán rosszabb visszahallania a saját nevetését, mint a káromkodásait?!) Ez a feketeség, ami tekergőzik az úton, a tulajdon árnyéka. És Chi Phéo annyira mulat ezen, hogy közben elfeledkezik a bosszújárol is. Már túlhaladt az első utcácskán. Elérkezettt ahhoz a magaslathoz, ahonnét Tu Langhoz, a vén kecskeszakálas jóshoz vezet az út.

Chí Phèo bỗng nảy ra một ý: tạt vào đây và đập cái bàn chầu của lão tự nửa mùa này ra. Bởi vì lão tự này vừa làm thầy cúng lại vừa làm nghề hoạn lợn. Cái đàn của lão lừng phừng, nghe còn chối tai hơn là lợn kêu. Nhưng lúc vào thì lão tự lại đang uống rượu; lão uống rượu ngay ở sân, vừa uống vừa vuốt râu, vừa rung rung cái đầu. Chí Phèo đứng lại nhìn, thấy lão cũng hay hay. Rồi đột nhiên hắn khát, trời ơi sao mà khát! Khát đến như cháy họng...

Chi Phéónak agyába villan a gondolat: ha már erre jár, útba ejti ezt a hitvány boszorkányt, és darabokra töri a kéthúros gitátját. Az öreg csillagjós két foglalatosságban osztja meg az idejét: elhívják, hogy áldozati adománnyal engesztelje ki a jó és gonosz szellemeket - de ugyanígy elhívják malacokat herélni is. Gitárjának a hangja kegyetlenebbül fáj az ember fülének, mint a disznók visítása. Most azonban - hogy betért hozzá Chi Phéo - Tu Lang iddogál. Az udvar közepén ücsörög, kortyolgatja a pálinkát, s közben a fejét ingatva cirógatja a kecskeszakállát. Chi Phéónak szinte a földbe gyökerezik a lába a meghatódottságtól, olyan elbűvölőnek találja a vénembert. Chi Phéónak mindig megdobogtatja a szívét, ha valakit inni lát. És ő maga is azonnal megszomjazik. Jóságos ég! Micsoda szomjúság ez! Szinte perzseli a torkot...

Không do dự, hắn lại bên lão tự, nhắc lấy chai rượu ngửa cổ dốc vào mồm tu. Lão tự duỗi cái cổ gà vặt lông ra, trố mắt lên, nhưng không nói gì. Lưỡi lão ríu lại rồi, còn nói làm sao được? Lão đã uống hết hai phần chai. Còn một phần thì Chí Phèo tu nốt. Hắn tu có một hơi, rồi khà một cái, chép cái miệng như còn thèm. Rồi hắn nắm lấy mấy cái râu lờ phờ của lão tự, nâng soi lên trăng mà cười. Lão tự cũng cười. Hai thằng say rượu ngả vào nhau mà cười, như một đôi tri kỷ cuồng. Rồi tự Lãng vào nhà xách hai chai rượu nữa; lão còn đúng hai chai nữa, lão mời Chí Phèo uống nữa, uống thật say, không cần gì. Cứ việc uống, đừng có lo ngại gì đấy! Vợ lão chết đến bảy tám năm nay rồi, con gái lão chửa hoang bỏ lão đi, lão chỉ có một mình, không còn vợ con nào mè nheo cả, lão muốn uống đến bao giờ thì uống. Cứ uống! Cứ uống, cứ uống đi ông bạn lạc đường ở cung trăng xuống ạ! Uống thật tợn, uống đến đái ra rượu thì mới thích. Nhịn uống để làm gì? Có giàu có sang, có làm nên ông cả bà lớn nữa, chết cũng không ai gọi là "cụ lớn mả"! Lão sống có đến hơn năm mươi rồi mà chưa thấy một cụ lớn mả nào sống sót! Chỉ có cái mả, cái mả đất. Ai chết cũng thành cái mả, say sưa chết cũng thành cái mả, lo gì? Cứ say!

Chi Phéo habozás nélkül odalép Tu Langhoz, megmarkolja a pálinkásüveget, hátra hajtja a fejét, és iszik, de úgy, mintha le akarná nyelni az üveget is. Az öregember megfeszíti a nyakát - amely olyan, akár egy kopasztott kakasé -, kimereszti a szemét, és eltátja a száját. Ellfulladnak a torkában a szavak. Az üveg tartalmának a kétharmadát már megiszogatta Chi Phéo érkezése előtt. És most ez a jövevény egy hajtásra kiissza a maradékot, böfög egy nagyot elégedetten, csettint a nyelvével, mint azok az iszákosok szoktak, akik még szomjasak maradtak. Aztán Chi Phéo megragadja a vajákost a szakálánál fogva, szemügyre veszi a holdfényben, s közben röhögcsél. Ez a röhögés meghódítja a vénembert. Egymás karjába esnek, ölelkeznek, mint két régi barát, akik a nagy örömtől szinte félbolondnak látszanak. Tu Lang aztán bemegy a házba, elővesz két teli üveget - ennyi maradt már csupán -, és kínálja Chi Phéót, hogy igyák le magukat a sárga földig! " Igyál, ne törődj semmivel! Látod, én már megvénültem, hét vagy nyolc esztendeje annak, hogy a feleségemet elvesztettem. A lányomat fölcsinálták, most lányanya, de ő is itt hagyott engem. Így aztán ihatok reggeltől estig félelem nélkül, senki sem zavarhat. Igyál hát, igyál, testvér, te, aki eltévedtél a holdfény palotájában! Igyál, akár a homok vagy a gödör, igyál, amíg pálinkát nem húgyozol, testvérem, az az igazi boldogság! Miért is vonnád meg magadtól ezt a gyönyört? Hasztalan vagy gazdag, előkelő, tisztelettel övezett, a halálodban senki sem fog Nagyméltóságú Sírhalom-nak nevezni! Látod, én már több mint ötven éve élek ebben az árnyékvilágban, de olyesmivel még sohasem találkoztam! Az egyik sír olyan, mint a másik, és mindannyian a gödörben végezzük; a részegesek éppúgy, mint a józanok. Mirevaló hát a böjtölés? Inkább vedeljünk!

Chưa bao giờ Chí Phèo được thỏa thê đến thế! Hắn lấy làm lạ sao mãi đến hôm nay mới ngồi uống rượu với thằng cha tự này. Chúng uống với nhau rất là nhiều. Và rất là nhiều. Người ta tưởng như cả làng Vũ Đại phải nhịn uống để đủ rượu cho chúng uống.

Chi Phéo még soha nem oltotta a szomját ilyen derekasan. Csodálkozik is: miért nem gondolt erre már korábban, hogy összeismerkedjen ezzel az emberrel? Hiszen mind a ketten úgy tudnak inni, akár a szivacs. Elképzelhető, hogy egész Vũ Đạinak meg kell tartóztatnia magát az alkoholtól ezentúl, hogy nekik elegendő maradjon.

Đến lúc hết cả hai chai thì tự Lãng đã bò ra sân. Lão bò như cua và hỏi Chí Phèo rằng: người ta đứng lên bằng cái gì ? Chí Phèo vần ngửa lão ra, vuốt cái râu lờ phờ của lão mấy cái, rồi để mặc lão thế, hắn lảo đảo ra về. Hắn vừa đi vừa phanh ngực ra mà gãi. Hắn gãi ngực rồi gãi cổ, gãi mang tai và gãi lên cả đầu. Có lúc hắn phải đứng lại giữa đường mà gãi, ghệch chân lên mà gãi, hắn bứt rứt quá, ngứa ngáy quá, và chợt nghĩ đến cái bờ sông gần nhà. Bởi vì cái vườn của hắn ở gần một con sông con, nước lặng và trong, khắp bãi trồng toàn dâu, gió đưa đẩy những thân mềm oặt ẹo, cuộn theo nhau thành làn. Duy có vườn nhà hắn trồng toàn chuối, ở một góc vườn có túp lều con.

De egyszer ez a két üveg is kiürült -Tu Lang négykézlább mászik az udvar porában, épp, minz a tengeri rák, és kérdezgeti Chi Phéótól: "Mond meg nekem testvér, min maradhatna állva az ember?" Chi Phéo meg fellöki az öreget, megsimogatja néhányszor a szakálát, aztán támolyogva elindul. Kigombolta a zubbonyát, és ahogy dülöngél, egyre csak vakarózik: a mellét, a nyakát, a fülét, a fejét. Néha meg kell állnia, hogy könnyítsen magán; a lábát is fölemeli, hogy jobban vakarózhasson. Az egész teste viszket, mintha összemartana volna valami, és ekkor váratlanul eszébe jut a folyó, amely a háza közelében halad tova. A kertje a tiszta és nyugodt folyóvíz kanyarulatában terül el. A két meredek parton, ameddíg a szem ellát, eperfák lombja hullámzik a szélben. De Chi Phéo kertjében nincs más, csak néhány banánfa meg a kis szalmakunyhó a telek szögletében.

Những đêm trăng như đêm nay, cái vườn phẳng ngổn ngang những bóng chuối đen đen như những cái áo nhuộm vắt tung trên bãi. Và những tàu chuối nằm ngửa, ưỡn cong cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước, thỉnh thoảng bị gió lay lại giẫy lên đành đạch như là hứng tình.

Ezen az estén a holdfény hatalmas, fekete árnyékokat vetít a kertre, hasonlatosakat a homokos partra frissen kiteregetett száradó ruhákhoz. A banánfák elhajló levelei - mintha nedvesek lennének az ezüstös sugárzástól - időnként megremegnek a föltámadó szélben, akár az egymást sóvárgó szerelmesek.

Chí Phèo vừa tò mò nhìn những tàu chuối vừa đi xuống vườn. Nhưng hắn không vào cái túp lều úp xúp mà ra thẳng bờ sông. Hắn định sẽ nhảy xuống tắm cho khỏi ngứa rồi lăn ngay ra vườn mà ngủ . Tội gì chui vào lều, bức đến không còn mà thở được. Một thằng như hắn, đập đầu không chết, huống hồ là gió sương... Đến bờ sông hắn dừng lại, vì hình như có người. Có người thật, và hắn ngây ra nhìn.

Ezt bámulja Chi Phéo, miközben egyre lassuló léptekkel megérkezik a kertjéhez. Nem megy be a piszkos kalyibába, egyenesen a folyóhoz siet. Meg akarna fürdeni, hogy csillapitsa bőrének viszketését, aztán majd elhemperedik a fűben, és ott alszik; miért is bújna el a kunyhóba, fuldokolni a hőségtől?! A fejére akármekkorát üthetnének, abba nem halna bele... akkor hát mit tehet itt vele a szabad ég alatt a szél meg a harmat... Hanem alighogy megérkezik a partra, megáll: mintha már lenne itt valaki. Valóban, most nem téved; csak bámul hitetlenül, bárgyún.

Hắn nhìn giữa hai lọ nước và tựa lưng vào gốc chuối, một người đàn bà ngồi tênh hênh. Chính là người đàn bà, hắn biết vậy là nhờ mái tóc dài buông xõa xuống vai trần và ngực... Hai tay trần của mụ buông xuôi, cái mồm mụ há hốc lên trăng mà ngủ hay là chết. đôi chân thì duỗi thẳng ra trước mặt, cái váy đen xộc xệch... Bên kia, có lẽ vì mụ giẫy cái yếm xẹo xọ để trật ra cái sườn nây nây. Tất cả những cái ấy phơi ra trăng, rười rượi những trăng làm trắng những cái đó có lẽ ban ngày không trắng; trăng làm đẹp lên. Chí Phèo tự nhiên thấy ứ đầy miệng bao nhiêu là nước dãi, mà cổ thì lại khô, hắn nuốt ừng ực, hắn thấy cái gì rộn rạo ran khắp người. Bỗng nhiên hắn run run. Ồ tại sao lại như thế được? Đáng nhẽ chính người đàn bà khốn nạn kia phải run mới phải, cái người đàn bà dại dột đã nằm ềnh ệch mà ngủ ngay gần nhà hắn này.

...
Chi Phéo nézi ezt az asszonyt, aki a hátát egy banánfának döntve, szétvetett lábbal ül két vizes vödör között. Semmi kétség: ez tényleg asszony, fölismeri a csupasz vállra hulló hajfürtről és a mellekről. Lelógó, mezítelen karral, a hold felé fordított arccal, nyitott szájjal, előrenyújtott lábbal, összegyűrődött szoknyában alszik - hacsak nem halott. De valószinű , hogy él, hiszen megmoccant, és a mellénye félrecsúszott - fölfedve így kövérkés oldalát. És itt fekszik Chi Phéo előtt a holdfényben, amely megszépíti, és fehérnek mutatja a dolgokat - amelyek talán nem is fehérek a nappali világosságban. Chi Phéo hirtelen úgy érzi, hogy kiszáradt a torka - mégis összegyülik a nyál a szájában. Különös, furcsa borzongás járja át a testét, és reszketni kezd. Mi történik vele? Ezért a szegény asszonyért remegne, ezért a meggondolatlanért, aki szemérmetlenül ledőlt ide aludni, szinte a kunyhója ajtajába?...,

...

(Theo Hey_Miki)


Tin liên quan:
Tác phẩm song ngữ: Chí Phèo (Phần V) (01/08/2006)
Tác phẩm song ngữ: Chí Phèo (Phần IV) (29/06/2006)
Tác phẩm song ngữ: Chí Phèo (Phần III) (22/06/2006)
Tác phẩm song ngữ: Chí Phèo (Phần II) (21/06/2006)
Tác phẩm song ngữ: Chí Phèo (Phần I) (31/05/2006)


 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


Những bản tin khác:
Làm bài đi em! (08/07/2009)





Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser