vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - Trại sơ tán Ba Vì
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

Trại sơ tán Ba Vì
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, ... 18, 19, 20  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Những bài viết gợi về ký ức một thời
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
nquan
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 1361
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 27.12.2005    Tiêu đề: Re: Làng Thanh Phần Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

PhanHong đã viết:
... bị chúng tôi biến tướng thành Lương đen gạch nhịp, để trêu bạn Võ Hiền Lương.

]



Đây có phải Lương đen ở 1A Hoàng Văn Thụ không anh Hồng ơi. Nếu đúng thì là bạn đồng khóa Chu văn An với em và Phan Hải. Đồng chí này đá bóng cũng khá hay và nổi tiếng ở Chu Văn An , hiện cũng ở trong Tp HCM thì phải vì có lần họp khóa (20-11) em đã gặp. Hôm 20-11 vừa rồi em cũng "chiến đấu cùng bàn" với Phan Hải từ đầu đến cuối buổi tiệc kỷ niệm 30 năm rời trường.
_________________
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 27.12.2005    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Đúng rồi.

Đ/c Lương đen ngày xưa học cùng mình, về sau mải chơi nên xuống 1 lớp.
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 28.12.2005    Tiêu đề: làng Minh Nghĩa Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Làng Minh Nghĩa

Đến năm học lớp năm, chúng tôi hơi bị “sốc” vì không được đi học trường thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi. Mọi năm, trường Trỗi tuyển các đối tượng nam từ lớp năm trở lên (tuyển cả con gái, nhưng bố phải có hàm thứ trưởng hoặc tương đương). Năm đó, không rõ tại sao trường không tuyển nữa. Trường 15 chỉ là trường cấp 1, học xong lớp 4 là hết. Vì thế, chúng tôi được gửi ra học ở trường cấp 2 Đại Đồng, huyện Thạch Thất, nằm ở phía bên kia quốc lộ 11 A. Để hợp lý hoá, chúng tôi chuyển sang sống ở làng Minh Nghĩa, còn lớp dưới, giờ lên lớp 4, thì chuyển sang ở làng Thanh Phần.

Ở Minh Nghĩa, chúng tôi cũng có 3 dãy nhà vách liếp, không phải ở nhờ nhà dân. Những năm ấy, Mỹ ném bom ác liệt, các lớp học phải phân tán, không học tập trung tại trường chính. Khi đi học không được mặc áo trắng, phải mặc áo nhuộm xanh hoặc nâu, đầu đội mũ rơm, hầm trú ẩn đào cạnh lớp (thường ẩn dưới luỹ tre) phải có nắp đậy bằng rơm, gọi là nùn rơm. Buổi tối đi đâu dùng đèn bão hay đèn pin phải rất chú ý, nghe tiếng ầm ì của máy bay phải tắt đèn ngay, kẻo “chết cả nút bây giờ”. Quản lý chúng tôi có vẻ lỏng lẻo hơn trước, vì suốt buổi, chúng tôi ở trường. Nói là ở lớp thì đúng hơn, vì chúng tôi học phân tán, chả mấy khi nhìn thấy trường.

Lớp 5 B học ở rìa làng Ngọc Lâu, bên cạnh mấy bụi tre già, trông ra cánh đồng. Giữa đồng có một cây đa (hay cây muỗm?) xum xuê. Vách lớp bằng đất, bàn ghế xộc xệch, tấm bảng đen đã mờ. Cô chủ nhiệm của chúng tôi là cô Khuynh. Hồi đó, cô mới sinh em bé, nên giảng dạy với một vẻ mỏi mệt. Cô thường giao trách nhiệm quản lý lớp cho một bạn trai trắng trẻo, tên là Hải. Thày Âu chủ nhiệm lớp 5A, là của Việt Trung, Ngọc Hà, Khánh Bảo... Đó là một thày giáo đã có tuổi, hiền lành.

Chúng tôi bị sự kỳ thị của học sinh và dân địa phương. Họ nghĩ, lũ chúng tôi “giàu sang, có nhiều bánh kẹo, thức ăn ngon, hàng tuần có bố mẹ đi ô tô lên thăm (?!)”. Cho nên khi đi học, chúng tôi hay bị bắt nạt, bị trêu là “dân sơ mít”. Tất nhiên, cũng có lúc lũ học sinh chúng tôi nghịch ngợm, làm người ta “ghét” nữa. Chúng tôi trêu người điên, trêu chó, ném gạch đá vào vườn nhà người ta, hái trộm hoa quả, bắt trộm cá trong hom, đánh nhau...v.v... Đầu năm học, sách vở giấy bút thiếu thốn, sách giáo khoa chưa đủ, thày cô nhiều khi nghỉ tiết đột xuất... làm chúng tôi học hành sút kém hẳn đi.

Tệ hại hơn, chúng tôi còn “chế tạo” ra ”vũ khí bí mật” của mình, đó là phong trào đúc “quai nhê”. Chúng tôi lấy các hộp thuốc đánh răng đã dùng hết, cho vào ống bơ và đốt cho chì nóng chảy ra, gạn hết các cặn đi, rồi đổ vào khuôn đất sét làm sẵn, hình thành một chiếc nhẫn có thêm một đầu nhọn thò ra. Đeo nhẫn này vào ngón tay, mỗi khi đánh nhau, dân địa phương không thể ngờ quả đấm của chúng tôi lại mạnh đến thế. Có thể làm chảy máu mắt đối phương như chơi. Về sau, chúng tôi còn liều lĩnh mang cả dao đi học. Dao nhíp, hoặc dao làm bằng đuya-ra. Vài vụ xô xát đã xảy ra. Các bạn địa phương cũng chẳng vừa, họ gọi các anh chị lớn hơn, hoặc dùng gậy gộc, đòn gánh “chọi lại” chúng tôi.

Rồi một hôm, tất cả phải tập trung tại trường chính. Một thày giáo lên loa thông báo bắt buộc những ai mang vũ khí trong cặp phải tự giác mang lên nộp cho Ban giám hiệu, nếu không sẽ tổ chức khám cặp của từng học sinh. Chúng tôi cũng bị thu mất một số “vũ khí”, nhưng cũng trốn được một số, nhờ vứt tạm vào gốc cây quanh trường, sau ra nhặt lại.

Bên trong trại sơ tán, chúng tôi cũng có những hành động “nổi loạn”. Chúng tôi hay trêu trọc bà cụ Văn ở nhà đối diện. Cụ bị nặng tai và nói giọng miền trong (Nghệ An). Mấy bạn trai hay bắt chước giọng nói của cụ, bị cụ chửi :””Chửi cha không bằng pha tiếng !”. Chúng tôi đã trải qua hai “triều đại”. Đầu tiên là Khắc Trung làm “tướng”, sau đó Vũ Dũng làm “tướng”. Những người khác đều phải có thái độ đối xử đặc biệt đối với “tướng” (như có thứ gì ngon phải chia phần chẳng hạn), nếu không sẽ bị trù ghét, thậm chí bị trùm chăn đánh “hội đồng”. Và phải nghe theo những “chỉ thị” của “tướng”.

Có một bận, một vài bạn rất hay đi ăn trộm thịt của nhà bếp về chia nhau (có cống nạp cho “tướng”). Lần ấy, chẳng may bị chú Trung trại trưởng, bố bạn Hiếu Liêm, bắt được, phạt quỳ ngoài sân. Chúng tôi quyết định “tuyệt thực”, không ăn cơm nhà bếp để phản đối hình phạt trên. Hôm ấy là ngày 6-3. Bốn bạn (Vũ Dũng, Việt Hà, Đăng Thảo, Việt Trung) còn lấy kim khâu xăm dòng chữ “6-3” vào cổ tay hoặc cánh tay, rồi lấy mực tàu bôi vào. Những trò này chúng tôi biết làm là nhờ sự “chỉ dẫn” của Tiến, tục gọi là Tiến xế lô. Bạn này mới lên trại, nhưng trước đó đã lêu lổng, có thể gọi là một học sinh “hư”. Tiến còn hay nghêu ngao hát nhạc vàng và dạy lại chúng tôi các bài hát “hay hay” đó. Sự việc căng thẳng đến nỗi C59 phải cử cán bộ lên “điều đình”, tình hình mới yên ổn trở lại.

Ở Minh Nghĩa, có một sự việc nữa in sâu vào tâm trí chúng tôi. Đó là được xem quyển sổ vẽ của anh Điện Biên, con bác Võ Nguyên Giáp. Chả là hồi ấy anh được gửi lên trại chúng tôi, mà không gửi lên trường Trỗi, vì nghe nói trên ấy dễ “hư” lắm. Anh Biên người dong dỏng cao, da trắng, hơi xanh xanh. Anh vẽ máy bay rất giỏi, phải gọi là siêu. Một phần vì anh có nhiều quyển sách có chụp ảnh các loại máy bay khác nhau, cả của Liên Xô, như các loại Mích, Su, cả của Mỹ, như Thần sấm, Con Ma, Giặc nhà trời, Pháo đài bay... để tham khảo. Phần nữa, phải công nhận anh cực kỳ say mê. Anh có thể ngồi hàng buổi để vẽ và giảng giải cặn kẽ tính năng, tác dụng, các thông số kỹ thuật như chiều dài thân, chiều dài sải cánh, số lượng động cơ, tốc độ tối đa, chiều cao lên được, tầm hoạt động, cũng như ưu nhược điểm... của từng loại máy bay mà không cần nhìn vào sách. Anh vẽ bằng bút chì hay bút mực đều đẹp. Tôi chưa bao giờ thấy một người say mê với công việc của mình như vậy. Vì thế sau này nghe có người nói anh theo học chế tạo máy bay ở Học viện Hàng không Xi-ôn-kôp-xki, tôi chẳng hề ngạc nhiên.

Cùng lên trại với anh Điện Biên có cả anh Hồng Nam, con út bác Giáp, một anh nữa con bác Võ Thuần Nho (anh Quang?). Cứ chiều thứ bảy, lại thấy một chiếc com-măng-ca đít vuông lên trại đón các anh đó và mấy anh em bạn Thiện Hoà (con bác Nguyễn Đôn, lúc đó là Thứ trưởng quốc phòng) về Hà Nội, sáng thứ hai lại lên sớm. Hình như cả bạn Trần Thanh Hà, con bác Trần Sâm, cũng hay đi chuyến xe đặc biệt đó. Thiện Hoà lúc lên trại thế nào cũng có kẹo gấu mua ở cửa hàng Hữu Nghị - kẹo sô-cô-la có in hình con gấu ở ngoài – mà chỉ cắn một miếng nhỏ thôi, đã là nỗi thèm khát của bao đứa chúng tôi.

Hết lớp 5, chúng tôi được về Hà Nội.
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
nquan
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 1361
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 28.12.2005    Tiêu đề: Re: làng Minh Nghĩa Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

PhanHong đã viết:
Làng Minh Nghĩa

... Đầu tiên là Khắc Trung làm “tướng”, sau đó Vũ Dũng làm “tướng”. Những người khác đều phải có thái độ đối xử đặc biệt đối với “tướng” ...

....Hình như cả bạn Trần Thanh Hà, con bác Trần Sâm, cũng hay đi chuyến xe đặc biệt đó....


Đúng là con em bộ đội nên quen biết nhau gần hết. Nếu Vũ Dũng ( con bác Vũ Lăng ) là nhân vật trong câu chuyện của anh Hồng thì chắc cũng lại giống Lương đen, nhưng là học cùng lớp em và Phan Hải. Nhân vật này em vẫn gặp thường xuyên, đã bỏ vợ, có một con trai nhưng ở với mẹ, hiện vẫn "độc thân vui tính", năm rồi bị một quả cấp cứu tưởng chết ( không nhớ viêm gan hay thận cấp gì đấy) nay vẫn còn yếu , béo hơn xưa nhưng là cái béo của người bị bệnh nên trông không được nhanh nhẹn. Hồi học ở Chu văn An đồng chí này nổi danh là cứ đá bóng là đánh nhau và đánh nhau thì hay hơn đá bóng.
Trần thanh Hà thì chính xác là học lớp em với Phan Hải rồi . Hiện cũng ở trong này. Khoảng năm 1998-1999 gì đó có gặp trong hội khóa vô tình em có hỏi gia đình thế nào , thấy bạn ấy không nói gì, hỏi các bạn khác thì mới biết là chưa lập gia đình (!!!). từ đó đến nay không thấy tham gia hội khóa cũng như hội lớp.
_________________
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 28.12.2005    Tiêu đề: Re: Làng Minh Nghĩa Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

nquan đã viết:

... Nếu Vũ Dũng ( con bác Vũ Lăng ) là nhân vật trong câu chuyện của anh Hồng thì chắc cũng lại giống Lương đen, ....
... Trần thanh Hà thì chính xác là...


Đúng là các bạn này bị "đúp" nên về sau học cùng nquan.
Toàn con em quân đội cả.

Bọn mình và Vũ Dũng, Lương "đen" vẫn hay gặp nhau.

Xem hồi sau sẽ rõ.
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 29.12.2005    Tiêu đề: Một chuyến đi Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Một chuyến đi

Năm 2001, nhân ngày 6-3, chúng tôi tụ họp ở Hà Nội. Bắt đầu là Sơn Hà. Năm 2000, Sơn Hà đi công tác ở Nga về, rủ mấy bạn trai cùng trường 15 đi uống bia tươi ở quán bia Pacific, gần Đài truyền hình, chợt nghĩ ra chuyện tụ tập. Thế là sang năm 2001, trước Tết đã thấy Sơn Hà giục cuống lên. Chúng tôi điện thoại tứ tung, tập hợp được hơn mười người cả trai lẫn gái. Tay bắt mặt mừng, cực vui. Mọi người quyết định sẽ họp trại mỗi năm một lần. Lần họp mặt năm 2002, có mời cả chú Khuông đến. Lần ấy hát karaoke đến tận khuya, mọi người rôm rả bàn chuyện phải về Thanh Phần, Minh Nghĩa một chuyến. Nửa năm sau, nhân Mai Đức ra Hà Nội học, cả hội lại gặp nhau, cũng lại bàn sơ bộ chuyện đi. Lần lữa mãi, đến 2003 mới thực hiện được.

Tích cực nhất là Chí Đức. Chí Đức nhờ một cậu nhân viên quê ở vùng ấy "điều tra tình hình", phát hiện ra có thầy Âu, chủ nhiệm lớp 5A, đã nghỉ hưu, hiện có cửa hàng quay video kiêm chụp ảnh ở Trạm Quạt. Trạm Quạt là chỗ nào nhỉ? Chả ai hình dung ra. Chí Đức gọi điện hỏi thăm thầy giáo, kể lại rằng "giọng thầy vẫn vang, khỏe". Đúng ngày 6-3-2003, chúng tôi khởi hành. Việt Trung mặc dù rất bận vẫn là người đến sớm nhất. Sơn Hà chân ướt chân ráo vừa từ Nga về, nhập cuộc ngay. Trước đó, Sơn Hà đã tưởng không thể tham dự chuyến đi được. Nếu điều đó xảy ra thì chắc bạn ấy tiếc hùi hụi.

Chúng tôi đi một chiếc xe 15 chỗ. Người dẫn đường là cậu nhân viên của Chí Đức. Công tác chuẩn bị phải công nhận là kỹ. Bích Hạnh lo mua đồ ăn nguội phòng xa. Thúy Liên mua áo sơ mi Việt Tiến (cỡ 39, vì thầy đâu có cao to). Lại còn khuân cả một tấm tranh sơn mài "hai người ôm mới nổi" vẽ chùa Một Cột dự định làm tặng phẩm cho trường cũ. Tổng cộng có bốn bạn gái và sáu bạn trai. Xe chạy ngang một cái chợ, mọi người giục nhau xuống mua hai bó hoa. Gần đến ngày 8-3 có khác, hoa nhiều nhưng mua cho vừa ý cũng mệt. Hai bạn gái lĩnh trách nhiệm xuống mua hoa. Hết có 30 phút, nhưng được cái, những bạn khác ngồi đợi trên xe cứ tự nhiên nói chuyện. Câu chuyện nở như ngô rang, nên chả ai sốt ruột. Sơn Hà gọi điện vào Sài Gòn, "chửi" các bạn Vũ Dũng, Lương "đen" sao không nhớ đến "tinh thần 6-3". Mọi người trong đó chắc nao nao lắm.

Xe không đi theo quốc lộ 32 (hồi trước gọi là quốc lộ 11A) mà tiến theo đường cao tốc Láng–Hoà Lạc, đến ki-lô-mét 19 mới rẽ phải, thẳng đường về Thạch Thất. Lúc này, các bạn trong Sài Gòn đã gọi điện ra thông báo, Lương "đen" suýt bật khóc khi biết tin đoàn cán bộ đang trên đường về thăm lại chốn xưa, và đã a-lô đi khắp nơi, tụ tập được năm sáu bạn trong đó, hiện đang ngồi "vừa uống bia vừa suy tưởng". Chị em ồ lên khi Duy Đông gọi điện hỏi "có bạn Bế Ngọc Hà ở đấy không, cho nói chuyện một chút". Duy Đông suy bì "trong đó thiệt quá", vì "chả có em nào phục vụ", mọi người bảo, trong đó có em Phượng và em Thanh cơ mà, song hình như hôm nay số đen, cả Ngọc Phượng và Cao Thị Thanh đều không đến được thì phải. Các bạn trong Nam còn bảo, sang năm nhớ báo sớm để mọi người bay ra Hà Nội với. Các bạn nữ bảo, hoặc là thế, hoặc "các anh mua vé cho các em Hà Nội vào Sài Gòn phục vụ các anh".

Xe đi ngang qua một cái chợ đông đúc, hoa ở đó vừa dễ mua, lại vừa có vẻ đẹp hơn ở Hà Nội, ai cũng chặc lưỡi tiếc rẻ. Không có bản đồ, các bạn nữ không hình dung ra được "ngày xưa chúng mình ở đâu". Khi xe đến quãng xã Đại Đồng thì chúng tôi bắt đầu nhận ra quang cảnh. Sơn Hà có một nhân viên quê ở Đại Đồng, đã về nơi đây đi ăn cưới, và mấy lần suýt mua đất ở Đại Đồng làm nhà nghỉ cuối tuần. Ồ, được thế thì vui quá! Cả hội cố tìm bóng dáng Trường cấp 2 Đại Đồng, nhưng không thấy. Chỉ thấy một ngôi trường chơ vơ giữa đồng gần phía làng Ngọc Lâu. Chúng tôi nhớ đến câu ca "Thành Phần có Lịch, Minh Nghĩa có Lân, Ngọc Lâu anh Hẫu, giáo Ái Đại Đồng" kể về những nhân vật "lịch sử" khiến chúng tôi phát sợ.

Chúng tôi quyết định đi thăm thầy Âu trước, và nhờ thầy dẫn ra trường gặp Ban Giám hiệu. Xe đi xuyên qua làng Minh Nghĩa, đường làng nhỏ hẹp, trải bê-tông phẳng, thỉnh thoảng phải bò chầm chậm để tránh xe đạp xe máy đi ngược chiều. Chiếc sân kho to tướng hồi xưa chúng tôi hay ra tập thể dục và thỉnh thoảng được dùng làm nơi chiếu phim (do điện ảnh quân đội phục vụ) giờ đây đã bị lấn chiếm hầu hết, chỉ còn một khoảnh bé tí, đủ cho một cái chợ làng tồn tại. Anh chàng "thổ dân" luôn miệng hỏi thăm nhà thầy Âu. Sau thì cũng tìm ra. Chả phải đâu xa, nhà thầy ở ngay ngã ba trên đường 32, đúng lối rẽ vào làng Minh Nghĩa.

Trước lúc xe khởi hành, từ Hà Nội, Chí Đức đã cẩn thận gọi điện thoại cho thầy báo rằng "chúng em bắt đầu đi", thầy hỏi đoàn có bao nhiêu người, để thầy còn "đi bắt ngan". Chúng tôi xuống xe, kéo nhau vào nhà thầy. Thầy Âu diện com-plê cra-vát ra đón chúng tôi. Thầy trò uống nước, nói chuyện rất vui. Thầy có 7 người con (người con đầu sinh năm 1956), đều đã trưởng thành. Cuộc sống của thầy hiện tại nói chung ổn định. Thầy Âu kể, hồi đó các thầy các cô được cấp trên "giao nhiệm vụ", vì chúng tôi không phải là những học sinh bình thường, mà là những học sinh "cần sự chăm sóc đặc biệt". Thầy hỏi, dưới mắt của chúng tôi, hồi đó thầy là một người thầy như thế nào. Chúng tôi kể lại, quả thực hồi đó thầy hơi "lãng mạn". Đỗ Bình đột nhiên hỏi thầy về một cô gái hay ngồi bán nước giải khát ở phòng ngoài "nói chuyện có duyên". Thầy bảo đó là cô con gái thầy. Thì ra, Đỗ Bình đã vào quán nhà thầy nhiều lần rồi, vì năm nào Đỗ Bình cũng đi viếng mộ trên Yên Kỳ, đến Thanh Phần, Minh Nghĩa bao giờ cũng nghỉ dừng chân uống nước. Đỗ Bình tặng thầy một tấm ảnh chụp các bạn ở trường 15, phía sau có ghi tên từng người.

Ngồi chơi một lát, chúng tôi mời thầy cùng ghé qua trường Đại Đồng. Trường cũ không còn nữa. Đất của trường đã chia cho dân làm nhà, còn trường xây mới trên cánh đồng, gần làng Ngọc Lâu. Đúng là cái trường chúng tôi nhìn thấy lúc nãy, ô tô phải đi đường vòng mới tới. Chúng tôi bước chân vào trong ngôi trường. Hôm đó là thứ năm nên học sinh được nghỉ sớm. Ban Giám hiệu (dù đã được thầy Âu thông báo từ trước) không có ai, vì có lẽ tại chúng tôi đến muộn (11 giờ trưa). Cũng may, thầy Âu nhờ bác bảo vệ cho người đi gọi cô Hiệu phó. Tranh thủ lúc đó, chúng tôi nhẩn nha dạo quanh trường và chụp ảnh kỷ niệm. Trường gồm một dãy nhà hai tầng và hai dãy một tầng, có hơn 1.000 học sinh. Sân trường rộng, thoáng mát, có mấy hàng phi lao cao vút gió thổi vi vu.

Một lát sau, cô Phương hiệu phó đến, mời chúng tôi lên Phòng Hội đồng. Hoá ra, cô cũng là học trò thầy Âu, học cùng lớp với anh Võ Điện Biên. Chúng tôi giới thiệu với cô Phương về mình và có nhã ý tặng trường món quà nhỏ: một bó hoa, một bức tranh sơn mài, và một chút đóng góp vào Quỹ hỗ trợ học sinh nghèo vượt khó. Cô Phương rất cảm động. Thay mặt toàn thể nhà trường cô nói lời cảm ơn, và mong các cựu học sinh có dịp lại về thăm trường trong thời gian tới. Chúng tôi ghé vào Phòng truyền thống của trường và biết thêm thầy hiệu trưởng hồi đó (1968) là thầy Ghi (Tuấn "đét" còn nặn óc nhớ là thầy Nguyễn Anh Ghi).

Đứng trước cổng trường, chúng tôi bồi hồi nhớ tới đến lớp 5B ẩn mình dưới lũy tre (giờ đã là một ngôi nhà dân), cây đa khổng lồ giữa đồng (đã không còn tồn tại với thời gian), lớp 5C ở xóm trước mặt, lớp 5A có chiếc hầm trú ẩn hình chữ "A" đắp bằng đất sét trông rất kiên cố (ở trong làng, vượt quá tầm mắt)... Ngay cạnh trường mới, có một ngôi chùa mới mọc lên. Nhưng nó không sao len được vào tâm trí của chúng tôi.

Chúng tôi quay xe trở ra, rẽ vào làng Thanh Phần. Xe đi ngang qua một lò gạch ngổn ngang, đã thấy hiện ra một chiếc cầu và chiếc giếng làng hình tròn ngày nào. Chiếc cầu bê-tông có vẻ bé đi: ngày xưa, có lần bác Bẩm tiếp phẩm đã bị ngã xe đạp ở cầu này. Giếng làng vẫn to như thế. Thành giếng không còn "cổ kính" lỗ chỗ đá ong như cái hồi xa xưa nữa, dân làng đã trát xi-măng nhẵn thín. Nước giếng cũng không trong như xưa nữa: không thấy các cánh bèo hoa dâu tổ ong nho nhỏ, màu xanh pha lẫn màu nâu đâu cả. Cả đoàn dàn hàng ngang ngồi lên thành giếng chụp một pô ảnh. Cây gạo hoa đỏ gần giếng không còn. Từ mảnh đất đầu làng chỗ cây gạo (xưa là ruộng rau muống, mùa đông thường thả rau cần) đến dãy nhà thày Kền, kho gạo, buồng "hạnh phúc", lớp học... tất cả đều đã biến thành nhà dân.

Chúng tôi bách bộ trên con đường bên cạnh bờ mương. Con mương cạn nước, hai bên thành mương đầy các lỗ cua như ngày nào. Nơi này là nơi có đàn ngỗng đi ăn cỏ chiều chiều hay "gây gổ" với chúng tôi, bị bạn Hiếu Liêm dùng một cọng khoai nước nướng chín nhũn ra, đè lên cổ, làm bọn ngỗng tái mặt tưởng rắn, cúi đầu nằm im thin thít. Không còn dãy xoan thân nâu đen mảnh khảnh, hoa ngan ngát tím trồng hai bên bờ mương: mùi hoa thơm nhẹ nhàng, nhưng có rất nhiều dĩn bay ra từ đấy. Hai cái nhà kho cũng đã bị thay thế bằng một cái nhà nhỏ hơn, xoay hướng. Sân kho không còn nữa, chỉ thấy một bãi cỏ phẳng. Đi một loáng đã hết đường, thế mới biết chúng mình ngày xưa bé thật!

Đi thêm nữa là ra đến cánh đồng, gần "nương sắn". Mấy bụi tre ven làng có vẻ nguyên vẹn nhất, dù ngọn tre không xanh um, mà hơi úa vàng, xơ xác. Có bạn định đề nghị đi ra con sông đào, nơi có "lớp học bơi của chúng mình", cách khoảng 1-2 cây số, nhưng lúc đó đã trưa rồi, nên chúng tôi quay lại. Đầm sen phía xa xa hình như đã biến thành ruộng cạn. Hồi trước, dẫu không ngửi thấy hương thơm của sen trong đầm, nhưng từ góc nhìn này, chúng tôi vẫn thấy thấp thoáng vài ba chiếc lá sen to bản nhô lên. Chúng tôi quyết định rẽ vào một ngôi nhà để hỏi chuyện. Sau khi nghe giới thiệu, chủ nhà, một người đàn ông trạc trung niên, mắt sáng rực, nhớ ra ngay. Đó là nhà hồi trước Thúy Liên, Bế Hà... ở. Thúy Liên nhắc tới bà cụ chủ nhà lưng còng, và một em bé gọi là cu Bòi, hồi đó các bạn gái hay bế ẵm, cho kẹo. Thì ra, người đàn ông nọ chính là em bé đó.

Anh hấp tấp mời chúng tôi vào trong nhà. Ngôi nhà đã được xây dựng lại, nhưng vẫn còn đâu đó bóng dáng của ngôi nhà cũ. Hướng vẫn thế. Cả chiếc sân gạch cũng thế. Chúng tôi ngồi lên bậc thềm chụp vài pô ảnh với cu Bòi ngày xưa. Men theo con đường, chúng tôi ghé đến nhà Thơ, một cậu bé hay chơi đáo xu ăn tiền với chúng tôi (cậu này mắt một mí, chơi khá mả).

Ngày trước, đây là đường đất rộng rãi mát mẻ, vì hai bên có lũy tre dày, ánh nắng mặt trời không xuyên qua được. Giờ đã là đường bê tông, nhưng hẹp hơn, hai bên có cống rãnh thoát nước, nhuốm màu sắc thị thành, bớt đi cái vẻ thôn dã.

Đến nhà Thơ, sau khi nghe nói là "có người ở trại sơ tán về thăm", một cuộc đón tiếp tưng bừng đã nổ ra. Thơ không có nhà, đúng hơn là anh ấy không ở đây nữa. Chúng tôi đứng giữa sân, tay bắt mặt mừng, kể lại với chủ nhà về những kỷ niệm 35 năm trước: đây là cái ao, đây là vườn dong giềng, đây là cái cối giã gạo lâu năm lên nước gỗ đen bóng, nhà mình nấu cơm thường nấu bằng một chiếc nồi có thành rất cao, đúng không?... Chủ nhà công nhận cả và cảm động, vì đã hơn ba mươi năm mà chúng tôi vẫn nhớ ra từng chi tiết nhỏ nhặt ấy. Tất cả vào nhà ngồi uống nước chè xanh, râm ran câu chuyện. Nói chung, dân làng vẫn nhớ đến trại sơ tán, đến trường 15 với một tình cảm thân thiết. Một chị bảo, chị chỉ là con dâu, không trực tiếp biết chúng tôi, nhưng bà mẹ chồng của chị ngày còn sống lúc nào cũng nhắc đến trại sơ tán và hỏi thăm bà Tám, bà An...

Chúng tôi bịn rịn chia tay dân làng ra về. Năm sau, rất có thể chúng tôi sẽ lại "về quê" cùng những người bạn ở phương Nam. Tôi tin là tất cả mọi người sẽ trải qua một buổi tối rất khó ngủ, nếu như chúng tôi cố tình tổ chức một đêm ngủ lại ở nơi đó.
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
nquan
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 1361
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 30.12.2005    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Đọc bài của anh Hồng mà cũng nhớ nơi sơ tán cũ quá, muốn về thăm lại nhà dân xưa kia ở cùng mà hồi ở Hà nội thì điều kiện kinh tế khó khăn , mải lo kiếm sống. Nay có điều kiện một chút thì lại ở quá xa.

Chí Đức anh Hồng nhắc có phải ở khu TT K93 với em không , hồi học sinh hay đá bóng với nhau lắm. Còn Mai Đức (em chỉ biết chứ không quen) thì có dạo liên hệ máy đo em có gặp đang làm nhà máy Z755 trong này nhưng nay chắc chuyển ra ngoài lâu rồi.
_________________
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 13.01.2006    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Đúng là Chí Đức và Mai (Xuân) Đức con nhà bộ đội đấy.
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 13.01.2006    Tiêu đề: Về lại chốn xưa Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Về lại chốn xưa
Đưa nhau ta thì về,
Đưa nhau ta cùng về,
Thăm lại miền quê,
Nơi có một triền đê,
Có bờ tre ru những trưa hè...


(Về quê - Phó Đức Phương)

Sau Tết Giáp Thân 2004, đang làm việc thì tôi nhận được điện thoại của Tuấn "Đét" nhắn ngày mai có cuộc họp trù bị bàn kế hoạch cho ngày 6-3. Hôm sau đúng 10 giờ, chúng tôi có mặt tại phòng họp cơ quan Sơn Hà với tinh thần rất nghiêm túc, thề danh dự bố mẹ, không vương vấn một tí bia bọt gì. Sơn Hà nói, năm nay sẽ có các bạn ở thành phố Hồ Chí Minh ra cùng về Thanh Phần, Minh Nghĩa, vì thế công tác chuẩn bị nên chu đáo một chút. Chúng tôi nhất trí phân công nhau mỗi người một việc: Sơn Hà và Tuấn "Đét" cùng thủ quỹ Thanh Hà đi tiền trạm, Chí Đức lo việc thuê xe, tôi làm loong-toong. Hai ngày sau, nghe nói Thanh Hà bận công chuyện không đi được, nên cả hội rủ Đỗ Bình đi thay.
*
* *
Thứ bảy, ngày 6-3-2004, từ 7 rưỡi sáng, bốn bạn bay từ Hồ Chí Minh hôm trước ra là Việt Hà, Duy Đông, Lương "Đen" và Mai Đức đã bồn chồn đứng trên vỉa hè trước cửa 62 Nguyễn Chí Thanh ngóng chờ các bạn hữu của mình, đặc biệt là các bạn gái.

Một lát thì mọi người lục tục kéo đến. Sơn Hà mời cả nhà vào phòng khách cơ quan uống nước, nói chuyện và... làm quen, vì có rất nhiều bạn không nhận ra nhau. Ba mươi nhăm năm rồi còn gì! Tay bắt mặt mừng, cố tình không ai giới thiệu ai để mọi người thử trí nhớ của mình. Kìa, Thúy Liên đi cùng một bạn gái mặt tròn rạng rỡ niềm vui. Ai thế nhỉ? Bích Hạnh cười tươi cùng một mệnh phụ phu nhân và một cô bé tóc vàng xinh xắn cỡ 6-7 tuổi nhẹ nhàng bước xuống từ chiếc tắc-xi màu trắng (chiếc tắc-xi hơi chao nghiêng). Nhìn thoáng qua, ai cũng nghĩ chắc là người nhà Bích Hạnh cùng đi. Đến lúc vào tới phòng khách, mọi người mới té ngửa, đó là bạn Văn Việt Hoa (con gái bác Văn Tiến Dũng) và cô con gái thứ sáu của mình vừa từ Mát-xcơ-va về.

Còn kia là Quang Minh đèo chú Khuông, vị khách mời danh dự, đang tà tà tới. Chú Khuông trong bộ com-lê và chiếc mũ nồi màu xanh tím vẫn giữ được nét trẻ trung, thông minh, đạo mạo như ngày xưa, ngày chú mới có 32 tuổi. Chú thân mật bắt tay từng bạn. Chú nói đúng tên người đó đã đành, chú còn đọc vanh vách cả tên bố, mẹ, và "xê năm mấy" nữa ("xê" là viết tắt của C = Cục). Bích Hạnh khen Lương "Đen": "Bạn Lương về già trông đẹp trai ra" làm Lương "Đen" choáng váng trong giây lát. Đoán ra Duy Thanh đã khó, khó hơn là đoán xem con Duy Thanh học lớp mấy. Câu trả lời là bạn Duy Thanh mới cưới vợ lần đầu năm 2000, con mới được 10 tháng tuổi. Vợ chồng Khánh Bảo cũng là một ẩn số bí hiểm.

Đầu óc điện tử như Việt Trung mất 20 phút quay cuồng vẫn không sao nhớ nổi người đàn ông trung niên com-lê ca-ra-vát đang trịnh trọng bắt tay mình là ai. Vợ Khánh Bảo thì tất nhiên rồi, rất khó biết. Các bạn nữ ghé tai hỏi nhỏ "Ấy tên là gì nhỉ?", nhưng đáp lại là một nụ cười bẽn lẽn, bởi cô ấy không học Trường 15. Sở dĩ người nào biết được đấy là vợ chồng Khánh Bảo, là do có thông tin từ trước (qua điện thoại) rằng, Khánh Bảo sẽ đi cùng vợ. Trong các bạn gái, có Bế Ngọc Hà (tên ngắn gọn là Bế Hà) lần đầu xuất hiện, chính là người đi cùng Thúy Liên, cũng gây được những khó khăn nhất định cho các bộ óc lười động đậy của các trang nam tử. Vui, thật vui quá trời!

Nửa tiếng sau, ba chiếc xe từ từ khởi hành. Chú Khuông đề nghị nên rẽ qua đón cô Dậu cùng đi, mọi người nhất trí ngay. Tên đầy đủ của cô là Cấn Thị Dậu. Cô dạy chúng tôi hồi lớp 3 và lớp 4. Cô vốn là giáo viên giỏi của tỉnh Hà Tây, được Phòng giáo dục huyện Phúc Thọ giới thiệu về trường 15. Dọc đường đi, tất cả trò chuyện râm ran. Thúy Liên là người nhớ nhiều chuyện "thú vị" nhất, không chuyện gì bạn ấy không biết, không "ngõ ngách" nào bạn ấy không hay. Khi xe lên đến địa phận huyện Thạch Thất, chú Khuông bảo dừng xe, để chú xuống hỏi đường vào nhà cô Dậu, chúng tôi hơi lo lo. Thì ra, chú đã tới thăm cô Dậu vài lần, nhưng đã lâu không ghé qua, dân chúng bây giờ lại xây dựng tùm lum hết cả, nên không sao nhận ra vị trí nhà cô, phải hỏi thăm, bởi nhà cô chưa có điện thoại để liên lạc.

Cuối cùng thì chúng tôi cũng hỏi thăm được nhà cô Dậu. Cô ngỡ ngàng vì tự nhiên có gần hai chục học sinh cũ quây quần xung quanh, cứ như từ trên trời rơi xuống. Cô tiến đến một bạn và hỏi :"Chí Đức phải không?", khiến lũ chúng tôi kinh ngạc, vì đúng là Chí Đức thật. Trông thấy Sơn Hà, cô hỏi tiếp: "Vũ Dũng phải không?". Cả lớp cùng cười vui. Một bạn gái nói: "Thưa cô, đây là Ngọc Hà...". Cô như vụt nhớ lại tất cả: "Ngọc Hà à?". Chúng tôi thấy cô khỏe nên mời cô cùng về thăm lại trường cũ. Cô ngần ngừ một lát, nhưng rồi dường như theo phản xạ tự nhiên, cô đồng ý ngay. Những dịp hội ngộ như thế này trong cuộc đời phải nói là vô cùng hiếm hoi.
Chúng tôi ghé qua nhà thầy Âu đón thầy đi cùng. Vả lại, một số bạn chưa biết nhà thầy Âu. Chỗ nhà thầy bây giờ gọi là Phố Quạt (hay Trạm Quạt), mặc dù chúng tôi không nhìn thấy một cái quạt nào.

Thầy Âu đã chuẩn bị sẵn nước chè và chè lam (cây nhà lá vườn) đón đoàn. Đặc sắc nhất là thầy còn bắt mấy phóng viên đệ tử quay vi-đê-ô toàn bộ chuyến đi của chúng tôi. Sau khi uống nước nói chuyện, cả hội đi bộ tắt qua làng Minh Nghĩa, xe ô tô chạy vòng ra đầu đằng kia đón. Lương "Đen" than thở :"Đã quá mày ạ!". Việt Hà kể, năm ngoái Lương "Đen" đã bức xúc như thế nào.

Chúng tôi cùng nhau chầm chậm bước đi trên con đường bê-tông dẫn vào làng. Ngày xưa, con đường này là con đường đất. Chỗ đầu làng có hai cái trụ bê-tông cấm xe ô-tô vào làng, sợ hỏng đường. Nhưng mỗi khi nghe báo tin có xe ô-tô tải chở những chiếc sào tre dài ngoẵng và lỉnh kỉnh loa đài cùng các hộp đựng phim hình tròn bằng thiếc màu trắng bạc là mấy thanh niên lực lưỡng làm nhiệm vụ bảo vệ thôn lại vác cuốc và xà-beng ra, nhanh nhẹn nhổ cọc, đón xe vào tận sân kho. Trẻ con kháo nhau ầm ĩ : "Tối nay có chiếu phim ở sân kho, chiều nhớ dặn bu thổi cơm sơm sớm!". Bọn chúng tôi có dịp tinh tướng bắt nạt trẻ con địa phương "mày mà không cho ông cái chạc ổi kia thì tối nay ông không cho mày xem phim!". Dọa dẫm vớ vẩn thế mà cũng có tác dụng ra phết (phim đâu phải của chúng tôi?).

Chú Khuông thuộc đường, phăng phăng đi phía trước, dẫn chúng tôi trở lại chốn xưa. Đường bê-tông đã thay thế con đường lát gạch nung già, xếp đứng sống, bắt chéo hình mũi tên. Mấy bụi tre rậm rịt cao vút gần nhà nam nhà nữ đều không còn. Khu vực nhà bếp, nhà ăn, sân gạch nhỏ – nơi chúng tôi thường bê chậu cơm quân dụng ra ăn ở đấy– cũng không còn. Lương "Đen", Mai Đức sải bước chân ra phía bờ ao nhà ông Biểu (hình như có hồi chị Nguyệt Nga nhà Mai Đức ở đấy). Cảnh vật không giống như in ngày xưa, song vẫn phảng phất đâu đây những hình bóng cũ. Mai Đức thốt lên: "Chỗ này ngày xưa có một cây sung sai quả lắm. Có cả những bậc thềm dẫn xuống ao. Mùa hè, bọn mình vẫn hay ra tắm ở đây...".

Lương "Đen" ngậm ngùi đế thêm: "Ừ, nhờ có cây sung mới cứu đói hồi 6-3...". Vài cậu thanh niên địa phương nghe bước chân người rậm rịch cũng ra bờ ao. Thấy chúng tôi sôi nổi bàn luận, một cậu tròn mắt gật đầu xác nhận, đúng là bên bờ ao trước đây có cây khế vươn mình trên mặt nước, còn bên bờ bên kia có cây quéo quả-không-bao-giờ-chín (ai cho chín mà đòi chín?), cùng một bãi cỏ nhỏ xâm xấp nước.

Tôi còn nhớ, mỗi khi những cơn mưa đầu mùa hạ bắt đầu rơi là cá rô lại rạch lên đầy bãi cỏ. Trông ngon ăn, nhưng bắt cá rô khó cực kỳ: chúng rạch những đường ngoằn ngoèo như rắn chạy, vây ánh màu thép, giương lên dũng mãnh, mang sắc nhọn, sẵn sàng đâm toạc bàn tay bé nhỏ của chúng tôi. Anh chàng nào tóm được con cá rô trong tay, đừng vội hí hửng tưởng bở. Càng bóp chặt càng chết! Nó chỉ cần quẫy mạnh một cái là thoát hiểm, đồng thời lưu lại một vết bầm thâm tím trên bàn tay như một dấu ấn kỷ niệm xót xa.

Lương "Đen" thì thào sám hối khi tới bên một ngôi nhà lúp xúp đứng cạnh bờ ao. Ngày xưa, cậu học trò nghịch ngợm dại dột định đốt "túp lều" đó, may mà rạ trên mái nhà ẩm quá, không bắt lửa. Nghĩ mà kinh. Giờ, nhà đã lợp ngói, rêu phong mốc meo trông khá phong trần. Các bạn gái cũng bồi hồi suy tưởng. Chúng tôi hò dô ta cùng đứng bên bờ ao chụp một kiểu ảnh chung. Cô Dậu vui vẻ kể lại chuyện Chí Đức và Sơn Hà bày trò hỏi cách giải bài tập toán để thử cô. "Chúng nó hỏi thế thôi, chứ thực ra đã biết cách giải rồi", cô nói. Sau, cô hạ của Chí Đức 2 điểm, từ 10 xuống 8, làm Chí Đức khóc rưng rức, xin lỗi mãi. Cô bảo, vài năm một lần, cô lại ra Hà Nội chơi. Lần nào cô cũng ghé nhà Quang Minh thăm cô Nguyệt và được Quang Minh đèo xe máy đi đây đi đó. Có lẽ nhờ thế mà cô vẫn thuộc tên lũ chúng tôi chăng?
*
* *
Rời Minh Nghĩa, chúng tôi lên ô tô về thăm Trường cấp hai Đại Đồng. Giờ gọi là Trường phổ thông cơ sở, không sao quen nổi. Thầy hiệu phó tên Phong (cùng tuổi Dậu, kém chúng tôi một giáp, là con cháu ở cái nhà có cái túp lều bác Tôm suýt bị Lương "Đen" làm thịt) trân trọng đón phái đoàn tại cổng trường. Thầy hiệu trưởng (tên Quốc, kém chúng tôi 1 tuổi) cùng cô Phương (đã quen từ hồi thăm trường lần trước) đón chúng tôi tại Phòng Hội đồng. Anh rất vui tính. "Thầy" khoan khoái kể lại ngày xưa đã đánh nhau với chúng tôi (chủ yếu ném củ đậu bay qua cửa sổ) như thế nào. Anh vẫn nhớ chú Khuông đã phải đi xin lỗi, hòa giải với dân làng ra sao.

Uống nước chè xanh, ăn quả quít đỏ, hút điếu thuốc lá, phả làn khói bay... xong, thầy hiệu trưởng xin phép phát biểu ý kiến. Trường ta sắp đón nhận Huân chương Lao động hạng hai. Nói chung, nhà trường rất cảm động về chuyến thăm lần trước, cũng như lần này của chúng tôi. Nhà trường đã thông báo lại với Ủy ban nhân dân xã về những nghĩa cử của các cựu học sinh Trường 15, đồng thời đã tổ chức phát phần thưởng cho một số học sinh nghèo vượt khó.

Chú Khuông đứng dậy phát biểu cảm ơn sự giúp đỡ, đùm bọc của chính quyền và nhân dân địa phương trong những tháng ngày gian khổ ác liệt đó. Chú tâm sự, chú thường bị cấp trên phê bình là "anh Khuông chiều trẻ con quá!". Điều làm chú lo nhất hồi ấy không phải là kết quả học tập của chúng tôi có tốt không, chúng tôi ăn có no không, chúng tôi mặc có ấm không, mà là chúng tôi có an toàn không. Vì đã xảy ra trường hợp chị Minh con bác Ngô Tấn Văn chết đuối ở sông Bằng Giang rồi. Mà ở nơi sơ tán thì có biết bao nhiêu điều mất an toàn rình rập: rắn cắn, chó dại cắn, trâu húc, tắm ao, trèo cây, dẫm phải dây thép gai bị uốn ván, điện giật, bom đạn...

Việt Trung giơ tay xin phát biểu, đề nghị nhà trường cho phép gửi vào tài khoản của trường 10 triệu đồng, hằng năm trích tiền lãi mua phần thưởng phát cho học sinh. Sau đó, tất cả ra sân trường chụp ảnh kỷ niệm. Chúng tôi may mắn vì Khánh Bảo "thuê" được một "thợ ảnh xịn" đi theo, là Khánh Bảo phu nhân. Chú Khuông thay mặt đoàn mời cả Ban Giám hiệu sang Thanh Phần cùng dự liên hoan, nhưng chỉ thầy Quốc đi được.
*
* *
Khi đoàn xe bỏ quốc lộ 32 rẽ vào con đường nhỏ gập ghềnh đi ngang qua cái lò gạch đang phả khói, tôi tin chắc những bạn bè của-tuổi-thơ-tôi tất cả đều đang bồi hồi cảm động. Làng Thanh Phần hiện ra sau lũy tre. Vẫn giếng nước đầu làng tần tảo. Xưa kia, làn nước tuy trong nhưng thi thoảng múc lên vẫn thấy lẫn vài cánh bèo tổ ong. Những hôm nắng gắt, chúng tôi đi đá bóng về, đứa nào đứa nấy mặt đỏ dừ, vục mặt vào gầu nước múc từ giếng lên, chao ôi là ngọt! Khánh Bảo nhận xét :"Hồi trước cái vành ngoài của giếng to hơn thì phải...".

Cạnh giếng có một vũng trồng khoai nước, lũ vịt con vàng đen loang lổ hay tíu tít tắm gội ở đây. Xuống xe, mọi người như trầm ngâm trong giây lát, chẳng ai buồn trêu chọc ai. Chiếc cầu xi-măng, nơi chứng kiến biết bao nhiêu cuộc tiễn đưa người ra đồng phải chăng vẫn thế, chưa một lần đúc lại? Bác Bẩm tiếp phẩm đã có lần bị rơi xuống từ chiếc cầu này, ướt lướt thướt như chuột lột. Cây gạo hoa đỏ cao vút ríu rít tiếng chim chào mào đâu rồi? Ruộng rau cần xanh mướt đâu rồi? Bên bờ ruộng cần, hình ảnh một con cá chuối mẹ mình dính đầy kiến lửa oằn mình vật vã đắm đuối vì con đang quẫy mạnh trong tâm trí chúng tôi.

Một người đàn ông mặc chiếc áo sợi màu lam ra tận bờ mương niềm nở đón chúng tôi. Khuôn mặt "quen quen", cái sự quen của ba mươi nhăm năm trước. Chịu, không tài nào đoán nổi đấy là ai. Qua cử chỉ vồn vã thân tình của anh, chỉ có thể cảm nhận đó là người trong-gia-đình. Ánh mắt anh như muốn nói "lạ gì các ông các bà, thôi, vào nhà tôi chơi đi!". Thì ra đó là Phú, một thiếu niên lớn tuổi hơn chúng tôi (và rắn rỏi hơn, đương nhiên rồi), có nước da bánh mật, bơi chó vào loại giỏi, hay gạ chúng tôi chơi trò đánh đáo khe ăn tiền. Mỗi khi thua, đôi mắt lá răm của Phú thường đỏ ngầu lên như mắt trâu điên. Nhưng phải công nhận, "hắn" rất biết cách rút kinh nghiệm để phục thù. Hôm nay, trông "hắn" lành hơn rất nhiều. Sơn Hà kéo cả Phú và mọi người sang nhà bên (nhà Thơ) để liên hoan. Về sau, chúng tôi mới biết Phú và Thơ là hai anh em cùng cha khác mẹ.

Chúng tôi bước vào cổng nhà Thơ. Gần chục chiếc chiếu hoa trải kín mặt sân gạch. Tiếng chào hỏi râm ran khắp xóm, những cái bắt tay thân mật vồn vã, những lời thăm hỏi ân tình. Tiếng những người đàn ông ồm ồm giục các bà các cháu "nhanh tay lên". Mọi người cùng ngồi xuống chiếu uống chén rượu mừng ngày tái ngộ. Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn. Mấy cái giao thừa xa xưa, tại cái làng này chúng tôi học những câu thơ chúc Tết của Bác Hồ qua làn sóng đài phát thanh.

Vị đại diện xã đứng lên thưa mấy lời. Chú Khuông đáp lễ. Tất cả cùng hồ hởi nâng cốc. Bữa cơm thân mật có thịt chó bảy món đặc sản vùng Sơn Tây, thịt gà ta chắc mà thơm, xôi nếp đậu xanh vàng ruộm. Có cả món củ chuối nấu lẫn xương nâu nâu đựng trong những chiếc bát "nhà quê" gợi nhớ một thời kỳ gian khó. Bích Hạnh cầm một túi ny-lông bánh mì to đùng phân phát cho trẻ con những nhà chung quanh. Duy Đông hỏi thăm quê Nguyễn Cao Kỳ ở gần đấy. Thật không ngờ, Đông bảo, cấp trên đã tính kỹ rồi. Trường 15 đặt tại làng Thanh Phần thì sẽ chỉ nhìn thấy máy bay Mỹ bay qua, chứ chả bao giờ bị ném bom, vì khu vực đó gần quê nội Nguyễn Cao Kỳ.

Việt Hà nhớ tới cây si sau bếp, quả rụng đỏ ối. Mấy bạn nữ nhớ những chiếc hầm "chữ A" đào dưới gốc tre già, mái phủ một lớp bùn trộn rơm dày cộp. Lương "Đen" hồi tưởng lại các phi vụ đem bánh bao đổi lấy khoai xát nhà Phú. Các bạn gái nhớ món khoai lang luộc ngược nồi trên sân đất sét (khoai rửa sạch, rải ra đất, nồi đất úp ngược lên, đốt rơm xung quanh). Mấy cậu bé người làng – trông già hơn chúng tôi, nhưng trót khai ra, ít hơn chúng tôi 3 tuổi – ngồi cùng mâm chép miệng kể, hồi ấy trông thấy đường sữa của chúng tôi mà thèm. Được cái, thày u đã dặn đi dặn lại là không được ăn trộm. Ai đó buột mồm nhắc đến nước chè xanh. Phú bảo "có ngay" và phấn khích giục mấy bà mấy chị nhanh nhảu vào bếp luộc ngay một nồi khoai lang và đun nước chè tươi đãi khách.

Ăn trưa xong, cả bọn tranh thủ kéo nhau ra cánh đồng. Quả là làng này nhiều thứ thay đổi, nhưng cũng có thứ "không thay đổi ". Duy Đông đã kịp quan sát thấy chiếc hố xí hai ngăn ở bờ làng vẫn nằm nguyên chỗ cũ (giờ đã xây gạch). Chúng tôi lần hồi bước đi trên con đường đất nhỏ dẫn ra con sông đào, nơi thầy Kền kèm cặp chúng tôi tập bơi hồi trước. Gió thoang thoảng mùi lúa mới cấy, xen lẫn cả mùi ngây ngây của phân chuồng bón lót trên các chân ruộng. Hồ nước nhỏ gần con sông, là chỗ chúng tôi hay tráng người mỗi khi ở dưới sông đào lên, đã biến thành ruộng lúa. Hồi ấy, hồ nước nằm giữa cánh đồng nên đỉa rất nhiều, toàn đỉa đói. Khỏa bàn tay xuống nước, ngay lập tức đỉa từ các nơi nhanh nhẹn bơi đến vì ngửi thấy hơi người, trông như những chú đòng đòng con đen trùi trũi. Sợ nhất là để đỉa chui vào lỗ tai làm tổ trong đầu, đến một ngày đẹp giời nào đấy, chỉ cần vỗ nhẹ vào đầu một cái là cái đầu bị bửa ra, bên trong toàn đỉa là đỉa (!?).

Cô bé con Tây (quốc tịch Nam Tư) tung tăng chạy nhảy ngắm nhìn đàn bò tha thẩn gặm cỏ ven bờ sông, miệng líu ra líu ríu. Từ xa, chúng tôi nhìn thấy cây cầu cũ kỹ bắc ngang sông đào. Mọi kỷ niệm ấu thơ lại ùa về sống động. Đi dọc theo con sông đào là đường dẫn về Hà Nội. Đăng Thảo, Duy Thanh, Hiếu Liêm... ít nhiều đều đã vài ba lần trốn trại theo con đường này. Và lần nào cũng bị bắt quay trở lại. Hồi ở Cao Bằng, tôi nghe một số bạn kể lại "ai hư sẽ bị bắt quỳ trên gai mít", nhưng thành thực mà nói, mắt tôi chưa nhìn thấy cảnh ấy bao giờ. Còn ở Thanh Phần, tôi không nhớ rõ là những người trốn trại có bị chịu "hình phạt" gì không.

Quay trở lại làng Thanh Phần, chúng tôi ghé vào thăm nhà Phú. Trước, nhà chỉ vò võ mỗi hai mẹ con. Bà cụ mẹ Phú nay đã già, lưng còng, đang bế cháu ngồi ngoài hè, có ý nhường ghế trong nhà cho chúng tôi. Thấy chúng tôi vào sân, bà cụ đứng dậy chào. Khuôn mặt bà đọng nhiều vết nhăn, vẫn đầy vẻ cam chịu như ngày xưa. Phú đích thân bưng từng đĩa khoai lang nóng hổi mời chúng tôi ăn. Nước chè xanh sóng sánh thơm ngát, hớp một hớp, đọng lại dư âm chan chát nơi đầu lưỡi. Phú bảo, chưa bao giờ anh cảm thấy sung sướng đến thế. Chúng tôi trêu chọc anh, đùa cợt anh, anh hớn hở gật đầu nhận hết, với vẻ "nhẫn nhục" chưa từng có. Anh xin phép nói đôi lời trước lúc chia tay, đại ý, tuần sau đám cưới con út anh, nếu các bác nào tiện đường ghé qua dự được, xin mời.

Trên đường về, ngồi trên ô-tô, Thúy Liên thì thầm kể chuyện ngày xưa Phú "láo" như thế nào. Phú trông thấy bọn con gái đi tắm gội ở giếng về, liền tra khảo: "Cái gì đây?". Các bạn gái ngoan cường trả lời: "Về mà hỏi em gái mày ấy!". Chắc Phú hồi ấy trông ngầu quá, không bạn nào dám mắng Phú là "đồ mất dậy!". Chuyện của Thúy Liên chưa hết. Nhân nhắc đến đề tài "đỉa", các bạn gái chăm chú lắng nghe Thúy Liên kể, bạn Thành có lần bị đỉa xâm phạm thân thể, phải tiến hành tiểu phẫu thuật như thế nào. Bọn con trai có nghe được chỉ là đồ nghe lỏm!
*
* *
Rời Thanh Phần, chúng tôi đưa thầy Âu, thầy Quốc, cô Dậu về nhà. Sau đó, cả đoàn ghé nghĩa trang Văn Điển thắp hương cho Đăng Thảo. Chú Khuông cũng đi cùng chúng tôi. Lọ tro của Thảo đặt ở Nhà số 1, khu Hóa thân Hoàn Vũ. May quá, chúng tôi đến trước giờ đóng cửa 20 phút. Thúy Liên cầm một bó hoa cúc vàng tươi và một bó nhang với vàng mã vào khấn. Việt Hà bảo, bạn Thảo rất thiêng, ai xin gì được nấy. Nhưng chớ xin giống nhau. Với lại, phải đợi mọi người ra hết, chỉ còn một mình mình với Đăng Thảo thì hẵng xin. Duy Đông nghe nói thế, chờ những giây phút cuối cùng cầm một nén hương lẻn vào phía trong. Ba bạn gái đốt vàng mã cho Thảo. Thảo ơi! Xin cậu phù hộ độ trì cho các chú phụ trách, các thầy cô giáo, các cô chú bảo mẫu, y bác sĩ, cấp dưỡng, tiếp phẩm, quản lý, cùng toàn thể học sinh Trường 15 có sức khỏe, vui tươi, có cuộc sống ấm no đầy đủ, Thảo nhé!
*
* *
Hơn năm giờ chiều, chúng tôi về đến Hà Nội. Vợ chồng Khánh Bảo có nhã ý mời tất cả mọi người ghé qua nhà chơi "cho biết nhà". Đến đó, tào lao thêm gần một tiếng đồng hồ nữa. Tạm biệt Khánh Bảo, các bạn từ trong Nam ra lại rủ đi ăn tối. Chúng tôi gọi một nồi cá chép om dưa và chuyện trò không dứt.

Tưởng đã hết, nào ngờ ngày chủ nhật hôm sau, chúng tôi lại tụ tập. May quá, vợ Sơn Hà "bận" đi học lái xe! Sơn Hà "bù đắp thiệt hại" hai cuộc tương phùng lỡ hẹn hôm qua bằng cách mời mọi người qua nhà ăn bữa trưa. Chí Đức khéo tay mua thịt chó về, được Việt Hà khen "hạp nhất Chí Đức cái món này!". Khoảng chục người ngồi ăn bún thịt chó, uống hết hai chai rượu Tây. Đang ăn thì vợ Sơn Hà gọi điện thoại về kiểm tra tình hình. Sơn Hà ung dung cầm ống nghe hắng giọng: "Đây rồi! Hả, tụ tập tại nhà cho nó sướng, ra quán làm gì? Tối nay mấy giờ em về? Bẩy giờ? Sớm thế? Chín giờ hẵng về!" rồi cười hề hề, giải thích "vợ mình là chúa ghét tụ tập". Duy Đông rút điện thoại bấm tí tách, gọi các bạn nữ đến. Lương "Đen" nhắn bạn gái Vũ Dũng tới nhận quà, đồng thời ra mắt làm quen, do Vũ Dũng mới thay thận, người còn yếu, muốn lắm mà không bay ra được. Chúng tôi rời phòng ăn, chuyển cả ra phòng khách. Thúy Liên, Bế Hà, Bích Hạnh lần lượt kéo tới. Ngọc Hà đang bận việc nhà, dặn qua điện thoại "cả hội cứ ngồi đấy đến 3 giờ đợi tớ với nhé!".

Cô gái bạn Vũ Dũng tên Hằng đeo kính cận, hiền lành, còn trẻ nhưng ứng xử khá tự nhiên. Cả hội cùng nâng cốc chúc mừng dịp gặp mặt. Sơn Hà lấy máy ảnh ra chụp vài pô kỷ niệm. Hai giờ chiều, Lương "Đen" gọi điện vào Sài Gòn cho Vũ Dũng "Sao, ngủ nữa hả? Thôi, chịu khó đi! Lúc này có đông đủ anh chị em, lại có cả Hằng nữa. Cố gắng nói chuyện với từng người trước nhé, rồi nói chuyện với Hằng sau cùng". Bạn Lương kể, trước hôm bay ra Bắc, đột nhiên Vũ Dũng gọi điện thoại bảo "mày đến tao ngay". Tới nơi, đã thấy Vũ Dũng mặc bộ pi-gia-ma chực sẵn ngoài cổng. "Mày cho tao ra siêu thị với!", "Ra siêu thị sao lại ăn mặc thế này? Kỳ chết đi được!", "Ngồi xe hơi, sợ gì?", "Nhưng xe tao đang trục trặc kỹ thuật. Mày lên thay đồ, tao lấy xe máy đưa mày đi". Một lát sau, Vũ Dũng thay đồ nghiêm chỉnh, lại "tân trang sắc đẹp" nữa. Hai người đi ra siêu thị. Lương "Đen" chợt nhớ ra, hỏi "ủa, thế mày ra siêu thị làm gì?", "Tao không ra dự hội 6-3 được, tiếc đứt ruột. À, sắp đến là 8-3. Tao tính ra siêu thị mua chút quà cho Hằng". Vừa kể, Lương "Đen" vừa rút ra một gói quà nhỏ và trao cho Hằng. Cô gái đứng lên đưa hai tay đỡ gói quà có buộc nơ cẩn thận. Bên ngoài có một mảnh giấy nhỏ ghi những nét chữ run run. Sơn Hà chớp thời cơ chụp ngay một pô về làm "vật chứng". Chí Đức chua thêm, Vũ Dũng viết bằng tay trái nên không được đẹp.

Mọi người giục Duy Đông làm một cử chỉ gì đấy ga-lăng một tí: tặng hoa, chúc tụng, ôm hôn thắm thiết... Duy Đông mỉm cười hỏi lại: "Đố mọi người biết, trong ngày này, chị em thích anh em mình tặng hoa gì nhất?". "Hoa hồng", ai đó thốt lên. Không thấy Duy Đông nói năng gì. "Hoa đồng tiền". Tầm thường quá, không phải. "Hoa sen", "Gần đúng rồi đấy!", Đông bảo. Nhiều ý kiến nữa phát ra, song chả có ý kiến nào thỏa mãn Duy Đông. Cuối cùng, Duy Đông hấp háy mắt, bí hiểm nói :"Hoa súng". Một chút thoáng suy nghĩ, không phải ai cũng hiểu ra ngay. Khi hiểu ra (thì toàn con nhà bộ đội cả!), ai cũng cười xòa. Được cái, các bạn gái đã qua cái tuổi đỏ mặt.

Mọi người vẫn tiếp tục trò chuyện rôm rả, nhưng lại có mối quan tâm mới: ảnh đâu rồi nhỉ? Rất nhiều máy ảnh, cả loại cơ học lẫn kỹ thuật số, được sử dụng trong chuyến đi hôm trước, vậy mà các thợ ảnh vẫn chưa thấy xuất trình được tác phẩm của mình. Mọi người liên tục nháy máy cho Đỗ Bình, "phó nháy trưởng" của cả hội. Ngày mai, bốn bạn bay về Sài Gòn mất rồi, phải có ảnh chứ. Gọi mãi thì phó nháy cũng phải đến, và khi tới nơi, phó nháy cất tiếng phân trần oang oang từ ngoài cửa, là mình vừa phải đi chụp ảnh cho đám ma!!! Thế rồi ảnh được bày ra, cả ảnh chụp của máy Duy Đông nữa. Cả bọn lại được một phen cười nói ầm ĩ, bình phẩm các tác phẩm mới ra lò. Có lẽ ngộ nhất là ảnh chụp ở ngoài giếng làng trước lúc đoàn về. Anh bạn Phú cả đời mới kiếm được một dịp may như vậy, bèn len ngay vào giữa hai bạn gái, khoác vai trông rất tình củm.

Cuộc vui tưởng chừng như không biết đến khi nào mới tàn, nhất là khi chủ nhà Sơn Hà vác thêm rượu ra. Tiếng cười đùa không ngớt. Bốn mươi năm trước, bố bảo, đố anh nào dám ho he bắt chuyện– chứ đừng nói "cợt nhả"– với bạn gái. Và ngược lại! Giờ đây hình như là thời điểm các anh các chị cố gắng nói nốt suất của hồi xưa.

Nhưng giời đi vắng cũng chẳng được lâu. Cánh cửa bỗng bật mở, và bà chủ đích thực của ngôi nhà hiên ngang bước vào. Một vị khách ghé tai Sơn Hà: “ Sao bảo đến tối em mới về? “. Song lúc này, Sơn Hà dường như đã biến thành con người khác, không "hùng dũng" như hồi trưa nữa, mà đã ngoan như một chú cún con, ngồi khép nép bên cạnh bà vợ, kính cẩn giới thiệu tên từng vị khách (xin lỗi Sơn Hà).

Đã đến lúc ra về. Mọi người chia tay nhau, bịn rịn, lưu luyến. Chằng có năm nào đông vui như năm nay. Thôi hẹn năm sau gặp lại, nhưng ở Hà Nội hay Sài Gòn?
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Những bài viết gợi về ký ức một thời Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, ... 18, 19, 20  Trang kế
Trang 2 trong tổng số 20 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser