vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - Trại sơ tán Ba Vì
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

Trại sơ tán Ba Vì
Chuyển đến trang 1, 2, 3 ... 18, 19, 20  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Những bài viết gợi về ký ức một thời
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 22.12.2005    Tiêu đề: Trại sơ tán Ba Vì Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Chúng tôi "sinh sau đẻ muộn", nên mặc dù "đội lốt" chiến sĩ quân đội sang Hung-ga-ri học tập, song chưa một ngày cầm súng trực tiếp chiến đấu, thậm chí, không biết đường mòn Trường Sơn gian khổ như thế nào. (như bác khanhque đã tận mắt chứng kiến)

Nhân dịp 22-12, hưởng ứng sự kêu gọi của bác Sơn Hải, tôi xin phép post lên một bài viết về thời kỳ sơ tán trong chiến tranh phá hoại. Thời ký này, chúng tôi còn bé tí, các ông bố của chúng tôi là các cựu sĩ quan QĐNDVN đang mải miết trên các nẻo chiến trường. Vì thế, chúng tôi được "thơm lây". Có người bảo, trong chiến thắng của toàn dân tộc, có cả sự đóng góp nhỏ bé của những Trại sơ tán của chúng tôi, do Bộ Tổng tham mưu tổ chức, đã làm yên lòng phần nào các ông bố quân nhân đang lăn lộn trên mặt trận B, C, K (miền Nam, Lào, Căm-pu-chia).

Thiết nghĩ, mình cũng đã được quân đội giáo dục, rèn luyện từ thuở còn thơ.


Trại sơ tán Ba Vì

Trại sơ tán đặt tại cơ sở của một nông trường quân đội nằm ở chân núi Tản Viên, còn gọi là núi Vua Bà, trên một quả đồi lúp xúp các bụi sim, mua. Nhà ở dựng ngay sườn đồi, vách đất, lợp lá, cửa sổ đan liếp, có cánh cửa chống lên chống xuống bằng một que tre nhỏ, chứ không mở ra mở vào hai cánh, như ở Hà Nội. Hố xí, thực chất là một hố đào, cách nhà không xa, bố trí ở chỗ ngược chiều gió. Mỗi khi đi xong, phải xúc một xẻng tro và đất rải lên để tránh ruồi nhặng. Xung quanh nhà ở có hàng rào bằng nứa, cao chừng 1,2m.

Chúng tôi được biên chế thành trung đội, tiểu đội và rèn luyện theo kỷ luật quân đội. 5 giờ sáng đã dậy tập thể dục theo đội hình 9-6-3-0. Có chào cờ, hát quốc ca, tập đội ngũ (quay phải, quay trái, đi đều, tập hợp theo những đội hình hàng ngang, hàng dọc...). Có kiểm tra nội vụ. Chăn màn phải gấp vuông vắn như chiếc bánh chưng. Ba lô, đồ đạc, bát đũa, khăn mặt... (gọi chung là quân trang), phải sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp. Có giờ đọc báo, nghe tin tức qua đài. Và cả kiểm điểm tổ ba người nữa.

Tôi còn nhớ chú phụ trách tên là chú Thông. Chú vốn là cán bộ của C59 (Cục Quản lý giáo dục), chuyên phụ trách thiếu niên nhi đồng ở các khu tập thể của Bộ Tổng Tham mưu. Tính chú nghiêm, song cũng rất vui. Tiết mục tủ của chú là “Lỳ và Sáo”. Khi biểu diễn, chú không chỉ hát mà còn độc diễn lại các nhân vật trong bài hát : lúc thì là cậu bé Lỳ lầm lì đi, đi theo sau bác Lỳ, lúc thì là thằng cu Sáo thích chơi diều, lúc thì là thằng quan Tây đeo súng lục đi bắt gà bị trúng lựu đạn của Lỳ, chết răng còn nhe, lúc thì đóng giả bác nông dân Lỳ nghiêm khắc, có dáng đi còng còng... Chú biết chơi đàn gió (đàn ắc-coóc-đê-ông). Chú còn tổ chức một đội trống, luyện tập rất say sưa. Đỗ Bình to cao đánh trống cái, Khánh Bảo bé nhỏ được phân công đeo trống con.

Nhớ ngày bố mẹ lên thăm, xe ca đỗ tít dưới chân đồi. Chú Thông tập hợp toàn trung đội trên sân đất, đội trống dàn phía trước. Khi bố mẹ lên tới nơi, chú Thông hô: ”Nghiêm, chúc bố mẹ khoẻ !”, chúng tôi hô theo “Khoẻ !”. Đội trống trình diễn 2 bài : bài Chào cờ và bài Nhịp đi. Chú Thông cho toàn trung đội tập hợp, điểm danh, quay trái quay phải, báo cáo chỉ huy rất quy củ. Sau đó, chú bắt nhịp :”Vừng đông đã hửng sáng... hai, ba”. Cả trung đội nghiêm trang hát bài quân ca Tiến bước dưới quân kỳ. Đến khi chú vừa ra lệnh :”Toàn trung đội, nghỉ !” thì cả hai khối người ùa ra, hoà tan vào nhau, mừng mừng tủi tủi. Những bạn nào không có bố mẹ lên thăm vội lảng ra nơi khác hoặc về giường của mình ngồi, mắt đỏ hoe.

Ăn uống ở trại sơ tán kham khổ hơn so với ở nhà. Thường ăn cơm gạo đỏ, có mùi hôi, thức ăn có cá khô và bí đỏ. Sáng nào được ăn cơm chan với nước mắm nấu với hành phi mỡ là quá sang, còn thì ăn ngô bung, sắn luộc.

Ở dưới chân đồi có một kho gạo của nông trường, do một bác bộ đội già trông coi. Bác thủ kho thường lấy gạo ra để bẫy chuột đồng. Bẫy được, bác chặt đầu chặt chân, lột da, bỏ hết gan ruột, chỉ lấy cái mình đem rim với mắm muối trong một cái xoong nhôm nhỏ xíu. Lần đầu tiên, tôi được nếm thịt chuột và thấy ngon chả kém gì thịt gà.

Những buổi chiều mát, chúng tôi hay ra ngồi ở sườn đồi, ngay trên bãi cỏ may, hóng gió và xem những đám mây trên trời tạo nên những hình thù kỳ thú. Xa xa là dãy Tam Đảo, làm chúng tôi nhớ đến câu thơ :

Nhất cao là núi Ba Vì,
Thứ ba Tam Đảo, thứ nhì Tản Viên
.

Một lần, vào lúc sẩm tối, các chị lớp trên hét thất thanh, hộc tốc chạy về báo với chú Thông là đang đi thì suýt nữa giẫm phải rắn. Chú Thông cùng mấy anh lớp trên cầm gậy chạy ra, đánh được con rắn ráo, dài gần 2 mét. Hôm sau, cả trại được liên hoan món chả rắn băm viên.

Một lần khác, chúng tôi đứng ở phía dưới đồi nhìn lên lưng chừng đồi, phát hiện ra một chiếc hang đất đỏ lở lói nham nhở. Thì ra đó là hang của con tê tê. Dân địa phương nghe tin, mang cuốc xẻng, xà beng, chó săn và cả nùn rơm ra để hun, nhưng nó đào rất nhanh và sâu vào bên trong lòng quả đồi. Mãi sau thì cũng bắt được cu cậu. Lúc ấy, tôi mới biết thế nào là con tê tê.

Chúng tôi đi học ở trường cấp 1 cách trại sơ tán khoảng chừng 2km. Trại sơ tán thì thuộc địa phận Hà Tây, còn trường học lại thuộc tỉnh Hoà Bình. Phải đi qua một con suối nhỏ, qua hai bản Mường, qua tiếp một con suối nữa, qua một cái dốc, mới tới trường. Bản Mường chỉ gồm độ mươi ngôi nhà sàn. Bà con dân tộc sống rất mất vệ sinh : dưới gầm nhà sàn, trên đường đi, đâu đâu cũng có phân trâu bò, mùi bốc lên nồng nặc. Con đường đất đỏ qua bản khá rộng, ô tô vận tải đi được, nhưng cũng vì thế mà con đường bị cày nát bét, đọng nhiều vũng bùn, vết chân trâu bò và cứt trâu.

Trường học bao gồm 3 dãy nhà lá, ôm lấy một cái sân đất rộng, theo kiểu hình chữ “U”. Cô giáo tên là Hà thì phải.

Hồi đó, báo chí đăng rất nhiều tin tức về anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, song do còn nhiều hạn chế về thông tin nên phải cải chính tên anh hai lần. Thời gian đầu đăng là Trôi, sau sửa thành Trổi, mãi sau này mới đăng đúng là Trỗi (báo Nhân Dân hẳn hoi). Giờ ra chơi ở trường, chúng tôi thường chơi trò diễn cảnh đưa anh Trỗi ra pháp trường. Phân vai cho nhau, người thì đóng lính nguỵ, người đóng linh mục, người đóng cố vấn Mỹ, người đóng anh Trỗi... Trong khi chơi hay đọc bài thơ Sống như anh của Tố Hữu. Đọc đến câu thơ :

Nguyễn Văn Trôi
Anh đã chết rồi
Anh còn sống mãi...


thì chúng tôi không làm sao đổi “Trôi” thành “Trỗi” được, vì bị lạc vần.
Một trò chơi bổ ích và lý thú đối với lứa tuổi thiếu niên chúng tôi, lại mang yếu tố quân sự, là trò chơi mật mã. Chúng tôi phải học thuộc lòng bảng chữ cái ABC theo bảng mã Moóc-xơ. Ký hiệu tè là dấu trừ “–“, tạch là dấu chấm “.”. Tín hiệu “S.O.S” sẽ là “– – – , . . . , – – –“. Vào cuộc chơi, hai đội đều nhận được hai lá thư viết bằng mật mã và phải nhanh chóng giải mã để thực hiện một nhiệm vụ nào đó, như kiểu “Bạn hãy đi ra sau nhà và lấy một vật đựng trong cái hộp gỗ để ở gần hàng rào”. Rồi lại phải cùng chú ý theo dõi một bạn đứng trên mô đất cao, phất lá cờ đỏ ra ám hiệu : tạch là phất ngang, tè là phất dọc. Lại phải giải mã tín hiệu đó để thực hiện nhiệm vụ thứ hai “Bạn hãy chạy lên đỉnh đồi thật nhanh và cắm một lá cờ vào cạnh tảng đá to nhất. Tuy nhiên, nếu đội của bạn cử người chạy trước khi có tín hiệu, coi như bị trừ điểm”. Đội nào vội vàng, nhanh nhảu đoảng, hẳn sẽ bị thua.

Tất cả những quy tắc của trò chơi mật mã đều có trong quyển “Sổ tay Đội viên thiếu niên tiền phong” của chú Thông. Sách còn hướng dẫn đầy đủ cách buộc các kiểu thắt nút, cách dựng lều cắm trại... rất thú vị.

Trong trại, chúng tôi học cách vót đũa tre. Sau khi vót, đã biết lấy xơ tre đánh cho nhẵn, thậm chí còn biết dùng lá chuối khô vuốt cho bóng. Chú Thông còn dạy chúng tôi làm ống đựng đũa, thuốc đánh răng và bàn chải từ những ống nứa nhỏ. Chú còn dạy cả cách bện mũ rơm.

Năm 1965, máy bay Mỹ thỉnh thoảng mới xuất hiện trên bầu trời, nhưng chúng tôi thật ngạc nhiên vì mỗi khi nghe tiếng động cơ chói tai thì máy bay đã vút qua từ lúc nào. Những chiếc máy bay bay tít trên cao, cánh phản chiếu ánh nắng mặt trời lấp loá, không thấy chúng bổ nhào ném bom gì cả. Tuy vậy, chúng tôi vẫn phải xuống hầm trú ẩn, đề phòng máy bay vòng trở lại.

Một buổi chiều, chúng tôi nhận được lệnh chuẩn bị gói ghém đồ đạc di chuyển đến địa điểm mới.

Có lẽ, cấp trên e ngại cho chúng tôi vì máy bay Mỹ từ các căn cứ U-ta-pao và Cò-rạt (Thái Lan) mỗi khi bay vào Hà Nội đều bay qua hành lang này.
Năm ấy, chúng tôi vừa tròn 8 tuổi.
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 23.12.2005    Tiêu đề: Trại sơ tán ở Chu Quyến và Cao Bằng Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Đình Chu Quyến

Chiếc xe ca cũ kỹ lầm lũi chở chúng tôi đi trong đêm. Đường quá xấu, xóc kinh khủng, chiếc xe phải bò từng mét một. Đến 10 giờ đêm thì chúng tôi đến đình Chu Quyến (Hà Tây). Đình có mái đao cong vút, có hàng cột gỗ to đùng sơn son, trông thật uy nghiêm. Như đã hẹn từ trước, một vài cán bộ thôn hay xã gì đó đã đứng đợi chúng tôi. Đình không có đủ chỗ, nên chỉ có một số người trong chúng tôi sẽ nghỉ lại đình, còn một số khác theo mấy bác cán bộ thôn vào nghỉ nhờ nhà dân. Chúng tôi được dặn dò kỹ lưỡng : không được gây ồn ào hay cười đùa, không được quay chân về phía các bệ thờ. Đêm, nghe tiếng mưa rơi lộp bộp, lại lạ nhà, tất cả cứ thao thức không tài nào ngủ được. Ở Chu Quyến khoảng non một tháng thì chúng tôi được về Hà Nội để chuẩn bị đi Cao Bằng.

Vẫn còn đó trong tôi cái cảm giác nôn nao khó tả của một người con đi xa Hà Nội, có dịp trở lại thành phố thân yêu của mình. Khi ô tô bắt đầu vào đến ngoại thành, chúng tôi hát đồng ca cả ô tô hết bài này đến bài khác. Đèn điện sáng, người đi lại nườm nượp, những ngôi nhà, vỉa hè, hàng cây xanh... tất cả thật thân quen. Và cái ý nghĩ, chỉ trong chốc lát, sẽ được gặp bố mẹ, người thân, làm cho tất cả chúng tôi quên đi mệt mỏi. Ai cũng khoẻ ra, nhanh nhẹn hẳn lên. Ánh mắt ai cũng sáng ngời.


Đi Cao Bằng

Hôm đi Cao Bằng, tôi nhớ là tập trung tại khu tập thể 1A Hoàng Văn Thụ (nay là khu Hoàng thành, đang được bao kín lại, chuẩn bị làm Khu trưng bày di tích ngoài trời)). Tập trung vào sáng sớm, khoảng 4-5 giờ sáng. Chú phụ trách đứng ở cửa xe ca, đọc đến tên ai thì người đó mang ba lô lên xe. Rất đông người, cả người đi và người tiễn. Đi 6 xe cả thảy. Cô Loan C50 (Cục cán bộ) làm trưởng đoàn, nghe đâu quê cô ở Cao Bằng. Cô mặc quân phục, đeo cả quân hàm, đi một chiếc xe com-măng-ca dẫn đầu đoàn quân, trông rất oai. (Mãi sau này, lớn lên tôi mới biết cô là vợ Đại tướng Hoàng Văn Thái). Chúng tôi được giới thiệu : các chú lái xe đều thuộc loại kỳ cựu, đã từng lái xe trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Chúng tôi đi qua Lạng Sơn thì xuống nghỉ tạm tại một hội trường rộng. Sau một quãng đường dài, mọi người lấy chiếu cá nhân của mình ra nằm nghỉ ngơi ngay trên nền nhà xi măng. Khoảng một tiếng sau thì các cô chú phụ trách báo đi ăn cháo gà. Đến sẩm tối, chúng tôi bắt đầu hành quân theo đường số 4. Vì sợ máy bay ném bom, lái xe phải đi bằng đèn gầm. Đường đèo, xe chạy chậm, giãn cách nhau 30-40 mét, chứ không bám sát nhau. Tôi nhớ đêm đó có trăng. Khi lên đến đỉnh đèo, đoàn xe dừng lại để nghỉ cho xe đỡ nóng máy và tiếp nước cho xe. Cô Loan đã chu đáo liên hệ từ trước. Chúng tôi thấy bà con dân tộc mang mấy gùi xôi còn nóng hổi ra tận đường nhựa tiếp tế cho chúng tôi. Chúng tôi học được câu tiếng Tày đầu tiên : kin khẩu nua là ăn cơm nếp. Xe đi thông đến trưa hôm sau vì trên mỗi xe có hai chú lái xe thay nhau lái. Chúng tôi ghé vào trường cấp 3 Cao Bình (huyện Cao Bình, Cao Bằng) nghỉ ngơi. Ở đó có một sân bóng đá rộng mênh mông bỏ hoang, cỏ may mọc cao đến đầu gối, hai đầu sân có hai cầu môn bằng tre. Ai đó kiếm được một quả bóng, chúng tôi say sưa hò hét đuổi theo quả bóng, quên cả mệt nhọc.

Đến chiều tối thì một bộ phận về Cốc Lùng. Chúng tôi ăn bữa tối và lăn ra ngủ say như chết. Sáng ra, các chú phụ trách gọi dậy đánh răng rửa mặt. Sương mù dày đặc đến nỗi cách nhau 2 mét không nhìn rõ là ai. Nước dẫn từ suối về, cách nhà chừng vài trăm mét, qua một hệ thống ống nứa bắc trên những cành cây cong queo cắm xuống đất, uốn lượn theo hình chữ chi. Nước rất lạnh, răng chúng tôi đánh lập cập. Bữa sáng ăn ngô bung. Bữa trưa ăn cơm với cà tím (có mấy bạn đỏ mặt phừng phừng cãi nhau, bảo là cà dái ngựa hay cà dái dê).

Ban ngày, không có việc gì làm, chúng tôi hay đi bắt chuồn chuồn ở cạnh nhà. Các chú chuồn chuồn đại (còn gọi là chuồn chuồn ngô) to đùng, cắn đau điếng, có thể chảy máu tay, bị chúng tôi “tra tấn” bằng cách khoác lên người các chú một chiếc áo gi-lê bằng giấy, sau đó vặt bớt chân đi. Các chú cứ thế bay là là, lại không thể dừng, vì chẳng biết bấu víu vào đâu. Các chú chuồn chuồn kim thì nhỏ xíu, đặc biệt là có cả chuồn chuồn kim màu xanh lơ, chúng tôi chưa thấy bao giờ. Chúng tôi thuộc lòng câu ca dao :

Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm


nhưng chỉ có thời gian này mới có được “kiểm nghiệm thực tế”.

Ở Cốc Lùng độ vài hôm thì có sự sắp xếp lại : các lớp lớn ở lại Cốc Lùng, các lớp bé (lớp 3 trở xuống) về Khâu Luông.

Trại sơ tán ở Khâu Luông bố trí trên một quả đồi thấp, ven đường nhựa, cách thị trấn Nước Hai (huyện Hoà An, Cao Bằng) 2 km. Các chú bộ đội đã dựng sẵn doanh trại cho chúng tôi. Nhà mới làm xong, vách đất, lá lợp còn mới. Giường mới đóng, tre còn thơm. Chân giường là những cột tre chôn luôn xuống nền nhà. Giá đựng ba lô, bát đũa làm nhỏ lại, thấp bớt đi so với những doanh trại bộ đội thông thường. Hố xí, hố giải cũng mới tinh. Nhà nằm dưới tán mấy cây trám rừng cao vút. Đi sâu vào hơn 100 mét là rừng trúc. Cây trúc cao khoảng 3 mét, xanh mướt, lắm gai.

Đêm dậy đi giải, chúng tôi rất sợ vì nó cứ âm u thế nào ấy. Không có những tiếng xào xạc của luỹ tre, không có tiếng dế kêu, ếch nhái ồm ộp như ở dưới đồng bằng. Dân địa phương còn kể chuyện hổ ba chân trả thù người. Thế nên, sáng ra ở hiên nhà nào cũng đầy “vết tích”.

Chúng tôi rất nghịch. Lúc đầu, thi nhau dậy sớm để nhặt trám rụng vì cây cao quá, trèo không được. Trám nướng ăn rất bùi. Về sau, học hỏi được kinh nghiệm, từ tối hôm trước, chúng tôi lấy một chiếc đinh gỉ đóng vào gốc cây. Sáng ra, trám rụng đầy, cả quả chín lẫn quả xanh. Chúng tôi còn vào rừng chặt trúc đem về làm những con rối, rồi cho các chú hiệp sĩ này đeo kiếm (một chiếc đinh đập bẹp ra), đeo mộc (làm bằng đồng xèng), đi hài (làm bằng hai chiếc khuy), luồn dây vào, điều khiển cho các chú đánh nhau. Con rối này thì được đặt tên là Quan Công, con kia thì là Trương Phi... Thú vị nhất có lẽ là thư viện sách mà các chú phụ trách đã cất công mang theo. Sách khá nhiều, toàn sách hay. Tôi thích nhất quyển “Địa lý thế giới” và quyển “Thiên văn học” khổ to, in màu đẹp đẽ.

Trong thư viện của trại còn có quyển “Đại đoàn Quân Tiên phong” mà chúng tôi đọc đi đọc lại bao nhiêu lần không biết chán. Là vì trong đó không chỉ kể lại chi tiết các trận đánh, chiến dịch của Đại đoàn, mà còn nhắc cả họ lẫn tên của bố một số bạn. Kiểu như :”Trung đoàn trưởng Vũ Lăng kiên quyết tấn công... tiểu đoàn trưởng Mai Xuân Tần dẫn một đại đội băng rừng cắt ngang đội hình địch... đại đội trưởng Trần Đăng Khiêm đứng nghiêm báo cáo...v.v...”.

Ở Khâu Luông, món ăn thường xuyên là thịt trâu và su hào xào. Xu hào thái miếng to bản như thái khoai thái sắn, không theo một hình thù, kích cỡ cố định nào. Khi xào lại xào lẫn cả với lá, chúng tôi lấy làm lạ. Một bạn viết thư về cho bố mẹ khoe là được ăn thịt trâu “mỏi cả răng”, không ngờ bố mẹ lại tưởng là “thịt trâu dai quá”, có phản ảnh lại C59, nên trong một buổi họp trại, các chú phụ trách nhắc nhở chúng tôi chuyện viết thư.

Lại nói về chuyện viết thư. Thời gian đó là nghỉ hè. Khác với hồi chúng tôi ở Ba Vì, ở đây quân số quá đông nên thời gian đầu, các chú phụ trách quản không xuể. Một số bạn “hư” thì hay tự do trốn đi chơi, một số bạn rỗi rãi, nhớ nhà (nhất là các bạn nữ) nên hay viết thư. “Bệnh” viết thư lan tràn ra cả trại. Các lá thư thường mở đầu bằng câu “Bố mẹ kính mến” và tiếp theo điệp khúc “Bố mẹ mua cho con...”. Có lá thư, đếm được 99 câu “Bố mẹ mua cho con...”.

Chúng tôi còn đi “thám hiểm” xung quanh. Cách trại 2-3 cây số, có những rừng ổi, rừng bưởi tự nhiên rộng mênh mông, đi một buổi không hết. Đến bữa ăn trưa mà không thấy mặt bạn nào đó (như Hiếu Liêm và Đăng Thảo) thì đích thị các bạn đó đã trốn đi “thám hiểm” rồi. Có những bạn ăn nhiều ổi và sim quá, không tiêu được, phát khóc. Có lần, chúng tôi hái được những quả chuối rừng to bằng bắp chân, hoặc được các bạn dân tộc rủ về nhà chơi, tặng luôn cho cả quả mít. Tất nhiên, “tặng” bằng cách trèo lên cây, dùng chân đạp vào quả mít chín. Quả mít rơi xuống đất, vỡ tung ra, cứ thế bóc múi ăn, chả phải mất công bổ gì cả. Phong trào học tiếng Tày-Nùng nở rộ. Bạn Hiếu Liêm chơi với các bạn dân tộc nên học được nhiều nhất, thường dạy lại chúng tôi, kể cả dạy chửi bậy.

Chúng tôi khám phá ra gần trại có một con suối, thường ra đó tắm giặt. Nước suối mát lạnh và đặc biệt, khi giặt quần áo, xà phòng rất khó tan. Đồng bào dân tộc chỉ cho chúng tôi quả găng để giặt thay xà phòng. Trên bờ suối có một vườn đu đủ vô chủ. Tắm giặt xong, chúng tôi lên bờ vặt đu đủ. Không có dao, chúng tôi lấy đồng xèng để “mổ” đu đủ ương.

Thỉnh thoảng chủ nhật, chúng tôi theo các cô nhà bếp đi thị trấn Nước Hai để gửi thư, mua kim chỉ, xà phòng, giấy viết thư... và ăn phở. Phở ở đó không ngon như phở Hà Nội, nhưng như thế đã là hạnh phúc lớn lao, thậm chí hơi “sang” rồi.

Một buổi tối, chúng tôi nghe tiếng kẻng và thanh la gõ dồn dập. Hổ về ! Cả bọn chui tọt vào nhà, chốt kỹ cửa lại. Ai cũng lởn vởn ý nghĩ : bây giờ mà hổ vào thì làm thế nào ? Tôi nhìn lên giá đựng ba lô và những thanh xà ngang trên cao. Định trèo thử, nhưng run quá, lập cập mãi không trèo lên được. Đến khoảng 11 giờ thì nghe tiếng kẻng báo yên, song chả ai dám đi ra ngoài, kể cả đi vệ sinh. Đêm đó ngủ chập chờn, mê thấy hổ ba chân về, nhưng may mình gầy yếu quá nên nó không vồ mình (?). Sáng hôm sau, nghe dân nói lại là hổ về vồ mất một con lợn trong chuồng.
Rằm Trung thu, trại tổ chức rất vui, mổ cả một con bò ăn liên hoan. Có biểu diễn văn nghệ cây nhà lá vườn. Dân địa phương gánh đến mấy gánh bánh nếp, bánh gai ủng hộ. Cấp trên cũng về, nhân thể giải quyết một chuyện buồn : có ba chị rủ nhau ra tắm ở sông Bằng Giang, một chị (chị Minh, con bác Ngô Tấn Văn) bị nước cuốn mất.

Qua mồng 2 tháng 9, chúng tôi được chú Khuông dẫn đến lớp học ở địa phương. Đường đi học qua một quả đồi, có một bãi tha ma nhỏ. Trên các nấm mồ mọc những dây lạc tiên đẹp đẽ, quả vàng chi chít thơm lừng làm chúng tôi cứ phân vân : hái hay không hái ? Tại có người bảo, những hạt trăng trắng nho nhỏ bùi bùi bên trong quả lạc tiên chính là những cái móng tay của người dưới mộ. Khiếp !

Lớp học nằm bên kia suối, nước chảy xiết. Trước khi vào lớp phải xắn quần, bước qua những phiến đá to gần bằng con lợn, trơn nhẫy. Vì thế, có những bạn vào lớp học với bộ quần áo ướt sũng, cô giáo đành cho về. Trước tiết học, cô giáo cầm thước gỗ gõ gõ xuống mặt bàn làm nhịp cho cả lớp hát bài :”Nà loóng tày noòng...”. Bài hát có 5-6 câu, giờ tôi đã quên hết cả, chỉ nhớ đại ý đó là bài hát ca ngợi quê hương đất nước. Chúng tôi đi học sớm nhưng thường la cà, nên hay đến lớp muộn.

Trong trại Khâu Luông có một sân chơi bằng đất rộng. Giữa sân có một cột cờ cao. Chúng tôi hay chơi đuổi nhau và đặc biệt hay chơi khăng ở sân này. Một lần, do vô tình, bạn Đỗ Bình đánh con khăng nhỏ vào mắt bạn Việt Trung, chảy cả máu. Cô An là y sĩ của trại, lại là mẹ bạn Việt Trung, thấy Việt Trung cứ nhắm tịt mắt lại, bèn hỏi :”Con có trông thấy mẹ không ?”. Việt Trung lắc đầu, làm cô vừa khóc vừa nói :”Ôi, thế là hỏng mắt con tôi rồi !”. Chiều hôm đó, xe ô tô của trại đưa gấp cô An và Việt Trung về Hà Nội.

Độ một tuần sau thì cả trại cũng rời Cao Bằng về Hà Nội. Chúng tôi hân hoan đón chào tin này. Mỗi người được phát một gói cơm nếp bọc trong giấy báo, một miếng thịt kho để ăn dọc đường. Nước uống thì lấy đầy vào bi-đông. Chúng tôi đâu có biết, nguyên nhân là vì sau ngày 2/9, trại vẫn treo lá cờ đỏ sao vàng trên cột cờ, và một lần, máy bay Mỹ bay qua đã nhìn thấy. Nghe nói, sau khi chúng tôi đi khỏi Khâu Luông chừng hơn một tháng thì có máy bay bay lên tận Cao Bằng ném bom vào trại sơ tán của chúng tôi. Hú vía!

Sau này lớn lên, chúng tôi mới hiểu Bộ Tổng Tham mưu đã lo lắng cho cái đám trẻ con chúng tôi như thế nào. Bộ đã có kế hoạch chuẩn bị về xe cộ và xây dựng hẳn một cơ sở cho chúng tôi sơ tán trên đất bạn Trung Quốc, đề phòng biệt kích nhảy dù.
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 24.12.2005    Tiêu đề: Làng Hạ Lôi Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Làng Hạ Lôi

Địa điểm sơ tán tiếp theo là làng Hạ Lôi, huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc.

Xe ca đưa chúng tôi đến một cái sân gạch rộng, bên cạnh một nhà thờ Thiên chúa giáo có gác chuông cao vút và nhọn hoắt, có dãy tường cao bao bọc trông thật thâm nghiêm. Một số bạn nữ được ở tạm nhà bảy gian, xã cho mượn, còn thì chú Khuông phân công từng nhóm 5-6 người (các nhóm anh chị em ruột) về ở nhờ nhà dân.

Trước đó, chúng tôi được phổ biến kỹ “Kỷ luật dân vận”, và truyền thống của quân đội “Đi dân nhớ, ở dân thương”. Cho nên, vào ở trong nhà là chúng tôi tự giác quét nhà, lấy quà bánh chia cho các em nhỏ, giúp đỡ gia đình các công việc vặt như cuốc đất, trồng cải, bón phân, phơi thóc... Bấy giờ, chúng tôi mới được làm quen với các dụng cụ hay dùng ở “nhà quê” như : cái nong, cái nia, cái mai đào đất, cái vồ đập đất, cái tràng gỗ cào thóc... Ở Hà Nội làm gì có những thứ đó ! Chúng tôi mới biết đến cây điền thanh, một thứ cây bà con nông dân trồng dùng làm phân xanh. Nhưng chúng tôi mê nhất cây này ở chỗ thân của nó nhẹ như bấc, có thể làm các mô hình máy bay Mích 17, Mích 19 tuyệt đẹp. Cũng vì cái cây điền thanh này mà một bạn nữ tên là Thành bị trêu là “Ê, Thành điên, điền thanh”.

Đầu làng, cạnh đền thờ Hai Bà Trưng có một lò rèn nhỏ của hai-ba bố con. Những lúc ăn cơm tập thể xong, chúng tôi thường nhẩn nha ngồi xem họ quay bễ than, rèn những dụng cụ liềm, hái, dao to, dao nhỏ...

Chúng tôi phải mượn nhà dân làm lớp học. Thày giáo lớp 2 của chúng tôi là thày Túc. Thày cũng đi Cao Bằng, nhưng hồi đó là “chú Túc”, còn bây giờ là “thày Túc”. Thày da trắng, mắt hơi to, tính nghiêm nghị. Thày hay mắng các bạn nào viết chữ xấu, bôi bẩn sách vở, hoặc chậm hiểu bài... , làm cho các bạn đó đã bối rối càng bối rối thêm. Trong các môn học có môn thủ công. Chúng tôi tập đan vỉ ruồi, rổ rá bằng tre và làm mũ che nắng bằng bẹ ngô. Những bài học thủ công đó thật hữu ích vì bao giờ cũng có “sản phẩm thực tế” luôn.

Làng này trồng xương rồng khắp nơi. Sau này, có người nhìn nhận cây xương rồng như là một loài cây cảnh, tôi thầm nghĩ :”Ồ, cây xương rồng thì có cái gì mà gọi là đẹp !”. Hầu như nhà nào cũng nuôi chó. Thỉnh thoảng, nhà bếp lại làm món thịt chó kho (rựa mận) ăn với bún. Buổi tối, sang nhà nhau chơi, bao giờ chúng tôi cũng phải gọi cửa trước, để gia đình nạt chó xong, mới dám vào. Chúng tôi còn bé nên cũng có bạn nghịch dại, trêu chó, bị chó cắn, phải tiêm 21 phát vào rốn, sờ vào nổi cục to tướng như bị rốn lồi, đau quá, khóc rưng rức.

Phụ trách Trung tâm y tế là cô An. Hồi đó, bệnh ghẻ lan truyền nhanh trong chúng tôi. Cô An, cô Nhâm, chú Ổn cùng các cô bảo mẫu khác phải đun nước lá xoan, tổ chức các buổi tắm riêng cho các “đối tượng” bị ghẻ. Các bạn bị ghẻ hay trốn tắm, vì xát lá xoan vào người rất xót. Quần áo thì đem luộc nước sôi sùng sục. Tắm xong, ai cũng phải bôi thuốc trị ghẻ. Đó là một thứ thuốc màu vàng vàng, sực nức mùi lưu huỳnh. Chẳng cần vén áo kiểm tra, chỉ cần “đánh hơi” là biết ngay người đứng trước mặt mình có bị ghẻ hay không. Tôi đã hơn một lần được mục kích con ghẻ, chả có gì đặc biệt!. Lấy kim băng gẩy khéo léo ở chính giữa nốt ghẻ là thấy ngay một con vật bé tí màu trắng ngọ nguậy ở mũi kim băng. Các bạn nữ thì hàng tuần bị “triệu tập” đi gội đầu nước bồ kết. Nghe phong thanh là hồi ấy “chị em” lắm chấy lắm. Nói chung, công việc của cô An không hề nhẹ nhàng, vì một số bạn còn bị mụn nhọt, chín mé, sứt chân sứt tay vì nghịch dao, hay sứt đầu gối vì can tội đá bóng trên sân gạch...

Một “đặc sản” nữa của Hạ Lôi là cái món kể chuyện tình báo của chú Khuông. Thực ra, từ hồi ở Cao Bằng, chú Khuông đã kể rồi, song hình như hồi ấy mới là “giai đoạn thử nghiệm” thì phải. Chú thường dịch truyện tình báo từ sách Nga. Chúng tôi nghe say sưa các câu chuyện ly kỳ về : Nam tước Phôn Gôn-rinh, Chiếc khuy đồng, Mùa xuân trên sông En-bơ... Có những đoạn, chú phải kể đi kể lại nhiều lần vì đơn giản, tối hôm trước có một nhóm nào đó chưa được nghe. Nếu hôm nào chú Khuông đã hẹn là tối nay sẽ kể chuyện thì thế nào lũ chúng tôi cũng chuẩn bị học bài làm bài từ chiều, ngoan ngoãn chấp hành mọi yêu cầu của chú đề ra, ví như, nếu chú hỏi bạn trai nào đó tại sao chưa cắt tóc, thì thế nào trước 7 giờ tối cậu ta cũng bị lôi ra cắt tóc, kể cả không muốn.

Tối sáng trăng (chú hay kể chuyện vào những tối này, để tiết kiệm dầu thắp đèn), đứa thì lo xuống bếp đun nước sôi, đứa thì săng xái quét lại cái sân gạch, đứa trải chiếu, đứa kiếm quạt nan. Sau một hồi í ới gọi các nhà khác đến, chúng tôi yên lặng ngồi chờ. Chú Khuông ngồi khoanh chân bằng tròn trên chiếu, từ tốn nhấp một ngụm chè đường trong chiếc ca sắt mậu dịch tráng men có nắp đậy, dùng ngón tay chỉnh chỉnh lại quyển sách tiếng Nga dày cộp để bên cạnh, ngẩng đầu lên đưa mắt nhìn một lượt, rồi hỏi :”Hôm nọ, kể đến đoạn nào rồi nhỉ ?”. Bọn chúng tôi ồn lên như ong vỡ tổ, vì mỗi đứa mỗi ý khác nhau. Chú hạ giọng :”Thôi được, hôm nay chú sẽ kể chuyện Chiếc khuy đồng... Năm một nghìn chín trăm bốn mươi ba, Hồng quân Liên Xô tấn công...”.

Cả sân im phăng phắc, đứa nào đứa nấy há hốc mồm nghe. Có hôm, bác chủ nhà lễ mễ bưng từ dưới bếp lên một đĩa khoai lang luộc còn bốc khói nghi ngút, mời chú Khuông “bồi dưỡng sức khoẻ”, chú lại chia hết cho lũ chúng tôi. Thèm đấy, nhưng lũ chúng tôi đâu có bụng dạ nào mà ăn ! Khoảng 10 giờ đêm, chú Khuông liếc nhìn đồng hồ đeo tay và nói: ”Thôi, tất cả về ngủ, mai chú kể tiếp”. Cả lũ xuýt xoa tiếc rẻ, nhưng vẫn phải nghiêm chỉnh tuân thủ mệnh lệnh của chú.

Công bằng mà nói, chú Khuông là một trong những chú phụ trách Trại sơ tán được các bạn nhớ tới nhiều nhất.
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Khac_Cuong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 875
Đến từ: Thanh pho Ho Chi Minh

Bài gửigửi: 24.12.2005    Tiêu đề: Thời sơ tán (đã bổ sung) Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Bravo anh Hồng!
Tôi hay nghĩ tại sao cái thời sơ tán quá hay như thế mà gần như rất ít có mặt trong văn học.
Gần đâymới thấy có một cuốn theo kiểu nhật ký của Thân Trọng Kinh, nhưng đấy là thời sơ tán dưới con mắt của người lớn. Còn thời sơ tán dưới con mắt của trẻ thơ như tôi nó lãng mạn lắm. Anh Hồng còn đi theo trại, sống bọn trẻ HN với nhau. Tôi đi theo cơ quan bố, mẹ. Sống nhờ nhà dân, cùng học với trẻ con nông thôn. Gia đình tự kiếm củi nấu ăn, tự trồng rau. Nghĩa là chỉ khác người nông dân là không phải làm ruộng, gạo do nhà nước cấp (anh em sẽ cười là khác cơ bản quá!). Tuy nhiên vì mình là trẻ con nên cũng đi chăn trâu, lội ruộng, tắm sông, cùng học, cùng sinh hoạt đội, cùng đu ô tô... cùng tập gánh, tập xay lúa. Tôi chỉ học 3 tháng vỡ lòng ở HN, còn sau đó cho đến hết cấp 1 là sơ tán. Hết hè cấp 1, lúc bố tôi lên bắt về (gia đình đã về trước) tôi còn xin được "ở lại với ông bà chủ, hè về với bố mẹ". Trăng ở nông thôn thì thôi rồi!
Hồi SV ở Hung, anh vulong rất hay trêu tôi là mãi cấp 2 mới lên HN. Ý nói mình không được xếp vào dân"Sinh ra và lớn lên ở HN".
Có một bài thơ về thời sơ tán. Rất hay nhưng chắc ít người biết.
Lứa anh em minh mà tập trung lại có khi viết được một cuốn sách đầy kỷ niệm hay về thời sơ tán. Xuất bản khối người mua. Anh Hồng thấy sao?

( bài thơ này một người bạn chép cho tôi, không nhớ tên tác giả)

TẠM BIỆT MỘT VÙNG QUÊ SƠ TÁN

Mai cha sẽ đưa con về phố
Đêm cuối nhà dân sao khó ngủ
Trăm nỗi nhớ đầy lên, vô hạn vô hồi
Nhớ cái giếng sau nhà, kéo nước chai tay
Lối ngõ nhỏ sớm mai tiếng bà con ra ruộng
nhớ mùa đông trên cánh đồng rạ sớm
nhớ mùa hè thóc chật các sân kho
Gió chuyển mùa gió thổi cuối bờ tre
tiếng kẽo kẹt nhiều đêm thao thức lạ
Cây ớt, cây chanh, cái rơm, cái rạ
đêm nằm, năm ở dễ quên sao
Năm tháng nhiều cơ cực gian lao
nhiều mất mát hy sinh cũng nhiều thương mến lắm
đồng bào nào cũng quê hương, làng xóm
đi đến đâu cũng như trở về nhà
Con lớn lên cùng cây mít, cây na
làng sơ tán con tập men tập bước
Mai khôn lớn bao chặng đường con vượt
bước năm đầu, năm ấy ở nơi đây

Đói ngủ mấy ngàn đêm vẫn muốn thức đêm nay
Muốn thức lại đêm nay những tháng ngày không ngủ
Con đường xóc xe đi, ngọn đèn gầm mờ tỏ
Ôi cái thời cha muốn kể con nghe
Cánh rừng đêm chi chít sao khuya
Những ước vọng cũng như bầu trời 18 tuổi
Ba ngàn đêm chiến tranh, những ước vọng ngỡ lòng không nén nổi

Mai con về, về lại phố nhà ta
Phố nát bom sẽ lại dựng thêm nhà
Con lại học nơi trường cao ngói mới
Khâm Thiên đó đôi hàng cây gió thổi
Thành phố rồi chói lọi sáng cao thêm
Nhưng con ơi, đừng quên nhé bao đêm
Người Hà nội ra sân quay nhìn về Hà nội
những đêm ấy, đời người không một ai quên nổi
Cha nghĩ về dãy phố mẹ con đi
Bê 52 tiếng rít xé trời khuya
Những nhà máy sang ca, ngọn đèn đường vẫn sáng
Bệnh viện bị trúng bom, bệnh nhân đi sơ tán
Hà nội toả muôn nơi, Hà nội hướng về mình

Suốt mùa đông làng sơ tán bớt xanh
Suốt mùa rét cánh đồng quê nẻ trắng
Bếp dầu hỏa cháy xanh, mái trường tranh lợp tạm
nuôi cho con ăn học nên người
Đêm đã khuya tiếng xay lúa ngõ ngoài
tiếng kẽo kẹt bao đời thương cảm quá
Bát cơm xới trên tay giữa ngày mùa vất vả
Tiếng bom rền trống giục dọc đê sông
Bao nhiêu cuộc tiễn đưa bao bà mẹ chờ mong
Bao nỗi nhớ nén vào im lặng
Cắn răng lại để làm nên chiến thắng
giặc tan rồi bỗng nghe mặn trên môi
Bia nghĩa trang thấp thoáng cỏ ven đồi
mầu khen đỏ đi qua các em vào lớp học
Trang sách mở ngày mai khi học về đầt nước
Năm tháng này cha muốn nhắc con nghe

Đêm nay cha nằm lắng tiếng còi xe
tiếng còi dẫn đi xa tiếng còi về Hà nội
Bao xúc động trào dâng ngỡ lòng không nén nổi
Ôm con vào cha giữ giữa lòng cha


Được sửa chữa bởi Khac_Cuong ngày 26.12.2005, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Yahoo Messenger
HoangLinh
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Dec 10, 2005
Bài gửi: 55

Bài gửigửi: 25.12.2005    Tiêu đề: Re: Thời sơ tán Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Khac_Cuong đã viết:
Bravo anh Hồng!
Tôi hay nghĩ tại sao cái thời sơ tán quá hay như thế mà gần như rất ít có mặt trong văn học.
Gần đâymới thấy có một cuốn theo kiểu nhật ký của Thân Trọng Kinh, nhưng đấy là thời sơ tán dưới con mắt của người lớn. Còn thời sơ tán dưới con mắt của trẻ thơ như tôi nó lãng mạn lắm.Lứa anh em minh mà tập trung lại có khi viết được một cuốn sách đầy kỷ niệm hay về thời sơ tán. Xuất bản khối người mua. Anh Hồng thấy sao?


Các anh, thời sơ tán của bọn em, chắc kém các anh cả giáp!

Tuy nhiên, cũng có những kỷ niệm hay, có lần em đã viết ra đây.

Gửi các anh coi cho vui!

L.

=============

KỶ NIỆM ĐẦU ĐỜI

"Gia đình mình đi sơ tán chưa em
Chiều thứ bảy em có về phố nhỏ
Có ngập ngừng trước khi gõ cửa
Lá sấu rơi xúc động bên thềm
"
("Dòng chữ cho em", Thanh Thảo)

*

Năm ngoái, nhân dịp 25 năm ngày kết thúc cuộc chiến Việt Nam, một tờ báo nọ có đề nghị tôi viết vài dòng cảm tưởng: vào NGÀY ĐÓ, NĂM NÀY, tôi ở đâu, làm gì, có ấn tượng gì đặc biệt v.v...? Nhận lời, tôi đã ngồi vào bàn và viết một mạch như bị ma ám; mấy dòng đầu là một kỷ niệm khó quên của tôi:

"Tôi không có ý niệm gì lắm về những năm sơ tán và chạy tàu bay Mỹ, ngoại trừ một vài hình ảnh nhạt nhòa: tiếng còi báo động rú ngày đêm; giọng nói trầm bổng, đầy xúc cảm của người phát thanh viên Đài Tiếng nói Việt Nam qua chiếc tờ-ran-di-tô cổ lỗ sĩ; chiếc hầm trú ẩn tối tăm, ẩm ướt ở ngay trong vườn nhà; cô bạn gái nhí nhảnh, thân thiết trên một miền thượng du Bắc Việt; những buổi tối rủ nhau đi bắt đom đóm làm đèn; những trò chơi tinh nghịch, trong đó có một trò rất bẩn thỉu là - xin lỗi quý độc giả! - hai đứa rủ nhau cùng đi ị ngoài cánh vườn rộng mênh mông của gia đình cô bé..."

Gần một năm trôi qua. Đêm nay, không sao ngủ được, tôi bần thần lần giở mấy cuốn nhật ký ra đọc. Hồi xưa, ông ngoại tôi có cả thảy 4 đứa cháu nội ngoại và khi chúng còn nhỏ, ông tôi đã viết nhật ký cho cả 4 cháu. Tự nhiên, tôi tìm được đoạn này, trong cuốn ông viết cho cô em gái tôi:

"2/12/1973.

Hôm nay anh Hoàng Linh viết bức thư đầu tiên cho chị Hạnh. Ông ghi lại nội dung vì bức thư này là bức thư anh tập viết đầu tiên. Thư nói:

"Hạnh thân mến,

Linh vừa nhận được thư của Hạnh. Linh mừng lắm. Bao giờ Hạnh về chơi với Linh. Chúc Hạnh học giỏi và nhận lời thi đua với Hạnh.

Hoàng Linh
"

*

Hạnh, chính là cô bé hồi nào mà tôi đã làm quen khi cả gia đình tôi lên sơ tán ở Thái Nguyên, thời "đế quốc Mỹ leo thang mang bom ra tàn phá miền Bắc xã hội chủ nghĩa" (đây là cách nói dạo ấy). Hồi đó, nhà tôi ở đối diện với nhà Hạnh. Bố của Hạnh, ông Đường, về sau dẫn một cánh quân vào tấn công Sài Gòn. Ông còn tiếc mãi là trong chiến dịch 1975, đoàn quân của ông chỉ "chậm chân" một chút, chứ không, lẽ ra chính ông phải là người đưa quân vào giải phóng Sài Gòn. Do lỡ dịp đó, nên ông chỉ dừng lại ở cấp đại tá, không được lên tướng.

Tôi và Hạnh thân nhau lắm. Có cái gì cũng chia nhau. Nhất là nhà Hạnh lại có nhiều trái cây và những món xôi, chè... rất ngon do bà Huệ, me. Hạnh, thường nấu. Có một bận, nhà Hạnh còn bắt được một con kỳ đà khá to, bá Huệ (tôi gọi như thế) nấu cháo đãi mọi người, ai nấy vừa ăn vừa tấm tắc khen "đúng là ngọt hơn thịt gà!", nhưng tôi sợ không dám nếm vì trước đó đã trông thấy cảnh con kỳ đà bị nhốt trong một cái rọ tre, hơi hãi.

Quấn nhau cả ngày chưa đủ, cứ tối tối, 2 đứa lại rủ nhau ra vườn chơi ú tim hay trốn tìm với lũ trẻ con hàng xóm. Vào những đêm tối trời, cái vườn rộng thênh thang nhà Hạnh quả là đầy bí ẩn dưới ánh sáng nhờ nhờ, lập lờ của hàng vạn con đom đóm bay tứ phía. Nhiều khi, đang chạy như ma đuổi, thoáng nhìn bóng thằng bù nhìn rơm cứ tưởng là ai đang đứng giơ tay, cả bọn lại thét lên vì giật mình, nhưng vẫn thích và chả đứa nào bỏ cuộc cả. Chẳng hiểu sao mà hồi đó 2 đứa tôi không biết sợ là gì: có bận, khi trời đã tối om, bọn tôi còn chui vào một cái miếu ngay dưới một gốc cây đa đại thụ, nơi mà mọi người bảo là có một con xà tinh cai quản. Bằng chứng là thức ăn mà dân tình mang đến cúng vào ban ngày, cứ qua một đêm là hết sạch. Thế là đêm hôm ấy, 2 đứa lò mò rủ nhau vào xem có rắn thật không. Cũng hồi hộp lắm, đứa nào đứa nấy trống ngực đậm thình thình, nhưng rốt cục thất vọng vì chả có gì cả!

Còn cái trò rủ nhau đi ị trong vườn cũng là chuyện thực 100%. Tất nhiên là không đến nỗi ngồi ngay cạnh nhau - dạo đó bọn tôi ít nhiều cũng đã biết ngượng rồi -, thường là mỗi đứa chọn một gốc cây, cốt sao để khỏi thấy mặt đứa kia là được rồi. Cái kỳ quái ở đây là mỗi lần "hành sự" xong, lập tức mấy con chó to đùng nhà Hạnh lại vù ngay đến giải quyết "hậu quả chiến tranh". Bây giờ có kể ra, chắc bọn trẻ chả tin...

Chúng tôi còn những dịp cùng nhau đi tắm và vầy nước ở con suốt cách nhà chừng 100 mét. Suốt hẹp thôi, có lẽ chỉ vài thước, nhưng dài lắm (tôi chưa bao giờ đi đến ngọn nguồn của nó cả) và cũng có những lúc nước chảy khá xiết. Những trò nghịch ngợm, đi lại chơi bời ngang suối thì Hạnh bạo dạn (và can đảm) hơn tôi nhiều: lắm khi, Hạnh phải giơ tay cho tôi bám, hoặc kéo, tôi mới dám đi theo. Có lần, người ta đồn là phát hiện ra dấu vết biệt kích "ngụy" ở đâu đó. Mấy con chó lập tức được huy động đi đánh hơi và dân trong làng nhào đi mọi ngả kiếm tìm. Loài chó tinh thật: chỉ cần cho nó ngửi hơi tí chút, là cứ thế chúng chạy dọc theo suốt, đến tận đầu nguồn thì phát hiện ra một bộ quần áo kẻ nào bỏ lại. Nhưng cũng không biết là có phải biệt kích thật không vì bọn tôi trẻ con, theo đuôi người lớn một đoạn thì bị đuổi về nhà, và cũng chỉ được nghe kể đến thế.

Chinh chiến ở đâu không biết, nhưng vùng Thái Nguyên thật thanh bình. Thỉnh thoảng lắm mới nghe tiếng máy bay, nhưng không ầm ĩ như ở Hà Nội; chắc bọn Mẽo cũng không định rải thảm miền rừng núi ấy. Vào những ngày cuối cùng, loa phóng thanh đưa tin tình hình chiến sự đã tạm yên, bà con Hà Nội lên sơ tán có thể trở về. Nhưng tôi (và cả Hạnh) chỉ muốn cứ chiến tranh tiếp đi, để 2 đứa được tiếp tục chơi với nhau! Ngày chia tay, tôi còn nhớ ông tôi bật cái đài bán dẫn - hồi đó quí hơn vàng! - và bài hát "Việt Nam, trên đường chúng ta đi" vang lên rất hùng tráng. Ai nấy hồ hởi sắp xếp đồ đạc chuẩn bị lên đường. Riêng tôi và Hạnh, đã khóc hết nước mắt!

Sau khi về Hà Nội, tôi và Hạnh không bao giờ có dịp gặp nhau nữa. Ông Đường, bố của Hạnh, mỗi lần đi công tác, thỉnh thoảng có ghé nhà tôi chơi, nhưng cái khoảng cách Hà Nội - Thái Nguyên dường như quá xa xăm vào thời đó nên 2 gia đình cũng chẳng có ý dinh cả nhà lên thăm nhau. Thời gian sau, hầu như tôi không được biết chút gì về Hạnh.

Cho đến tận năm 1985. Tôi đã học gần xong ngoại ngữ ở trường Thanh Xuân và rậm rịch cho chuyến đi Hung thì bố Hạnh - lúc đó đã về hưu - có lên Hà Nội chơi và đến thăm nhà tôi. Ông cho biết Hạnh đã qua Tiệp (không nhớ là làm gì, chắc là đi lao động) và phàn nàn: "Con bé bây giờ ăn chơi lắm, lúc nào cũng xà phòng, nước hoa thơm nức, lại còn guốc cao nữa chứ. Ăn mặc thì phong phanh. Rõ chướng mắt!" Dịp ấy, tôi đang hào hứng với cái ý nghĩ sắp được thoát khỏi gia đình, bay nhảy bốn phương trời, nên nào có để ý mấy đến lời ông Đường. Và dường như cũng quên khuấy đi cô bạn thân thiết thuở trước!

Thời gian trôi qua. Tôi đã viết hàng ngàn, hàng vạn lá thư, nhưng bây giờ ngồi nghĩ lại, chắc không có lá nào giản dị và trong sáng như lá thư đầu đời ấy. Cho đến đêm qua, đọc lại những trang nhật ký. Một thời thơ ấu, một vùng trời quá khứ lại ùa về, mát rượi và tinh khôi! Bỗng dưng, tôi có cảm giác như chẳng có gì đổi thay dù bao năm đã trôi qua, tôi vẫn là một cậu bé lên bốn, dắt tay một cô bé cùng tuổi (Hạnh hơn tôi vài tháng) lang thang dạo bước trong cánh rừng thưa lúc nào cũng râm ran tiếng côn trùng và cây cỏ (hồi ấy, bọn tôi có cảm giác như cỏ cây hoa lá cũng biết thở, biết trò chuyện)...

Khi đọc bài viết về ngày 30-4 của tôi, anh Trần Hoài Thư, một nhà văn sống ở Mỹ đã khuyến khích tôi viết lại những kỷ niệm thời thơ dại trên vùng thượng du Bắc Việt, mà anh ấy cho là chắc hẳn phải "tuyệt đẹp". Chả hiểu vì sao, dạo đó tôi đã không viết. Để giờ đây, trong một đêm trằn trọc, tôi có dịp lan man với các bạn về một cái gì đã trôi qua và không bao giờ trở lại.

Nhưng những kỷ niệm long lanh thì vẫn còn, vĩnh viễn, không phai mờ!

09.02.2001
(HL)
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 26.12.2005    Tiêu đề: Làng Thanh Phần Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Không ngờ một đề tài bé nhỏ lại được hai bạn Khac_Cuong va HoangLinh đồng tình tán thưởng. Về đề nghị của Khac_Cuong, tôi đã thấy có người làm và "rủ rê" tôi, tuy nhiên, mình có ghi chép cái gì đấy thì hầu như chỉ là VLC, chưa "dám" có ý nghĩ là xuất bản hay viết sách, vì như thế, bị sức ép tâm lý nặng nề lắm.

Thực ra, chúng tôi được "thụ hưởng" những hai đợt sơ tán: sơ tán thời 1965 và 1972. Đợt 1972, có dịp, tôi sẽ xin "khai báo" với các bạn. Đợt 1965, là do hưởng ứng sự khơi mào của các anh em trên diễn đàn nhân dịp 22-12.


Làng Thanh Phần

Tôi cũng không rõ vì sao chúng tôi lại chuyển địa điểm sơ tán về huyện Phúc Thọ, Hà Tây. Chỉ biết lớp 3 và lớp 4 chúng tôi học ở làng Thanh Phần (có người nhớ là Thành Phần). Đầu làng có một cái giếng rất to xây bằng đá ong, nước không trong lắm, thả bèo hoa dâu. Giếng hình tròn, đường kính giếng dễ phải tới 8-9 mét. Gần giếng có một cây gạo hoa đỏ rực, đầu mùa hè chim chào mào hay về ăn hoa gạo. Trại sơ tán dựng nhà ở, nhà ăn, bếp và lớp học trên mảnh đất đầu làng, phía bên ngoài luỹ tre. Một số bạn vẫn ở nhờ nhà dân. Nhà ở chúng tôi vách liếp, lợp lá, nền đất. Giường là những tấm phản kê trên mễ.

Cạnh nhà ăn có một mảnh đất rộng, chúng tôi cải tạo thành vườn rau. Mùa hè trồng rau muống, mùa rét trồng su hào, rau cải. Phải đi lấy nước phân lợn về hoà với nước giải để tưới rau. Mấy bạn trai còn “sáng kiến” đi hót phân trâu về ủ trong hố nước giải để tăng “chất bổ” cho rau. Đi chơi đâu, nếu thấy bãi phân trâu thì phải nhanh tay cắm một cành lá vào đó để xí phần.

Hè đến, chúng tôi hay ra đầm sen (chỉ có lác đác sen) ngụp lặn mò trai, hay ra con sông đào xúc hến về cải thiện. Chúng tôi học bắt cua ngoài đồng. Ai cũng đen nhẻm, nhưng vui. Có lần, thò tay nhầm vào hang rắn, sợ chết khiếp. Chúng tôi bắt cả châu chấu, cào cào, lươn, trạch, chão chuộc, đi hôi cá, đi cất vó, đi câu tôm ở giếng làng, đi bắn chim sâu, chim sẻ, chim chào mào về ăn. Có lần còn đi bắn cả cò. Chẳng phải đói ăn, mà chỉ vì sống ở trong một cái làng đồng quê Bắc bộ, những “trò” ấy quá bình thường.

Trại có nuôi gà và lợn để tận dụng thức ăn thừa. Có lần, bác Tám mắng mấy cậu đang bốc cháy ăn :”Chúng mày không để phần lợn với à?”. Hồi cô Nguyệt về thay cô An làm y sĩ, thỉnh thoảng chúng tôi được ăn mì thanh Ba-lan luộc, chan nước thịt gà, cứ gọi là sướng như tiên. Sau này, cô Nguyệt không liên hệ xin được mì Ba-lan nữa, chúng tôi phải tự cán lấy mì sợi. Khác với hồi ở Cao Bằng, hồi này chúng tôi ăn độn bột mì, thỉnh thoảng mới ăn ngô bung, hoặc bánh đúc ngô cho bữa sáng.
*
* *
Các thày các cô dạy chúng tôi là : thày Kền, thày Hán, cô Hiểu, sau thêm cô Dậu, cô Mai, thày Thọ. Chú Khuông phụ trách lớp dưới, đóng bên Minh Nghĩa, phía bên kia đường nhựa. Ban đầu, các lớp học đều trực thuộc Phòng giáo dục huyện, về sau có quyết định thành lập Trường 15 (tên đầy đủ là Trường phổ thông cấp 1 số 15, còn gọi theo phiên hiệu trong quân đội là trường T-15), trên mới cử thày Thọ về làm Hiệu trưởng. Chính thày là người sáng tác bài Trường ca 15. Tôi còn nhớ một đoạn :

Trường chúng ta từ bốn phương trời,
Về đây vui cùng chung sống
Về đây hát khúc ca vang kết đoàn...

Mười lăm ! Đây trường ta yêu mến,
Mười lăm ! Đây trường ta yêu quý...


Thày Thọ về trường hình như hồi chúng tôi lên lớp 4. Thày vui tính nhưng nghiêm khắc, có lẽ thày là đảng viên. Thày đưa cả “cô giáo” lên ở tại trường. Hồi ấy, thày cô sắp có em bé (sau đặt tên là Quốc Quân thì phải). Thày Hán dong dỏng trăng trắng, cô Hiểu người thấp, trán cao, da nâu, tóc dài chấm gối, dạy lớp trên.

Thày Kền dạy lớp chúng tôi. Tên đầy đủ của thày là Trần Hùng Kền, nhưng thày ghi trong quyển sổ chép bài hát là Trần Hải Anh. Người thày thấp đậm, ngực nở, bụng thon, đùi dế, miệng rộng, hay cười, mắt sáng, nói chuyện có duyên, dễ mến, có má lúm đồng tiền, phải nói là đẹp trai. Thày có một tấm ảnh “màu”, tức là ảnh chân dung trắng đen cỡ 3x4, nhưng thợ ảnh dùng màu mè bôi lên cho đẹp. Mà đẹp thật. Quân hàm hạ sĩ màu đỏ chói, áo bộ đội xanh tươi như tàu lá chuối, má phơn phớt hồng trông như văn công, ngôi sao vàng gắn trên mũ. Thày mê ca hát, thường không bỏ sót một buổi Dạy hát nào trên đài, lúc 1 giờ rưỡi chiều chủ nhật. Thày chăm chú ghi lại nốt nhạc (chắc thày có được học ký xướng âm), lời bài hát, cẩn thận học thuộc bài hát đó và tối đến dạy lại cho chúng tôi. Những bài như: Phi đội ta xuất kích, Về đây với đường tàu, Nổi trống lên rừng núi ơi, Người Châu Yên bắn máy bay, Cô gái vót chông... là chúng tôi học ở thày. Một kỷ niệm khó quên là trong khi đọc nhạc bài hát, có lần cô phát thanh viên đọc: la đen gạch nhịp, bị chúng tôi biến tướng thành Lương đen gạch nhịp, để trêu bạn Võ Hiền Lương.

Trước cửa nhà ở của nam có mảnh đất trống. Thày bỏ mấy ngày nghỉ hì hục làm cho chúng tôi một chiếc xà đơn bằng tre và vầu, chúng tôi đua nhau tập co tay kéo xà, ke bụng. Thày làm cả tạ để tập hàng ngày. Thày Kền còn dạy cho chúng tôi bơi vì sợ có ngày chúng tôi đi chơi sa xuống ao hồ. Hôm ấy, thày bắt tất cả con trai quần đùi áo may ô (xin lỗi, cởi trần) ra con sông đào. Chúng tôi xếp hàng ngang, dọc theo con sông. Thày Kền cũng cởi trần trùng trục, nói dõng dạc :

- Hôm nay, chúng ta học bơi. Tôi nói trước, khi xuống nước, nếu “anh” nào mà bám lấy tôi thì tôi sẽ đánh cho ngất đi rồi mới cứu. Nhớ chưa ? Thôi, bắt đầu !

Thày tóm lấy một bạn to khoẻ nhất, cầm chân cầm tay như tóm một con ếch và vứt tùm xuống sông. Anh bạn tội nghiệp kia lóp nga lóp ngóp được vài phút thì bắt đầu chới với. Thày nhảy ùm xuống sông, bơi rất dũng mãnh lại gần và tóm tóc lôi vào bờ. Thày hỏi:”Đã uống nước chưa?”. Anh bạn, bụng có vẻ phinh phính, thiểu não đáp: ”Dạ...rồi...rồi ạ”. Thày quay sang đám chúng tôi, từ nãy đến giờ vẫn đứng nghiêm bên bờ sông mục kích “bài học bơi” và đanh giọng :
- Người tiếp theo !

Mặt chúng tôi xanh hết cả lại.

Ấy thế mà rồi chúng tôi cũng biết bơi cả, chẳng có ai chết đuối, ngoại trừ một lần “suýt”. Lần ấy là vào dịp hè, nhiều bạn đã về nghỉ hè, cuối tháng tám mới phải lên, nhưng cũng có bạn do gia đình neo người nên cho lên trại sớm. Bạn Đức Thành là một bạn như vậy. Mẹ bạn khá chiều chuộng nên một lần, tôi nhớ là bạn giận mẹ vì đã không mang đường hay sữa gì đó lên (mà bạn đã viết thư dặn mẹ rồi), liền xông ra con mương bao quanh sân kho hợp tác để... tự tử. Đức Thành bơi khá, con mương chỉ nông... có đến rốn, nên Đức Thành phải mặt cúi xuống, ngụp hẳn đầu xuống mương, mãi mà không chết đuối, vì cứ khi nào ngạt thở, bạn ấy lại ngẩng đầu lên, gào ầm ầm:”Ôi, có người chết đuối !”. Đâm ra, tự tử không thành. Chúng tôi được một phen cười tưởng vỡ cả bụng.

Nhờ biết bơi mà có lần bạn Liêm thoát hiểm. Hôm ấy, đi hái trộm khế ở gần bờ ao, cành khế gãy, Liêm tự bơi được vào bờ bên kia. Ở bờ bên này, chú chó dữ tợn của chủ nhà cứ lồng lộn sủa ầm ĩ.

Trong các chuyện về thày Kền thì chuyện thày bị mất đạn là ấn tượng nhất. Tôi quên nói là hồi đó các thày được phát súng (CKC hay AK gì đó), nhưng không thấy các thày bắn máy bay bao giờ. Một dạo, quan hệ giữa thày Kền và lũ chúng tôi có vẻ căng thẳng hơn bình thường. Lý do là chúng tôi quá quắt hơn trước, nghịch ngợm hơn trước, thậm chí vô kỷ luật hơn trước, có dấu hiệu “nổi loạn”. Cho nên thày cũng có phần nghiêm khắc hơn. Hôm ấy, có lẽ bạn trai nào đó đã ăn cắp đạn của thày. Buổi chiều, sau khi phát hiện ra đã bị mất hai viên đạn, thày lập tức xuống khu nhà ở của chúng tôi và gầm lên, quyết tìm ra thủ phạm. Một số bạn đi học bài trên lớp hay đi chơi vắng, thày bắt mọi người đi tìm về. Đến 5 rưỡi, thày thổi còi ra lệnh tập hợp trước sân và cảnh cáo những ai không chịu ra “đầu thú” sẽ phải chịu những hình thức kỷ luật nặng nề. Chúng tôi vẫn đứng nghiêm trên sân, không nhúc nhích. Thày liền về nhà bỏ quần áo ngoài, chỉ mặc độc quần đùi áo lót, đi bít tất, mang giày ba ta, lắp thêm lưỡi lê vào đầu khẩu súng và bỏ mặc chúng tôi đứng như trời trồng ngoài sân. Thày sục lưỡi lê trần vào trong từng gầm giường của chúng tôi và liên tục bảo: ”Ra ngay, ra ngay!”, làm chúng tôi ớn lạnh. Sau đó thày còn sục cả lưỡi lê vào hầm trú ẩn cạnh nhà. May mà chẳng có ai nấp ở đấy. Thực ra thì có mấy bạn đang nấp trên mái nhà (cả bạn phạm lỗi và bạn không phạm lỗi), nằm im thin thít, không ai dám xuống vì thấy thày đang nóng quá. Cuối cùng, chúng tôi phải chịu hình phạt đứng ở sân thay cho người khác, đến 10 giờ 30 mới được đi ngủ. Hai hôm sau, hình như bạn nào đó đã lén trả lại hai viên đạn về vị trí ban đầu của nó.

Mãi sau này, khi chúng tôi trưởng thành, học xong đại học thì mới biết tin. Năm 1969, trường 15 giải thể, thày Kền tình nguyện xung phong đi chiến đấu ở chiến trường B (chiến trường miền Nam), được phân về binh chủng xe tăng. Nghe nói mùa xuân 1975, xe tăng của thày bị trúng cả một quả đạn chống tăng. Chúng tôi lặng người đi và ân hận mãi về những điều dại dột đã làm.
*
* *
Nhớ về trường 15, chúng tôi cũng hay nhắc tới bác Thiết. Phần vì bác là mẹ bạn Mạnh Hà, nhưng chủ yếu là vì bác đã gắn bó với chúng tôi suốt từ hồi ở Cao Bằng. Bác phụ trách việc tắm rửa cho lũ chúng tôi, cả trai lẫn gái. Ngoài ra, bác hay giúp nhà bếp cọ rửa xoong nồi, đĩa chảo.

Trời mùa đông, bác đun một thùng nước nóng và đổ ra một chiếc chậu lớn. Nếu không bắt được “bọn con trai”, thì bác sẽ thuyết phục “bọn con gái” tắm trước. Khi đi tắm, mỗi người phải tự chuẩn bị áo quần để thay và khăn lau. Khi bác Thiết hô tên đứa nào thì đứa đó phải nhanh chóng cởi quần áo ra, chui vào buồng tắm. Nhiều bạn ngượng nên bị bác “mắng” cho sát sạt :”Ôi, cứ làm như của báu lắm ấy ! Cởi ra !”. Gặp phải ai lười tắm nhiều ghét, bác sát xà phòng đến nơi đến chốn, sau đó vừa kỳ vừa dội nước cho, lại vừa nói oang oang như là kể chuyện, làm kẻ đó chỉ muốn chui xuống đất. Một lần, đến phiên “bọn con gái” tắm, chúng tôi ngồi trong nhà cười khúc khích vì nghe thấy bác tiếng đang “bình luận” về các bạn gái cùng lớp của mình :”Gớm, mấy đứa con gái chúng mày, chẳng có đứa nào trắng bằng cái mông thằng Sơn Hà!”. (Xin lỗi Sơn Hà). Bác Thiết được các bà mẹ tin cẩn gửi tiền nhờ mua hộ trứng gà, trứng vịt bồi dưỡng thêm cho các cháu. Bác chậm rãi đeo mục kỉnh, lập danh sách những người được ăn thêm trứng và cẩn thận lấy bút chì đánh dấu trứng của từng người, sợ lẫn. Đến hôm luộc trứng, bác lại “réo” danh sách để những người sắp tẩm bổ ở tư thế sẵn sàng.

Bác là người lo cho chúng tôi giấc ngủ trưa ngủ tối, khâu vá, đơm khuy cho lũ chúng tôi. Nếu ai đó trong chúng tôi bị ốm, thì cô An (sau là cô Nguyệt) là người phát thuốc khám bệnh, còn bác Thiết là người lo nấu cháo thịt và dỗ dành. Bạn Đăng Thảo kiêng ăn thịt bò, bác biết vậy nên mỗi lần nhà bếp liên hoan món thịt bò, bác lại nhắc nhà bếp nấu một suất ăn riêng cho bạn Thảo.

Có một dạo, cô Mai, mẹ bạn Đỗ Bình cũng “rửa ráy” cho lũ chúng tôi, cả trai lẫn gái. Nhưng vì cô phục vụ lớp dưới nhiều hơn, nên kỷ niệm về cô không sâu đậm như những kỷ niệm về bác Thiết.

*
* *
Cô An là y sĩ của trường 15, nhưng đôi khi cô đóng luôn cả vai trò cô giáo, vì cô thường lên lớp cho chúng tôi môn ngoại khoá: y học thường thức và vệ sinh công cộng. Học đi đôi với hành ngay tắp lự. Cô đốc thúc chúng tôi quét tước nhà cửa, vun rác, đốt rác, mở chiến dịch phun thuốc DDT diệt ruồi muỗi. Đích thân cô đi kiểm tra nhà tắm, nhà xí, nhà ăn. Chỗ nào chưa sạch là mất điểm thi đua như chơi. Chiều thứ ba hàng tuần, cả lớp tập trung dưới lũy tre ngay trước phòng y tế, cô An mặc áo bờ-lu trắng, cầm quyển vở đứng trước bảng đen và dạy chúng tôi. Cô soạn giáo án nghiêm túc, không đùa được. Chữ cô tròn, đẹp, rõ ràng, không thể đánh đồng với “chữ bác sĩ”. Môn học này Bộ giáo dục không quy định, nhưng cô đề nghị với nhà trường cứ xếp lịch để cô dạy, có lẽ vì cô coi chúng tôi như đang ở trong một đơn vị quân đội. Nhờ thế, chưa bao giờ xảy ra dịch bệnh gì trong trường.

Cô Nguyệt về thay cô An đi học bác sĩ. Cô là mẹ bạn Quang Minh. Cô trông trẻ hơn cô An và không nghiêm bằng cô An, nhưng cũng là người rất trách nhiệm. Cô kiểm tra dụng cụ nhà bếp kỹ lưỡng, từ con dao thái thịt đến từng cái chậu nhôm đựng cơm. Chiều thứ bảy nào, nhà bếp cũng đun một thùng nước nóng to để nhúng bát đũa và các dụng cụ nấu ăn. Sau này, chúng tôi đi sơ tán lần hai (năm 1972), mới thấy “trường 15 mình” thật sạch sẽ, vì ở chỗ khác, có ai làm cẩn thận như vậy đâu. Những lúc rỗi việc, cô Nguyệt lại xắn tay xuống bếp cùng nặn bánh bao, giã cua, nhặt hến... với bác Tám, cô Nhâm. Những hôm trời mưa, đường làng bê bết bùn, cô hay đi đôi ủng cao su màu đỏ. Đến nỗi bây giờ nhớ lại, tôi cứ luôn hình dung cô đang đi ủng trước mặt tôi vậy.
*
* *
Những tháng ngày ở Thanh Phần đã giúp chúng tôi có những hiểu biết cực kỳ bổ ích về cuộc sống nông thôn. Làng có nhiều loại hoa quả: ổi, bưởi, doi, na, khế... thông thường, nhưng quả chay chẳng hạn, tôi tin là bây giờ không có nhiều người thành phố biết đến. Có nhiều con vật: trâu bò, gà vịt, ngan ngỗng... nhưng mấy ai đã “được” ngỗng đuổi, cắn cho tím bầm, thậm chí chảy máu như chúng tôi. Rồi những con cào cào to bằng quả chuối tây, con dế trũi đầu to bằng ngón tay cái, chắc bây giờ chỉ còn trên sách vở. Chúng tôi được tận mắt xem đâm trâu (thực ra là mổ thịt trâu, vì con trâu ấy bị “lòi dom”), thui chó bằng rơm, bẫy chim sẻ bằng lưới, cảnh chăn vịt đàn, bắt cá rô rạch từ đồng lên bãi cỏ, câu cá chuối trong những buổi mưa giăng màn, dùng phi tiêu đâm cá mè; được thưởng thức những món ăn dân dã : châu chấu rang, cá rô bọc đất sét nướng, khoai lang mật, thịt ếch xào chuối xanh, cá kho sung...; được ăn chung nồi cơm gạo mới với người nông dân, gặt từ ngoài đồng về; được ngắm thoả thích vầng trăng sáng trên sân kho hợp tác mênh mông... ; được biết thế nào là rét căm căm, khoác áo tơi ra đồng, trên tay là ống bơ nhỏ đựng mấy cục than củi đỏ rực làm lò sưởi; được trải qua nỗi hân hoan vô bờ bến khi “hôi” được con cá to, hay câu được con tôm trong suốt bám vào thành giếng làng, mồm con tôm chỉ ngậm mồi chứ không hề cắn.

Ham chơi như vậy nhưng chúng tôi học ra trò. Các kỳ thi học sinh giỏi văn toán cấp huyện, trường 15 đều có đại diện tham gia và đoạt giải cao. Năm lớp 4, chúng tôi có hai bạn được đi thi cấp tỉnh. Thày Kền mượn chiếc xe thồ của bác Bẩm, đèo cả hai bạn (mỗi bạn ngồi một sọt) và một bao gạo lên Hát Môn tập trung ôn và thi tại đó. Tiếc rằng, hai bạn không giành được giải rút gì, vì tiếng là thi học sinh giỏi tỉnh Hà Tây, nhưng các “đối thủ” đều là người Hà Nội sơ tán.

Nếu ai đó hỏi chúng tôi, những ngày bom đạn đó chúng tôi có sợ không thì xin thưa, có sợ. Nhưng nỗi lo sợ chỉ thoảng qua những khi máy bay “Thần sấm”, “Con ma” gầm rít trên trời. Còn khi báo yên rồi thì lại tiếp nối một chuỗi đời học sinh rong chơi, có vẻ hơi vô tư lự, nhưng đầy khao khát khám phá những điều kỳ lạ của cuộc sống. Cũng như hỏi chúng tôi có nhớ bố mẹ không, thì phải nói là có. Nhưng cũng lại phải nói một cách công bằng là chúng tôi không có thì giờ để ngồi nhớ nhung, buồn bã, uỷ mị, mà chúng tôi – những đứa trẻ hiếu động – rủ nhau đi tìm hiểu và tiếp xúc với thế giới xung quanh chúng tôi, đó là cái làng Thanh Phần. Đến chủ nhật, nếu bố mẹ lên thì thật là hạnh phúc, còn nếu không, chúng tôi cũng không tỏ ra buồn bã một cách cực đoan. Phần vì chúng tôi quen với điều đó rồi, phần vì chúng tôi cũng “có chỗ để mà đi chơi”.

Tư tưởng khám phá xung quanh cũng một phần do ảnh hưởng của các cuốn sách có trong thư viện trường, như : Chú người gỗ, Cuộc phiêu lưu của Ca-rích và Va-li-a, Đảo giấu vàng, Rô-bin-sơn Crút-xô, Hai vạn dặm dưới đáy biển, Du hành trong tiểu vũ trụ... mà các thày cô khuyến khích chúng tôi đọc.
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
nquan
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 1361
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 26.12.2005    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Bác Phan Hồng ơi em cũng muốn viết lắm nhưng cuối năm bận quá không có thời gian , đọc bài của các bác đã muốn tham gia lvì cũng có một thời như vậy mà. Tuy không nhớ được nhiều chi tiết như bác Phan Hồng nhưng cảm xúc thì còn nguyên. Bác yên tâm chắc còn nhiều người tham gia. Đề tài này cũng hay.
_________________


Được sửa chữa bởi nquan ngày 26.12.2005, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 26.12.2005    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Ngày rộng tháng dài, cứ tà tà mà "nhớ lại và suy nghĩ", Quân ạ.

Về đề tài "Anh Hoàng Sơn", hay "Ảnh Hoàng Sơn" cũng vậy, mình nghĩ là chắc Quân sẽ có nhiều "tản mạn" hay.

PhanHong
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Khac_Cuong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 875
Đến từ: Thanh pho Ho Chi Minh

Bài gửigửi: 26.12.2005    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Bài thơ " Tạm biệt một vùng quê sơ tán" tôi đã chép lại ở trên. Mong các anh ghé xem và nếu ai biết tên tác giả thì báo cho anh em. Có người nói với tôi là của Vũ Quần Phương?
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Yahoo Messenger
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Những bài viết gợi về ký ức một thời Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang 1, 2, 3 ... 18, 19, 20  Trang kế
Trang 1 trong tổng số 20 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser