vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - Trại sơ tán Ba Vì
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

Trại sơ tán Ba Vì
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4 ... 18, 19, 20  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Những bài viết gợi về ký ức một thời
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 27.08.2007    Tiêu đề: Các vị la hán chùa Tây Phương Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÁC VỊ LA HÁN CHÙA TÂY PHƯƠNG

nquan đã viết:
Bác Phan Hồng ơi em cũng muốn viết lắm nhưng cuối năm bận quá không có thời gian , đọc bài của các bác đã muốn tham gia vì cũng có một thời như vậy mà. Tuy không nhớ được nhiều chi tiết như bác Phan Hồng nhưng cảm xúc thì còn nguyên. Bác yên tâm chắc còn nhiều người tham gia. Đề tài này cũng hay.


Gần đây, chúng tôi có công việc nên thường xuyên ghé về Đại Đồng (Thạch Thất).

Một lần, trên đường đi, chúng tôi ghé thăm chùa Tây Phương thắp vài nén hương.

Sách "Chùa Tây Phương" của tác giả Chu Quang Trứ (NXB Mỹ Thuật - 1998) có ghi lại:

Chùa Tây Phương ở núi Tây Phương, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, Hà Tây. Theo các tài liệu để lại thì chùa xây từ đời Cao Biền (865-875). Vào niên hiệu Chính Hoà (1680-1705), Tây Vương Trịnh Tạc đi qua thấy cảnh trí trang nghiêm, bèn truyền cho sửa chữa lại chùa và xây tam quan. Sau đó chùa bị phá. Chùa Tây Phương còn đến nay đã được xây lại trên nền chùa cũ, vào khoảng 1788-1789 dưới triều Tây Sơn. Hiện trong chùa còn chuông đồng đúc năm Bính Thìn 1796, năm Cảnh Thịnh thứ 4 và bài Minh do Phan Huy ích soạn khắc vào chuông năm Mậu Ngọ (Cảnh Thịnh thứ 6).

Chùa Tây Phương xây 3 toà xếp thành hình chữ "tam", nhìn bề ngoài mỗi toà có hai tầng, 8 mái và 8 đầu đao cong vút. Toà giữa hẹp nhưng cao hơn toà thượng và hạ. Do xếp hình chữ tam, không nối liền mà mỗi toà cách nhau một quãng nhất định, thềm toà nọ cách thềm toà kia là 1m60, nên nội thất mỗi toà đều được ánh nắng mặt trời chiếu sáng. Các toà nhà gạch trần theo hình cong và được chạm trổ theo kiểu "bán âm, bán dương", hay kiểu "sắc sắc không không" theo triết lý nhà Phật. Phía trong chùa dựng theo lớp chồng rường thống nhất, chồng cột có xà đỡ.

Nghệ thuật trang trí kiến trúc Chùa Tây Phương được biểu hiện qua các đề tài: rồng phượng, hoa, lá ở trên các vì xà, van nong... với kỹ thuật chạm bẹt (chạm nông).

Về tượng, Chùa Tây Phương là những di sản quý giá những tượng Phật và tượng các vị tổ. Tổng công có 62 pho tượng. Trong đó, tượng của 18 vị la hán được các nghệ nhân tạo tác một cách tinh vi tài giỏi, sinh động.

Tên chính thức của chùa là "Sùng Phúc tự" (mưu cầu mọi sự tốt lành) như bao ngôi chùa vốn có nguồn gốc từ buổi đầu kỷ nguyên độc lập: Vạn Phúc, Vĩnh Phúc, Thiên Phúc, Ninh Phúc, Diên Phúc... Song mọi người cứ gọi theo tên núi, là chùa Tây Phương, với niềm tin đã đúc kết thành đôi câu đối ghi ở toà chùa trong:

Tây Phương hữu Phật tín tư sơn
Thạch Thất truyền kinh nghi thử địa


(Tin ở núi này - Tây Phương có Phật
Ngờ đâu đất ấy - Thạch Thất truyền kinh)

Chứ tâm thức Việt Nam cổ gọi đây là núi Trâu - xa xưa phát âm là Klâu, rồi dần phiên âm Hán Việt thành Câu Lậu. Lớp văn hoá gốc nhoà đi, Câu Lậu được giải thích do núi có hình cong tựa chiếc móc câu khổng lồ! Nói thế, trong thâm tâm vẫn tin dãy núi đá lẫn đất của vùng Thạch Thất là đàn trâu 9 con: Câu Lậu, Lôi Âm, Gai - Vòi Voi, Nứa, Dền, Nồng, Đỏ, Miễu và Đống Cao. Câu Lậu cao hơn 50 mét là con trâu đầu đàn quay đầu lại vẫy gọi cả đàn ra sông Tích Giang uống nước.

Quần thể núi đá lẫn đất của vùng Thạch Thất như đối trọng với quần thể núi đá vôi của vùng Quốc Oai ở phía Nam trước mặt, lại như cùng trong tổng thể với dải núi So, núi Sở... ở phía sau, được hình dung thành các con hổ, con ngựa, con rồng, con mộc, con hoả. Những núi này là sự chuyển tiếp của vùng đồng bằng ở thềm cao lên vùng gò đồi trung du Ba Vì, để rồi nhập vào dãy núi đá vôi Hoà Bình trùng điệp.

Gắn với núi cao là sông dài. Sông nội đồng có dòng Tích Giang từ chân núi Ba Vì chảy về, trườn lượn uốn khúc quanh co, lững lờ trôi chảy, khúc nào cũng như tụ phúc ban lộc cho xóm cho làng. Xa hơn một chút là sông Đáy, vốn là đường giao thông thuỷ xuôi xuống xứ Nam. Và đi thêm một chút nữa là sông Hồng cuộn chảy tung sóng hào hùng.

Núi sông ở vùng châu thổ là sự điểm tô cho đồng ruộng, tạo thế đối đãi âm dương, hình thành những vùng địa linh, mà dấu son là một loạt chùa danh tiếng được gọi theo tên núi. Nếu các chùa Sở, chùa So, chùa Thày... có quy mô lớn thuộc loại "chùa Trăm Gian" mở ra hoà đồng với ngoại cảnh tưởng như vô hạn, thì chùa Tây Phương lại khuôn mình trong mặt bằng đỉnh núi vừa phải, nổi lên ở vẻ đẹp kiêu sa, cả về kiến trúc lẫn điêu khắc.

Núi Trâu - Câu Lậu vượt lên toàn vùng là đất thiêng, trong thời Bắc thuộc đã gắn với huyền thoại cung cấp đan sa cho Cát Hồng luyện thuốc trường sinh, và viên Đô hộ sứ kiêm thày phù thuỷ Cao Biền phát hiện ra huyệt đế vương rồi tìm cách trấn yểm; sang kỷ nguyên độc lập, dân tin là đất Phật cực lạc, nên mang thêm tên nữa Tây Phương.

Núi nhỏ, nhưng từ chân lên đỉnh có tới 3 chùa: Đầu non phía Bắc là chùa Quan Âm (hay Quan Quận), vạch đường lên đỉnh cũng là về đất Thánh có chùa Am Thanh (hay Thanh Am) ở lưng chừng, và cuối cùng chùa Tây Phương ở trên đỉnh nên còn gọi là chùa Cao Sơn. Dân địa phương từ lâu vẫn truyền tụng: "Đệ nhất Cao Sơn, đệ nhị Thanh Am, đệ tam Quan Quận" nói lên sự đánh giá nghệ thuật, đồng thời cũng là con đường chúng sinh tìm đến Phật giáo để được giải thoát: Trong trần tục có Phật Bà Quan Âm cứu khổ, giúp chúng sinh hiểu kinh pháp có sư tăng lập am giảng đạo, giác ngộ, rồi thành Phật ở Tây Phương vời vợi. Đường xưa lên chùa lượn theo sườn núi thoai thoải dễ đi, vòng qua Am Thanh mới lên Sùng Phúc, nay vẫn dùng nhưng khuất nẻo, chỉ những ai lắng tâm cầu Phật mới có duyên tìm được.

Nhưng cũng từ lâu, người ta đã mở một con đường chạy thẳng từ chân núi chỗ bãi rộng có bóng đa cổ thụ soi gương đầm nước lên thẳng đỉnh núi, đường dốc, trước xếp đá thỏi to nhỏ ngang dọc xa gần khác nhau để du khách vui đùa mỗi khi trẩy hội và thay đổi nhịp chân, vậy mà đợt trùng tu năm 1971 những người không hiểu biết đã cho xây lại "nuột nà", "hiện đại"! Thật tiếc thay!


Các vị la hán chùa Tây Phương

Hệ thống tượng Tổ ở chùa Tây phương trước năm 1943 và ngày nay bày có khác nhau, song cơ bản được tập trung ở toà chùa trong của khu Tam Bảo, vì thế toà chùa này mang tính Hậu đường hơn là chùa Thượng.

Không rõ trước kia tượng các vị Tổ được bày theo hệ thống nào, hiện nay không bày theo trật tự liệt kê dưới đây, nhưng cũng không quá lộn xộn. Trừ Tổ thứ 1 Ca Diếp tôn giả và Tổ thứ 2 A Nan Đà tôn giả bày ở Phật điện chính trong bộ tượng "Nhất Phật Nhị tôn giả", các Tổ khác được bày ở gian bên của toà chùa trong, do tượng có pho đứng pho ngồi đã gây được nhịp điệu vui mắt, có vươn lên, có dàn trải với quãng cách khác nhau.

Hệ thống tượng Tổ ở chùa Tây Phương có 18 pho là 18 cá thể, mỗi người một dạng vẻ, một tư thế, ai nấy có cuộc sống riêng biệt rất sắc nét, tất cả đều sống động (ngay cả với Tổ thứ 14 Long Thụ tôn giả). Đối chiếu những tượng này với hình vẽ trong các thư tịch cổ, hầu hết về bố cục giống nhau đến lạ lùng, chỉ một ít tượng khác hẳn bố cục, song vẫn đồng nhất về cái chung và nhất là ở những chi tiết đặc thù. Vì thế, qua nhận diện có thể khôi phục chính xác tên và xây dựng lai lịch cho từng nhân vật. Bám theo hình mẫu trong thư tịch cổ, nhấn mạnh tính cách cá nhân, các nhà điêu khắc xưa đã sáng tạo được những tác phẩm tượng tròn mang đậm chất chân dung, chẳng những nắm bắt cấu tạo cơ thể chính xác theo giải phẫu và theo tình cảm, mà còn đi sâu vào cuộc sống nội tâm của nhân vật, đảm bảo được cả hai mặt của loại hình tác phẩm chân dung là giống và sống. Tất nhiên, không có người ngồi mẫu, nhưng cái giống ở đây là chất người của nhân vật đã tạo thành mẫu hình ổn định trong ý thức người xem. Bình sinh, các vị Tổ đều là người Ấn Độ, song ở chùa Tây Phương, tượng các vị đã được các nghệ nhân khắc gỗ Việt Nam sáng tạo mang phong cách riêng của nghệ thuật truyền thống Việt Nam. Chúng ta gặp ở đây sự sum họp của những lớp người Việt đang sinh sống trên mọi miền quê đất nước. Nó đạt tính dân tộc ở thời điểm ra đời, và giữ mãi tính dân tộc ấy để đóng góp một diện mạo Việt Nam vào kho tàng nghệ thuật tạo hình thế giới.

Trong nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam, từ những tượng cổ điển ở thời Lý, đến loạt tượng Phật - tượng Tổ - tượng Hậu thế kỷ XVI -XVII với nhiều tác phẩm đặc sắc trong các chùa là sự khẳng định tài năng của nghệ sĩ Việt Nam. Thế kỷ XVIII ít có điều kiện cho điêu khắc phát triển, song là sự tích tụ âm ỉ của những kỳ tài Nguyễn Công Huệ, Tô Phú Vượng, Hoàng Đình Ưức và Đào Thúc Kiên... để đến thời Tây Sơn đã chớp cơ hội tốt nhất, sáng tạo ra những tuyệt tác "Các bức tượng la hán chùa Tây Phương" mà đỉnh điểm là các vị Tổ dưới đây.

Tổ thứ 1: Ma Ha Ca Diếp tôn giả (Màhàkàsyapa),
Tên quen thuộc là Ca Diếp, nghĩa là uống ánh hào quang, nên còn gọi là Ấm Quang
Tổ thứ 2: A Nan Đà tôn giả (Ànanda)
Tên quen thuộc là A Nan, nghĩa là vui mừng, nên còn gọi là Hoan Hỉ, Khánh Hỷ.
Tổ thứ 3: Thương Na Hòa Tu tôn giả (Sanakavàsa)
Tổ thứ 4: Ưu Ba Cúc Đa tôn giả (Upagupta)
Tổ thứ 5: Đề Ca Đa tôn giả (Dhritaka)
Tổ thứ 6: Di Giá Ca tôn giả (Michakha)
Tổ thứ 7: Bà Tu Mật tôn giả (Vasumatra)
Tổ thứ 8: Phật Đà Nan Đề tôn giả (Bouđhanandi)
Tổ thứ 9: Phục Đà Mật Đa tôn giả (Bouđhamitra)
Tổ thứ 10: Hiệp tôn giả (Parsva)
Tổ thứ 11: Phú Na Dạ Xa tôn giả
Tổ thứ 12: Mã Minh tôn giả (Asvagosha)
Tổ thứ 13: Ca Tỳ Ma La tôn giả (Capimala)
Tổ thứ 14: Long Thụ tôn giả (Nagarjuna)
Tổ thứ 15: Ca Na Đề Bà tôn giả
Tổ thứ 16: La Hầu La Đa tôn giả (Ràhulata)
Tổ thứ 17: Tăng Già Nan Đề tôn giả (Samghanandi)
Tổ thứ 18: Già Da Xá Đa tôn giả (Samghàyacas)
Tổ thứ 19: Cưu Ma La Đa tôn giả (Kumârata)
Tổ thứ 20: Xà Dạ Đa tôn giả



..... ..... .....

..... ..... .....

..... ..... .....

..... ..... .....
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 28.08.2007    Tiêu đề: Các vị la hán chùa Tây Phương Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÁC BỨC TƯỢNG

Ở chùa Tây Phương, tượng Ca Diếp đứng ở bên trái tượng Tuyết Sơn (tên của Thích Ca từ lúc sơ sinh đến lúc khổ luyện tu hành), là một người tuổi cao, ăn mặc nghiêm chỉnh, ánh mắt tinh tường, khoát tay ở thế chém . Đây là một pho đậm chất chân dung, đặc tả cả dung mạo và tính cách.

Theo quy định của bài trí Phật điện, A Nan phải được bày sóng đôi với Ca Diếp trong bộ tượng "Nhất Phật nhị tôn giả", như vậy, đáng ra tượng A Nan phải để ở bên phải tượng Tuyết Sơn, thì trong một lần bày lại, người ta đã cho A Nan tiến lên hàng trước, đổi chỗ cho Đại Diệu Tường. Do tượng Ca Diếp đứng, nên tượng A Nan cũng được tạc ở thế đứng, với hình dáng chung nuột nà, trẻ trung, đang kết tập kinh tạng (ôm sách), ánh mắt và khóe miệng cùng cười vui vẻ. Nụ cười hể hả biểu hiện bản chất của nhân vật đã trở thành tên gọi. Tượng được tạo dáng đứng thẳng chững chạc, những nếp áo chảy sóng càng làm tượng vươn lên trong khối chung óng nuột, tỷ lệ các phần cân đối, cả hình dáng và nội tâm đều sáng láng.

Tượng Thương Na Hoà Tu bày ở gian bên phải toà chùa trong, là một ông già luôn lo toan, ngồi chân thõng chân co vắt ngang, một tay để trên đùi, còn tay kia thu trong bọc, áo mặc nhiều nếp lượn để hở bộ ngực gầy giơ xương, đôi mắt xụp, miệng mím, ít nói nhưng nghĩ nhiều, đã tạo nên một ông già khắc khổ, sống bằng nội tâm.

Tượng Ưu Ba Cúc Đa đặt ở góc sau bên phải toà chùa trong, thể hiện ngài là một người độ lượng, ham học hỏi, ham giúp đời. Ngồi nhấp nhổm trên gót chân trái quỳ gập lại, còn chân phải gấp chống làm điểm tựa cho bàn tay cầm một vật nhẹ (cây bút hay thanh tre? - đã bị mất), tay bên kia cầm thẻ tre, người rướn lên, đầu nhô cao, mình mặc 2 lớp áo dài xoà trùm xuống đất. Tượng có đầu to tròn, trán cao, hói quá đỉnh, biểu thị sự thông minh; lông mày to rộng cùng với bộ râu quai nón và hàng ria mép là những vệt đen đậm làm nổi đôi mắt tròn sáng mở to nhìn xa rất chăm chú, phối hợp với cái miệng chúm mở, rõ ràng là sự thuyết giảng những giáo lý uyên thâm, cứ như thôi miên quán xuyến cả đám đông người nghe. Đôi tai dài, gò má đầy và cánh mũi nở càng ăn ý với những mảng khối căng tròn trên vai và đầu gối, tất cả đều biểu đạt sự sung mãn mà ngay khi xuất gia tâm tính đã vượt xa 17 tuổi đời. Bộ ngực chỉ lộ một mảng nhỏ hơi hằn nổi xương sườn, cùng với các mảng khối da thịt khác sáng láng, là sự tráng kiện của tuổi trung niên. Pho tượng đơn chiếc, nhưng người chiêm ngắm lại cứ mường tượng có đám đông chúng sinh phía trước đang cùng hướng về nơi Tổ ngồi. Đây là một pho tượng rất thành công trong sự cân đối và sống động.

Tượng Đề Đa Ca được bày ở bên trái Tổ thứ 4, ở thế ngồi, hai tay đưa trước ngực. Toàn bức tượng tạo thành một khối chóp đóng kín, đường viền rõ ràng, mảng khối óng ả, các nếp áo chảy song hành dễ dàng, tất cả như gợi lại điềm lành khi sinh, nhưng khuôn mặt đăm chiêu như có sự vướng mắc chờ đợi người xứng đáng để trao truyền y bát, do đó gợi khoảng không mênh mông tuyệt đối.

Tượng Di Giá Ca được đặt ở giữa Tổ thứ 3 và Tổ thứ 5, thế đứng chững chạc, mặc áo dài nghiêm túc, đang trong sự ngỡ ngàng tìm hiểu điều gì đó, tay phải thu trong bọc, còn tay trái như bấm đốt lần tính, khuôn mặt có vẻ bàng hoàng ngơ ngác, cả mắt và miệng đều đang thăm dò với động thái hấp háy khó nói rõ. Và như thế, người xem cảm nhận phía trước Tổ có cảnh lạ hay ai đó đang đối thoại. Tượng có dáng vẻ bình tĩnh, song nội tâm lại động rộn.

Hình Bà Tu Mật được vẽ trong các thư tịch cổ và tạc thành tượng ở chùa Tây Phương, đặt ở bên trái Tổ thứ 3, gần như tương đồng: Tổ là người cao tuổi, rất chú ý đến trang sức, đầu tóc buộc dây và chải mượt, mặc áo tĩnh y với những nếp gấy chảy nuột, chân giầy, cổ tay đeo vòng, đứng thăớng, ngửa mặt lên trời, miệng há vừa như chào đon đả hay đọc kệ, hai tay chắp lại đưa lên ngang mặt thi lễ, mắt lim dim... Hẳn nghệ sỹ xưa muốn diễn tả giây phút cuối đời của Tổ đang truyền kệ cho các chư tiên. Là tượng đơn, song chiêm ngắm Tổ, người xem cảm được cả một tập thể mà Tổ đang giao tiếp. Hình ảnh Tổ được nghiên cứu rất kỹ để từng chi tiết phối hợp lại bộc lộ rõ tính cách lịch thiệp, trang trọng, ngoại hình gắn bó chặt chẽ với nội tâm.

Tượng Phật Đà Nan Đề bày ở các góc ngoài phía bên phải toà chùa trong, là một người béo tốt, ngồi bệt, chân phải xếp bằng, chân trái chống nghiêng, tay trái để trên đùi, tay phải đang ngoáy tai. Cả pho tượng thể hiện sự căng nây, óng ả, mặt hỉ hả, đôi mắt hóm hỉnh, miệng cười dễ dãi, khuôn mặt sáng sủa, tất cả toát lên sự thông minh, mềm mỏng, ăn nói khéo, dễ gần. Đây là pho tượng đặc biệt sống động, dù cái que bị mất vẫn luôn gợi động tác ngoáy tai, ngoài sự kích thích còn biểu hiện sự giao tiếp và ứng xử văn hoá uyên bác.

Tượng Phục Đà Mật Đa được bày ở bên trái Tổ thứ 8, tả cảnh Tổ đang ngồi tựa mỏm đá, mặc áo nhiều nếp nhăn, để hở ngực và cánh tay. Tượng được nhấn mạnh những nét gồ ghề, tạo sự già dặn từng trải pha chút hóm hỉnh như đầu nhô nhục kháo, lông mày nhíu lại, tạo những vết nhăn dọc trên ấn đường, lưỡng quyền nổi cao, cánh mũi nở, miệng mở hẹp với nếp nhăn bên khoé mép, cằm bạnh, mắt sáng nhìn xuống. Tay trái ngài cầm một cuốn sách mở, tạo được sự hợp lý của khuôn mặt đang nhìn xuống sách, đọc và phát hiện những tư tưởng mới như chính ngài đặt ra khi nói câu đầu tiên: "... Đạo lớn kia là Đạo ta cần biết. Còn cái gì cần biết hơn Đạo kia?". Đây là tác phẩm thể hiện được một nội tâm khá phức tạp.

Tượng Hiệp tôn giả được bày ở bên trái Tổ thứ 9 , tả cảnh ngài đang đứng tựa vào thân cây già, có nhục kháo trên đầu, râu tóc đều rất ngắn, mặt bóng bẩy hóm hỉnh, tay phải cầm quạt, còn tay trái tỳ lên cổ tay phải. Tượng được đặc biệt nhấn mạnh ở đôi mắt tròn sáng, miệng mím chặt, da thịt phốp pháp mịn óng, đối lập với cây khô nhiều hốc mắt, cũng biểu hiện người hay quan sát, ít nói, không nằm nghỉ đúng như tên gọi, người tinh tấn có chí, rất giàu nghị lực.

Tượng Mã Minh đặt ở cuối dãy hồi trái toà chùa trong. Tượng Tổ được tạc ở tư thế ngồi, chống tay phải trên phiến đá, mặc áo trật vai trái xuống tận cánh tay để hở cả ngực và bụng, đầu hói quá đỉnh. Tổ ngồi trên lưng rồng, bình thản, thả thõng chân phải và hơi co chân trái, thân hơi ngả về sau và chống thẳng tay phải tạo thế vững vàng không mỏi, tay trái gấp vuông đưa ngang trước bụng và chỉ về con rồng. Đầu tượng tròn, cạo trọc càng nổi các khối căng đầy sức sống, tai dài chạm vai, mắt nhìn thẳng vào đối tượng cùng với miệng há, biểu hiện đang tranh luận, mặt rất tươi, trên thân mình, da dẻ căng óng khoẻ mạnh. Tổ đầy vẻ tự tin, thông minh, điềm tĩnh, rất chan hoà với mọi người.

Tượng Ca Tỳ Ma La được đặt ở giáp tường hậu cuối gian bên trái toà chùa trong, tả cảnh Tổ đang bị mãng xã quấn quanh, nhưng Tổ vẫn điềm tĩnh: đứng thẳng vững vàng, mặt nhìn lên, đầu nổi nhục kháo, gò má cao tạo một vẻ hơi ngây, mắt mở to, miệng mím không nói gì, da thịt và mảng áo đều mịn óng. Sự đàng hoàng của Tổ khiến rắn biết gặp đối thủ cao cường phải bái phục. Đây cũng là một cách tranh đấu có nội lực mạnh, khác với điều ghi trong tiểu sử, biểu hiện sự sáng tạo của nhà điêu khắc.

Tượng Long Thụ được đặt ở bên trái Tổ thứ 13, là vị Tổ duy nhất ngồi trên toà sen. Tượng Tổ được tạc với những đặc điểm: đầu nổi nhục kháo, gò má cao, mắt nhắm, mũi nở, cằm nhọn thể hiện một nhà hiền triết uyên bác, ngồi tĩnh lặng nhưng nội tâm sôi động, là người từng trải, khắc khổ, xem nhẹ đời thường để suy tư hoàn chỉnh kinh pháp. Con rồng ở bệ nhỏ bên trái Tổ đang đội một kệ sách, ý chừng nhắc ngài được Đại Long cho kinh Hoa Nghiêm. Đây là pho tượng thoát tục rất thành công, Tổ được xem trọng như Phật. Người xem hiểu truyện Tổ, ngắm tượng lâu sẽ thấy đường viền nhạt nhoà để chỉ còn một vầng sáng yếu, không thực không hư theo như Phật tính.

Tượng La Hầu La Đa được bày ở bên phải Tổ thứ 13. Tổ ngồi trên phiến đá, hai chân thả chạm đất, cây gậy tích trượng để tựa vai do tay trái giữ, không phải để tăng sự vững chắc, mà chỉ nhằm nâng uy thế. Bàn tay phải xoè ra để úp trên đùi, lộ rõ những móng tay dài của người trưởng giả ăn chơi, khuôn mặt hơi ngửa có vẻ ngạo nghễ, miệng mím với môi mỏng biểu hiện tài nói năng trơn tru. Đôi mắt nheo nheo với chiếc mũ hơi hếch lại tạo một vẻ mặt đăm đăm. Các nếp nhăn và khối gồ ghề trên thân thể biểu hiện sự mỏi mệt, đến cả các nếp nhăn trên áo cũng gợi sự trăn trở, và cách ngồi có cái gì nặng nề. Tổ là vị duy nhất chít khăn cùng với toàn thân cân đối muốn gợi sự quyền quý oai vệ. Con hươu nằm ở trái Tổ, quay cổ và ngóc đầu hướng về Tổ như sự chờ đợi vỗ về. Có thể, đấy là hình ảnh của Lộc uyển nơi đức Phật Thích Ca đã thuyết pháp và đức Ca Diếp đã chuyển pháp luân. Ở đây, con hươu cũng gợi ra những chúng sinh, những tăng lữ đã từng tranh luận về pháp với Tổ. Đây là một pho tượng được nghiên cứu rất kỹ về giải phẫu cơ thể và tâm lý xã hội, phức tạp mà thống nhất.

Tượng Tăng Già Nan Đề được bày ở góc trong bên trái của toà chùa trong, tượng được tạc với khuôn mặt chữ điền rạng rỡ, ngồi tì cằm lên bàn tay úp đè nhau trên đầu gối (tay phải ở trên), cánh mũi nở, gò má đầy, nhắm mắt, khép miệng nhưng mỉm cười. Toàn thân thu gọn trong tấm áo bào choàng từ cổ xuống đất với những nếp gấp chảy xuôi, phía trước chỉ để hở khối chân phải gấp nằm ngang và khối chân trái gấp dựng đứng. Bệ tượng gợi sóng nước có mặt một con thú rừng, như muốn biểu hiện một thiên nhiên hoang dã. Thế ngồi tự nhiên, toàn thể bó trong một khối chóp có đường viền rõ ràng, các mảng lớn chảy xuôi gắn với vài mảng ngang hẹp làm cho toàn thể chững chạc, thu lại hình để khơi mở tư tưởng lớn. Đây là tác phẩm có bố cục rất gọn chặt.

Tượng Già Da Xá Đa bày ở bên phải tượng Tổ thứ 16, tả cảnh Tổ đang đi vân du giáo hoá, tay trái cầm gương giơ về phía sau, tay phải giang ngang rồi gấp lại, tì giữ chiếc gậy trên vai mà đầu đằng sau buộc cuốn kinh với tua kim tòng. Tượng có những đặc điểm: gió thổi bay xa các tà áo và ống tay trong khi người vẫn đứng thẳng, chân phải hơi co tạo sự nhún nhảy, gợi cho những cánh tay như đung đưa theo nhịp bước, các nếp áo buông chảy tự nhiên, đầu hơi nhô nhục kháo và dướn cao mở rộng tầm nhìn, vẻ mặt có phần ngơ ngác luôn gặp những cảnh mới lạ, đôi mắt mở to như hấp háy và cái miệng há vừa phải đang giữa câu nói, cánh mũi rộng, gò má đầy, tai dài, người đẫy chắc. Ngắm nhìn tượng đơn, nhưng ta có thể thả sức tưởng tượng nhiều tình huống xảy ra phía trước.

Tượng Cưu Ma La Đa bày ở góc ngoài bên trái của toà chùa trong, tả Tồ với hình dáng toàn thân béo múp, ngồi ngả người rất thoải mái, chân gấp đứng, chân xếp ngang, tay trái để trên đùi, tay phải cầm bông hoa mây. Sự kết hợp bố cục hài hòa giữa bông hoa mây với những mảng khối căng nẩy khắp toàn thân, với khuôn mặt rất hể hả cùng nhau làm toát ra tính cách lãng mạn, yêu đời, sống thật thoải mái. Đầu tượng tròn, mặt bầu bĩnh, mắt hấp háy cười, mũi hơi chun lại với cánh nở, miệng mỉm cười, hai tai đầy rất dài, các nếp nhăn trên trán, trên cằm và khoé miệng, ánh mắt đều biểu hiện sự mãn nguyện. Tổ mặc áo phanh ra hở cả ngực và bụng cũng đều căng bóng, lại thêm mấy ngấn bụng thắt lại càng tạo cảm giác cứ rung lên phập phồng. Tượng quy về khối nón vững chắc, phối hợp các mảng khối ngang và dọc, điểm thêm một số đường nét thuận chiều, chỗ nào cũng đầy tràn sức xuân, gắn với kiếp trước ở tầng trời cao nhiều hơn là khi xuống hạ giới trong nhà Bà La Môn.

Tượng Xà Dạ Đa được bày ở giữa Tổ thứ 12 và Tổ thứ 19 sát tường hồi trái nếp nhà trong. Tổ khoác chéo thân một tấm cà sa như chiếc khăn, ngồi chân chống chân gấp trên tấm thảm tròn, cúi gấp người xuống, tay trái để trên đùi còn tay phải cầm cái que chọc xuống tấm lưng trần gãi. Toàn bộ pho tượng nhấn mạnh cái ngứa đang hành hạ một người gầy yếu, nhưng nội lực mạnh: Đầu to tròn với vầng trán rộng thông minh, nhưng khuôn mặt dài và xương xương, dướn cổ tạo những hốc, ngực phơi đủ bộ xương sườn, bụng mướp với nhiều nếp da nhăn nheo. Tượng ngồi chân phải quỳ chân trái chống, bàn tay trái đặt lên đùi như lấy thêm thế rướn vai phải đưa tay lên cao để gãi cho đã. Đây cũng là thế ngồi khi tranh biện có thể phán quyết đầy đủ đối phương, gắn với hoạt động hoá đạo của Tổ. Đôi mắt nheo nheo trong hõm sâu ẩn dưới gò cao cùng với cái miệng chụm lại, phối hợp với các nếp nhăn trên trán, đuôi mắt và khoé miệng không chỉ nói lên cái già, còn biểu hiện những suy tư sâu sắc. Nhìn chính diện, người xem sẽ thấy sự chính xác về giải phẫu, sự dằn vặt về sinh lý và sự sâu sắc về trí tuệ.

Theo "Chùa Tây Phương" của Chu Quang Trứ
NXB Mỹ Thuật - 1998

P.S: Tác giả không giải thích, vì sao trong chùa không có tượng Tổ thứ 11 và 15.

Đọc lại "Các vị La Hán chùa Tây Phương", thấy nhận thức của tác giả có cái gì đó... cách mệnh quá, ép uổng quá, khiên cưỡng quá.

Các vị La Hán chùa Tây Phương
Tôi đến thăm về, lòng vấn vương.
Há chẳng phải đây là xứ Phật,
Mà sao ai nấy mặt đau thương ?

Đây vị xương trần chân với tay
Có chi thiêu đốt tấm thân gầy?
Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt
Tự bấy ngồi y cho đến nay

Có vị mắt giương, mày nhíu xệch
Trán như nổi sóng biển luân hồi
Môi cong chua chát, tâm hồn héo
Gân vặn bàn tay, mạch máu sôi

Có vị chân tay co xếp lại
Tròn xoe tựa thể chiếc thai non
Nhưng đôi tai rộng dài ngang gối
Cả cuộc đời, nghe đủ chuyện buồn …

Các vị ngồi đây trong lặng yên
Mà nghe giông bão nổ trăm miền
Như từ vực thẳm đời nhân loại
Bóng tối đùn ra trận gió đen.

Mỗi người một vẻ, mặt con người
Cuồn cuộn đau thương chảy dưới trời
Cuộc họp lạ lùng trăm vật vã
Tượng không khóc cũng đổ mồ hôi.

Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau
Quay theo tám hướng hỏi trời sâu
Một câu hỏi lớn. Không lời đáp.
Cho đến bây giờ mặt vẫn chau.

Có thực trên đường tu đến Phật
Trần gian tìm cởi áo trầm luân
Bấy nhiêu quằn quại run lần chót
Các vị đau lòng theo chúng nhân ?


...........................................Huy Cận

Thực ra, "những vị La Hán chùa Tây Phương" thực sự là những tác phẩm điêu khắc gỗ tuyệt vời, mang đậm sắc thái dân tộc của người Việt, và tiềm ẩn những triết lý sâu xa về nhân sinh mà có lẽ chúng ta chưa "ngộ" hết.

Lần sau sẽ giải thích:
- Vì sao tượng La Hán phải tạc bằng gỗ mít?
- Vì sao trong chùa Tây Phương có cây đại?
- Vì sao trong chùa Tây Phương có cây sung?
- Vì sao trong chùa Tây Phương có cây thông?

Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 29.08.2007    Tiêu đề: Kiến trúc chùa Tây Phương Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

KIẾN TRÚC CHÙA TÂY PHƯƠNG

Địa thế
Con đường liên huyện Quốc Oai - Thạch Thất vào chùa, cũng là đường thôn Yên (An) sang xóm Tây Phương, giờ đã được trải nhựa thênh thang, đầu ngoài là đầm Liêu dạng hình chữ Ất, đầu trong vượt qua kênh đào thủy nông sang đầm Cầu Đá hình bán nguyệt, là nơi tụ thủy tích phúc, phía trước có núi đồi ôm bọc. Người xưa quan niệm đó là một địa cục hiếm hoi, dựng đền thờ Thần, dựng chùa thờ Phật là đắc địa hơn cả.

Cạnh gốc đa bờ đầm Cầu Đá có một miếu nhỏ, trong có tấm bia Thạch kiều mộc quán bi kí dựng năm Cảnh Hưng 27 (1766) nói về cầu Hoa Phong ở Tây Phương do một bà mệnh phụ cúng hậu mà dân địa phương còn nhớ với những tình cảm kính trọng. Theo tên bia, xa xưa nơi đây có cầu đá và quán gỗ, có thể là loại kiến trúc kết hợp "thượng gia hạ kiều" bắc qua chỗ eo của đầm để sang chân núi lên chùa. Quán gỗ đầu xóm cùng với cây đa cổ thụ vừa là chỗ ngồi chơi hóng mát của người già với những chuyện quê, là chỗ bán nước và hàng vặt cho đời sống ngày thường của dân làng. Đây chính là một môi trường văn hoá tạo cho cây đời xanh tươi, thêm một thế đối trọng với cảnh thoát tục trên đỉnh núi. Cầu đá ngày nay không còn nữa, nhưng đã trở thành tên đầm để còn tồn tại mãi mãi với thời gian.

Núi Câu Lậu là núi đất lẫn đá, tre-mai-vầu cùng một số cây hoang quanh năm xanh tốt um tùm, một số vạt bằng - nhất là hai bên đường lên chùa đã được dân khai thác dựng nhà làm vườn, nhưng chưa xoá mất vẻ hoang sơ tự nhiên của núi. Núi thấp, nên dù chùa ở trên đỉnh núi, nhưng không xa dân, thoát tục mà vẫn gần đời, đủ đảm bảo sinh hoạt đời thường của sư tăng và là chỗ dựa tinh thần của các Phật tử.

Đường lên
Từ chân núi lên chùa, trước chỉ là hẻm nhỏ như lối mòn đi vào các xóm ngõ, gần đây được xây Tam quan ngoại, phỏng theo kiểu ở chùa Láng (Hà Nội) kết hợp thờ Phật với thờ Thần: cơ bản là 4 cột hoa biểu vươn cao, vuông thành sắc cạnh, uy nghi chững chạc; phía trên có dầm ngang tạo ra khung cửa giữa cao hơn 4 mét và khung cửa hai bên cao hơn 3 mét, trên dầm có 3 cửa đều úp bộ mái toả ra bốn phía với những đầu đao cánh hoa chênh vênh trên cao. Qua Tam quan ngoại phải leo lên hơn 230 bậc đá ong dựng đứng, dọc đường lưa thưa vài chiếu nghỉ, cuối cùng dẫn đến cổng chùa, cũng mới được xây lại theo kiểu tam quan: cửa giữa treo biển Tây Phương cổ tự, hai bên cánh gà trổ cửa vòm cuốn, bên trên có mái, nhưng các cửa bên chỉ mang tính tượng trưng, không hợp với bậc lên xuống.

Mặt bằng
Đỉnh núi là một khu đất diện tích khá rộng, bao khuôn viên là hệ thống cây xanh tự nhiên mọc theo sườn núi. Bình đồ toàn khu chùa trước 1945 và nay vẫn giữ nguyên, nhưng đa số các kiến trúc đã thay đổi vị trí, chỉ ngoại trừ khu Tam bảo và miếu Sơn thần. Theo bản vẽ trong Phật lục (1943) thì tháp mộ, nhà Tổ, điện Mẫu, tăng phòng và các nhà phụ đều ở bên phải khu Tam bảo; nhưng giờ đây, tháp mộ xây lại ở phía bên trái, còn các kiến trúc khác chuyên về phía sau khu Tam bảo. Sự thay đổi này biểu hiện tính linh hoạt, không cố chấp của Phật giáo, tạo cho tổng thể cân đối và nhất là giành khoảng rộng ở sườn bên để trong lúc du khách tiến lui chiêm bái các toà chùa của khu Tam bảo vẫn thụ cảm được cao nhất vẻ đẹp kiến trúc cùng trang trí ngoại thất.

Vườn hoa cây cảnh
Vườn hoa cây cảnh ở khu trước chùa, trừ những cây to ổn định, nếu trước kia có hai bồn hoa nhỏ ở hai bên, giành khoảng giữa làm đường chính đạo vào thẳng gian giữa Tiền đường; thì giờ đây, khoảng trống ấy phía ngoài là bồn hoa, phía trong là bể non bộ, du khách đi vòng sang hai bên cho lòng tĩnh tại. Trước miếu Sơn thần cũng thế.

Ngoài những bồn cây cảnh nhỏ, sân vườn quanh khu Tam bảo là cả một vườn cây vườn cảnh không rậm rạp huyền bí, không cao trội che trùm kiến trúc, mà vừa độ, để cùng tôn nhau lên, thấp tha thấp thoáng song vẫn rõ ràng, đủ râm mát để vẽ hoa nắng trên sân vườn, có màu xanh tán lá bên màu nâu tường và mái ngói, có những cành cây vươn uốn cong tự nhiên bên những mép tường, cạnh cửa thẳng tắp, và những diềm mái uốn nhẹ bên những hoa đao vút cong duyên dáng.

Hệ cây xanh ở chùa Tây Phương, nếu kể đầy đủ, phải tính từ chân núi lên đỉnh để rồi vào khuôn viên chùa. Mở đầu là cây đa cổ thụ ở bờ đầm Cầu Đá, nó xum xuê, vươn dài cành lá, buông rủ rễ thành thân phụ song hành chắc chắn. Cây đa vừa là hình ảnh của những làng quê văn hoá, vừa liên tưởng đến cây bồ đề mà đức Phật đã ngồi thiền tìm lẽ giải thoát cho kiếp đời khổ ải. Quanh núi và bao lấy khuôn viên chùa là bạt ngàn tre-mai-vầu thân vươn thẳng nhưng cành lả lướt, lòng rỗng và trong trắng biểu hiện "tâm không" nhà Phật, cũng là cái bản thể tuyệt đối chung nhất của muôn loài.

Trong sân vườn, nhiều nhất là cây đại, thân cành mọc rất tự nhiên như sự giác ngộ vượt khỏi mọi sự ràng buộc, mùa đông lá rụng tua tủa sừng hươu nhú bọng nhung, vươn lên nhận sinh lực của Trời cha truyền cho Đất mẹ; mùa hạ rợp lá xanh điểm hoa trắng hoa vàng ngan ngát hương thiêng. Nó là cây chăm-pa của người Chàm và người Lào, xem như hình đất nước, hồn dân tộc, mà họ thờ trọng vọng. Đó đây còn dăm ba cây mít quả chi chít với tên chữ là bà-la-mật, hàm chứa một sự huyền bí thiêng liêng, theo tiếng Phạn có nghĩa là đến-bờ-giác-ngộ, chính vì thế mà các tượng thờ đều phải tạc bằng gỗ mít. Lại thấy cả cây sung, có tên chữ là vô-ưu, biểu hiện sự thoát tục, bỏ được hết mọi ưu tư phiền muộn. Rồi thông reo, mang theo sự thông hiểu tận cùng của trí tuệ, ngụ ý tinh thần thanh cao, vượt lên mọi gian khó cuộc đời.

Cây xanh còn len lỏi vào không gian nội thất. Giữa các toà chùa Hạ - chùa Trung - chùa Thượng là những khoảng sân hẹp có bể nước mưa với nhiều chậu cảnh, bồn hoa, tự nguyện làm cái gạch nối tự nhiên, đóng mà vẫn mở, chan hoà nghệ thuật với cuộc đời.

Toàn cảnh
Ba toà chùa song hành tách bạch, toà trước toà sau đều 5 gian, bố cục mặt bằng chữ Tam, là một sáng tạo độc đáo, tuy trước đó đã có tiền để ở chùa Thầy mang hình chữ Nhất lồng sau chữ Công. Nhưng đầu hồi các toà nhà thò thụt này lại được xây tường nối với nhau, nên nhìn bên ngoài vào, chùa mang hình chữ Công. Đây là một hướng đi đổi mới trong truyền thống. Nhìn chéo ở sườn bên, tường và mái chùa cứ lô xô, cái hữu hạn gợi ra sự vô hạn. Cả ba chùa đều làm theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, toà giữa rộng và cao hơn một chút, phá đi sự lặp lại đơn điệu mà vẫn thống nhất chặt chẽ, vừa tạo cảm giác nhẹ nhàng thanh thoát, vừa tạo sự đông vui nhộn nhịp. Cả một hệ thống hoa đao chen chúc vươn lên, tua tủa những đầu rồng, phụ hoạ vào là những cặp lân - rồng đón đầu nhau trên bờ giải như đấu trí đua tài. Các mảng mái mũi ngói nhấp nhô như sóng nước rập rờn xô đuổi, dàn ra cho đến cạnh mép gặp nhau, được khuôn lại bằng những đường bờ nóc, bờ giải sắc cạnh, song lại trổ hoa thủng như dải đăng ten sang trọng. Phía trên, các lá mái lan nhô ra, thì phía dưới, mái lại thụt vào thẫm tối, đối lập để cùng nổi bật.

Phần mái động rộn ràng thì phần tường lại tĩnh lặng, dựng đứng chững chạc. Ngược lại với các đường mũ tường và cạnh cửa được quét vữa trát vôi như những nẹp viền trắng làm khung ghìm giữ, cả mảng tường được xây gạch Bát tràng già đanh đỏ xẫm với những mạch vữa dày vuốt cong vỏ măng, tạo thành hệ thống vạch ngang song hành đưa tầm mắt mở rộng sang hai bên, bề thế, chắc chắn. Nét sáng tạo rất riêng là giữa các mảng tường vuông và chữ nhật lại được trổ một cửa tròn, là sự kết hợp âm - dương, quy - củ mang tính mẫu mực cả trong nghệ thuật và cuộc sống. Trong lòng cửa sổ được lồng 4 hình tròn tạo ra các vành khăn bằng nhau, cắt dọc cứ nửa đặc gắn với nửa rỗng, cái hư kết hợp với cái thực tạo thành một cấu trúc hoàn hảo, gắn với tư tưởng Phật giáo được gọi là cửa sổ "sắc sắc không không". Bó nền của cả khu Tam bảo là những khối đá ong đẽo gọt vuông thành sắc cạnh, mặt đanh nâu nhưng lỗ chỗ, đằm mà xốp.

Bản thân các mảng khối kiến trúc đã là sự trang trí, các phần gỗ lộ ra, từ khu đĩ - rốn nhện ở nóc hồi với diềm mái và đầu bẩy đều được trang trí những hình chạm nhất quán, nhẹ nhàng, tươi rói như băng hoa làm duyên. Ở diện to nổi bật là ván gió khu đĩ của 2 toà ngoài và trong đều nhấn mạnh chiếc lá nhiều thuỳ, còn ở mặt giữa là mặt hổ phù. Những đề tài này sẽ được lặp lại nhiều lần ở nội thất.

Thông gió và ánh sáng
Ra vào khu Tam bảo có hệ thống cửa bức bàn ở ba gian toà chùa ngoài phía trước, hoặc những cửa phụ ở hồi bên. Trong nội thất dù đóng kín cửa vẫn sáng thoáng, chẳng những nhờ hai sân hẹp mở ra khoảng trời nhỏ lấy ánh sáng và gió từ trên cao rọi xuống, còn nhờ hệ thống cửa sổ thông ngang với ngoài. Trong mỗi sân thiên tỉnh lại có một bể nước vừa là gương hắt sáng, vừa là chiếc máy điều hoà giữ cho không khí trong chùa có một độ mát mẻ cần thiết để bảo dưỡng bộ khung chùa và các hiện vật bằng gỗ, nhất là hệ tượng.

Phần mộc
Tam bảo được dựng trên khu đất rộng hơn 18m và sâu hơn 25m. Hai toà ngoài và trong đều cao 6m, lòng (giữa hai dãy cột quân) rộng hơn 5m, trong khi đó toà giữa cao 7m lòng rộng 5m80, hết nền thêm 2m, đều theo kiểu chồng diêm, có cấu trúc các bộ vì kèo giống nhau là sự kết hợp chặt chẽ của các đường ngang (xà, rường, câu đầu, đầu bẩy) với cột dọc, xác định các trục tung và hoành rõ ràng, đối lập để tạo cảm giác chắc khoẻ và mạnh mẽ. Không có kẻ, đòn bẩy cũng nằm ngang, mà trước đó mới xuất hiện dè dặt ở các cột góc Thượng điện chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), thì giờ đây được khẳng định dứt khoát: nó nâng bộ mái lên cao hơn. Ngang chuyển sang dọc không cứng, nhờ cái nghé ở đuôi kẻ được gọt cong gần như cung phần tư đường tròn. Cấu trúc cổ diêm ngoài nhìn vào gợi nhà hai tầng, song nội thất thông từ nền đến mái cao thoáng, cột cái vươn cao đỡ thẳng mái trên, cột quân chỉ đỡ mái dưới, thêm cột trốn ở trên xà đùi (nối đầu cột quân với bụng cột cái) để đỡ phần dưới mái trên. Như vậy, trên thực tế mỗi vì có tới 6 cột, nhưng từng "tầng" thì chỉ có 4 cột, do đó kết cấu rất chắc mà không rườm rà, không gian nội thất đảm bảo cả hai phần cao và rộng, đáp ứng cho việc bày tượng không bị che khuất và treo cờ phướn không bị vướng. Các cột cáicột quân dựng trên nền nhà đều được kê trên chân tảng đá, không chỉ có hình tròn ở trong hình vuông, mà quanh hình tròn còn ngả xoè ra hai lớp cánh sen, biểu thị sự phát triển ở đất Phật thanh tao. Các cột quân dựng trên xà đùi cũng thông qua cái đấu tròn mang hình bông sen nở hoặc cả hồ sen. Đầu các cột trước khi đỡ hoành đều được đội cái đấu tròn chạm bông sen. Các con rườngvì nóc chồng nhau và chồng lên câu đầu cũng đều thông qua những cái đấu chạm bông sen. Hệ thống hoa sen ở chùa Tây Phương rất phong phú, khẳng định tính chất đất Phật.

Xà nóc là chiếc hoành cao nhất, còn tàu đao là chiếc hoành dưới cùng, không kể những hoành mái trên chiếu rọi xuống mái dưới trùng nhau, thì ở mỗi hệ thống mái trước hoặc sau của toà ngoài và toà trong có 9 hoành ứng với điềm Sinh, còn ở toà giữa có 10 hoành, ứng với điềm Bệnh (trong chu kỳ đời người: Sinh - Bệnh - Lão - Tử). Số 9 và số 10 không phải ngẫu nhiên, mà đó là những con số hà lạc, Nho giáo xem đó là căn bản của âm dương, đất trời.

Hệ thống rui trên hoành được gắn thanh ngang vào mộng thành các ô vuông, tạo ra cả một mảng phên liên kết chặt chẽ đỡ mái ngói, mỗi ô ngói lót được nhuộm một màu xanh-đỏ-trắng-vàng như lá cờ nhà Phật, là nét riêng chỉ có ở chùa Tây Phương.

Hoành nằm ngang rất dài theo chiều mặt của chùa, nên phải nối ở trên các vì, do đó rường đỡ hoành ở chỗ chắp được thông qua cái dép hoành có dạng con thuyền để vừa che khuất vết chắp, vừa tăng diện tiếp xúc đảm bảo độ bền vững. Riêng đầu bẩy, do nằm ngang xa hoành nên được đỡ thông qua cái dép hoành kép. Bụng dép hoành soi gờ kéo ra ăn nhập vào hoành, tạo sự chuyển rường dọc sang hoành ngang rất tự nhiên. Các đấu hoa sen và dép hoành, ngoài giá trị chịu lực, còn là hình thức trang trí.

Các con rường, xà, câu đầu đầu bẩy cơ bản được bào trơn, xoi gờ, chạy chỉ, ở phần đầu còn được chạm các guột mây và bó lá. Riêng ở nếp giữa thay hoa lá bằng long phù và hổ phù. Rồng ở đầu bẩy chui qua cột có đuôi phía trong xoắn gắn liền mảng nghé với xà. Những bộ phận chịu lực được các trang trí trên phủ lên đã trở nên nhẹ nhõm và tươi mát. Phần chạm theo bố cục của nghệ thuật trang trí chính là các giải hồi văn trên các ván không chịu lực: Diềm lá sồi chuyển tiếp hàng mũi ngói giọt nước xuống tàu đao, trong mỗi lá sồi ở toà ngoài và toà trong là một chiếc lá nhiều thùy còn ở mặt giữa là mặt hổ phù; ván nong xà hạ nối các cột quân chạm hệ thống 3 tầng đấu chạc toả ngang, xen kẽ là hình chiếc lá nhiều thùy với mây xoắn, biểu thị sự phong đăng phồn thịnh ở toà ngoài và toà trong, hoặc rồng và phượng ở toà giữa. Nếu rồng phượng biểu hiện tầng trời thì chiếc lá nhiều thùy tựa lá đu đủ, lá thầu dầu, hay còn gợi lá ngô đồng, dễ gây sự liên tưởng cuộc sống cộng đồng đầy đủ và giàu sang.

Cắt dọc khu Tam bảo, 3 toà nhà lòng rộng khác nhau được tách ra bởi khoảng sân rộng chừng 2m trũng xuống một chút, phá đi sự phẳng lặng đơn điệu. Cắt ngang, các gian chùa rộng hẹp khác nhau, từ giữa ra là 3m51, 3m35 rồi 2m87 đã tập trung được sự bài trí vào tâm.

Từ bố cục mặt bằng 3 toà nhà, mỗi toà nhà có 2 tầng mái, mỗi tầng có 4 lá mái, có người đã nghĩ đến một vũ trụ luận Tam tài (Thiên - Địa - Nhân) với sự phát triển: Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái rồi biến hoá vô cùng. Nếu điều suy luận này tin được thì kiến trúc chùa Tây Phương đã lồng được ý nghĩa triết học vào trong giá trị nghệ thuật để càng đẩy cao tính nhân văn.

Tháp
Chùa Tây Phương là chùa lớn có lịch sử lâu đời, song cả chùa chỉ có một tháp mộ sư, hiện mới được xây lại ở vườn cạnh hồi bên trái khu Tam bảo, mang tên Phương viên bảo tháp. Tháp bình diện vuông, trên phần nền cao là 3 tầng thu nhỏ dần ngăn cách bởi các hàng mái có góc đao uốn cong lên. ở tầng 1 có bia dựng năm Khải Định 9 (1924). Lòng tháp có xá lị thiền sư Thanh Ngọc và di hài các thiền sư khác nhau là cụ Thanh Túc rồi cụ Phúc Hải. Tháp và tường hoa bao quanh đều được xây khá muộn (cụ Phúc Hải tịch năm 1971). Không có tư liệu gì - kể cả trí nhớ của nhân dân về các thiền sư trước cụ Thanh Ngọc (cụ về đây trụ trì năm 1893), thậm chí, sau khi cụ Thanh Túc tịch, một thời gian dài, chùa do các ông thống trong làng quản lý, mãi sau mới có cụ Phúc Hải về. Tháp mới, song nhờ gắn với cây xanh vươn cành xoè tán ra để cùng hoà nhập đã nhân lên cả vẻ đẹp và thời gian. Cũng cần biết cây tháp mộ này tuy xây sau 1971, nhưng tiền thân của nó đã có trước năm 1943, vốn ở sát hồi toà chùa giữa khu Tam bảo.

Trong toàn cảnh chùa cũng cần lưu ý miếu Sơn thần, tuy lối kiến trúc thuộc lần sửa chữa năm năm 1933, nhưng ở đó có một chiều sâu văn hoá. Nếu ở nhiều chùa, tượng Đức Ông không thể thiếu, là sự kết hợp của nhân vật Cấp Cô Độc trong Phật thoại với thổ thần của dân gian, thì ở chùa Tây Phương, Thổ thần chính là Sơn thần tự tại, không cần nhận thêm chức danh nhà Phật, với hai tấm biển thờ còn treo khẳng định cả chiều sâu lịch sử và uy thế lẫm liệt. Dân gian gọi miếu này là Đền Trình, càng củng cố thêm sức mạnh tín ngưỡng bản địa. Miếu 4 gian xây dọc, giành gian ngoài làm sảnh sắp lễ và ba gian trong thờ cúng, tạo chiều sâu hun hút linh thiêng, hồi sau là tường hậu xây tường bít đốc, nhưng hồi trước có mái phụ tạo hoa đao uốn cong lại, gợi kiến trúc truyền thống. Sự tồn tại của miếu Sơn thần - đền Trình cũng là một nét độc đáo của chùa Tây Phương.

Theo "Chùa Tây Phương" của Chu Quang Trứ
NXB Mỹ Thuật - 1998




.... ....



Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 29.08.2007    Tiêu đề: Lịch sử chùa Tây Phương Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ CHÙA TÂY PHƯƠNG

Ngọn nguồn lịch sử , thời điểm xây dựng và các lần trùng tu

Căn cứ để tìm hiểu ngọn nguồn gốc gác một ngôi chùa cổ như chùa Tây Phương là các tư liệu thư tịch (truyền thuyết, cổ tích, sách, bia đá, gia phả, thơ, hoành phi câu đối, thành ngữ tục ngữ, đồng dao ca dao, các bài minh văn khắc trên quả chuông đồng, dòng chữ chạm khắc trên xà gỗ...) và các sở cứ khác (địa danh, lời kể, hình vẽ, niên đại của đồ vật, phong cách kiến trúc,...).

Nhiều tư liệu thư tịch cổ và truyền thuyết cho hay, núi Tây Phương còn gọi là núi Câu Lậu (Câu Lâu, Đầu Trâu). Sách Việt sử thông giám cương mục (triều Nguyễn) và các bài thơ của Phan Huy Ích (đời Hậu Lê) gọi tên chùa theo tên núi là chùa Tây Phương. Cổng chùa và một bức hoành trong chùa đều ghi rõ "Tây Phương cổ tự". Nhưng tất cả bia và chuông hiện còn đều ghi tên chùa là "Sùng Phúc tự" ở trên núi Tây Phương. Trong khu vực núi Tây Phương xưa nay có 3 chùa: chùa Quan Âm ở chân núi, chùa Am Thanh ở lưng chừng và chùa Sùng Phúc ở trên đỉnh. Sách Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (NXB KHXH, năm 1993) trang 230 giới thiệu tóm tắt 2 văn bản bia chùa Quảng Phúc và chuông chùa Sùng Phúc ở cùng một địa phương (Thạch Thất, Hà Tây) và cho biết, đều là những tên của chùa Tây Phương. Tấm bia mang tên "Quảng Phúc tự hưng công tu tạo thạch bi" ở tình trạng "bia vỡ", "chữ mờ", vì thế có lẽ chữ "Quảng" chính là chữ "Sùng", dựng năm 1639.

Trong bài thơ Quá Tây Phương sơn tự (Thăm chùa núi Tây Phương) làm năm 1788, Phan Huy Ích viết ở câu 3 : "Cát lệnh dễ sa đôi xích nhưỡng" đã tả cảnh núi: Đan sa còn dư của quan lệnh họ Cát chất thành đống đất đỏ. Và ông ghi chú: "Núi Tây Phương xưa có tên là núi Câu Lậu. Sách sử chép rằng : Đời Tấn có Cát Hồng thích việc luyện đan, biết núi Câu Lậu có đan sa, bèn xin làm chức lệnh Giao Chỉ, tức là vùng đất này". Đá núi xám đỏ nay vẫn còn, song không có dấu tích gì của việc luyện đan ở đây. Địa danh Thạch Thất liệu có liên quan gì đến một loại sa thạch? Một nhà khoa học đưa ra giả thuyết: phải chăng người Trung Hoa đã khai thác mỏ thủy ngân ở đây?

Trong sách Sơn Tây địa chí (1939), Phạm Xuân Độ dẫn lời tâu của Cao Biền với vua Đường ghi trong truyện Kiều Cao Vương: " Tại cấp giữa núi Câu Lậu có huyệt đế vương, thần đã làm chùa để yểm". Trần Trọng Kim trong sách Phật lục cũng dẫn truyền thuyết trên, song nghi ngờ ngay: " Kể thực ra, thì không có di tích gì làm bằng chứng cả".

Một số sách báo viết về chùa Tây Phương cho rằng, chùa được xây dựng vào thời Mạc, nhưng không chứng minh. Niên đại này có thể tin được, vì đầu thế kỷ XVII, vào những năm 30, chùa đã phải sửa chữa lớn, hơn nữa, trong chùa còn hai tấm bia đều bị mờ hết chữ, nhưng còn đọc được rõ tên bia ở mặt ngoài là "Tín thí" và "Tây Phương sơn Sùng Phúc tự thạch bi" (mặt bia kia áp vào tường hồi toà chùa giữa nên không đọc được), các hoa văn trang trí thuộc phong cách nghệ thuật cuối TK XVI sang đầu TK XVlI.

Ngoài sân vườn, cạnh gốc cây sung có tấm bia "Tây Phương sơn Sùng Phúc tự" bị mờ gần hết, nhưng còn vài dòng in rập cẩn thận, có thể đọc được những thông tin rất quý: "Đại Việt quốc Sơn Tây trấn Quốc Oai phủ...Ngày 12 tháng 11 năm Nhâm Thân trùng tu chùa Sùng Phúc núi Tây Phương, dựng Thượng điện 3 gian, Hậu đường và hành lang 22 gian... Ngày 2 tháng 2 năm Ất Hợi đặt hội an tượng, khai quang điểm nhỡn... Nguyên soái tổng quốc chính sư phụ Thanh Vương...". Thanh Vương là niên hiệu của chúa Trịnh Tráng (1623-1657), như vậy, năm Nhâm Thân sửa chùa là 1632, và năm Ât Hợi an tượng là 1635, phù hợp với hoa văn trang trí thuộc phong cách nửa đầu TK XVII. (Nhiều người cho rằng phong trào "xây chùa tô tượng" rộ lên ở xứ Đoài trong thời gian này có liên quan đến Bà chúa Mía, nhũ danh là Ngô Thị Ngọc Dung, quê quán ở vùng chùa Mía - Đường Lâm, vốn là phi tần của chúa Trịnh Tráng). Quy mô chùa có Thượng điện ở giữa, Hậu đường phía sau, Hành lang dài ở hai bên, và tất nhiên phía trước phải có Tiền đường, đã được xây dựng theo kiểu "nội Công ngoại Quốc" giống như nhiều chùa cùng thời.

Tấm bia "Quảng Phúc tự hưng công tu tạo thạch bi" (bị vỡ, bị mờ gần hết) được đề cập ở phần trên cho biết, năm Kỷ Mão - 1639, chùa Tây Phương được vị sư trụ trì cùng các hội chủ (như công chúa Trịnh Thị Ngọc Thể và chính phi Trịnh Thị Ngọc Tài... ) góp tiền tô tượng và sửa chùa. Có thể coi đây là đợt tu sửa bổ sung hay kéo dài của lần trùng tu chùa năm 1632 và an tượng chùa năm 1635. Pho tượng Quan Âm Nam Hải 12 tay (tượng mới bị mất và đã làm lại, bệ cũ vẫn còn) với lối chạm trau chuốt, khối hình duyên dáng, các nếp áo cân đối, các hoa văn trang trí mềm mại, khuôn mặt phúc hậu... được các chuyên gia xếp vào nửa đầu TK XVll, có lẽ thuộc đợt an tượng năm 1635.

Theo tấm bia "Thập phương tín thí thạch bi" dựng năm Canh Ngọ niên hiệu Chính Hoà II (1690) thì lúc này, chùa Tây Phương được chúa Trịnh Căn cho tu sửa lớn, làm Tam quan. Ngoài kinh phí của triều đình, còn huy động sự đóng góp của nhân dân từ nhiều vùng xa gần, trong đó có những người ở tận Tiên Du và Từ Sơn thuộc xứ Bắc (Bắc Ninh). Nhưng ngày nay chưa tìm được dấu tích của đợt tu sửa này.

Sách Việt sử thông giám cương mục cho biết, chúa Trịnh Giang (1729 - 1740) đã cho tu sửa quy mô nhiều chùa, trong đó có chùa Tây Phương. Đợt tu sửa được bắt đầu từ 1735, kéo dài đến 1740 khi Trịnh Doanh lên ngôi chúa, cũng là lúc khởi nghĩa nông dân rầm rộ nổ ra, mà sử cũ gọi là "Đại loạn năm Canh Thân", đã cho ngừng lại. Phan Huy Ích nhiều lần đề cập đến đợt tu sửa này. Trong bài thơ Quá Tây Phương sơn tự (Qua chùa núi Tây Phương) làm năm 1788, ông viết ở lời chú "Còn tượng Phật chùa chiền dựng trên đỉnh núi, là vào khoảng niên hiệu Vĩnh Hựu (1735 - 1740), Thuận Vương (Trịnh Giang) có uỷ cho viên Trung sứ đến xây". Thậm chí, mãi đến năm 1809 khi làm bài thơ Thu đăng Tây Phương sơn tự ký kiến (Mùa thu trèo lên chùa núi Tây Phường ghi lại những cảnh nhìn thấy) cũng ghi lại trong lời chú rằng, chúa Trịnh Giang từng sai sửa chùa và cho tạc "mười pho tượng cực kỳ khéo léo". Ngay cả năm 1798, khi soạn bài minh Sùng Phúc tự chung để khắc lên quả chuông đúc sau khi dựng chùa 2 năm, ông khẳng định ngay ở đoạn mở đầu: "Trước đây dưới triều vua Lê niên hiệu Vĩnh Hựu, vua sai trung sứ xây dựng lại thiền viện to lớn, điêu khắc tượng pháp, chế tác pháp âm tiếng kêu vang bên tai". Những sử liệu trên rất thống nhất khẳng định đợt tu sửa lớn từ 1735 đến 1740. Những đoạn sau bài minh, Phan Huy Ích cho biết tiếp: "Kịp khi vật đổi sao dời, vạn vật biến đổi, cảnh chùa u tịch, chuông đồng chẳng còn, mà chùa ngày thêm đổ nát... Mùa đông năm Mậu Thân (1788) tôi đến nơi đây, nhìn bóng tùng xưa mà lòng bồi hồi nhớ lại cảnh cũ". Như vậy, cho đến cuối đời Lê - Trịnh, do hoàn cảnh chiến tranh, chùa Tây Phương đã đổ nát, may chăng còn được ít tượng.

Hiện tại, trong chùa có bộ tượng Tam Thế và pho A Di Đà ngồi trên toà sen được gọt tỉa cầu kỳ, họa tiết trên áo và nhất là cái tán phía sau các pho tượng Tam Thế được chạm khắc lộng lẫy, toàn thể cân đối, nhưng phong cách hơi công thức, nên nghiêm trang đến lạnh lùng, sự mượt mà do tỉa tót công phu nên khô cứng... Nhưng tính chất tạo tượng này hoàn toàn phù hợp phong cách nghệ thuật đầu TK XVIII, có thể nằm trong số "mười pho tượng cực kỳ khéo léo" tạc trong đời Vĩnh Hựu.

Sau phần nói về quá khứ, Phan Huy Ích trong bài minh khắc trên chiếc chuông đã trở về hiện tại: "Nay may gặp lúc thịnh thời, Phật giáo hưng thịnh, thiện nam tín nữ trong ấp quyên góp tiền của công sức, hưng công tu tạo và đúc quả chuông lớn nặng chừng 200 cân. Tiếng chuông lại ngân vang như xưa. Mỗi khi rảnh rỗi, tôi thường đến đây thăm thú". Chính ông là hội chủ đứng ra hưng công đúc chuông, năm 1796 đã cúng 10 quan tiền cổ, năm 1798 lại nhận lời các vị kỳ lão trong thôn viết bài minh văn chuông.

***************************************************************************
Xin kể thêm,

Phan Huy Ích sinh ra năm 1750 ở làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ An, nay là xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh; với tên hiệu là Dụ Am.

Năm 1771, ông đỗ đầu khoa thi hương trường thi Nghệ An. Năm 1775, đỗ đầu khoa thi hội, ông được bổ làm Hàn lâm thừa chỉ, rồi làm Đốc đồng tỉnh Thanh Hóa, trông coi việc an ninh. Năm 1777, ông được lệnh mang ấn kiếm, sắc phong của vua Lê ban cho Nguyễn Nhạc ở Quảng Nam. Sau đó, ông được thăng Hiến sát sứ Thanh Hóa, trông coi việc xét xử và luật pháp.

Cuối năm 1787, quân Tây Sơn ra Bắc Hà lần thứ hai. Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc cầu cứu. Phan Huy Ích bỏ lên Sài Sơn (Quốc Oai, Sơn Tây) ở ẩn, chấm dứt 14 năm làm quan với chính quyền vua Lê - chúa Trịnh.

Tháng 5 năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc, xuống chiếu cầu hiền. Phan Huy Ích cùng Ngô Thì Nhậm (là anh rể), Đoàn Nguyên Tuấn, Nguyễn Thế Lịch ra hợp tác với nhà Tây Sơn. Phan Huy Ích được phong làm Tả thị lang Bộ Hộ. Ông cùng với Ngô Thì Nhậm được giao xây dựng chính quyền Tây Sơn tại Bắc Hà.

Sau cuộc hành quân đại phá quân Thanh, mùa xuân năm Kỷ Dậu, 1789, của Quang Trung, ông phụ trách công việc ngoại giao. Cuối tháng 2 năm 1790, Phan Huy Ích cùng với đại tư mã Ngô Văn Sở được cử trong phái đoàn do Phạm Công Trị đóng giả vua Quang Trung dẫn đầu sang Trung Quốc mừng vua Càn Long 80 tuổi.

Năm 1792, về nước, được thăng Thị trung ngự sử ở tòa Nội các. Cũng trong năm này, vua Quang Trung mất. Ông cố gắng giúp đỡ vua trẻ Quang Toản, nhưng không ngăn nổi đà suy vi của triều Tây Sơn.

Mùa hạ năm 1802, Nguyễn Ánh kéo quân ra Bắc. Ông bị bắt cùng với Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thế Lịch, cả ba đều bị đánh đòn trước Văn Miếu. Năm 1814, ông về quê Thiên Lộc dạy học, sau đó lại ra Sài Sơn ở đến cuối đời, và mất ở đó vào năm Nhâm Ngọ (1822).

Ông được coi là người đã khai sinh ra dòng họ Phan Huy ở vùng Sài Sơn.

Con trai thứ ba của ông là nhà bác học Phan Huy Chú (1782 - 1840).

Cháu nội ông là nhà thơ Phan Huy Vịnh (1800 - 1870) thi đậu cử nhân, sau làm đến chức Thượng thư Bộ Lễ.

Thơ Phan Huy Ích hầu như bài nào cũng có lời tiểu dẫn ghi tỉ mỉ hoàn cảnh, thời điểm sáng tác, cung cấp cho các nhà nghiên cứu những tư liệu chính xác.

***************************************************************************
Cùng với nguồn sử liệu trên, xà nóc của toà chùa trong còn ghi năm xây dựng là "Giáp Dần niên quý đông cát nhật tạo" và năm sửa chữa là "Bính Tuất niên mạnh xuân cát nhật tu lý".

Năm Giáp Dần ở đây gắn với năm Mậu Ngọ - 1798 viết minh văn chuông, hẳn là năm 1794, đã dựng lại chùa theo đúng kiểu chùa Kim Liên (Hà Nội) dựng năm 1792, được ghi rõ bằng can chi trên xà nóc là Nhâm Tý và bằng niên hiệu vua Quang Trung thứ 5 trên bia đá. Từ lần xây lại chùa ở thời Tây Sơn này đến nay, chùa vẫn còn hầu như nguyên vẹn. Một số sửa chữa ở thời Nguyễn vào năm Bính Tuất mà các cụ già ở địa phương còn nhớ "thuộc đời vua Tự Đức", có thể ứng với năm 1886, nhưng chỉ là sửa chữa nhỏ, không ảnh hưởng đến kết cấu và trang trí kiến trúc thời Tây Sơn. Lần làm lại chùa cuối thế kỷ XVIII đã bổ sung thêm rất nhiều tượng gỗ mà nay vẫn còn: các vị Phật, các vị Bồ Tát, các vị Tổ kế đăng, các vị Kim Cương... với phong cách khác hẳn tượng các thời khác.

Trước đây, một số tài liệu dựa vào lời kể của người già địa phương cho rằng đời Tự Đức tạc thêm một số tượng. Nhưng những tượng này lại được nói rõ xuất xứ muộn hơn một chút trong tấm bia Nam Mô A Di Đà Phật dựng năm Khải Định 9 (1924) ở lòng tháp Phương Viên: Nhà sư Thanh Ngọc đến chùa Sùng Phúc trụ trì từ năm Thành Thái 5 (1893), đã cùng các "thân hào kỳ lí trong xã hội họp nhất trí tu tạo và sửa sang 3 toà tự vũ, nhiều lần chấn chỉnh, đồng thời tạc tượng Phật bà Quan Âm ngàn mắt ngàn tay, cùng tượng Thiện Tài và Long Nữ. Cũng trong thời gian này còn tô lại Bát bộ Kim Cương và Thập bát La Hán vàng son lộng lẫy, lại dựng một toà thờ Tổ, một pho tượng truyền thần... Ngày 1 tháng 9 năm Canh Thân (1920) làm lễ trà tì ghi trong Phật lục để lưu truyền dài lâu ". Như vậy, các tượng Kim Cương và Tổ kế đăng (mà ở đây gọi là La Hán) đã có từ thời Tây Sơn, giờ được sơn thếp lại, còn tượng Quan Âm ngàn mắt ngán tay cùng hai tượng Thiện Tài và Long Nữ mới được tạc khoảng năm 1920. Cũng cần kể thêm một số tượng nữa như bộ Thập điện Diêm Vương, Phạm Thiên, Đế Thích, Quan Âm tống tử, Sơn thần và quan hầu cận... đều thuộc phong cách nghệ thuật thời Nguyễn muộn cuối thế kỷ XIX, có thể thuộc đời Tự Đức chăng?

Trên xà nóc của toà chùa ngoài còn ghi hai niên đại sửa chùa: "Canh Tý niên trọng thu cát nhật tu lý - Việt Nam dân chủ cộng hoà thập tứ niên mạnh xuân trùng tu". Lần sửa sau rõ ràng là năm 1958 thì lần sửa trước vào năm Canh Tý hẳn là gắn với nhà sư Thanh Ngọc ứng với năm 1920. Những lần sửa chữa này hoặc nhỏ, hoặc đã mang ý thức bảo tồn, nên không làm thay đổi phong cách nghệ thuật của cha ông.

Cũng như tháp mộ, một kiến trúc phụ nhưng quan trọng là miếu Sơn Thần mà dân địa phương gọi là đền Trình xây ngay ở góc bên trái trước sân chùa, trên xà nóc còn viết dòng chữ Hán: "Quý Dậu niên xuân nhị nguyệt sơ thập nhật Ngọ thời trùng tu Thiên Cổ miếu" cho biết kiến trúc này đã được sửa chữa lớn vào năm Quý Dậu - 1935. Trong miếu, ngoài bức hoành phi thiên cổ miếu muốn khẳng định miếu thờ thần Núi có từ xa xưa, thì bức hoành phi trạc quyết linh xác định vị trí tối linh của thần quét sạch bụi trần, có ghi dòng lạc khoản Đinh Mùi (-1907?) đều nói về lớp văn hoá - kiến trúc bổ sung ở đầu thế kỷ XX.

Nhà tổ và điện Mẫu hiện tại ở sau khu Tam bảo là sự chuyển dịch vài mươi năm trước từ khoảng đất bên phải khu Tam bảo, nhưng lối kết cấu và trang trí kiến trúc đều cùng khẳng định niên đại ban đầu của nó không thể sớm hơn đầu thế kỷ XX. Nó làm cho cảnh chùa thêm hoàn hảo, gắn bó Phật giáo với tín ngưỡng bản địa và thế giới tâm linh với cuộc sống thực tại.

Thế nhưng, chính trong thời đại chúng ta, từ định hướng "hiện đại hoá" xã hội, đôi khi chúng ta lại muốn "làm mới cho đẹp" đã vi phạm cảnh quan và chức năng di tích. Con đường lên chùa vốn là một lối mòn ẩm có rêu mọc quanh những tảng đá ong xếp tự nhiên, để cuộc trẩy hội chùa như đi trên thảm nhung mà nhịp chân luôn thay đổi, thì nay được xây bậc đều đặn, khô khốc như cầu thang hun hút lên đỉnh ngôi nhà 15 tầng! Đầu đường dốc xây thêm một cái cổng nửa Tam quan chùa, nửa Nghi môn đền, và cuối đường xây thêm một nhà khách mà dường như chẳng bao giờ mở cửa! Mấy pho tượng Quan Âm bị mất hồi đầu thập niên 1990, giờ đã làm lại, song dù có ảnh mẫu mà nhác trông vẫn như sáng tác mới. Thậm chí, có lúc đã sơn lại tượng y phục bóng nhoáng, không ăn nhập với da thịt, làm cho đầu và tay cứ như phân thân lơ lửng! May mà thời gian dần làm nhoà cho. Tất nhiên cái tích cực là chúng ta đã hạn chế được sự phá hoại của thời gian, giữ cho dân tộc một di sản sáng giá.

Theo "Chùa Tây Phương" của Chu Quang Trứ
NXB Mỹ Thuật - 1998



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 30.08.2007, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 30.08.2007    Tiêu đề: Một lần thăm chùa Tây Phương Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

MỘT LẦN THĂM CHÙA TÂY PHƯƠNG

Sương còn chưa tan trên đỉnh Cậu Lâu, tôi dẫm lên những bấc đá ong đã trơn mòn vết thời gian để đến với Sùng Phúc tự. Không có nhiều tư liệu về ngôi chùa, tôi đi theo cảm hứng của mình khi ngắm một vài phiên bản Tổ La Hán trong Bảo tàng Mỹ thuật Hà nội. Ngay cả ký ức về lần đến thăm trước cũng đã phai nhạt nhiều rồi.

Cây bàng lá đỏ đón tôi nơi cửa chùa. Sân chùa đã thấp thoáng đốm nắng sớm đông. Nó chưa kịp xua đi cái lạnh ban đêm. Nhưng những bậc đá ong đã kịp đốt nóng từng mao mạch trong huyết quản.

Bước vào sân trước chùa không nhiều cảm xúc. Thậm chí, ngay cả khi ta đứng trước bàn thờ Phật bà nghìn mắt nghìn tay thế kỷ 19. Điều đó lặp lại khi tôi xin phép vị Sư Thầy được chụp ảnh trong chùa. Sư Thầy đồng ý nhưng không mặn mà vồn vã. Phải chăng đó là bản tính của tu hành và chay tịnh. Vâng! Mọi thứ sớm được xua tan như màn sương mai ngoài kia.

Những bức tượng Kim Cương Hộ Pháp cao lừng lững phủ nếp thời gian từ thế kỷ 18 đường nét thuần Việt. Bức uy nghi, bức hiền từ, bức lại dữ dằn. Kim Cương Hộ Pháp thì nhiều chùa Việt Nam có. Gần đây thôi bên chùa Thầy bộ Kim Cương Hộ Pháp còn lớn hơn. Nhưng dường như lớp sơn son thiếp vàng mới không mang lại cho tôi nhiều cảm xúc như ở đây.

May mắn vì là ngày thường, chùa rất vắng vẻ. Tôi có thể thoải mái lê trippod đi qua chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng trong mỗi nếp nhà hai mái xếp hình chồng diêm, ngắm những bức tường gạch thẻ. Nhưng giá trị nhất trong ngôi chùa chính là các pho tượng Phật và sự đa dạng của 18 Tổ La Hán. Một tua khắp lượt các vị, chậm bước ghi danh. Tôi còn có thời gian làm vài tấm “Chân dung” vài vị nét mặt tôi thích. Khác với cảm giác ớn lạnh trong phòng trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Hà Nội, ở đây, trong mái chùa uồn cong, các Tổ La Hán trông hiền lành, thanh thản. Có lẽ cũng tại lớp son son thiếp vàng đã đẫm mầu thời gian, không khí u tịch của 20 gian hành lang chùa và hai bên tả hữu được ngăn bằng bàn thờ Phật.

Qua một của ngách nhỏ, tôi đi xuống khoảng sân sạch bong đã nhộm vàng sắc nắng, lung linh bóng lá đa, lá si…, gian cuối sau kiến trúc hình chữ Tam là gian thờ Mẫu. Người Việt là vậy, chùa Việt là vậy, Mẫu “Mẹ” luôn được trân trọng. Gian nào, ban nào cũng in dấu tay người chăm sóc, sạch bong, hương vòng và hoa tươi. Một bàn trà xanh và bình nước vối cho phật tử và du khách nghỉ chân.

Trở ra khoảng sân bên trái, lần này với sự trợ giúp của OK Nikkor 80-200 tôi đã không để lỡ bất cứ một nét chạm trổ nào trên từng đầu bẩy, các bức cổn, xà nách, ván long …Phải nói ở đâu có gỗ là ở đó có chạm khắc. Tôi đã từng xem nhiều mái cong trong kinh thành Huế xưa. Nhưng cũng vẫn bị mê hoặc bởi lớp mái cong rêu phong hai tầng và những hình đắp lá dâu, lá đề, hoa sen, hoa cúc, rồng, phượng, hổ phù... rất tinh xảo.

Mải “bắn”, thoáng cái đã hơn 12h lại rơi mất chìa khóa xe. Trong cái rủi có cái may, Sư Thầy xuất hiện gọi điện giúp cho ban quản lý di tích nhờ tìm giúp chìa khóa. Thầy còn khăng khăng giữ lại ăn cơm chùa. Lần đầu, tôi được hưởng hương vị của một bữa cơm chay thực sự trong căn bếp cô tịch. Mâm cơm dọn ra, cái gì cũng nhỏ. Một đĩa dưa chua, một đĩa dưa xào, một chén nhỏ sung muối, một chút bí luộc, với canh bí, với nước dưa muối mà Sư thầy giới thiệu là chan cơm rất ngon. Cảm xúc của bạn sẽ thế nào khi vừa chiều hôm qua còn ngồi quanh một cái lẩu tú ụ giữa Hà thành? Tôi nhận phần rửa chén bát. Sự chay tịnh một lần nữa hiện ra. Mâm bát được rửa sach dễ dàng không cần “Sun Light chè xanh”. Trở lại nhà thờ Mẫu bên ấm nước vối. Sư Cụ đã già lắm, cũng vừa nghỉ trưa xong, chống ba toong lặng lẽ đi vào, lặng lẽ ngồi với cốc nước vối. Tôi xin được chụp Sư Cụ một bức lấy lộc. Không ngờ Sư Cụ là người thích chụp ảnh. Một bức chỗ này, một bức chỗ kia. Sư Cụ thích chụp với cây sung nhỏ, thích được đứng trước nếp nhà mới cất mà có lẽ hai thầy trò đã lặng lẽ tiết kiệm từ lâu để có được khoản tiền xây cất. Nghe Sư Thầy nói, mất 15 triệu tiền vận chuyển vật liệu và chỉ có ba người phụ nữ gánh ròng rã ba tháng.

Thật khâm phục, chỉ hai bà lão mà cả một diện tích lớn như vậy của ngôi chùa được chăm sóc sạch bong, tỉ mỉ. Tôi nghĩ, riêng việc đóng các cửa mỗi tối đã nặng nhọc rồi. Vậy mà chỉ hai bóng nâu sồng. Tôi chắc không trông được gì nhiều vào cái gọi là Ban quản lý di tích. Sự thật, khi tôi để quên rút chìa khóa xe. Họ đã cố gắng làm tiền bắt chuộc 50 nghìn. Buồn hơn nữa khi một cậu thợ ảnh nói đi chuộc hộ về, cũng xin đểu 20 nghìn. Chỉ cách nhau 239 bậc đá thôi mà khoảng cách thiện ác đã quá rõ rồi!

Rời chùa Tây Phương, đoạn đường đang xây dựng lại gợi nhớ những cung đường ác liệt miền Tây bắc. Chỉ 37 km từ Hà nội với 2/3 ngày mà tôi đã nếm trải biết bao điều.

Phải nhớ in và gửi ảnh cho Sư Cụ về địa chỉ: Chùa Tây Phương, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, Hà Tây. Điện thoại: 034-673150.

Quickshoot - Trang web http://www.photo.vn




Cổng tam quan



Căng lều bạt



Sân chùa



Đánh tá lả



Bán hàng rong



Chèo kéo du khách



Hàng đồ chơi trẻ em



Mái đao



Cây đại trăm tuổi


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
AK_63
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Apr 19, 2006
Bài gửi: 1082

Bài gửigửi: 30.08.2007    Tiêu đề: Re: Một lần thăm chùa Tây Phương Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

PhanHong đã viết:

... Tôi chắc không trông được gì nhiều vào cái gọi là Ban quản lý di tích. Sự thật, khi tôi để quên rút chìa khóa xe. Họ đã cố gắng làm tiền bắt chuộc 50 nghìn. Buồn hơn nữa khi một cậu thợ ảnh nói đi chuộc hộ về, cũng xin đểu 20 nghìn.



Chèo kéo du khách
Bác PhanHong ơi cái cử chỉ này theo em hiểu thì không phải nà chèo kéo du khách đâu mà nà
L.F... A S...EDBE! đấy, bậy nắm :mrgreen:
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 30.08.2007    Tiêu đề: Lai lịch 20 vị Phật tổ Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Đọc xong bài viết về lai lịch các vị Phật tổ, tôi lại càng thấy nhà thơ lão thành Huy Cận đã "bé cái nhầm", mặc dù ông có tâm sự là để làm bài thơ "Các vị la hán chùa Tây Phương", ông đã nghiền ngẫm suốt... 20 năm (từ 1940 đến 1960). Nếu H.C. chịu khó hỏi thăm các vị sư trụ trì trong chùa về sự tích thì đâu đến nông nỗi này!

Đoạn viết sau đây tôi thấy thú vị không phải vì các chi tiết huyền ảo lạ kỳ, mà vì cách hành văn có gì đó na ná các bức phả ghi trong am-đình-đền-chùa-miếu, lại giống giống văn phong của Tây du ký (bản ngày xưa).

Hy vọng là một hôm nào đó sẽ chép hầu các bạn một đoạn văn phả đình chùa. :lol:


LAI LỊCH CÁC VỊ PHẬT TỔ

La hán nghĩa là gì?
Tiếng Phạn (sanskrit): Arhat.
Tiếng Hán: A La hán, được hiểu là bậc thánh trong đạo Phật đã giác ngộ lí vô ngã (không có cái tôi) và vĩnh viễn giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi.

A La hán, gọi tắt là La hán, nghĩa là “bậc đáng được tôn kính”, hay còn gọi là “Tôn giả”, ý nói bậc đầy đủ cả đạo đức và trí tuệ. Trong kinh Phật, La hán mang ba nghĩa:

1. Bất sinh: đi vào cõi Niết bàn, giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, không còn phải tái sinh nữa, vĩnh viễn trở thành bất tử.

2. Ứng cúng: là bậc đáng được mọi người tôn kính cúng dường. Vì sao? Vì các ngài thật chân tu, phạm hạnh, thành tựu vô lượng công đức, phước huệ trang nghiêm, xứng đáng làm bậc mô phạm cho những hành xử và ngôn hạnh của người đời.

3. Sát tặc: là bậc đã trừ được ba cái độc là tham, sân, si (bổ sung thêm: mạn, nghi, phẫn hận, tật đố, thân kiến, biên kiến, hư ngụy, vị kỷ, hẹp hòi...) làm phương hại đến sự thanh tịnh an lạc của nội tâm và gây cản trở cho người tu hành.

Trong mỹ thuật, các vị La hán thường được thể hiện dưới 3 dạng: tượng, phù điêu và tranh vẽ, để thờ ở các chùa. Ở chùa Việt Nam, các La hán chỉ thể hiện ở hai dạng tượng và phù điêu, như ở chùa Trăm Gian (Quảng Nghi tự), chùa Thầy (Thiên Phúc tự), chùa Mía (Sùng Nghiêm tự), 3 chùa này đều ở Hà Tây.

Cách bài trí tượng La hán thường chia làm hai dãy, mỗi bên 9 vị ở hai bên tiền đường (miền Trung và miền Nam), hay ở hai nhà giải vũ (miền Bắc). Tượng La hán ở miền Bắc thường trong tư thế ngồi trên loại bệ tự nhiên như tảng đá, mô đất, gốc cây. Tượng La hán ở miền Nam trong tư thế cưỡi trên lưng các con thú. Hình hài, động tác, nét mặt mỗi vị một vẻ, rất sinh động và gần gũi với con người đời thường.

Y cứ theo kinh điển ghi chép thì ban đầu chỉ có mười sáu vị La hán. Ngày nay, người ta thường nói mười tám vị La hán là do sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, "bỗng" được thêm vào hai vị. Nguyên nhân chủ yếu là từ khi bắt đầu có hội họa, tiếp đến là điêu khắc, sau cùng là văn học.

Vào thời Ngũ đại, cách đây khoảng hơn một ngàn năm, tại Trung Quốc có họa sĩ Trương Huyền vẽ tượng mười tám vị La hán. Ðây là tượng mười tám vị La hán sớm nhất mà chúng ta được biết. Ðến triều nhà Tống, Tô Ðông Pha phát hiện những bức tượng đó ở đất Ðam Nhĩ (tức Nam Hải sau này), nên ông cao hứng làm mười tám bài tán ca ngợi (Tán là một thể văn cổ sau truyện ký, dùng văn tự ngắn gọn để ca tụng hay phê bình thiên nhiên và con người), nhưng Tô Ðông Pha không ghi rõ tên từng vị. Do đó, chúng ta chẳng biết hai vị La hán mười bảy và mười tám trong bức họa chung quy là ai.

Như vậy, sự xuất hiện của mười tám vị La-hán hoàn toàn không có căn cứ trong kinh điển, chỉ do các họa sĩ, ngoài mười sáu vị La-hán lại vẽ thêm vào hai vị và được quần chúng nhân dân tiếp nhận rộng rãi mà thôi. Từ đó, mỗi khi nhắc đến La hán, là mọi người đều nói mười tám vị La hán, không ai nói mười sáu vị La hán cả. Còn về hai vị được thêm vào là hai vị nào, thì do mỗi người mỗi ý kiến, nên không ai mất công tìm tòi khảo cứu làm gì.

Chùa Tây Phương (Sùng Phúc tự), Hà Tây, không bài trí tượng La hán, mà thay vào đó là tượng 18 vị Tổ sư phái Thiền tông Tây Thiên nối tiếp nhau chủ trì, gìn giữ Phật pháp ở Ấn Độ sau Phật Thích Ca. Mười tám tượng này, kể từ vị Tổ thứ nhất Ca Diếp (Kacyapa) đến vị Tổ thứ 18 là Tăng già Da xá (Sainghayacas) là những pho tượng rất sinh động, biểu lộ nội tâm của nhân vật, có giá trị thẩm mỹ cao.

Lai lịch 20 vị Phật tổ

Tổ thứ 1 tên là Ma Ha Ca Diếp tôn giả, gọi tắt là Ca Diếp, nghĩa là uống ánh hào quang, nên còn gọi là Ẩm Quang. Trong một kiếp xa xưa, Ca Diếp đã giúp cô gái tán cục vàng để thếp lên chỗ tượng Phật bị bong, vì thế liền 91 kiếp, thân hai người đều có màu vàng ròng. Trước khi xuất gia, ngài làm thợ kim hoàn, nên rất sành tuổi vàng ròng. Là con một gia đình Bà La Môn, song ngài quyết xả bỏ dòng dõi để tu theo Phật, trở thành người nêu cao đạo lớn. Khi đức Phật Thích Ca ở núi Linh Thúy, một hôm giơ bông hoa cho mọi người xem. Hàng trăm vạn người không hiểu, chỉ một mình Ca Diếp hiểu ý, rạng rỡ mỉm cười. Đức Phật bèn nói: "Ta có chính pháp nhãn tạng, nay trao cho ông diệu pháp Niết bàn", và phong ngài làm Tổ sư đầu tay cai quản giáo hội tăng già. Sau khi Đức Phật nhập diệt, ngài gõ chuông tập hợp chúng tăng kết tập ba tạng kinh điển tiểu thừa.



Tổ thứ 2 tên là A Nan Đà tôn giả, gọi tắt là A Nan, nghĩa là vui mừng, nên còn gọi là Hoan Hỉ, Khánh Hỷ. Ngài là em thúc bá của đức Phật, sinh vào đêm Phật thành đạo, 25 tuổi xuất gia và theo hầu bên đức Phật suốt 25 năm liền, được thụ trì tất cả Phật pháp, là người đa văn số một. Ngài có hầu bên đức Phật lúc cuối cùng, được đức Phật truyền cho những giáo điều sau rốt và cách giữ gìn đạo lý.
Lại nói, sau khi đức Phật nhập diệt, Tổ thứ 1 Ca Diếp tổ chức kết tập kinh tạng, A Nan phiền não chưa hết, nên chưa chứng được quả La hán. Tổ Ca Diếp bèn dắt A Nan ra ngoài hội nghị để ngồi thiền. Đến cuối đêm mệt mỏi, A Nan định nằm nghỉ, nhưng đầu chưa chạm gối, thì bỗng nhiên giác ngộ thành Đại A La Hán. Ngay khi ấy, ngài gõ cửa hội nghị xin vào tham gia. Tổ Ca Diếp bảo, hãy chui qua lỗ khóa. A Nan vận thần thông chui qua lỗ khóa, đủ tư cách cùng tham gia kết tập kinh tạng với các vị A La Hán khác. Tổ Ca Diếp sai A Nan kết tập:’’Đức Phật thuyết pháp, dù chỉ là một lời một chữ, nhà ngươi cũng phải thận trọng, chớ để khuyết lậu. Bồ Tát tạng tập hợp ở một nơi, Thanh Văn tạng tập hợp ở một nơi, Giới Luật tạng cũng tập hợp ở một nơi ‘’. Lần đầu tiên, kinh văn xuất hiện do A Nan soạn là thế.
Sau khi Ca Diếp nhập tịch, A Nan được truyền làm Tổ thứ 2. Khi A Nan mệnh yểu nhược, ngài vắt chân ngồi yên trên dòng sông Hằng, cứ nhằm giữa dòng mà đi vào cõi Niết bàn. Các vị Tiên nhân và La hán ra tiễn biệt. A Nan thấy trong số đó có một vị La hán là Thương Na Hòa Tu, biết có thể trao truyền y bát cho được, bèn nói với ông này: ’Ta sắp đi vào cõi tịch diệt, vậy truyền lại chính pháp cho người’’. Trao truyền xong, A Nan nhún mình lao vào hư không.



Tổ thứ 3 tên là Thương Na Hòa Tu tôn giả, còn gọi là Thương Nặc Ca Phoọc Sa. Tên ngài xuất phát từ tên một loài cỏ thiêng (Thương na) và một chiếc áo lạ làm từ loài cỏ này (Thương nặc ca). Mỗi khi có bậc thánh nhân ra đời thì thấy cỏ thiêng ứng nghiệm từ đất sạch mọc lên báo trước. Khi còn ở kiếp trước, ngài đã lấy loại cỏ thiêng tết thành áo. Ngài ở trong bụng mẹ những 6 năm mới sinh hạ, sinh ra đã có áo mặc sẵn theo thân, thân mình cao lớn dần thì áo mặc cũng rộng lớn theo cho phù hợp. Khi ngài xuất gia, áo đó trở thành pháp phục; khi ngài thụ cụ túc giới, áo đó biến thành áo cà sa 9 mảnh; khi sắp tịch, ngài nguyện để lại áo cho đến khi đạo pháp của đức giới Thích Ca huyền tận thì áo mới bị mục nát. Do vậy mà tên cỏ và tên áo trở thành tên người.
Ngày trước, khi Thích Ca đi hoằng dương đạo pháp có đến xứ sở của ngài, thấy dải cây xanh um, mới nói với A Nan rằng: "Sau khi ta tịch diệt 100 năm, sẽ có một vị tăng nhân tên là Thương Na Hoà Tu truyền bá giáo pháp của ta ở đây". Nay, quả đúng như thế.
Thương Na Hoà Tu sau khi chứng ngộ quả pháp, có lần đi giáo hoá chúng sinh đã tìm được Ưu Ba Cúc Đa, cho xuống tóc làm thị giả. Một lần ngài hỏi Ưu Ba Cúc Đa về tuổi đời và tâm tính, được đáp: "Thân con 17 tuổi, nhưng tính tình chẳng phải 17 đâu". Ba năm sau, ngài lập đàn thụ giới thanh văn cho Ưu Ba Cúc Đa làm Tổ thứ 4. Sau khi dặn dò Ưu Ba Cúc Đa chớ sao nhãng làm đứt đoạn đạo pháp, ngài vào núi ở ẩn, nhưng vẫn thiền định theo dõi và nhắc nhở. Khi các tăng chúng chứng được quả A La Hán, Thương Na Hoà Tu bèn hiện 18 ban biến hoá, đi vào ánh lửa Tam muội để tự thiêu.



Tổ thứ 4 tên là Ưu Ba Cúc Đa tôn giả, nghĩa là Cận Tàng. Ngài ra đời khi đức Phật nhập diệt được 100 năm. Ngài thân tuy không đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Phật, nhưng ngài tinh tấn mà làm Phật sự. Từ năm 12 tuổi, ngài đã bộc lộ rõ sự thông minh. Hàng ngày, mỗi khi nghĩ việc xấu thì bỏ một viên đá đen vào bao, còn nghĩ việc tốt thì bỏ viên đá trắng vào. Lúc đầu, đá đen nhiều, đá trắng ít, rồi dần dần, đá đen và đá trắng bằng nhau. Về sau, không có đá đen chỉ toàn đá trắng, bấy giờ ngài đã vững vàng. Năm 17 tuổi, ngài xuất gia. Năm 20 tuổi, đã chứng được quả. Ngài hay vân du để xiển dương Phật pháp, cứu độ được rất nhiều người. Điều đó khiến ma quỷ lo sợ và tìm mọi cách quấy phá. Nhờ pháp thuật cao, ngài hàng phục được cả ma quỷ. Mỗi khi thuyết pháp cứu độ được cho một người, ngài lại cất một thẻ tre vào nhà đá.
Về sau, có Hương Văn xin xuất gia. Qua trao đổi, biết Hương Văn đã ngộ được đạo, ngài làm lễ xuống tóc cho và trao cho giới thanh văn, lại bảo: "Phụ thân người nằm mộng thấy mặt trời chói lọi sắc vàng, liền đó sinh ra người, vậy nên đặt pháp danh là Đề Đa Ca". Sau đó lại trao truyền đạo pháp cho làm Tổ thứ 5. Truyền đạo xong, ngài ngồi yên trên pháp toà, tự nhiên hoá.



Tổ thứ 5 tên tục là Hương Văn (hay Hương Trượng), khi xuất gia được sư phụ đặt pháp hiệu Đề Đa Ca, nghĩa là thông chân lượng, hiểu biết hết thảy, vì khi được hỏi rằng: "Thân người xuất gia, hay tâm người xuất gia?" đã trả lời: "Tôi xuất gia chẳng vì thân, cũng chẳng vì tâm. Không sinh không diệt là cái chân thường của Đại Đạo, chư Phật cũng là thường đạo. Tâm không hình tướng, thể cũng vậy? ".
Khi ngài mới sinh ra, cha ngài nằm mơ thấy mặt trời chói lọi sắc vàng từ trong nhà bay ra chiếu khắp trời đất, phía trước có toà núi lớn, khắp núi là những thứ chân bảo hoa mỹ, đỉnh núi có khe nước trong vắt vọt ra phân thành bốn nhánh chảy réo rắt. Khi biết chuyện, Ưu Ba Cúc Đa giải thích: "Núi báu kia là thân thể ngươi, suối nước là chỉ pháp Phật vô tận, mặt trời là sự nhập đạo của ngươi, để rồi rọi chiếu trí tuệ đến mọi người".
Đề Đa Ca sau khi nhận y bát của Ưu Ba Cúc Đa để làm Tổ thứ 5, đã phụng trì không biếng trễ. Một lần đến miền trung Ấn Độ, có Di Giá Ca đem 8 ngàn Đại tiên đến nghênh đón. Xa xưa, hai người là đồng học, rồi một tu đạo tiên, một tu thiền định, đã trải qua 6 kiếp, nay lại gặp nhau. Đề Đa Ca thọ giới cho Di Giá Ca, lại vận thần thông để tất cả các vị Tiên đều xin xuất gia. Sau đấy, Đề Đa Ca đem thanh tịnh pháp nhãn truyền lại cho Di Giá Ca làm Tổ thứ 6. Sau đó, Đề Đa Ca vươn mình lao vào hư không, hiện 18 ban biến hoá, lấy lửa tam muội tự thiêu.



Di Giá Ca tôn giả sau khi trở thành vị Tổ thứ 6. Ngài đã đi giáo hoá nhiều nơi. Một hôm, thấy trên thành có mây lãnh sắc vàng bèn bước vào, đến chợ gặp người cầm chén rượu chặn hỏi. Sau những câu thăm dò, Tổ bảo người kia nói rõ họ tên sẽ cho biết nguyên cớ. Được biết đó là Bà Tu Mật họ Phả La Đọa, Di Giá Ca liền bảo: "Thầy ta là Đề Đa Ca có nói rằng, xưa đức Thế Tôn vân du đến miền Bắc Ấn, đã nói với A Nan rằng: Sau khi ta tịch diệt chừng 300 năm, xứ này sẽ sinh bậc thánh nhân họ Phả La Đoạ, tên Bà Tu Mật, làm vị Thiền Tổ thứ 7. Đức Phật đã biết trước, vậy nay ngươi nên xuống tóc xuất gia". Bà Tu Mật cũng cho hay: "Trong một kiếp xưa được Như Lai bảo, ở đời Hiền kiếp sẽ thay ngài xiển dương chính pháp, vậy nay xin Đại sư cho được xuất gia". Tổ bèn thu nhận, và về sau trao truyền cho Phật pháp để làm Tổ thứ 7. Rồi Tổ nhắm mắt đi vào cảnh giới giải thoát, vọt vào hư không, rồi lại trở về pháp toà làm ngọn lửa tự thiêu.



Bà Tu Mật vốn là người thích ăn mặc sạch sẽ, tay không rời chén rượu, thường du hành trong đám dân quê, hay ngâm thơ và lớn tiếng ca hát. Người đời cho ngài là người cuồng. Khi được Tổ thứ 6 tuyên giảng về tiền duyên, Bà Tu Mật bỏ rượu và xin xuất gia. Sau khi tiếp thừa y bát trở thành Tổ thứ 7, ngài hay đi các nơi giáo hoá chúng sinh. Một hôm, có kẻ trí đến gặp, xưng tên là Phật Đà Nan Đề, muốn được cùng bàn về nghĩa cả, nhưng khi biết Tổ thứ 7 hơn hẳn một cái đầu, thì tình nguyện xin theo để cầu chính pháp. Sau khi xuống tóc cho Phật Đà Nan Đề và trao cho giới thanh văn, ngài nhắc phải chuyên tâm hộ trì. Khi Tổ đi vào chốn từ tâm Tam muội, các chư Tiên đều xin Tổ mở cho con đường giải thoát. Tổ bèn hướng về phía quần Tiên đọc một bài kệ. Đọc xong, Tổ đi vào cảnh giới Niết bàn.

Tổ thứ 8 tên là Phật Đà Nan Đề tôn giả có nhục kháo trên đầu, tài biện luận, giỏi ăn nói, sống thoải mái. Sau khi được Bà Tu Mật trao truyền giáo pháp làm Tổ thứ 8, đã đi vân du khắp nơi để xiển dương chính pháp. Một lần, thấy trên nhà nọ toả ra thứ ánh sáng trắng kỳ lạ. Tổ nói với các đồ đệ: "Trong nhà ắt có thánh nhân có thể hoằng dương Phật pháp. Người này chưa hề nói và chưa hề đi đâu, vì không muốn tiếp xúc với ô uế bên ngoài". Chủ nhà ra mời Tổ vào và nói rõ: "Con trai tôi là Phục Đà Mật Đa đã 50 tuổi mà chưa nói một lời, chưa đi một bước". Tổ nhận ra, đây là người mình cần tìm, thì Phục Đà Mật Đa cũng bước ra thi lễ, đọc kệ nói lên công ơn cha mẹ khó đáp đền và tâm nguyện muốn đi tìm đạo, sau đó đi 7 bước. Sau khi nghe Tổ giải thích, vị trưởng giả chủ nhà quyết định xa con, để Phục Đà Mật Đa theo Tổ làm đầu đà. Chẳng bao lâu, Phật Đà Nan Đề trao truyền thanh tịnh pháp nhân cho Phục Đà Mật Đa làm Tổ thứ 9, trước đó có đọc một bài kệ. Đọc kệ xong, Phật Đà Nan Đề thiu thiu đoan toạ mà viên tịch.

Tổ thứ 9 Phục Đà Mật Đa tuy 50 năm liền không nói không đi, nhưng không phải là bệnh lý, mà là muốn giữ mình trong sạch. Ngay cả khi gặp Tổ thứ 8 Phật Đà Nan Đề, ngài đã có những biểu hiện như đức Phật khi ra đời là đọc bài kệ và đi 7 bước, khiến Tổ thứ 8 nhận xét về ngài: "Vị Tiên sinh này kiếp xưa chắc đã gặp Phật Tổ, có tâm nguyện sâu rộng, nhưng khó báo ân nghĩa mẹ cha". Ngay sau khi nhận sự phó thác của Phật Đà Nan Đề, ngài tán tụng công đức sư phụ. Phục Đà Mật có lần đi giáo hoá đã gặp ông Hương Cái dắt theo đứa con nhỏ đến và nói: "Con tôi từng ở trong bụng mẹ 60 năm. Do khi sinh hạ khó khăn, mới đặt tên là Nan Sinh. Có vị Tiên phán bảo, sau này nó sẽ thừa truyền sự nghiệp cao cả. Nay, xin Tôn giả hãy thu nhận nó làm đệ tử". Được thụ giới Phục Đà Mật Đa, Nan Sinh khi hành đạo có hào quang toả sáng Pháp toà, long lanh như xá lị Phật. Về sau, Phục Đà Mật Đa trao cho Nan Sinh thanh tịnh pháp nhãn để làm Tổ thứ 10. Truyền pháp xong, Phục Đà Mật Đa thiu thiu đi vào cảnh giới Niết bàn giải thoát.



Tổ thứ 10 Hiệp tôn giả có tên tục là Nan Sinh, nhưng người đương thời gọi ngài là Hiệp tỳ kheo, với nghĩa "nhà tu hành không đặt lưng xuống chiếu nằm nghỉ". Chuyện kể, người cha ngài một đêm nằm mộng thấy con voi trắng mang trên lưng chiếc ngai báu đặt hạt minh châu từ cửa tiến vào, toả ánh sáng đầy nhà. Khi tỉnh dậy thì Nan Sinh ra đời. Vì ngài nằm trong bào thai những 60 năm nên lọt lòng đã có râu và lông mày bạc trắng. Buổi đầu, ngài theo đạo Bà La Môn, là nhà thông thái. Năm 80 tuổi, ngài mới xuất gia đi tu, bị những người trẻ chê là ông già đần độn, họ bảo, người xuất gia phải biết thiền định và tụng kinh, mà ông thì già yếu, chỉ biết ăn no thôi. Nghe vậy, ngài phát nguyện: Nếu không thông nghĩa lý ba tạng kinh, không đoạn trừ được lòng dục ba cõi, không đắc được sáu thần thông và không đắc được giải thoát, thì mãi mãi không bao giờ đặt lưng xuống chiếu. Trải ba năm kiên trì tu luyện, ngài đã đạt được những điều hạnh nguyện.
Sau khi được Phật Đà Mật Đa truyền cho pháp bảo làm Tổ thứ 10, Hiệp tôn giả đi vân du giáo hoá chúng sinh, một lần dừng chân bên cây cổ thụ, ngài chỉ tay xuống đất nói với đồ chúng: "Đất nơi đây sẽ biến thành vàng, và khi đó sẽ có vị thánh nhân xuất hiện". Nói xong, quả nhiên đất dưới chân vàng rực và có Phú Na Dạ Xà tới xin yết kiến. Hai người đàm đạo Phật pháp rất tâm đắc. Biết được Phú Na Dạ Xà đã tỏ thiền cơ, Tổ bèn thế tóc trao giới cho làm thị giả, về sau lại truyền Pháp bảo cho làm Tổ thứ 11. Trao pháp xong, Hiệp tôn giả tiến vào cõi Niết bàn, tự hoá ra lửa Tam muội thiêu thân.



Tổ thứ 12 tên là Mã Minh tôn giả. Mã Minh có nghĩa là ngựa rống, bắt nguồn từ mấy truyền thuyết khác nhau. Theo một truyền thuyết, ngài vốn là Quốc vương, trong nước ngài có một loại người sống như ngựa, không mặc quần áo. Ngài bèn dùng phép phân thân hoá ra vô số tơ tằm, dân phấn khích la rống lên, do đó ngài lấy hiệu là Mã Minh. Thuyết khác kể rằng, ngài là vị tì khiêu có tài thuyết pháp, cảm động được cả những loài phi nhân. Một lần, có 7 con ngựa đói thỉnh tì khiêu thuyết pháp, nhà Vua cho người mang cỏ non đến, nhưng chúng rơi nước mắt, chỉ chăm chú nghe pháp, không thiết tưởng gì đến ăn uống. Vì thế, thiên hạ gọi ngài là Mã Minh Bồ Tát. Ngài vốn là con một nhà Bà La Môn, thông minh, hiểu biết, nổi tiếng về tài biện luận. Xưa, đức Như Lai thọ ký rằng: "Sau khi ta tịch diệt 600 năm, sẽ có một vị hiền nhân ra đời tên là Mã Minh chuyên hàng phục tà giáo, có tài thuyết phục rất nhiều người xuất gia tu hành, sẽ là người truyền thừa giáo pháp của ta". Tổ thứ 11 Phú Na Dạ Xa tìm được Mã Minh, giảng giải cho về hiển giáo và mật giáo, rồi truyền thanh tịnh pháp nhân cho làm Tổ thứ 12.
Một lần, ngài đang tuyên giảng đạo pháp, bỗng có ma quỷ hiện hình thành ông già, sau thành người vàng, rồi lại thành một cô gái đến chòng ghẹo, rồi lại thành con rồng dữ tợn lượn quẫy trong mưa gió mịt mù để đe doạ. Ngài vẫn ngồi yên trang nghiêm lấy chính pháp thu phục, khiến ma hiện lại hình người bày tỏ sự sám hối. Con ma xưng tên là Ca Tỳ Ma La, đã có 3.000 đồ đệ, có thể biến được biển lớn thành suối nhỏ. Nhưng hỏi về tính chất của biển cả thì Ca Tỳ Ma La không biết. Sau khi được Tổ giải thích, con ma đã xin quy y cùng với tất cả đồ đệ. Về sau, Mã Minh truyền thanh tịnh pháp nhãn cho Ca Tỳ Ma La làm Tổ thứ 13. Trao truyền xong, Mã Minh nhập thiền định cảnh giới cát tường mà viên tịch.



Tổ thứ 13 tên là Ca Tỳ Ma La tôn giả. Ngài vốn theo tà giáo, đã có tới 3.000 đồ đệ, thông hiểu các dị thuyết, sau được Tổ thứ 12 Mã Minh khuất phục. Ngài đi giáo hoá khắp nơi, một hôm, nhận lời mời đến toạ thiền ở một hang núi sâu, giữa đường gặp con rắn to quấn chặt quanh mình. Nghe ngài thuyết giảng, rắn bỏ đi. Khi ngài đến gần hang đá, thấy một ông lão chắp tay thi lễ và thưa: "Tôi xưa cũng là hoà thượng, nhưng do mắng đuổi những người học đạo, bị biến thành mãng xà, ở hang này đã một nghìn năm. Vừa rồi, được nghe tôn giả thuyết giảng nên đến cảm tạ". Ông lão cho biết thêm, gần đây có cây đại thụ xum xuê như con rồng lớn che mát cho 500 con rồng nhỏ, gọi là Long Thụ, vẫn thường thuyết pháp cho chúng rồng nghe. Ngài tìm đến, Long Thụ đón chào, nhưng còn ngờ vực, đến khi được nghe chỉ bảo, đã cùng 500 long chúng đều xin xuống tóc đi tu. Sau đó Ca Tỳ Ma La truyền giáo pháp cho Long Thụ làm Tổ thứ 14. Thuyết pháp xong, Ca Tỳ Ma La hoá ra ngọn lửa tự thiêu thân.

Tương truyền, tổ thứ 14 Long Thụ tôn giả được bà mẹ sinh dưới một gốc cây, về sau lại nhờ loài rồng giúp mà thành đạo, do đó mang tên Long Thụ. Ngài ra đời sau khi đức Phật nhập diệt chừng 700 năm. Tuổi nhỏ, ngài đã đi khắp nơi, tìm học nhiều môn, vốn dòng Bà La Môn, sau gặp Tổ thứ 13 Ca Tỳ Ma La mới quy Phật. Ngài đã đọc và liễu thuộc nhiều kinh điển, song vẫn thấy còn có chỗ chưa đầy đủ, đã ngồi quán tưởng, được Đại Long đưa xuống Long cung chép Kinh Hoa Nghiêm mang về. Ngài soạn ra một số bộ kinh giải về đạo lý rất rành rọt và làm cốt yếu của Tam luận tông. Ngài còn truyền bá giáo lý Mật Tông với nhũng linh phù và châm ngôn. Long Thụ khi đi giáo hoá, đã vì mọi người mà thuyết pháp, đoan nghiêm ngồi trên pháp toà, hiện thành vầng trăng sáng, mọi người chỉ nghe tiếng, mà không thấy hình tướng. Đệ tử Ca Na Đề Bà giải thích cho mọi người rằng, đấy là đại sư tiến nhập vào vô tướng Tam muội, hình như vầng trăng tròn sáng, trống rỗng hư huyền, biểu hiện ý nghĩa Phật tính. Long Thụ là một vị Tổ có danh tiếng lớn trong giới Phật học, được đương thời coi là Phật sống. Về sau, ngài truyền thanh tịnh pháp nhãn cho Ca Na Đề Bà làm Tổ thứ 15. Truyền pháp xong, Tổ nhập nguyệt luân Tam muội, ngồi yên trên pháp toà, lặng lẽ viên tịch.

Tổ thứ 16 tên là La Hầu La Đa, gọi tắt là La Hầu La, là con trai của một nhà trưởng giả. Trên cây trong vườn nhà ông hàng ngày cứ mọc ra những đoá mộc nhĩ mà chỉ riêng La Hầu La nhìn thấy, hái ăn rồi lại mọc. Tổ thứ 15 Ca Na Đề Bà biết chuyện ghé thăm và giải thích: có vị tăng nhân chịu ơn cúng dường của trưởng giả đã biến thành mộc nhĩ để báo tiền duyên. Trưởng giả bèn xin Tổ cho La Hầu La xuất gia theo hầu. Tổ thứ 15 cho biết, xa xưa đức Phật đã dự ngôn rằng sau khi ngài nhập diệt 1.000 năm thì con trai ông sẽ kế thừa y bát thành Giáo chủ, vậy đây là việc tiền duyên, bèn thu nhận và xuống tóc cho làm thị giả. Về sau, Ca Na Đề Bà truyền đại pháp cho La Hầu La làm Tổ thứ 16.
La Hầu La là người thông minh, có tài thuyết pháp. Một lần ngài vân du đến sông Kim Thuỷ thành Thất La, đã nói cho đại chúng biết rằng ở đầu nguồn có bậc thánh nhân Tăng Già Nan Đề mà xưa đức Phật đã dự ngôn rằng sau 1.000 năm người ấy sẽ ở ngôi vị Tổ thứ 17. Nói rồi, ngài cho thuyền ngược lên nguồn, tới nơi quả nhiên thấy Tăng Già Nan Đề đang nhập định. Đủ 37 ngày, ông này mới xuất định ra khỏi cơn thiền. Hai người bàn luận nhiều về nghĩa lý của sự định, tranh luận sôi nổi và kéo dài, cuối cùng Tăng Già Nan Đề tỉnh ngộ xin được xuất gia. La Hầu La còn thuyết giáo cho các đồ chúng, trong đó Tăng Già Nan Đề đã giúp việc rất đắc lực, cuối cùng được truyền thanh tịnh pháp nhãn làm Tổ thứ 17. Truyền pháp xong, Tổ ngồi yên viên tịch.

Tổ thứ 17 tên là Tăng Già Nan Đề tôn giả. Ngài là con vua nước Bảo Trang Nghiêm, vừa sinh ra đã biết nói, hay tán dương Phật pháp. Lên 7 tuổi, đã xa bỏ những thú vui thế tục, làm bài tụng xin xuất gia, nhưng cha mẹ không thuận. Không lay chuyển được con, vua cha mời một vị hoà thượng vào thành tuyên dạy, suốt 19 năm không hề thoái chí. Song ngài không bằng lòng với việc tu ở trong vương cung, một ngày kia, trốn vào trong hang núi để ngồi nhập định. Ngài nhập định liền 37 ngày, khi xuất định thấy Tổ thứ 16 La Hầu La đang ở bên cạnh. Được Tổ giảng giải về Đạo, Tăng Già Nan Đề tỉnh rõ tất cả. Mười năm sau, được La Hầu La truyền thừa giáo pháp làm Tổ thứ 17.
Một lần đi vân du, nhờ gió mát và mây tía báo hiệu, ngài gặp đứa trẻ cầm gương xưng đã 100 tuổi muốn ngộ Phật cơ, bèn dắt về chùa làm lễ xuống tóc cho làm thị giả và đặt tên là Già Da Xá Đa. Nhân một lần gió thổi làm khánh kêu, Tổ hỏi: "Khánh kêu hay gió kêu?", Già Da Xá Đa đáp: "Đấy là tâm con kêu". Lại hỏi: "Trong tâm ngươi là cái gì?". Đáp: "Tất thảy đều yên ắng". Biết Già Da Xá Đa đã ngộ, Tăng Già Nan Đề bèn trao thanh tịnh pháp nhãn cho làm Tổ thứ 18. Phó pháp xong, Tổ vin cành cây mà viên tịch, các đồ đệ xây tháp dưới gốc cây để thờ.

Tổ thứ 18 tên gọi Già Da Xá Đa tôn giả. Mẹ ngài nằm mơ thấy một vị thần cầm gương báu, từ đó mà mang thai ngài. Sau 7 ngày sinh, ngài có thân thể sáng trong như pha lê, toả hương thơm tinh khiết. Từ bé ngài đã biết nói, không như những trẻ bình thường, hay cầm gương đi chơi. Khi gặp Tổ thứ 17, ngài giải thích về chiếc gương: "Mỗi vị Phật lớn đều có cái gương tròn lớn, soi thấu trong ngoài. Trong gương ngoài gương, hai người đều cùng nhìn nhau. Tâm và mắt cũng tương tự vậy".

Sau khi xuất gia, rồi lại được Tăng Già Nan Đề trao cho y bát làm Tổ thứ 18, Già Da Xã Đa xuất lĩnh đồ chúng đi giáo hoá các nơi, rất hay quan sát và hay tìm hỏi. Một hôm, thấy trên nhà người Bà La Môn có dị khí bốc lên, bèn đến gõ cửa, nhưng hồi lâu trong nhà vọng ra: "Cả nhà đi vắng rồi!". Bị căn vặn: "Thế ai nói đó?", chủ nhà mới ra mở cửa mời vào. Ngài nói cho chủ nhà hay rằng: "Đức Phật Thích Ca xưa đã dự ngôn sau khi nhập tịch 1.000 năm, ở nước này sẽ có vị đại sĩ tên là Cưu Ma La Đa. Nhớ lại tiền duyên, cúi xin được xuất gia". Già Da Xá Đa bèn vì Cưu Ma La Đa xuống tóc và trao giới, sau lại đem đại pháp trao cho làm Tổ thứ 19. Phó pháp xong, Tổ phát ra lửa Tam muội tự nhiên.

Tổ thứ 19 là Cưu Ma La Đa tôn giả. Kiếp xưa ngài là Tiên ở tầng trời cao, nhìn thấy chuỗi dây anh lạc quấn quanh bụng một vị Bồ Tát, đã nảy sinh lòng dục, bị đầy dần xuống các tầng trời thấp, cuối cùng giáng sinh vào một gia đình Bà La Môn ở nước Đại Nguyệt Thị. Khi gặp Già Da Xá Đa, nghe nói đến danh hiệu Phật, bỗng tâm thần hoảng loạn, nhưng khi biết lời tiên tri của đức Phật và nhớ việc đời trước đã vui vẻ xin xuất gia. Sau khi đã thành Tổ thứ 19, ngài đi giáo hoá chúng sinh, đã giảng rõ nghiệp báu, khiến Xà Dạ Đa nhớ lại tiền duyên và xin được xuống tóc xuất gia. Về sau Cưu Ma La Đa trao thanh tịnh pháp nhãn cho Xà Dạ Đa làm Tổ thứ 20. Tổ yên toạ trên pháp toà, lấy móng tay vẽ bông sen hồng, toả hào quang rồi tiến vào cõi tịch diệt. Nơi đó được lập pháp thờ.

Tổ thứ 20 tên là Xà Dạ Đa tôn giả. Ngài là người trí tuệ rất sâu xa, hoá đạo cho rất nhiều người. Khi Cưu Ma La Đa đến, ngài chủ động đi tìm hỏi:
- Cha mẹ tôi vốn tín mộ Tam bảo, thế nhưng luôn bị bệnh tật, làm việc gì cũng đều thất bại. Gần nhà tôi có người hạng Chiên-đà-la (hà tiện, ác trược) thế mà thân thì khoẻ mạnh, làm việc gì cũng toại ý! Vậy kẻ ấy có phúc gì mà luôn gặp may, chúng tôi có tội fig mà luôn chịu rủi ro?
Tổ Cưu Ma La Đa đáp:
- Sự báo ứng nhân quả thiện ác trong ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai). Kẻ phàm thường chỉ thấy người lương thiện chết yểu, kẻ độc ác sống lâu, người nghĩa gặp dữ, kẻ nghịch gặp lành... bèn cho là không có báo ứng nhân quả, sự hồi báo của phúc và tội chỉ là giả huyễn. Họ có biết đâu như bóng theo hình, ảnh hưởng sự thiện ác theo mãi không tan mất.
Xà Dạ Đa nghe vừa dứt lời, mọi nghi hoặc tan biến.
Tổ lại nói:
- Nhà ngươi đã tin vào Tam nghiệp (thân - ngữ - ý), song vẫn chưa hiểu cái nghiệp do cái mê mà sinh, cái thức lại y theo cái không hiểu biết, cái không hiểu lại khởi nguồn từ cái tâm. Mà bản tính của tâm là thanh tịnh, không sinh không diệt, không báo ứng, không hơn thua, nó yên ắng và trong sáng. nếu ngươi nhập pháp môn ấy thì không khác gì Phật Tổ trên toà cao kia. Hết thảy thiện và ác, hữu vi và vô vi đều là mộng huyễn hết.
Xà Dạ Đa nhớ lại tiền duyên, xin xuất gia, được Cưu Ma La Đa xuống tóc, lại trao cho giới thanh văn làm Tổ thứ 20. Ngài khi giảng pháp cho nhóm có học và thích biện luận của Bà Tu Bàn Đầu đã nói về mình: "Ta không truy cầu đạo cả, cũng chẳng trái phạm đạo cả; ta không lễ Phật, cũng chẳng khinh Tam bảo; ta không nhăm nhăm suốt ngày thiền định, cũng chẳng nhởn nhơ bỏ trễ; ta không phải chỉ ăn một loại thực vật, cũng chẳng phàm ăn tục uống; ta không biết đủ, cũng chẳng tham lam. Tâm không trói buộc, ấy mới là thực đạo". Bà Tu Bàn Đầu nghe hết, nhớ lại tiền duyên, xin được dạy dỗ. Xà Dạ Đa bèn truyền thanh tịnh pháp giới cho: "Người xưa nay uẩn chứa vô vàn công đức, xứng kế thừa tông nghiệp của Phật Tổ, hãy lắng nghe tụng kệ":

Ngôn hạ hợp vô sinh
Đồng ư pháp giới tính
Nhược năng như thị giải
Thông đạt sự lý cách


(Điều nói vốn chưa sinh
Mọi cái trùng pháp giới
Nếu hiểu được như vậy
Đến rồi nơi tịch diệt)

Theo "Chùa Tây Phương" của Chu Quang Trứ
NXB Mỹ Thuật - 1998





Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 31.08.2007, sửa lần 3
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 31.08.2007    Tiêu đề: Hình vẽ các vị la hán Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

HÌNH VẼ CÁC VỊ LA HÁN

Nhặt được mấy hình vẽ các vị la hán trong sách Phật học.

Kính mời ace thưởng thức.


.... ....

.... ....

.... ....

.... ....

....

....
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 18.03.2008    Tiêu đề: Lên Cao Bằng Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

LÊN CAO BẰNG

Trước khi lên đường sang Hung, tôi và VT có lên Cao Bằng.

Chúng tôi đi theo một vòng tròn.

Hành trình khi đi là Hà Nội-Thái Nguyên-Bắc Kạn-Cao Bằng.

Hành trình khi về là Cao Bằng-Đông Khê-Thất Khê-Na Sầm-Đồng Đăng-Lạng Sơn-Hà Nội.

Xin phục vụ phóng sự ảnh trước.

(Nhờ anh sonhai thu nhỏ ảnh lại hộ. Lười quá, chắc chắn bị ace "kêu ca") :oops: .

Sẽ có bài viết sau.




Quang cảnh thị xã Thái Nguyên



Rời thị xã Thái Nguyên



Chiếc xe 16 chỗ



Trung du



Đường uốn lượn như rắn bò



Hàng rào ngăn đất lở



Khe núi



Tiến về Bắc Kạn



Vào thị xã Bắc Kạn



Quán Lá Cọ



Nhà sàn



Chia tay hai người dẫn đường ở Bắc Kạn



Rời Bắc Kạn đi Cao Bằng



Đường xuyên núi



Phố núi



Leo đèo Gió



Quán nhỏ



Ruộng bậc thang



Nghỉ chân ở đỉnh đèo Gió



Quây vườn rau



Chuồng lợn



Mấy chú bé tinh nghịch



Vườn rau cải ngồng



Thị trấn vùng cao



Thị trấn Ngân Sơn



Trường cấp 3 Cao Bình năm xưa



Trên nền trường cũ (ngày xưa là sân bóng đá)



Phố nhỏ



Thị xã Cao Bằng



Thị trấn Nước Hai



Bán rau



Cày ruộng



Núi non



Ruộng đồng



Nhà ven đường



Ngôi trường trên đường đi Pác Bó


(Còn tiếp)

Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Những bài viết gợi về ký ức một thời Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4 ... 18, 19, 20  Trang kế
Trang 3 trong tổng số 20 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser