vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - HUNGARY THÁNG 6/2015
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

HUNGARY THÁNG 6/2015
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 9, 10, 11, 12  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Những bài viết gợi về ký ức một thời
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 07.07.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÂU CHUYỆN VỀ NHỮNG HỌC VIÊN QUÂN SỰ TẠI HUNG-GA-RI (tiếp theo 16)

VIỆN NĂNG LƯỢNG HẠT NHÂN QUÂN ĐỘI

XÊ-MI-NA “TRÒ CHƠI ĐUỔI BẮT”

Anh Hành khuyên khích mấy anh em chúng tôi tham dự các xê-mi-na ở cả những cơ sở nghiên cứu khoa học khác, đặc biệt là Viện Toán học. Do có anh Đỗ Bá Khang học trên 3 năm, anh Nguyễn Minh Tuấn học trên 1 năm và các bạn Lợi, Sự học dưới 1 năm (bên dân sự) tốt nghiệp chuyên ngành Toán, khoa Khoa học Tự nhiên, Đại học Tổng hợp Bu-đa-pét (TTK ELTE) đều đã xin vào Viện Toán học (gọi tắt là Viện Toán), nên tôi thỉnh thoảng qua bên đó gặp gỡ anh em, nhân thể tham dự xê-mi-na.

Tuy nhiên, tôi không tham gia xê-mi-na cùng với những "người quen", mà tham gia xê-mi-na “Trò chơi đuổi bắt” của anh Phan Huy Khải, Phó tiến sĩ về Phương trình vi phân ở Đại học Tổng hợp Ba-cu về. Anh rất nổi tiếng với vai trò dạy học sinh ôn thi đại học. Lớp của anh dạy, học sinh phải thi đầu vào, đạt anh mới nhận. Mà muốn đạt, không phải dễ, vì bài anh ra khá hiểm hóc. Nói chung, học sinh giỏi toán cấp tỉnh may ra mới lọt lớp dạy thêm của anh. Chính vì vậy, học sinh của anh luôn là những thí sinh có năng lực, kết quả thi cao, thừa điểm đi nước ngoài. Kiến thức toán sơ cấp của anh Phan Huy Khải sâu và rộng tới mức, anh có thể giải cực nhanh các bài toán thi Ô-lem-pích Toán quốc tế (IMO) hoặc có bài anh chưa giải ra ngay, nhưng anh dự đoán đúng phương hướng giải bài toán đó.

Anh Khải kiếm được một quyển sách của một tác giả Nga viết về đề tài “Những hệ động lực tham gia trò chơi đuổi bắt”, mà theo anh nhận xét là “cực kỳ thú vị”. Hồi đó, chưa phổ biến máy photocopy, nên chúng tôi chủ yếu đi nghe anh trình bày, mỗi tuần một bài. Đại ý, giống như trong bộ phim hoạt hình “Hãy đợi đấy !” của Liên Xô, có hai đối tượng đuổi-bắt nhau. Một bên ra sức chạy, một bên ra sức đuổi, mỗi bên sở hữu một “hệ động lực”, tức là (hệ) phương trình vi phân biểu diễn khả năng chạy trốn (hay đuổi bắt) của mình. Cần thêm giả thiết là vận tốc của kẻ đuổi bắt lớn hơn vận tốc của kẻ chạy trốn, nếu không, xua Thỏ đi bắt Chó sói thì có mà đến mùa quýt, trò chơi cũng không bao giờ kết thúc.

Người giải bài toán, nếu đứng về phía Chó sói, thì cần chỉ ra chiến thuật chạy của Chó sói thế nào, để sau một thời gian hữu hạn, tóm cổ được Thỏ. Ngược lại, nếu đứng về phía Thỏ, thì cần chỉ ra chiến thuật chạy loằng ngoằng loanh quanh của Thỏ, để sau một thời gian cố định cho trước, Chó sói vẫn chưa đụng đến một sợi lông chân của Thỏ, và sẽ phải bỏ cuộc, vì Thỏ sẽ chui tọt vào hang, hay có Thợ săn đến cứu chẳng hạn. Lời giải của các bài toán này khá “đẹp”, khi biểu diễn bằng đồ thị trên mặt phẳng.

Nói chung, nếu đừng gọi là Chó sói và Thỏ, mà gọi là Tên lửa và Máy bay, thì bài toán trên đã mang màu sắc quân sự.

Có thể thay Chó sói bằng Chó săn. Khi đó, bài toán lại phát triển theo xu hướng: một đàn Chó săn đuổi bắt một con Thỏ. Người giải bài toán cần đề ra một chiến thuật “đuổi” bằng cách có sự phối hợp của các chú Chó săn để tóm Thỏ nhanh nhất (con chặn đầu, con chặn đuôi…). Và bài toán phức tạp hơn nữa là: một đàn Chó săn đuổi bắt một đàn Thỏ. Rồi từ mô hình “Tên lửa – Máy bay”, ngừoi ta xét thêm bài toán “Phi đội máy bay ta – Máy bay địch”. Trên máy bay ta lại có máy thu phát thông tin liên hệ với trung tâm ở mặt đất. Do vậy mà người ta xét bài toán “không có sự trao đổi thông tin với nhau” hay “có sự trao đổi thông tin với nhau”. Chúng tôi duy trì xê-mi-na này trong một thời gian khá dài. Anh Khải nói đùa: đấy, các cậu thấy chưa, chúng ta đuổi mãi, mà đã bắt được cái gì đâu !


TRƯỜNG HỌC MÙA HÈ

Viện Khoa học Việt Nam là nơi quy tụ của nhiều nhà khoa học đi tu nghiệp ở nước ngoài về, nên phương pháp tổ chức nghiên cứu khoa học của nước ngoài cũng được “nhập khẩu” vào Việt Nam.

Tôi nhớ, năm đó, Viện Toán ra thông báo sẽ kết hợp với trường Đại học kỹ thuật quân sự tổ chức “Trường học mùa hè” ở Tam Đảo, đối tượng tham gia mở rộng, miễn là tự chịu kinh phí. Tôi hay qua Viện Toán dự xê-mi-na nên biết thông tin này. Khi về, tôi kể lại cho anh Hành nghe. Anh Hành bảo “Hay quá” và giao tôi sang Văn phòng Viện Toán lấy giấy mời đem về. Anh Hành cầm giấy mời lên gặp anh Phát trình bày. Mặc dù hồi đó, kinh phí của Viện 481 ít ỏi, vì còn nhiều việc phải chi tiêu, và số tiền phải đóng để tham dự “Trường học mùa hè” khá cao (đâu như mỗi người phải nộp 600 ngàn đồng), do phải thuê trọn gói ăn nghỉ khách sạn trên đó, nhưng anh Phát vẫn bấm bụng đồng ý cho anh Hành và tôi tham gia (các anh NCN và HMG đang bận công tác trong Sài Gòn). Anh Hành bảo, anh dự kiến sẽ gửi một bài báo về thuật toán gờ-ra-đi-iêng liên hợp cho Ban tổ chức.

Đây là hình thức kết hợp hội thảo, gặp gỡ, giao lưu với nghỉ ngơi. Tổng cộng, khoảng trên dưới 40 người. Bên Viện Toán và Đại học Kỹ thuật quân sự, không phải ai cũng được tham dự, nên khi biết tôi có suất đi, nhiều anh em đồng trang lứa nhìn tôi với con mắt ghen tỵ, bảo, cậu sướng thế. Về chương trình làm việc, tôi nhớ, buổi sáng tất cả lên hội trường nghe các tham luận, chiều chỉ làm việc nửa buổi, sau đó đi tham quan, leo núi, đi dạo quanh quanh hay bơi lội.



Trường hè Tam Đảo (7-1983).

Chủ đề năm ấy là “Giải tích lồi và Lý thuyết điều khiển”. Về mặt chuyên môn, ông Hoàng Tụy, Viện trưởng Viện Toán, và anh Phan Quốc Khánh, Tổ trưởng tổ Toán (Đại học Kỹ thuật quân sự), đồng chủ trì. Ông Tụy hồi ấy khoái món quy hoạch lõm (xuất phát điểm là từ quy hoạch lồi), còn anh Khánh trình bày một thành tựu mới nhất của Kha-chi-yan để kết luận “một cách toán học”, là độ phức tạp của thuật toán e-lip-xô-ít “tốt hơn” so với thuật toán đơn hình khi giải bài toán quy hoạch tuyến tính.

Điều oái ăm là, lý thuyết quy hoạch tuyến tính thì do một nhà toán học Nga tên là Can-tô-rô-vích xây dựng và phát triển (nhờ đó, ông đoạt giải Nô-ben về kinh tế), còn thuật toán đơn hình lại do Đan-dích, một người Mỹ đề xuất (nhờ đó, ông cũng nhận giải Nô-ben cùng Can-tô-rô-vích).

Một điều oái ăm nữa là, tuy thuật toán đơn hình rất thông dụng để giải các bài toán quy hoạch tuyến tính, tuy nhiên, như hai ông Kơ-li và Min-ti đã chỉ ra, trong trường hợp “đụng” phải bài toán quy hoạch tuyến tính “xấu xí nhất”, thời gian thực hiện thuật toán đơn hình sẽ vô cùng lớn (tăng theo cấp số mũ, so với số lượng các biến số), có nghĩa là, dù huy động trên toàn thế giới bao nhiêu máy tính điện tử tân tiến đến đâu đi chăng nữa, cũng không thể giải xong cái bài toán “xấu xí” ấy bằng thuật toán đơn hình.

Năm 1970, nhà toán học Shor đề xuất một thuật toán, gọi là thuật toán e-lip-xô-ít. Sau đó, đến năm 1976, thuật toán này được hai nhà toán học Nga là Yudin và Nemirovski phát triển thêm, cho phép giải được nhiều lớp bài toán “khó” bằng máy tính điện tử. Song chẳng có ai bận tâm thử dùng thuật toán này để giải các bài toán quy hoạch tuyến tính, có lẽ vì đã quá quen với thuật toán đơn hình.

Năm 1979, Kha-chi-yan - một nhà toán học Liên Xô - đã thành công trong việc áp dụng thuật toán e-lip-xô-ít để giải bài toán quy hoạch tuyến tính và cho biết, dù gặp bài toán quy hoạch tuyến tính “xấu xí nhất”, thuật toán e-lip-xô-ít cũng không ngán. Tuy nhiên, bài báo của Kha-chi-yan đăng trong tập Báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, do bị hạn chế số trang (không được dài quá 4 trang), nên đã không chứa phần chứng minh chi tiết. Dù vậy, bài báo vẫn gây chấn động thế giới và trở thành chất xúc tác cho sự chào đời của các công trình toán học khác. Năm 1981, hai nhà toán học Hung-ga-ri đã công bố bài báo của mình (bằng tiếng Anh), với phần chứng minh chi tiết (khác với chứng minh của Kha-chi-yan), rằng, xét về lý thuyết, dùng máy tính điện tử, áp dụng thuật toán e-lip-xô-ít, có thể giải bất kỳ bài toán quy hoạch tuyến tính nào.

Khi giải bài toán quy hoạch tuyến tính “xấu xí nhất” bằng thuật toán e-lip-xô-ít theo cách của Kha-chi-yan, người ta thấy nó lao vun vút, nhanh hơn nhiều so với áp dụng thuật toán đơn hình của Đan-dích. Song điều trớ trêu là, khi giải những bài toán quy hoạch tuyến tính “đời thường nhất”, thuật toán e-lip-xô-ít (theo cách của Kha-chi-yan) lại tỏ ra quá lề mề chậm chạp, trong khi, thuật toán đơn hình “truyền thống” lại tỏ ra nổi trội. Vấn đề là ở chỗ, trong đời sống, người ta chả mấy khi phải đối diện với cái bài toán “xấu xí nhất” kia. Do đó, cứ yên tâm mà sử dụng thuật toán đơn hình của Đan-dích như xưa nay vẫn làm đi !

Thập kỷ 1960-1980, ở phe xã hội chủ nghĩa, nhất là ở Liên Xô và Đông Âu, thuật toán đơn hình gần như là thuật toán duy nhất được sử dụng để lập kế hoạch phát triển kinh tế của một nhà máy, xí nghiệp, một ngành, thậm chí một quốc gia. Việt Nam cũng không thoát ra cái vòng kim cô ấy. Nhưng rồi, như Kornai János – một nhà kinh tế Hung-ga-ri về sau sang Mỹ được phong giáo sư Đại học Ha-vớt – đã chỉ ra, mô hình toán học của bài toán lập kế hoạch phát triển kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa “theo kiểu Can-tô-rô-vích” - không ổn định, vì nó chứa đựng quá nhiều yếu tố nhạy cảm, dễ bị tổn thương, dễ bị vi phạm, do chủ ý nhân nhượng của người lãnh đạo. Một lần, lúc chưa sang Mỹ, ông đã dám “hỗn láo” cãi nhau tay đôi với Can-tô-rô-vích về vấn đề này.

Ngoài ra, trong “Trường học mùa hè” ở Tam Đảo năm ấy, một nhóm các anh ở Viện Toán trình bày những tìm tòi, nghiên cứu xung quanh lý thuyết điểm bất động. Ý nghĩa thực tiễn của lý thuyết điểm bất động là nó chỉ ra phương pháp, cũng như xây dựng hẳn thuật toán cụ thể để giải những lớp bài toán khá rộng.

Cả ông Hoàng Tụy và anh Phan Quốc Khánh đều là họ hàng xa với ông ngoại tôi, ở vùng Gò Nổi, Điện Bàn (Quảng Nam), nhưng trong thời gian đó, tôi không “làm thủ tục” nhận họ nhận hàng. Đợt này, anh Hành cho thằng con trai học lớp 6 của anh đi cùng, tôi thường chơi với nó.

Ở Tam Đảo lần ấy, chúng tôi được chứng kiến cảnh sét đánh kinh hoàng mỗi ngày vào lúc sẩm tối. Mây đen tự dưng ở đâu bỗng ùn ùn kéo đến thung lũng, khiến trời đất tối sầm. Mấy cô nhân viên phục vụ la hét inh ỏi: Tắt đèn đi! Tắt hết đèn đi! Đề nghị tắt hết đèn đi! . Chúng tôi lao ra bảng công tắc điện tắt hết đèn nê-ông, kể cả đèn ngoài hành lang. Thế mà khi các tia sét từ trên trời đánh loằng ngoằng xuống đất, ngoài sân sáng chói như ánh trăng đêm rằm, tiếng sấm sét đinh tai nhức óc, toàn bộ các bóng đèn nê-ông đồng loạt vụt lóe lên rồi tắt ngấm, như có sự điều khiển của một bàn tay vô hình. Tiếng cô nhân viên phục vụ ban nãy than thở: Thôi, thế là cháy hết bóng nê-ông rồi ! Có ba bốn hôm mà phải cháy tới hơn trăm bóng đèn nê-ông. Cảnh tang thương này, tôi chưa được chứng kiến lần thứ hai trong đời.


SINH HOẠT ĐOÀN

Tôi về Viện 481 được hơn một tháng thì chi đoàn thanh niên họp, để mọi người cùng bàn thảo xem sẽ cùng nhau sinh hoạt như thế nào. Vì lúc đó, một số anh em đọc sách cẩm nang của Man-trúc còn ngắc ngứ, nên chúng tôi quyết định sẽ tổ chức mỗi tuần một buổi “câu lạc bộ hội thoại tiếng Nga” tại cơ quan và mời những anh đi Nga về dìu dắt cho cả bọn. Kinh nghiệm này thừa kế cách làm của bác Đặng Quốc Bảo đối với những “đại đội đi Tây” trên Vĩnh Yên.

Mọi người tham gia rất rôm rả, vì có anh Thắng từ bé đã học phổ thông và sau đó học tiếp đại học bên Liên Xô (ông bố anh làm Tham tán thương mại Đại sứ quán thì phải), nên nếu xét về trình độ tiếng Nga, thì lũ chúng tôi lếu láo liệt anh vào loại “có thể tán gái Nga được”; lại có nhiều “chiến tướng” như các anh: NCN, Ng.N.Tr, LAT, NQB, TQ, ĐQT… tốt nghiệp đại học hoặc làm nghiên cứu sinh bên đó về, nên chả thiếu “thầy”. Qua học tập hội thoại, tình anh em đồng chí, đồng nghiệp gắn bó hơn. Từ buổi học thứ hai, anh Thắng lấy chiếc hộp phấn đặt ra giữa bàn và tuyên bố (bằng tiếng Việt) đại ý, ai lỡ nói tiếng Việt, không chịu nói tiếng Nga, thì cứ tự động bỏ tiền vào cái hộp này, khi nào hộp đầy, sẽ liên hoan chung cả phòng. Nhờ thế, trình độ tiếng Nga của chúng tôi được nâng lên trông thấy. Song điều quan trọng hơn là, mọi người không còn e dè, sợ sệt nữa, mà có phần hăng hái.



Chụp ảnh kỷ niệm nhân dịp tổ chức lễ trưởng thành Đoàn.

*
* *
Hồi đó, chưa có ai “chịu” làm bí thư chi đoàn thì phải.

Một hôm, anh Nguyễn Tiến Nguyên gọi tôi ra chỗ anh ngồi, nói, anh có việc cần trao đổi. Anh nói đại ý, đã đọc lý lịch Đoàn viên của tôi, biết tôi chưa làm bí thư chi đoàn bao giờ, nhưng do chi bộ và cá nhân anh tin tưởng, nên có ý nhắm tôi vào vị trí ấy. Tôi được phép suy nghĩ trong 3 ngày và trả lời anh vào sáng thứ hai tuần sau. Bản thân tôi không ham hố chức vụ lắm, nhưng nghĩ, sinh hoạt chi đoàn ở đây cũng vui vẻ, có cái quái gì đâu, mình không làm bí thư, thì cũng sẽ có một ai đó làm, chưa chừng, nếu đề ra cái luật luân phiên nhau chức bí thư, thì cũng đến lượt mình phải làm, thoát thế nào được.

Sáng thứ hai, y hẹn, tôi gặp anh Nguyên và nói tôi nhận lời, nhưng theo đúng Điều lệ Đoàn thì phải có chuyện bầu cử Ban chấp hành chi đoàn trong Đại hội chi đoàn. Anh khen tôi, hóa ra, cậu cũng thuộc Điều lệ đấy nhỉ, còn chuyện bầu bán, cứ để bọn tớ, lo gì!. Sau đó thì mọi việc diễn ra như kịch bản định sẵn, tôi trở thành bí thư chi đoàn. Anh vẫn chưa “tha”, lại gọi tôi tới hỏi, thế Ban chấp hành chi đoàn các cậu định làm việc gì trước tiên. Tôi kể một lô xếch xông, nhưng anh gạt đi hết, bảo, việc đầu tiên là các cậu phải làm lễ trưởng thành Đoàn cho 5-6 anh đã trên 30 tuổi trong Phân viện, vì trong những anh đó, nhiều người đã có vợ con, phải lo toan nhiều việc, mà nếu ông nào chưa lấy vợ, thì phải để cho người ta có thời gian rảnh rỗi đi tìm vợ chứ. Chứ còn những việc như thúc đẩy nghiên cứu, công trình thanh niên, học ngoại ngữ, thể thao văn nghệ… thì là chuyện lâu dài, lui lại sau cũng chả chết ai.

Thế là tuần tới, sau khi thu Đoàn phí, chúng tôi tổ chức một buổi lễ trưởng thành Đoàn rất vui vẻ, ấm cúng, thân mật, có lạc rang, kẹo lạc, nước chè. Lại còn rủ nhau ra tận cầu Thăng Long mới khánh thành chụp ảnh chung nữa chứ.
*
* *
Sau năm đầu tiên tổ chức câu lạc bộ hội thoại tiếng Nga, đến năm sau, chúng tôi tổ chức câu lạc bộ hội thoại tiếng Anh, nhưng tât cả đoàn viên phải nỗ lực hơn rất nhiều, vì kiếm đâu ra các “thầy” tiếng Anh bây giờ. Tuy nhiên, chúng tôi thay đổi hình thức sinh hoạt, tức là mỗi người tự chọn một chủ đề ngữ pháp mà mình thấy thú vị, biên soạn lại cho cẩn thận, và lên trình bày cho anh chị em nghe. Được vài chục buổi, chi đoàn lại bắt buộc mỗi người tự chọn một chủ đề hội thoại mà mình thấy bổ ích, có thể chép các mẩu hội thoại từ đâu đó ra cũng được, rồi lên bảng trình bày cho toàn thể chi đoàn nghe.

Cách làm này có cái hay là ngoài nâng cao trình độ ngoại ngữ, còn nâng cao khả năng thuyết trình của từng người. Về thành phần tham dự, chúng tôi khuyến khích cả những bạn bên ngoài Viện 481 (có sự giới thiệu của một đoàn viên Phân viện vật lý, Viện 481). Tôi nhớ, có một bạn gái người gầy gầy, hơi rụt rè (tên Hạnh ?) công tác bên B-17 (Phân viện Vật lý Kỹ thuật) học ngành vật lý hạt nhân Đại học Tổng hợp Hà Nội cũng tham gia câu lạc bộ tiếng Anh của chúng tôi. Mãi về sau, chúng tôi mới biết, bạn là con gái nhà sử học Phan Huy Lê.

Năm sau nữa, chúng tôi vẫn tổ chức câu lạc bộ tiếng Anh, song dính dáng đến chuyên môn nhiều hơn là tiếng Anh trong đời sống. Một bạn đăng ký, mỗi buổi trình bày giải thích bằng tiếng Anh 20 từ chuyên ngành Vật lý lò (cả nói và viết); một bạn khác đăng ký, mỗi buổi trình bày giải thích bằng tiếng Anh 20 từ chuyên ngành Máy tính điện tử; bạn khác đăng ký mỗi buổi trình bày giải thích 20 thành ngữ, ngạn ngữ, tục ngữ, phương ngữ của người Anh (kiểu như mưa to thì gọi là “mưa chó mưa mèo”);… vân vân. Nói chung là tạo được không khí hào hứng.



Chi đoàn thanh niên Phân viện Vật lý viện 481 chụp ảnh tại chân cầu Thăng Long.

Một lần, chúng tôi đổi món, thông qua anh ĐQT, mời được nhà văn Vũ Tú Nam đến nói chuyện về văn học cho chi đoàn. Nhà văn Vũ Tú Nam khi đó giữ chức Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Chuyện này, tôi đã kể trên Diễn đàn, trong chủ đề “Vài cảm nghĩ về các nhà văn”.
*
* *
Chi đoàn thanh niên cũng tổ chức một số hoạt động thể thao văn nghệ.

Về văn nghệ thì chúng tôi “đuối” lắm, nên chúng tôi nghĩ ra cách tập hát một số bài “kinh điển” của Liên Xô, kiểu như “Chiều Mát-xcơ-va”, “Thời thanh niên sôi nổi”… Hát tiếng nước ngoài có cái hay là nếu hát sai, người nghe cũng dễ châm chước. Các chi đoàn khác có nhiều nữ, nên đương nhiên, phong trào văn nghệ của họ nổi hơn. Chúng tôi không giành được giải rút gì về văn nghệ.

Về thể thao, bên cạnh một số anh (do đã đi nước ngoài) chơi bóng đá khá tốt, thì một số anh học trong nước phải bắt đầu từ con số “O”. Do đó mà trong mấy trận đấu tập, các anh này dễ dàng bị đối phương lừa “qua háng” hay đảo người “làm động tác giả”, khiến các anh ngã dúi dụi. Nhưng chúng tôi quyết chí “lấy cần cù, bù thông minh”.

Hôm Phân viện Lý thi đấu với Phân viện Hóa, chúng tôi cố gắng hết sức, nên thủ hòa 2-2. Đến tiết mục đá phạt đền luân lưu, không ai dám bắt, vì bên Phân viện Hóa có mấy anh cao to, sút như búa bổ. Cuối cùng, mọi người đẩy tôi ra cầu môn. Từ bé, tôi chưa bắt bóng bao giờ, nhưng nghĩ đến danh dự của đội, tôi đành liều mình ra chịu trận. Thầm nghĩ, nó đá bóng trúng vào ngực, vào bụng, hay vào đầu, mình đều “toi” cả. Nhưng nó mà đá trúng “bộ hạ” (cái này nhiều người biết, chỉ tội không nói ra mồm thôi !) thì quả là oan gia (hồi đó tôi chưa lấy vợ).

Tôi đã xem nhiều trận bóng trên ti-vi rồi, nên nghĩ, trong cuộc đấu này, không phải đấu về trình độ, mà chủ yếu đấu về tâm lý. Ai vững tâm lý hơn sẽ chiến thắng. Thế là tự nhiên hết sợ hãi, lừ lừ tiến vào khung thành, vặn lưng kêu răng rắc mây cái, xoa hai bàn tay xuống đất, phủi phủi vỗ vỗ, mắt nhìn thẳng vào đối phương. Tôi cũng biết cái chiêu trò cũ rích “cứ đá thẳng vào giữa cầu môn, thủ thành lao ra bên phải bên trái, sẽ bị hụt bóng”. Thế nên, giả vờ dứ dứ làm như chuẩn bị nhảy ra hai bên, nhưng kỳ thực nghĩ trong đầu, sẽ đứng yên tại chỗ, bóng sệt thì dùng chân, bóng bổng thì dùng tay để phá bóng ra. Quả nhiên, tôi phá được 3 quả của đội bạn, giúp đội nhà giành thắng lợi.

Đội bóng đá Viện 481 thuộc loại "yếu toàn thân", nên trong những giải đấu tổ chức ở sân bóng của Viện Kỹ thuật quân sự, thường bị loại ngay từ đầu. Hồi ấy, cứ buổi chiều, mọi người lại xuýt xoa đứng xem đội bóng của B-10 (Phân viện Chiến tranh điện tử) luyện tập, đội hình trẻ đẹp, cao to đồng đều, quần áo rất diện. Thấp thoáng thấy bóng PC VK76 chạy trên hàng tiền đạo.

Về bóng bàn, trong Viện 481 không có bàn bóng để tập. Tôi thường tập ở Câu lạc bộ bóng bàn thành phố (hạng B), nên khi có giải thi đấu ở Viện 481, tôi thường ung dung hạ các đối thủ một cách dễ dàng. Tuy nhiên, hằng năm Viện Kỹ thuật quân sự tổ chức giải, thường mời các Viện nhỏ tham gia (gì thì cũng đã có hồi các Viện nhỏ là Phân viện của Viện Kỹ thuật quân sự cơ mà !). Tôi là người duy nhất của Viện 481 tham gia, nhưng thường là thua các cao thủ của Viện Kỹ thuật quân sự (anh Đăng). Tuy nhiên, có cái hay là sau đó, được quyền tập luyện tại Hội trường Viện Kỹ thuật quân sự để tranh giải của Tổng cục Kỹ thuật hay thi đấu giao hữu với các đơn vị khác. Như vậy là trong Viện Kỹ thuật quân sự cũng có bàn bóng bàn, nhưng chỉ dành cho đội tuyển tập luyện, "thường dân " không được bén mảng tới.

Ở Viện 481, phong trào chơi cờ vua khá sôi nổi, do các anh học Nga về hầu như đều biết chơi và thích chơi, và đặc biệt là, một số anh em sống trong khu tập thể độc thân hay luyện chiêu với nhau, mỗi khi rảnh rỗi. Buổi trưa ăn cơm xong, tôi thường rủ mấy anh học ở Nga về sang B-14 (Phân viện Điện tử), giao hữu vài ván với anh Phạm Hồng Quang VK72 cho đỡ buồn ngủ, và cũng là một cách học hỏi thêm, vì anh Quang chơi cờ vua theo phong cách khá ngẫu hứng, bay bướm, nhưng thỉnh thoảng cũng có những đột phá thú vị. Anh cũng hay vừa đánh vừa to tiếng phân tích các nước cờ "hộ" đối phương, kiểu như vẽ đường cho hươu, nai chạy... vào bẫy của mình.

Tôi nhớ, hôm thi đấu giải cá nhân toàn Viện 481 tổ chức tại Phùng, có hơn hai chục người đăng ký tham gia. Nhờ đọc dăm ba quyển sách cờ bằng tiếng Nga mua ở hiệu sách quốc tế trên phố Tràng Tiền, tôi biết sơ sơ dăm bảy thế khai cuộc, nên có thể bắt nạt được vài người mới tập chơi.

Và nhờ thêm may mắn, tôi lọt vào trận chung kết.

Đối thủ là anh NVĐ ở phòng Công nghệ, Phó tiến sĩ bên Nga về. Thấy bảo, anh đóng cửa luyện chiêu ghê lắm, hồi còn là sinh viên bên Nga, đã thi đấu và giành giải cấp trường. Tôi chưa đánh với anh ván nào, nhưng những người xung quanh xì xào, trình độ cờ của tôi thấp hơn anh NVĐ… một con mã, tức là anh sẵn sàng chấp tôi một con mã. Có anh còn nói bâng quơ, cốt cho tôi nghe thấy “Ôi dào, đằng nào cũng giải nhì, ai lại đi lấy trứng mà chọi với đá, chịu đầu hàng luôn cho nó khỏe”. Tôi không máu mê lắm. Vả lại, tôi nghĩ bụng, mình học bên Hung về, nếu có thua một cao thủ học bên Nga về, mà lại là Phó tiến sĩ, thì là chuyện quá hiển nhiên. Thắng mới lạ.

Trận chung kết bắt đầu.

Tôi thầm nghĩ, "ông này" chắc chắn đọc sách cờ nhiều, nên tôi có manh nha khai cuộc kiểu gì, “ông ấy” cũng sẽ bắt vở ngay. Đừng có mà múa rìu qua mắt thợ. Trong những trường hợp như thế này, các cụ đã dạy “Phải dùng vô chiêu, may ra mới thắng được hữu chiêu”. Nhưng muốn “vô chiêu”, cũng không dễ, vì đôi khi, người ta xuất quân theo thói quen. Quả nhiên, được độ chục nươc, tôi bị anh NVĐ “quây”, bắt sống con Hậu. Bên Phân viện Hóa, có người reo lên: “Thôi, xong rồi !”. Bên Phân viện Lý thì mấy anh nhìn tôi, thất vọng kinh khủng. là vì tôi đánh hớ đến mức, ngày thường, chả ai đi “ngớ ngẩn” như thế.

Anh NVĐ ngẩng đầu lên nhìn tôi, lấy ngón tay sửa sửa cái chốt ở gọng nằm giữa hai mắt kính cận. Tôi nhìn thẳng vào mắt anh và như thấy anh đang kiêu hãnh bảo tôi “Những ai biết chơi cờ đều hiểu, mới đi có vài nước đã bị bắt mất Hậu, thì chịu thua luôn đi, thích thì chơi ván khác”. Không hiểu sao, lúc ấy tôi chợt nghĩ, nói như vậy rất đúng, suy nghĩ như vậy rất đúng, đúng là chân lý, có ai dám bảo là sai, song, cách suy nghĩ “một chiều” ấy chính là cách suy nghĩ “hữu chiêu”. Mĩnh đang định “vô chiêu thắng hữu chiêu” cơ mà. Vậy, thế nào là vô chiêu đây ? À phải rồi. Vô chiêu chính là đừng nghĩ như thế nữa, đừng ép mình vào cái gọi là “chân lý rành rành” như thế nữa! Hãy chơi tiếp !

Tất cả những luồng suy nghĩ trên diễn ra cực kỳ nhanh, không đến 3 giây. Tôi mặt lạnh như tiền, bình thản chơi tiếp. Lúc này, tôi nhận thấy anh NVĐ hơi bối rối, tay run run, đôi mắt không còn tự tin như trước nữa, liên tục lau kính. Tôi quyết định “giã” đòn tâm lý. Mỗi khi anh đi xong, tôi đi luôn nước đi của mình và nhấn nút đồng hồ tính giờ đánh “phập”, làm như quyết đoán lắm. Cho dù tôi biết, nước đi của tôi chưa tối ưu lắm, nhưng tôi không hề luyến tiếc. Những chiêu này tỏ ra có tác dụng rõ rệt. Anh NVĐ, dù đang hơn quân hơn thế, nhưng vẫn canh cánh nỗi sợ mất quân, và anh lo nhất (như anh tâm sự sau này) là tôi đang giăng bẫy gì đây. Chả bẫy gì cũng thành bẫy. Anh luống cuống đi nhầm nươc, biếu không tôi con Hậu (luật chơi hôm đó cấm hoãn). Tiếp theo, anh “dính” nước nhảy mã chiếu tướng bắt xe của tôi. Chán đời quá, anh dùng bàn tay xóa luôn bàn cờ, chịu quy hàng.

Tôi không tỏ ra hí hửng, đắc thắng, vì tôi cảm nhận được “nỗi đau” của anh. Một năm sau, anh hỏi tôi trong quán nước chè, vì sao tôi không chịu thua anh sau khi mất Hậu, và tôi có giăng bẫy gì không, học theo sách nào. Tôi trình bày những suy nghĩ của tôi cho anh nghe và bảo, nếu đánh lại ván ấy, em chắc chắn thua anh. Anh không tin, cho là tôi nói thế để anh vui. Nhưng hoàn toàn không phải thế.

Anh đâu biết, sau trận “thư hùng” ấy vài hôm, anh BQH ở phòng Điện tử hạt nhân chèo kéo, nài nỉ, làm đủ cách rủ tôi lên phòng anh tỉ thí, dưới sự chứng kiến của đông người và thắng tôi hơn chục ván không gỡ. Mà anh BQH thì chỉ là “học trò” của anh NVĐ, đã thua anh NVĐ nhiều lần.


TĂNG GIA SẢN XUẤT

Ngoài công tác chuyên môn, sinh hoạt học thuật, sinh hoạt văn thể (văn hóa thể thao), ở Viện 481, thỉnh thoảng, chúng tôi cũng phải học Nghị quyết, học chính trị, nhưng hầu như học chung với anh em Viện Kỹ thuật quân sự trong Hội trường lớn, rồi tỏa về thảo luận ở tổ (chủ yếu uống nước chè và hô vang “nhất trí, nhất trí” những khi cần biểu quyết).

Nhưng vì Viện 481 có cơ sở pi-lốt trên Phùng, đất đai khá thoải mái, nên chúng tôi còn thêm tiết mục tăng gia sản xuất nữa.

Một hôm, anh Nguyên gọi tôi lên phổ biến chủ trương tăng gia sản xuất, góp phần làm ra của cải vật chất cho xã hội. Anh nói, các cậu về tính toán đi, trồng cây gì, chăn con gì, Công đoàn Phân viện sẽ cho các cậu vay một số tiền, sau một năm tăng gia sản xuất, các cậu hoàn lại cho Công đoàn Phân viện. Chúng tôi họp chi đoàn, thảo luận lan man, vì chẳng ai có kinh nghiệm trong chuyện này. Sau đó, mọi người quyết định lên thực địa xem xét đất cát thế nào rồi mới quyết định được là tăng gia cái gì. Bám theo xe ca đưa đón cán bộ công nhân viên Phân viện Hóa đi làm, chúng tôi tới Phùng. Đó là một kho đạn cũ của Tổng cục Kỹ thuật, vỏ đạn gỉ xếp thành đống. Tôi nghĩ bụng, chẳng may trong đó vẫn còn thuốc nổ thì nguy hiểm lắm.

Buổi trưa chúng tôi ra quán ăn bánh chưng, kết hợp trò chuyện với bà chủ quán, thì thấy, đất ở đây nông dân chuyên trồng ngô và mía. "Thường vụ" chi đoàn biểu quyết: trồng mía. Chúng tôi qua chợ lùng cây giống, được một ông giảng giải, lấy ngọn mía cắt ra từng khúc, vùi xuống đất, từ những cái chồi ở mắt, sẽ mọc lên cây con. Chúng tôi rẽ qua hàng phân bón và hỏi giá phân đạm bao nhiêu một cân, bón thúc cho mía thì bón những lúc nào,..v.v… Lại còn phải mua cuốc chim, cuốc bàn, xẻng to xẻng nhỏ, bình tưới, găng tay (để bốc phân đạm), dao phát, dụng cụ này nọ nữa chứ. Có bạn còn đề xuất mua vài cuộn dây thừng để buộc sản phẩm khi thu hoạch. Sau hôm đó, cả bọn lên một con số để báo cáo anh Nguyên. Anh Nguyên viết cho tôi mảnh giấy, qua Công đoàn lấy tiền.

Cầm tiền rồi, tôi vô cùng lo lắng, bèn ra hiệu sách Bờ Hồ, tìm một hồi không thấy, phải hỏi chị bán sách, quyển Kỹ thuật trồng mía các chị để ở ngăn tủ nào. Chị phải vào kho bên trong, tìm mãi mới ra một quyển đã bị bụi phủ mù mịt. Mua được quyển sách, tôi mừng hú, bật đèn đọc suốt cả đêm. Sáng mai, tôi mang sách đến chuyền tay cho anh chị em khác trong chi đoàn cùng đọc. Sức mạnh tập thể mà. Hóa ra, so với công việc tính toán thiết kế lò phản ứng hạt nhân, thì trồng mía cũng chả khó lắm.

Không phải bốc phét, ruộng mía của chi đoàn chúng tôi lên xanh mơn mởn, “đẹp mã” hơn những ruộng xung quanh của nông dân nhiều lần, ai đi ngang qua cũng khen nức nở. Nhưng giá có cô thanh nữ nào hỏi han, thì chúng tôi mới có cơ hội “xả” những “tri thức trồng mía” mà chúng tôi đã thu lượm được. Đằng này, chả có ma nào hé răng hỏi nửa lời.

Khi còn cách 3 tuần thu hoạch, chúng tôi động viên nhau đội nắng bón đợt phân đạm cuối cùng. Vừa bón vừa huýt sáo vang lừng, hẹn ngày chiến thắng.

Trước hôm thu hoạch, một đoàn viên hộc tốc đạp xe đến nhà tôi, báo tin, mồ hôi rơi lã chã: anh ơi, họ bảo, hôm qua có đứa nó vào ruộng mía chi đoàn mình, nó chặt hết một phần ba rồi.

Tôi rụng rời hết cả chân tay.

Chúng tôi cấp tốc huy động toàn thể Đoàn viên đi thu hoạch mía. Sau khi châu đầu bàn bạc, cả bọn quyết định thuê xe chở mía về Hà Nội bán lẻ chứ không bán buôn (hồi ấy, thị trấn Phùng chưa thuộc Hà Nội, vẫn còn thuộc Hà Tây). Mất một buổi chiều đàm đìa mồ hôi, bán hết xe mía, trả tiền thuê xe xong, ngồi bệt đít xuống đường đếm đống tiền nhàu nát nhét trong mấy cái túi áo bộ đội, chúng tôi hú hồn hú vía: ối giời ơi, vừa vặn hòa vốn.



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 20.07.2016, sửa lần 10
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 08.07.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÂU CHUYỆN VỀ NHỮNG HỌC VIÊN QUÂN SỰ TẠI HUNG-GA-RI (tiếp theo 16)

VIỆN NĂNG LƯỢNG HẠT NHÂN QUÂN ĐỘI

ĐI LẤY QUẶNG

Sau những đình đám ồn ào, một hôm, anh Nguyễn Tiến Nguyên gọi tôi lên và bảo, vừa qua, chi bộ đã xét kết nạp một số Đảng viên mới, lấy nguồn từ lứa các anh em đã trưởng thành Đoàn. Tuy nhiên, chi bộ cũng muốn bồi dưỡng để kết nạp Đảng cả những anh em trẻ, đang là Đoàn viên, để tránh tâm lý “sống lâu lên lão làng” ngự trị không hay trong đơn vị. Vì thế, anh Nguyên yêu cầu tôi về làm bản khai lý lịch và viết đơn xin vào Đảng, để chi bộ phân công người giúp đỡ. Một tuần sau, tôi nộp các thứ giấy tờ cho anh. Anh xem qua và bảo, ờ, thế là thuận lợi rồi, vì gia đình cậu đã có 3 người là Đảng viên (là bố mẹ và anh trai tôi). Do đó, chi bộ không cần họp để phân công người giúp đỡ nữa, mà tôi sẽ trực tiếp theo dõi, giúp đỡ cậu. Có một việc khó khăn tôi định giao cho cậu, không biết cậu có sẵn sàng không. Tôi hồi hộp nói, như đài báo vẫn nói, em sẽ cố gắng hoàn thành mọi nhiệm vụ mà chi bộ giao cho.

Tiếp đó, tôi được anh Nguyên cho biết, chi bộ dự kiến giao cho chi đoàn thanh niên nhiệm vụ đi lấy quặng phóng xạ ở Tây Bắc, thời gian chuẩn bị là 2 tuần. Đây là nhiệm vụ khó khăn, gian khổ, và tương đối nguy hiểm, vì Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu cho biết, ở vùng biên giới phía Bắc, hiện trên các chốt, vẫn đang xảy ra những cuộc giao tranh xung đột nhỏ giữa ta và Trung Quốc và về ban đêm, thám báo Trung Quốc vẫn thường xuyên hoạt động một cách táo tợn.

Tôi đề xuất với anh, tôi sẽ cho họp chi đoàn và phát động tinh thần xung phong của Đoàn viên. Anh bảo, được, cậu về làm ngay đi. Tôi hội ý chớp nhoáng cùng Ban chấp hành chi đoàn và dự kiến trước trong đầu một danh sách 5-6 ứng cử viên.

Sáng hôm sau, buổi họp chi đoàn đột xuất diễn ra sôi nổi. Hầu như tất cả đoàn viên nam đều xung phong. Tôi thay mặt Ban chấp hành chi đoàn ghi tên những người tình nguyệnn lên bảng và loại dần, cuối cùng còn lại 3 người “khả dĩ nhất”: Phòng Lý thuyết 1 người (tôi), phòng Điện tử hạt nhân 1 người (anh TXN, nằm trong Ban chấp hành), và anh HMG, dân tộc Tày, quê ở Cao Bằng. Tôi báo cáo lại với anh Nguyên, để Phân viện Vật lý ra quyết định thành lập tổ công tác đặc biệt. Anh Nguyên bảo, các cậu xuống Ban xe tìm một “thằng” lái xe của Viện để tớ ghép vào tổ công tác.

Đầu giờ chiều hôm đó, anh HMG rủ tôi xuống Ban xe ở bãi cát ngoài cổng chính của Viện Kỹ thuật quân sự, tìm anh Bình, từng là lái xe cho Đoàn công tác A1 của Tổng cục Kỹ thuật năm 1975, mới chuyển công tác từ Đà Lạt ra Hà Nội một năm nay, hiện đang phụ trách “con” GAT-53 của Viện. Anh HMG bảo, anh Bình là quân nhân chuyên nghiệp, hơn chúng tôi 3-4 tuổi, đã có mấy phi vụ đi “đổ hàng” súp-lơ, bắp cải… với anh HMG từ Đà Lạt về Sài Gòn. Nói chung, tay lái anh ấy vững, tính tình dễ chịu, không đồng bóng. Chúng tôi kéo anh Bình ra quán nước chè, thăm dò ý kiến và rủ rê anh đi cùng chúng tôi lên Tây Bắc. Anh vui vẻ nhận lời. Chúng tôi đề nghị anh kiểm tra xe thật cẩn thận và xem cái gì cần thay thế thì đề nghị với phòng Kế hoạch cho thay ngay, khó khăn gì, anh cứ thông báo, chúng tôi sẽ “bẩm báo sếp Nguyên”. Thế là xong một việc.

Việc thứ hai, theo lời căn dặn của anh Nguyên, tôi lấy giấy giới thiệu của Viện 481 xuống Liên đoàn Vật lý Địa chất dưới Thanh Xuân gặp anh Nhung, là cán bộ địa chất, biết đường tới mỏ quặng phóng xạ, vì anh đã từng lên đó vài lần. Anh Nhung sẽ đi cùng tổ công tác, mọi chi phí ăn ở do Viện 481 chịu. Chắc anh Nhung đã được các anh lãnh đạo của Liên đoàn thông báo trước, nên anh vui vẻ tiếp đón tôi và chúng tôi cùng nhau ấn định địa điểm, thời điểm họp tổ công tác (tôi hứa với anh, có liên hoan nhẹ), để lũ chúng tôi xin “sư phụ” cho vài đường chỉ giáo. Hôm chúng tôi gặp nhau, anh Nhung đã cho nhiều lời khuyên bổ ích.

Việc thứ ba, anh HMG có quen ai đó bên Gia Lâm, anh đã liên hệ, có thể mua hai yến cá khô với giá rẻ, tôi có nhiệm vụ mua dây chun và điều con xe “Ba-bét-nhè” màu ớt đi chở cá khô về nhà anh ở phố Tông Đản. Khi chất bao tải cá lên xe, đạp mãi xe không nổ (do bu-gi bẩn), anh HMG phải hỗ trợ đẩy xe gần trăm mét, nó mới chịu nổ.

Việc thứ tư, theo lời khuyên của “cố vấn” Nhung, anh HMG và tôi đi lùng mua thuốc cảm APC, càng nhiều càng tốt. Thông qua một bà chị "kết nghĩa" của anh HMG, chúng tôi gom được 1.000 viên. Không phải để phòng cảm cúm, mà để… xem hồi sau sẽ rõ.

Việc thứ năm, cũng theo lời khuyên của “cố vấn” Nhung, anh HMG và tôi ra chợ Đồng Xuân sắm mươi cuộn chỉ thêu xanh đỏ tím vàng, 5 đôi giày vải bộ đội cõ nhỏ nhất, 5 gói kẹo xanh đỏ. Nhớ lời anh Nhung lấp lửng bảo, bộ đội đi công tác phải biết làm công tác dân vận.

Việc thứ sáu, thực hiện chỉ đạo của “chuyên gia”, chúng tôi nhờ anh Nọi, trợ lý Phân viện trưởng Nguyễn Tiến Nguyên, mua hộ một lít rượu Làng Vân xịn trong vắt. Tôi có nhiệm vụ mượn chiếc bi-đông Trung Quốc của ông bố để làm đồ đựng. Anh Nhung bảo, món này trị lạnh hay trị đau bụng ở vùng núi rất hiệu nghiệm.

Việc thứ bảy, chúng tôi qua Văn phòng lấy Công lệnh (Giấy đi đường) có đóng dấu đỏ của Viện; qua phòng Hậu cần xin cấp phát gạo, lương khô, viên nước mắm cô đặc, xà phòng, cuốc, xẻng, bao tải; qua bộ phận Y tế xin cấp phát gạc, bông băng, thuốc tím, thuốc chống đi lỏng (ca-vét), thuốc hạ sốt, thuốc trị sốt rét (ký ninh), dầu gió, cao Sao vàng…

Tưởng chừng thế đã là đầy đủ, hóa ra còn phải qua bộ phận Quân nhu ký nhận để muợn 3 khẩu AK và 1 khẩu súng ngắn K-54 (kèm theo đạn) cùng 3 bộ quần áo của Bộ đội hóa học nặng như chì, có cái vòi xoắn trông như cái ống ở máy bơm.

Chưa hết, việc quan trọng hơn cả mà chúng tôi không thể quên, quên là đi đứt, là qua bộ phận Tài vụ đưa giấy đề nghị do anh Nguyên ký, xin ứng tiền. Sau này, anh Nguyên có nói với tôi, hồi ấy, anh cũng không tính toán được chníh xác là cử chúng tôi đi công tác “xa nhà” thế, thì mang bao nhiêu tiền là đủ, nhưng anh có hỏi Tài vụ là trong két còn bao nhiêu tiền, cô nhân viên báo cáo còn gần 18 triệu đồng, thế là anh ghi vào giấy, xin cho tổ công tác lĩnh 17 triệu.

Những ngày đó, thấy tôi tất bật chuẩn bị, bố tôi hỏi han xem đơn vị cử tôi đi đâu mà mặt mũi trông căng thẳng thế. Tôi nói, con sắp lên biên giới phía Bắc. Bố tôi bảo, thế thì bố tôi có thể giúp cho 2 việc. Việc thứ nhất là cho tôi mượn bản đồ địa hình của Quân khu 2 (đi công tác về nhớ đem trả). Việc thứ hai là viết một lá thư tay đến một “người quen” của bố tôi ở Quân khu 2. Mẹ tôi thì chuẩn bị cho tôi một thanh quế, một lọ ô mai gừng, mấy bao diêm đựng trong túi ny-lông, đá lửa, diêm, nến, dao con, cuộn dây gai, hàn the để lọc nước. Tôi tự chuẩn bị cho mình tư trang cá nhân, chăn màn, áo ấm và ra ga nghiễn răng bán đi mấy xấp vải mang bên Hung về làm lộ phí đi đường.

Cầm lá thư bố tôi viết cho một “người quen” của bố tôi ở Quân khu 2, tôi chợt nhận ra, anh TQ có ông bố vợ hiện là Phó Tư lệnh về chính trị Quân khu 2. Thế là tôi nhờ anh viết cho chúng tôi một lá thư để chúng tôi ghé qua nhờ bác giứp đỡ khi cần thiết. Anh viết xong, đọc luôn cho tôi nghe, để xem có cần bổ sung gì, thì bổ sung luôn.

“Thưa bố,
Cơ quan con có cử một tổ công tác đặc biệt, thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt do Tổng cục Kỹ thuật giao, tại Quân khu 2, từ ngày… đến ngày..…do anh… làm tổ trưởng. Con kính nhờ bố giúp đỡ cho tổ công tác hoàn thành nhiệm vụ. Việc này rất quan trọng đối với cơ quan con. Con cảm ơn bố. Kính thư. Con TQ”.

Lá thư ngắn gọn, nhưng tác dụng không ngờ.

Bởi hôm chúng tôi tới Bộ Tư lệnh quân khu, khi đó đóng ở thị xã Yên Bái, chiếc xe GAT-53 đỗ dưới chân một quả đồi, tôi cầm lá thư theo chân một sĩ quan cần vụ leo qua nhiều bậc thang bằng đất đỏ đi lên đỉnh đồi. Tới một căn nhà nứa lá cấp 4, anh sĩ quan bước vào báo cáo, một lúc sau quay trở ra dẫn tôi vào. Phó Tư lệnh thân mật mời tôi ngồi, anh sĩ quan nhanh nhảu rót nước.

Tôi rút lá thư trong túi ngực, hai tay run run đưa ông chiếc phong bì bưu điện có viền xanh đỏ: Bác có thư ạ!

Ông đón bức thư rất nhẹ nhàng và trang trọng (tôi chưa thấy ông bố nào cầm thư của con trang trọng như thế), và đeo kính lên đọc, mắt hơi hấp háy.

Đọc xong, Phó Tư lệnh ôn tồn bảo: Uống nước đi cháu. Cháu đợi bác một tí nhé !.

Ông ra bàn làm việc, viết viết gì đó và bảo anh sĩ quan cần vụ đi lấy dấu. Một lát sau, anh ta đi vào đưa ông tờ giấy.

Phó Tư lệnh đưa giấy cho tôi, bảo: Giấy giới thiệu của cháu đây !.

Tôi nín thở đọc tờ giấy có tiêu đề Bộ Tư lệnh Quân khu 2 – Giấy giới thiệu:

“Gửi các đơn vị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương thuộc Quân khu 2,

Hiện nay, có đoàn công tác đặc biệt của Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng, đang thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt tại Quân khu 2, từ ngày… đến ngày… Đề nghị tất cả các đơn vị tạo mọi điều kiện tốt nhất hỗ trợ đoàn công tác nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt này. Ký tên: Phó Tư lệnh Quân khu 2 ”.

Tôi phấn khởi quá, rút nốt lá thư thứ hai: Thưa bác, bác còn có thư nữa ạ! Ông à lên một tiếng và bảo: Xem thư của ai viết nào!

Sau khi xem xong, ông cười bảo: Cái thằng, thế mà mày không nói ngay từ đầu !

Tôi định cảm ơn ông và đi xuống đồi thì ông thân mật bảo: Đã vậy thì để bác viết mày cho cái giấy nữa.

Ông ra bàn làm việc lại viết viết gì đó và bảo anh sĩ quan cần vụ đi lấy dấu. Một lát sau, anh ta đi vào đưa ông tờ giấy. Phó Tư lệnh đưa giấy cho tôi, bảo: Cháu đọc thử xem !.

Tôi lại một lần nữa nín thở. Tờ giấy vẫn có tiêu đề “Bộ Tư lệnh Quân khu 2 – Giấy giới thiệu” như tờ ban nãy:

“Gửi các đông chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân 6 tỉnh thuộc Quân khu 2,

Nay có đoàn công tác đặc biệt của Bộ Quốc phòng đang thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt tại địa bàn Quân khu 2. Đề nghị các đồng chí chỉ thị ngay cho các ban ngành của tỉnh, tạo mọi điều kiện tốt nhất, giúp đoàn sớm hoàn thành nhiệm vụ. Ký tên: Phó Tư lệnh Quân khu 2 ”.

Tôi không biết nói gì hơn, vì chúng tôi như đang có trong tay hai lá bùa hộ mệnh.



Cán bộ công nhân viên Viện 481 thăm đảo Hòn Dấu trong lần kỷ niệm 35 năm thành lập tại Đồ Sơn (5-2016).

*
* *
Trước đó, chúng tôi hẹn nhau tập trung tại Viện 481, tất cả nai nịt gọn gàng. Kiểm tra lại lần cuối giấy, tờ, tiền bạc, vũ khí, các trang thiết bị, đồ dùng cá nhân mang theo, tổ trưởng tổ công tác (là tôi) phát tín hiệu xuất phát. Kính lão đắc thọ, chúng tôi mời anh Nhung ngồi cùng ca-bin với anh Bình, ba đứa chúng tôi ngồi sau. Anh Nhung mang theo chiếc máy đo phóng xạ trông như chiếc đồng hồ vạn năng của mấy “tay” kỹ sư điện tử hay đi chữa ti-vi kiếm cơm. Qua sông Hồng, đến một cái chợ nhỏ, anh Nhung bảo lái xe dừng lại để mua thực phẩm vì giá ở đây rẻ. Chúng tôi mua một bao rau vừa cải xanh vừa cải trắng, hai quả bí ngô, ba cân lạc, bốn quả bí đao, nửa cân muối, một chai mắm tôm đặc, ít hành khô, tỏi khô, gừng, chanh, ớt. Thấy một cô thôn nữ e lệ bên hai sọt cà chua đẹp mã, đều chằn chặn, mỗi quả to bằng quả cà bát, trong sọt có cả quả chín lẫn quả ương, bên trên sọt lưa thưa vài cành lá xanh ngắt, anh HMG hỏi: Cà chua bán thế nào em? Cô gái lí nhí nói giá (mua cả sọt, chứ không cân kéo). Anh HMG dùng hai tay thử nhấc nhấc cái sọt lên ước lượng xem nặng bao nhiêu. Mặc dù anh thừa biết giá đã rẻ tương đối so với ở Hà Nội, song anh vẫn buông lời chèo kéo mặc cả thêm được một giá nữa (do hồi đó vẫn còn độc thân, anh G. vẫn hay đi chợ tự nấu ăn, nên có nhiều kinh nghiệm chợ búa).

Tôi nhẩm tính, cái sọt đó cỡ độ hơn mười lăm cân cà chua, nếu có nấu đủ món canh, xào, sốt,… thì đã quá thừa thãi cho chuyến đi, nên hơi ngạc nhiên, khi thấy anh G. “ôm” cả hai sọt. Tôi ngăn lại, vì sợ ăn không hết đổ đi lãng phí, nhưng anh thì thào vào tai tôi điều gì đó thầm kín, làm tôi như tỉnh ngộ. Chúng tôi qua Việt Trì, Phú Thọ và bắt đầu dấn thân vào con đường đầy bụi đất đỏ của vùng trung du. Nắng rất rát. Mấy chai nước chè tươi mang theo đã hết veo từ lúc nào. Độ hai giờ chiều thì đến Bộ Tư lệnh Quân khu 2 ở gần thị xã Yên Bái và tôi vào gặp bác Phó Tư lệnh Quân khu 2, bố vợ anh TQ, như đã kể lúc trước.

Rời Yên Bái, chúng tôi tiến về thị xã Lào Cai, mắt chứng kiến quanh cảnh phố xá đìu hiu, nhà cửa đổ nát, cột điện gãy gục, lơ thơ bóng người qua lại, súng ống, vũ khí hỏng vứt đầy trên vỉa hè. Gặp một bà đứng tuổi đang bước đi vội vã, anh Bình thò cổ ra hỏi đường về thị trấn Tam Đường. Bà trung niên tốt bụng chỉ cho chúng tôi lối rẽ ở ngã ba và dặn dò, cẩn thận pháo Trung Quốc nó hay bắn sang hú họa. (Sau này, lúc giải lao, anh Nhung bảo, rất dễ nhầm địa danh Tam Đường với Cam Đường, là mỏ a-pa-tit). Chúng tôi ngược dốc, theo con đường ngoằn ngoèo lên thị trấn Sa-pa. Khoảng 6 giờ chiều thì chúng tôi tới đồn biên phòng Sa-pa, gần nhà thờ Công giáo. Đồn rộng thênh thang, có cả sân bóng chuyền.

Sau khi xem giấy, anh vệ binh dẫn chúng tôi vào phòng khách chật chội kê bộ sa lông gỗ cũ kỹ. Đồn trưởng vừa xỏ tay vào áo vừa ra tiếp chúng tôi, tóc tai rối bù, râu ria quên cạo, nhưng đôi mắt sáng rực. Người này rất khó đoán tuổi, vì là người dân tộc. Sau khi đọc giấy giới thiệu như đánh vần, ông bảo, ở đây trời tối rất nhanh, nên đồn thường ăn sớm, hiện giờ anh nuôi đã cho nghỉ ngơi, nếu chúng tôi chưa ăn tối, thì ông sẽ cho mượn bếp và cử một chiến sĩ trợ giúp chẻ củi, múc nước. Còn về chỗ ngủ, các đồng chí cứ yên trí. Chúng tôi xúm nhau vào bếp, nấu một nồi cơm, một nồi canh, thêm tí cá. Trong lúc ra xe lục tìm cà chua chín để sốt với cá khô, anh TXN phát hiện ra dưới đáy sọt cà chua xếp toàn củi là củi, và như vậy, giá ở chợ quê cũng chả rẻ lắm. Buổi tối ở Sa-pa rất lạnh, sương mù kéo về dày đặc, chúng tôi phải lôi áo len ra mặc.

Đồn trưởng vỗ vai bảo tôi, đồng chí sẽ ngủ ở phòng mình, ở giường cậu cần vụ, cậu cần vụ sẽ chuyển sang ngủ ở phòng kia, còn những đồng chí kia, chia ra ngủ lẫn với anh em. Tôi để ý thấy ông treo khẩu AK lên vách sát giường ông nằm và rút con dao găm nhét xuống dưới gối. Tôi hiểu, ở đây không phải là xứ yên bình như Thủ đô, thám báo Trung Quốc có thể đột nhập bất cứ lúc nào. Tôi giũ chiếu, mắc màn và để khẩu AK của tôi trên giường ngay cạnh sườn, còn khẩu súng lục, bắt chước ông, tôi nhét xuống dưới gối. Đi đường xa thấm mệt, tôi đặt lưng xuống và ngáy ầm ầm. Khoảng 2 giờ sáng, tôi thức giấc vì mót đi giải (có lẽ bữa tối, tôi chan hơi nhiều canh rau cải). Tôi ngồi bật dậy, thò chân xuống tìm giầy, theo thói quen của một quân nhân. Lập tức, tôi thấy đồn trưởng cũng bật dậy nhanh chẳng kém gì tôi, rồi ông vớ ngay khẩu AK trên vách, nhảy phốc ra đầu giường, lên đạn lạch xạch và chĩa thẳng vào tôi. Tôi ú ớ, một lúc mới hỏi được, chỗ đi vệ sinh ở đâu anh. Lúc ấy, mới thấy ông hạ nòng súng xuống, bảo, ở cuối sân bóng chuyền. Tôi xỏ quần áo và đi ra sân trong ánh trăng mờ mờ. Ông huýt sáo, con chó béc-giê ở đâu phi ra, cứ lùi lũi đi theo tôi. Nó không gầm gừ đe dọa, nhưng phải nói thật, đi vệ sinh buổi đêm trong hoàn cảnh ấy, chả hứng thú gì.

Sáng ra, đánh răng rửa mặt xong, chúng tôi phân công nhau xuống bếp nấu cơm ăn cho chắc bụng. Tôi lên phòng mời ông đồn trưởng ăn cùng cho vui, nhưng ông xua tay bảo, mình không làm khách đâu, các đồng chí cứ tự nhiên đi. Sau đó, chúng tôi từ biệt anh em trong đồn, không quên biếu ông đồn trưởng 3 bao thuốc lá.

Đi một quãng, chúng tôi đến chợ Sa-pa định xem có gì “hay hay” thì mua thực phẩm bổ sung, nhưng đang còn sớm, chả có gì ngoài mấy con cá suối màu đen đen trông như con chạch. Thấy một người hỏi mua cà chua, nhưng người bán hàng nói, không có cà chua, vì dưới xuôi chưa đưa lên. Anh HMG trổ tài, trao đổi mấy câu “Thổ mừ”, thế rồi anh bảo tôi và anh TXN bê sọt cà chua kia xuống. Đếm tiền bán cà chua xong, anh HMG giục anh Bình cho xe “đi nhanh kẻo muộn”. Trên thùng xe, anh HMG hào hứng tuyên bố, sau khi hạch toán, chúng ta lãi không một sọt cà chua. Hú vía, chả thấy ai đuổi theo mấy ông bộ đội bắt đền cả.

Rời Sa-pa, chúng tôi qua đèo Ô Quy Hồ và tiếp đó, đổ đèo Bình Lư dài hơn hai chục cây số để về Tam Đường, Lai Châu.

Khi còn cách cánh đồng Bình Lư chừng 5 cây số thì anh Bình chợt kêu lên, bỏ mẹ rồi, các tướng ơi, xe mất phanh rồi. May là quãng này đường không dốc lắm, nên anh Bình hoàn toàn có thể cho xe chạy với tốc độ chậm, đồng thời sẵn sàng tư thế thà đâm vào vách ta luy, chứ nhất quyết không chịu rơi xuống vực. Nhờ thế, chúng tôi vẫn cán đích an toàn. Bên cạnh xưởng sửa chữa xe là quán phở… vịt. Chưa bao giờ chúng tôi chén sang thế, mỗi bát hai cái đùi vịt to đùng.
*
* *
Xe đang đi thì gặp bốn năm người dân đứng ven đường vẫy xe. Nhìn đống hàng hóa lủng củng, anh HMG nhận định đây là “bọn con buôn”, chứ không phải thường dân, nên anh quyết định sẽ thu tiền xe, được đồng nào hay đồng ấy, góp thêm làm lộ phí đi đường. Khi mọi người đã yên vị trên thùng xe thì anh bắt đầu thực hiện vai trò “lơ xe” của mình: Các bác về đâu nhể, cho xin tiền xe nhé! Một người đứng tuổi có hàm râu quai nón thản nhiên móc túi lấy tiền trả cho 3 người khác. Riêng người trùm chiếc khăn đen gần kín mặt ngồi quay lưng lại phía sau, có lẽ không đi cùng họ. Anh HMG lấy ngón tay gõ gõ vào lưng người ấy và hỏi tiền xe. Khi người ấy quay mặt lại, cả ba đứa chúng tôi sững sờ: ôi, đôi mắt đen huyền ảo, cô gái dân tộc vùng cao xinh quá!.

Cô khẽ kéo mép dưới chiếc khăn ra khỏi cái miệng xinh xinh và nói nhỏ, giọng hơi van nài: Các anh cho em đi nhờ ! Anh HMG liếc nhìn tôi. Tôi bảo, thôi, cậu thu cô ấy nửa tiền thôi, vì cô ấy chỉ đi một đoạn ngắn mà. Thế là thu của “người đẹp” nửa tiền. Thực ra, chả cần hội ý tôi cũng biết, cả ba chúng tôi đều nhất trí chủ trương miễn phí cho cô gái này, song đã trót thu tiền 4 người kia rồi, chẳng lẽ… Mới đi chưa đầy chục cây số thì cô gái đột ngột xin xuống xe. Chúng tôi vẫy chào, ra chiều lưu luyến lắm. Xe chạy thêm chừng ba cây số, bỗng anh HMG hốt hoảng nói thầm vào tai tôi: "Bỏ mẹ, mất cái bi-đông rượu rồi. Chắc là "con" kia nó lấy !". Tôi kiểm tra kỹ lại thì đúng là mất thật. Qua thị trấn Tam Đường, là huyện lỵ của huyện Phong Thổ, mấy người “con buôn” lục tục xuống.

Chúng tôi đi ngược lên phía Bắc, tới địa phận xã Nậm Xe thì anh Nhung bảo dừng lại. Anh chỉ tay lên ngọn núi cao trước mặt và bảo, đến đây không còn đường cho xe đi nữa, anh em mình phải cuốc bộ thôi. Tôi hỏi, bao nhiêu cây hả anh, anh bảo, chừng 14 cây. Chúng tôi khoác ba lô lên đường, riêng anh Bình ở lại trông xe. Chúng tôi đưa anh ít tiền để ăn uống, trả tiền thuê chỗ đỗ xe. Anh Nhung bảo, đưa cho anh ấy thêm chỉ thêu, giày vải bộ đội, kẹo... vì bà con dân tộc nhiều khi thích những thứ đó hơn tiền.

Sẩm tối, chúng tôi định tìm hàng quán để ăn tối, anh Nhung bảo, không có đâu, phải vào nhà dân để nấu ăn nhờ. Tại một bản heo hút có vài ba mái nhà, chúng tôi mạnh dạn đẩy cổng tiến vào (anh Nhung dặn, nếu thấy cắm cành lá thì đừng vào). Chúng tôi cất tiếng chào, nhưng không ai trả lời. Mãi về sau, anh HMG cất tiếng “Thổ mừ” líu la líu lô, thì thấy ai đó trong nhà nói ra lào phào, nghe không rõ. Anh HMG “dịch” lại cho chúng tôi: hai vợ chồng chủ nhà hôm nay lên nương trúng nắng bị ốm, đang nằm rên hừ hừ, nếu “chúng mày” muốn nấu ăn thì cứ xuống bếp mà nấu, nếu “chúng mày” muốn bắt ngan thì cứ việc bắt, ngan nhốt ở trong chuồng, muối trong cái túi vải treo trên vách, nồi ở cạnh cái lu đựng nước, bó củi ở đầu nhà.

Chúng tôi quyết định đốt cây nứa làm đèn chiếu sáng, nổi lửa đun một nồi nước sôi, bắt con ngan làm thịt đem luộc, tim gan lòng mề xát muối thật kỹ rồi rửa thật sạch sẽ, đầu xương cổ cánh đem nấu cháo. Đúng tác phong bộ đội, 30 phút sau, cả bọn đã quây quần bên nồi cháo nóng hổi, vừa ăn vừa thổi. Vét sạch nồi, anh TXN hỏi, mọi người có thấy, thịt ngan vùng cao có mùi gì khang khác so với bún-miến-ngan ở Hà Nội không. Anh Nhung bảo, đầy kinh nghiệm, thức ăn của ngan ở những vùng khác nhau thì mùi vị thịt nó khác nhau, có gì mà lạ. Tôi hỏi anh TXN, cậu có cắt cái hoi sau đít không, anh ớ ra, hỏi lại: ơ, phải cắt hoi à?

Tôi bảo anh HMG hỏi xem con ngan hết bao nhiêu để thanh toán cho chủ nhà. Anh HMG hỏi bằng tiếng "Thổ mừ", rồi bảo chúng tôi, chủ nhà bảo, muốn trả bao nhiêu tiền cũng được, cứ vào buồng, nhét tiền xuống dưới gối.
*
* *
11 giờ đêm, chúng tôi leo đến đỉnh núi. Hỏi đường vào nhà chủ tịch xã, dân chỉ cho. Anh Nhung bảo, những năm trước anh đến đây, chủ tịch xã là ông khác. Chúng tôi vào nhà, đưa giấy giới thiệu, chủ tịch xã “khúm núm”: Mời các “cán bộ cấp trên” vào nhà. Nhà rộng rãi, chỉ có hai vợ chồng, hai đưa con nhỏ với người em trai đã đến tuổi đi làm. Sáng ra, lúc chúng tôi vẫn đang nằm trong màn, đã nghe tiếng chổi của chị chủ nhà quét sân loạt quẹt. Anh Nhung bấm tôi dậy làm công tác dân vận. Chúng tôi ra sân, đánh răng rửa mặt rồi bắt chuyện với chị chủ nhà. Chị đang vãi ngô cho đàn gà ăn, mỗi con chừng bảy tám lạng. Đàn lợn ủn ỉn ngoài vườn. Hai anh HMG và TXN lúc này cũng lục tục dậy. Anh chủ tịch xã vừa đi đâu về, túi dết đeo trước ngực. Anh mời chúng tôi vào nhà ra bàn ngồi uống nước.

Anh Nhung nháy mắt với tôi và quay sang anh chủ nhà, bảo: Cái cán bộ này nó đi công tác vùng cao lần đầu, nó uống cái nước suối có lá mục ở đây, nó bị đau cái bụng đấy. Nhà mày có cái thuốc gì chữa bệnh đau bụng không? Anh chủ nhà thật thà đáp: Có, có đấy. Để tao bảo vợ tao nó lấy cái thuốc cho cán bộ uống, khỏi cái bụng ngay thôi mà.

Chị chủ nhà lấy ra một cái gói ny-lông cáu bẩn, bên trong có vài hạt to bằng hạt đỗ đen. Anh Nhung hỏi anh chủ nhà: Nhà mày có cái điếu hút thuốc lào không? Anh chủ nhà đáp: Có mà, kia kìa. Anh Nhung bảo anh HMG lấy lọ thuốc cảm APC ra, bẻ viên thuốc làm hai hay ba phần, lấy hạt “đỗ đen” véo ra, bóp bóp trộn trộn với thuốc cảm APC, rồi nhét vào nõ điếu, châm lửa, rít một hơi làm nước kêu lọc xọc. Anh phả khói ra, bảo tôi: Chú đau bụng, uống thuốc đi ! Mà phải “sái hai” nó mới ngon, chứ “sái một” chưa ngon.

Tôi liều mạng tuân lệnh anh, châm lửa, rít một hơi, thấy đầu óc đê mê, ngả ngốn người ra tấm phản.

Anh Nhung hỏi anh chủ nhà: Nhà mày có nhiều gà thế, có bán cho cán bộ không ? Vài con thôi. Uống cái thuốc đau bụng xong mà không ăn cái thịt gà là không được đâu. Anh chủ nhà đáp: Có bán mà. Anh Nhung hỏi: Bán cho cán bộ lấy bao nhiêu tiền ? Anh chủ nhà đáp: Tao không lấy tiền đâu. Cán bộ cho tao cái thuốc cảm là được rồi. Anh Nhung hỏi khá "sòng phẳng": Ba con gà lấy mấy viên thuốc cảm ? Anh chủ nhà đáp: Cán bộ đưa tao 7 viên thuốc cảm là cái bụng vợ chồng tao đồng ý rồi.

“Thủ quỹ” HMG hồi hộp quá, lập cập mở nắp lọ thuốc cảm ra, đếm đúng 7 viên, đưa cho chị vợ. Anh Nhung bảo chị vợ: Mày đi nấu cái cháo gà cho các cán bộ nhé. Không cần cắt tiết đâu. Cứ bóp cổ là nó chết thôi.

Anh Nhung lại hỏi anh chủ nhà: Thế vuờn nhà mày có trồng cây anh túc không? Anh chủ nhà đáp: Có mà. Ở ngoài vườn kia kìa, nhiều lắm. Mình phải trồng thôi, để còn làm cái thuốc chữa bệnh đau bụng. Anh Nhung hỏi: Mày cho cái cán bộ ra vườn có được không? Anh chủ nhà đáp: Được mà.

Chúng tôi dạo bước ra vườn. Anh Nhung quay sang hỏi: Bao thuốc lá đâu? Anh HMG và TXN vội vào nhà lục ba-lô lấy thuốc lá ra. Anh Nhung ngắt một cọng cây anh túc. Khi dòng sữa màu trắng rỉ ra, anh lấy điếu thuốc lá hứng lấy chất nhựa trắng, cuộn cuộn vào đầu điếu thuốc. Chỉ vài phút sau, chất nhựa chuyển sang màu xám, rồi đen xỉn dần. Anh Nhung bật lửa, hút “mẫu” cho mấy “cán bộ” xem. Mắt anh mơ màng, sung sướng. Hai anh HMG và TXN bắt chước làm theo. Tôi hơi hãi, nên không dám.

Chúng tôi trở vào nhà. Một lát, chị chủ nhà bưng nồi cháo lên, anh Nhung mời anh chị chủ nhà và các cháu cùng ăn, nhưng anh chủ nhà xua tay nói, các cán bộ cứ ăn đi, không cần phải mời đâu. Lần đầu tiên trong đời, tôi biết thế nào là sự “ngon” của thuốc phiện. Vì cứ mỗi lần nuốt một thìa cháo vào họng, tôi cảm nhận được rất rõ ràng, miếng cháo nó trôi từ từ đến đâu trong cơ thể của mình.

Nhưng hôm sau, anh Nhung "thẳng thừng" cảnh báo lũ chúng tôi: Các chú hút một lần thì được, chứ hút nhiều là nghiện, chắc chắn nghiện, khi đó thì khổ lắm, đừng chơi !.
*
* *
Anh Nhung dẫn chúng tôi đi xem mỏ phóng xạ u-ran-ni-um mà dân địa chất các anh gọi bằng cái tên “Dị thường 05”. Anh kể, Liên đoàn 10 của anh đã tìm ra mỏ này từ trước năm 1960, sau đó mời chuyên gia Liên Xô cùng lên thực địa. Hôm lên, ông chuyên gia có đem theo máy đo phóng xạ. Tới nơi, bật máy lên thì kim quay kịch cỡ, ông hốt quá, chạy mất dép. Đó là một quả đồi nhỏ, cây cối um tùm. Anh Nhung nói, các chú thử quan sát xem, ở đây cái gì cũng bé tí hin. Con gà này, con lợn này, cả trẻ em nữa, đều bé hơn dưới xuôi chúng mình. Dân ở đây, ai sống quá 50 tuổi được coi là thọ.

Chúng tôi hỏi anh, ta sẽ khai thác quặng ở đâu, anh chỉ cho chúng tôi dãy hào xa xa dài ba chục mét cạnh mấy dãy tre hay luồng hay vầu gì đó, sâu sáu mươi phân và bảo, sẽ phát triển con hào kia, đào dài thêm ra và khoét sâu xuống, cứ tìm những chỗ đất đỏ quạch là có u-ran-ni-um. Chúng tôi quay về nhà và bàn bạc với anh chủ tịch xã. Anh Nhung hỏi: Đời sống dân ở đây có khá không? Anh chủ tịch xã bảo: Không khá đâu, dân còn khổ cực lắm. Anh Nhung nói: Thế bây giờ có công việc đào đất và gùi đất, kiếm ra tiền, dân có chịu làm không? Anh chủ tịch xã bảo: Ôi, thế thì tốt quá, dân mình thích làm thôi. Anh Nhung nói: Bây giờ, cán bộ sẽ chỉ chỗ cho dân đào đất và gùi xuống chân núi, cho lên cái xe ô tô kia kìa (vừa nói, anh vừa chỉ cái xe GAT-53 nhỏ như bao diêm đứng dưới chân núi), “chúng mày” có làm không? Anh chủ tịch xã bảo: Được.

Chúng tôi chụm đầu bàn bạc, ước tính, mỗi gùi 30 kg, nếu lấy 4,5 tấn thì cần 150 gùi. Tiền công là 6 triệu, thì vị chi, 40.000 đồng một gùi. Nếu mỗi ngày khai thác được 30 gùi thì mất 5 ngày. Anh Nhung nói, sẽ trả “tay” chủ tịch xã “phí quản lý” 400 nghìn đồng, tương đương với 10 gùi, thì chắc “tay ấy” sẽ cố gắng hết sức.

Kế hoạch hành động đã diễn ra đúng như vậy. Chúng tôi còn đổi cho vợ chồng anh chủ tịch một bu gà và bốn chục trứng gà lấy những viên thuốc cảm APC. Chúng tôi cũng biếu cho một số bà con dân tộc "lao động tích cực nhất" những thứ quà mang theo từ Hà Nội để "láy chỗ đi lại", đề phòng lần sau còn lên đây khai thác quặng.
*
* *
Sau một tuần, chúng tôi đã có 4,5 tấn quặng chất trên thùng xe, hoàn thành nhiệm vụ trên giao, nhưng chúng tôi chưa lên đường về ngay. Anh Nhung nói, anh có quen một “mối” bán cánh kiến và đã hẹn với họ đến lấy hàng. Thế là chúng tôi tiếp tục ngược lên phía Bắc, ngót hai chục cây số nữa, sát đường biên. Ở đây có một đồn biên phòng. Chúng tôi vào đồn, trình giấy giới thiệu, được đón tiếp niềm nở. Lính đồn này trẻ măng, to cao như lực sĩ, cỡ toàn mét tám trở lên. Nhưng nhiều anh bị ruồi vàng hay bọ chó đốt, mình mẩy đầy vết lở loét, trông rất thương tâm. Qua nói chuyện được biết, ở đây mỗi lần đi gửi thư phải cuốc bộ 7 cây số tới trạm bưu điện. Chúng tôi bảo các anh, ai muốn gửi thư về thì một hai hôm nữa chúng tôi về Hà Nội, chúng tôi thả thư vào thùng thư hộ cho, nhưng các anh cười bảo, thôi không cần, vì mỗi lần đi gửi thư bưu điện, cũng là một lần kết hợp đi chơi, đi thăm chi đoàn thanh niên kết nghĩa luôn.

Anh đồn trưởng đẹp trai bố trí cho chúng tôi ở dãy nhà cách đồn gần 100 mét, chỗ ở độc lập, rộng rãi, gần con suối nước trong vắt, giường chiếu đàng hoàng. Chúng tôi kê mấy viên gạch ở đầu nhà tự nấu ăn, khỏi phiền nhà bếp. Anh Nhung mượn được cái xe đạp, đi liên hệ với “mối” của anh. Khi trở về, anh thông báo, họ chỉ còn 50 cân cánh kiến, nhưng hàng đẹp lắm, không quyết nhanh là hết. Chúng tôi nhẩm tính, mua 1 lãi 10, thế cũng bõ công. Buổi chiều, có người mang cánh kiến tới, hàng đẹp thật. Tôi hỏi, người ta dùng cánh kiến làm gì, anh kia giải thích, khi nấu đồng để rút dây đồng, nếu cho cánh kiến vào, sản phẩm sẽ tạo màu rất đẹp. Cũng chẳng biết có đúng thế không.

Trả tiền xong, anh kia hỏi, thế các anh có mua gỗ lát không. Khoản này thì tôi mù tịt. Anh Nhung lại lóc cóc đi xem. Khi về anh nói, hàng đẹp lắm, nguyên khối, lát chun, dày 15 phân, anh em ta có 5 người, mỗi người 3 phân, xẻ đủ 2 bộ cánh tủ, 1 bộ bán, 1 bộ để dùng, coi như không mất tiền. Anh TXN cũng hơi hiểu biết về đồ gỗ, ủng hộ luôn. Tôi hỏi, làm thế nào mang về, có bị kiểm lâm bắt không. Anh Nhung bảo, để hỏi kinh nghiệm mấy tay kia.

Anh quay lên chỗ bán gỗ đèo một anh “lâm tặc” xuống. Anh này xem xét một hồi, bảo, xe to thế này thì quá ổn. Lấy xẻng xúc bớt quặng ra (anh gọi là đất), sau đó đặt tấm gỗ vào chính giữa, lấp đất lại. Xe quân đội đi công tác có Công lệnh, ai dám khám. Anh còn chỉ dẫn thêm, từ đây về xuôi, chỉ có trạm Cát Lâm ở cách Sa-pa 12 cây số là đáng nể, còn các trạm khác lỏng lẻo lắm, vài bao thuốc là xong. Muốn qua trạm Cát Lâm, quy luật là phải qua lúc 2 giờ sáng. Nếu xe đến sớm, cũng đừng vượt trạm ngay, mà nên chờ, gần 2 giờ sáng hẵng đi. Đó là lúc họ đánh tá lả xong, đặt lưng đi ngủ đã được 1 tiếng đồng hồ, vừa vào giấc, trời lạnh, ai cũng ngại dậy kiểm tra, chưa kể, họ luôn chủ quan cho rằng, chỉ có ai điên thì mới đi vào giờ này. Thấy “chuyên gia” này phán “cứ như đúng rồi”, chúng tôi bị thuyết phục hoàn toàn.

Vẫn chưa hết. Sau bữa cơm chiều, anh Nhung hấp háy đôi mắt, bảo, có một “bà chủ” người Việt gốc Hoa có lời mời anh em ta tối nay đi “xem hàng”, kho của bà ấy nằm ngay sát đường biên. Tôi cảnh giác bảo, cẩn thận lại đụng mấy anh em biên phòng trong đồn thì xấu hổ lắm, hay là lên đồn tham khảo ý kiến các anh ấy, xem như thế có hợp lệ không. Anh Nhung đồng ý. Anh HMG xuất 1 bao thuốc và gói kẹo, chúng tôi dẫn nhau lên đồn “chào” đồn trưởng. Uống nước, hút thuốc, ăn kẹo xong, anh Nhung mới hỏi về cái bà “con buôn” kia.

Các anh biên phòng cười bảo, các anh cứ đi “xem hàng” của bà ấy đi, bà ấy có một kho bách hóa tổng hợp lớn lắm, hàng hóa chất cao như núi, giá cả cũng phải chăng. Có mấy thứ các anh có thể mua về xuôi làm quà cho gia đình như: vỏ chăn ka-ki in hình con công, phích nước 2 lớp, đầu máy khâu “Con bướm”, giá cả như thế này… như thế này… là mua được. Nhờ sự tư vấn của các anh biên phòng, chúng tôi sắm thêm được một đống quà quý giá mang về Hà Nội. Tôi không đi, xung phong ở lại trông xe và vũ khí cất trong xe.

Khi rời đồn biên phòng về Hà Nội, chẳng có gì, chúng tôi biếu các anh chút gạo, nước mắm khô, thuốc men, bông băng, thuốc lá không dùng đến.
*
* *
Trên đường về, trước khi tới trạm Cát Lâm, chúng tôi còn gặp nhiều “sự cố kỹ thuật”.

Đó là khi chúng tôi đi qua một chiếc cầu yếu, biển báo đầu cầu đã rơi rụng, không biết cầu có tải trọng bao nhiêu. Anh Bình dừng xe nhảy xuống tìm xem xung quanh xem có biển báo nào bị gãy đổ, người ta “phũ phàng hất ra vệ đường” hay không. Không thấy. Anh Bình bảo, nếu là xe không, thì anh sẽ đi thẳng xuống con sông cạn rồi vòng lên. Nhưng xe chúng tôi đang chở nặng, xuống dốc thì dễ, lên dốc mới khó, đất ven sông lại mềm, tơi xốp, dễ pan-ti-nê. Chúng tôi chờ một lúc, xem có cái xe tải nào qua cầu không, nhưng chẳng thấy. Cuối cùng, anh Bình quyết định cứ qua cầu. Tôi bảo anh Nhung với anh TXN xuống xe đi bộ, còn tôi và anh HMG ngồi lại trên xe cùng anh Bình, mặc dù anh Bình khăng khăng bảo chúng tôi xuống hết, anh sẽ lái, nếu cầu gãy thì chỉ một mình anh “bị”. Tôi bảo, anh em đi công tác cùng nhau, không như thế được. “Cự cãi” một lúc, tôi đành lấy quyền tổ trưởng để ra quyết định: phân công hai đồng chí cùng lái xe đi qua cầu, hai đồng chí xuống đi bộ, để trong trường hợp xảy ra sự cố, thì còn có người xử lý sự cố và trở về báo cáo cấp trên. Lạy Trời lạy Phật, may thay, hôm đó, xe qua cầu an toàn. Nhưng sau này, chúng tôi nghe kể lại, chỉ độ ba bốn hôm sau, cầu bị gãy khi một chiếc xe tải chở hàng đi qua, lái xe không kịp nhảy ra khỏi ca-bin, bị thương nặng, phải đưa đi cấp cứu. Thực ra, có nhảy ra thì cũng không biết, liệu có thoát hiểm được hay không.

Một sự cố nữa là khi chúng tôi rẽ vào quán phở ăn trưa, do trời nắng quá, nên anh Bình cho xe rúc vào bóng cây gần một căn nhà của dân. Đến khi ăn xong lên xe đi thì phát hiện xe bị mất số lùi. Gộp mấy anh em vào đẩy đít, chắc không thể, vì xe quá nặng. Thế là anh Bình phải xuống xe tính tính toán toán, lấy một cành cây vẽ hai vệt để căn bánh xe đúng hai vệt đấy. Chệch một chút thì sườn xe sẽ cọ vào tường nhà dân làm bằng đất, gây đổ tường, chắc chắn cả đoàn phải ở lại giải quyết hậu quả. Nhờ hai anh HMG và TXN đứng hai bên làm cọc tiêu sống để xi-nhan cho anh Bình, chiếc xe nặng nề từ từ nhích lên, lọt qua khe hở 2 xăng-ti-mét. Hú vía !

Sự cố để đời tiếp theo chỉ xảy ra ở vùng cao, người dưới xuôi chưa trải qua, chắc khó hình dung nổi. Hôm ấy, khoảng 9-10 giờ sáng, xe đang đi dưới bầu trời xanh trong, mây trắng vờn bay, thì chúng tôi nghe tiếng “lục cục, lục cục” như tiếng gà mẹ gọi gà con. Hai bên đường trống trải, không có nhà dân, chỉ có quả đồi trọc trước mặt. Tiếng “lục cục lục cục” lớn dần. Anh HMG bỗng hét lên: Dừng xe lại ! Dừng ngay xe lại, anh Bình ơi ! Tôi cứ nghĩ là anh HMG đùa. Còn anh Bình, chắc anh cảm nhận được nỗi kinh sợ trong tiếng hét của anh HMG, nên anh phanh xe đánh “hự”. Anh HMG đanh giọng hét tiếp: Lùi xe lại ! Lùi xe lại ! Anh Bình nghe theo, từ từ lùi xe lại.

Cảnh tượng diễn ra trước mặt thật khủng khiếp, tôi không bao giờ quên được. Từ mé sau quả đồi trọc, một dòng nước đục ngầu ôm vòng lấy thân đồi đột ngột phi ra như con bạch mã tung bườm trắng xóa, lao thẳng xuống con đường nhựa trước mặt chúng tôi, đổ ào ào xuống lòng vực bên kia đường, sâu khoảng vài chục mét. Dòng nước xối xả, kéo theo cả những tảng đá to bằng cái bàn làm việc. Có mấy hòn đá khổng lồ lộc cộc lăn tròn như quả bóng ten-nít, khiến anh Bình phải lùi xe ngày càng ra xa hơn. Chả mấy chốc, mặt đường nhựa bị dòng nước bứng đi mất, hình thành một chiếc hào vắt ngang, rộng chừng 2 mét, sâu 1 mét. Anh HMG bảo, đấy là lũ quét ở vùng cao. Mấy trận mưa hôm trước tích nước trong các con lạch nhỏ, dồn về suối lớn. Gặp chướng ngại vật do thiên nhiên tạo ra (như những tảng đá giữa dòng), hay do con người tạo ra (như một số đường mòn vượt suối, đập ngăn… ), dòng suối tạm thời không chảy hoặc chảy chậm rì rì. Đến khi nước tích đủ (dù mưa đã dứt một hai hôm), nó mới phá bung các chướng ngại vật và hung dữ đổ ào từ trên núi xuống, quét đi mọi thứ trên đường nó đi qua.

Một sự cố nữa xảy ra trên đèo Ô Quy Hồ, vào buổi tối. Hôm đó, đang đi đến đỉnh đèo thì xe ỳ ra, không chịu đi tiếp. Anh Nhung định lấy đèn pin ra soi thì anh TXN bảo, anh Nhung ơi, các anh biên phòng dặn, buổi tối đừng soi đèn pin, thám báo nó “khực” đấy. Rủi một cái, hôm đó cuối tháng âm lịch thì phải, không có trăng sao gì. Anh Bình đành bật nắp ca-bô dùng tay mò mẫm kiểm tra. Một lát, anh kêu lên thất thanh như người bị mất sổ gạo, chết cha tôi rồi, bình nước làm mát bị thủng, chảy hết mẹ nó nước rồi, có ai có túi bóng với dây chun không. Chúng tôi lấy túi ny-lông và dây gai buộc nẹp chặt lỗ thủng lại, nhưng nước uống đem theo đã hết, không còn một giọt. Thế là anh Bình, anh Nhung và anh HMG phải lần mò xuống suối lấy nước, tôi và anh TXN ở lại trông xe. Tôi phân công anh TXN gác ở cuối xe, còn tôi gác ở đầu xe, nếu phát hiện có thám báo, phải đánh lưỡi “chặc, chặc” như con thạch thùng để thông báo cho nhau. Trên đỉnh đèo hiu hắt và lạnh thấu xương, trời lại tối mù mịt, nếu tôi nói không hoảng sợ là nói dối.

Độ một tiếng đồng hồ, các anh đi lấy nước ở dưới khe suối lên đến nơi thở hồng hộc, mồ hôi mồ kê đầm đìa. Đủ nước, xe lại bon bon trên đường. Anh HMG bảo, khi đang lấy nước, anh thấy ánh đèn dầu le lói gần đấy, chắc có bản làng ở quanh quanh đâu đây, thôi, mệt mỏi và căng thẳng quá rồi, tới chân đèo, dừng xe, tìm đến nhà dân xin ngụm nước, không thì chết mất. Mọi người nhất trí.

Chúng tôi gặp may, tìm được một căn nhà (căn lều) thấp lè tè tựa lưng vào đám cỏ gianh. Chủ nhà là thương binh chống Pháp, bước chân tập tễnh. Ông gọi người cháu gái đang chuản bị đi ngủ dậy đun nước pha trà đãi khách. Gọi là trà cho nó sang, chứ thực ra là một thứ lá lẩu phơi khô gì đó, uống hơi đăng đắng, tạm được. Bác thương bình vui chuyện, kể là bác làm nghề trồng thuốc Đông y, đương quy, thục địa, đỗ trọng, liên nhục, đan sâm, sinh địa, tục đoạn, độc hoạt, hà thủ ô, kim ngân hoa, hồi, quế,… vị nào cũng có đủ. Chúng tôi mỗi người mua mấy thang thuốc bổ mang về ngâm rượu. Bác thương bình dặn, nhớ ngâm đủ 6 tháng hẵng đem ra uống, để một hai năm thì càng bổ hơn. Cô cháu gái có mái tóc dài đen nhánh dường như không nói một câu gì góp chuyện, chỉ ngồi yên lặng trên chiếc chõng tre, nhưng đôi má dưới ánh đèn dầu vẫn chợt hồng lên, thậm chí bừng đỏ, mỗi khi nghe mấy chàng lính tếu táo kể chuyện cười. Thỉnh thoảng, cô ngước đôi mắt đen láy nhìn lên, ra chừng lễ phép hỏi: thế hả các anh?

Chả biết ông bác nói đùa hay nói thật. Ông chép miệng bảo, thời buổi chiến tranh, bom rơi đạn lạc không lường trước được, ở vùng này vốn neo người, nay các cơ quan người ta đi sơ tán hết cả, gặp được người tốt hiếm lắm. Thế nên, hôm nay gặp các anh bộ đội ở đây, tôi định cho con cháu gái nó khăn gói đi theo các anh về đơn vị, các anh cho cháu nó làm việc gì đỡ các anh cũng được, y tá, nấu bếp, cấp dưỡng, quét tước, thông tin điện đài, các anh cứ bảo ban cháu, cháu khắc làm được. Con này nó cũng sáng dạ lắm. Ông quay sang cô gái, hỏi: này, ý mày thế nào, nói cho bác và các anh ấy biết đi ! Không ngờ, cô gái dạn dĩ bảo, bác ơi, cháu xin vâng lời bác, chỉ sợ các anh ấy không nhận cháu thôi.
*
* *
Đúng là chúng tôi đã không đưa cô gái về Hà Nội. Một mặt, nói như anh HMG là “cần rút kinh nghiệm sâu sắc", sau cái vụ mất bi-đông rượu (nguyên văn câu anh HMG nói khác cơ, nhưng tôi “dịch” ra như thế cho nó mềm mại. Câu anh HMG nói là “những việc quan trọng mà dính đến “gái” là hỏng bét”). Mặt khác, không ai trong chúng tôi là cán bộ tổ chức, làm sao nhận cô cháu gái về cơ quan được. Trò chuyện với hai bác cháu xong thì đã 1 giờ sáng. Nhớ đến lời dặn dò của anh “lâm tặc”, chúng tôi tạm biệt hai bác cháu tốt bụng lên đường.

Đến khoảng 2 giờ kém 5, chúng tôi tới trạm Cát Lâm. Ba-ri-e đang đóng. Tôi, áo quần chỉn chu, súng lục đeo ngang hông, AK đeo trước ngực (đều không lắp đạn, đề phòng lóng ngóng, bị cướp cò), tiến tới vọng gác trình giấy. Anh kiểm lâm sát khí đằng đằng, bảo tôi: Các anh mở bạt phía sau cho chúng tôi kiểm tra xe. Tôi tuân lệnh. Khi anh Bình vắt tấm bạt lên, cán bộ kiểm lâm giật bắn mình, vì tự nhiên hiện ra hai nhân vật mặc bộ đồ phòng hóa, bốn con mắt thô lố, vòi thở ô-xy xoắn tít, hai khẩu AK vắt chéo ngang ngực. Anh hỏi tôi: Xe các đồng chí chở gì vậy? Tôi bảo: Có chở gì đâu, có tí quặng phóng xạ ý mà! Anh kiểm lâm lập tức đổi giọng: Con cắn rơm cắn cỏ, con lạy các bố, các bố đi nhanh nhanh cho con nhờ !

Tôi đưa mắt nhìn anh Bình, khoát tay ra lệnh: Đi !
*
* *
Về đến Hà Nội, chúng tôi chưa về Viện 481 ngay, mà đi ăn cơm trưa ở Nhổn, sau đó ngồi quán nước chè xanh bên cạnh, nghỉ ngơi chút ít. Con GAT-53 rúc đầu vào lùm cây, chĩa đít sang bên kia đường. Bà chủ quán tròn mắt ngạc nhiên, bảo: Quái, mấy cái thằng quỷ sứ bên kia, trưa nào ăn xong chúng nó cũng đuổi bắt nhau, hò hét ầm ĩ, không để cho hàng xóm bên này yên lấy một giây, thế mà hôm nay, giời đi vắng hay sao ấy, lăn quay ra, ngủ li bì suốt từ nãy đến giờ. Chúng tôi theo ngón tay chỉ của bà, thì thấy, quả nhiên thế thật. Về sau, anh Nhung giảng giải cho chúng tôi, khối quặng phóng xạ phát tia theo chiều ngang, chứ không theo chiều dọc. Hơn nữa, trên ô tô, chúng tôi nghe lời anh lót tấm a-mi-ăng có lớp chì bảo vệ để ngồi, phủ thêm hai cái áo phòng độc của bộ đội hóa học, nên khỏi lo sau này không có con. Anh bảo, nguy hiểm nhất là đám bụi phóng xạ nhỏ li ti cơ. Hít vào phổi, nó đọng lại đấy, nằm chờ 23 năm sau, tới chu kỳ bán rã, nó mới giải thoát tia phóng xạ ra bên ngoài.

Sau đó, chúng tôi ghé về Trạm Trôi, là nhà anh Nhung, đồng thời là nơi “xuống gỗ”. Chị vợ anh Nhung đi làm không có nhà. Anh Nhung pha tạm ấm trà rồi lấy xe đạp đi gọi ông chủ một xưởng gỗ gần đấy đến xem hàng. Ông này tới cùng 5-6 thanh niên vạm vỡ. Họ dùng cuốc xẻng gạt lớp đất ra, sau đó khuân tấm gỗ lát xuống. Ông thợ nói: Nể các bố quá, tấm gỗ đẹp ghê! Anh Nhung bàn thảo với ông thợ một hồi, sau đó thông báo lại cho chúng tôi: anh em chúng ta, mỗi người sẽ có một tủ đứng hai buồng, xương bằng gỗ lim, hai cánh tủ là lát chun hoa; hoặc ai không lấy tủ thì lấy giường đôi kích cỡ mét sáu hai mét (1,6 m x 2 m), ốp lát chun hoa, xương lim, giát dùng gỗ xoan đào. Ba ngày nữa, khi xẻ ván xong, sẽ tập trung hết ở đây để ký tên vào tấm gỗ của mình. Nếu ai thích xem mẫu mã thì sang xưởng xem. Hai tuần nữa, giường hay tủ của ai thì người ấy tự lên đây mà chở về.
*
* *
Chúng tôi về đến Viện 481 lúc 4 giờ chiều. Xe ô tô đỗ ở bãi cát bên ngoài Viện Kỹ thuật quân sự, là nơi Ban xe Viện 481 đóng quân. Tôi tạt vào báo cáo Phân viện trưởng là tổ công tác đã hoàn thành nhiệm vụ, về tới nơi an toàn. Anh Nguyên phấn khởi lắm, điện xuống Ban xe, bảo Trưởng ban cử ngay một lái xe thay anh Bình chở quặng lên Phùng, đồng thời, anh điện lên Phùng nhờ các anh lãnh đạo trên đấy bố trí anh em công nhân và vệ binh chuyển quặng từ xe vào kho nguyên liệu, nhớ đậy điệm cẩn thận, kẻo mưa gió.

Anh Nguyên nhắc chúng tôi lên ban Quân nhu bàn giao lại súng đạn ngay, không được đem về nhà. Anh cho chúng tôi nghỉ ba ngày bồi dưỡng sức khỏe sau đợt công tác, sau đó làm quyết toán với ban Tài vụ. Anh Nhung đổ hàng cánh kiến xong, thu được số tiền khá khẩm. Sau khi 5 "cái cán bộ" nó lên cái Hàng Buồm liên hoan cái đặc sản, vẫn còn đủ chia cho anh em. Nhìn chung, chuyến đi này thành công mỹ mãn, cả việc công lẫn việc tư.

Từ 4 tấn rưỡi quặng, Phân viện Hóa tinh luyện được gần 2 tạ sản phẩm, nghe nói hàm lượng u-ran-ni-um đạt 85 %. Nếu cố thêm nữa, sẽ tốn rất nhiều hóa chất và năng lượng điện, không bõ.

Sản phẩm được chia thành hai phần. Một phần chuyển cho Bộ Cơ khí và Luyện kim để làm thủ tục xuất đi Ba Lan, bù lại, bạn nhận đào tạo miẽn phí cho ta 15 suất thực tập tại Viện Hóa học Vác-sa-va. Thời gian thực tập là 18 tháng. Theo đúng quy định của nhà nước, Viện 481 được cử 15 người đi "Tây".

Phần còn lại của sản phẩm, anh Nguyên dự kiến làm bộ mẫu chuẩn u-ran-ni-um cấp quốc gia, đặt ở trong một cái hốc bê-tông trên một đỉnh núi ở vùng Tây Bắc, để mỗi khi máy bay chở các cán bộ địa chất cất cánh đi tìm mỏ phóng xạ mới ẩn sâu trong lòng đất, nó sẽ bay ngang qua đó hiệu chỉnh máy móc lần cuối, trước khi đo đạc chính thức.

Một tháng sau, tôi trở thành Đảng viên dự bị, thời gian thử thách là một năm. Hết một năm dự bị, tôi thành Đảng viên chính thức. Lúc này, tôi không còn sinh hoạt chi đoàn nữa.

Vài năm sau đó, Phân viện Lý lại tổ chức một tổ công tác đặc biệt vượt đèo Phia Boóc đi lấy 4 tấn quặng thô-ri ở Việt Bắc. Chi đoàn thanh niên vẫn là nòng cốt cho chuyến đi này. Số quặng lấy về lại được Phân viện Hóa tinh luyện thành sản phẩm. Cũng như lần trước, Viện 481 bàn giao một phần sản phẩm cho Bộ Cơ khí và Luyện kim để làm thủ tục xuất khẩu sang nước bạn Ba Lan. Lại thêm 15 người của cả hai Phân viện lên đường sang Viện nghiên cứu hạt nhân Vác-sa-va và Viện Hóa học Vác-sa-va thực tập 18 tháng. Phần sản phẩm còn lại, anh Nguyên lại cho trộn với bột thạch cao để làm bộ mẫu chuẩn quốc gia có hình Kim tự tháp, đặt trong hốc bê-tông ở sườn núi, để máy bay hiệu chỉnh máy móc đo đạc, mỗi khi các cán bộ Liên đoàn 10 đi tìm kiếm những mỏ phóng xạ mới cho Tổ quốc.




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 20.07.2016, sửa lần 9
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 12.07.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÂU CHUYỆN VỀ NHỮNG HỌC VIÊN QUÂN SỰ TẠI HUNG-GA-RI (tiếp theo 16)

VIỆN NĂNG LƯỢNG HẠT NHÂN QUÂN ĐỘI

CUỘC SỐNG GIÁ - LƯƠNG – TIỀN

Khi tôi về Viện 481, ngoài anh Đỗ Ngọc Liên, còn có hai anh nữa là anh Nguyễn Trọng My và anh Trần Tiến Bình cũng học ELTE về, nhưng các anh học chuyên ngành Vật lý, trước tôi nhiều năm (khi các anh tốt nghiệp về Việt Nam, tôi mới sang). Cả hai anh đều công tác ở phòng Vật lý Thực nghiệm và về sau, cả hai anh đều quay trở lại nước Hung, anh Bình làm Thạc sĩ, anh My làm nghiên cứu sinh.

Khi tôi về Viện 481, còn có 3 anh bạn nữa cùng học dự bị C196 trên trường Đại học Kỹ thuật quân sự (Vĩnh Yên). Một người là anh NDP, tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Béc-linh (Cộng hòa Dân chủ Đức) ngành điều khiển học. Anh NDP cùng với anh VVH (từng được gọi vào đội dự tuyển thi Toán quốc tế IMO năm 1974) tập trung cùng chúng tôi trong một đơn vị quân đội ở gần trường Đại học Ngoại ngữ Thanh Xuân một thời gian ngắn, do anh Lê Khôi chỉ huy (chúng tôi rút quân trước, các anh Phước, Hoàn học tiếng Đức, sau hè 1975 mới đi). Ở Viện 481, anh NDP làm ở phòng Điện tử hạt nhân. Về sau, anh NDP quay lại Đức làm nghiên cứu sinh về chuyên ngành tự động hóa, rồi xin về làm giáo viên giảng dạy ở Đại học Bách khoa Hà Nội. Còn anh VVH không may mắn, đã vĩnh viễn nằm lại nước bạn từ thời còn là sinh viên.

Người thứ hai là anh ĐHT (học chuyên ngành Điện công nghiệp), cùng nhận quyết định về Viện 481 một ngày với tôi. Tôi nhớ hôm đó, anh cán bộ ở Trạm 66 hỏi anh ĐHT, đại ý, Viện 481 xin cậu về công tác tại Thư viện do cậu biết tiếng Nga, cậu sẽ phải từ bỏ công tác chuyên môn để làm công tác thư viện, cậu có đồng ý không. Anh ĐHT vuốt vuốt những cụm tóc lòa xòa trên trán, nhoẻn miệng cười nói, em đồng ý. Phòng thư viện, ngoài chị Phòng, chị Kim Ánh, còn có anh Tiến và chị Thu. Gần chục năm sau, anh ĐHT chuyển sang phụ trách công tác Đảng.

Người thứ ba là anh Đặng Quốc Trung, con trai bác Đặng Quốc Bảo. Anh Trung học về vật lý quang lượng tử ở Đại học Tổng hợp Lô-mô-nô-xốp (Liên Xô). Khoảng vài năm sau, anh chuyển qua Viện Vật lý, chỗ Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu, vì thời điểm ấy, Viện mới lắp đặt máy gia tốc Microtron MT-17, là máy gia tốc đầu tiên ở Đông Nam Á, do Liên Xô viện trợ. Bác Bảo khi đó là Trưởng ban Khoa giáo trung ương. Nghe kể lại, có một nghiên cứu sinh của bạn Lào gửi sang ta làm luận án về quang lượng tử, Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu đã nhận đứng tên hướng dẫn, song, ông giao cho cử nhân Đặng Quốc Trung toàn quyền “bảo ban” anh bạn Lào kia.
*
* *
Tổ nghiên cứu Vật lý lý thuyết (Vật lý năng lượng cao) gồm các anh: Trần Hữu Phát, Nguyễn Tiến Nguyên, TDK, NQĐ, TQ, CLV, LSH, NQB. Còn các anh ĐQT, PTC và bạn nữ LTH (cùng “Trại sơ tán Ba Vì”, và là hàng xóm sống cùng trong khu tập thể quân đội với tôi) đều có chuyên môn vật lý hạt nhân, nhưng chưa có nhóm trưởng dẫn dắt, nên có phần hơi “bơ vơ”.

Tổ Vật lý lý thuyết thường tổ chức xê-mi-na những vấn đề cao siêu. Đọc những dòng nhắn gửi của các anh với nhau ghi trên tấm bảng đen treo trên tường, chứ chưa cần nghe các anh thuyết trình với nhau, đã thấy ù cả tai. Những là tia an-pha, bê-ta, gam-ma, nơ-tơ-rôn, e-léc-tơ-rôn, nu-cle-ôn, hạt quắc, phản hạt… một thế giới vô cùng rắc rối và phức tạp. Tổ các anh đạt được nhiều kết quả gửi đăng ở các tạp chí nước ngoài uy tín của Ba Lan, Liên Xô, Tiệp Khắc,… nhờ đó, nâng cao uy tín của Viện 481.

Trong tổ này có anh TDK là Phó tiến sĩ ở Đúp-na về, nên anh biết rất nhiều chuyện (và giai thoại, huyền thoại) về “sếp” Hiệu, “sếp” Tứ và nhiều nhân vật khác nữa trong giới vật lý lý thuyết từng tu luyện ở Đúp-na như anh Đào Vọng Đức, anh Cao Chi (anh ruột anh Cao Lan), chị Nguyễn Thị Hồng (phu nhân Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu)…. Anh TDK cũng biết một số “thâm cung bí sử” của tốp các anh hùng phi công Việt Nam qua đào tạo phi công vũ trụ ở Trung tâm huấn luyện Ga-ga-rin tại thành phố Ngôi sao như: Phạm Tuân, Nguyễn Đức Soát,… do trung tâm này ở rất gần Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Đúp-na.

Hồi ấy, chen giữa các buổi xê-mi-na khoa học, chúng tôi được anh TDK say mê kể cho nghe những chuyện dã sử pha chính sử về “chính sách giữ giống” của nhà Trần (ngôn ngữ y học hiện đại gọi là hôn nhân cận huyết thống), khiến tất cả đều nể trọng anh. Anh cũng nắm rất vững các sự kiện quan trọng diễn ra trong nước, ngoài nước, nội dung các cuộc họp Ban chấp hành trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư,… và phổ biến lại một cách không chính thức cho những anh em còn “ú ớ hội tề” như tôi. Anh còn khuyến khích lớp trẻ nên thường xuyên đọc tạp chí “Khoa học và đời sống” (Na-u-ka y Dzin-dờ-nhờ) bằng tiếng Nga trên thư viện để khai sáng các vấn đề khúc mắc như: giữa đồng bằng bao la phẳng phiu, tại sao các dòng sông lại chảy uốn lượn như con rắn ? Nói chung, anh TDK giống như một bộ Đại bách khoa toàn thư “sống” vậy.

Các anh LAT, NNT ở tổ Vật lý lò thì chép miệng kể, sau 1976, thống nhất đất nước, Viện Kỹ thuật quân sự được trực thuộc Bộ Quốc phòng, nên chế độ đãi ngộ cực kỳ cao. Buổi trưa, các anh xuống nhà ăn, đã thấy trên bàn ăn để sẵn một cái đĩa khăn ướp lạnh (mùa hè) hay khăn nóng (mùa đông). Các cô gái phục vụ mặc bờ-lu áo trắng như trong bệnh viện bước ra mời các anh lau mặt, sau đó mới bưng thức ăn và cơm canh ra. Cái cảm giác được phục vụ chu đáo làm các sĩ quan khoa học kỹ thuật trẻ tuổi đê mê sung sướng. Thời hoàng kim ấy, mỗi năm, Viện Kỹ thuật quân sự có hàng trăm suất đi thực tập, nghiên cứu ở nước ngoài, kể cả ở các nước tư bản chủ nghĩa. Các lãnh đạo cấp cao của Đảng và nhà nước thỉnh thoảng ghé thăm. Sau đó, đến thời kỳ 2 cuộc chiến tranh biên giới, Viện Kỹ thuật quân sự quay trở lại trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật, chế độ đãi ngộ, xe pháo,… giảm hẳn đi.

Còn đến khi có phong trào phát động nông dân mua trái phiếu bằng thóc, rồi các chi bộ phát động cán bộ đảng viên mua trái phiếu, và đỉnh điểm là sự ra đời của chế độ “giá – luơng – tiền”, quy mọi thứ giá trị vật chất trên toàn quốc ra thóc, thì đời sống của các “viện sĩ” đã tiến gần đến bờ vực của sự thiếu thốn và cực khổ.
*
* *
Một lần, anh Hành nhắn tôi qua nhà anh có việc gấp, vì anh bị ốm, không tới cơ quan được. Tôi phóng xe tới khu tập thể Ủy ban khoa học kỹ thuật nhà nước ở gần Đại sứ quán Thụy Điển, đi men theo đường cống thoát nước lát các tấm đan bê-tông sứt sẹo chừng 500 mét, thì tới nhà anh. Căn phòng diện tích chỉ chừng 12-13 mét vuông, đủ chỗ kê chiếc giường đôi và một cái tủ đứng hai buồng. Dưới gầm giường là chậu rửa mặt và xoong nồi lỉnh kỉnh. Anh Hành nằm trên giường, trán đắp khăn mặt, cất giọng khàn khàn, đại ý, chiều nay đến phiên anh dạy thêm môn Toán cho lũ học sinh lớp 9, nhưng anh bị ốm, không đi được. Anh muốn nhờ tôi giúp anh, đến địa chỉ dạy thêm ở số nhà… phố…, dạy lúc … giờ. Về giáo trình, anh lôi ra một tập trông như giấy nháp, đây là bài tập cũ, đã giao về nhà cho chúng nó hôm trước, cần chữa; còn đây là phần ôn tập lý thuyết và bài tập về nhà, hôm nay. Anh nói, nếu bỏ tiết này, một mặt, học sinh không theo kịp chương trình, vì sắp thi rồi; mặt khác, có thể người ta sẽ thay giáo viên khác, như thế lại mất công đi tìm “mối” mới. Anh cũng cẩn thận chua thêm, tiền công dạy tiết này, anh sẽ đưa hết cho tôi, tôi không cần suy nghĩ lăn tăn.

Tôi ôm đống giấy nháp đó về gặm nhấm, đúng giờ phóng xe đến điểm hẹn, dùng khóa dây khóa bánh sau chiếc Pha-vô-rít vào cái cột điện cạnh nhà, tự tin bước vào lớp. Buổi học diễn ra suôn sẻ, thậm chí tôi hơi phổng mũi vì lũ học sinh khen tôi “hiền” hơn “thày Hành”.

Khi tôi ngẩng cao đầu bước chân ra khỏi lớp, điều làm tôi choáng váng là tôi thấy bên kia đường có một dáng người quen quen, mặc bộ quần áo bộ đội cũ (đã tháo hai mảnh “tiết đỏ” trên cổ áo), đứng cạnh chiếc xe cuốc-xơ. Chết cha tôi rồi, “sếp” Nguyên ! Tôi lo lắng, vì nếu “sếp” bắt gặp tôi đi dạy thêm trong giờ làm việc, thì biết ăn nói sao đây, cho dù là tôi giúp anh Hành. Tôi chủ quan, cứ ngỡ là “sếp” sẽ tiến tới “bắt quả tang” cái thằng tôi và “cho” tôi một trận tơi bời, nhưng ô kìa, lạ chưa, người đó bỗng ngửa cổ lên trời, quay lưng lại, ẩn mình sau gốc cây phượng vĩ. Tôi gấp gáp mở khóa xe, nhảy phốc lên yên, cắm đầu phóng theo chiều ngược lại. Mồ hôi túa ra, ướt hết cả lưng áo. Đến tối, tôi qua anh Hành giả quyển “giáo trình” và không quên báo cáo anh chuyện động trời vừa xảy ra. Anh bình thản như không, bảo tôi: ờ, anh Nguyên cũng dạy thêm môn Lý ở đó.



Anh Trần Hành trong một lần trao nhà tình nghĩa

*
* *
Hồi chính phủ (khi đó gọi là Hội đồng Bộ trưởng) quyết định cải cách kinh tế theo hướng quy về một giá, tôi nhớ, Đảng ủy Tổng cục Kỹ thuật tổ chức học nghị quyết cho Đảng viên thuộc cụm các Viện nhỏ Viện lớn, các trung tâm khu vực Nghĩa Đô tại hội trường Viện Kỹ thuật quân sự. Hôm đó, báo cáo viên nhắc đi nhắc lại là “vấn đề là chúng ta phải tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng” và đưa ra câu hỏi: “Thế các đồng chí Đảng viên ngồi ở đây có tin tưởng vào nghị quyết của Đảng không?”. Cả hội trường ồ lên như ong vỡ tổ. Có một anh bạo dạn hỏi to: “Thế đồng chí có tin không ?”, làm báo cáo viên lúng túng như gà mắc tóc. Đến phần buổi chiều tỏa về các tổ, thực chất là các chi bộ, thảo luận và viết thu hoạch, ai cũng “ngán”, vì lúc sáng nghe nhiều quá, bị ong hết cả đầu. May quá, anh Nguyên (vốn nổi tiếng là người nghiêm túc) cũng xuề xòa cho qua. Anh phát biểu trước chi bộ: Không biết các đồng chí thế nào, chứ cá nhân tôi, tôi không tin. Chả lẽ tôi lại tự đi lừa dối mình. Nhưng thôi, chi bộ ta không giải tán ngay, mà sau đây 30 phút mới giải tán, không có người ta lại bảo, chi bộ mình họp quấy quá, không nghiêm túc. Các đồng chí nhớ nộp bản thu hoạch cho tôi.
*
* *
Phải công nhận, các thủ trưởng Viện 481 rất chú ý nâng cao đời sống cho anh chị em, cais gì vận dụng được là cố gắng vận dụng tối đa. Chúng tôi được tiêu chuẩn 23 cân gạo hằng tháng (lĩnh tại Viện), cao hơn hẳn các đơn vị bên cạnh. Các anh ở Phân viện Hóa và 1 phòng ở Phân viện Lý (phòng Thực nghiệm) được tiêu chuẩn 5 cân thịt 1 tháng. Đây là tiêu chuẩn cao nhất, dành cho những người làm công tác nặng nhọc, độc hại. Đường, sữa cũng thế.

Hằng quý, có tiêu chuẩn ở trên “dội” về. Khi thì là phụ tùng xe đạp, khi là bao thuốc lá, gói chè. Ai cũng khó khăn, nên để cho công bằng, thường phải rút thăm. Nhưng rút thăm cũng có lúc oái ăm. Người đang hỏng xích thì rút trúng lốp, người đang hỏng vành thì rút trúng săm. Đại loại thế. Tôi tự nguyện không tham gia rút thăm phụ tùng xe đạp, nhường suất rút thăm cho anh em trong phòng, vì khi ở Hung về, tôi đã mua trữ một lượng khá lớn các đồ phụ tùng rồi. Cho nên, anh em trong phòng Lý thuyết “bắt” tôi rút thăm mua thuốc lá, chè. Rút vài ba lần rồi thì cũng có lần trúng. Tôi không nghiện mấy thứ ấy, nên khi đem về nhà vài hôm, thấy người nhà chả ai đoái hoài, tôi đem ra đầu đường để lại cho mấy “con phe”, lấy tiền đi ăn phở. Một lần, bố tôi trông thấy đã mắng tôi là “mày là Đảng viên mà đi tiếp tay cho bọn con buôn làm lũng đoạn thị trường!”. Oan quá !

Thỉnh thoảng, Phòng Kế hoạch lại “xoay” được ở đâu thực phẩm hay nước chấm cho anh em. Quý hóa lắm. Lúc thì mỗi người một cân cá biển, loại nhỉnh hơn đồng xu một tí, đánh vẩy xong thì phấn còn lại bằng nửa đồng xu. Thế là băm nhỏ ra, viên với thìa là, rán vàng lên, ngon tuyệt. Lúc thì vài lạng thịt lợn lèo nhèo và đã hơi hơi có mùi, do phải giết lợn sống, sau đó lại chia chia cân cân sao cho “công bằng”, nên thời gian hơi kéo dài. Cách xử lý là rán lên lấy mỡ xào rau, nhưng trước khi xào, phải dùng tỏi để khử mùi.

Có một cái Tết, tôi rất vui vì… miếng thịt bò. Chả là năm ấy, Viện 481 chia thịt bò tươi vào chiều 27 Tết. Khi chia ra thành các suất, có người nêu ý kiến là, nếu miếng thịt nào cũng cắt vụn ra để chia cho công bằng, thì vừa mất công cắt, mất thời giờ, vừa không ổn, vì các bà nội trợ chả biết nấu món gì cho phải. Thê nên, người chia thịt đề xuất chia thành các suất có nửa miếng ngon, nửa miếng bạc nhạc; và các suất khác là nguyên một miếng với chất lượng trung bình; ai thích suất nào thì lấy suất ấy. Tôi đèo chiếc làn to xuống Viện lấy vài ba suất (hộ cả cho các anh em cùng phòng). Sau khi rẽ qua các nhà và để mọi người chọn lấy suất của mình theo “tư tưởng”: 1 miếng với chất lượng trung bình, hay 1 miếng có nửa này nửa nọ; thì trong làn còn lại 1 suất “nửa này nửa nọ” của tôi. Về nhà, tôi để nửa bạc nhạc ra một bên, dự kiến ngày mai sẽ tẩm ướp để nấu món sốt vang ăn với bún. Còn nửa ngon thì thái nhỏ ra (nhớ thái ngang thớ), ướp tỏi với nước mắm, chờ “lệnh” của bố mẹ tôi. Một lát, bố mẹ tôi về, tôi nói, hôm nay cơ quan con chia cho nửa cân thịt bò tươi, con đã thái xong rồi. Ý mẹ tôi là chia ra nhiều bữa, còn ý bố tôi là ăn luôn một bữa cho thỏa thích, vì đã lâu chưa ăn thịt bò. Tôi bóc mấy củ hành tây, rửa thêm vài cây tỏi tây, xào một đĩa to tú hụ để bố tôi và cả nhà nhắm với bia. Các cụ dạy, miếng ngon nhớ lâu là vậy.

Những ngày lễ như 30-4, 2-9, 22-12,… hay Tết Tây Tết ta, thì áp lực càng lớn, vì cơ quan đơn vị nào cũng đua nhau tổ chức các tổ nhóm đi “khai thác nguồn hàng” về “nâng cao đời sống cán bộ, công nhân viên, viên chức”.

Một lần, anh NCN được thủ trưởng Viện gọi lên giao nhiệm vụ về Nghệ-Tĩnh mua bò về cho đơn vị ăn Tết, vì anh có bà dì làm bên ngành thương nghiệp của tỉnh. Các anh mua được 5 con béo tròn, và được khuyến mãi thêm 1 con gầy gò. Hỉ hả điện thoại từ miền Trung về Viện báo tin vui là chúng em đã mua được 6 con bò. Tuy nhiên, khi cho bò lên tàu xe thì một con sổng mất. Ôi trời ơi, đuổi theo để bắt nó, thật không khó khăn gian khổ nào bằng. Cuối cùng, đành hậm hực quay về. Nhưng sợ nhất là ra đến Hà Nội, bị người này người nọ hiểu lầm. Lo lắng quá, anh mất luôn cả Tết.
*
* *
Giai đoạn “giá-lương-tiền”, anh NĐK cưới vợ. Đến khi vợ chồng anh sinh đứa con đầu lòng, chi đoàn thanh niên tổ chức đi thăm. Ra đến chợ Bưởi, ngơ ngáo hỏi hàng trứng gà so, thì “nó” hét giá kinh quá, mọi người đành mua một nải chuối trứng cuốc để mừng.

Anh HAT (tổ Vật lý lò) lúc đầu đi học tiếng Anh, nhưng học khá giỏi, nên sau khi thi lấy bắng tại chức, anh được thày cô ở trung tâm tín nhiệm, nhờ dạy hộ một số tiết ở những lớp sơ cấp, lâu ngày, anh dạy cả lớp trung cấp.

Còn anh HMG thì mua đậu tương tận gốc, trên Cao Bằng, sau đó gửi xe khách chuyển về Hà Nội, hì hục lấy cối đá xay ra, nấu lên thành sữa đậu nành, bán cho những ông bà về hưu hay đi tập thể dục buổi sáng ở gần Nhà hát Lớn. Theo kinh nghiệm của anh HMG, do điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu, đậu tương Cao Bằng có vị đậm hơn, hạt đậu mẩy hơn đậu tương dưới xuôi. Hơn nữa, khi xay đậu tương bằng cối đá, nhiệt năng bị cối đá hấp thụ gần như hết; còn xay bằng máy móc cơ khí, nhiệt năng bị hấp thụ không nhiều, nên phần nhiệt năng còn lại sẽ truyền trực tiếp vào các hạt đậu, làm hạt đậu bị “chín”, đó là lý do vì sao sản phâm làm ra (sữa đậu nành) không thể mát lạnh như khi xay bằng cối đá.

Mấy lần lên Phân viện Hóa trên Phùng tìm hiểu về thiết bị công nghệ hóa học, anh Hành hỏi được “mối” mua xút ăn da tận gốc ở Nhà máy supe-phốt phát Lâm Thao. Anh có quen ai đó ở phòng kế hoạch xí nghiệp dệt nhuộm Tân Châu gần ga Trần Quý Cáp, phía sau ga Hàng Cỏ. Tôi đã nhiều lần đèo anh lên Việt Trì liên hệ mua xút, đem về Hà Nội bán, ăn chênh lệch giá. Kiếm tiền kiểu ấy, “hiệu quả” hơn đi dạy thêm.
*
* *
Tôi nhớ, một lần, các anh phòng Vật lý thực nghiệm lễ mễ khuân mấy tấm chì bảo vệ (đã bị bão hòa chất phóng xạ) ra đám cỏ ở giữa hai khối nhà 4 tầng của Viện kỹ thuật quân sự để tạm đấy. Tuy nhiên, buổi sáng đến làm việc, không thấy đâu nữa. Anh em quyết định báo cáo thủ trưởng Viện 481. Thủ trưởng Viện 481 tức tốc làm việc với thủ trưởng Viện Kỹ thuật quân sự, dự kiến đưa công an hay kiểm soát quân sự vào cuộc. Có một anh mới bảo, thời buổi khó khăn, hở một cái là mất trộm, nhưng đồ vật bị mất ở đây là đồ đặc biệt, vì nó là chì bão hòa chất phóng xạ. Theo em, các anh cứ cho loa thông báo “thật kêu” là ai “nhặt” được mấy tấm chì bão hòa chất phóng xạ, thì cho xin lại, vì thứ đó, trong vòng 1 km, vô cùng nguy hiểm đến sức khỏe. Em tin, thể nào cũng tìm thấy.

Nhân bảo như thần bảo. Buổi chiều loa đài kêu ra rả, thì sáng hôm sau, đã lại thấy lù lù mấy tấm chì lăn lóc trên đám cỏ gianh.

Trường hợp mất chì bão hòa phóng xạ ở Viện 481 không phải là trường hợp duy nhất. Bên Viện Vật lý, Viện Khoa học Việt Nam, có một chiếc xe ô tô, trên có gắn thiết bị kiểm tra nồng độ phóng xạ, chuyên đi công tác lưu động. Và tất nhiên, bên trong xe có gắn nhiều tấm chì bảo vệ lái xe và cán bộ thi hành công việc. Theo thời gian, những tấm chì bị bão hòa phóng xạ, không có các tấm mới thay thế, nên xe để "mốc meo" một thời gian dài. Đến khi đụng đến, thì phát hiện ra, các tấm chì đã bay hơi. Không ai biết chúng mất khi nào. Phải hơn chục năm sau, người trong cuộc mới tiết lộ, một số nhân viên đã gỡ chì đem bán cho đồng nát, đồng nát bán lại cho thợ đúc chì, thợ đúc chì chế tác ra những cục chì bán cho ngư dân để ngoắc vào lưới đánh cá.
*
* *
Sau một vài năm, quân số phòng Lý thuyết biến động phập phồng, một số anh đi nghiên cứu sinh, hoặc đi bậc hai. Tôi nhớ có anh PLK, là lính C106 (dự bị đại học trên Đại học Kỹ thuật quân sự, sau tôi một năm), sau khi tốt nghiệp chuyên ngành Vật lý lý thuyết, được chuyển tiếp nghiên cứu sinh tại Đại học Tổng hợp Lô-mô-nô-xốp (MGU) ở Liên Xô về, được Cục Cán bộ phân công công tác về Viện 481. Thấy anh TDK bảo, anh PLK cùng một thầy với Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu (là Viện sĩ Bô-gô-liu-bốp con), có thư giới thiệu của Viện sĩ Bô-gô-liu-bốp (con) hẳn hoi, đề nghị “bác” Hiệu nhiệt tình giúp đỡ để sớm hoàn thành các thủ tục đi bậc hai. Thế mà trầy trật mất gần một năm, anh PLK mới sang lại Liên Xô được. Anh TQ cũng làm thủ tục đi bậc hai, hay sang Đúp-na gì đấy, cũng không “thoát” khỏi cửa “bác” Hiệu. Anh NQĐ thì vốn dĩ công tác ở Viện Vật lý, Viện Khoa học Việt Nam. Trúng hồi Tổng động viên 1979, anh “bị” nhập ngũ, sau đó về phòng Lý thuyết Viện 481, nhưng nguyện vọng của anh là được ra quân, trở về nơi làm việc cũ. Bỏ ra rất nhiều công sức, phải “vòng tay cúi đầu” xin thủ trưởng cũ, anh mới toại nguyện.

Một số anh em trẻ tốt nghiệp lớp Vật lý hạt nhân hay Điện tử hạt nhân trên Đại học Kỹ thuật quân sự ra trường, và một số vừa mới tốt nghiệp Đại học Năng lượng Mát-xcơ-va (MEI), là những nguồn bổ sung đáng kể, góp phần trẻ hóa phòng Lý thuyết. Anh LAT là cựu sinh viên Đại học Năng lượng Mát-xcơ-va, được giao “cai quản” những đồng nghiệp trẻ này, với mục tiêu là nghiên cứu về điện hạt nhân. Các anh rủ nhau ra Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, nơi có phòng Điện nguyên tử, tìm cách phối hợp công việc hai bên (ở đó cũng có một số sinh viên dân sự tốt nghiệp Đại học Năng lượng Mát-xcơ-va). Song dường như ý tưởng về việc xây dựng một nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam vào thời điểm ấy là hơi sớm. Tổ Vật lý lò có anh ĐAM từ đơn vị bổ sung về, có thể coi là một điểm sáng. Anh NĐH (Đại học Kỹ thuật quân sự) về sau một chút, cũng là một nhân vật tích cực, chăm chỉ. Anh ĐDD (Đại học Kỹ thuật quân sự, cùng khóa với anh NĐH) bị bệnh "nặng tai", cũng là một người luôn cầu tiến. Thấy bảo, bệnh của anh khá lạ lùng: ngày thường, phải nói hơi to anh mới nghe rõ, nhưng cũng có hôm trở trời, đột nhiên, tiếng nói thầm anh cũng nghe được.

Đời sống hồi ấy khó khăn, tuy nhiên trong phòng Lý thuyết, anh em đối xử với nhau rất chân tình. Anh Nguyễn Duy Thắng thỉnh thoảng lại mời cả phòng Lý thuyết đến nhà anh liên hoan. Chúng tôi khoái nhất là cái lò vi sóng của vợ chồng anh (dùng để rang lạc). Tính anh hào sảng, phóng khoáng, nên những cuộc liên hoan đó cực kỳ rôm rả.

Có một năm, anh Thắng đi họp về phổ biến lại, cấp trên đề nghị phòng ta cuối năm chọn ra một “sáng kiến cấp Viện” để Viện khen thưởng; ngoài danh hiệu, còn có cả khen thưởng vật chất. Khó quá. Về sau, một số anh em cho ý kiến là đề tài của anh HAT khả dĩ nhất, vì khi thực hiện tính toán lò phản ứng ở Trung tâm máy tính 360/50 trong Sài Gòn, thật bất ngờ, kết quả đầu ra gần giống với kết quả in trong cẩm nang của Man-trúc. Chi đoàn thanh niên tổ chức báo cáo nghiệm thu trước, coi như diễn tập; phòng Lý thuyết tổ chức báo cáo nghiệm thu sau. Tôi hơi tò mò, vì sao lần này lại đạt kết quả tốt đẹp thế, mà anh em trong đoàn đi Sài Gòn cứ hờ hững thê nào ấy, khó hiểu lắm. Tìm hiểu kỹ thì biết, lần ấy, anh HAT lập trình, đã vô tình “nện” nhầm vào công thức lặp một dấu “+ 2”. Thế là lúc máy tính in kết quả ra, so sánh với cẩm nang của Man-trúc, thì thấy hơi giông giống. Nếu bớt đi cái dấu “+ 2” trong công thức, để trở về dạng nguyên thủy, kết quả sẽ “tồi tệ”. Vấn đề là phải giải mã được, bản chất của dấu “+ 2” là gì, thì mới thuyết phục được anh em về mặt khoa học.

Chúng tôi vò đầu bứt tai, lúng túng như gà mắc tóc, bèn quyết định đi hỏi các bậc “lão làng”. Lời giải thích của anh Thắng có lẽ lô-gích nhất. Anh bảo, công thức tính toán trong sách của Man-trúc nhiều khả năng là công thức thật, hoặc "tiệm cận thật". Nếu đúng như thế, dữ liệu trong sách đã bị Man-trúc “bóp méo” đi, bằng cách “xô đẩy” một “cột sống” nào đó đi 2 đơn vị. Chương trình tính toán của anh HAT, trong một phút giấy “lơ đãng nhầm lẫn”, đã làm “lộ vở” của “cụ tổ sư” Man-trúc. Có thể có nhiều “vở”, song mới lộ một “vở”, chúng ta còn phải nỗ lực tìm cho ra những “vở” tiếp theo đang bị che chắn. Mọi người thấy sáng hẳn ra, nhất trí đề nghị đề tài của anh HAT đạt “sáng kiến cấp Viện”.

Hôm Viện 481 tổ chức hội nghị khoa học toàn Viện, anh HAT bảo vệ thành công đề tài của mình. Trong hội nghị, có một báo cáo của anh Sự bên phòng Hóa-Sinh (một số người ưa tính hài hước ghép tên anh ấy với nơi công tác, để gọi anh là Sự "hóa sinh", đơn giản đi thành Sự "sinh", rồi đột ngột biến hóa thành "Sinh Sự", do những khi nóng nảy, anh hay cái nhau với đồng nghiệp) về đề tài "Về một số ảnh hưởng của nước thải sau quá trình tinh luyện quặng phóng xạ đối với một số giống cây nông nghiệp". Theo đó, các anh giao trồng các loại cây nông nghiệp như: ngô, lúa, đậu xanh... vào những chiếc bình nhỏ trong phòng thí nghiệm, mỗi loại cây trồng vào hai bình, một bình duy trì ở chế độ bình thường, còn một bình thường xuyên tưới tắm thứ "nước thần" kia. Kết quả là, các cây ở bình thứ hai phát triển hơn, tươi tốt hơn, trĩu hạt hơn, bắp to hơn,... vân vân và vân vân. Những người ngồi dự buổi bảo vệ, ai cũng mủm mỉm cười, vì chẳng cần đi đâu xa, chỉ cần đi trên bờ đê gần đập Phùng, cũng có thể thấy, từ tường bao của Phân viện Hóa cách ra khoảng 50 mét, lúa ngô của đồng bào trồng bị cháy xém, trơ ra đất.

Hôm họp phòng, anh Thắng bảo, người ta cứ nói, mọi sự so sánh đều khập khiễng, nhưng thôi, ta vẫn phải thử so sánh để thấy, đề tài phòng ta quá xứng đáng đạt "sáng kiến cấp Viện".

Anh HAT nghiễm nhiên được chi bộ “để mắt đến”. Hè năm sau, tôi được chi bộ cử đi thẩm tra lý lịch để chuẩn bị kết nạp Đảng cho anh. Tôi đi tàu hỏa vào Vinh, tới ga Vinh lúc 5 giờ sáng, sương mù dày đặc, cách 5 mét không nhìn thấy mặt người. Lạ nước lạ cái, tôi theo chân mấy bà đi chợ leo lên xe ngựa tìm đến khu tập thể Quang Trung do Cộng hòa dân chủ Đức mới xây dựng viện trợ cho nhân dân thành phố Vinh. Tôi leo bộ lên tầng 4 và gửi gói quà của anh NCN cho người quen của anh. Sau đó, tôi mượn xe đạp và hỏi đường tới trường Đại học sư phạm Vinh, vì gia đình anh HAT sống trong khu tập thể giáo viên cạnh trường. Gia đình đón tiếp tôi rất niềm nở. Bố anh HAT đọc xong lá thư anh gửi, liền cấp tốc mặc quần áo đi đâu đấy, bảo tôi ngồi chờ. Một lát thì ông về, bảo tôi là chú đã nói chuyện với cán bộ tổ chức, là người có trách nhiệm về chuyện này, ông ấy dặn, sáng mai lúc 8 giờ, cháu cứ ghé qua văn phòng như một người bình thường.

Hôm đó trời nắng và oi lắm, nên tôi cũng chả đi chơi đâu, chỉ quanh quẩn ở nhà với hai đứa em sinh đôi của anh HAT. Mẹ anh HAT còn đi bắt gà làm cơm “đãi khách quý”, khi một chị hàng xóm hỏi nhỏ “nhà bác có khách à?”. Hôm sau, bố anh HAT dẫn tôi vào trường. Đến chỗ khóm phi lao, ông và tôi dừng lại. Ông chỉ tay bảo, cháu vào phòng thứ hai bên phải cầu thang, gặp anh X, cứ yên tâm, chú đã nói chuyện cẩn thận với anh ấy rồi. Tôi cầm theo cặp hồ sơ bước vào căn phòng, đưa giấy giới thiệu của Đảng ủy Viện 481, anh cán bộ khẽ gật đầu chào. Trong lúc anh xem xét các thứ giấy tờ, tôi nhìn ra ngoài sân trường và bỗng thấy bố anh HAT đứng cạnh khóm phi lao đợi tôi. Cho đến tận bây giờ, cái dáng vẻ nôn nao bồn chồn của ông ngày ấy vẫn gây ấn tượng mạnh mẽ trong tôi về tình phụ tử.
*
* *
Đối với anh HMG, tôi cũng được chi bộ cử đi thẩm tra lý lịch kết nạp Đảng, nhưng muộn hơn vài năm so với anh HAT. Nguyên do là hồi ấy, anh HMG sức khỏe không được tốt, đau ốm luôn. Tôi ra Bến Nứa mua vé lên thị xã Cao Bằng, vào đúng nhà anh HMG, ăn nghỉ ở đó. Ông bố anh trước là Phó Bí thư tỉnh ủy, có hồi phụ trách công tác tổ chức cán bộ của Tỉnh ủy, nên công việc của tôi nhàn nhã hơn. Hồi đó, ông đã về hưu, người yếu lắm, nói có lúc không ra lời. Bà mẹ anh cũng là người Tày, rất nhanh nhẹn và tháo vát. Bà phăm phăm dẫn tôi sang cơ quan Tỉnh ủy, vào thẳng phòng tổ chức, nêu thẳng vấn đề là có người của cơ quan anh HMG đang làm việc lên đây thẩm tra lý lịch gia đình để tiến tới kết nạp Đảng cho anh HMG, nhờ các anh chứng thực cho. Chỉ 5 phút, mọi việc xong xuôi, êm đẹp. Đọc bản lý lịch viêt tay của anh HMG, tôi đã biết, trước năm 1945, bà đã làm liên lạc viên cho các bậc lão thành cách mạng của nước ta ở chiến khu Việt Bắc như: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Thái…

Tổ Toán cũng có thêm thành viên mới, là anh NMT, tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Hà Nội. Anh em trong tổ hay ghé nhà anh NCN ở tầng 4 khu tập thể Kim Liên chơi. Anh chị đẻ hai đứa đủ nếp đủ tẻ, một gái một trai, mỗi tội chỗ ở hơi chật, phải cơi nới thêm gác xép, sát mái nhà, nóng hầm hập. Có hồi, chuột dưới cống rãnh bò lên phá phách nhiều quá, anh NCN đã “biểu diễn” cách bắt chuột độc nhất vô nhị của anh cho chúng tôi xem. Anh kê một tấm phản to sát tường và rắc mấy hạt gạo ở trong. Khi chú chuột nhắt lách vào khe tối để “măm” gạo, anh khẽ bảo chúng tôi: Các chú xem anh “trị” thằng chuột này nhé. Rầm một cái, anh xô tấm phản áp sát tường, chú chuột nhắt bẹp dí. Lần khác, anh từ từ ép tấm phản vào tường, kẹp hờ chú chuột ở trong, rồi tóm đuôi lôi ra một tên “tý” còn sống nhăn răng, đang kêu la “chít chít chít”.

Quê anh ở miền trong, nên anh hay có món lạc mang từ quê ra. Kèm món lạc là món kể chuyện chuyên đề tràng giang đại hải, được anh NCN gán cho thuật ngữ “quê choa” là “cà rảng” - phải, “cà rảng” – còn anh HMG, một người con của dân tộc Tày, dịch ra tiếng Kinh là… “ba hoa bốc phét”.

Món lạc nhân - hồi ấy mọi người triệt để tiết kiệm lắm - thường được rang lên làm muối lạc ăn với cơm (trong phòng thí nghiệm, các nhà khoa học đã phân tích rằng thì là mà, hạt lạc có nhiều chất béo), nhưng anh NCN cứ hay mang ra đãi “khách” “bừa bãi”. Có lần, tôi nhờ anh mua giùm bằng giá ngoài chợ cũng tốt, nhưng anh không chịu, anh để lại cho tôi với giá “mềm oặt”, gần như không công vận chuyển tàu xe.
*
* *
Ở Phân viện Hóa của Viện 481, sau những lần tinh luyện quặng phóng xạ, đã xuất hiện một "công nghệ" kiếm ra tiền, đó là "công nghệ" tách vàng.

Có lẽ do đời sống quá khó khăn nên hồi đó nhiều nơi người ta đổ xô đi khai thác vàng. Một số người đi đào vàng qua quen biết giới thiệu đã tìm đến các anh trong phòng Phân tích để nhờ xem có thể tách được vàng từ những túi quặng họ mang đến không. (Ba mươi năm sau, tôi lên chơi Phùng, vân còn nghe cán bộ Ủy ban nhân dân huyện nói, hồi xưa, ở đây có Viện Hóa học quân đội, trang bị hiện đại lắm, có khả năng tách được vàng). Các anh đã bỏ công thử nghiệm nhiều phương án khác nhau (dùng hóa chất của đơn vị), và cuối cùng mỗi nhóm cũng tìm ra cách riêng của mình. Thường là gặp nhau ở quán nước, mặc cả xem, với túi vàng cám mang đến, sau thời gian bao lâu thì tách được sản phẩm, và công sá thế nào. Về sau, quen mặt nhau rồi, thì tiền trao cháo múc, mua bán đứt đoạn luôn. Cái túi vàng cám này, tôi trả ông 2 chỉ, đồng ý thì cầm luôn 2 chỉ !

Cho nên, ở Phân viện Hóa có nhiều người "bỗng dưng muốn khóc" vì có tiền. Một anh làm ở phòng Phân tích sau này mới kể, có một tay khá bợm, hắn biết là trong đống quặng thải của nhà máy luyện đồng Hà Bắc có vàng, nhưng loay hoay không biết cách tách vàng ra thế nào. Nghe tiếng "Viện Hóa học quân đội", hắn cho người tìm đến anh, nhờ giúp đỡ. Anh bảo, anh cần một túi nhỏ quặng thải để thử tách, khi có kết quả, hai bên mới tiến tới đàm phán hợp đồng. Anh mang túi quặng về nhà, chia thành hai ba đợt, thử đi thử lại, thấy "công nghệ" ổn định, mới đặt vấn đề: tôi đảm bảo tách được X gam vàng từ Y kg quặng thải (có túi mẫu để đối chứng) sau thời gian Z ngày, các ông trả tôi bao nhiêu tiền ?. Kết quả là, sau 17 ngày, anh mua được một ngôi nhà.

Trong Viện 481 vẫn đồn đại câu chuyện hai thanh niên ở phòng Phân tích vừa sắm hai chiếc xe đạp Mi-pha mới coong, một buổi trưa, hứng lên, hai anh chàng liền tổ chức cuộc thi "đi xe đạp chậm", ai thua phải để lại xe cho người thắng. Và hôm ấy, kẻ thua không đến nối phải "nhảy lầu tự tử" như có người chủ quan thầm nghĩ, mà sưng mặt lên, nói: Ăn thua gì, chỉ hai tuần nữa là "ông" lại có "con xe" mới rồi!.


KHỞI ĐẦU VỚI QUẢ TÁO-2

Sau khi chất bán dẫn ra đời, các linh kiện điện tử có cơ hội thu nhỏ kích thước lại, do vậy mà xuất hiện những thiết bị, đồ dùng điện tử “thân thiện” như: máy tính cầm tay, máy tính gia đình, hay đồ chơi điện tử phục vụ cá nhân hoặc gia đình. Quả tim (hay khối óc, hay cả hai) của những thứ máy móc tinh xảo này chính là các bộ vi xử lý.

Đến những năm đầu của thập kỷ 1980, máy tính cá nhân bắt đầu thâm nhập Việt Nam thông qua những Việt kiều.

Viện 481 may mắn có được một trong những chiếc máy tính cá nhân “Quả táo-2” (Apple-II) đầu tiên trong cả nước, là nhờ công của anh PTP, con trai Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch.

Anh PTP thuộc lứa tốt nghiệp phổ thông năm 1972, được bác Hiệu trưởng Đặng Quốc Bảo “triệu tập” lên trường Đại học Kỹ thuật quân sự, nhờ có thành tích học tập tốt, sau đó được lựa chọn vào Tiểu đội A9, gọi dân dã là “Tiểu đội đi Tây”. Rồi sau đó, anh được quân đội gửi ra Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, cho đi học chuyên ngành Điện tử hạt nhân ở Đại học Tổng hợp Min-xcơ (Liên Xô). Khi về nước, anh công tác ở phòng Điện tử hạt nhân thuộc Viện 481. Anh rất biết tôi, vì ông anh ruột tôi cùng lứa với anh (cùng học lớp 6, 7 ở trường Thiếu sinh quân mang tên Nguyễn Văn Trỗi bên Quế Lâm, Trung Quốc; sau đó lại cùng lên trường Đại học Kỹ thuật quân sự); ngoài ra, tôi học với em ruột anh PTP, là anh PKT (cùng học một trường, từ lớp 6 đến lớp 10; sau đó lại cùng lên trường Đại học Kỹ thuật quân sự học dự bị tiếng Nga). Nhà anh PKT cùng phố với khu tập thể quân đội, nơi gia đình tôi sinh sống, nên chúng tôi hay gặp nhau trên đường đi bộ tới trường, hoặc từ trường về nhà.

Tôi nhớ, một hôm, có mấy anh rì rầm với nhau là chiều nay, xe con của thủ trưởng Phát sẽ đi chở máy tính điện tử cá nhân về Viện. Bên phòng Điện tử hạt nhân đã chuẩn bị một góc để kê bàn, có thợ đến “tân trang” lại máy điều hòa không khí, bơm thêm khí ga, vặn lại hai cái móc ổ khóa bên ngoài cho chắc chắn thêm, cứ như là chuẩn bị đón nguyên thủ quốc gia không bằng. Buổi chiều, xe com-măng-ca đít tròn của anh Phát đúng là chở mấy cài thùng các-tông về Viện thật. Hình như có vài ba Việt kiều hộ tống đi theo. Sau đó, mấy anh Việt kiều lắp máy lên và lấy một tấm vải dù đẹp… trùm lên cho khỏi bụi.

Hôm sau, theo lệnh của thủ trưởng Phát, anh PTP “huy động” anh NDP (cùng phòng với anh PTP), tôi và anh HMG tham gia vào tổ máy tính, với nhiệm vụ tìm hiểu ban đầu, tiến tới khai thác tối đa các tính năng của máy.

Công việc trước hết phải làm là học sử dụng máy. Tổ trưởng PTP phổ biến cho lũ chúng tôi: Buổi chiều hằng ngày, xin phép trưởng phòng về sớm một chút (anh đã xin phép Viện trưởng hộ rồi), tắm rửa, cơm nước xong xuôi, đúng 7 giờ 30 tối, có mặt tại Bộ Ngoại giao, gần Lăng Bác, để học. Nhớ mang theo giấy bút. Sở dĩ học vào giờ này, là vì các anh Việt kiều bận làm việc cả ngày, đến lúc ấy mới rảnh rỗi.

Điều vô cùng vinh hạnh là chúng tôi được học ngay trong phòng làm việc của Bộ trưởng. Ở phòng bên cạnh luôn có vài ba cán bộ văn phòng ngồi trực. Các anh chính là những người kê bàn ghế, bố trí bảng, phấn viết, giẻ lau, lo nước uống… cho lớp học.

Chúng tôi được phát mỗi người 1 tập tài liệu (tiếng Việt) đánh máy. Hồi ấy, chưa phổ biến máy photocopy, nên có người nhận tài liệu màu đen, có người nhận tài liệu màu xanh, có người nhận tài liệu màu tím than.

Nội dung tài liệu là một số câu lệnh liên quan đến quản lý thư mục, quản lý tệp… của Hệ điều hành CP/M. Học lý thuyết đến đâu, chúng tôi được chỉ dẫn thực hành đến đấy, trên dàn máy “Quả táo-2” đặt ngay trong lớp học (học xong, các anh bên Văn phòng lại có trách nhiệm cất máy đi). Sau khi học “hết chữ của thầy” thì lớp học không tồn tại nữa. Chúng tôi quay về Viện 481 văn ôn võ luyện suốt ngày.
*
* *
Tôi đem chuyện này khoe với ông bạn TVT (VK75): Ồ, tưởng gì, B-14 cũng có Quả táo-2!. Thế rồi một hôm, anh TVT còn “hào phóng” cho tôi mượn đĩa mềm 5 1/4 để sao chép chương trình phần mềm quản lý Hồ sơ cá nhân mang tên PFS (viết tắt của Personal File System) và dặn dò cẩn thận: Này, cậu đừng có mà cho ai copy đấy nhé!. Trước đó, tôi đã chủ động báo cáo tình hình với anh PTP và được sự cho phép của anh.

Thực chất, đây là một chương trình phần mềm quản lý nhân sự (mỗi nhân sự có thể ghi tới 32 trường dữ liệu, tức là 32 đặc điểm, tính chất đặc trưng, ví dụ như: họ, đệm, tên, ngày sinh, dân tộc, giới tính,…). Sau khi nạp các dữ liệu vào máy, có thể ra lệnh tìm kiếm. Khi đó, máy sẽ tìm thông tin cho mình (nếu tìm thấy), và báo hiệu “Tôi không tìm thấy” (nếu quả thực không tìm thấy).

Điểm hạn chế là chương trình phần mềm này chỉ cho phép quản lý thông tin của… không quá 100 người, do dung lượng 1 đĩa mềm quá khiêm tốn. Khi định nạp dữ liệu của người thứ 101 lên đĩa, máy vi tính “Quả táo-2” sẽ nhắc nhở: Bộ nhớ đã cạn, đề nghị rút đĩa mềm trong ổ đĩa ra, đưa đĩa mới đã pho-mát (định dạng dữ liệu) vào. Xin cảm ơn.

Như vậy, xét về lý thuyết và thực tiễn, có thể quản lý thông tin của… 200 người. Tuy nhiên, khi đi truy tìm thông tin, sẽ phải liên tục rút đĩa ra, đưa đĩa vào, khá phiền phức.

Dưới con mắt của học sinh tiểu học bây giờ, chương trình phần mềm này chỉ như một trò tiêu khiển cho bọn học sinh mẫu giáo. Anh sĩ quan phụ trách tổ chức cán bộ, khi xem tôi “biểu diễn” chương trình này, có nói với tôi: “Tớ sẵn sàng thi đấu với chương trình phần mềm của các cậu”. Đúng là để thống kê xem có những ai là Đảng viên, có bao nhiêu sĩ quan cấp bậc thiếu úy… thì máy tính thua người. Nhưng để thống kê về ngày sinh tháng đẻ của các cán bộ trong đơn vị, thì coi chừng, người thua máy. Tức là, theo một nghĩa nào đấy, máy vi tính Quả táo-2 chỉ xứng đáng như một thứ trò chơi “giải ngố” mà thôi !



Hai người bạn phổ thông trước ngày thi đại học (1974).

*
* *
Một lần khác, gặp anh VVM (VK75), tôi lại đem chuyện có máy vi tính để khoe, ông bạn lại bảo: Ồ, tưởng gì, Viện Vũ khí bọn "én" cũng mới có Quả táo-2! Tôi bèn rủ các anh NDP, anh HMG cất công đạp xe xuống tham quan phòng máy của các anh ở Cầu Diễn và gặp 3 anh VK77 học ngành Đo lường BME ở đấy. Tôi hỏi nhỏ về nguồn gốc máy. Anh VVM che tay lên miệng, thì thào: Do sếp Chỉ quan hệ tốt với Tổng cục và cũng thuộc diện “to mồm”, nên các ông ấy xuất tiền cho 2 đơn vị trong Tổng cục, mỗi đơn vị 4.000 đô-la, để mua máy! Anh Phan Chỉ lúc đó là Viện trưởng Viện Vũ khí.

Theo lời kể của anh VVM thì năm 1983, khi anh đang làm việc ở một phòng thí nghiệm bên Hung, thì anh Phan Chỉ sang Hung công tác, có gặp mấy anh em học ngành đo lường (muszer) ở BME là các anh: VVM VK75, NMT, ĐBN VK77 và VKS VK78. Anh Chỉ đã nắn nót ghi tên các anh này vào cuốn sổ tay đem theo người và hứa, khi về Việt Nam, sẽ đề nghị với Tổng cục (Kỹ thuật) điều động các anh này về Viện Vũ khí công tác. Cả anh NXC VK77, học hệ B, tốt nghiệp sớm một năm, đang "lăn lộn" ở Bộ Tư lệnh Hải quân dưới Hải Phòng, cũng nằm trong tầm ngắm của anh Phan Chỉ.

Quay trở về Viện 481, anh NDP, vốn học bên Cộng hòa Dân chủ Đức về, hào hứng giải thích thêm cho chúng tôi, mưa dầm thấm lâu nên vẫn nhớ: Bộ vi xử lý trung tâm của máy “Quả táo” là con Z-80 6502 8-bit của hãng Zilog. Bộ vi xử lý này được dùng phổ biến trong thiết bị hòa âm các nhạc cụ, các cỗ máy giải trí điện tử và thậm chí, một vài ứng dụng quân sự. Vì sự phổ biến rộng rãi và gây sốt ở bên Mỹ và Tây Âu, mà nó bị Liên Xô và một số nước Đông Âu làm nhái. “Z80” ngụ ý bộ vi xử lý của thập kỷ 1980, ngoài ra, nó có gì đó gợi nhớ tới các bộ vi xử lý 8080, 8086 của hãng Intel, hay 6800 của hãng Motorola.

Ông chủ của công ty Zilog tên là Federico Faggin, một người Mỹ gốc Ý, làm thuê cho hãng Intel 5 năm trong dự án MCS-4 với mục tiêu thiết kế ra bộ vi xử lý 4004, sau đó tham gia thiết kế bộ vi xử lý 8080 – là những bộ vi xử lý chủ yếu dùng cho dòng máy tính gia đình. Hết 5 năm, ông này rủ toàn bộ ê-kíp thiết kế tách ra lập công ty riêng, lấy tên là Zilog. Họ mua lại bản thiết kế 4004, vốn thuộc quyền sở hữu trí tuệ của Intel và mở rộng thiết kế để cho ra đời con Z-80. Mục tiêu của họ là bán Z-80 cho các hãng chế tạo thiết bị trò chơi điện tử nổi tiếng của Nhật Bản như: Hitachi, Toshiba, Sharp,… Các hãng Nhật sẵn sàng mua bộ vi xử lý Z-80, vì nếu mua bộ vi xử lý của Intel hay Motorola, họ sẽ phải trả số tiền nhiều gấp 6 lần, trong khi chất lượng chưa chắc đã ngang ngửa, do Z-80 đã được cải tiến, thiết kế thêm phần làm tươi DRAM (dynamic RAM – RAM động), và không yêu cầu quá nhiều chip phụ trợ.

Hãng Zilog có một kỹ sư người Nhật tài ba tên là Masatoshi Shima. Ông này ban đầu học chuyên ngành hóa hữu cơ ở Đại học Tohoku vùng Sendai (phía Bắc Nhật Bản), song do không tìm được việc làm, nên đến xin việc ở một hãng sản xuất máy tính cầm tay, có tên là Busicom. Tại đây, Shima được học về phần mềm và thiết kế lô-gích số. Khi hãng sản xuất Busicom quyết định sẽ sử dụng các bảng vi mạch tích hợp cỡ lớn (large-scale integration circuits) trong sản phẩm của mình, hãng này đã đi tìm sự hỗ trợ từ hai công ty Mỹ là Mostek và Intel. Tuy nhiên, sau đó hãng này chọn Intel là đối tác, vì Intel không chỉ là một công ty sản xuất bộ nhớ đơn thuần, mà đã thể hiện được những lợi thế của mình trong việc chế tạo những con chip mà Busicom đòi hỏi. Năm 31 tuổi, kỹ sư Masatoshi Shima gia nhập hãng Intel và được trưởng dự án Federico Faggin (33 tuổi) nhận vào nhóm thiết kế bộ vi xử lý 4004. Nhưng chỉ 6 tháng sau, Shima cùng hai kỹ sư người Mỹ là Marcian Edward Ted Hoff (38 tuổi) và Stanley Mazor (33 tuổi) quyết chí rời bỏ Intel, đi theo Federico Faggin để hình thành công ty Zilog vào năm 1975.

Còn “6502” (đọc là sáu-năm-không-hai), tên đầy đủ là công nghệ MOS 6502 (MOS là viết tắt của Metal Oxide Semiconductor – bán dẫn ô-xít kim loại) do hãng Texas Instruments (TI) thiết kế. Điều thú vị là nhóm kỹ sư thiết kế họ 6502 và họ các bộ vi xử lý 6800 của Motorola là một. Có thể nói, bộ vi xử lý Z-80 phát triển hơn so với 8080, thậm chí còn vượt cả một cải tiến của 8080 là 8085. Lúc đầu, Zilog phải thuê 2 hãng Synertek và Mostek sản xuất, nhưng 1 năm sau, Zilog đã có nhà máy sản xuất riêng của mình.

Anh NDP cho biết, ngoài MOS còn có CMOS, viết tắt của “Complementary MOS”, tức là “MOS có bổ sung”, là công nghệ để làm những bảng mạch điện tử tích hợp, dùng nhiều trong bộ vi xử lý (microprocessor), bộ vi điều khiển (microcontroller), bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên, loại tĩnh (static RAM), cùng nhiều bảng mạch lô-gích kỹ thuật số khác.
*
* *
Sau này, chúng tôi mới được biết, thời điểm ấy, một số Việt kiều có tinh thần yêu nước thật sự, mong muốn đóng góp cho đất nước, muốn xin phép vào Việt Nam, song việc xin thị thực (visa) bị vướng một số quy định gì đó bên công an, chứ không phải Bộ Ngoại giao không cấp. Đến nỗi, bác Nguyễn Cơ Thạch phải đứng ra lấy tư cách cá nhân, bảo lãnh để các anh được vào Việt Nam. Các anh rất cảm ơn thịnh tình của bác Thạch. Thấy anh PTP là người mê công nghệ, các anh ngỏ ý tặng cho cơ quan anh PTP đang công tác một bộ máy vi tính “Quả táo-2”.

Sau này, anh PTP còn nhờ các anh Việt kiều tới nhà riêng “phụ đạo” thêm. Nhờ thế, một lần, tôi trông thấy anh chạy chương trình vẽ bản đồ Việt Nam “nhát một”. Hôm khác, anh lại cho chúng tôi xem màn bắn pháo hoa ở chế độ đồ họa thấp, trông cứ như là xịt nước hoa.

Đến năm sau, công nghệ tiến rất nhanh, “Quả táo-2” trở nên lạc hậu, lỗi thời. Anh PTP lại “tài ba” xin được một suất mua máy khác. Tôi nhớ, hồi đó Viện Vật lý của Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu là “tổng kho” chứa các máy vi tính IBM-XT, và “thủ kho” là anh Dũng “đen”, phụ trách về máy vi tính của Viện. Anh này rất hắc-xì-dầu, mặt lúc nào cũng khó đăm đăm.

Thực ra, số máy vi tính trong kho của Viện Vật lý là do các anh Việt kiều đưa từ nước ngoài về, cất tạm ở đấy, chứ không phải là tài sản riêng của Viện Vật lý.

Lần này, anh PTP vẫn thuyết phục được Viện 481 bỏ ra số tiền tương đương hơn 3.600 đô-la Mỹ để mua một dàn IBM-XT đang “sốt” trên thị trường.

Khác với máy vi tính Quả táo-2 chạy hệ điều hành CP/M (viết tắt của Control Program/Monitor, mãi sau mới là viết tắt của Control Program for Micro-computers), do Gary Kildall, là người của hãng Digital Research viết; máy vi tính IBM-XT chạy hệ điều hành PC-DOS, do Bill Gates, là người của hãng Microsoft được IBM thuê viết.

Hệ điều hành CP/M ban đầu dành cho các bộ vi xử lý 8-bit với bộ nhớ RAM không quá 64 Kb (ki-lô-bai); về sau phát triển lên, đáp ứng cho cả bộ vi xử lý 16-bit. Còn hệ điều hành PC-DOS đáp ứng bộ vi xử lý 16-bit 80286 của Intel.

Chữ PC mang ý nghĩa “máy tính cá nhân” (viết tắt tiếng Anh của Personal Computer), còn chữ DOS mang ý nghĩa “hệ điều hành đĩa” (viết tắt tiếng Anh của Disk Operating System). Thực ra, đã gọi là hệ điều hành thì nó phải điều hành nhiều thứ có trong máy vi tính, nhưng do yếu tố lịch sử, quản lý và điều hành bộ nhớ ngoài (đĩa mềm và đĩa cứng) là công việc “bề nổi” nhất, nên người ta cố tình đặt tên như thế.

Bước đầu tiên để PC-DOS (về sau là MS-DOS) có thể quản lý được “đối tượng” của nó, là phải ép buộc “đối tượng” đó vào một khuôn khổ do nó định ra, nói cách khác, quá trình định dạng đĩa từ (đĩa mềm hay đĩa cứng logic) trong PC-DOS sẽ chia không gian đĩa đó ra làm 2 phần cơ bản, là vùng hệ thống (system area) và vùng dữ liệu (data area). Đồng thời, hệ điều hành ghi các thông tin cần thiết vào vùng hệ thống để chuẩn bị cho việc lưu trữ và quản lý dữ liệu sau này. Vùng hệ thống bao gồm các thành phần như: boot sector (phân khu mồi, dùng để khởi động máy tính); bảng FAT1 (Bảng xác định vị trí các tệp thông tin có trên đĩa); bảng FAT2 (Bảng xác định vị trí các tệp thông tin có trên đĩa); root directory (thư mục gốc) chứa các chương trình, các thông tin liên quan đến tệp, thư mục (file, directory) để giúp hệ điều hành quản lý các file và directory sau này. Vùng dữ liệu gồm các khối (block) có kích thước bằng nhau (512 Kb), được đánh địa chỉ (12-bit hay 16-bit) để phân biệt. Đây chính là các cluster (cụm thông tin) trên đĩa.
*
* *
Mấy anh em trong tổ máy vi tính chúng tôi thỉnh thoảng rủ nhau sang Viện Vật lý hay Viện Tính toán điều khiển để dự xê-mi-na, thực chất là nghe một số "chuyên gia" nói về những kiến thức mới thu lượm được trong thời gian gần đây. Như anh Vũ Duy Mẫn ở Viện Tính toán điều khiển, do có ông bố làm công tác ngoại giao hay sao ấy đang ở bên Pháp, nên anh được bố anh gửi cho thường xuyên các tạp chí về máy vi tính (Thư viện khoa học kỹ thuật trung ương cũng không có, hoặc một vài năm sau mới có, vì giá đặt các tạp chí ấy rất đắt). Những năm ấy, các anh "diễn giả" đã nói tới việc điều khiển máy vi tính bắng "con chuột" (anh có giơ tấm ảnh chụp máy tính Lisa của hãng Apple có con chuột lên cho mọi người xem. Sau này tôi mới biết, Lisa là tên cô con gái của ông chủ hãng). Các anh cũng "khoe", anh Phan Đình Diệu (Viện trưởng Viện Tính toán điều khiển) trong một lần đi công tác châu Âu, đã bỏ tiền túi ra mua những linh kiện đắt tiền cho một nhóm nghiên cứu đang tìm cách lắp một chiếc máy vi tính "made in Việt Nam", vì kinh phí nhà nước chưa dự trù cho những việc đột xuất như thế này. Nghe thế, thấy sướng lắm.
*
* *
Ngẫu nhiên thế nào ấy, lịch trực ban của tôi và anh TVT VK75 hay trùng nhau (anh TVT là sĩ quan trực ban của Viện Kỹ thuật quân sự, còn tôi là sĩ quan trực ban của Viện 481). Những dịp ấy, anh TVT hay bổ túc thêm cho tôi về máy vi tính, vì trong khi tôi còn mù mờ, thì anh TVT đã biết nhiều rồi. Anh không hề giấu diếm mà luôn nhiệt thành chia sẻ cho tôi, tuy nhiên, cách anh chia sẻ nhiều khi làm tôi rối thêm, vì anh không “bắt đầu từ rừng, đi đến cây” mà hay “bụp một phát”, nghĩa là trong đấu đang chứa thông tin gì, thì lập tức “phun” ra luôn.

Chẳng hạn, anh nói về công nghệ “one-chip”, làm tôi bối rối, chả hiểu mô tê gì, mãi sau mới ngộ ra là “on-a-chip” (viết thì khác nhau, nhưng nghĩa của hai cụm từ gần giống nhau).

Hay khi anh nói về RAM, anh giải thích RAM là viết tắt tiếng Anh của Random-Access Memory (bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên), có vẻ hơi “cụt lủn”. Tôi kỳ vọng anh sẽ giải thích sâu hơn: “ngẫu nhiên” đối lập với cái gì? “ngẫu nhiên” ngụ ý gì? và “ngẫu nhiên” thì có ưu điểm gì so với “không ngẫu nhiên”?. Vân vân. Thực ra, câu trả lời (sau này tôi mới biết) đâu có quá khó: “ngẫu nhiên” đối lập với “tuần tự” (như kiểu ghi thông tin lên trống từ ở các máy tính “nhớn” những năm 1940); “ngẫu nhiên” ngụ ý động tác truy cập (là thao tác “đọc dữ liệu từ bộ nhớ” hay “ghi dữ liệu lên bộ nhớ”) không cần đến những thủ tục rắc rối; thao tác “ngẫu nhiên” có ưu điểm là tốc độ đọc-ghi dữ liệu sẽ nhanh hơn.

Khi anh nói về DRAM, tức RAM động (Dynamic RAM), để phân biệt với RAM tĩnh (Static RAM, tức SRAM), tôi mong chờ một sự giải thích ngắn gọn và cô đọng (nếu dài dòng quá thì thôi, lúc khác sẽ nhờ anh giải thích sau). Như kiểu: tế bào của bộ nhớ làm từ một transistor, và bit 1 của dữ liệu sẽ tương ứng với sự nạp điện (bit 0 sẽ tương ứng với sự xả điện) vào một tụ điện độc lập. Bằng cách này, có thể nạp và xóa rất nhanh dữ liệu (gồm nhiều bit thông tin tập hợp lại mà thành). Công nghệ này gọi là công nghệ DRAM. Nhanh hơn công nghệ cũ cỡ 1.000 lần.

Anh TVT cũng phấn khởi thông báo cho tôi, nghe nói, Phân viện chiến tranh điện tử (B-10), nơi các anh TQM và PC (VK76) công tác, đang lập chương trình bắn đón máy bay Mỹ trên máy vi tính, song, gặp trở ngại "nho nhỏ" là, khi chương trình tính toán xong đường bắn, thì máy bay nó đã vọt đi từ lúc nào rồi !

Một lần, đi trực ban cùng nhau, anh TVT buồn rầu tâm sự với tôi: Trong một buổi báo cáo báo cầy đề tài khoa học ở Phân viện, anh PB, một đàn anh ở Viện Kỹ thuật quân sự có nêu một vấn đề bỏ ngỏ xung quanh việc lập trình cho bộ vi xử lý, mà anh nghĩ mãi chưa ra. Hôm ấy, anh TVT có tham dự.

Thế là anh âm thầm nghĩ cách giải quyết vân đề khúc mắc ấy, quên ăn quên ngủ. Ba ngày sau thì anh TVT hoàn thành "công trình" của mình. Thử đi thử lại, anh chắc chắn chương trình chạy tốt. Bèn in listing của chương trình ra giấy, nắn nót đề dòng chữ "Kính tặng anh PB". Hôm sau, anh ghé phòng làm việc của anh PB, nhắc lại câu hỏi bỏ ngỏ anh PB nói hôm nào, sau đó gửi anh tập listing kia. Không ngờ, anh PB xé luôn tập giấy trước mặt đông người và cho một câu phũ phàng: Ngựa non háu đá !




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 27.07.2016, sửa lần 11
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 15.07.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÂU CHUYỆN VỀ NHỮNG HỌC VIÊN QUÂN SỰ TẠI HUNG-GA-RI (tiếp theo 16)

VIỆN NĂNG LƯỢNG HẠT NHÂN QUÂN ĐỘI

RA QUÂN

Sau năm 1986, đi đâu trên cả đất nước, cũng thấy hừng hực khí thế đổi mới.

Ở Viện 481, anh PTP lúc này đã lên đường sang Viên (Cộng hòa Áo), vào làm việc ở Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), nhưng may mắn là trước đó, anh đã kịp “sưu tầm” những bộ phần mềm ứng dụng văn phòng cơ bản như soạn thảo văn bản (WordPerfect), bảng tính điện tử (VisiCalc), hệ quản trị cơ sở dữ liệu (dBase II). “Sưu tầm” ở đây thực chất là “sao chép phần mềm”, nghĩa là nghiến răng nghiến lợi bỏ tiền ra mua đĩa mềm (kinh phí của Viện đã suy giảm, tình hình khó khăn lắm), sau đó sao chép bộ cài đặt, rồi mang về máy vi tính của Viện cài đặt lên ổ đĩa cứng. Tôi nhớ, dung lượng ổ đĩa cứng khi đó khá khiêm tốn, chỉ độ 10 Mb, hay 20Mb là cùng.

Sau khi đã cài đặt lên, thì quân ta tự đào tạo, bằng cách bò ra đọc phần hướng dẫn (Help.txt) bằng tiếng Anh, thử thực hiện nhiều lần những thao tác, cho đến khi thành thạo, thì tự mình viết thành tài liệu tiếng Việt. Đây cũng là một phép thử, xem ai đó đã nắm vững cách sử dụng các phần mềm đó hay chưa.

Về lập trình thì mấy anh em tiếp tục chạy thử một số thuật toán trên ngôn ngữ lập trình BASIC-A phục vụ cho những bài toán tính toán khoa học kỹ thuật. Ngôn ngữ BASIC-A có nhiều nét khá giống với ngôn ngữ FORTRAN mà chúng tôi đã được học hồi đại học, nên tiếp thu cũng nhanh. Tuy nhiên, điểm mới là nó cho phép tương tác giữa chừng, kiểu như, chạy mào đầu xong, chương trình hỏi lập trình viên, giá trị của biến số n bằng bao nhiêu, mình trả lời nó (bằng cách gõ vào một con số từ bàn phím, rồi bấm phím “Enter”), thì nó mới thực hiện thuật toán. Được một lúc, chương trình lại “hỏi” lập trình viên, giá trị của biến số k bằng bao nhiêu, mình gõ vào số 50 chẳng hạn, thì lúc đó, chương trình lại căn cứ vào giá trị đó để tiếp tục tính toán, nhân nhân cộng cộng. Nhờ thế, rất tiết kiệm thời gian chạy máy so với hồi chạy chương trình trên máy tính điện tử Min-xcơ hay IBM, vì cùng một chương trình, có thể chạy với nhiều tham số khác nhau (cho ra các kết quả khác nhau, tất nhiên), và đây là cách “thử phản ứng” rất tốt với một thuật toán đem ra thử áp dụng.

Lúc này, những anh đi học ở Pháp về bắt đầu “truyền bá” ngôn ngữ lập trình Pascal (sau là Turbo Pascal), là một ngôn ngữ lập trình bậc cao do Niklaus Wirth, giáo sư khoa học máy tính trường Đại học Bách khoa Zurich (Thụy Sĩ) đề xuất năm 1970. Đặt tên là Pascal là để tưởng nhớ tới nhà toán học người Pháp đã phát minh ra “bàn tính Pascal”. Hồi đó, ngôn ngữ này rất phổ biến trong giảng dạy về lập trình có cấu trúc ở khắp châu Âu, còn ở Việt Nam thì Đại học Bách khoa Hà Nội là trường đi tiên phong. Tôi còn nhớ, một giảng viên Đại học Bách khoa Hà Nội đã dùng Turbo Pascal viết phần mềm mô tả những đường bay dập dìu của đôi uyên ương “chuồn chuồn và bươm bướm” trên nền một bản nhạc trữ tình, làm lay động biết bao tâm hồn lãng mạn.

Các bước cơ bản khi lập một chương trình Turbo Pascal là:

Bước 1 - Soạn thảo chương trình trong cửa sổ soạn thảo màu xanh;
Bước 2 - Dịch chương trình (nhấn phím F9), nếu có lỗi thì phải sửa lỗi; Sửa lỗi xong, lại nhấn phím F9 để bắt lỗi, cho đến khi không còn lỗi thì thôi;
Bước 3 - Chạy chương trình (nhấn phím Ctrl-F9).

Cửa sổ soạn thảo chương trình bố trí theo kiểu thực đơn (menu) dàn hàng ngang, tức là có dòng chữ (tiếng Anh), trong đó, có nhấn mạnh một chữ cái nào đó (chữ cái trắng sáng) ngụ ý phím nóng (thao tác nhanh), cụ thể là:

- Trợ giúp, hướng dẫn: F1.
- Mở chương trình: F3.
- Lưu lại chương trình đang soạn thảo dở dang: F2.
- Dịch chương trình và kiểm tra lỗi: F9.
- Chạy chương trình: Ctrl+F9.
- Thoát khỏi Turbo Pascal: Alt + X.

Đây là một kiểu thực đơn điển hình thời đó, bây giờ thì quá ư “giản dị”, chứ hồi đó thuộc loại “tân tiến”, vì trên máy tính điện tử Min-xcơ hay IBM, làm gì có ! Máy tính cá nhân quả là kỳ diệu, vì nó làm cho người ta cảm nhận đang nắm trong tay một phương tiện, một thứ vũ khí có sức mạnh vô biên. Máy tính điện tử Min-xcơ hay IBM cũng là những phương tiện, vũ khí có sức mạnh vô biên, nhưng ở mức độ “của loài người”, chứ không phải “của tôi”.

Khi học ngôn ngữ lập trình Pascal, chúng tôi mới biết tới cách triển khai các thuật toán đệ quy, nói một cách dân dã là “con gà và quả trứng, cái gì có trước”. Rồi học các thuật toán sắp xếp như: Bubble Sort (sắp xếp nổi bọt); Selection Sort (sắp xếp chọn); 3. Quick Sort (sắp xếp nhanh). Và học các thuật toán tìm kiếm như: Tìm kiếm theo chiều rộng; Tìm kiếm theo chiều sâu; Tìm kiếm theo kiểu lan dần.

Chương trình soạn thảo văn bản (WordPerfect) “văn minh” hơn cửa sổ soạn thảo của Turbo Pascal, song hồi đó đang còn khan hiếm các bộ gõ tiếng Việt, nên một số văn bản phải soạn theo kiểu tiếng Việt không dấu, in ra giấy, rồi lấy bút bi màu đen điền dấu vào, trông lem nhem luốc nhuốc. Nhưng soạn thảo văn bản tiếng Anh thì tuyệt vời. Chưa kể, phần mềm này góp phần khai sáng cho những người lâu nay mù tịt về soạn thảo văn bản như tôi. Trong WordPerfect có chức năng kiểm tra chính tả, cũng như tìm từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa (tiếng Anh) - xứng đáng là những công cụ bổ trợ cho việc học ngoại ngữ cực kỳ tốt.

Bảng tính điện tử VisiCalc nhìn xanh xanh đỏ đỏ, toét cả mắt, chúng tôi cần mẫn học cách sử dụng, song không hứng thú lắm.

Riêng đối với hệ quản trị cơ sở dữ liệu (dBase II), chúng tôi rất khoái học, vì nó “hiện đại” hơn PFS quá nhiều. Nhưng ứng dụng thực tế thì còn “mỏng” lắm, vì công vào dữ liệu quá lớn, vả lại, nhận thức của toàn xã hội về vấn đề này còn non nớt. Nếu ngồi viết chương trình quản lý nhân sự cho 200 người hay quản lý thư viện với 1.000 đầu sách, thì chẳng bõ. Còn nếu đặt vấn đề “to tát” như quản lý nhân sự cho Tổng cục Kỹ thuật hay Bộ Quốc phòng, thì không thấy ai (dám) “đặt bài toán”. Chúng tôi thường truyền tai nhau câu chuyện “tiếu lâm tin học”: Máy tính điện tử IBM 360/50 của Trung tâm Toán-Máy tính, khi “giải” bài toán quản lý nhân khẩu, đã gọi nhầm một cụ già 105 tuổi... nhập ngũ.

Chúng tôi cũng muốn học lập trình A-xem-bờ-lơ (Assembly - hợp ngữ), song không kiếm ra thầy. Còn với lập trình ngôn ngữ máy, chưa học đã nản, vì sách nào cũng nói, món này “khó nhai” lắm.
*
* *
Đúng giai đoạn này thì Hội Tin học Việt Nam ra đời, như luồng gió mới thổi vào những cái đầu nóng của lũ chúng tôi. Thời ấy thông tin còn hạn chế, nên không có cái nhìn tổng quan xem tình hình trong Nam ngoài Bắc thế nào.

Dưới đây là lời kể của anh Nguyễn Long, tục gọi Long “cò”, giải ba Toán quốc tế (IMO 1975), cựu học viên quân sự Đại đội C106 (Đại học kỹ thuật quân sự), tốt nghiệp khoa Toán, Đại học Tổng hợp Lô-mô-nô-xốp (MGU), sau khi tốt nghiệp từng làm công tác giảng dạy tại Khoa cơ bản, Đại học kỹ thuật quân sự, người đã gặp anh Hành và tôi ở “Trường học mùa hè Tam Đảo”, sau đó ngỏ ý với anh Hành xin đầu quân về Viện 481 (thực chất là muốn chuyển công tác từ Vĩnh Yên về Hà Nội).

“Nhớ lại, từ đầu năm 1988, nhóm các nhà tin học trẻ đến từ quân đội đã tích cực vận động thành lập Hội Tin học trẻ. Trong số đó, tích cực nhất phải kể tới Tiến sĩ Nguyễn Quý Sơn. Anh Sơn cùng các sĩ quan tin học trẻ thuộc Viện Kỹ thuật quân sự, Đại học Kỹ thuật quân sự rất tích cực vận động mọi người tham gia. Họ kết nối với các thày giáo dạy môn tin học tại Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Tổng hợp Hà Nội và các nghiên cứu viên thuộc hàng trẻ của Viện Tính toán và điều khiển, như các anh Nguyễn Chí Công, Vũ Duy Mẫn, để vận động thành lập Hội Tin học trẻ.

Đồng thời, các anh thuộc hàng có tuổi (lúc đó mới khoảng 50) như GS. Phan Đình Diệu, Trần Lưu Chương và cả nhóm các anh chị Tin học Tp Hồ Chí Minh như các anh Nguyễn Văn Bảy, Trần Thành Trai, Nguyễn Văn Ngô, chị Phan Thị Hồng … cũng tích cực vận động thành lập Hội Tin học Việt Nam (tạm gọi là Hội Tin học “già”). Sau khi tự động dàn xếp với nhau, hội nghị trù bị thành lập Đại hội lần thứ nhất đã được triệu tập vào những ngày cuối tháng 12/1988, sau khi biết thông tin Hội đồng Bộ trưởng đã cho phép thành lập Hội Tin học Việt Nam (Quyết định số 312QĐ/HĐBT ngày 17/12/1988). Địa điểm họp trù bị lúc bấy giờ là nhà số 69 phố Quan Thánh, Hà Nội, lúc đó là phòng Máy tính của Bộ môn Toán trường Đại học Kỹ thuật quân sự (mượn của Sở Nhà đất Hà Nội).

Và thế là, hai nhóm “trẻ” + “già” đã đồng tình tổ chức Đại hội thành lập Hội Tin học Việt Nam vào ngày 21/2/1989. GS Phan Đình Diệu được bầu giữ chức Chủ tịch Hội, anh Nguyễn Quý Sơn giữ chức Tổng thư ký Hội”. Hội Tin học Việt Nam là thành viên của Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam.

Trước đó, vào ngày 9/6/1988 ở Tp. Hồ Chí Minh, giới tin học đã xúc tiến thành lập Hội Tin học Tp. Hồ Chí Minh, trực thuộc Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Chính vì thế, Hội Tin học Tp. Hồ Chí Minh chưa bao giờ là thành viên trực thuộc Hội Tin học Việt Nam, mà chỉ là thành viên chuyên môn.
*
* *
Đầu năm 1988, một lần, anh TVT qua Viện 481 tìm tôi. Không gặp, anh nhắn lại với các anh trong phòng là cần gặp tôi có việc cần trao đổi. Hôm gặp, anh bảo tôi là chi bộ Đảng bên Phân viện anh (B-14) có đề nghị những đồng chí quần chúng ngoài Đảng hãy tích cực đóng góp ý kiến với chi bộ, càng nhiều càng tốt, để chi bộ thêm vững mạnh. Anh hơi băn khoăn về vân đề này, song tính đi tính lại, anh đã thức đêm viết ra hơn chục trang giấy ý kiến đóng góp của mình, liệu bây giờ có nên “nộp” cho chi bộ không.

Tôi đã là Đảng viên, nên trong buổi họp chi bộ, tôi đã được nghe phổ biến chủ trương này và tin những lời kêu gọi của anh Nguyên, bí thư chi bộ bên tôi, là thật lòng. Còn bên B-14, tôi không nắm rõ tình hình, song tự nhiên tôi cảm nhận, dường như có điều gì lấn cấn ở đây. Đó là, hai năm liền, anh TVT được bầu là chiến sĩ thi đua cấp Viện (khó lắm, vì trong 2.000 người đều thuộc loại “tinh tướng” của Viện Kỹ thuật quân sự, chỉ bầu lấy 1-2 người !), thế mà giờ này, anh vẫn chưa “vào tầm ngắm” của chi bộ, với những lý do “lãng xẹt” như: tác phong, giờ giấc, ý thức, tinh thần phê và tự phê, quan hệ với quần chúng... Tôi khuyên anh đừng nộp bản đóng góp ý kiến đó, cứ giữ lấy, lúc nào thuận lợi, hẵng đưa ra. Anh không nghe tôi. Khoảng vài tháng sau, thấy anh mặt mũi bơ phờ, tôi nhớ đến chuyện cũ, bèn hỏi anh về số phận bản đóng góp ý kiến của anh với chi bộ đến đâu rồi, anh lắc đầu bảo, chán lắm, mình góp ý chân thành, người ta không muốn nhận, người ta chỉ muốn nhận những lời khen “tâng bốc lên mây” thôi. Lúc này, hình như anh NQA, thủ trưởng cũ của anh, đã xin ra quân, nên không còn người “bênh” anh ở B-14 nữa.

Đến khoảng giữa năm 1988, anh TVT hào hứng kể với tôi, anh NQA đã ra quân “thành công”, mặc dù có một vị lãnh đạo trên Tổng cục Kỹ thuật phản đối rất gay gắt khi anh làm đơn xin ra, và tuyên bố rắn như đinh đóng cột, rằng, nếu cấp trên ký quyết định cho “thằng ấy” ra quân, thì ông sẽ là người đầu tiên xin nộp lại quân hàm và ... từ chức. Thế nhưng, với “tài thao lược”, và có thêm những đóng góp về mặt “áp dụng thủ thuật” (top secret, không thể tiết lộ !), anh NQA vẫn có trong tay quyết định phân công công tác về Tổng cục Điện tử, tên đầy đủ là Liên hiệp Điện tử - Tin học Việt Nam. Ông lãnh đạo kia vẫn tại vị như trước.

Một chuyện nữa là, hồi anh NQA đi làm bậc hai, anh được ông Csibi Sándor, một ông thầy (bố già ?) nức tiếng ở BME, bảo rằng, ông có ý định xây dựng một phòng thí nghiệm ở Việt Nam, và sẽ giao cho anh NQA làm lãnh đạo, còn nhân viên làm việc trong đó, anh có thể “chấm” một số “tên” sau đây, vốn là học trò cũ của ông (ông có viết cho anh NQA một danh sách).

Tuy nhiên, kế hoạch xây dựng phòng thí nghiệm trục trặc kỹ thuật thế nào ấy, nên không thực hiện được, hay nói cách khác “chuẩn mực” hơn, là sau này, nếu gặp điều kiện thuận lợi, sẽ tính đến sau. Dù “đen đủi” thế, một cơ hội khác đã đến với anh NQA, khi anh về Tổng cục Điện tử, đó là có một công ty nước ngoài đề xuất dự định cùng với Tổng cục Điện tử thành lập một công ty liên doanh về tin học, và Tổng cục Điện tử chỉ định anh NQA đại diện cho Tổng cục tham gia vào dự án này. Hiện giờ, đang “tuyển quân”, anh TVT và một số anh VK75 đã bắt đầu nghỉ việc không chính thức đi làm cho anh NQA. Anh muốn rủ tôi tham gia nhóm này. Tôi bảo, xin ra không dễ đâu, anh bảo, biết rồi, nhưng nếu mình cứ “chầy bửa” không đi làm, thì lâu ngày, họ cũng phải cho mình ra chứ. Tôi lại bảo, mình không đi làm, họ sẽ không phát lương cho mình, và không cho mình đong gạo hằng tháng, anh bảo, việc đó anh không sợ, và trên thực tế, anh đã không lấy gạo ở cơ quan một tháng nay, và anh PTG VK75 cũng thế, anh đã không nhận lương của nhà máy Z-181 một tháng nay rồi.

Tôi hỏi anh địa chỉ công ty ở đâu để tôi ghé qua, anh nhíu mày bảo, ờ nhỉ, anh cũng không rõ địa chỉ công ty đặt ở đâu, nhưng hiện nay, anh và mấy anh VK75 kia đang làm việc ở tòa nhà phía sau trường Giảng Võ, trong một căn phòng do công ty thuê, khi nào rỗi, tôi có thể đến chơi với các anh em. Tôi nhận lời.
*
* *
Ra về, tôi thấy băn khoăn vô kể. Thực ra, trong quân đội thời bấy giờ, cấp trên đã phổ biến Nghị quyết số 47 của Quân ủy trung ương về vấn đề tinh giản biên chế trong quân đội (do Đại tướng Chu Huy Mân ký). Bộ Quốc phòng đã đàm phán với Bộ Lao động thương binh xã hội để bố trí sắp xếp tiêu chuẩn công nhân đi xuất khẩu lao động ở một số nước xã hội chủ nghĩa: Đức, Tiệp, Liên Xô... (không thấy Hung !) cho các quân khu, Tổng cục; sau đó quân khu, Tổng cục lại “bổ” các suất về các đơn vị trực thuộc; về đến đơn vị lại bình bầu chán chê, đánh nhau vỡ đầu để được suất “ra đi tìm đường cứu nước, cứu nhà”. Tuy nhiên, việc xin ra quân không hề dễ, vì cán bộ tổ chức viện lý do là “quân đội vẫn có nhu cầu sử dụng anh”, và “nếu đơn vị hiện tại không sử dụng anh, chúng tôi sẽ điều động anh tới những nơi đang có nhu cầu”... vân vân. Nghe đã thấy sởn tóc gáy. Thứ hai là chuyện cơm áo gạo tiền. Tôi tự thấy mình không có đủ dũng khí từ bỏ lĩnh lương và lĩnh gạo hàng tháng.

Có hai lý do nữa để tôi chưa "mặn mà" với lời đề nghị của anh TVT. Thứ nhất là hồi ấy tôi sắp xây dựng gia đình, muốn ổn định. Thứ hai là tôi đang ấp ủ một kế hoạch đi đào tạo ở châu Âu, một điều bí mật tôi chưa chia sẻ cho bạn bè biết.

Tôi nhớ, sau hai lần cử các anh em trong Viện 481 đi thực tập ở Ba Lan, anh Trần Hữu Phát gọi tôi lên phòng anh và đưa cho tôi một chiếc phong bì lớn. Anh bảo, anh rất thông cảm với anh em trong tổ Toán, vì phía Ba Lan chỉ nhận hai chuyên ngành là Hóa học và Vật lý sang thực tập. Anh nói, từ trước tới nay, anh vẫn thường liên hệ thư từ với các giáo sư người nước ngoài và luôn dặn họ cố gắng giúp anh tìm ra các nguồn tài trợ hoặc các suất đi đào tạo ở nước ngoài cho cả 3 ngành Toán học, Vật lý, Hóa học. Vừa qua, anh nhận được một bưu phẩm gủi về từ Viện Hàn lâm khoa học Thế giới thứ ba, có trụ sở ở Triest, Cộng hòa Ý. Đó là bộ hồ sơ đăng ký suất đi thực tập về chuyên ngành Toán tại Triest.

Do họ giới hạn tuổi, nên anh Hành coi như đã bị quá tuổi. Anh Phát đề nghị tôi tiếp nhận và hoàn chỉnh bộ hồ sơ để sớm gửi sang Cộng hòa Ý cho Hội đồng bên ấy xem xét lựa chọn. Anh Phát nói, theo anh, một trong những yêu cầu khó vượt qua là phải có thư giới thiệu (Recommendation) của một nhà toán học tầm cỡ quốc tế. Anh khộng biết, tôi sẽ xoay xở ra sao. Tôi bảo anh, anh cứ cho em cơ hội, em sẽ thử xem.

Về nhà, tôi kể chuyện này với bố tôi và gợi ý đến ông Hoàng Tụy, Viện trưởng Viện Toán học lúc bấy giờ. Bố tôi kể, ông nội của ông Hoàng Tụy là em ruột của Tổng đốc Hoàng Diệu, còn ông ngoại tôi gọi Tổng đốc Hoàng Diệu bằng ông ngoại. Do đó, ông ngoại tôi và ông Hoàng Tụy là hai anh em họ, nhưng ông ngoại tôi ở vai trên, là anh (ông ngoại tôi hơn ông Tụy 37 tuổi). Năm 1930, ông ngoại tôi từ Gò Nổi (huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) ra Huế lập nghiệp, chuyên cho học trò thuê chỗ ở và nấu cơm cho họ ăn. Một thời gian sau, mấy anh em nhà ông Hoàng Tụy ra Huế học, được bố mẹ gửi gạo gửi tiền, gửi gắm "ông anh họ" lo chỗ ăn chỗ ở và nấu cơm cho mấy anh em ăn. Sau 1945, thời thế thay đổi, ông ngoại tôi mất, gia đình không tiếp tục nghề này nữa.

Một sáng chủ nhật, hai bố con tôi đến nhà ông Tụy ở khu tập thể Kim Liên. Ông Hoàng Tụy đón bố con tôi rât vui vẻ và khi nghe tôi trình bày, ông nhất trí giúp đỡ ngay. Ông bảo, Việt Nam mình cũng có vài ba người có chân trong Ban Giám đốc (hay Ban điều hành) của Viện Hàn lâm khoa học Thế giới thứ ba nên sau khi tôi gửi hồ sơ đi, ông sẽ tác động thêm cho, vì có nhiều đơn xin học bổng đào tạo lắm, chứ chẳng riêng gì Việt Nam.

Mấy hôm sau, tôi điền vào hồ sơ và đưa anh Phát xem thư giới thiệu của ông Hoàng Tụy, anh Phát ngạc nhiên vô cùng. Nhưng hồ sơ gửi đi đã gần một năm mà chẳng thấy hồi âm, không hiểu có chuyện gì.
*
* *
Một buổi chiều, tôi đạp xe đến cổng sau trường Giảng Võ, cất tiếng gọi ời ời, anh TVT từ trên gác hai lao xuống đón tôi. Trong căn phòng bề bộn trên gác hai, tôi gặp cả anh PTG VK75. (Tôi không còn nhớ là các anh VVM, NHC đều là VK75 cũng có mặt ở đấy không). Các anh cho biết, các anh đang tích cực làm việc để kịp tham gia triển lãm máy tính toàn quốc sẽ tổ chức vào cuối năm nay, có cấp trên đến dự. Hai anh cũng nói, phòng bên cạnh là phòng làm việc tạm của Công ty máy tính Việt Nam, và mấy “đồng chí” kỹ thuật bên ấy cũng đang nỗ lực hết mình, chạy đua với các đối thủ khác để chứng tỏ năng lực trong triển lãm máy tính toàn quốc. Sau này, anh TVT mới kể cho tôi, hai anh được anh NQA giao nhiệm vụ là làm sao cho chiếc máy vi tính Bull Micran của Pháp có thể gõ các dòng chữ tiếng Việt và làm sao cho chiếc máy in la-de HP LaserJet II sản xuất tại Đài Loan in ra được văn bản tiếng Việt. (Những việc đó quá tầm hiểu biết của tôi thời ấy).

Kết quả là, khi các lãnh đạo đến gian hàng của các anh, máy tính hiện ra lời chào (bằng tiếng Việt) “Kính chào quý khách” to đùng (điều này không khó) và màn hình xóa đi, đến lượt những dòng chữ “Xin mời quý khách tham quan gian hàng của chúng tôi. Đây là Công ty liên doanh...” với cỡ chữ thông thường hiện ra (điều này khó hơn). Sau đó bấm "choách" một cái, chiếc máy in la-de bỗng đùn ra một tờ giấy có dòng văn bản đúng y chang như trên màn hình. Mấy chuyên gia Pháp cầm tờ giấy lên xem kỹ từng con chữ một và tròn mắt kinh ngạc, cái gì đây, chữ Việt Nam? Là bởi, khi họ đưa máy in cho mình, họ “quên” đưa tài liệu kỹ thuật.
*
* *
Thời gian chúng tôi tiếp xúc với máy Quả táo-2, mấy anh Việt kiều có nhắc tới BIOS (Basic Input Output System - đọc là bai-ốt, dịch là Hệ thống vào ra cơ bản), song chúng tôi chưa hiểu nhiều lắm. Vả lại, chúng tôi chưa biết cách can thiệp vào “vùng cấm” này. Có lẽ vì thế mà các anh Việt kiều cũng không đưa cho chúng tôi mượn quyển "Reference Guide Book", trong đó in ra đầy đủ listing các hàm chức năng có mặt trong BIOS.

Đến khi đọc sách của Peter Norton, tôi mới bắt đầu biết BIOS được xem là một thư viện các hàm chức năng cơ bản, “đóng gói” sẵn trên một linh kiện hình chữ nhật màu nâu thẫm, bố trí gần bộ vi xử lý trung tâm CPU trên bảng mạch chính (main-board), gọi là ROM-BIOS. Chức năng chính của nó là giúp cho quá trình khởi động của máy vi tính. Mỗi khi ta bật công tắc điện nguồn, các hàm này lập tức tìm kiếm hệ điều hành - là một chương trình phần mềm chuyên dụng, được lưu giữ trên các thiết bị lưu trữ (bộ nhớ ngoài), chẳng hạn như đĩa cứng, đĩa mềm hay đĩa CD. Tìm xong hệ điều hành, nó nạp một phần của hệ điều hành vào phần trên cùng của bộ nhớ RAM, rồi cái phần nạp vào này sẽ điều khiển mọi sự hoạt động tiếp theo của máy vi tính.

Thế tại sao không “nhét” luôn hệ điều hành vào ROM-BIOS để đỡ rắc rối ? là vì dung lượng của ROM-BIOS không đủ chứa toàn bộ hệ điều hành. Vả lại, nhà sản xuất máy vi tính muốn máy của mình không bị phụ thuộc vào một hãng phần mềm (là hãng viết ra và bán hệ điều hành) duy nhất. Nói cách khác, về lý thuyết, một chiếc máy vi tính phải chạy được trên nhiều hệ điều hành khác nhau.

Chữ IO trong 4 chữ cái “BIOS” là viết tắt của Input-Output, tức Đầu vào – Đầu ra. Hiểu nôm na, đầu vào, tức là mình cho máy vi tính nó “ăn” thông tin, chẳng hạn như gõ vào một văn bản. Ăn xong, tiêu hóa xong, ắt phải có đầu ra, song ở đây, đầu ra không hề dơ bẩn, rất văn hóa, vì là, chẳng hạn, in ra tờ giấy.

Thời gian tôi gặp các anh TVT, PTG ở trường Giảng Võ, các anh đang viết chương trình để can thiệp tới Đầu vào – Đầu ra, nói cho rõ ràng hơn, là các anh đang cố gắng làm sao “gõ vào tiếng Việt và in ra tiếng Việt”. Máy vi tính Bull Micran 45V của mấy ông Pháp mang sang chỉ cho phép “gõ vào tiếng Anh và in ra tiếng Anh”. Tất nhiên, nếu muốn, các ông ấy dễ dàng bắt nó “gõ vào tiếng Pháp và in ra tiếng Pháp”.

Trong “Thư viện các hàm chức năng cơ bản” (BIOS) có những hàm chức năng cho phép can thiệp để làm điều đó. Tôi đoán, có lẽ anh TVT đã tìm cách đọc toàn bộ nội dung BIOS, sau đó viết một chương trình phần mềm bằng hợp ngữ để “chỉnh” lại bàn phím: nếu gõ chữ “a” thì cho ra chữ “a” bình thường, còn nếu gõ 2 chữ “a” liên tiếp thì cho ra chữ “â”, nếu gõ chữ “a”, sau đó gõ chữ “w” thì cho ra chữ “ă”,..v.v… Gõ đã đành, anh còn phải gọi một hàm chức năng nào đó liên quan đến video trong BIOS ra, để bắt nó hiển thị (display) chữ cái tương ứng trên màn hình. Nếu không có phần hiển thị này, thì máy vi tính cứ âm thầm hiểu là chữ Việt, còn người ngồi trước máy thì chả “nhòm” thấy gì cả. Để cho trọn vẹn, anh đặt sẵn một lệnh nóng trên bàn phím (Ctrl + F10) để giải thoát phần mềm lưu trú (resident) của anh ra khỏi bộ nhớ RAM, đưa máy vi tính trở về trạng thái nguyên thủy ban đầu, trước khi anh can thiệp “thô bạo”.

Nhiệm vụ của anh PTG là xử lý bộ chữ cái tiếng Việt trên máy in la-de HP II. Đầu tiên, anh phải viết chương trình phần mềm tạo bộ phông chữ tiếng Việt, anh đặt tên là Font Maker (hình như anh viết bằng Turbo Pascal). Do máy in la-de có độ phân giải khá cao, so với độ phân giải của màn hình vi tính (đúng hơn là của cạc đồ họa trong máy vi tính), nên mới cần tới phần mềm Font Maker. Chứ như trường hợp anh TVT, thì do chỉ cần vẽ các phông chữ màn hình trong những hình chữ nhật kích thước “thô hơn”, nên anh sẽ nạp thẳng các chữ cái và ký tự vào phần đuôi của chương trình phần mềm của anh (chuyên lưu data mà phần code, tức mã chương trình, sẽ gọi đến). Thứ hai, anh PTG viết một chương trình bằng hợp ngữ, để khi gõ một phím nóng điều khiển (Ctrl + F12 chẳng hạn) thì đó là lệnh nạp bộ chữ cái tiếng Việt (do người sử dụng tự định nghĩa) vào con EPROM trên máy in, và từ đây, máy in sẽ in các ký tự đầu ra theo bộ phông chữ này.

Sau khi hai anh đã xong phần việc của mình, thì ghép hai chương trình hợp ngữ vào với nhau, tạo thành cặp bài trùng để “gõ ra chữ Việt và in ra tiếng Việt”, đặt tên là vegafx.com. Tôi chưa bao giờ hỏi anh TVT về cái tên của phần mềm này, chỉ lẩn thẩn tự mình suy luận: V = Việt; EGA = cạc video là loại cạc có độ phân giải cao = Enhanced Graphics Adapter; F = bàn phím; còn X thì chịu.

Chương trình phần mềm tạo bộ phông chữ tiếng Việt chỉ là công cụ trợ giúp, không ghép vào đây.
*
* *
Đầu năm 1989, có một Triển lãm về điện tử của các nước xã hôị chủ nghĩa do Cộng hòa nhân dân Mông Cổ đăng cai, mà trước đó, chính phủ Việt Nam hứa sẽ tham dự. Nhưng các đơn vị trong Liên hiệp Điện tử-Tin học Việt Nam đều nghĩ là chẳng có mối lợi gì từ một nước còn lạc hậu như thế, nên chẳng đơn vị nào muốn đi. Và thế là, họ cử Công ty non trẻ của anh NQA đi. Anh TVT được lệnh hộ tống "sếp" sang Mông Cổ. Trước khi đi, vì đã được thông báo là ngôn ngữ giao tiếp chính của Triển lãm là tiếng Nga, nên anh TVT đã "mông má" sửa sang lại vegafx.com thành russfx.com, cho phép gõ bàn phím hiện ra chữ Nga và in ra tiếng Nga. (bộ font in trên máy in la-de HP II vẫn do anh PTG dùng phần mềm Font Maker “chế tạo” ra).

Theo lời kể của anh TVT, hồi ấy, muốn bay sang Mông Cổ, đầu tiên phải bay qua Mát-xcơ-va, sau đó mới bay đến U-lan-ba-to. Tại Mát-xcơ-va, anh NQA liên hệ với anh NVH, khi đó là đại diện Tổng cục Điện tử trong Cơ quan đại diện Việt Nam trong khối SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế), để có chỗ ăn nghỉ, và quan trọng hơn, là nhờ anh NVH giới thiệu cho một số đầu mối. Anh NVH đã giới thiệu hai người bạn thân của anh (cùng làm Phó Tiến sĩ ở Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô) là Mi-sa và Ka-chi-a. Trong buổi gặp mặt hôm ấy, anh TVT được lệnh “biểu diễn sức mạnh” của chiếc máy vi tính hiện đại có xuất xứ từ Cộng hòa Pháp biết “gõ ra chữ Nga và in ra tiếng Nga”. Hai vị khách vô cùng kinh ngạc.

Anh Mi-sa hứa sẽ tìm mối quen biết và giới thiệu cho anh NQA để Việt Nam có thể trao đổi máy vi tính với Liên Xô những mặt hàng dân dụng thiết yếu (theo hình thức hàng-đổi-hàng).

Cô Ka-chi-a, người gầy nhỏng như con mắm, nhưng là một nhà khoa học gốc Do Thái thông minh cực kỳ trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân, thông bảo cho các anh, thị trường Liên Xô đang vô cùng khan hiếm những công cụ làm việc hiện đại như thế này.

Theo lời kể của anh NQA, lần đầu tiên anh TVT nể mấy vị khách Tây, không quản ngại uống mấy ly rựou làm công tác đối ngoại, nên bị say đứ đừ, đi ra khỏi bàn ăn cả tiếng đồng hồ, "mất hút con mẹ hàng lươn", chả thấy quay lại, mọi người phải bủa nhau đi tìm, cuối cùng, cô Ka-chi-a mới phát hiện ra anh đang ngồi thiền trong toa-lét… nữ, người mềm nhũn như bún.

Sau đợt đi triển lãm ở Mông Cổ về, hai anh NQA và TVT càng nung nấu quyết tâm khăn gói quả mướp sang Liên Xô "mở thị trường".

Anh NQA vét hết trong nhà, được 2 chỉ vàng; còn anh TVT bán mảnh đất, được 4 chỉ vàng, cả hai dắt túi quần, dũng cảm bước lên cầu thang máy bay. Sau này, anh NQA thú nhận, trong va-ly của các anh còn chất thêm mấy cái quần bò, những thứ hàng hóa sau khi bán đi ở Đôm 5, đã nuôi sống các anh trong thời gian "mò mẫm mở đường" ở Mát-xcơ-va.
*
* *
Đầu năm 1989, sau khi tôi cưới vợ được hai tuần, một buổi tối, vợ chồng anh TVT đến chơi nhà tôi. Tôi biết, như thế là chỗ thân tình lắm. Vừa uống nước, anh vừa “bắn” pằng, pằng, pằng. Anh nói, công ty của anh NQA đã nhận được giấy phép thành lập Công ty liên doanh rồi, giấy phép do Ủy ban nhà nước về hợp tác và đầu tư cấp, tên công ty là Công ty liên doanh Việt-Pháp Genpacific. Anh bảo, anh NQA dự kiến làm phần mềm đưa sang Pháp bán, giá chắc chắn cao, lương của lập trình viên sẽ gấp 3 lần lương đại úy (anh ngụ ý, chúng tôi đều đang đeo quân hàm đại úy). Công ty đặt trụ sở tại số 358B Lê Văn Sỹ, quận 3, Tp. Hồ Chí Minh (chắc anh nhớ tới cái lần tôi hỏi địa chỉ công ty, anh ú ớ, không biết trả lời tôi thế nào). Công ty vừa mở Chi nhánh Hà Nội, trụ sở ở số 1 Hàn Thuyên. Anh thông báo, công ty đang khẩn trương tuyển người, vừa rồi, công ty tuyển mãi trong Sài Gòn, anh NQA đích thân phỏng vấn từng người một, thế nhưng, hơn 60 người dự phỏng vấn mà người nào anh NQA cũng lắc đâu. Vì chẳng lấy được “mống” nào, nên anh NQA phải bay gấp ra Hà Nội tiếp tục tuyển, chả biết lần này có nên cơm nên cháo gì không. Nếu tôi đồng ý thi tuyển, thì anh và anh PTG sẽ nói trước với anh NQA một câu, chắc chắn đỗ. Đỗ xong, công ty sẽ mua vé máy bay Hà Nội- Tp. Hồ Chí Minh cho, để kịp nhập học khóa đào tạo về phần mềm do chuyên gia Pháp đảm trách giảng dạy. Khóa này là khóa 2, còn khóa 1 là khóa các anh PTG, TVT học.

Anh nói chuyện với tôi, song tôi có cảm tưởng anh đang “rót mật” vào tai vợ tôi. Hiệu ứng ngay tức thì, khi anh quay sang hỏi vợ tôi: “Em thấy sao? Anh chắc là thế nào trong tương lai, vợ chồng em cũng được công ty cho đi Pháp”. Tối hôm ấy, vợ tôi thực lòng khuyên tôi nên đầu quân vào công ty “anh T.”.



Đám cưới thời bao cấp (1989).



Phù rể và phù dâu.

*
* *
Thực ra lúc ấy, Viện 481 đang trong quá trình chuyển giao sang dân sự.

Những năm ấy, Tổ chức Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) thỉnh thoảng tổ chức các buổi tọa đàm hay diễn đàn tại Hà Nội và mời những ai quan tâm tới tham dự. Họ trưng ra những tấm ảnh chụp được, thắc mắc với các vị lãnh đạo của ta là, vì sao có một số người mặc đồng phục quân nhân ngồi trong hội trường; có những hôm, những người này chiếm một nửa hội trường. Việt Nam đã đặt bút ký cam kết chỉ sử dụng năng lượng hạt nhân vào mục đích hòa bình cơ mà ! Lãnh đạo không biết phải trả lời thế nào. Lệnh xuống: khi đi dự các buổi họp do IAEA tổ chức, đề nghị tất cả anh chị em không mặc quân phục, chỉ mặc thường phục. Nhưng cũng không thể giấu diếm mãi được các chuyên gia IAEA.

Về phía nội bộ trong nước, các thủ trưởng Viện 481 cũng bị sức ép rất lớn khi trả lời câu hỏi từ các cây đa cây đề: Mục tiêu nhắm tới của Viện 481 là gì ? Nghiên cứu lý thuyết? Nghiên cứu thực nghiệm? Hay sản xuất nhiên liệu ? Về điều này, những quyển sách kinh điển về năng lượng hạt nhân của Nga đã chỉ ra rất rõ: nếu muốn tinh luyện quặng phóng xạ đến mức có thể dùng làm nhiên liệu trong các lò phản ứng hạt nhân, thì cần một đội ngũ ít nhất 400-500 người có chuyên môn về hạt nhân; và lượng điện năng cần thiết sẽ tương đương lượng điện năng do nhà máy thủy điện Hòa Bình sản xuất ra. Nói cách khác, nhà nước ta cần xây thêm một nhà máy thủy điện Hòa Bình nữa, nếu muốn điều chế quặng phóng xạ!

Thế là Bộ Quốc phòng đành đồng ý chủ trương chuyển giao Viện 481 sang dân sự, cụ thể là, Viện Năng lượng nguyên tử quốc gia của anh Nguyễn Đình Tứ sẽ đúng ra tiếp nhận Viện 481. Nghe nói "sếp" Tứ muốn kiểm tra từng người một, và ai đạt yêu cầu thì mới nhận. Còn anh Phát thì gay gắt đề nghị: Bên dân sự đã nhận thì phải nhận toàn bộ, vì chuyển giao sang dân sự phải hiểu là chuyển giao cả một đơn vị, chứ không phải từng người chúng tôi đi xin việc !

Nghe nói, ngay bên trong nội bộ Viện 481 cũng có những ý kiến bất đồng, đến nỗi, anh Nguyễn Tiến Nguyên phải ra đi trước. Anh được "sếp" Tứ cử giữ chức Trưởng ban Hợp tác quốc tế, 3-4 tháng trước khi xảy ra quá trình dân sự hóa. (Có người gặp anh chăm chỉ đi học tiếng Anh buổi tối ở ngoài phố). Phòng Lý thuyết chúng tôi cũng nhận được chỉ thị có mặt tại 67 Nguyễn Du, để phòng Vật lý lý thuyết (Viện Năng lượng nguyên tử quốc gia)... kiểm tra trình độ. Nói thế hơi quá, vì hôm đó, GS Cao Chi, các chị Võ Hồng Anh, Võ Hạnh Phúc,... chỉ hỏi xem thời gian công tác ở Viện 481, từng người đã tham gia các đề tài nào và kết quả ra sao, để nếu có tiếp nhận, thì mới biết phân công vào việc gì.

Chúng tôi được hưởng chế độ gọi là phục viên tại chỗ. Về chế độ đãi ngộ, do lương bên bộ đội hơi cao, nên sẽ áp dụng giải pháp tiền lương trung dung: không hạ lương anh chị em, nhưng phải một thời gian dài, đủ năm đủ tháng, mới cho nâng lương.

Tôi dự định, sau khi “phục viên tại chỗ” thì sẽ chớp thời cơ, xin ra luôn.

Một buổi tối, tôi đạp xe đến nhà vợ chồng anh TVT ở khu tập thể Kim Liên, vì lúc chiều, anh nhắn vợ tôi bảo tôi đến gặp anh ngay, có việc rất gấp, sáng hôm sau anh bay đi Sài Gòn rồi. Tới nơi, anh đưa tôi một tờ giấy viết loằng ngoằng (lá đơn mẫu) và bảo tôi ngồi vào bàn viết đơn xin vào làm việc ở công ty Liên doanh Việt-Pháp Genpacific, đây là cơ hội cuối cùng, không là không luôn. Tôi suy nghĩ 5 phút và viết đơn rồi ký tên. Sau đó, thấy hai người nữa cũng tới và lục tục viết đơn.

Một tuần sau, anh TVT dẫn tôi đến số 1 Hàn Thuyên gặp anh NQA để phỏng vấn. Anh NQA “đuổi thẳng thừng” anh TVT ra ngoài, khi anh hơi có ý nán lại trong phòng phỏng vấn (thực ra là phòng Kế toán). Tôi nhớ, hôm đó anh NQA không hỏi tôi nhiều, nhưng có một lần, anh chợt hỏi tôi bằng tiếng Hung và một lần, anh chợt hỏi tôi bằng tiếng Anh, có lẽ để kiểm tra phản xạ của tôi. May là cả hai lần tôi đều phản xạ được. Anh NQA nói, đại ý, công ty Liên doanh Việt-Pháp Genpacific tiếng là công ty nhà nước, nhưng chỉ có hai người là biên chế nhà nước thôi, còn những người khác đều làm công ăn lương, như vậy có chút mạo hiểm, rủi ro. Nếu cậu chấp nhận rủi ro, thì hẵng vào đây.

Ra khỏi cửa phòng phỏng vấn, tôi gặp cả hai anh TVT và PTG. Anh PTG phấn khởi thông báo, anh NSH (VK74) cũng đồng ý về Genpacific rồi, nhưng hiện đang "chạy đôn chạy đáo", "sống dở chết dở" với các thủ tục ra quân phiền phức bên Phòng không - Không quân. Thấy bảo, anh NQT (VK74), công tác cùng Phân viện với anh NQA và TVT, cũng khoái về làm cho anh NQA, song không lo nổi thủ tục ra quân (Phân viện B-14 đã "để xổng" hai cán bộ rồi, bây giờ nó giữ người chặt lắm !), nên đành chịu.

Ba bốn ngày sau, tôi cùng hai người tôi gặp ở nhà anh TVT buổi tối hôm nọ, cùng bay một chuyến bay vào Sài Gòn. Đó là các anh TĐH và ĐVT, đều tốt nghiệp khoa Toán-Lý, Đại học Bách khoa Hà Nội, mỗi người kém tôi 3 tuổi.
*
* *
Tôi muốn viết đôi dòng về Viện 481, nơi công tác cũ của mình, trước khi viết về nơi công tác mới là Công ty Genpacific.

Năm 1991, thành lập Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân Hà Nội theo Quyết định số 18-CT, ngày 21/1/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng trên cơ sở sát nhập một số đơn vị trực thuộc Viện Năng lượng Nguyên tử quốc gia, bao gồm:

- Viện 481 (chuyển giao từ Bộ Quốc phòng về Viện Năng lượng Nguyên tử quốc gia năm 1989)
- Trung tâm chiếu xạ
- Ban Triển khai kỹ thuật
- Phòng Điện nguyên tử
- Phòng Vật lý lý thuyết
- Ban Kỹ thuật hạt nhân và An toàn bức xạ

Trụ sở Viện Khoa hoc và Kỹ thuật hạt nhân Hà Nội đặt tại khu bãi cát, bên cạnh Viện kỹ thuật quân sự, chính là trụ sở của Viện 481 (trước đó là Ban xe), kịp hoàn thành trước khi dân sự hóa. Anh Trần Hữu Phát được cử giữ chức Viện trưởng.

Đến năm 1993, Viện Viện Khoa hoc và Kỹ thuật hạt nhân Hà Nội bao gồm các phòng ban chức năng và đơn vị nghiên cứu – triển khai sau đây:

- Phòng Hành chính–Tổ chức (1991)
- Phòng Tổng hợp kế hoạch (1991)
- Trung tâm Chiếu xạ (1986)
- Trung tâm Kỹ thuật An toàn bức xạ và Vật lý hạt nhân (1991)
- Trung tâm Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân (1993)
- Phòng Năng lượng hạt nhân
- Phòng Vật lý lý thuyết
- Phòng Tin học ứng dụng (1992)

Lúc này, anh Nguyễn Tiến Nguyên được cử giữ chức Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam (đã đổi tên mới), trực thuộc Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (thời "bác" Tứ, Viện trực thuộc Chính phủ). Đến năm 1998, khi anh Nguyên thôi chức này để sang Viên (Cộng hòa Áo) làm đại diện của nước ta tại IAEA, thì anh Phát lên làm Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam.



Kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Viện 481 tại Đồ Sơn

Những năm tiếp theo, tổ chức của Viện Khoa học và kỹ thuật hạt nhân Hà Nội nhiều lần được điều chỉnh về cơ cấu, quy mô và tên gọi cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ phát triển và quy hoạch chung của ngành:

- Tháng 6/1995: Phòng Năng lượng hạt nhân được nâng cấp thành Trung tâm Năng lượng hạt nhân. Đây là bước đi quan trọng về tổ chức nhằm thúc đẩy việc triển khai các nhiệm vụ do Nhà nước giao từng bước đưa điện hạt nhân vào Việt Nam.

- Tháng 1/1998: Phòng Tin học ứng dụng nâng cấp thành Trung tâm máy tính, sau khi được Viện Nghiên cứu Hoá -Lý RIKEN (Nhật Bản) viện trợ hệ máy tính đủ khả năng kết nối thành mạng LAN và truy cập Internet. Nhiệm vụ của Trung tâm được mở rộng, kết hợp việc nghiên cứu thiết kế, ứng dụng các phần mềm tính toán với quản lý, vận hành mạng.

- Tháng 11/1999: Thành lập Trung tâm Nghiên cứu cơ bản và Tính toán, trên cơ sở sát nhập 2 đơn vị: Phòng Vật lý lý thuyết và Trung tâm máy tính với mục đích tăng cường hiệu quả sử dụng hệ máy tính được viện trợ trong hoạt động nghiên cứu và giảm các đầu mối trực thuộc.

- Tháng 7/1995, đổi tên Trung tâm Kỹ thuật An toàn bức xạ và Vật lý hạt nhân thành Trung tâm Kỹ thuật An toàn bức xạ. Nhiệm vụ nghiên cứu vật lý và các phương pháp hạt nhân được giao cho Trung tâm ứng dụng kỹ thuật thực hiện. Đến tháng 8/1999, một lần nữa, Trung tâm được đổi tên thành Trung tâm Kỹ thuật An toàn bức xạ và môi trường. Khi đó, cùng với nhiệm vụ đảm bảo an toàn bức xạ, vấn đề sử dụng các phương pháp hạt nhân để nghiên cứu bảo vệ môi trường đã được đẩy mạnh triển khai tại đơn vị.

- Nắm bắt được xu thế phát triển nhanh chóng ứng dụng kỹ thuật gia tốc trong các ngành kinh tế - kỹ thuật, tháng 6 /2007 Trung tâm gia tốc và Điện tử đã ra đời, trên cơ sở tách Phòng Điện tử hạt nhân (khi đó đang trực thuộc Trung tâm Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân) thành một đơn vị trực thuộc Viện. Trung tâm có nhiệm vụ phối hợp triển khai "Dự án máy gia tốc Cyclotron 30 Mev của Bệnh viện Trung ương quân đội 108", thực hiện việc bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa các thiết bị gia tốc trong y tế, từng bước tiến tới làm chủ công nghệ máy gia tốc, đồng thời tiếp tục phát huy thế mạnh truyền thống trong nghiên cứu, thiết kế chế tạo các thiết bị đo lường bức xạ ứng dụng trong nghiên cứu và đời sống kinh tế - xã hội.

- Ngày 3/1/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 01/2006/QĐ-TTg ban hành “Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình đến năm 2020”. Tiếp theo, ngày 23/7/2007, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 114/2007 QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tổng thể thực hiện Chiến lược trên. Đây là những bước đi quan trọng trong việc phát triển chương trình điện hạt nhân ở Việt nam. Một trong những nhiệm vụ của Kế hoạch tổng thể là phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật để đảm bảo an toàn hạt nhân. Viện Khoa học và kỹ thuật hạt nhân được lựa chọn để xây dựng thành một cơ sở R&D (nghiên cứu và phát triển) có đủ năng lực thẩm định, phân tích đánh giá an toàn hạt nhân. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trên, tháng 9/2007, Trung tâm An toàn hạt nhân đã được thành lập.

- Theo định hướng quy hoạch của Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, Viện Khoa học và kỹ thuật hạt nhân Hà Nội từng bước sẽ xây dựng thành đơn vị chủ yếu thực hiện chức năng hỗ trợ kỹ thuật cho chương trình phát triển Điện hạt nhân, các bộ phận liên quan đến ứng dụng kỹ thuật hạt nhân sẽ tách thành những đơn vị độc lập, thực hiện quản lý theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên. Với chủ trương trên, tháng 10/2007, Trung tâm chiếu xạ được tách ra thành một đơn vị trực thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và đổi tên thành Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội.

- Tháng 9/2013, Bộ trưởng Bộ Khoa học công nghệ đã phê duyệt Đề án kiện toàn tổ chức và hoạt động của Viện Khoa học và kỹ thuật hạt nhân. Theo đề án này, Viện được quyền thực hiện cơ chế quản lý tự chủ chịu trách nhiệm theo khoản 3 điều 4 của Nghị định 115 của Chính phủ. Trong quá trình triển khai thực hiện Đề án, Trung tâm Nghiên cứu cơ bản và tính toán đã đổi tên thành Trung tâm Vật lý hạt nhân; Trung tâm An toàn bức xạ và môi trường được tách thành 2 đơn vị mới là Trung tâm An toàn bức xạ và Trung tâm Quan trắc phóng xạ và đánh giá tác động môi trường.

Trong một lần trà dư tửu hậu, anh LAT nhẩm tính, đã có 23 trường hợp nhiễm phóng xạ ở Viện 481 gây ra bệnh bạch huyết (máu trắng), vô sinh, quái thai... Anh kể, hồi mới tiếp quản lò Đà Lạt, anh em mình điếc không sợ súng. Trong ấy có hai bộ quần áo bảo vệ to đùng màu ánh bạc, nhưng khi vào "thăm" bên trong lò, không ai chịu mặc cái bộ quần áo ấy vào, vì nó nặng chình chịch, phải hơn 80 cân. Anh Ngô Đình Liêu là môt trong những tiền bối dẫn tới sự hình thành Viện 481, bị bênh máu trắng rồi mất năm 1982.
*
* *
Sau này, anh Trần Hành chuyển vào Nam sinh sống, giảng dạy tại trường Đại học Nông lâm Tp Hồ Chí Minh. Anh dũng cảm thành lập Đại học Lạc Hồng, làm Hiệu trưởng trong nhiều năm liền. Trường của anh (trụ sở tại Biên Hòa) đã nhiều lần chiếm giải nhất cuộc thi Robocon (chế tạo rô-bốt), vượt qua nhiều đơn vị sừng sỏ như: Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Bách khoa Tp. Hồ Chí Minh, Học viện Kỹ thuật quân sự, Đại học sư phạm kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh, Đại học sư phạm kỹ thuật Hưng Yên, Trường sĩ quan chỉ huy kỹ thuật Vin-hem-pích....v.v... Đội thi chế tạo rô-bốt của Đại học Lạc Hồng còn 2 lần giành giải nhất trong cuộc thi châu Á- Thái Bình Dương, vượt qua cả những đội rất mạnh đến từ Nhật Bản, Trung Quốc.

Anh Nguyễn Duy Thắng chuyển sang Viện Vật lý.

Anh VXH về làm cho một hãng bia của Tây Đức, sau này sang định cư ở Úc cùng gia đình.

Anh NCN (tổ Toán) sang Bộ Đại học, rồi qua Mát-xcơ-va làm ăn. Hiẹn anh đang ở Hà Nội, thỉnh thoảng dạy học sinh ôn thi đại học cho đỡ buồn.

Anh HMG ở lại, công tác tại Trung tâm máy tính.

Anh NMT sang Ba Lan làm ăn, sau đó về Đại học Khoa học tự nhiên làm thầy giáo.

Anh NĐK cũng sang Ba Lan làm ăn, sau đó về lập công ty riêng.

Anh HAT về công tác ở Viện "lớn", tức Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, sau đó, anh chuyển lên, công tác tại Bộ Khoa học và Công nghệ.

Anh NĐH đầu quân vào Công ty viễn thông Alcatel viết phần mềm viễn thông, sau một hồi bôn ba đây đó, về công ty FPT làm chuyên gia.

Anh ĐDD về công tác ở Viện "lớn", tức Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam.

Anh TDK ở lại phòng Vật lý lý thuyết. Đã về hưu.

Anh NQB về Khoa Vật lý, Đại học Khoa học tự nhiên làm thầy giáo.

Chị Đặng Nguyệt Ánh đã về hưu.

Anh PTP làm việc cho Liên hợp quốc (UN), trong cái tòa nhà cao lêu nghêu, mỏng dính ở Niu-oóc. Khi về Việt Nam, anh làm Tổng Giám đốc một công ty chuyên về phần mềm của nước ngoài, đóng trụ sở tại Hà Nội.

Anh NDP về Đại học Bách khoa Hà Nội làm thầy giáo.

Anh TXN sau ra lập công ty riêng, chuyên bán gạch lát nền.

Anh CLV đi nghiên cứu sinh bậc hai ở Ba Lan, sau là đại gia.

Anh NVĐ (Phân viện Hóa) đi thực tập ở Viện Hóa học Ba Lan, hết 18 tháng, anh ở lại làm ăn sinh sống, hiện đã trở về Việt Nam, chuyên dạy Yoga.

Chị Phòng (vợ anh Phát) đã mất.

Chị Kim Ánh (vợ anh Nguyên) đã mất.

Anh Nguyên cũng đã mất trong một hoàn cảnh thật thương tâm.

....



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 29.06.2017, sửa lần 7
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 18.07.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÂU CHUYỆN VỀ NHỮNG HỌC VIÊN QUÂN SỰ TẠI HUNG-GA-RI (tiếp theo 17)

CÔNG TY LIÊN DOANH GENPACIFIC

LỚP ĐÀO TẠO Ở SÀI GÒN

Sau khi phỏng vấn thành công, chúng tôi được nhận vào làm việc. Sáng hôm sau, cả 3 người chúng tôi đều có mặt đúng giờ tại số 1 Hàn Thuyên. Hồi đó, trụ sở của chi nhánh Hà Nội gồm 2 phòng, là phòng lãnh đạo và phòng kỹ thuật, thuê lại của Chi cục Thống kê thành phố Hà Nội. Giám đốc chi nhánh Hà Nội là anh VMS (VK67); bộ phận văn thư và kế toán gồm chị NKQ (kế toán trưởng) và cô NBT (kế toán viên), ngồi làm việc bên phòng lãnh đạo. Phòng kỹ thuật chưa có ai, ngoài anh NHT, Phó Giám đốc chi nhánh và các anh TVT, PTG (hai anh này thực ra bay ra bay vào Hà Nội-Sài Gòn như con thoi) và bây giờ có thêm 3 người mới là tôi và hai anh TĐH, ĐVT. Sau khi tiếp nhận hồ sơ lý lịch của chúng tôi, anh VMS trao cho từng người vé máy bay và dặn dò đôi điều.

Trong phòng kỹ thuật có một chiếc giường xếp cũ, gấp lại, nhét phía sau cửa ra vào. Thấy chúng tôi cứ ngó nghiêng ra chiều lạ lẫm, anh NHT liền cất nó vào gầm cầu thang ở phía bên ngoài hành lang. Anh quay vào ôn tồn giải thích, chi nhánh chưa có bảo vệ, nên buổi tối, anh VMS vẫn hay ngủ ở đây để trông coi văn phòng; từ nhà anh VMS ra chi nhánh rất gần, anh ấy vẫn thường đi bộ. Ấn tượng ban đầu của tôi là anh VMS người trông nhỏ thó những rắn chắc, gân guốc, có vẻ nghiêm nghiêm khó gần, còn anh NHT thì cao to nhưng da trắng, trẻ trung, thư sinh, dễ gần hơn. Sau này, anh TVT thì thào tiết lộ với tôi, anh VMS chính là người đã “quân sư” cho anh NQA, hồi anh NQA xin ra quân; trước khi anh VMS về Genpacific, anh từ bên quân đội (Viện Kỹ thuật quân sự ?) chuyển ra Tổng cục Điện tử làm Vụ phó Vụ cán bộ tổ chức. Còn anh NHT thì là chồng chị Võ Hòa Bình, công tác bên Nhà máy Z-181; trước khi về đây, anh công tác tại Viện Kỹ thuật quân sự.

Trước ngày chúng tôi bay, anh VMS đưa cho tôi một chiếc phong bì to dán kín đựng các thứ giấy tờ và một chiếc phong bì nhỏ, dặn tôi là vào trong đó, nhớ đưa tận tay anh Bùi Quang Độ, Phó Tổng Giám đốc công ty.
*
* *
Thực ra, đây không phải lần đầu tiên tôi đi máy bay, cũng không phải lần đầu tiên tôi tới Sài Gòn, nên đối với tôi, hai thứ đó không gây hồi hộp lắm. Điều làm tôi háo hức là sắp được chuyên gia chỉ bảo thêm về chuyên môn cơ.

Lần đi máy bay đầu tiên của tôi trong đời là tháng 8-1971, khi tôi 14 tuổi. Khi đó, bố tôi từ chiến trường B ra Bắc, được nhận phiếu nghỉ mát đi cùng gia đình ở Đoàn an dưỡng quân chủng hải quân đóng trên quả núi trông ra vịnh Hạ Long. Khi trở về thì gặp đợt lũ lịch sử, đường bộ bị gián đoạn, ô tô con và lái xe cho lên xe lội nước vượt qua đoạn đường nước lũ, còn cả nhà phải lên sân bay Cát Bi, đi nhờ trực thăng của Bộ Tư lệnh Quân khu Tả ngạn làm nhiệm vụ chở bánh mì tiếp tế cho đồng bào ở Hải Dương, sau đó máy bay hạ cánh ở sân bay Bạch Mai. Lúc đó, bố tôi chạy vào khu tập thể Bộ Tư lệnh Phòng không – không quân, may gặp bác Lê Văn Tri (hàng xóm cũ ở tập thể quân đội trên phố Trần Phú) mượn được chiếc com-măng-ca đít vuông để về nhà.

Lần đi thứ hai là lần tốt nghiệp về nước (1981), bay từ Bu-đa-pét về Nội Bài. Được đi “sang” như thế, là nhờ “ơn” bè lũ xâm lược Bắc Kinh nó cắt mất đường tàu hỏa liên vận. Nhưng lần ấy, tôi say máy bay nặng nề, chả biết gì kể từ giây phút bước lên, cho đến khi bước xuống khỏi cầu thang máy bay. Tôi cứ ngồi gục xuống dưới cánh máy bay mà nôn ra mật xanh mật vàng, sau đó vào gian nhà cấp 4 làm thủ tục hải quan dưới ánh đèn dầu tù mù. Lần ấy coi như không tính.

Lần tiếp theo là đi máy bay quân sự AN-26 khứ hồi Hà Nội-Sài Gòn-Hà Nội để dự đại hội thanh niên tiêu biểu của Tổng cục Kỹ thuật năm 1984. Lần ấy, tôi gặp anh PKC VK76 và “Mận xanh” ở Sài Gòn.
*
* *
Tới sân bay Tân Sơn Nhất, ba chúng tôi thuê xích lô về địa chỉ 358 B Lê Văn Sỹ, gần chợ Nguyễn Văn Trỗi. Chị Hồng là người trông coi ở đó mở cửa cho chúng tôi vào và gọi điện thoại, một lúc, anh Bùi Quang Độ đi chiếc xe “đam” (Hôn-đa nữ) vè vè đến. Anh Độ rất vui vẻ, thân tình. Anh dẫn chúng tôi lên tầng và giao cho chúng tôi chìa khóa phòng. Anh nói, đây vốn là nhà khách của Tổng cục Điện tử ở phía Nam, là nơi dành cho các cán bộ từ khắp mọi miền đất nước đi công tác ghé qua Tp. Hồ Chí Minh nghỉ chân, nên có sắm một số xe đạp. Đã lâu không có ai đến trú ngụ, nên xe đạp để "mốc hết" trên xích-đông trong căn phòng ở tầng hai, các cậu cứ lấy xuống, mỗi người một xe, đem ra hiệu sửa xe ở đầu phố thay thế những phụ tùng cần thiết, sau này công ty sẽ thanh toán tiền sửa cho các cậu. À, mà phòng trên cùng là của cậu PTG đang ở. Về ăn uống, công ty có nhờ chị Hồng đi chợ nấu ăn cho anh em ngày hai bữa, bữa trưa và bữa chiều, còn ăn sáng tự túc. Buổi trưa ăn cơm lúc 12 giờ, buổi chiều ăn lúc 5 giờ 30, để chị Hồng còn dọn dẹp vệ sinh, lau rửa chén bát và nhà cửa. Đi đâu, anh em nhớ nhắc nhau đóng cửa cẩn thận. Còn bây giờ, cậu H. (anh chỉ tôi) làm việc với tôi một chút. Anh VMS ngoài Hà Nội có gửi cho tôi cái gì không?

Anh và tôi xuống phòng khách. Tôi lấy hai chiếc phong bì trong ca-táp ra, trao cho anh. Anh xé cạnh chiếc phong bì nhỏ, rút kính trong túi áo ngực ra, đeo lên, đọc thư anh VMS. Tôi liếc nhìn, thấy đó là thư kiêm báo cáo tình hình. Cuối thư là bảng kê danh sách các món chi tiêu của chi nhánh Hà Nội: tiền thuê nhà, tiền nước, tiền điện, tiền văn phòng phẩm, chi lương, chi công tác phí, tiền mua chè, mua thuốc lá tiếp khách… Dài dằng dặc. Anh Độ lẩm bẩm: “Một tháng mà hết 30 gói mì tôm, nhiều thật!”.
*
* *
Sau đó vài hôm, có thêm hai người nữa lục tục đến 358 B Lê Văn Sỹ. Người thứ nhất là anh NMH, học BME bên Hung vừa mới về, đâu như SV82. Người thứ hai là anh NQPĐ, học Toán ở Đại học Tổng hợp Debrecen, thuộc lứa SV80. Anh NQPĐ là “cháu” anh PTG (thực ra, anh là cháu gọi ông anh rể của anh PTG là chú ruột). Anh NMH ở cùng phòng với tôi. Hai anh TĐH và ĐVT ở cùng phòng với nhau. Anh NQPĐ tạm thời trấn giữ một mình một phòng. Tôi lại “bắt chước” anh Độ, phổ biến cho "ma mới" một số điều ở đây và “cho phép” hai anh lấy hai chiếc xe đạp cũ kỹ (cũ hơn xe của 3 chúng tôi) ra hiệu sửa xe vỉa hè đầu phố “mông má” lại mà làm phương tiện di chuyển. Thế là 6 người chúng tôi ở nhà khách 258 B Lê Văn Sỹ (cả anh PTG) có 6 con xe để rong ruổi trên đường phố Sài Gòn.

Tôi nhớ, hôm thanh toán tiền sửa xe, số tiền của anh TĐH vọt lên hẳn so với anh em khác. Đó là do anh TĐH "yêu mến" phương án maximum (tối đa), cái gì anh cũng đề nghị anh chàng sửa xe tháo ra, thay mới (vì nghĩ rằng, "sếp đã nói thế, tội gì không thay"). Lúc anh TĐH nói với anh Độ là em sửa xe hết ngần này ngần này, anh Độ nhăn mặt tỏ ý không bằng lòng. Nói thực, tôi cũng muốn như anh TĐH lắm chứ, song tôi đã cố kìm lại, vì hôm trước, tôi vừa chứng kiến câu nói của anh Độ về số lượng gói "mì tôm" của chi nhánh Hà Nội tiêu thụ trong một tháng. (Sau này tôi được biết, anh Bùi Quang Độ chuyển từ Viện Kỹ thuật quân sự sang Trung tâm Toán-Máy tính, làm cán bộ phụ trách ở B-50, sau đó chuyển ra Tổng cục Điện tử, làm Chánh Văn phòng 2 (phía Nam), rồi từ đó chuyển sang Công ty liên doanh Genpacific. Anh và anh NQA là hai người được Tổng cục Điện tử cử ra làm đại diện cho Tổng cục đứng chân trong liên doanh).

Ba bốn hôm sau, chúng tôi “học” buổi học đầu tiên tại 358 B Lê Văn Sỹ, “giảng viên” là anh Độ.

Trước tiên, anh Độ đề nghị chúng tôi đọc kỹ nội dung hợp đồng lao động, sau đó từng người ký vào hợp đồng của mình. Lương hằng tháng của chúng tôi là 150 USD, quả đúng gấp 3 lần lương đại úy, như anh TVT hồi nào “công bố”. Tuy nhiên, hiện nay, hằng tháng, công ty vẫn phải đi vay tiền của Viettronic Thủ Đức 40 triệu đồng với lãi suất hơn 10% một tháng (vay cũng khó khăn lắm, phải nhờ quan hệ quen biết, họ nể lắm mới cho mình vay) để trả tiền thuê nhà, tiền điện, nước... nên chỉ tạm ứng cho anh em số tiền lương tương đương 50 USD, khi nào các anh đang đi ký hợp đòng bán máy vi tính bên Nga chuyển tiền về, sẽ thanh toán đầy đủ cho anh em. Tối qua, anh NQA vừa gọi điện thoại về báo tin, cũng sắp rồi.

Sau đó là phần giới thiệu về công ty và công việc.

Anh Độ nói, đại ý, công ty liên doanh của chúng ta là liên doanh Việt–Pháp, vốn pháp định là .... USD, tỷ lệ góp vốn là 30%-70%; công ty đã nhận được giấy phép của Ủy ban nhà nước về hợp tác và đầu tư ngày 28/5/1988; số giấy phép là 09-HTĐT, nhưng thực ra, mình xếp hàng nộp đơn thứ 6, nhưng khoái số 9, nên “nhờ” họ cho mình số 9. Ban lãnh đạo công ty gồm: anh NQA là Tổng Giám đốc; hai Phó Tổng giám đốc, là anh Độ và ông A-lanh Mông-lô người Pháp. Ông A-lanh cũng kiêm luôn chức Giám đốc kinh doanh. Công ty bỏ tiền thuê một chuyên gia phần mềm người Pháp, phong cho ông chức Giám đốc kỹ thuật, tên ông ấy là Đi-đi-ê, để dạy cho anh em về lập chương trình. Phía Pháp chịu trách nhiệm tìm kiếm thị trường đầu ra ở bên Pháp, và theo như họ nói, đã tìm được một ngân hàng bên Pháp muốn đặt hàng phần mềm gia công rồi. Nhưng trước khi viết phần mềm giao cho khách hàng, thì anh em ta phải qua lớp đào tạo, vì yêu cầu của khách hàng bên Pháp rất cao, mình phải làm ra những sản phẩm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của họ, thì họ mới trả mình tiền. Năm ngoái, công ty đã tổ chức thành công một khóa đào tạo, thành phần tham dự có cả anh em ngoài Hà Nội lẫn một số anh em ở Tp. Hồ Chí Minh. Năm nay cũng sẽ vậy. Ngày mai, ông Đi-đi-ê sẽ gặp từng người tại đây để phỏng vấn thêm.

Sáng hôm sau, chúng tôi ăn mặc chỉnh tề, chờ ông Đi-đi-ê, Giám đốc kỹ thuật. Đúng 8 giờ kém 5, ông Đi-đi-ê bước xuống từ một chiếc ô tô khá sang trọng (sau này tôi mới biết, đó là xe của công ty thuê cho chuyên gia đi lại). Ông bước vào căn phòng họp ở tầng hai, đối diện buồng ngủ của tôi và anh NMH. Ông chào và nói chuyện với chúng tôi bằng một giọng tiếng Anh lơ lớ, ban đầu hơi khó nghe, nhưng độ 30 phút sau thì nghe bắt đầu quen dần. Ông tự giới thiệu về mình, học trường nào ra, từng công tác cho ngân hàng BNP (Banque Nationale de Paris).

Những gì còn đọng trong trí óc của tôi cho đến ngày hôm nay là: ông Đi-đi-ê kém tôi chừng 4-5 tuổi, có cụ tổ là người Việt Nam "lạc" sang Pháp lấy vợ đầm, nên dòng máu trong người ông có 1 phần 16 là máu Việt. Ông là quản lý dự án (project manager), trước đó là lập trình viên, làm việc ở ngân hàng nổi tiếng nhất Paris (Pháp) là ngân hàng BNP, biết chút ít tiếng Việt "bồi", rất nghiêm khắc trong công việc, ăn mặc chỉn chu, tính hơi ma-lanh (từ này gốc Pháp), hơi khinh thường người Việt nói riêng, người châu Á nói chung, trừ một điểm là thích đi công tác ở Singapore, được Tiến sĩ NQA thuê làm Giám đốc Kỹ thuật (như vậy, vô hình trung, đã được anh NQA test rồi!).

Tiếp đó, tất cả ra khỏi phòng và ông gọi tên từng người một vào phỏng vấn. Cảm giác hơi căng thẳng.

Tôi nhớ loáng thoáng những câu hỏi hôm đó. “Tên anh là gì? Hãy giới thiệu về bản thân mình? Anh lập trình được bao lâu rồi? Anh biết những ngôn ngữ lập trình nào? Anh có biết ngôn ngữ COBOL không? Phần mềm lớn nhất mà anh đã lập trình hay tham gia lập trình, có bao nhiêu dòng lệnh? Anh đã tới Paris chưa?...”

Những thông tin này được ông ghi chép cẩn thận vào một quyển sổ bìa màu đen.

Mấy hôm sau, chúng tôi bắt đầu lên lớp một cách chính thức. Anh PTG dẫn đường cho chúng tôi vào B-40: từ Lê Văn Sỹ, rẽ qua Trần Quang Diệu, đi qua nhà hàng Tri Kỷ, đâm qua Nguyễn Trọng Tuyển, qua Hoàng Văn Thụ, tới Nguyễn Kiệm (Võ Di Nguy cũ), qua cổng gác số 4 (cũ), men theo con đường đất đỏ (đường nội bộ bên trong Bộ Tổng tham mưu của chế độ cũ) dài chừng 1 cây số là tới (hồi đó chưa mở đường Hồ Văn Huê). Phòng máy rộng thênh thang trước đây đã được tu sửa lại, máy tính IBM 360/40 đã được người ta "bốc" đi. Công ty Genpacific đã ngăn phòng máy cũ ra thành nhiều phòng làm việc nhỏ. Trần nhà hơi thấp, nên các phòng làm việc trở nên nóng bức, ngột ngạt, nếu điều hòa nhiệt độ không khí dừng hoạt động chừng 15-20 phút.

Anh PTG giới thiệu nhóm chúng tôi với các anh em đã vào công ty từ trước: các anh Trần Thế Nam, Lê Ngọc Sơn, Dương Minh, Đoàn Binh, là những anh từng công tác ở B-50 (tạm gọi là “quân anh Độ”) đã học khóa 1, còn các anh Phan Tự Lập (VK74), Trần Phi Hổ (anh này tính nóng như lửa, nên anh em có lúc gọi là Trương Phi Hổ), Nguyễn Văn Tiến (em vợ anh Đoàn Binh, chuyển từ trường Cao đẳng sư phạm Tp. Hồ Chí Minh CADASA về) sẽ học cùng chúng tôi ở khóa 2. Chúng tôi cũng đến chào anh Độ, và anh giới thiệu cho chúng tôi các anh chị: chị Thuận Nam (phụ trách công tác Đảng), anh Danh (trợ lý của anh Độ), anh Tiên (hay Tiền, hay Tiến?) (kế toán trưởng), cô Vân (văn thư), cô Mỹ Anh (phiên dịch tiếng Pháp, biết cả tiếng Anh), một hai anh lái xe. Vân vân.

Uống nước vối xong, các “học viên” vào lớp ngồi chờ giáo viên, cô Mỹ Anh cũng vào. Đúng giờ, ông Đi-đi-ê bước vào lớp. Ông cho cả lớp ngồi, điểm danh và thân mật nói, ông sẽ giảng bằng tiếng Anh, tuy nhiên, khi nào có gì không hiểu, chúng ta sẽ cần đến tự điển, trong trường hợp tệ hơn nữa, thì sẽ dùng đến phiên dịch (khi đó ông sẽ nói tiếng Pháp và cô Mỹ Anh sẽ dịch ra tiếng Việt).

Bài học hôm nay và là chủ đề của tuần đầu tiên là “Brainstorming”, tạm dịch là “vắt óc suy nghĩ”. Ông sẽ nêu ra vấn đề (một câu hỏi lớn cần giải đáp). Mọi thành viên trong lớp sẽ suy nghĩ và lần lượt nêu ra một ý tưởng của mình để giải đáp câu hỏi (chỉ cần giải đáp một khía cạnh nhỏ cũng được), lại quay vòng để thu thập các ý tưởng. Các ý tưởng được chép thành các dòng chữ trên bảng đen, bên cạnh chua thêm tên tác giả. Khi đã có vài chục ý tưởng, thì tạm thời dừng lại. Bắt đầu công đoạn rà soát các ý tưởng. Các ý tưởng trùng lắp, gạch bớt đi. Lưu ý là không gạch đi các ý tưởng “điên rồ”, “khác người”, “kỳ dị”… Mà chúng ta phải hỏi tác giả của ý tưởng: vì sao anh hay chị có ý tưởng đó, liệu có gợi ý gì ở đâu không, tính khả thi của ý tưởng ấy…

Ví dụ, con người chúng ta cần giải pháp để di chuyển trên bề mặt Trái đất. Theo phương pháp “Brainstorming”, nếu ai đó đưa ra ý tưởng “dùng 4 chân” (kỳ dị) thì dễ bị gạch đi so với ý tưởng “dùng 2 chân” (thông thường). Nhưng kết quả cuối cùng là gì: cái ô tô nó có 4 bánh hay 2 bánh ?. Vậy, thế nào là kỳ dị? Thế nào là thông thường ?

Bài tập cụ thể ông Đi-đi-ê đưa ra là cả lớp cùng nhau đưa ra ý tưởng (tập thể) về biểu tượng của công ty Genpacific.
*
* *
Những buổi sau, chúng tôi được học về “Pregnancy”. Không ai hiểu ông Đi-đi-ê định giảng về vấn đề gì, ngay cả khi ông ấy vẽ lên lên bảng một… bà bụng chửa. Cô Mỹ Anh được gọi vào. Cô bảo, từ tiếng Anh này có nghĩa là “thai nghén”. Khóa trước, khi học chủ đề này, em cũng phải dịch. Đại ý, ông Đi-đi-ê muốn các anh, khi lập chương trình phần mềm, phải trải qua giai đoạn “thai nghén”, nói cách khác, các anh phải coi chương trình phần mềm của các anh như là đứa con dứt ruột đẻ ra, muốn nó ra đời khỏe mạnh, phải có thời kỳ thai nghén. À, ra thế !

Nói theo ngôn ngữ hiện đại có nghĩa là giai đoạn phân tích thiết kế của một chương trình phần mềm. Phải phân tích xem chương trình phục vụ mục tiêu gì? Xưa nay, khi không có phần mềm “tác nghiệp”, họ làm thủ công ra sao? Làm thủ công thì có nhược điểm gì (mất thời gian, dễ nhầm lẫn, …) ? Khi sử dụng phần mềm thì có ưu điểm gì, nhược điểm gì? Vân vân. Phân tích kỹ lưỡng chính là thai nghén cho sự ra đời của phần mềm. Đòi hỏi tính trước tính sau, cân nhắc lợi hại, tính lên tính xuống, cân bằng các mối quan hệ (Ví dụ, nếu bắt chặt các điều kiện nhập dữ liệu thì tôc độ nhập dữ liệu bị ảnh hưởng; nếu thả lỏng các điều kiện nhập dữ liệu thì tôc độ nhập dữ liệu tăng lên, nhưng chất lượng dữ liệu bị ảnh hưởng, có thể xuất hiện dữ liệu "rác", ảnh hưởng tới việc khai thác dữ liệu sau này…).
*
* *
Đến tuần thứ ba, chúng tôi được học về “Luật 80-20”. Ông Đi-đi-ê giảng giải, nếu coi một công việc cần làm là 100%, thì 80% khối lượng công việc chúng ta hoàn thành chỉ với 20% công sức. Nhưng ! Lại nhưng ! Nhưng đối với 20% khối lượng công việc (còn lại), nhiều khi chúng ta sẽ phải hoàn thành bằng 80% công sức của mình. Nghe có vẻ nghịch lý, song trong thực tế, rất có lý. Vì sao vậy? Là bởi, 80% khối lượng công việc (ban đầu) là những thứ “ngon ăn” nhất, “dễ xơi” nhất, còn 20% khối lượng công việc (về sau) chỉ toàn “xương xẩu” và “xương xẩu”. Ngạn ngữ Việt có câu “Hết nạc, ta vạc đến xương” .

Học cách áp dụng quy tắc này vào thực tiẽn, hãy nhớ tới 2 thái cực của nó. Lấy ví dụ, có một anh là người quản lý dự án (project manager), và trong dự án đó có 50 lập trình viên chẳng hạn. Đến một thời điểm nào đó, qua các báo cáo, anh ta nhận được thông tin là khối lượng công việc đã hoàn thành đạt con số 80%. Nếu lúc đó, theo yêu cầu của sếp, anh ta phải lập kế hoạch làm việc của cả nhóm trong thời gian sắp tới để hoàn thành nốt toàn bộ công việc cho trọn vẹn (để còn được thanh toán tiền công), anh ta rất dễ mắc sai lầm (lạc quan tếu), nếu chỉ định sử dụng 20%-30% năng lực của các lập trình viên. Đúng ra, anh ta cần tính dôi ra hơn rất nhiều, thậm chí, hãy dự trù đến 80% năng lực của họ! Nếu dự trù ít hơn, anh ta có thể không hoàn thành, hoặc làm dở dang công việc.

Một thái cực khác, vẫn là cái anh quản lý dự án (project manager) ấy. Khi đội dự án của anh ấy báo cáo đã đạt khối lượng công việc là 80%, và khách hàng muốn tiết kiệm chi phí, đề nghị là, thôi, đến đây, chúng tôi không cần các ông nữa, chúng tôi tự làm nốt 20% khối lượng công việc còn lại. Chúng tôi vẫn trả đủ các ông 80% kinh phí đã thỏa thuận, các ông có đồng ý không? Hầu hết, những ai đã học về “Luật 80-20” sẽ gật đầu đồng ý ngay. Lãi to rồi.

Khi học về “Luật 80-20” thì nhớ là cặp số (80,20) chỉ là biểu kiến. Có lúc nó sẽ là (75,25), có lúc nó sẽ là (70,30). Đừng máy móc bắt nó lúc nào cũng là (80,20). Người ta bảo, học một hiểu mười, là thế !

Chủ đề này, ông Đi-đi-ê cho chúng tôi học trong hai tuần cho nó nhớ kỹ.
*
* *
Tuần thứ năm, ông Đi-đi-ê vẽ lên bảng cái đồng hồ cát, rồi kể rằng, vua chúa ở vương quốc Ai-cập cổ đại ngày xưa hay dùng thứ này để đong đếm thời gian. Sau đó, ông nhún vai. Chả ai hiểu gì. Ông vẽ mũi tên biểu thị sự chuyển động xoay lên xoay xuống của đồng hồ cát. Vẫn chưa ai hiểu ông muốn nói gì. Ông nói, các anh hãy chú ý đến số lượng hạt cát bên trong đồng hồ, nó là hằng số. Ừ, thì hằng số, đã sao nào? Nó có mấy khoang đựng cát ? Hai khoang. Hãy trả lời câu hỏi của tôi: Khi một khoang có ít cát, thì khoang kia sẽ có….gì nhỉ? Nhiều cát ! Đúng, đúng thế !

Bài học của chúng ta hôm nay đề cập đến vấn đề: khi xảy ra khủng hoảng, đừng quá lo lắng và mất bình tĩnh. Khủng hoảng đối với người này, rất có thể lại là cơ hội đối với người khác. Lúc lũ lụt, gạo hẩm gạo môc nguời ta cũng sẵn sàng mua. Lúc trời mưa bất chợt, thì loại áo mưa rẻ tiền, bán không chạy trong những ngày nắng to, sẽ tự nhiên “đắt khách”. Hãy biết tìm cơ hội trong khủng hoảng.
*
* *
Tuần thứ sáu, ông Đi-đi-ê dạy cho chúng tôi về kiểm tra chất lượng phần mềm. Ông này có kiểu "test" phần mềm không mê được. Ông dùng 10 đầu ngón tay khua khoắng trên bàn phím, như một cậu bé mới lớn đang nghịch ngợm chiếc đàn pi-a-nô. Nếu phần mềm không treo là qua bước 1. Nói thực lòng, qua không dễ. Bước 2, bước 3 mới là giao diện với người sử dụng, các phím nóng, hướng dẫn trực tuyến (phím F1),... vân vân.

Ông Đi-đi-ê kết luận, nguyên tắc kiểm tra chất lượng phần mềm ứng dụng là cho một anh không biết gì, nhưng có tính tò mò, thích nghịch ngợm, khám phá... chọc ngoáy một hồi.
*
* *
Tuần thứ bảy, ông Đi-đi-ê hỏi, có ai biết tiếng Anh “bug” nghĩa là gì không. Chúng tôi tra từ điển mới biết “bug” nghĩa là con bọ. Ông Đi-đi-ê kể, một lần, các kỹ sư phần mềm của IBM đang làm việc thì máy bị đơ (bị treo), không hoạt động. Các nhân viên kỹ thuật kiểm tra khắp nơi, không phát hiện ra lỗi nằm ở đâu. Cuối cùng, mới thấy một con bọ đang bò chậm rãi trên bảng mạch. Gỡ nó ra, thế là hệ thống hoạt động bình thường. Từ đó có thuật ngữ “debug”, nghĩa đen là “gỡ bọ”, nghĩa bóng là “gỡ rối”. Khi lập chương trình phần mềm, nếu thấy nó không chạy, hoặc chạy không đúng như ý đồ của người lập trình, thì phải có động tác kiểm tra, lần ngược từ ngọn về gốc, để truy tìm nguyên nhân, giống như đi tìm đầu mối của một cuộn chỉ bị rối.
*
* *
Tôi nhớ, không dưới năm lần, khi ông Đi-đi-ê đang say sưa giảng bài thì bỗng có tiếng “ụt ịt, ụt ịt” liên hồi kỳ trận, rồi tiếng bước chân chạy huỳnh huỵch, huỳnh huỵch, khiến ông nhăn mặt nhăn mũi. Thì ra, lớp học của chúng tôi ở trụ sở B-40 sát vách chuồng lợn nhà anh Nguyễn Trọng.
*
* *
Sau một tháng học tập, lớp chúng tôi đón thêm một thành viên mới là anh NVT, bạn cùng học một lớp đại học với anh NMH, thuộc lứa SV82. Trước đó, anh NVT không kiếm được việc làm ở Sài Gòn, đành đi phiên dịch cho các nhà máy gia công áo sơ-mi xuất khẩu cho thị trường Đông Âu, trong đó nhiều nhất là Hung-ga-ri.
*
* *
Tôi thấy cần có thêm vài nhận xét về ông Đi-đi-ê.

Điểm đầu tiên, phải công nhận là trình độ tiếng Anh của anh em ta không phải loại xuất sắc, nhưng trình độ tiếng Anh của ông Đi-đi-ê chả hơn gì nhiều, may ra hơn được vốn từ. Ông Đi-đi-ê nói tiếng Anh sử dụng nhiều giọng mũi (thói quen của người Pháp), nên nghe nó cứ hụt hơi thế nào ấy. Tất cả các chữ “H” bị ông ấy nuốt mất (“Hà Nội” thì nói là “À Noi”, “go home” thì nói là “gâu-ôm”, bố ai đoán được !).

Điểm thứ hai, trình độ sư phạm của ông ấy vừa phải. Vấn đề có thể trình bày rõ ràng, khúc chiết, thì ông ấy cố tình đào xới cho nó tung tóe lên. Ba bốn buổi đau cả đầu, đến buổi thứ năm, mình mới “à, ra thế”, và nghĩ thầm trong bụng, nếu ông ấy nói “toạc móng heo” ra thì có phải “ngon lành” không. Tra tấn nhau quá.

Điểm thứ ba, cho đến giờ, tôi vẫn chưa chăc chắn là ông Đi-đi-ê học đâu ra, học ngành gì, mà ông ấy dám chê bai ra mặt nền giáo dục của các nước xã hội chủ nghĩa như Ba Lan, Hung-ga-ri, Liên Xô… Cũng có thể, đấy là cách ông ấy “khích tướng”, nhưng nói chung, thái độ khinh khỉnh của ông ấy bị nhiều người ghét.

Điểm tôi đánh giá “được” của ông ấy là cuối tuần, mỗi khi ông ta “lượn” bên Singapore về, ông ta lại mua cho anh em lập trình viên những quyển sách về khoa học máy tính, phần lớn là sách của tác giả Peter Norton. Tất nhiên, ông ấy cầm hóa đơn lên tài vụ công ty thanh toán.
*
* *
Hồi đó, chúng tôi say mê đọc các quyển sách của tác giả Peter Norton. Sách in trên giấy trắng bóng láng, bìa dày, trình bày đẹp, do ông Đi-đi-ê mua từ Singapore về. Mặc dù trình bày các vấn đề liên quan đến máy vi tính, đặc biệt là máy vi tính IBM, tưởng chừng chủ đề sẽ rất khô khan, khó đọc, nhưng ngược lại, đọc mỗi trang, tôi như thấy mình đang mở ra một cánh cửa, bước chân vào thế giới của những điều kỳ diệu, lung linh, đang chờ đón để được khám phá. Văn phong tiếng Anh của ông này thật mẫu mực, làm cho người đọc cảm nhận được sự nhiệt huyết và lòng yêu mến vô bờ của ông đối với từng bộ phận, linh kiện, chi tiết của máy vi tính, đến từng dòng lệnh, từng mô-đun, chương trình con, chương trình mẹ ở mỗi phần mềm. Ông như vị Tổng tư lệnh đang đứng trước hàng quân, nắm vững cái yếu cái mạnh của từng đơn vị chiến đấu, sự nhiệt huyết và tinh thần dũng cảm của từng người lính, và như thể, ông đang điều binh khiển tướng cho một chiến dịch vĩ đại.

Thấy bảo, Peter Norton từng làm việc trên máy tính lớn (mainframe) cũng như máy tính mi-ni (minicomputer) ở những công ty khổng lồ, cỡ như Bô-inh. Ông từng viết tiện ích ở mức thấp của hệ thống, giúp cho các lập trình viên có thể truy nhập vào phần bộ nhớ RAM mà hãng IBM vốn chỉ dành cho việc chẩn đoán lỗi hệ thống. Năm 1981, khi hãng IBM cho ra đời những chiếc máy vi tính cá nhân PC, ông là một trong những khách hàng đầu tiên. Khi ngành công nghiệp hàng không có chiều hướng đi xuống, Peter Norton bị sa thải. Ông ôm máy tính lập trình suốt ngày đêm. Một hôm, do vô ý, ông xóa mất một tệp tin quan trọng của mình trên máy. Không như những người khác cam chịu nhẫn nại gõ lại từng dòng của tệp tin kia, ông quyết tâm viết một đoạn chương trình nhỏ để cứu lại tệp tin đã mất. Sau lần ấy, ông hứng khởi viết thêm những tiện ích khác, gộp thành một bộ các tiện ích và thử bán cho một số bạn bè. Mọi người mua về dùng, thấy thực sự tiện lợi và hữu ích, khích lệ ông. Thế là năm 1982, ông quyết định bỏ ra 30 ngàn đô la Mỹ cùng 1 chiếc máy vi tính IBM để lập công ty tin học, đặt tên là Norton Computing. Đến năm 1984, công ty của Peter Norton đạt được doanh số 1 triệu USD, năm 1986 đạt 5 triệu USD, năm 1987 là 11 triệu USD, và năm 1988 là 15 triệu USD.

Hồi ở B-40, trong đại bản doanh của Genpacific, chúng tôi đọc 3 cuốn là “Sách hướng dẫn cho lập trình viên trên máy vi tính IBM PC của Peter Norton” (The Peter Norton Programmer's Guide to the IBM PC), “Bên trong máy vi tính PC của Peter Norton” (Peter Norton's Inside the PC) và “Sách ngôn ngữ lập trình hợp ngữ cho máy tính IBM PC của Peter Norton” (Peter Norton's Assembly Language Book for the IBM PC). Nhiều người nói, tôi mới để ý, trên bìa quyển đầu tiên có in hình ông mặc áo sơ mi màu hồng, còn 2 quyển sau, ông mặc áo sơ mi màu trắng.

Thế mới biết, nắm vững một vấn đề đã khó, còn biết cách trình bày một cách thấu đáo, sáng sủa và gọn ghẽ, để cho người khác cũng hiểu và say mê vấn đề đó gần như mình, là cả một nghệ thuật.
*
* *
Các phần mềm tiện ích của Peter Norton đã giúp người sử dụng máy vi tính không phải nhớ những câu lệnh DOS khô khan nữa, vì đã có 2 cái bảng màu xanh (blue) trước mắt. Dùng các phím nóng, có thể tạo lập thư mục, xóa thư mục (sau khi đã xóa hết tệp tin bên trong nó), di chuyển trong cây thư mục (vào thư mục con, hay quay ra thư mục mẹ), sao chép tệp tin, sao chép đồng thời nhiều tệp tin, xóa một tệp tin, xóa đồng thời nhiều tệp tin, thậm chí soạn thảo một tệp tin văn bản đuôi TXT. Nhưng tiện ích “cao siêu” nhất là công cụ cho người dùng nhìn thấy gan ruột của một tệp tin, thậm chí, chỉnh sửa nó. Tiện ích này, những người dùng “bình thường” không mấy để ý, chỉ có những anh lập trình viên có tính tò mò là hay dùng đến.

Ví dụ, một số anh chỉnh sửa tệp tin ghi kỷ lục của một trò chơi nào đó, cho mình “ngoi lên” trên bảng xếp hạng (không tốn sức chơi). Hoặc sửa tên tác giả một phần mềm hay hay nào đó thành tên mình (với điều kiện số lượng bit thông tin giống nhau, không phải lúc nào cjũng thành công). Đó là bá đạo.

Hữu ích nhất là dùng tiện ích này để khám phá quy luật ghi thông tin của một số dạng tệp tin. Ví dụ kinh điển nhất là khám phá “gan ruột” các tệp tin DBF (DataBase File). Hồi đó, điện đóm phập phù, kinh phí mua UPS (Un-interrupted Power Supply – bộ lưu điện) không có, nên hay xảy ra chuyện đang chạy một ứng dụng dBase II thì điện tắt phụt, sau đó, đến khi có điện trở lại, thì chương trình ứng dụng ỳ ra, không chịu chạy.

Chúng tôi dùng tiện ích của Norton phát hiện ra có sự thay đổi ở một số bit thông tin gần đầu tệp tin DBF (từ bít thứ 5-15 thì phải). Đó là nó tăng thêm 1 đơn vị (hệ thập phân). Thử dùng tiện ích của Norton giảm đi 1, thì chương trình ứng dụng chạy bon bon. (tất nhiên, phải nhớ tới “thói quen bắt buộc” là sao chép tệp cũ ra một thư mục tạm thời, trước khi chỉnh sửa nó. Hoặc ngược lại, để nguyên thư mục cũ, tạo lập một thư mục mới để tiến hành “thí nghiệm” trên đó). Thì ra, tệp tin DBF có dành một số bit thông tin để ghi số lượng các bản ghi. Khi bắt đầu chạy ứng dụng, tệp tin này được mở ra và nó bổ sung thêm 1 bản ghi “trắng” để dễ bề thao tác, đến khi chương trình ứng dụng đóng lại (kết thúc làm việc), nếu không dùng tới bản ghi này, nó sẽ xóa đi và cập nhật thông tin ở những bit kia (giảm đi 1). Khi máy tính bị mất điện, hệ thống không kịp chỉnh sửa, nên có sự vênh giữa số lượng bản ghi thực tế (do đếm), và thông tin ghi ở đầu tệp. Chương trình ứng dụng ỳ ra là vì thế.

“Quy luật” này hiểu ra rồi thì thấy đơn giản, còn chưa hiểu thì thấy nó thần bí. Sau này, tôi đã nhiều lần đi “cứu giúp” các công ty lớn, thậm chí tổng công ty. Người phụ trách hệ thống thông tin đau khổ kể lể qua điện thoại, anh ạ, hôm qua nó chạy bình thường, thế mà sáng nay, em bật lên, nó không chạy. Em đã chạy phần mềm diệt vi-rút suốt một tiếng đồng hồ, nhưng chẳng bắt được con vi-rút nào. Công việc cơ quan thì chất cao như núi, không thể dừng được. Bắt mọi người làm thủ công thì tháng này, em không đạt lao động tiên tiến mất. Tôi đến nơi, chẳng nói chẳng rằng, trong vòng 2 phút, dùng tiện ích của Norton giảm số lượng bản ghi đi 1, khởi động lại máy tính (động tác giả), tay huơ huơ trong không khí, mồm lẩm nhẩm hô: “Chạy !”. Thế là nó chạy.

Anh cán bộ phụ trách công nghệ thông tin bẩm báo với sếp: Báo cáo anh, hệ thống "thông" rồi ạ. Sếp bật dậy khỏi chiếc ghế xoay, chạy sang phòng máy tính, xiết tay tôi rất chặt. "Cậu học bên Mỹ về hả ?". Tôi định "vâng", nghĩ thế nào, lại trả lời thành thực: "Dạ, em tốt nghiệp ở Hung về". Sếp vỗ vai tôi an ủi. "Ờ, thế thì xem ra, nền giáo dục ở Hung-ga-ri chả thua kém gì Mỹ". Mũi tôi nở to bằng quả ổi.
*
* *
Xen kẽ giữa những buổi lên lớp của ông Đi-đi-ê, chúng tôi vẫn tích cực tự học lập trình, học sử dụng một số phần mềm khác, và… chơi trò chơi điện tử.



Các lập trình viên tại B-40 (Tp Hồ Chí Minh) (1989). Từ trái qua phải: PPH, NV.Tiến (bị khuất), PT.Lập, NVT, Dương Minh, NMH, cô văn thư, ĐVT, NQPĐ.


Một số anh vẫn văn ôn võ luyện lập trình trên Turbo Pascal, nhưng ông Đi-đi-ê có vẻ “khinh thường” Pascal lắm. Theo ông ta, ngôn ngữ C mới là cấp tiến, hiện đại. Ông “tha” từ bên Singapore về cuốn “The C Programming Language” (Ngôn ngữ lập trình C), chúng tôi phải chia nhau ra đọc.

Ngôn ngữ lập trình C là một ngôn ngữ của các câu lệnh, được phát triển từ đầu thập niên 1970 bởi Dennis Ritchie, dùng nhiều trong hệ điều hành UNIX. Từ đó, ngôn ngữ này đã lan rộng ra nhiều hệ điều hành khác và trở thành một trong những ngôn ngữ phổ dụng nhất. C tỏ ra rất có hiệu quả và được ưa chuộng nhất để viết các phần mềm hệ thống, mặc dù nó cũng được dùng cho việc viết các ứng dụng. Ngoài ra, C cũng thường được dùng làm phương tiện giảng dạy trong khoa học máy tính, mặc dù ngôn ngữ này không được thiết kế dành cho người nhập môn.

Năm 1981, Brian Kernighan, làm việc trong phòng thí nghiệm Bell Laboratories nổi tiếng của hãng AT&T trên đồi Murray cùng với tác giả Dennis Ritchie, là người có công lớn trong việc truyền bá ngôn ngữ C, đã đưa ra một loạt các phê phán gay gắt về ngôn ngữ Pascal qua bài báo dài 18 trang có tiêu đề “Why Pascal Is Not My Favorite Programming Language” (Vì sao Pascal không phải là ngôn ngữ lập trình ưa thích của tôi ?). Tôi đoán, ông Đi-đi-ê đã đọc bài báo này.

Ngôn ngữ C có một hệ thống kiểu, tương tự như của Pascal, mặc dù chúng khác nhau trong một số khía cạnh. Pascal không phân biệt chữ hoa với chữ thường, trong khi C có phân biệt. Pascal có khá nhiều từ khoá, và sử dụng các từ nhiều hơn là ký hiệu. C thì “mê tín” ký hiệu. Ký hiệu con trỏ (*) là trường hợp điển hình.

Về sự tích ra đời của ngôn ngữ C.

Hồi đó, các lập trình viên làm việc trong phòng thí nghiệm hay chơi một trò chơi điện tử có tên là Space Travel (Du hành trong không gian) trong những lúc giải lao để thư giãn. Họ thường chơi trên máy tính lớn (mainframe) của hãng làm việc, nhưng do không đủ tài nguyên bộ nhớ trong, bộ nhớ ngoài, năng suất làm việc của các bộ vi xử lý (vì phải hỗ trợ khoảng 100 người dùng), nên trong khi chơi, Ken Thompson và Dennis Ritchie phát hiện ra rằng, do bị thiếu tài nguyên, nên họ không làm sao điều khiển được tàu vũ trụ tránh được các mảnh thiên thạch đang bắn tới tấp xung quanh. Vì thế, họ quyết định cài đặt trò chơi này sang một máy PDP-7 để không trong văn phòng. Nhưng máy PDP-7 lại chưa có hệ điều hành, nên họ phải bò ra viết hệ điều hành cho nó. Sau đó, máy PDP-7 lại “bận”, nên cần chuyển hệ điều hành này sang chiếc PDP-11 cũng của văn phòng, song việc này gặp khó khăn, vì tất cả mã nguồn chương trình đều dùng hợp ngữ (Assembly). Thế là họ bàn nhau, quyết định dùng một ngôn ngữ cấp cao để viết lại hệ điều hành, sao cho có thể “xuất khẩu” được dễ dàng từ máy tính lớn này sang máy tính lớn khác. Họ tìm đến ngôn ngữ B (do Ken Thompson tạo ra và đặt tên theo “Bon”, là tên vợ ông ta). Hơi buồn là ngôn ngữ B lại thiếu các chức năng để khai thác một số khả năng của máy PDP-11. Cuối cùng, họ đã tự sáng tạo ra một ngôn ngữ mới, đặt tên là ngôn ngữ C.

Hệ điều hành UNIX nguyên được phát triển là để tạo ra một hệ thống tự động lập hồ sơ cho các bằng phát minh. Phiên bản đầu tiên của UNIX được viết bằng ngôn ngữ Assembly (hợp ngữ) trong các máy PDP-11/20. Cho đến năm 1973, khi ngôn ngữ C đã phát triển đủ mạnh, người ta dùng nó để viết nhân (lõi) cho hệ điều hành UNIX.
*
* *
Anh Phan Tự Lập VK74 học Toán ở ELTE, hơn tôi 1 năm, khi tốt nghiệp về nước thì nhận công tác ở Trung tâm Toán – Máy tính cơ sở 2, do gia dình anh sống ở Tp Hồ Chí Minh. Nhưng qua thời “giá-lương-tiền”, anh chuyển ra làm việc ở Liksin (Liên hiệp các xí nghiệp khoa học sản xuất ngành in). Đến khi nghe “lời kêu gọi” của anh Bùi Quang Độ, anh về đầu quân cho Genpacific.

Anh Lập có một bộ cài đặt của chương trình soạn thảo văn bản và dàn trang phục vụ cho công tác chế bản điện tử tên là Ventura Publisher rất hoành tráng, được anh giữ gìn vô cùng cẩn thận. Đi kèm với chương trình là những bộ phông chữ (font) tiếng Anh (nguyên thủy) và tiếng Việt (do người Việt mình chế thêm) in trên máy in la-de rất đẹp. Hồi ấy, anh PTG đã cải tiến chương trình Font Maker của anh và dùng nó để tạo ra các bộ phông chữ tiếng Nga rất kỳ công. Do khi đó, các anh NQA và TVT đang đi khai phá thị trường Nga, nên chúng tôi vững niềm tin, một lúc nào đó, sẽ dùng đến những bộ phông chữ này.

Chúng tôi chăm chỉ học sử dụng phần mềm Ventura Publisher trong thời gian rảnh rỗi. Khi đó đang là giai đoạn chuyển đổi từ chế bản theo lối truyền thống (sắp chữ để in) sang lối hiện đại (chế bản điện tử). Cho nên, khá nhiều người “ước ao” có được trong tay bộ cài đặt phần mềm Ventura Publisher.

Thời gian đó, mặc dù toàn thể công ty chỉ được tạm ứng lĩnh lương (kể cả anh Bùi Quang Độ là Phó Tổng giám đốc), nhưng không khí làm việc trong B-40 rất sôi nổi và thân ái, chân tình. Anh Độ đề nghị thành lập công đoàn (do chị Thuận Nam làm chủ tịch) và anh ủng hộ và khuyến khích các hoạt động thể thao văn hóa văn nghệ. Anh bảo anh Dương Minh chủ trì cho vấn đề này. Chúng tôi hay tổ chức đá bóng, ban đầu là luyện tập nội bộ với nhau, về sau có rủ một số đơn vị thi đấu. Anh Dương Minh cũng đề ra sáng kiến tìm việc gì làm thêm ra tiền, đóng góp vào quỹ công đoàn. Tìm hiểu tình hình xung quanh khu vực Tp Hồ Chí Minh thông qua các “giang hồ hảo hán trong làng tin học”, anh bảo, phần mềm Ventura Publisher rất khả thi, và anh cùng các anh khác tích cực vận động anh Lập. Đáp lại, anh Lập đã nhiệt tình cho sao chép bộ phần mềm Ventura Publisher và trong khi sử dụng, nếu ai có vấn đề, anh cũng tận tình giải đáp thêm.

Một lần, anh PTG kể, trong lúc đi uống cà phê, anh có gặp một anh công tác bên cơ sở B-50 của Trung tâm Toán – Máy tính quân đội, đang “khát” Ventura Publisher với những bộ phông chữ tiếng Việt “chuyên nghiệp”. Thế là anh PTG chạy về in ra giấy bản mẫu chữ và đưa cho anh kia xem. Anh này nhìn đẹp quá, ưng ý ngay. Hôm công đoàn Genpacific tổ chức đàm phán giá nội bộ, tôi nhớ, chúng tôi áp dụng phương pháp “Brain-storming” và đi đến thống nhất sẽ phát giá 800.000 đồng. Tối hôm ấy, anh kia (là anh NVĐ) đồng ý mua với mức giá 800.000 đồng và “cộp” tiền luôn. Lãi quá, anh em cười nghiêng ngả. Ba hôm sau, anh PTG kể, anh NVĐ bán lại cho một đơn vị làm chế bản điện tử, được 1.200.000 đồng.
*
* *
Trò chơi gây ấn tượng mạnh cho chúng tôi là trò “Sokodu”, tạm dịch là “Xếp thùng trong kho”. Có một kho hàng với hệ thống đường ngang ngõ dọc trong đó. Ở một góc là khu vực tập kết các thùng hàng hình chữ nhật. Một anh công nhân người Nhật (áo trắng, quần xanh có hai quai vắt chéo, đội mũ lưỡi trai) có nhiệm vụ đẩy tất cả các thùng hàng theo hệ thống đường đi về khu vực tập kết. Anh không thể kéo lùi các thùng hàng. Muốn cho thùng hàng đi lùi, chỉ còn cách chạy sang phía đối diện và ra sức đẩy thùng hàng theo chiều ngược lại. Nếu thùng hàng đang đứng trên đường, nó sẽ chắn đường, ngăn cản anh công nhân và các thùng hàng khác. Vì thế, anh công nhân phải mưu trí đẩy một số thùng hàng vào những vị trí tạm thời, lấy đường một thùng hàng “nhập kho” ở khu vực tập kết, sau đó mới giải phóng lối đi để đẩy các thùng hàng khác. Giai đoạn cuối, anh công nhân còn phải chui vào khu vực tập kết, đẩy bớt vài thùng hàng ra bên ngoài, sau đó mới chấn chỉnh tình hình được. Thấy bảo, trò chơi này mô phỏng sự sắp xếp các địa chỉ ô nhớ trong bộ nhớ của máy tính lớn cũng như máy vi tính.

Những lúc rảnh rỗi, chúng tôi còn chơi trò chơi “Pác-man” và “Xếp gạch”.

Trò “Pác-man” mô tả một cái miệng rộng hoác như miệng cá mập đuổi theo, tham lam chén ngấu chén nghiến một con mồi do người chơi điều khiển, trông rất thương tâm. Nhạc của trò chơi hay cực kỳ. Trò chơi này khá hại bàn phím, vì nó đẩy được 5-6 mã bàn phím vào một hàng chờ, sau đó từ từ lôi từng mã bàn phím ra xử lý. Ở giữa màn hình có một cái kho chứa các “phần thưởng” (bonus), con mồi có thể nhân lúc chú “Pác-man” lơ đễnh, tạt qua cái kho này ăn “phần thưởng” để tăng thêm điểm số của mình. “Phần thưởng” không để dành được. Kể từ lúc nó xuất hiện trong kho, sau một thời gian nhất định (chắc dưới 10 giây), nếu con mồi không chịu ăn (do sợ hãi bị “Pác-man” ăn thịt) thì “phần thưởng” tự mất đi.

Các anh NMH và NVT tham gia vào nhóm hệ thống do anh PTG lãnh đạo, đã nghịch ngợm “debug”, sửa chữa, cải tiến trò chơi này bằng cách: tăng số lượng lần xuất hiện (mạng) của con mồi, tăng số lượng “Pác-man”; bấm một phím, thay đổi tốc độ chạy của con mồi…

Trò chơi “Xếp gạch” do một nhóm kỹ sư phần mềm Bun-ga-ri viết ra để chơi, sau đó được một nhóm kỹ sư phần mềm Cộng hòa Liên bang Nga chỉnh sửa cho đẹp hơn, chơi hay hơn. Mục đích là để bán. Tuy nhiên, ông Đi-đi-ê bảo, người Nga “làm thương mại quá kém”, nên chả ma nào mua. Họ quyết định bán đứt lấy 75 ngàn đô-la Mỹ, sau đó trao quyền bán hàng sản phẩm này cho người Mỹ. Người Mỹ đã kiếm bộn tiền trong phi vụ này ( 2 triệu đô-la). Anh Dương Minh có lẽ là một trong những người chơi giỏi nhất, nhưng anh bảo, anh không "dám" thi đấu với mấy cao thủ bên B-50.




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 01.08.2016, sửa lần 23
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 19.07.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÂU CHUYỆN VỀ NHỮNG HỌC VIÊN QUÂN SỰ TẠI HUNG-GA-RI (tiếp theo 17)

CÔNG TY LIÊN DOANH GENPACIFIC

CUỘC SỐNG Ở SÀI GÒN

Những ngày mới vào Sài Gòn, nói nhiều người không tin, khi đi dạo phố, tôi chỉ ước ao, khi có tiền, sẽ “sắm” cho bố mẹ tôi một chiếc đồng hồ Gimiko treo tường loại to đùng, bằng cái khung ảnh, để bố mẹ tôi xem giờ cho dễ dàng. Chứng kiến bố mẹ tôi đã có tuổi, mỗi khi nheo mắt xem chiếc đồng hồ báo thức màu xanh lơ đặt trên chiếc kệ gỗ cũ kỹ màu nâu, tôi cứ thấy thương tâm thế nào ấy. Hồi đó, ngoài Hà Nội không thấy, còn trong Sài Gòn thì nhiều lắm.

Ngôi nhà 4 tầng ở số nhà 358 B Lê Văn Sỹ bên cạnh một xưởng may gia đình. Phòng tôi và anh NMH là phòng khép kín, có thêm toa-lét và phòng tắm, giống phòng các anh TĐH và ĐVT, cũng như phòng anh PTG. Phòng anh NQPĐ và NVT không có khu phụ, toa-lét và tắm rửa phải xuống tầng lửng. Phòng chúng tôi có chung tường với nhà bên cạnh, nên chúng tôi nghe tiếng máy may công nghiệp chạy sè sè suốt ngày đêm, tiếng các cô gái bên đó gọi nhau í ới, và vào giờ nghỉ buổi trưa, còn nghe được những lời tâm sự não nùng không đầu không đuôi, hay nhũng câu chuyện kể “bí mật” pha lẫn những tiếng cười rúc rích.

Chị Hồng nấu bếp là người tần tảo. Sáng ra chị đi chợ, cố gắng mua những đồ ăn tươi ngon, song không quá đắt. Chị hay nấu canh chua kiểu Sài Gòn, cho dứa tươi vào (ngoài Bắc không nấu thế). Thứ bảy, chủ nhật, chúng tôi tự túc, vì thời gian biểu của mọi người khác nhau, vả lại, anh em đi chơi vói bạn bè hay thăm người thân. Sáng ngày thường trong tuần, chúng tôi hay ăn bánh mì nóng giòn trên đường đi làm, ở cái lò bánh mì trên đường Nguyễn Kiệm. Bánh vừa ra lò, tỏa mùi thơm phưng phức. Cậu thanh niên làm công thò cái xẻng vào lò lấy bánh ra, lắc cổ tay một cái, mấy cái bánh vàng ruộm rơi xuống chiếc khay sắt tây, chúng tôi dùng tờ giấy báo lót tay, cầm bánh ăn ngay, vô cùng nóng hổi. Còn thứ bảy hay chủ nhật, mấy anh em không hẹn mà nên, người sớm người muộn, đụng nhau ở quán phở Anh trên đường Nguyễn Thông, gần khu vực Tòa soạn báo "Tuổi trẻ".

Chiều chủ nhật, chúng tôi hay ra quán cơm tấm ở phố Trần Quang Diệu ăn một đĩa cơm tấm với một miếng sườn rán, chút rau xanh, giá xào, dưa mụối hay mấy lát dưa chuột phủ bên trên. Cũng có khi hứng lên, rủ nhau đi ăn “Cơm tấm bà Cả” ở khu trung tâm, chỗ đường Hàm Nghi rẽ vào. Tối thì ngồi ngay trước cửa – lúc này, các cô gái may gia công ở nhà bên cạnh đã về hết, nên chủ nhà cho thuê mặt bằng bán giải khát – uống sinh tố bơ, mãng cầu, xoài. Tôi nhớ, tại chỗ này, anh NMH đã khoe với tôi :”Em có con em họ con ông chú, học năm thứ ba nhạc viện Hà Nội, nghe ông chú bảo, nó hát hay lắm. Hôm nào đi Hà Nội, thế nào em cũng bắt nó hát thử cho đội anh em mình nghe”. Đó chính là ca sĩ Thùy Dung.
*
* *
Tôi nhớ, một hôm, anh VVM (VK75) ghé chơi 358 B Lê Văn Sỹ. Anh bảo, anh đang làm cho công ty FPT, hiện được cử đi công tác Sài Gòn, biết anh em đồng chí ở đây thì chạy vào thăm, cùng ăn bữa cơm chiều, ngủ nhờ một đêm, ôn nghèo kể khổ với nhau.

Qua chuyện trò, tôi được biết, khi anh NQA từ bên Hung về với dự án xây dựng phòng thí nghiệm của ông Csibi Sándor, anh VVM cũng có tên trong danh sách. Sau đó, anh NQA "chuyển phỏm" sang Công ty liên doanh Việt-Pháp, anh vẫn "chấm" anh VVM, vói điều kiện phải tự lo chuyện ra quân, vì đó là việc khó, anh không cáng đáng hộ được.

Khi đó, anh VVM đang là cán bộ chủ chốt ở Viện Thiết kế Vũ khí (gọi tắt là Viện Vũ khí), nơi anh Phan Chỉ làm Viện trưởng. Tất nhiên, anh Phan Chỉ không muốn mất anh VVM. Anh cho rằng, nếu anh VVM ra đi thì phòng nghiên cứu "tan nát" mất, và các anh em ở dưới cũng sẽ "rã đám", ra đi theo (thực tế đã chứng minh nhận dịnh của anh Phan Chỉ đúng !).

Cuối cùng, anh VVM phải nhờ "chưởng lực" của chị VHP, khi đó đang là phu nhân của anh TGB, là sếp to nhất của Công ty FPT. Chị VHP lên thẳng Cục Cán bộ "xin" cho anh VVM ra quân. "Nếu các anh chưa ký, tôi chưa ra về !". Đất không chịu giời, thế là giời đành phải chịu đất. Cảm cái ơn ấy, anh VVM đã chịu đầu quân về Công ty FPT. Anh NQA không trách cứ gì, nhưng anh bảo, bất cứ lúc nào "thằng ấy" nó muốn về Genpacific (anh gọi tắt là Gen), tao ký quyết định nhận nó ngay !
*
* *
Trong số anh em học khóa đào tạo, anh NQPĐ có lẽ là người được ông Đi-đi-ê “yêu quý” nhất, vì anh chăm đọc báo, tìm hiểu thông tin, nên trả lời được những câu hỏi đột ngột, bất ngờ của ông trong lớp học, kiểu như: siêu máy tính nào hiện nay chạy nhanh nhất thế giới ? – Cray !.

Trong buổi học đầu tiên, tôi nhớ, ông Đi-đi-ê khá hài hước. Ông hỏi: có ai biết IBM là viết tắt của chữ gì không, anh em giơ tay rào rào. Ông chỉ anh NQPĐ, vì anh là người giơ tay đầu tiên, và bảo anh lên bảng, viết dòng chữ đầy đủ ra. Anh NQPĐ liền lấy bút dạ và viết: IBM = International Business Machines. Mặt ông Đi-đi-ê lạnh tanh, ông nói: Không phải. Anh NQPĐ hơi tái mặt, anh xem kỹ lại dòng chữ trên bảng, vì nghĩ, có thể bị sai chính tả. Giáo viên cho anh về chỗ và khoái chí nhìn anh mặt đỏ bừng, có vẻ hơi tức giận là đằng khác. Ông Đi-đi-ê vẫn tỏ ra như không có chuyện gì xảy ra, ông hỏi cả lớp: Ai có ý kiến gì khác? Chả ai “thèm” giơ tay. Ông Đi-đi-ê mới khoan thai viết: IBM = Imitation of Bull Micral. Anh NQPĐ chợt là người mỉm cười đầu tiên, trong khi mọi người vẫn lúi húi tra từ điển. Ông Đi-đi-ê quan sát cả lớp và ông đã phát hiện ra điều đó. Tra từ điển xong, ai nấy đều cười cái trò chơi chữ của các kỹ sư máy tính của hãng Bulll Micral vì “imitation" có nghĩa là sự bắt chước.

Anh NQPĐ khoái đọc sách, thấy quyển “Đắc nhân tâm” của Nguyễn Hiến Lê túc trực ngay đầu giường anh. Đã thành lệ, sáng ra, đang ngồi ăn sáng, đã thấy anh gọi chú bé bán báo lại gần, nhón lấy một tờ “Tuổi trẻ”.

Trong chúng tôi có thể có người này người nọ làm bộ bắt chước đức tính tiết kiệm của các vị lãnh tụ cách mạng, không chịu mua báo, hoặc thấy người khác mua rồi, thì mình đừng mua nữa, vì thế nào anh kia, khi đã đọc chán chê, sẽ vứt toẹt tờ báo ở chỗ bộ sa-lông uống nước chè, lúc ấy, tha hồ đọc. Anh NQPĐ nhất quyết không phải “hạng” người như thế. Mua là mua, không phụ thuộc hoàn cảnh xung quanh. Hồi đó, Nguyễn Huy Thiệp đang cho đăng “Những người thợ xẻ” trên báo “Tuổi trẻ”, nổi như cồn, anh NQPĐ say mê đọc, khâm phục tột độ. Thậm chí, tôi đã nghĩ thầm trong bụng, ai mà chê Nguyễn Huy Thiệp, dù là chê giả vờ, thì khốn nạn, chết với tay này!

Một lần, anh đọc sách Thánh hiền nào đấy, “tuyên truyền” với bọn tôi là một tuần nên nhịn đói một ngày, gọi là rửa ruột, tống hết các chất cặn bã ra bên ngoài, thành ruột nó mới tiếp nhận tốt các chất bổ đưa vào cơ thể trong những ngày tiếp đó. Cứ nhìn các vị sư ở chùa mà xem, béo tốt, hồng hào, võ công toàn mỹ, hai con mắt sắc như dao. Thấy mọi người dửng dưng, anh bèn nêu gương. Cứ thứ ba là anh nhịn ăn, chỉ uống nước đun sôi để nguội.

Bẵng đi một tháng, cũng chưa thấy “ép-phê” gì, mọi việc nguyễn-y-vân. Không thấy anh gầy đi hay béo lên, trí tuệ nâng cao hay tụt đi, vẫn như “cái buổi ban đầu” của ngày nào. Một hôm, sáng thứ tư thì phải, tôi vào phở Anh ăn sáng. Ăn xong, tôi đứng dậy trả tiền thì bị nhà hàng tính gấp đôi, thậm chí hơn gấp đôi. Tôi hỏi cô bé: Hôm nay tăng giá à?. Cô bé nự lại: Không, vẫn vậy thôi, nhưng chú ăn hai bát với hai quả trứng, thì cháu tính giá như vậy. Tôi ôn tồn bảo: Chú vẫn ăn như một bát, như mọi ngày mà. Cô bé bàn bên cạnh chạy qua: Cháu xin lỗi, chúng cháu nhầm, tại chú giống chú kia quá. Tôi nhìn theo tay cô bé chỉ: ồ, anh NQPĐ. Thảo nào !
*
* *
Suýt nữa thì tôi quên khuấy mất chuyện làm phần mềm quản lý khách sạn (Hôtel Management).

Tôi nhớ một dạo, anh Lê Ngọc Sơn (khóa 1) vui miệng kể chuyện với anh em trong lớp đào tạo (khóa 2) là một hôm anh đi dự đám cưới, trông thây ông Đi-đi-ê ở đấy, đang nói chuyện với mấy “chú” Việt kiều. Họ không bàn tí gì về tin học, mà sôi nổi bàn về buôn bán địa ốc. Đại loại, một ông nói, tuy Chính phủ Việt Nam không cho phép người nước ngoài và cả Việt kiều mua nhà cửa đất đai, bất động sản (thuật ngữ chuyên môn gọi là "địa ốc"), nhưng khó gì, có thể thuê người đứng tên hộ, thậm chí, có thể làm đám cưới giả, sau đó nhà gái mua hộ mình. Vân vân. Nói xong, “cả bọn” cười hô hố, khoái trá lắm. Sau đó, anh Bùi Quang Độ còn phát hiện ra ông Đi-đi-ê dùng xe của công ty đi xuống Cần Thơ, nói là đi công tác, nhưng thực ra là bàn chuyện góp vốn với bạn bè là Việt kiều dự định đầu tư nhập khẩu thiết bị và lắp đặt nhà máy xay xát gạo ở dưới đó.

Những việc làm này không trái pháp luật (có chăng gọi là lách luật), nhưng điều làm anh Độ bức xúc nhất là ông ta không toàn tâm toàn ý với chức danh Giám đốc kỹ thuật của công ty. Anh đã trao đổi với anh NQA về vấn đề này, trao đổi trên điện thoại, trên thư từ, thậm chí trao đổi trực tiếp, mặt giáp mặt, song anh NQA, không phải là “bênh” ông Đi-đi-ê, mà chỉ là vẫn chưa thấy hết “hậu quả nghiêm trọng của sự việc”.

Cho nên, đã xuất hiện những ý kiến và hành động “chống lại” ông Đi-đi-ê.

Sự việc trở nên căng thẳng tột độ, khi trong một buổi học, ông Đi-đi-ê đột nhiên cho dừng, và triệu tập cả những anh “khóa 1” đang ở ngoài phòng học vào trong lớp. Ông nói, đại ý, hiện nay trong đội ngũ kỹ sư phần mềm, có những người muốn chống lại ông. Ông là Giám đốc kỹ thuật, đây là chức danh chính thức, một khi ông chưa từ chức và Ban Giám đốc chưa ký quyết định truất bỏ chức danh này, thì việc ông, ông cứ làm, không quan tâm đến chuyện yêu ghét, đấy là phương pháp làm việc chuyên nghiệp. Mọi người có thể có ý kiến, ông không phản đối nền dân chủ, song, ông coi những ý kiến đấy là ý kiến tham khảo, chứ quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về ông.

Ông đặt câu hỏi, đề nghị mọi người giơ tay biểu quyết một cách công khai, để cho những kỹ sư khác cũng nhìn thấy giữa thanh thiên bạch nhật ý kiến của người đó. Câu hỏi của ông là: Ai đồng ý làm việc tiếp tục với tôi? Và: Ai không đồng ý làm việc tiếp với tôi? Mọi người đưa mắt nhìn nhau. Cuối cùng, có tôi và anh NQPĐ đồng ý tiếp tục làm việc với ông Đi-đi-ê, còn tất cả những anh em khác không đồng ý làm việc tiếp với ông.

Ông bảo, OK, ngày mai, lúc 8 giờ sáng, hai anh gặp tôi ở sảnh Khách sạn Nguyễn Huệ, còn những anh khác ở lại B-40, tôi không phân công nhiệm vụ.

Lúc phải đối diện với câu hỏi “Yes-No”, tôi không suy nghĩ nhiều lắm, chỉ nghĩ đơn giản là, mục đích tôi đi Sài Gòn là để được đào tạo mở mang thêm về chuyên môn, sau đó đem những điều đã học được, cọ xát với thực tiễn. Nếu bây giờ, tôi không đồng ý làm việc tiếp với ông Đi-đi-ê, thì tôi biết làm gì. Anh NQA không có ở đây, anh Độ thì chắc không đủ thẩm quyền để cách chức ông Đi-đi-ê, thay ông ấy bằng người khác. Nếu không đồng ý làm việc tiếp với ông Đi-đi-ê, khi anh NQA từ bên Liên Xô về, anh chất vấn tôi, tôi không biết bấu víu vào cái gì để trả lời anh. Ông Đi-đi-ê đào tạo không tốt ? Ông Đi-đi-ê đạo đức tồi ? Ông Đi-đi-ê không đảm bảo thời gian ? Thật khó.

Sáng hôm sau, tôi và anh NQPĐ đạp xe ra khách sạn Nguyễn Huệ, nhờ lễ tân điện lên phòng ông Đi-đi-ê. Ông Đi-đi-ê xuống, kéo chúng tôi ngồi ở sảnh khách sạn, nói là, theo những lời chúng tôi đã khai với ông hôm phỏng vấn, thì chúng tôi đã lập chương trình trong các hệ quản trị cơ sở dữ liệu dBase II, đúng không. Bây giờ, chúng ta sẽ dùng hệ quản trị cơ sở dữ liệu FoxBase để lập chương trình quản lý cho khách sạn. Cũng thế thôi, chả khác gì mấy, nhưng tốc độ chạy nhanh hơn nhiều (Fox = con cáo). Ông bảo chúng tôi ra hiệu sách gần đấy mua mỗi người một cuốn “Hệ quản trị cơ sở dữ liệu FoxBase”, rồi về tài vụ thanh toán, cần ký giấy tờ gì ông sẽ ký. Về máy tính, ông đã chuẩn bị hai bộ Bull Micral sẵn trong khách sạn rồi, chỗ ngồi hơi chật một tí. Khi chúng tôi bật máy lên thì màn hình hiện ra loằng ngoằng, tôi bảo ông, do đặt cạnh tủ lạnh và máy điều hòa không khí, nên có sự nhiễu loạn. Ông gọi người quản lý xuống, bắt phải chuyển tủ lạnh đi, nhưng phải mất một buổi, họ mới bố trí chỗ di chuyển được. Màn hình không còn bị nhiễu nặng như lúc trước, nhưng vẫn còn lác đác. Ông Đi-đi-ê vung tay vung chân, quát mắng om sòm. Về sau, người quản lý phải bố trí một căn buồng ở tầng hai cho chúng tôi làm việc.

(Mãi sau này, chúng tôi được biết, ông Đi-đi-ê không chịu ở biệt thự mà công ty đã thuê. Ông đòi ra Khách sạn Nguyễn Huệ. Ông nói, nếu Genpacific không trả tiền khách sạn cho ông, ông sẽ tự trả. Ông nợ tiền khách sạn gần một năm nay rồi. Ông tính làm phần mềm quản lý khách sạn rồi cấn trừ số tiền ấy vào tiền thuê khách sạn của ông).

Ông Đi-đi-ê dẫn chúng tôi đến gặp chị quản lý phòng của khách sạn và nói, theo yêu cầu của Giám đốc khách sạn, công ty Genpacific sẽ cung cấp phần mềm quản lý khách sạn, cụ thể là quản lý buồng-phòng, quản lý khách đi khách đến, quản lý quầy bar,... Chị quản lý phòng cần trả lời các câu hỏi thắc mắc của chúng tôi. Không thấy hai bên ký kết hợp đồng gì cả.

Chúng tôi bắt tay vào công việc. Nhớ đến cách kiểm tra “độc đáo” của ông, chúng tôi thử ngoáy hai bàn tay trên bàn phím, quả nhiên, chương trình treo ngay. Chúng tôi phải học các lệnh dính dáng đến ON KEY để chế ngự bàn phím.

Được cái, ông Đi-đi-ê không thù dai. Ông bảo tôi và anh NQPĐ, hãy nhắn với mọi người, nếu ai muốn làm việc tiếp với ông, thì ông không câu nệ, ông sẽ phân công công việc cho người đấy. Sau đó một hai hôm, anh Đoàn Binh và anh Tiến đạp xe đến Khách sạn Nguyễn Huệ gặp ông Đi-đi-ê, nên sau đó, tôi thấy hai anh được ông Đi-đi-ê dắt vào và nói chúng tôi là một team. Anh Đoàn Binh và anh Tiến có lẽ đã thành thạo với FoxBase rồi, nên hai anh lập trình rất nhanh và chuẩn xác. Chúng tôi vẽ “sơ đồ” buồng trong khách sạn bằng những ký tự biểu diễn đồ họa (ký tự ASCCII), thêm vào đó các vật chuẩn xung quanh, nhằm đáp ứng các yêu cầu đặt phòng “đời thường” của khách. Có khách thích nhìn ra phố, có khách thích nhìn ra vườn hoa, có khách thích đặt hai ba phòng kề nhau (ông bà và con cái đi cùng), có khách thích phòng gần thang máy (tiện đi lại), có khách không thích phòng gần thang máy (sợ ồn ào),…

Tuyệt nhiên không thấy ông Đi-đi-ê chuẩn bị bản phân tích thiết kế, và ông cũng chẳng yêu cầu chúng tôi phân tích thiết kế. Có lẽ, ông hiểu rằng, quá trinh “thai nghén” chính là phân tích thiết kế. Độ mươi hôm, thì thêm nhiều anh nữa “xin” ra khách sạn Nguyễn Huệ gặp ông Đi-đi-ê. Không có chỗ nữa, ông Đi-đi-ê đề nghị chúng tôi quay về B-40 làm việc.

Nhưng rồi, phần mềm quản lý khách sạn chẳng đi đến đâu.

Tôi nghe mọi người kể lại, hình như sau đó anh NQA từ Liên Xô về, anh Độ có báo cáo lại tình hình “lộn xộn” vừa qua. Thêm một “tội” của ông Đi-đi-ê là cùng một số Việt kiều gian dối, mua linh kiện rời ở chợ giời, đem về lắp ráp đài đóm “rởm”, bán cho nông dân, đặt tên sản phẩm là “Genpacific”, đến khi đài hỏng, thì trốn tránh, không bảo hành, nông dân mang lên Sài Gòn đi tìm “ông” Genpacific để bắt đền. Thật bậy bạ hết chỗ nói. Anh NQA cho gọi ông Đi-đi-ê lên để hỏi cặn kẽ sự việc. Sau đó, ông này tự nguyện viết đơn xin thôi việc, song lại chủ quan nghĩ rằng, vào Việt Nam thì “làm địa ốc” là “ăn đậm” nhất, cần gì làm phần mềm.

Theo lời kể của anh NQA với báo chí thì sai khác khá nhiều. Sở dĩ “sự nghiệp gia công phần mềm” của Genpacific “giữa đường đứt gánh”, là vì gặp phải những trắc trở không thể vượt qua được ở thời điểm những năm 1989-1990, đó là:

- Thông tin liên lạc (chờ gọi điện thoại quốc tế ở bưu diện quá lâu mới kết nối được sang Paris);
- Đường truyền (tốc độ quá chậm để chuyển phần mềm thông qua đường Internet);
- Quy định về an ninh (không cho phép chuyển thông tin từ trong nước ra nước ngoài một cách quá dễ dãi như vậy, mà không ai kiểm tra);
- Đường hàng không (nạp phần mềm vào băng từ để gửi sang Paris qua đường hàng không, cũng không khả thi, vì có ít chuyến bay).

*
* *
Đào tạo được chừng hai ba tháng, một hôm, anh Độ triệu tập cuộc họp quan trọng, nhưng khu vực B-40 bị mất điện, nên họp ở 358 B Lê Văn Sỹ. Anh Độ cùng bộ phận văn phòng đứng trên gác lửng, mọi người chen chúc đứng ngồi ở phòng khách. Anh dõng dạc nói, đề nghị tất cả chúng ta vỗ tay hoan hô, vì hôm qua, anh NQA đã ký xong hợp đồng đầu tiên với phía Liên Xô trị giá 1 triệu đô-la Mỹ, trong vòng 1-2 tuần, tiền sẽ chuyển về Việt Nam. Anh nói, thế là chúng ta có thừa tiền để trả tất cả các khoản đi vay từ trước đến nay (có chịu lãi suất), và như đã hứa, công ty sẽ thanh toán cho anh chị em đầy đủ các khoản nợ lương trước đây.

Mấy hôm sau thì thấy anh NQA xuất hiện ở Sài Gòn. (không thấy anh TVT, có lẽ anh ở Hà Nội). Buổi sáng thứ bảy, khi chúng tôi chậm rãi cùng nhau đi ăn sáng ở quán hủ tíu, phở ở ngã tư, bỗng có tiếng gọi: “Chúng mày đấy à? Vào đây !”. Anh PTG kêu lên: “Chúng em chào sếp, sếp mới về ạ?”. “Ừ, tao mới về”. Năm sáu đứa chúng tôi gọi phở như thường lệ, cô chủ quán đã biết rõ từng người ai ăn gì. Có điều, đến khi ăn xong, không ai đứng dậy như mọi ngày. Cô chủ quán mở to đôi mắt ngạc nhiên. Anh NQA thấy vậy, cũng ngạc nhiên nhìn cả bọn từ đầu đến chân. Anh bảo: “Sao?”. Một anh trong chúng tôi nói: “Anh ơi, anh cho chúng em xin bát nữa !”. Anh bật cười khà khà, hất hàm bảo nữ chủ quán: “Làm cho mỗi người một bát nữa em, thêm thịt vào!”. Đó là bữa sáng ngon nhất hồi tôi ở Sài Gòn. Nhưng tính anh NQA là vậy, trong lúc ăn, anh hỏi thăm tình hình anh em học hành thế nào, ăn ở ra sao, có khó khăn gì không, chứ không “kể chuyện thời sự” bên Nga, cũng không hứng khởi nói về thành tích, chiến công, hay tương lai sáng lạn của công ty.
*
* *
Sau này, nghe anh TVT kể, tôi mới biết, hồi mới sang Mát-xcơ-va, các anh ở nhờ nhà anh NVH, là Phó tiến sĩ chuyên ngành điện tử, trước đây là giáo viên Đại học Kỹ thuật quân sự, sau chuyển ra Tổng cục Điện tử (vẫn quen gọi thế, chứ đúng thì phải gọi là Liên hiệp Điện tử - Tin học Việt Nam), làm chân thư ký cho Tổng cục trưởng Trần Diệp, vừa rồi được cử làm đại diện của Tổng cục tại Hội đồng tương trợ kinh tế (viết tắt tiếng Nga là khối SEV). Nhà anh rộng rãi, có 3 phòng, ở khu chung cư dành riêng cho quan chức của các nước thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế.

Anh NVH tốt nghiệp bên Nga về, nên anh giới thiệu cho anh NQA một ông bạn thân cùng lớp đại học, hiện công tác tại Học viện Ngoại thương ở Mát-xcơ-va tên là Mi-sa, ông bạn này mới móc nối khách hàng cho anh NQA. Hồi đó, thanh toán bằng tiền khó lắm. Phổ biến là hàng-đổi-hàng. Nghĩa là, trong hợp đồng, mình giao cho họ máy vi tính, còn họ giao ngược cho mình phân bón, rồi về đến Việt Nam, mình phải tìm khách hàng, bán phân bón lấy tiền. Hợp đồng số 1 của Genpacific còn phức tạp hơn, vì giao hàng tay ba. Liên Xô giao phân bón cho Pháp, Pháp giao linh kiện máy vi tính cho Việt Nam, Việt Nam giao máy vi tính cho Liên Xô.

Một hôm, vợ chồng anh NVH chuẩn bị đón vợ chồng cô em gái sang Liên Xô, thế là hai anh NQA và TVT phải chuyển đi chỗ khác. Hợp đồng với khách chưa đâu vào đâu, vẫn đang dang dở. Hôm trước, ông Mi-sa thông báo, phía khách hàng có trục trặc thế nào ấy, họ không giao được cho bên Pháp phân bón, vụ việc được đẩy lên cấp cao hơn.

Hai anh NQA và TVT kéo va-ly thơ thẩn trên đường, trong túi không còn đồng nào, đầu óc trống rỗng. (Đấy là anh TVT đã “mưu trí” đem một số thùng các-tông đựng máy tính, màn hình, máy in la-de HP II và đồ đạc cồng kềnh ra ga tàu hỏa, nhét vào các ô gửi tạm hành lý của khách đi tàu, không mất phí). Anh TVT thẽ thọt bảo, sếp ơi, có mấy thằng nó thấy hai bộ máy vi tính Bull Micral của mình, nó mê tít thò lò. Em tính, hay là mình “hẩy” hai con ấy đi, mình “thế” bằng hai con khác, “ôm” của bọn vẫn “đánh hàng” từ bên Ba Lan về, cấu hình cao hơn hẳn, vẫn phục vụ được công việc, mà lại dôi ra một số tiền đủ để ăn tiêu, thuê khách sạn, tồn tại qua ngày. Anh NQA vội xua tay, bảo, tao cấm mày bán máy Bull Micral, chết đói cũng không được bán. À, mà từ nay tao cấm mày buôn bán máy tính đấy nhé, mất xác có ngày. (Chả là, có dân Cộng ở Mát-xcơ-va buôn bán máy tính, bị người ta giết để cướp tiền).

Hai “cán bộ thương mại” đói mờ mắt, đi loạng choạng, chân nam đá chân chiêu, thế quái nào lại lạc đến khu nhà khách Sứ quán năm tầng, ở gần ga tàu điện ngầm “Pa-rờ-cờ Kun-tú-rưi” (Công viên vui vẻ, như kiểu “Vidám Park” ở Bu-đa-pét). Tại đây, các anh gặp nhiều đoàn khách mới từ Việt Nam sang. Ngồi nói chuyện khan với họ, dần dần, lần lượt các đoàn khách mỗi đoàn “di tản” một hướng. Đã bắt đầu ngáp ngắn ngáp dài. Thì đêm qua lo lắng quá, có ngủ được tí nào đâu !

Bỗng có một anh lớn tuổi, mặt mũi hiền lành, lại gần bắt chuyện, hỏi: Thế các anh ở đoàn nào, tối nay nghỉ ở đâu. Anh NQA thành thật nói, báo cáo anh, bọn em cũng chưa rõ, tối nay ngủ đâu ạ. Anh kia bảo, nhà tôi rộng rãi lắm, nếu hai anh không chê, thì về chỗ tôi. Đúng là buồn ngủ lại gặp chiếu manh ! Hai anh vội vàng “theo chân bác” ngay, cùng về. Hóa ra, “ông Bụt” là anh Hồ Quốc Vỹ, con trai cụ Tú Mỡ (tên thật là Hồ Trọng Hiếu), cũng công tác ở khối SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế), và căn hộ của anh Vỹ… liền kề với căn hộ của anh NVH.

Tại đây, anh TVT trổ tài, bồi dưỡng kiến thức về tin học cho thằng con trai anh Vỹ, khi ấy sắp tốt nghiệp phổ thông trung học. Phải công nhận, thằng bé sáng dạ và say mê với môn khoa học tân tiến này. Anh Vỹ chắp tay cảm ơn ông Trời, đã đem đến nhà anh hai vị tri thức uyên bác, tận tình, tốt bụng (ăn đồ ăn gì cũng không bị đau bụng).

Anh TVT kể, thằng bé “tu luyện” vài tuần, đã có thể đi cùng “sư phụ” kiếm cơm bằng cách đi “làm thuê” cho các chú Việt Nam buôn máy từ Ba Lan về Nga, thông qua việc cài đặt, cấu hình. Nó tuyên bố với anh Vỹ, bố ơi, con đủ sức tự nuôi con được rồi, làm anh Vỹ “choáng váng”.
*
* *
Lại nói về cái hợp đồng số 1 “hàng-đổi-hàng” của Genpacific ký với Liên Xô.

Khách hàng không có phân bón để cung cấp, thỉnh thị cấp trên, cấp trên cân nhắc, nếu vi phạm hợp đồng, sẽ bị phạt, nên họ đề nghị mình “vui lòng” đổi sang một hợp đồng khác và quan trọng là thanh toán bằng tiền. Mình OK ngay. Thế là họ trả tiền trước 100% cho mình.

Tuy nhiên, ái ngại quá, mình chưa giao được hàng cho họ, vì bị bọn Mỹ nó cấm vận, không cho phép các nước tư bản chủ nghĩa chuyển giao công nghệ cao cho Liên Xô (và cả phe xã hội chủ nghĩa). Hàng của mình đã nằm trong kho hàng ở sân bay Oóc-ly rồi, thế nhưng, cứ rục rịch chuyển đi Liên Xô, là bị “giật lại”. Thậm chí, có lần, ông A-lanh Mông-lô nói qua điện thoại, đã đưa được đống hàng hóa vào bên trong máy bay, thế mà bọn “chó” Mỹ nó “ngửi được”, nó ra lệnh cho tụi Pháp kéo hết hàng ra. Việc chuyển hàng cho Liên Xô vì thế bị treo, đang tiếp tục chờ giải quyết. Công ty Genpacific có sung sướng gì đâu. Tiền lưu kho ở sân bay Oóc-ly tốn kém lắm. Chuyển được thì mình chuyển ngay lập tức, chứ có ai cố ý “om hàng” bao giờ.
*
* *
Khoảng một tuần sau, chúng tôi mặt mày hân hoan phấn khởi, từng người một vào phòng tài vụ lĩnh một khoản tiền khá lớn. Tôi phi ra văn phòng của hàng không Việt Nam mua 1 vé máy bay cho vợ tôi và gửi ra Hà Nội. Mấy ngày sau, vợ tôi bay vào. Anh NMH chuyển qua ở cùng phòng với các anh NQPĐ và NVT. Trước đó, tôi phải đun gần chục ấm nước sôi để diệt lũ rệp nấp trong các khe giường và giát giường. Nhà khách đón nhận khách thập phương tứ xứ, lại đi tàu xe, nên khách mang rệp về đây là chuyện rất bình thường. Khi dội nước sôi, tôi phải hứng hai cái chậu thau ở dưới. Anh NMH lè lưỡi khi nhìn thấy xác rệp nổi lềnh bềnh trên mặt nước đen kịt như bánh đa vừng. Thế mà về sau, thỉnh thoảng vẫn tóm được những chú rệp to bằng con mọt gạo, ấn móng tay, nghe kêu đánh “rụp”, máu mê tứa ra đỏ lòm.
*
* *
Vợ tôi chỉ quanh quẩn ở nhà, nên tôi không ăn cơm tập thể nữa, mà ăn cơm do vợ tôi nấu. Chợ gần, đồ ăn rẻ, thay đổi món luôn. Khi thì bánh cuốn (trong ấy gọi là bánh ướt), khi thì bún thang, phở gà, miến lươn, mực nhồi thịt… là những món “cầu kỳ”, ít khi chị Hồng có thể nấu cho tập thể ăn. Thứ bảy chủ nhật, tôi đèo vợ đi thăm thú Sài Gòn: dinh Độc Lập, cảng Nhà Rồng, Thảo cầm viên, chợ Bến Thành, sở thú, công viên Tao Đàn, lăng Cha Cả, chợ Bình Tây (chợ Lớn)… Chúng tôi còn đi miệt vườn Lái Thiêu, địa đạo Củ Chi… Buổi tối, thỉnh thoảng đi xem ca hát ở các tụ điểm, xem xiếc, múa rối. Chúng tôi còn xuống Vũng Tàu chơi 2 ngày, ở nhà một cô bạn gái của vợ tôi. Chồng cô bạn làm trưởng phòng vận tải của Liên doanh dầu khí Việt-Xô, nên được nhận một căn hộ tầng năm nhìn ra biển.

Ăn uống và đi chơi “lung tung” như thế, mà mỗi tháng, chúng tôi vẫn để dành ra được 1 chỉ vàng, đem gửi ngân hàng bên kia đường.



Nghỉ mát ở Vũng Tàu (1989). Bên trái là các anh Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Thịnh, lập trình viên Công ty Genpacific. Anh Nguyễn Văn Thành sau này là Giám đốc Gensoft.

*
* *
Khi anh Độ giới thiệu tôi với chị Hồ Thuận Nam để tôi đóng Đảng phí cho chị, tôi nhận ra chị ngay. Nhà tôi với nhà chị ở Hà Nội cùng ở phố Trần Phú, nhà chị bên số lẻ, nhà tôi bên số chẵn, nhà chị nổi tiếng có 4 cô con gái (không có con trai), nhà tôi có 4 cậu con trai (không có con gái). Bố chị cũng quê ở Quảng Nam, đồng hương với bố tôi. Họ hàng thì không phải, nhưng hai bên có quan hệ thông gia, khá gần: cô ruột của chị lấy chú họ của tôi, là chú Lê Khương, nhà ở quận Gò Vấp. Bố chị là bác Hoàng Bích Sơn (tên thật là Hồ Liên) từng làm Bí thư tỉnh Bình Thuận hồi chống Pháp, có lẽ đẻ chị ở huyện Hàm Thuận Nam, nên mới đặt tên chị như vậy. Ông bác ruột chị là bác Hồ Nghinh, là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam, sau là Phó ban kinh tế trung ương. Bác là người đề xuất đào hồ Phú Ninh, tích đủ nước, khiến toàn bộ đồng bằng vùng nam Quảng Nam tăng từ một vụ lúa lên hai vụ lúa, người dân đỡ đói, rất biết ơn. Cả bác chị và bố chị đều là Ủy viên trung ương Đảng.

Khi vợ tôi vào, chị cũng hay trò chuyện với vợ tôi và thỉnh thoảng, chị hướng dẫn vợ tôi làm món mực nhồi thịt với mộc nhĩ, ăn rất ngon.
*
* *
Anh Độ là người luôn chăm lo đến đời sống cho nhân viên dưới quyền, tôi có thể nói chắc như vậy. Khi chúng tôi mới tới nhà 358 B Lê Văn Sỹ, anh bảo tôi, cậu là người nhiều tuổi nhất ở đây, là Đảng viên, lại có gia đình rồi, nên tôi phân công cậu quản lý cái nhà này. Có vấn đề gì cần sửa chữa điện nước, các cậu cứ báo công ty, công ty thuê người sửa chữa. Nhưng vào những hôm thứ bảy chủ nhật, hay ngày lễ ngày Tết, cần kíp sửa chữa, thì cậu chủ động bảo anh em thuê người đến sửa, rồi đến thứ hai báo cáo cũng được, tiền công hết bao nhiêu, các cậu cứ ứng trước, công ty sẽ trả đầy đủ. Trong lớp học, cần mua giấy bút, các cậu cứ chủ động qua tài vụ ứng tiền, tôi đã dặn tài vụ rồi, cái gì phục vụ việc học tập thì không tiếc, miễn đừng lãng phí là được.

Sau hôm vợ tôi vào, nhân tiện những lần anh ghé qua nhà khách, anh đều ân cần hỏi thăm vợ chồng tôi, làm chúng tôi rất cảm động.

Một lần, anh bảo tôi đi với anh “xem cái này”. Anh đèo tôi đến khu nhà liền kề mới xây xong ở ngay mặt đường, cầu thang lên xuống bố trí ở phía sau, mọi thứ mới tinh, chưa có người ở. Mỗi nhà gồm 2 tầng, mỗi tầng 60 m2, lát đá hoa mát rượi, thoáng mát sạch sẽ, có đủ bếp núc, công trình phụ, bật điện điện sáng, bật nước nước chảy. Anh bảo, vợ chồng cậu có ý định vào ở trong này lâu dài không, về bàn với nhau đi. Nếu định ở lâu dài trong này, tôi sẽ ký quyết định cho vợ chồng cậu mượn tạm một căn ở đây, mượn lâu dài, đến khi công ty hóa giá, sẽ trừ dần vào tiền lương và tiền thưởng.

Hôm sau, tôi dẫn vợ tôi đi xem, vợ tôi thích lắm, nhưng khi bàn đến chuyện ở lâu dài, vợ tôi lại e ngại xa bố mẹ cô ấy đang ở Hà Nội. Thế là thôi.

Sau này, chính là dãy nhà trên đường Hồ Văn Huê, gần cái tháp nước bỏ không cao ngất ngưởng.
*
* *
Một hồi, thấy mấy anh từng công tác ở B-50 hay chụm đầu vào nhau thì thầm trao đổi, vẻ mặt khá căng thẳng. Sau đó, chúng tôi được biết, anh Độ đang bàn với mấy anh lãnh đạo cơ sở B-50 của trung tâm Toán-Máy tính quân đội “hợp thức hóa” khu đất mặt đường của B-50 để chia cho anh chị em làm nhà. Đên như anh Phan Tự Lập, đã ra khỏi B-50, vẫn được anh Độ đề nghị đưa vào danh sách. Tất nhiên, ai cũng đóng góp kinh phí (tôi “nghe hơi nồi chõ”, đâu như 4 cây 2) vào một quỹ chung, để chi cho các thủ tục giải phóng mặt bằng.
*
* *
Khi công ty đã rủng rỉnh tiền bạc, anh Độ gọi anh Dương Minh lên và giao nhiệm vụ khơi dậy phong trào thể thao của công ty. Chúng tôi mua mấy quả bóng đá, bóng chuyền, mua cả bàn bóng bàn. Đội bóng đá tập luyện hăng say, có hôm thi đấu đội già-đội trẻ, phần thưởng của anh Độ là… một bữa thịt chó no nê, bia rượu thoải mái, do anh Trần Phi Hổ mua ở hàng quen về. Một bữa, anh Dương Minh liên hệ để chúng tôi giao đấu với đội bóng của B-50. Đá ở sân cỏ bên đấy. Hiệp 1, chúng tôi bị dẫn 3 bàn, có lẽ do chả có ai biết bắt gôn. Đã có nhièu người thầm nghĩ, thế là hết. Nhưng vào hiệp 2, chúng tôi chơi ăn ý, gỡ lại 3 bàn. Đội bạn bức xúc đến nỗi có hai cầu thủ của họ ẩu đả, trọng tài phải xông vào can ngăn. Còn 5 phút, một tiền đạo của chúng tôi đẩy bóng vào giữa hai anh này, không ai chịu xông ra, cho rằng trách nhiệm cản phá là của “thằng kia”, thế là chúng tôi thắng 4-3.
*
* *
Một lần, tôi với anh Đoàn Binh đạp xe từ khách sạn Nguyễn Huệ về B-40, khi sắp đến B-40 thì gặp anh Trần Thế Nam cùng mấy người nữa từ B-40 đi ra. Anh Nam bảo, trong ấy đang mất điện, và rủ chúng tôi ra ngồi quán giải khát. Tôi để ý thấy một anh “lạ mặt” trông dáng thư sinh ít nói đang chuyện trò thân mật với anh Trần Thế Nam và hỏi anh Đoàn Binh đó là ai. Anh Đoàn Binh nói, đó là anh Lê Thanh Nhân, ở bên Pháp mới về, là người đã giới thiệu một công ty phần mềm của Pháp tên là Genlog với Tổng cục Điện tử, và sau đó, dẫn đến sự ra đời của công ty liên doanh Việt – Pháp Genpacific. Tuy nhiên, Genlog không tham gia trực tiếp ký kết hợp đồng liên doanh, mà tiến cử một chi nhánh của nó ở Hồng Công, đó là công ty Gensouth. Trên logo (nhãn nhận dạng thương hiệu) của Genpacific có 14 ô chia thành hai hàng, trong đó hàng trên cùng vẫn còn 4 cái "tổ ong" còn trống, đấy là dấu hiệu nhận biết của họ nhà GEN.

Anh Đoàn Binh cho tôi biết thêm, hai anh Trần Thế Nam và Lê Thanh Nhân là những người đầu tiên tiếp quản Trung tâm máy tính IBM 360/50 hồi năm 1975.
*
* *
Sau hợp đồng số 1, Genpacific còn ký tiếp hợp đồng số 2, cũng theo hình thức trả tiền trước 100%, giao hàng sau. Tôi đoán già đoán non, hợp đồng này là hợp đồng cung cấp máy vi tính cho Viện nghiên cứu hạt nhân toàn Liên bang, trụ sở đóng ở Mát-xcơ-va, do cô Katia làm Viện phó, phụ trách công tác nghiên cứu khoa học. Cô này chưa chồng, "mê tít' anh NQA, kể từ hồi gặp anh ở Mông Cổ.

Tôi nhớ, một buổi chiều, chúng tôi đang định ra về thì anh Độ bảo tôi thông báo với những anh em ở nhà khách Lê Văn Sỹ ở lại B-40, đừng về vội, vì có việc quan trọng. Hóa ra, các anh mới lấy tiền ở ngân hàng về, định đem ra quỹ tín dụng gửi, nhưng hết giờ làm việc, họ đóng cửa, sáng mai mới đem gửi được. Tôi không rõ bao nhiêu tiền, chỉ biết cỡ 30-40 bao tải, chất đầy cái xe du lịch 16 chỗ.

Việc đầu tiên là chúng tôi qua đơn vị bộ đội bên cạnh (đại đội cảnh vệ Bộ Tư lệnh quân khu 7), gặp thủ trưởng đơn vị, trình bày sự việc cần “thuê” lính bảo vệ khu vực B-40, mỗi kíp 6 người 1 tiếng, gác từ 7 giờ tối đến 8 giờ sáng mai. Tiền công thì tùy, là chỗ "hàng xóm" với nhau, các anh đừng ngại, cứ “phát giá” thoải mái.

Tiếp đó, chúng tôi ra đồn công an gần đấy đặt vấn đề thuê gác vòng ngoài (cách 300-400 mét), nhiệm vụ là: thấy những phần tử lạ mặt đi lang thang thì hỏi giấy tờ và thị uy. Công sá sẽ đưa hết cho Ban chỉ huy đồn, sau đó, Ban chỉ huy muốn phân chia cho các anh em “lao động trực tiếp” thế nào cũng được.

Vòng trong cùng là những anh em kỹ sư phần mềm đang trú ngụ tại 358 B Lê Văn Sỹ. Mọi người sẽ mắc màn ngủ ngay cạnh phòng chứa các bao tải tiền. Phòng này sẽ khóa lại và dán niêm phong.

Thật may mắn, đêm đó không xảy ra chuyện gì. Anh Độ bảo, gửi số tiền đó vào quỹ tín dụng, mỗi tháng, riêng tiền lãi đã là 50 triệu, đủ trả lương cho toàn thể công ty.
*
* *
Hồi này, theo sáng kiến của anh NQA, công ty trao phần thưởng "học bổng Genpacific" cho một số sinh viên học chuyên ngành tin học có thành tích học tập xuất sắc ở các truờng đại học. Tôi nhớ, trong đợt trao học bổng đầu tiên, có anh NVTh. Sau khi tốt nghiệp, anh xin vào làm ở Genpacific. Anh cũng ở cùng chúng tôi tại 358 B Lê Văn Sỹ.
*
* *
Theo yêu cầu của anh NQA, công ty tổ chức cho anh em học ôn lại tiếng Nga, vì thị trường Nga lớn lắm. Tôi nhớ, công ty thuê một thầy giáo về dạy cho chúng tôi một tuần một buổi, chủ yếu là hội thoại. Nhờ những tháng ngày trui rèn ở câu lạc bộ hội thoại tiếng Nga ở Viện 481, tôi thấy khá thoải mái, được thầy giáo chấm điểm tốt.

Hôm các anh NQA và TVT từ Mát-xcơ-va về, anh TVT gọi tôi ra một góc và hỏi, tôi có vướng bận chuyện gì ở gia đình lớn, gia đình riêng gì không, có đi công tác lâu dài ở Nga được không. Anh nói, anh đã nhắm anh NHC (VK75) là người của chi nhánh Hà Nội, và tôi là người của B-40, cả hai đều biết tiếng Nga và tiếng Anh, riêng anh NHC có thêm một lợi thế là có em ruột đã tốt nghiệp đại học, xây dựng gia đình và có công ăn việc làm ở ngay thủ đô Mát-xcơ-va. Nhược điểm là cả tôi và anh NHC đều không phải kỹ sư phần cứng, liệu có đảm đương được nhiệm vụ lắp đặt, cài đặt, cấu hình, cài hệ điều hành, cài phần mềm, bảo hành bảo trì… máy vi tính được không. Theo kinh nghiệm riêng của anh TVT thì… làm được, vì anh cũng đâu phải kỹ sư phần cứng, song nhờ chăm chỉ “bám sát thực tiễn”, nên anh vẫn làm tốt đấy thôi. Anh dặn tôi, cũng đừng “cầm đèn chạy trước ô tô”, sếp NQA chưa có ý kiến chính thức gì đâu, chỉ là tao (anh TVT) dự kiến thế thôi, ngay cả đối với anh PTG, được phong là Trợ lý kỹ thuật và công nghệ của Tổng Giám đốc, anh TVT cũng chưa trao đổi “ý tưởng” này (anh TVT thì chức danh chung là Trợ lý Tổng Giám đốc, nhưng lúc thì là Trợ lý kỹ thuật Tổng Giám đốc, lúc thì là Trợ lý thương mại Tổng Giám đốc, tùy cơ ứng biến). Tóm lại, tôi cần bám sát các anh kỹ sư phần cứng để cấp tốc học hỏi thêm, kể cả hỏi thêm anh PTG.

Tôi nhớ, một hôm, xe ô tô mới mua của công ty ra sân bay đón khách quý, là 3 người Nga. Họ được bố trí ở căn biệt thự công ty thuê dài hạn ở phố Nguyễn Trọng Tuyển cho chuyên gia Pháp và cho lãnh đạo công ty đi công tác Tp. Hồ Chí Minh.

Sau đó, công ty tổ chức một buổi đi Vũng Tàu, có 3 ông khách quý cùng đi. Tại một nhà hàng, anh NQA giới thiệu 3 ông khách (có một ông tên thân mật là Mi-sa) với toàn thể anh chị em trong công ty, đại loại là, vừa qua, với sự giúp đỡ của họ, công ty mới ký được hợp đồng bán máy với Liên Xô. Sau đó, đến lượt các ông phát biểu cảm tưởng của mình, anh NQA dịch. Được 5 phút, anh bảo, trong các anh em ở đây, có ai biết tiếng Nga, có thể dịch hộ anh được không. Tôi liền dũng cảm giơ tay. Thực ra, mấy cái câu tự giới thiệu, cảm ơn, chúc mừng, cảm nghĩ về Việt Nam... không khó lắm. Sau buổi ấy, anh TVT lại gặp riêng tôi và bảo, “Này, sếp chấm cậu rồi đấy, chuẩn bị đến đâu rồi”.
*
* *
Tôi nhớ hồi đó anh NHC (VK75) đầu quân vào Genpacific và nhận công tác ở chi nhánh Hà Nội (cùng anh NSH VK74, đã lo xong thủ tục bên Phòng không - Không quân), song anh vẫn còn vướng mắc một số thủ tục ở hàng không Việt Nam (cơ sở phía Nam), là nơi anh nhận công tác sau ngày ở bên Hung về. Do vậy, cuối mùa hè năm 1989, anh phải vào Tp. Hồ Chí Minh giải quyết những tồn đọng ấy. Ban Giám đốc quyết định, khi anh NHC vào, sẽ mở một lớp học cấp tốc cho tôi và anh NHC, chuẩn bị cho chuyến sang công tác tại chi nhánh Mát-xcơ-va.

Hôm anh NHC vào, đã đi giải quyết các việc kia của anh xong, buổi chiều, anh có ghé qua B-40 trình diện “sếp” Độ và thăm anh em bạn bè. Anh Độ bảo, thôi hôm nay muộn rồi, cậu về chuẩn bị, sáng mai lên đây có việc, nếu cần thì ra hàng không hoãn vé, ba hôm sau cậu mới được bay ra Hà Nội.

Sáng hôm sau, chúng tôi được anh Độ dẫn vào một căn phòng trong B-40, nơi anh PTG và hai anh NMH, NVT đã tề tựu ở đó. Anh Độ bảo, theo yêu cầu của Ban Giám đốc, cậu PTG có trách nhiệm truyền đạt lại cho hai cậu này thành thạo các thao tác trên máy vi tính Bull Micral 45, để hai cậu này sang chi nhánh Liên Xô hoàn thành nhiệm vụ được tốt. Truyền đạt xong, cậu PTG nhớ bắt hai cậu này thực hành đi thực hành lại vài ba lần, cho đến khi nào thành thạo thì thôi!.

Hai anh NMH và NVT lôi một con Bull Micral 45 mới tinh ra, tháo ốc vít đằng sau đít, mở nắp bằng cách trượt vỏ trên hai đường ray ở hai bên sườn. Anh PTG chỉ cho chúng tôi thấy, đâu là bộ vi xử lý 80286 (bị vát một đầu, để đánh dấu vị trí), đâu là quạt làm mát, đâu là RAM, đâu là ROM-BIOS, đâu là ổ đĩa cứng, đâu là ổ đĩa mềm, đâu là bộ nguồn… (nhìn từ bên trong ra, nó rất khác so với nhìn từ bên ngoài vào).

Anh bật công tắc máy ở tư thế “cởi truồng” và chạy chương trình Setup.exe, dừng màn hình lại, chỉ cho chúng tôi thấy, hiện giờ máy đang chạy với xung nhịp là 8 Mhz. Theo hợp đồng đã ký, chúng ta cần giao máy Bull Micran 45V (chữ V ngụ ý Việt Nam) hoạt động với chế độ xung nhịp là 12 Mhz cho khách hàng. Về khả năng kỹ thuật, bên Pháp họ thừa sức làm việc này, vì họ chính là người “đẻ” ra máy. Song luật sở hữu trí tuệ ở châu Âu được tuân thủ rất chặt, vi phạm là “ăn đòn” ngay. Kể cả họ đi “vẽ đường cho hươu chạy”, tức là hướng dẫn lại cho người khác “làm trò này”, nếu bị phát hiện ra, sẽ phải chịu án phạt nặng.

Điều duy nhất có ích họ có thể làm, là gửi cho Công ty liên doanh tài liệu kỹ thuật liên quan đến máy tính Bull Micral. Và họ đã gửi. Sau một tuần làm việc căng thẳng, hiện nay, nhóm kỹ thuật đã tìm ra biện pháp can thiệp vào bảng mạch mẹ (mother-board) để đạt được mục tiêu này. (có nhờ đến sự tham vấn ý kiến về kỹ thuật của anh NQA).

Chuyện xảy ra đã lâu, nên tôi chỉ nhớ lõm bõm. Đại thể là:

Bảng mạch mẹ của máy Bull Micral trông thế thôi, nhưng gồm 8 lớp mạch in chồng lên nhau, ở giữa có 7 lớp cách điện mỏng dính. Nhóm kỹ thuật đã đọc sơ đồ mạch hãng gửi sang, và quyết định trích tín hiệu từ một mối hàn tại điểm A ở lớp thứ 3, ngắt nó đi ở vị trí B, sau đó lấy dây dẫn, hàn một đầu vào điểm A, hàn đầu kia vào điểm C nằm ở lớp thứ 7. Sau khi vệ sinh sạch sẽ thân máy, kiểm tra “thông dây” bằng đồng hồ đo điện, khi khởi động, sẽ thấy máy chạy với xung nhịp 12 Mhz. Cho máy chạy thử suốt 3 ngày 3 đêm, không phát hiện thấy điều gì bất thường.

Các thao tác cần làm là:

- Mở máy ra, lấy nguyên bảng mạch mẹ ra, cất máy đi chỗ khác.

- Trên bàn làm việc, nhớ dọn sạch sẽ, để ngửa bảng mạch mẹ ra, nếu hơi tối thì chiếu đèn bàn vào cho sáng.

- Dùng mũi dao nhọn (dao mổ bệnh viện) khía mạnh ở vị trí có điểm A,. Lách mũi dao xuống, đừng mạnh tay quá, sẽ nhìn thấy rõ điểm A ở lớp thứ 3 (đếm từ trên xuống, thấy số lượng lớp cách điện mỏng bằng 2).

- Dùng mũi dao khía mạnh ở vị trí có điểm B,. Lách mũi dao xuống, đừng mạnh tay quá, sẽ nhìn thấy rõ điểm B ở lớp thứ 3 (đếm từ trên xuống, thấy số lượng lớp cách điện mỏng bằng 2). Bằng cách này, điểm B đã bị cô lập, không còn nối với điểm A nữa. (có thể kiểm tra bằng cách dùng đồng hồ đo điện đo thông)

- Dùng mũi dao khía mạnh ở vị trí có điểm C. Lách mũi dao xuống, hơi mạnh tay, để dao xuống sâu, sẽ nhìn thấy rõ điểm C ở lớp thứ 7 (đếm từ trên xuống, thấy số lượng lớp cách điện mỏng bằng 6).

- Chuẩn bị dây dẫn (nhớ tuốt kỹ hai đầu và ước lượng chiều dài đoạn dây vừa đủ, đừng ngắn quá, đừng dài quá), dây thiếc, nhựa thông, mỏ hàn, găng tay tĩnh điện (nếu không, nhớ xoa hai bàn tay vào nhau để khử tĩnh điện, rồi hẵng sờ mó đến các linh kiện điện tử, bảng mạch in).

- Hàn dây nối hai điểm A và C.

- Dùng ống hút thiếc vệ sinh sạch sẽ bảng mạch mẹ (không để các vụn thiếc nằm lung tung trên bảng mạch, sẽ gây cháy chập).

- Lắp lại các dây rợ trên bảng mạch mẹ (dây cáp nguồn, cáp tín hiệu, đầu giắc cắm). Nắn nắn các thanh RAM, ấn ấn bộ vi xử lý, thổi phù phù cho bụi bay đi. Kiểm tra thật kỹ lưỡng trước khi cắm điện, không vội vàng, cẩu thả. (Nếu là cắm lần đầu, phải kiểm tra hiệu điện thế có phải 220V không, kẻo nhầm điện 110V, hay nhầm điện 3 pha. Nếu thấy ổ cắm điện lỏng lẻo, không chắc chắn, thì sử dụng sang ổ cắm khác, hoặc chữa xong ổ cắm điện bị lỏng lẻo, hẵng cắm dây điện nguồn).

- Bật công tắc điện nguồn của máy. Ngón tay vẫn duy trì, để ở vị trí đấy, chưa rời ra vội. Nếu có gì bất thường (tiếng động lạ, âm thanh lạ, mùi khét, có cái gì lóe sáng…) thì tắt máy ngay.

- Chạy chương tình Setup.exe để chắc chắn máy đã hoạt động với chế độ xung nhịp 12 Mhz.
*
* *
Sau mấy ngày “luyện chưởng”, anh NHC ra Bắc trước.

Tôi còn nán lại thêm 1 tuần để được anh em phần cứng hướng dẫn cách tháo lắp máy in (máy in kim và máy in la-de), cách vệ sinh máy, cách thay ống mực,… Bộ phận văn phòng đi mua 2 bộ dụng cụ sửa chữa máy tính rất đẹp của Đài Loan, gồm: tuốc-nơ-vít, ống hút thiếc, kìm cắt, kìm kẹp, búa nhỏ, dũa,…, chổi quét, cồn 90 độ, bông, đồng hồ đo điện vạn năng cho tôi và anh NHC. Tôi cũng tự mình chuẩn bị lấy một bộ tools (công cụ tiện ích), và đặc biệt, anh Độ cho sao bộ bản vẽ, sơ đồ các bảng mạch, linh kiện bên trong máy vi tính Bull Micran 45V, do hãng Bulll Micran gửi sang (anh bảo, đây thuộc dạng tài liệu mật của công ty), sau đó đóng vào một thùng lớn để tôi mang ra Hà Nội, từ đó chuyển sang Mát-xcơ-va. Anh Độ phấn khởi bảo, vừa rồi, công ty đã ‘chiêu mộ” được anh Võ Quốc Công, học Nga về, là con bác Võ Chí Công, Chủ tịch Hội đồng nhà nước. Hiện công ty đang lo mua vé cho anh Võ Quốc Công bay sang Liên Xô, giúp bên ấy việc lo thủ tục mở chi nhánh ở Mát-xcơ-va. Anh PTG cũng dặn, sang bên đấy có khó khăn gì, cứ điện về công ty, anh sẵn sàng giúp đỡ. Tôi thấy người lâng lâng, như đang sắp sửa tham gia vào một chiến dịch lớn lao, đầy trách nhiệm.

Tôi nói với anh Độ, em cảm ơn anh về tất cả những gì công ty, và đặc biệt, cá nhân anh đã dành cho em, vợ chồng em cảm ơn sự thịnh tình của công ty đã ưu ái em trong vấn đề phân nhà, em cũng xin anh thông cảm cho em về những gì đã xảy ra (ý nói chuyện ông Đi-đi-ê), nhân đây, em cũng xin anh bổ nhiệm một người khác trông coi quản lý nhà khách 358 B Lê Văn Sỹ… Anh bảo, thôi, được rồi, được rồi.

Trước khi bay ra Hà Nội, tôi và vợ tôi cũng đến chào tạm biệt người thân và bạn bè.



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 28.06.2017, sửa lần 13
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 21.07.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÂU CHUYỆN VỀ NHỮNG HỌC VIÊN QUÂN SỰ TẠI HUNG-GA-RI (tiếp theo 17)

CÔNG TY LIÊN DOANH GENPACIFIC

CHI NHÁNH GENPACIFIC Ở MÁT-XCƠ-VA

Những ngày ở chi nhánh Hà Nội thật vui.

Tôi gặp lại các anh TVT, NHC, NSH, chuyện trò sôi nổi. Anh VMS thông báo, bên ấy hiện đang có 2 người là anh HQT, phụ trách chi nhánh, và chị TMT, kế toán trưởng. Khi tôi và anh NHC sang, mọi người sẽ ra tận sân bay đón. Về công tác chuẩn bị, chị TMT đã báo về chi nhánh Hà Nội, và các anh chị đã phân công mỗi người một việc, tôi và anh NHC chỉ việc ‘đi người không”. Chị NKQ bảo tôi đèo vợ tôi đến chi nhánh cho vợ tôi biết đường và chị biết mặt, để hằng tháng chị còn phát lương của tôi cho vợ tôi, còn bên Liên Xô, tôi được hưởng phụ cấp riêng. Nhờ em PBT có người thân là “sếp” trên sân bay Nội Bài, nên vé máy bay mua lúc nào cũng được. Không hiểu do quan hệ của công ty thế nào, mà cả tôi và anh NHC đều được cấp hộ chiếu công vụ.

Anh NHT bảo, nhân dịp mình mở chi nhánh bên Mát-xcơ-va, một công ty của Việt Nam ở Hà Nội muốn nhờ mình tiếp thị hộ sản phẩm phần mềm của họ, nếu bán được thì cùng nhau chia sẻ lợi nhuận. Anh dẫn tôi tới trụ sở của công ty AIC, khi đó đóng nhờ văn phòng của trường Đại học Kỹ thuật quân sự trong ngõ số 2 Phan Chu Trinh, gặp anh Lê Anh Dũng, là Giám đốc công ty. Anh Dũng điện cho ai đó trên phố Lò Đúc, một cơ quan của Tổng cục Lâm nghiệp thì phải, để tôi và anh NHT qua đó, lên tầng hai. Chúng tôi được xem bản demo (trình diễn) của phần mềm Camap, một phần mềm “hiện đại” lúc bấy giờ, vì nó cho phép di chuyển trên bản đồ. Cái đặc sắc của phần mềm này là bên cạnh màn ảnh "rộng", còn một màn ảnh nhỏ (màn ảnh phụ) hiện lên ở góc bên phải, phía dưới màn hình, và thông tin trên hai màn ảnh được đồng bộ với nhau liên tục. Tức là, vừa nhìn thấy cây, vừa nhìn thấy rừng. Kỹ thuật này bây giờ thì quá tầm thường, song hồi đó, không phải công ty phần mềm nào cũng thực hiện được.

Nghe nói, nhờ làm việc cho một dự án quản lý rừng của một tổ chức phi Chính phủ, anh em ta đã viết ra phần mềm này. Tôi nhớ, bộ dữ liệu của phần mềm Camap gồm rất nhiều tệp tin đồ họa sắp đặt sẵn, sau đó, khi hiển thị thì cho chồng xếp lên nhau để tạo ra một bản đồ sinh động. Nhược điểm là khi có sự thay đổi (ví dụ, thêm bớt trong hệ thống đường giao thông), phải thay đổi một loạt tệp tin. Bên cạnh đó, tên tệp tin cũng phải đặt theo một quy tắc thống nhất. Anh NHT mua một hộp đĩa mềm to, cặm cụi ngồi sao chép, dán nhãn cho từng đĩa, lấy bút bi ghi thông tin lên các nhãn. Hôm sau, về công ty, anh và tôi “vật” một con máy ra, thử install (cài đặt) phần mềm Camap lên đó, sau đó chạy thử, để tin chắc là quá trình sao chép đĩa không bị lỗi.

Anh TVT thì liên hệ được với nhóm của anh Hoàng Kiếm ở Viện Tính toán và Điều khiển, đang theo đuổi nghiên cứu một hướng rất mới lúc đó là Trí tuệ nhân tạo, và các anh đã hiện thực hóa đề tài lý thuyết này bằng phần mềm “Nhận dạng chữ in tiếng Việt”. Nghĩa là cho một văn bản đánh máy (tiếng Việt) vào máy quét nối với máy vi tính, khi quét văn bản, đầu ra nhận được là tệp tin hình ảnh trong máy vi tính. Có thể “chỉnh lại” vi trí của văn bản bằng cách xoay ngang xoay dọc, lộn lên lộn xuống, sau đó bắt nó nhận dạng các con chữ ở dạng hình ảnh thành các con chữ ở dạng ký tự ASCII. Và như vậy, đỡ công đánh máy. Muốn chỉnh sửa gì, có thể dùng WordPerfect để chỉnh sửa, rất tiện lợi.

Chúng tôi kéo nhau đến nhà riêng anh Hoàng Kiếm trong ngõ nhỏ trên con phố Lò Đúc, gặp nhóm tác giả, là hai anh ĐCB và TĐH đều đang là sĩ quan kỹ thuật (tốt nghiệp chuyên ngành Tin học, Đại học Kỹ thuật quân sự), công tác ở Cục Cơ yếu. Mọi thao tác trong căn nhà nhỏ ấy thật nắn nót và cẩn trọng. Chúng tôi thử nghiệm độ chính xác của phần mềm “Nhận dạng chữ in tiếng Việt” và nhận thấy, một trang A4 chỉ sai tối đa 3-4 lỗi, tùy chất lượng bản đánh máy đưa vào. Phần mềm này có một chức năng "tân tiến" là dạy cho máy tính "học cách nhận dạng chữ", tức là, đối với những chữ mà máy tính nghi hoặc chưa biết đó là chữ gì, nó sẽ hiện hình ảnh ấy lên và hỏi người sử dụng: đây là chữ gì. Mình bấm chữ cái (hoặc ký tự) nào đó vào, nó sẽ ghi nhớ và từ lần sau trở đi, nếu gặp hình ảnh hơi giống như thế, nó sẽ không nghi hoặc nữa, mà nhận dạng luôn.

Sau đó, hình như công ty Genpacific bỏ tiền ra mua đứt với giá 7.000-8.000 USD thì phải, với yêu cầu nhóm tác giả phải khẩn trương chỉnh sửa, để có thể nhận dạng được cả văn bản tiếng Nga.

Tôi ngồi đọc tệp tin “Hướng dẫn cài đặt và sử dụng”, sau đó chi nhánh Hà Nội lại mua cho tôi hộp đĩa mềm mới tinh để sao chép thành một bộ cài đặt. Tôi kỳ cạch tập cài đặt trên máy Bull Micral 45 nhiều lần, dịch “Hướng dẫn cài đặt và sử dụng” ra tiếng Nga và tập thuyết minh bằng tiếng Nga. Nhiệm vụ của chúng tôi đi đợt này là nếu gặp khách hàng, thì chào bản để thu tiền về cho công ty.

Anh TVT bảo, “chúng mày” sang trước, “tao” giải quyết xong mấy việc, “tao” sang sau. Đôi khi, chúng tôi vẫn suồng sã như thế, vì hai anh TVT và NHC học chung lớp chuyên toán Chu Văn An 3 năm cuối phổ thông; anh TVT học với tôi từ lớp 1 đến lớp 6; anh NHC thì có bố làm cùng cơ quan với mẹ tôi, nên dịp 1-6, chúng tôi vẫn hay lên nhận phần thưởng của Công đoàn cơ quan. Năm cuối phổ thông, cả ba chúng tôi cùng vào đội tuyển thi toán.

(Sau này, anh TVT có kể lại với tôi, hồi đó, anh PTG có “tiến cử” anh NSH cùng sang Mát-xcơ-va với tôi và anh NHC một đợt, vì anh NSH tay nghề phần cứng rất giỏi - đã đi sửa chữa, chuyển hệ ti-vi với anh PTG một thời gian thì phải - nhưng anh TVT gạt đi, vì tiếng Nga của anh NSH “chưa ổn lắm, cần trau dồi thêm”. Và quả nhiên, anh NSH đã tự đi bổ túc thêm tiếng Nga trong các lớp ban đêm, nên cuối cùng, chúng tôi đã gặp nhau ở “Mát”, chuyện này để hồi sau sẽ rõ).
*
* *
Tôi không còn nhớ, chúng tôi bay trên chiếc IL-82, TU-134, hay TU-154. Hình như IL-82 thì phải, vì phải tiếp nhiên liệu giữa chừng. Thức ăn trên máy bay rất ngon (gà rán ?), nhưng tôi hơi bị say, chả thiết ăn uống gì. Đến sân bay Mát-xcơ-va, đã thấy chị TMT cười toe toét giơ cao tấm biển “Genpacific”, còn anh HQT thì rủ rỉ rù rì hỏi thăm đi đường có mệt không. Cậu em trai anh NHC cũng ra đón. Chúng tôi làm thủ tục rất nhanh, vì chị TMT đã dặn chị NKQ “dúi” cho chúng tôi mấy tờ “đô” lẻ. Mấy chú hải quan Nga cười tít mắt.

Anh NHC đi cùng em trai, còn ba chúng tôi đi tắc-xi về nhà. Đó là một căn hộ chung cư ở tầng 16 thì phải, gần ga tàu điện ngầm “Ba-bút-sơ-kin-xkai-a”. Còn một ga nữa thì là ga cuối cùng của tuyến tàu điện ngầm.

Lúc này, tuyết ngoài trời đang rơi trắng xóa.
*
* *
Tôi tắm rửa, tẩy trần, nghỉ ngơi, lúc ngủ dậy, thì chị TMT đã chuẩn bị xong đồ ăn.

Chúng tôi vào phòng bếp kiêm phòng ăn, vừa ăn cơm, vừa nói chuyện. Qua câu chuyện, tôi được biết, anh HQT học Đại học Kinh tế Ki-ép, anh học phổ thông sau tôi một lớp, nhưng do học tiếng Nga, nên thời gian học dự bị ít hơn, nên cùng tốt nghiệp năm 1981. Về nước, theo lệnh Tổng động viên, anh bị gọi nhập ngũ (“cho cái bọn đi Tây nó biết mùi thế nào là gian khổ”). Sau đó anh ra quân, về làm ở Ủy ban Vật giá nhà nước (“định vật nó, bị nó vật cho ngã quay lơ”). Anh quen một cô gái làm cùng cơ quan, cưới cô đấy, đã có một nhóc 2 tuổi. Còn chị TMT thì vốn được gửi đi học xiếc từ bé ở Liên Xô, sau khi tốt nghiệp thì về nước biểu diễn, nhưng mấy năm gần đây (thời kỳ “giá-lương-tiền”) đói kém, bên Nga họ tuyển lao động xuất khẩu, chị bàn với chồng, xung phong đi luôn (hình như chị làm phiên dịch cho một đội lao động). Sau đó, chị được mời đi phiên dịch cho công ty Genpacific vài ba lần, rồi được công ty nhận về làm thư ký kiêm văn thư, kế toán. Chị đã có một đứa con gái học lớp 6 lớp 7 gì đó, nhà chị ở giữa phố Đội Cấn.

Chị TMT sung sướng bảo, chị NKQ và em PBT chu đáo thật, gửi cho bao nhiêu là mì tôm và thức ăn thức uống. Có cả mấy cân sấu chín nữa thì phải. Anh HQT thì khoái gói ớt tú hụ, quả nào quả nấy tươi roi rói. Đấy là vật chất. còn về tinh thần, chi nhánh Hà Nội gửi sang gần chục băng phim ảnh, ca nhạc (có cả nhạc vàng), 4 băng học tiếng Anh theo tình huống…

Hôm sau, khi anh NHC đến căn hộ, anh HQT mới nói chuyện công việc sâu hơn. Anh thông báo, anh Võ Quốc Công đã lên Sứ quán gặp Đại sứ Nguyễn Mạnh Cầm đặt vấn đề mở chi nhánh của công ty tại Mát-xcơ-va. Bình thường, những công ty khác phải mất không dưới 6 tháng. Còn Genpacific, các anh ấy hẹn… 10 ngày. Tuần sau, anh Công sẽ lên lấy quyết định. Anh HQT kể, anh NQA anh ấy dặn, anh đã bảo với anh Công là: Công ơi, tao cho mày 2 tháng để lo vụ này, nhưng nếu mày lo xong trong 1 tháng, thì mày có quyền đi chơi 1 tháng còn lại.

Về công việc của chúng tôi, anh HQT nói, sau khi việc vận chuyển máy vi tính bằng đường hàng không sang Nga gặp khó khăn, ông A-lanh Mông-lô (anh gọi thân mật là … “thằng”), đã quyết định đổi phương án khác (“bọn Mỹ nó quây kinh quá”), là chuyển bằng đường bộ. Hiện, phía Pháp đang thuê một công ty của Áo nó chuyển hàng cho mình từ Paris đến biên giới Áo-Hung, rồi lại thuê một công ty khác nó chuyển tiếp về “Mát” (Mát-xcơ-va). Tổng thời gian vận chuyển mất độ 2 tuần. Anh HQT đã liên hệ trước với các khách hàng, đề nghị chuẩn bị kho chứa hàng, bàn ghế, điện đóm, người ngợm. Khi hàng về đến kho chứa hàng, tôi và anh NHC sẽ đến đó “dựng” máy lên cho họ.

Sau đó non một tuần, thì anh TVT sang. Một hôm, thấy anh Võ Quốc Công gọi điện thông bào cho anh HQT, có quyết định của Sứ quán cho phép thành lập chi nhánh rồi. Anh HQT bảo, tối anh nhớ ghé sớm để chi nhánh tổ chức liên hoan nội bộ, chị TMH chị ấy đã đi chợ chuẩn bị đồ ăn cả tuần nay để chờ anh. Tối đó, anh Công mang quyết định đến đưa cho anh HQT. Chúng tôi ăn món “gỏi Sài Gòn”, tức là bánh đa cuốn với rau sống, thịt luộc, chấm nước mắm nguyên chất hay mắm tôm chưng. Đồ uống có hai két bia, chị TMT nói, mua “giá cao” ở cửa hàng, gọi thế thôi, chứ quy ra tiền Việt thì quá rẻ. Anh Công ăn nói nhỏ nhẹ, anh kể, anh đã từng đi trường thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi (gọi tắt là trường Trỗi) ở bên Quế Lâm, Trung Quốc, nên biết anh NHT. Anh nói với anh HQT, sau đây, anh sẽ đi thăm bạn bè, người quen, có thể sẽ “tạt qua trường cũ”, đến cuối tháng mới trở về Mát-xcơ-va. Anh HQT bảo, anh muốn đi đâu tùy anh, anh NQA đã dặn em thế. Nếu anh cần tiền tiêu, anh cứ bảo em, em sẽ bảo chị TMT đưa thêm cho anh. Công ty mình bây giờ chả thiếu tiền. Sáng hôm sau, đã thấy ở nhà fax sang bản quyết định của anh NQA bổ nhiệm anh HQT giữ chức Giám đốc chi nhánh Mát-xcơ-va, chị TMT là Kế toán trưởng.

Hôm sau nữa, anh HQT và chị TMT ra Ngân hàng trung ương Nga làm thủ tục mở tài khoản của công ty.

Sau lần đó, một hôm, anh Công gọi điện đến chi nhánh và hỏi tôi thứ bảy này có bận việc gì không. Tôi bảo, em cũng chưa có kế hoạch gì. Anh bảo, anh muốn nhờ tôi đi với anh “có chút việc”. Sáng thứ bảy, tuyết rơi dày, anh Công qua chi nhánh, rủ tôi đến chỗ một người bạn của anh. Ba chúng tôi hì hục vần chiếc tủ lạnh Xa-ra-tốp nguyên đai nguyên kiện từ trên tầng cao ra thang máy, rồi bê xuống tầng 1 khu chung cư. Anh Công gọi một chiếc tắc-xi chở tủ lạnh ra sân bay. Tới sân bay, lái xe không giúp được chúng tôi, vì công an không cho xe đỗ quá 5 phút. Hai anh em đành hạ tủ lạnh xuống vệ đường. Anh Công động viên tôi: “Hai anh em mình cố gắng tí nhé !”. Nhưng tôi không đồng ý phương án ấy. Tôi bảo anh: “Anh đứng đây chờ em 5 phút. Em ra đằng kia một tí”. Tôi chạy đến chỗ mấy “đồng chí” công nhân đang ngồi cạnh một chiếc xe nâng hàng. Tôi nói: “Tôi cần hai người bê hộ tôi chiếc tủ lạnh vào kho hàng. Tôi sẽ biếu các anh 3 rúp để uống bia”.

Trên đường về, anh Công rủ tôi vào quán uống cà phê và ăn bánh ngọt, tôi mới nói với anh là tôi với anh cùng là “dân Quảng Nôm”, quê anh ở Tam Kỳ, quê tôi ở Quế Sơn, nhưng trước đây, bố anh, khi ấy vẫn dùng tên hay gọi ở nhà là Võ Toàn, đến Quế Sơn, đi ở cho một gia đình giàu có một thời gian dài. Bác tôi đã kể cho tôi nghe như vậy. Anh nghe xong bảo: “Khi nào em có dịp đi thành phố Hồ Chí Minh, nhớ ghé nhà anh chơi nhé. Nhà anh ở 34 Tú Xương, quận 3”. Sau này tôi biết thêm, bố vợ anh chính là tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn – Gia Định hồi 1975. Còn vợ anh hồi bé cũng học trên trường Trỗi ở Quế Lâm bên Trung Quốc, hiện đang là thư ký Tòa soạn tạp chí “Thế giới vi tính” do anh Nguyễn Trọng làm Tổng biên tập.



Quảng trường Đỏ (1990)

*
* *
Theo đúng kế hoạch, tôi và anh NHC bắt đầu áp dụng những điều đã học ở B-40 vào thực tiễn. Tại văn phòng khách hàng, chúng tôi có một phòng riêng, không ai được phép bén mảng tới. Chúng tôi cắt bảng mạch, hàn dây, lắp ráp, cài đặt, cấu hình, copy hệ điều hành và các phần mềm tiện ích (có cả russfx.exe để gõ và in tiếng Nga). Mỗi máy 20 phút, mỗi tiếng 3 máy, mỗi ngày 8 tiếng, vị chi năng suất lao động trung bình 24 máy một ngày. Mười hôm, hai đứa làm được gần 500 máy. Thời đó, bên Liên Xô vẫn làm việc theo chế độ nghỉ thứ bảy chủ nhật, điều này khiến tôi hơi ngạc nhiên: vì sao kinh tế chưa dồi dào, mà họ lại cho nghỉ thế.

Công việc của chúng tôi không phải chỉ toàn thuận lợi. Hồi đó, phương tiện đi lại chủ yếu là tàu điện ngầm. Mát-xcơ-va rất rộng, có những tuyến tàu điện ngầm xuyên tâm dài 60 km. Từ ga tàu điện ngầm tới chỗ khách hàng, có nơi, chúng tôi phải vượt qua một khoảnh rùng thưa dài hơn 1 km, tuyết ngập đến ống đồng. Lúc đi đã mệt, lúc về còn mệt hơn. Buổi trưa, chúng tôi thường ăn qua loa trong nhà ăn gần đấy, dành cho những người dân bình thường.

Khó khăn lớn nhất là nhiều ổ đĩa cứng 20 GB, 40 GB không sao khởi động được. Có lẽ, thời gian lưu kho lâu quá, cộng thêm thời tiết mùa đông giá lạnh đã ảnh hưởng tới các ổ đĩa. Chúng tôi đã làm đủ cách: sưởi ấm, lắc lên lắc xuống... nhưng không hiệu quả. Một lần, anh NHC bê một chồng 5-6 ổ đĩa cứng từ bàn làm việc định cất ra một góc phòng để giải phóng chỗ làm việc, thì bất ngờ, một ổ đĩa rơi xuống sàn nhà. May là sàn nhà lát thảm bằng dạ khá dày, nên ổ đĩa không bị sứt mẻ gì cả. Nhưng điều kỳ diệu là hôm sau, khi lắp ổ đĩa ấy vào máy tính, thì ổ đĩa bỗng nhiên làm việc. Tôi vừa cười vừa bảo với anh NHC, hay là chúng mình thử ”đánh rơi” nốt những ổ đĩa còn lại.

Chúng tôi phát hiện ra, chất lượng các máy vi tính Bull Micral không đồng đều. Có một chiếc máy khá đặc biệt, vì nó ”tốt” hơn các máy khác, bởi lẽ dùng máy này để format (đặt khuôn dạng) cho các ổ đĩa cứng, hiệu quả công việc nâng cao lên hẳn. Nhiều ổ cứng bị các máy vi tính khác ”chê ỏng chê eo”, khi đưa sang chiếc máy này, thì format được ngay. Sau khi format xong, lại chuyển nó về máy tính ban nãy, thì mọi việc trở nên suôn sẻ. Chúng tôi gọi chiếc máy tính ”tốt” kia là ”máy mồi”. Nhờ chiếc máy mồi, số lượng ổ đĩa cứng ”chết” giảm xuống, chỉ còn tổng cộng 20 ổ thuộc loại cứng đầu trong số gần 500 đĩa cứng. Những ổ đĩa này bị xếp trong một cái thùng đựng máy để ở góc căn hộ của chi nhánh. Anh TVT phải đặt hàng ổ đĩa cứng bên Singapore để chúng tôi thay thế cho khách hàng. Những ổ đĩa cứng ”hỏng” khó lòng gửi cho hãng Bull Micran để bảo hành, bởi lẽ, dùng mắt thường cũng nhìn thấy những vết hằn nổi loằng ngoằng trên bề mặt bảng mạch in, cùng những vệt lúc trắng lúc xanh loang lổ, trông như vết mốc.
*
* *
Hồi ấy, cứ khoảng 9 giờ tối là căn hộ của chúng tôi có điện thoại từ Ki-ép gọi đến. Chỉ cần nghe ”reng, reng” là anh HQT đã biết ai ở đầu dây bên kia. Anh thật bụng bảo tôi, may quá, có ”ông” sang đây, tôi đỡ phải nghe những cú điện thoại lúc 9 giờ tối. Tôi cầm ống nghe: Công ty Genpacific xin nghe ! Người kia nói: Cho tôi gặp anh HQT. Tôi hỏi: Xin lỗi, Ngài là ai? Người kia nói: Tôi là I-van I-van-nô-vích, giảng viên Đại học Bách khoa Ki-ép. Tôi nói: Thật tiếc, ông HQT hiện không có ở đây. Tôi là.... Xin Ngài làm ơn cứ nói, liệu có việc gì tôi có thể giúp được Ngài không?. Người kia nói: Tôi xin hỏi anh, máy vi tính đã về chưa? (anh HQT ngồi gần tôi, nên anh nghe rõ câu này, anh mím môi, xua xua tay ra hiệu cho tôi). Tôi đáp: Theo thông báo của hãng hàng không vận chuyển thì, tính đến thời điểm này, hàng hóa chưa về ạ ! Người kia nói: Thế bao giờ hàng về?. Tôi đáp: Thưa Ngài, hôm nay là ngày.... Vậy chắc tuần sau, sau khi liên lạc với bộ phận sắp xếp hàng hóa ở sân bay, có thông tin chính thức, chúng tôi xin cung cấp ngay lập tức cho quý khách hàng là Đại học Bách khoa Ki-ép và Ngài, là Giáo sư I-van I-van-nô-vích ! Người kia cằn nhằn: Tuần sau... Lại tuần sau. Sau khi ông I-van I-van-nô-vích bỏ máy, chị TMT bụm miệng cười, còn anh HQT không cười, mà vẻ mặt lộ rõ sự thông cảm và thậm chí... đau khổ.

Cho đến một hôm, chị TMT vui mừng thông báo, bên kho hàng vận chuyển vừa gửi cho mình thông báo ra nhận hàng vận chuyển về từ Áo (đợt thứ 2). Hôm sau, chị ra kho hàng, làm hợp đồng và trả tiền đàng hoàng, thuê luôn họ vận chuyển tiếp ra sân bay và gửi hàng theo máy bay vận tải về Đại học Bách khoa Ki-ép. Tối hôm ấy, anh HQT đích thân gọi điện cho ông Giáo sư I-van I-van-nô-vích đáng kính báo tin. Tôi như đọc thấy nụ cười trên khuôn mặt của anh và nụ cười rạng rỡ hơn trên khuôn mặt của Giáo sư ở đầu dây bên kia. Anh HQT kể, đã có lần, bức xúc quá, ông Giáo sư ông ấy dọa, tao sẽ kiện bọn mày ra Tòa án quốc tế, chúng mày là một lũ lừa đảo, rồi chúng mày sẽ biết tay tao. Anh HQT hơi bực mình, song vẫn phải lựa lời xin lỗi ông. Anh HQT bảo, mình cũng thế thôi, đã trả tiền trước 100% rồi, mà chả thấy tăm hơi hàng hóa đâu, ai mà chả sốt ruột.

Anh bảo tôi nay mai chuẩn bị đi ”dựng” máy cho Đại học Bách khoa Ki-ép, vì anh NHC bận đi ”dựng” máy cho một khách hàng khác. Anh nói, ông Giáo sư I-van I-van-nô-vích hôm đó bận họp, nên đã giao nhiệm vụ tiếp nhận máy cho một cậu tên là Xa-sa, điện thoại của cậu ấy đây. Tôi chủ động gọi điện cho Xa-sa và thống nhất địa điểm cũng như thời gian gặp nhau ở Ki-ép.

Anh dặn chị TMT, ”sếp” NQA vừa có chỉ thị, cán bộ Genpacific ở chi nhánh Mát-xcơ-va đi công tác bằng máy bay, thì mua vé hạng thương gia, không mua vé hạng thường. Tôi và anh HQT cùng ngồi rà soát lại hợp đồng (soạn thảo bằng tiếng Anh), mọi thứ ổn cả, duy cái mục ”spare parts” (linh kiện dự trữ), giá khá đắt đỏ, tôi không hiểu bao gồm những thứ gì, vì hôm chị TMT đi kiểm hàng ở kho hàng, chị chỉ thấy một cái hộp các-tông bé tí, trông như hộp mứt Tết.

Một buổi sáng, tôi đáp máy bay đi Ki-ép. Không ai đón, tôi tự đi tắc-xi về một địa chỉ đã hẹn với Xa-sa. Đó là một căn biệt thự ở phố... Cửa khóa im ỉm, tôi phải bấm mã (đã được thông báo trước) thì cái loa bé tí xíu gắn ở ổ khóa mới ọ ọe, rồi một giọng nói cất lên ồ ồ, hỏi tôi là ai và đến gặp ai. Khi nghe tôi nói xong, người đó dặn tôi cứ lên tầng hai, rồi cửa tự động mở. Tôi khá lo lắng, sợ gặp phải bất trắc, vì theo tôi hình dung thì Đại học Bách khoa Ki-ép phải khác cơ.

Lên tới tầng hai, có hai thanh niên chạy ra đón tôi. Chúng tôi ngồi ở sa-lông, một cô gái mắt xanh tóc vàng bưng ra chiếc khay đựng mấy cốc cà phê. Tôi nói, theo hợp đồng, chúng tôi sẽ giao máy Bull Micral 45 chạy với chế độ xung nhịp là 12 Mhz cho các Ngài, nhưng do lệnh cấm vận của phe tư bản chủ nghĩa, nên những máy vi tính các Ngài mới nhận, đều là loại chạy với chế độ xung nhịp là 8 Mhz. Chúng tôi cần thêm một số thao tác bổ sung, can thiệp đến máy để biến nó từ loại chạy với chế độ xung nhịp là 8 Mhz thành loại chạy với chế độ xung nhịp là 12 Mhz. Tôi cần một căn phòng kín đáo để làm việc này, vì công nghệ này là một bí mật của hãng Bull Micral, Cộng hòa Pháp, không thể tiết lộ. Hai chàng thanh niên gật đầu đồng ý. Họ hỏi, anh cần thời gian bao lâu, tôi nói, 20 phút là đủ. Tôi vào một phòng, chốt cửa lại, và bắt đầu thao tác. Đúng 20 phút sau, tôi hớn hở mở cửa bước ra. Tôi nói, mọi việc đã hoàn thành, và chạy phần mềm Setup.exe để minh chứng cho họ thấy là máy quả thực đã chạy với chế độ xung nhịp 12 Mhz. Tôi cố tình ”khoe” bộ đồ nghề sửa chữa máy tính rất chuyên nghiệp của mình.

Tôi xị mặt buồn rầu nhận thấy, dường như họ không quá phấn khởi, như những khách hàng trước đó của tôi ở Mát-xcơ-va.

Vừa lúc ấy thì Giáo sư I-van I-van-nô-vích bước vào. Đó là một Giáo sư đại học đúng như tôi vẫn nghĩ. Ông nói, ông xin lỗi vì không thể bỏ qua cuộc họp quan trọng (tôi nhận ra ngay giọng nói quen thuộc trên điện thoại của ông). Ông rất mừng vì tôi đã có mặt ở thủ đô Ki-ép. Ông hân hạnh giới thiệu với tôi hai học trò của ông, đây là..., còn đây là Xa-sa, mới đi thực tập 1 năm bên Mỹ về, nếu thích, tôi có thể nói chuyện với anh ta bằng tiếng Anh.

Xa-sa nói với ông, đại ý, bên Genpacific đã can thiệp vào phần cung cấp nguồn cho đồng hồ thạch anh và kích nó lên 12 Mhz. Rồi Xa-sa bỗng quay qua tôi và hỏi, liệu các Ngài có thể kích nó lên 16 Mhz được không. Quả thực, tôi bối rối vô cùng. Nhưng trong 1 phút, tôi trấn tĩnh lại và nói, xin các Ngài hiểu cho, việc kích lên chế độ xung nhịp 16 Mhz không nằm trong khuôn khổ hợp đồng. Giáo sư chẳng thèm để ý tôi nói gì. Ông nói gì đó với Xa-sa, cậu ta thoăn thoắt tắt máy tính, mở ốc vít, tháo bảng mạch chính ra (tôi nói, nếu cậu làm rách tem bảo hành là máy mất giá trị bảo hành, cậu ta gật đầu), lấy đồng hồ vạn năng của cậu ta đo chỗ này chỗ nọ. Một lúc, cậu ta nói với Giáo sư cậu ta hoàn toàn có thể kích lên chế độ xung nhịp 16 Mhz được. Tôi nói với Giáo sư, công ty chúng tôi sẽ không chịu trách nhiệm bảo hành đối với những máy bị can thiệp sâu vào phần cứng, Giáo sư gật gật đầu, bảo, tất nhiên rồi.

Tôi hỏi Giáo sư, bây giờ, tôi sẽ tiếp tục công việc của tôi là can thiệp đến các máy vi tính để biến nó từ loại chạy với chế độ xung nhịp là 8 Mhz thành loại chạy với chế độ xung nhịp là 12 Mhz. Giáo sư đưa mắt nhìn Xa-sa. Anh ta tự tin bảo, thôi, chúng tôi cảm ơn Ngài, Ngài đã hoàn thành công việc của Ngài rồi, chúng tôi sẽ ký Biên bản bàn giao ngay bây giờ đây. Ngài cứ yên tâm, chúng tôi sẽ thay các Ngài làm nốt các công việc còn lại. Nếu Ngài muốn, sau bữa trưa, chúng tôi sẽ có người đưa Ngài đi thăm thú thành phố, đến những nơi Ngài muốn đến.

Giáo sư chợt quay lại bảo tôi: Tôi thắc mắc phần ghi trong hợp đồng, tương ứng với mục ”spare parts”, chúng tôi chỉ nhận được chiếc hộp tí hon này, ông giơ cái ”hộp mứt Tết” ra, bên trong chỉ có một cái kìm cắt. Tôi nghĩ, giao hàng thế này là không ổn, tôi sẽ có ý kiến với anh HQT. Hay anh thử hỏi lại anh HQT xem sao.

Tôi ra điện thoại bàn, quay số về ”Mát” báo cáo với anh HQT những sự việc nêu trên. Anh HQT bảo, bọn thằng A-lanh Mông-lô hại mình rồi, làm việc chả cẩn thận đ...gì cả. Thôi, ông xem nó thích cái gì thì chiều nó cái ý đi! Bớt tiền đi chẳng hạn.

Khi tôi quay ra để nói chuyện với Giáo sư, tôi thấy ông và cậu Xa-sa đang dán mắt vào bộ dụng cụ của tôi vẫn để trên mặt bàn. Cậu Xa-sa ”phang” một câu xanh rờn: ”spare parts” bét ra cũng phải đẹp như cái bộ dụng cụ này chứ, đâu phải mỗi cái kìm cắt con con !

Rất nhanh, tôi nảy ra một ý. Tôi nói, tôi đã điện về Mát-xcơ-va xin ý kiến anh HQT, Giám đốc chi nhánh công ty. Anh HQT nói, trong hợp đồng này, chúng tôi đã có lỗi rất nhiều với các Ngài. Vậy nên, để chuộc lại một phần những lỗi lầm ấy, công ty chúng tôi muốn tặng các Ngài bộ dụng cụ này, coi như lưu lại một kỷ niệm đáng nhớ về sự hợp tác của hai bên chúng ta.

Ông Giáo sư tiến lại ôm lấy tôi, nói lời cảm ơn.

Trong buổi ăn trưa thân tình, chúng tôi nói với nhau đủ chuyện trên trời dưới bể. Ông tỏ ra ái ngại thông cảm với tôi, bởi lẽ tôi sắp thất nghiệp, do không còn dụng cụ để làm việc nữa. Tôi bảo, chúng tôi có 10 bộ như thế, đây là hàng chất lượng cao sản xuất ở Đài Loan. Khi nào bộ dụng cụ của các ông hỏng, tôi hứa là sẽ gửi biếu các ông thêm một bộ nữa. Nếu như anh HQT không đồng ý, thì tôi sẽ lấy tiền túi của tôi ra mua tặng các ông.

Tôi hỏi đùa ông, sao ông không kiện chúng tôi ra Tòa án quốc tế. Ông bảo, thực ra, đã có lúc ông nghĩ chúng tôi là người không tốt, song nếu vậy, tại sao chúng tôi không thay đổi số điện thoại, tại sao chúng tôi vẫn nhấc máy khi ông gọi đến, tại sao chúng tôi chưa bao giờ dám chửi bới ông... Vân vân. Những người đã hành động có đạo đức kinh doanh như thế phải là những người tốt.

Ông hỏi tôi: Bao giờ mày bay về Mát-xcơ-va ? (ông không khách sáo gọi tôi là Ngài nữa).

Tôi buột miệng trả lời: Tuần sau, thưa Giáo sư.

Cả ông và tôi cùng cười vang.
*
* *
Một hôm chủ nhât, tôi và anh TVT ở nhà, tôi được chứng kiến màn ”trình diễn tài năng” của anh.

Chả là, có anh NLA, là cựu học viên đại đội C186 trên Vĩnh Yên, trước chúng tôi một khóa, sang Liên Xô học ngành Toán ở Đại học Tổng hợp Lô-mô-nô-xốp (MGU), đang đi cùng một đoàn công tác nào đó của Việt Nam sang Mát-xcơ-va. Anh bị hỏng máy in la-de HP II, và nghe một người bạn nói, về sửa chữa máy tính mà nói, ở cái đất Mát-xcơ-va này, thì phải đến ”chuyên gia” TVT. Lấy được số điện thoại của chi nhánh, anh gọi đến và gặp được người anh muốn gặp, trình bày ”nỗi khổ” của mình. Anh TVT cho địa chỉ và bảo, bê máy tới đây.

Khi anh NLA hổn hển ôm máy in vào, anh TVT hỏi thăm ”bệnh” của máy, anh NLA bảo, rõ ràng, hôm trước nó hoạt động bình thường, song chiều qua, nó bỗng chây ỳ ra, đình công, không chịu in. Anh TVT thủng thẳng bảo, ”bệnh” này nặng đấy, anh NLA hỏi, thế hết bao nhiêu, mà có chắc chữa được không. Anh TVT bảo, chữa được, 90% là được, tiền công hết 100 USD (số tiền khá to hồi ấy, nhưng so với giá máy in vẫn ”bèo”, vì máy in giá 2.000 USD). Anh NLA hỏi, chữa hết bao lâu, anh TVT đáp, 1 tiếng. Anh NLA nhất trí và bảo, cho tôi ngồi đợi ở đây, quay về nhà rồi quay lại đây mất thì giờ lắm. Anh TVT đồng ý. Tôi định nhắc với anh TVT đừng cho ”khách hàng” nhìn mình chữa máy thế nào, nó học lỏm mất, nhưng tôi thấy anh TVT mặt lạnh như tiền, chả nói chả rằng, trải tấm vải màu cứt ngựa ra giữa phòng khách và lấy tuốc-nơ-vít quỳ xuống tháo tung cái máy in ra. Tôi hơi hoảng, suốt 7 trời năm học bên Hung, đã thấy ”thằng cha” này sờ đến kìm búa, tuốc-nơ-vít bao giờ đâu. Cẩn thận, lợn lành hóa thành lợn què, thì oan gia, móc ví đền cho người ta là cái chắc.

Anh TVT không sốt sắng, vội vàng, mà cứ đủng đỉnh, làm cho anh NLA (và cả tôi) hơi sốt ruột. Anh NLA nhìn đồng hồ liên tục, bảo, sáng nay phải in 200 tờ rơi để phát cho các cơ quan hữu quan của Nga. Nếu không sửa được máy in thì ”hỏng hết bánh kẹo” của anh.

Việc đầu tiên là anh TVT lấy lọ cồn và gói bông to bằng nắm đấm ra, lau chùi kỹ lưỡng từng bảng mạch máy in nằm lăn lóc trên tấm vải. Anh còn lấy ”panh” gắp nhúm bông, dúng vào lọ cồn, lau nhẹ nhàng, mắt lim dim, y như động tác khi chúng tôi thưởng thức món ”thịt bò nhúng dấm” của anh HQT chủ trì trong bếp.

Lau ướt xong, anh dùng giẻ sạch lau khô, thậm chí, bật quạt máy vù vù để hong gió. Anh lật ngược bảng mạch chính (mother-board) tỉ mẩn chùi chùi các mối hàn, lấy kìm cắt, cắt bớt đi những chân linh kiện nhọn hoắt, đâm trồi ra khỏi mối hàn. Anh cầm ống mực, lắc qua lắc lại như các diễn viên vừa múa vừa hát bài dân ca ”Trống cơm” trên sân khấu.

Hết 45 phút, anh bắt đầu lắp ráp các bảng mạch lại. Tôi thán phục vì những động tác dứt khoát của anh. Phập, phập, phập. Cú nào ra cú đấy. Anh xoa xoa hai bàn tay, mồm huýt sáo theo cái cách của người mới tập huýt sáo vài tiếng đồng hồ, đâm ra, bên cạnh âm thanh ”sáo”, có lẫn cả tiếng làn gió phì ra "xì xì", làm cho những người đứng cách anh 10 mét, thấy gây gây, khó ở.

Anh TVT cắm dây nguồn, đút tờ giấy trắng vào khay đựng giấy, ấn công tắc và chọn chế độ in thử (self-test). Phải nói rất thật, cả anh NLA và tôi đều không tin lắm là chiếc máy in sẽ hoạt động (mặc dù trong lòng tôi rất muốn). Nhưng không, nó đã hoạt động bình thường. Anh NLA rút ví.

Tối hôm ấy, trong bữa ăn, anh TVT đưa cho chị TMT 100 USD và bảo, sáng nay bọn em mới kiếm được chút tiền ”còm” để góp thêm vào tiền đi chợ. Hôm sau, chị TNT, trên đường từ ngân hàng về, đã rẽ qua VĐNK (Vê-đê-en-kha) mua một gói to ”sa-sờ-lức” (thịt cừu nướng) ngon tuyệt.
*
* *
Tôi nhờ ”thầy” TVT hướng dẫn cho tôi ”công nghệ” sửa máy in la-de.

Thì cũng chả có gì đặc biệt đâu, anh TVT bảo, bài đầu tiên là bài lau chùi vệ sinh máy, dùng cồn lau cho sạch bụi (”bụi là kẻ thù số 1 của các bảng mạch điện tử”), sau đó nhớ lau khô, vì nếu để ướt, rất có thể bụi xung quanh lại bám vào. Vì sao không dùng nước lã, lại dùng cồn? Là vì, cồn còn có tác dụng ”tẩy uế”. Gián, chuột, thạch thùng... bò vào bên trong, ”tè” vào máy, nước tiểu của chúng có hóa chất, có thể làm bẩn bảng mạch. Cồn sẽ tẩy rửa những chất bẩn ấy. Anh TVT kể, đợt đi công tác Mông Cổ với anh NQA, anh đã phải lăn lộn với ”con” HP II nhiều rồi, nên bây giờ có nhắm mắt lại, anh cũng tháo lắp được các bảng mạch của nó. Anh bảo, xác suất đến 90% máy hỏng là do bụi bẩn và các bảng mạch bị ”mu-ve” (mauvais – xấu, tiếng Pháp, ngụ ý không tiếp xúc với nhau). Vì thế, chữa máy in có cái quái gì đâu, chỉ là lau chùi và chấn chỉnh lại các bảng mạch mà thôi. Tranh thủ những lúc rảnh rỗi, bên cạnh việc học tiếng Anh qua 4 cái bằng video đem theo từ chi nhánh Hà Nội, tôi còn tập tháo lắp con HP II nữa. Qua khoảng vài chục lần tháo lắp, đã thấy khá tự tin.

Một hôm chủ nhật, anh NLA lại gọi điện, xin bê máy in đến. Anh TVT lại đồng ý ”làm phúc”. Nhưng lần này, anh bảo tôi ”ra tay”, anh sẽ đứng ở hậu trường. Sau khi ngã giá 100 USD như thường lệ, anh NLA phân trần, anh cũng đã tự tay tháo tung ra, cũng đã dùng cồn lau chùi rồi lắp lại cẩn thận, mà sao máy không hoạt động. Anh TVT bảo, hay là hỏng dây nguồn, anh NLA bảo, đã đem dây nguồn của máy in cắm qua máy tính, thì máy tính hoạt động tốt mà. Rồi sau đó, lấy dây nguồn máy tính cắm vào máy in, nhưng nó vẫn không nhúc nhích hộ cho. Anh TVT bảo, hay là lắp nhầm, lắp thiếu cái gì. Anh NLA bảo, trong quyển sách hướng dẫn cách lắp đặt và sửa các lỗi vặt (có vẽ cả hình ảnh kèm theo), người ta chỉ dẫn hết sức cụ thể, vả lại, có ba bốn bảng mạch chứ nhiều nhặn gì đâu, làm sao nhầm được. Anh TVT bảo, hay là các ông bỏ quên ốc vít, dây điện, rác rưởi trong ấy, anh NLA hơi tự ái, bảo, ôi giời, ai lại bất cẩn như thế.

Anh TVT lẩm bẩm, ”ca” này nặng đây. nhưng nghe giọng nói và nhìn gương mặt ông bạn vàng, tôi thừa biết, đầu anh TVT nghĩ khác: không vấn đề gì đâu. Ca thán là để tí nữa lấy tiền công đỡ bị áy náy thôi !

Anh đưa mắt ra hiệu cho tôi cứ làm như mọi lần, vì anh bận đi vào khu vệ sinh một chút. Tôi lấy tấm vải màu cứt ngựa ra, tháo tung máy, lau chùi bằng cồn,... rồi lắp lại. Nhưng số tôi đen đủi, máy không chạy. Tôi hơi chột dạ, vì về lý thuyết, tôi chả biết gì hơn thế. Anh NLA nhìn tôi, ra cái vẻ đắc thắng: thấy chưa, đã bảo không chạy là không chạy.

Lúc này, anh TVT đã chui tọt vào buồng tắm, bật nước ào ào, kỳ cọ phành phạch, làm tôi trong lòng hơi hận anh. Chợt tôi nghe tiếng anh nói vọng ra, nhờ tôi đưa hộ tấm khăn tắm vào cho anh. Khi tôi mở hé cửa buồng tắm, anh vẫy tôi lại gần tấm rèm nhựa làm bằng vải mưa, ngăn cách bồn tắm với bồn đánh răng rửa mặt, và cứ để nước chảy ào áo, anh hỏi: Tình hình sao rồi. Tôi nhăn mặt: Không chạy. Anh ghé tai tôi nói nhỏ một câu: Nhấc tất cả bảng mạch phụ lên nửa phân, nhớ kèm thêm động tác giả.

Tôi quay ra, quỳ xuống bên máy, ấn phập phập phập, ra vẻ dứt khoát lắm, sau đó ngồi xoay lưng lại và hành động đúng như lời dặn của anh TVT. Sau đó, tôi lấy máy hút bụi xì xì ống mực, rồi lắc mực, lắc ba vòng theo chiều kim đồng hồ, sau đó lắc tiếp ba vòng theo chiều ngược với chiều kim đồng hồ. Rồi bắt chước động tác cố hữu của ”ông thầy”, tôi xoa xoa hai bàn tay vào nhau và chun mồm huýt sáo.

Cuối cùng là động tác in thử. Một phát ăn ngay, khiến anh NLA trố mắt mèo. Anh hỏi tôi: Thế rốt cuộc, máy bị bệnh gì hả ông? Tôi đáp: Vừa rồi tôi lắp vào hơi vội, để đến bây giờ, cồn nó mới ngấm. Anh NLA lại rút ví.

Hôm sau, chị TMT lại mua một gói to ”sa-sờ-lức” ở Vê-đê-en-kha về để chi nhánh liên hoan.
*
* *
Tết năm ấy, tôi và chị TMT ở lại trực chi nhánh, các anh TVT, HQT về Hà Nội, anh NHC ăn Tết cùng gia đình cậu em trai.

Mấy hôm trước, trong bữa ăn tối, anh HQT vừa nói vừa cười, nửa đùa nửa thật bảo, ”sếp” NQA vừa gửi fax sang (hồi đấy hay gửi fax, chứ ít khi gọi điện thoại, vì Việt Nam và Liên Xô chênh múi giờ. Vả lại, gửi fax để khi nào quên thì giở ra xem được), phân công là năm nay, anh HQT "về quê ăn Tết", còn anh TVT ở lại trực. Anh TVT giãy nảy lên, bảo, không được, ”sếp” không cho tôi về, tôi cứ về, nếu công ty không mua vé cho tôi, tôi tự túc, ”sếp” thích kỷ luật thì cứ kỷ luật, tôi không sợ. Chị TMT mới dàn hòa, chị bảo, thôi, hai thằng chúng mày cứ về ăn Tết với vợ con và gia đình, tao với thằng này (chị chỉ tôi) ”trông chùa” cũng được, nhưng khi sang, nhớ mang bánh chưng sang chi nhánh đấy nhé. Những năm đấy, đông người ở Liên Xô, máy bay lại ít chuyến nên mua được vé máy bay rất khó. Đấy là nói mua vé máy bay ở văn phòng hãng hàng không A-e-rơ-phờ-lốt (Airoflot). Còn ra mua ”ngoài” thì giá cao hơn, tiền chênh thường khoảng 200 USD; nếu để cận Tết, tiền chênh có thể lên tới 400 USD.

Dịp Tết năm ấy, có một số đoàn Việt Nam sang công tác, trong đoàn có người quen của gia đình bên vợ tôi, nên tôi hay nhận được điện thoại báo đến địa chỉ này địa chỉ kia nhận thư và quà. Mồng hai Tết, chị TMT dẫn tôi lên chúc Tết một số cơ quan như Sứ quán, Thương vụ hay Lãnh sự. Sau đó, tôi nhờ chị cùng đi tới những nơi kia nhận thư và quà vợ tôi gửi, vì chị biết đường. Thực ra, có thể tra bản đồ, song khá mất công, vì còn phải chuyển qua những phương tiện giao thông khác nữa.

Với lại, Tết là Tết Việt Nam, chứ vẫn là ngày làm việc bình thường của Liên Xô, tôi vẫn phải ngóng xem có khách hàng nào điện đến "kêu ca" gì không.

Chính trong dịp Tết năm ấy, tôi mới hiểu thêm về công ty Genpacific.

Việc thành lập chi nhánh Mát-xcơ-va và mở tài khoản tại Ngân hàng trung ương Nga là một bước tiến quan trọng trong vấn đề thanh toán, bởi lẽ, công ty mới tìm ra một phương thức thanh toán ”mới mẻ”, không qua phương thức ”hàng-đổi-hàng”, là phương thức cổ điển, lạc hậu, lằng nhằng, không thuận tiện. Người có công tìm ra phương thức thanh toán này là anh BHH.

Theo nhiều người kể lại thì anh BHH vốn học ở trường Hàng không Ki-ép, nhưng sao đó, nên anh không theo con đường này, mà trở thành Phó Tổng giám đốc Công ty xuất nhập khẩu Intimex của Bộ Nội thương. Ở cơ quan, anh ”không hợp cạ” hay ”có mâu thuẫn gì đó” với sếp trưởng (là một nữ tướng), nên được điều đi học bồi dưỡng chính trị cao cấp ở trường Đảng, tức trường Nguyễn Ái Quốc đóng ở gần Nghĩa Đô. Chương trình học có nhiều môn ”cao siêu”, dễ gây đau đầu, nhưng anh BHH là người biết chắt lọc thông tin, anh chỉ tập trung vào một chủ đề gây ấn tượng đối với anh, đó là khái niệm ”đồng rúp chuyển nhượng”. Những người học hành lớt phớt sẽ nhanh chóng chấp nhận: rúp là rúp, tức là đồng tiền của ông anh cả Liên Xô, đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa. Hết.

Còn anh BHH, anh có những nhận thức sâu sắc hơn: đây tuy không phải ngoại tệ mạnh (thuật ngữ ngân hàng gọi là ngoại tệ chuyển đổi được, có ”uy lực” ở cấp độ toàn thế giới), song nó là đồng tiền mạnh trong phạm vi phe xã hội chủ nghĩa. Cụ thể là, nói đến đồng rúp ở Liên Xô, phải phân biệt 3 khái niệm:

(1) Đứng đầu bảng là đồng rúp vàng, nó thực sự là ngoại tệ mạnh, có thể đổi ngang đồng đô-la Mỹ; người bình thường như chúng ta không ’sờ” đến được. (Như vậy, nếu ai quan niệm là đồng rúp không phải là ngoại tệ chuyển đổi được, phải xem lại mình).

(2) Loại rúp thứ hai là rúp thông thường, tức là rúp mà các công dân Liên Xô có trong túi, và các công ty, cơ quan có trong tài khoản. Đồng rúp này quả thực không phải là ngoại tệ chuyển đổi được. Nếu ai đem nó đi đổi lấy đô-la Mỹ, bảng Anh, phờ-răng Pháp, mác Tây Đức, phờ-răng Thụy Sĩ, đô-la Ca-na-đa, đô-la Úc,... vân vân, sẽ bị chém với giá cắt cổ trên thị trường chợ đen. Đồng rúp này, muốn vượt qua biên giới, sẽ phải chịu sự thẩm định, phán xét, kiểm tra gắt gao và cho phép của nhiều cơ quan hữu quan.

(3) Loại rúp thứ ba là rúp không thông thường, tức là rúp mà các công dân Liên Xô không có trong túi, và chỉ một số các công ty, cơ quan có trong tài khoản. Đồng rúp này cũng không phải là ngoại tệ chuyển đổi được. Và cũng không thể đem nó đổi lấy đô-la Mỹ, bảng Anh, phờ-răng Pháp, mác Tây Đức, phờ-răng Thụy Sĩ, đô-la Ca-na-đa, đô-la Úc,... vân vân. Đồng rúp này có khả năng vượt qua biên giới, đến các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, mà không phải chịu sự thẩm định, phán xét, kiểm tra gắt gao và cho phép của các cơ quan hữu quan.

Khi anh BHH làm ở Intimex, anh chưa ”thủng” vấn đề lắm, chỉ khi anh đi học ở trường Đảng, anh mới ”ngộ” ra.

Liên Xô đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa gồm 13 nước, và thường viện trợ (không hoàn lại và có hoàn lại) cho các nước anh em khác trong phe, yếu kém hơn mình. Những nước này không bị bắt buộc trả nợ Liên Xô ngay, mà trả dần dần, cũng không ấn định rõ ràng đến ngày tháng nào phải trả, mà cực kỳ mềm dẻo, khi nào có đủ điều kiện, sẽ trả (hoàn lại) ít một cho Liên Xô, miễn là cuối cùng trả hết (trừ khi ký được Hiệp ước xóa các món nợ cũ với Liên Xô).

Đấy là đối ngoại. Còn về đối nội, Liên Xô hằng năm ”chọn mặt gửi vàng”, phân bổ cho các cơ quan, đơn vị, bộ, ban, ngành một số kinh phí nằm trong khái niệm ”rúp chuyển nhượng”, cho phép cơ quan đó tiêu tiền bằng cách ký hợp đồng cung cấp hàng hóa, dịch vụ với một đối tác nào đó ở các nước xã hội chủ nghĩa đang nhận viện trợ có hoàn lại của Liên Xô. Đối tác nước ngoài phải mở tài khoản rúp chuyển nhượng tại Ngân hàng trung ương Nga, để Ngân hàng trung ương Nga có thể kiểm tra, giám sát được việc kinh doanh buôn bán giữa hai bên. Sau đó, thấy không có vấn đề gì, Ngân hàng trung ương Nga mới viết cho đối tác nước ngoài một tờ giấy chứng thực là ”ông” đang có trong tay bao nhiêu rúp chuyển nhượng đấy, rồi mời ”ông” về nước ông mà lấy tiền thực của nước ông. Số nợ của nước đó với Liên Xô sẽ được trừ dần, thông qua các tờ ”chứng thực số tiền” mà Ngân hàng trung ương Nga đã phát hành ra.

Với cách làm này, Liên Xô cầm đằng chuôi, là vì đã nhận đủ hàng hóa, dịch vụ, có biên bản giao nhận giữa hai bên, rồi Ngân hàng trung ương Nga mới phải làm động tác trả tiền. Mà làm quái gì có tiền mặt, chỉ là một tờ giấy chứng thực.

Nếu nhà nước đã phân bổ chỉ tiêu rúp chuyển nhượng cho một cơ quan, đơn vị, mà năm đó cơ quan, đơn vị không tiêu hết, thì năm sau nghỉ cho khỏe, nhà nước sẽ không phân bổ chỉ tiêu rúp chuyển nhượng cho cơ quan, đơn vị đó nữa. Đây chính là điểm rất mấu chốt, vì đến cuối năm, các đơn vị phải gồng mình tiêu tiền bằng mọi giá.

”Tiền mà không phải là tiền”, là như vậy.
*
* *
Tôi nhớ, sau lễ Giáng sinh, cuối năm 1990, bống dưng một buổi chiều, chúng tôi nhận được một cú điện thoại: A-lô, có phải công ty Genpacific đấy không? Chúng tôi là Xí nghiệp X ở Ki-ép, Cộng hòa U-cơ-rai-na. Xin Ngài cho chúng tôi biết số tài khoản của các Ngài, để chúng tôi còn chuyển tiền. Tôi tưởng mình nghe nhầm: Xin lỗi, các Ngài chuyển tiền theo hợp đồng nào ạ? Người kia nói: Hợp đồng không quan trọng, quan trọng là chúng tôi muốn biết số tài khoản của các Ngài ở Ngân hàng trung ương Nga, để chúng tôi chuyển tiền gấp, kẻo thời hạn quy định sắp hết; còn về hợp đồng, chúng ta sẽ cùng thảo luận sau. Ra thế, tôi đọc dõng dạc số tài khoản, còn cẩn thận bảo ông ta đọc lại trên điện thoại để kiểm tra lại xem có chính xác không, đồng thời ghi chép lại tên tuổi, chức vụ, số điện thoại cơ quan và nhà riêng của ông ta.

Khoảng một tiếng đồng hồ sau, anh HQT về, tôi báo lại anh HQT thông tin ấy, anh HQT thắc mắc, làm sao mấy ông này biết công ty mình nhỉ. Chị TMT điện ra ngân hàng hỏi, thì thấy tiền đã nổi, đâu như 10 triệu rúp (chuyển nhượng).

Buổi tối, anh HQT điện xuống Ki-ép nói chuyện với ông kia. Anh bảo, chúng tôi mời các Ngài ngày mai lên Mát-xcơ-va để bàn về hợp đồng. Anh cũng hỏi, từ đâu các Ngài biết chúng tôi. Ông kia bảo, qua bạn bè người quen, chúng tôi biết có một công ty Việt Nam buôn bán thiết bị tin học rất đứng đắn là công ty các Ngài. Anh HQT cảm ơn và nói, các Ngài cứ mua vé máy bay hạng nhất khứ hồi mà đi, lên đến Mát-xcơ-va, chúng tôi xin được thanh toán vé cho các Ngài. Đến sân bay, các Ngài nhớ gọi điện thoại cho chúng tôi. Anh HQT cũng hỏi qua, Xí nghiệp có nhu cầu mua những thứ máy móc gì, để chuẩn bị sẵn hợp đồng.

Sáng hôm sau, anh HQT bảo chị TMT gọi điện ra khách sạn ”Russia” là khách sạn sang trọng vào loại nhất nhì ở thủ đô Mát-xcơ-va đặt một phòng ăn VIP cho 10 khách vào lúc 7 giờ tối. Khoảng 5 giờ 30, chị TMT ra trước để xem phòng ốc, chỗ ngồi, các món ăn. Còn anh HQT và tôi chuẩn bị sẵn văn bản hợp đồng, ra sau. Khoảng 6 giờ, điện thoại kêu reng reng. Anh HQT nghe máy và bảo hai ông khách thuê tắc-xi ra thẳng khách sạn ”Russia”, chúng tôi sẽ thanh toán tiền tắc-xi cho các Ngài. Đúng 7 giờ kém 10, chúng tôi com-plê ca-ra-vát chỉnh tề, có mặt tại phòng ăn VIP.

Buổi ký kết hợp đồng diễn ra cực kỳ vui vẻ. Anh HQT hỏi đùa, thế các Ngài không sợ chúng tôi lừa các Ngài à. Đằng nào, các Ngài cũng đã chuyên tiền cho chúng tôi rồi kia mà. Hai ông ấy bảo: Không, chúng tôi có niềm tin riêng của chúng tôi chứ, ngần này tuổi đầu, chúng tôi lầm thế nào được !
*
* *
Sau Tết âm lịch, anh HQT sang trước, anh TVT sang sau. Hôm anh TVT sang, chúng tôi ra sân bay đón, chi nhánh Mát-xcơ-va có thêm thành viên mới là anh MTH, một người thấp đậm, mắt một mí, hay cười, có lúm đồng tiền, học chuyên ngành Vô tuyến điện, Đại học Bách khoa Hà Nội, vốn là học trò xuất sắc của thầy Nguyễn Bình Thành, tốt nghiệp xong, đuợc giữ lại trường làm giáo viên, trường Bách khoa mới cho đi thực tập 1 năm tại Ki-ép, chân ướt chân ráo, về tới Việt Nam thì bị anh TVT ”dụ” vào Genpacific.

Sau này anh TVT kể, vợ anh làm trong phòng thí nghiệm điện tử của Đại học Bách khoa Hà Nội, nên có quen biết ”thầy” Nguyễn Bình Thành, và qua ”thầy”, biết anh MTH là một sinh viên giỏi, đã cắp đồng hồ đo điện theo chân thầy đi chữa ti-vi khắp nơi, tay nghề vào loại ”siêu”, lăn lộn với cuộc sống nhiều rồi. Anh TVT quyết định, hai vợ chồng anh cứ thử ”xông” đến nhà riêng anh MTH ở trong khu tập thể Đại học Bách khoa (bố anh MTH cũng là giáo viên Bách khoa, nhưng đã về hưu) để nói chuyện, thuyết phục, được thì được, không được thì thôi. Câu chuyện này gần với tích ”Lưu Huyền-đức ba lượt tới lều tranh” trong tiểu thuyết lịch sử ”Tam quốc diễn nghĩa”.

Lý do anh MTH sang là vì, hôm chị TMT đi nhận hàng, có 5 chiếc màn hình bị vỡ, kho hàng phải lập biên bản. Anh HQT thông báo cho ”thằng” A-lanh Mông-lô, hắn nói, đóng gói cẩn thận và gửi trả cho hãng, hãng sẽ gửi bù ngay 5 màn hình. Nhưng làm thủ tục gửi trả ở Liên Xô không đơn giản, rất lằng nhằng, nên anh HQT khẩn thiết đề nghị phía Pháp cứ gửi trước 5 màn hình để bù cho khách hàng hẵng, còn 5 chiếc màn hỏng thì dần dần lo xong thủ tục, chi nhánh Mát-xcơ-va sẽ gửi trả. Đến hôm lo được thủ tục xong, định gửi trả, thì nhận được bản fax, nói rằng, thôi, không cần gửi trả nữa, giữ luôn mấy cái màn hình hỏng ấy lại, tháo linh kiện ra để làm linh kiện sửa chữa.

Ý của anh TVT là trước sau, chi nhánh Mát-xcơ-va cũng cần có ”thợ” biết sửa chữa màn hình. Cho nên, anh mới ”ngắm” anh MTH, và thuyết phục rằng, nếu hôm nay ”mày” đồng ý, thì ngày mai ”anh” sẽ mua vé cho ”mày” bay sang Mát-xcơ-va ngay. Anh MTH xiêu lòng.

Sang đến nơi, anh MTH chong đèn đến 3 giờ sáng để sửa, nhưng không được. Bộ tài liệu của hãng Bull Micran không đầy đủ, vì màn hình bị vỡ là loại khác, sơ đồ mạch in khác hẳn. Anh MTH phải mất công ”dựng” lại sơ đồ mạch in, bằng cách đo thông từng cặp điểm một. Nhờ thế, anh đã chữa được 3 cái màn hình bằng cách dồn những linh kiện tốt lại. Vỏ màn hình tuy bị nứt, nhưng có thể dùng làm công cụ sửa chữa máy, hoặc thay thế tạm thời cho khách, trong lúc chờ đổi màn hình mới.

Anh TVT điện về cho anh NQA, nói oang oang: Anh ạ, em đề nghị anh tăng ngay một bậc lương cho ”thằng” này! Anh MTH hơi phổng mũi.
*
* *
Khách quan mà nói, anh MTH rất xông xáo và tích cực. Bên Singapore fax sang, chào hàng một loại máy in mới, nhãn hiệu ”Hyundai” giá rất rẻ, rẻ chỉ bằng hai phần ba máy in Epson, trong khi, các thông số kỹ thuật rất ”chuẩn”. Anh TVT quyết định nhập một lô mấy chục con để ”thử phản ứng” của khách hàng. Anh MTH mày mò mở ra, phát hiện con ROM là loại EP-ROM, là loại bộ nhớ ROM có thể xóa nội dung cũ, ghi nội dung mới được. Anh liền cạy cục mày mò ngồi học hợp ngữ với ”thầy” TVT, sau đó viết một đoạn chương trình, đọc nội dung bên trong. Anh in thử ra giấy, thì trông thấy những ký hiệu rất lạ lùng. Hóa ra, họ chia mỗi ký tự ra thành hai nửa, nửa trên và nửa dưới.

Ạnh bèn lấy bộ thiết bị xóa ROM bằng đèn phát tia cực tím (do anh TVT mới đưa sang) để xóa nội dung bên trong đi (sau khi đã sao chép đầy đủ và lưu lại thành một tệp tin trên máy vi tính), sau đó đưa "chú" ROM "trắng" sang thiết bị nạp ROM, có ghép nối với máy vi tính (cũng do anh TVT mới đưa sang), để thử nạp bộ phông chữ tiếng Nga vào. Kết quả là, tốc độ in tiếng Nga của máy in tăng vọt, nhanh hơn hẳn cách nạp phông cũ của anh TVT. Loại máy in đó không ”nồi đồng cối đá” bằng máy in Epson của Nhật; vỏ máy mỏng hơn, dễ nứt vỡ hơn so với vỏ của Epson; dùng mấy tháng đã ngả sang màu cháo lòng, chứng tỏ nhanh lão hóa hơn; dây cua-roa bên trong, các bánh răng, trục quay... đều có chất lượng yếu hơn.

Chỉ mỗi tội, bán chạy hơn.
*
* *
Anh MTH cũng là người giúp tôi và anh NHC chữa cái đống ổ đĩa cứng không khởi động được để trong cái thùng ở góc nhà. Tôi nhớ một lần trong bữa ăn tối, anh TVT mới bảo anh MTH, đấy, còn một đống ổ đĩa cứng hỏng để trong cái thùng ở góc nhà kia, mày xem lúc nào rỗi thì lôi ra "nghịch" thử xem có chữa được cái nào không. Một sáng thứ bảy, không đi làm, anh và tôi lôi cái thùng ấy ra. Trong tài liệu có nói, ổ đĩa cứng là một thiết bị có sự phối hợp của cơ khí và điện tử. Cơ khí hiểu nôm na là lò xo, ốc vít, bánh răng, mô-tơ, dây cua-roa. Điện tử hiểu nôm na là cái bảng mạch to bằng bàn tay điều khiển sự hoạt động của ổ đĩa cứng.

Anh MTH xem các bảng mạch điều khiển rất kỹ, thậm chí còn dùng kính lúp để xem. Sau đó, anh lấy một ổ đĩa cứng ”tốt”, tức là vẫn hoạt động bình thường, tháo bảng mạch của nó ra, thay bảng mạch của cái ổ đĩa cứng ”hỏng”. Không hoạt động. Anh lại lấy cái bảng mạch của cái ổ đĩa cứng ”hỏng”, thay vào ổ cứng ”tốt”. Hoạt động bình thường. Anh kết luận, phần cơ khí của các ổ đĩa có vấn đề.

Tôi nhớ ra câu chuyện buồn cười trước kia, và kể cho anh MTH nghe về vụ cái ổ cứng bị đánh rơi xuống sàn nhà lát thảm tự dưng hoạt động, anh ”à” một tiếng. Sau đó, anh lấy khăn mặt khô trong nhà tắm gói cái ổ cứng hỏng lại, rồi thả nó rơi xuống sàn nhà vài ba lần. Bỗng nghe tiếng ”cạch” rất nhỏ. Anh mừng hú, tháo khăn ra, lắp ổ cứng vào máy tính. Thật kỳ diệu, ổ cứng đã khởi động được. Được mùa, chúng tôi thực hiện thao tác ”thả rơi ổ cứng” liên tục. Không ”cứu” được nhiều ổ lắm, chỉ được 5-6 ổ, nhưng chúng tôi rất phấn khích. Có ai bấm chuông ngoài cửa, chúng tôi ngó qua ”mắt thần” và thấy một bà người Nga đứng tuổi. Bà nói, chào các chú, tôi ở căn hộ tầng dưới. Các chú thông cảm, nhà tôi có mấy đứa cháu đang còn bé. Các chú làm cái gì ồn quá, cháu tôi không ngủ được. Chúng tôi xin lỗi bà rối rít.

Sau đó, anh MTH thay đổi phương pháp. Anh vẫn dùng khăn mặt ”trói nghiến” ổ cứng lại, nhưng không thả rơi tự do nữa, mà dùng búa đập trực diện vào phần đầu (trán) của nó. Anh phân tích, vùng đấy có cái đầu đọc các rãnh ghi dữ liệu trên mặt đĩa. Tốc độ quay của ổ đĩa là 5.400 vòng trên phút, tức là 1 giây nó quay 90 vòng. Thời gian lưu kho có lẽ đã làm khô dầu bên trong, và các mặt đĩa (một ổ đĩa cứng bao gồm nhiều mặt mỏng dính, xếp thành một chồng, như chồng bánh đa) bị lâm vào ”điểm chết”. Mình cần tác động một lực mạnh và đột ngột để thắng được cái điểm chết đấy.

Sau này, mấy anh em ở B-40 qua trao đổi kinh nghiệm với anh MTH còn nghĩ ra cách triệt để hơn, là thay con điện trở trên bảng mạch, để dòng điện kích ban đầu mạnh hơn, nhờ vậy đã cứu được khối ổ cứng.
*
* *
Một lần, các cán bộ ở Viện nghiên cứu hạt nhân toàn Liên bang gọi điện đến chi nhánh Mát-xcơ-va nhờ giúp đỡ, vì tự nhiên có 3-4 máy lăn đùng ra, không chịu khởi động. Anh TVT dẫn tôi tới đó. Nhờ thế, tôi được diện kiến cô Katia, Viện phó, người quen của "sếp" NQA và anh TVT ở Triển lãm điện tử Mông Cổ năm nào.

Làm việc ở đây rất thích, vì cán bộ trong Viện đều là những người thông minh, tài giỏi, khiêm tốn, cư xử theo phong cách của tri thức. Tiếng là mình giúp họ, song bản thân tôi tự nhận thấy, mình đã thu lượm được nhiều điều từ họ.

Trong 4 máy ”lăn đùng”, tôi dùng phương pháp ”nện búa” đã khắc phục ngay được 2 chiếc, trước sự kinh ngạc của nhà nghiên cứu. Họ nói, họ chưa từng thấy cách chữa máy vi tính nào ”độc đáo” như thế. Tất nhiên, tôi không thể kể cho họ chuyện những máy này bị lưu kho ở sân bay Oóc-ly (thủ đô Paris). Còn 2 ổ cứng kia, tôi đành mang về.

Sau vài hôm thì chúng tôi cũng xử lý được 2 ổ cứng đó. Do phần dữ liệu họ cẩn thận để riêng ra, nên khi tôi nạp lại phần hệ thống cho ổ đĩa, phần dữ liệu không bị mất. Tôi hơi choáng về những dữ liệu này.

Các phần mềm ứng dụng cài đặt trên máy ở đây hầu như là những phiên bản mới nhất. Họ sắp xếp tài liệu, dữ liệu, thông tin một cách khoa học trong các thư mục, có ghi chú rõ ràng mạch lạc. Phần lớn các phần mềm này đều có bản hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Nga (ngoài bản hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Anh, đi theo phần mềm). Bản hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Nga có phần chi tiết hơn, với những ghi chú quý giá, kiểu như ”kinh nghiệm xương máu” của những người đã sử dụng ”bét nhè” phần mềm.

Họ dùng bảng tính Lotus 1-2-3 và một phần mềm soạn thảo tiếng Nga có nhiều phông chữ đẹp mắt, cả phông chữ cho máy in kim (9-kim và 24-kim, lẫn phông chữ cho máy in la-de HP III). Bộ gõ của họ cũng rất tân tiến, có hai cách gõ khác nhau (phần mềm russfx.exe của anh TVT chỉ có một cách gõ). Quý giá nhất là khoảng hơn 100 mẫu tài liệu công văn, theo chuẩn mực do chính phủ Liên Xô quy định.

Mạn phép các nhà khoa học, tôi sao chép những thứ này vào ổ cứng của chi nhánh, sau khi đã xóa đi những dữ liệu riêng tư của họ. Không phải với mục đích dùng riêng. Mà là sau này, chúng tôi dùng để cung cấp cho các khách hàng Liên Xô khác. Ai cũng trầm trồ khen ngợi.



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 01.08.2016, sửa lần 13
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 25.07.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÂU CHUYỆN VỀ NHỮNG HỌC VIÊN QUÂN SỰ TẠI HUNG-GA-RI (tiếp theo 17)

CÔNG TY LIÊN DOANH GENPACIFIC

ĐỊA CHỈ CỦA CHÚNG TÔI - LIÊN BANG XÔ-VIẾT

Sau khi nhận được quyết định thành lập chi nhánh Mát-xcơ-va của Sứ quán, anh HQT lên Thương vụ liên hệ, ”xin” với anh Trần Xuân Giá (Đại diện thương mại) một chỗ ngồi làm việc ở đấy, đồng thời xin thuê lại một buồng xép dưới chân cầu thang để làm trung tâm bảo hành. Hồi ấy, trụ sở Thương vụ đóng ở đại lộ Mắc-xim Goóc-ki, gần nhà ga Ki-ép-xki, là ga tàu hỏa từ thủ đô Mát-xcơ-va đi thủ đô Ki-ép, đi tiếp nữa thì đến ga Trốp, biên giới Hung-ga-ri và Liên Xô. Vị trí của Thương vụ vô cùng đắc địa, gần ga tàu hỏa, gần ga tàu điện ngầm, mặt sau Thương vụ cũng là mặt tiền của một con phố nhỏ, song song với đại lộ Mắc-xim Goóc-ki.

Chúng tôi chuyển rất nhiều máy móc, thiết bị, đồ đạc từ căn hộ ở phố ”Ba-bút-sờ-kin-xkai-a” ra trung tâm bảo hành. Sau lần đó, anh MTH đề nghị với anh HQT và anh TVT mua xe ô tô cho đỡ vất vả. Giá xe hồi ấy không đắt lắm, một chiếc xe Vôn-ga cũ chỉ ngang một chiếc máy vi tính mới. Cả chi nhánh tập lái xe, chị TMT cũng tập. Tôi nhớ, anh TVT ”đốt” mất một chiếc Vôn-ga vì quên... thay dầu.

Hồi ấy, bên Ba Lan có phong trào buôn máy vi tính sang Liên Xô. Họ thuê nhiều cán bộ, sinh viên, thực tập sinh, nghiên cứu sinh người Việt Nam, có hộ chiếu ”đi các nước xã hội chủ nghĩa”, lên tàu, ngủ một đêm, sau đó chuyển tàu quay về Ba Lan ngay, với tiền công... 100 USD. Sở dĩ có chuyện ”lạ đời” này, là vì theo tiêu chuẩn do hải quan Liên Xô quy định, mỗi hành khách đi tàu khi qua biên giới, có 1 ”suất” mang theo 1 máy vi tính không bị đánh thuế. Thực ra, những hành khách may mắn nọ còn không được phép sờ vào máy vi tính ”mang theo người”. Họ chỉ ”mang theo máy vi tính” một cách hình thức để lách luật. Chủ nhân những lô hàng máy tính đó có thể là người Việt, có thể là người Nga. Khi tàu đến ga Ki-ép-xki, máy vi tính chất đống, và họ tiến hành mua bán, bàn giao tay ba, có khi ngay ở sân ga. Tất nhiên, có một số máy vi tính trong quá trình vận chuyển bị xô lệch, dẫn tới một số bộ phận của nó không hoạt động, thậm chí cả chiếc máy không hoạt động.

Tôi nhớ, có một ”ông chủ” người Nga quen thân với anh TVT là một Phó tiến sĩ công tác ở Viện khoa học Tính toán và Điều khiển toàn Liên bang. Ông ta hay gọi điện nhờ ”chuyên gia” giúp cho các vấn đề: sửa chữa, chấn chỉnh những máy bị ”pan” trong quá trình vận chuyển; cài đặt phần mềm gõ tiếng Nga (anh TVT đã khóa phần mềm, để không thể sao chép từ máy này sang máy khác).

Một lần, quân của ”ông chủ” người Nga mang tới trung tâm bảo hành hai chiếc máy vi tính bị hỏng ổ đĩa mềm: khi đút đĩa mềm vào, đèn báo điện nguồn sáng, nhưng ổ im lìm, không đọc đĩa. Anh MTH tháo hai chiếc ổ ra xem xét rất kỹ, rồi lắp lại, nhưng theo kiểu ”râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Kết quả siêu bất ngờ: cả hai ổ cùng chạy. Anh MTH điện thoại cho ”ông chủ”, bảo cử người qua lấy máy và thanh toán. ”Ông chủ” không tin nổi, vì cán bộ kỹ thuật của họ đêm hôm qua đã xoay trần hàng tiếng đồng hồ mà không chữa nổi, còn bây giờ, mất chưa quá... 15 phút.

Một lần khác, anh TVT điện xuống trung tâm bảo hành, bảo là quân của ”ông chủ” người Nga sắp mang tới một chiếc cạc màn hình (EGA video card). Bệnh của nó là chỉ hiển thị các con chữ tiếng Anh và từ chối hiển thị các ký tự tiếng Nga. Anh TVT bảo, bọn này nó nhập một lô hơn 300 máy, anh đang ngồi cài đặt phần mềm russfx.exe cho bọn nó, nhưng tất cả cạc màn hình không sao hiển thị được ký tự tiếng Nga, trong khi, chúng nó cần giao lô máy gấp để lấy tiền, phen này, nếu phải chuyển máy ngược lại Ba Lan thì tốn kém và phức tạp vô cùng, nên nếu chữa chạy được cạc EGA cho tụi nó, thì mình ”hét” bao nhiêu, chúng nó cũng phải chịu.

Anh MTH soi đèn xem xét rất kỹ, giở cả những sơ đồ do hãng Bull Micral cung cấp ra ”ngâm cứu”, chả ăn thua gì. Anh hậm hực bảo, thôi thì đành ”tát ao vớt cá” vậy. Anh và tôi lập một bảng ma trận các điểm nút (mối hàn) trên bảng mạch in của chiếc cạc EGA. Anh cầm một đầu dây, tôi cầm một đầu dây, chúng tôi cần mẫn đo thông từng cặp đầu dây trên 2 chiếc cạc EGA (1 cạc ”tốt” của chúng tôi, và 1 cạc ”xấu” của khách hàng), mãi đến 3 giờ đêm thì phát hiện ra, ở một cặp mối hàn, trên cạc ”tốt” tín hiệu thông, còn trên cạc ”xấu” tín hiệu bị đứt. Anh tuốt một đoạn dây điện hàn thử vào hai chỗ ấy. Lập tức, chiếc cạc ”xấu” đã hiển thị được các ký tự tiếng Nga.

Đang đêm, anh ”dựng” ”ông thầy” TVT dậy, thông báo, đã hoàn tất. Anh TVT rất tỉnh táo, anh bảo, ”mày” thử nghĩ cách làm sao để bọn nó không thể ”học lỏm” mình được. Thế là anh MTH phải hàn thêm chằng chịt gần chục đoạn dây ”động tác giả”, sau đó lấy băng dính màu đen dán lên.

Sáng hôm sau, anh TVT thông báo cho ”ông chủ” biết, đã khắc phục được cái lỗi ”tày trời”. Đội bạn quả nhiên có ý định ”xấu chơi”. ”Ông chủ” bảo, chúng tao có 50 cạc ”lỗi”, muốn nhờ chúng mày khắc phục. Anh TVT bảo, nếu các ông làm một loạt 300 cạc, thì số tiền là ngần này ngần này, còn nếu các ông làm dần dần 50 cạc, thì số tiền là ngần này ngần này, thậm chí, nếu ”thằng cán bộ kỹ thuật của tôi nó bay về Việt Nam nghỉ phép, thì các ông phải đợi 2 tháng nữa nó mới bay sang”. Ông chủ đích thân dẫn một ”thằng quân” tới trung tâm bảo hành thị sát cái cạc ”xấu” đã được trị bệnh. Sau 1 tiếng đàm phán dai dẳng với anh TVT, ”ông chủ” phải chịu các điều kiện của anh, làm một lèo 300 cạc. Ông lắc lắc cái đầu: ”Chịu cái bọn Việt Nam quỷ quái này thật !”.

Tôi nghe anh TVT kể, ”ông chủ” bảo anh TVT, nếu mày hay cái thằng cán bộ kỹ thuật của mày muốn làm bằng Phó tiến sĩ về máy tính, thì cứ bảo tao nhé, tao nhận luôn.

Không phải anh MTH, mà là anh TVT giải thích cho tôi, sở dĩ trên cạc EGA bán cho bọn Nga, ”nhà sản xuất” quên hàn 2 điểm đó với nhau, là vì ở Malaysia hay Singapore rất phổ biến các ”công xưởng gia đình” nằm sâu trong hang cùng ngõ hẻm, ”công nhân” trong các công xưởng này toàn bọn thiếu niên 13-14 tuổi. Bọn này chả có thiết kế thiết kéo gì cả ! Chúng nó toàn sao chép. Khi mua 1 chiếc cạc ”tốt” về, nó vãn chưa yên tâm, mà tìm cách bỏ đi một số mối hàn ”vô hại”, để thử xem có ảnh hưởng gì tới việc hiển thị không. Mục đích là tiết kiệm chi phí, càng bỏ được nhiều mối hàn càng tốt. Có điều, khi test thử cạc màn hình, nó chỉ thử cho hiển thị các con chữ tiếng Anh, chứ test thử việc hiển thị các ký tự tiếng Nga (hay Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha...) làm gì cho mất thời giờ !.

Những con buôn linh kiện máy tính từ siêu thị ở quảng trường Sim Lim Square (Singapore) về châu Âu, khi mua các lô hàng, cũng cắm đầu cắm cổ, ham mua đồ rẻ, test thử không hết nhẽ, nên mới dẫn tới chuyện ”cạc màn hình chỉ hiển thị các con chữ tiếng Anh và từ chối hiển thị các ký tự tiếng Nga”.
*
* *
Thông qua ”ông chủ”, anh TVT còn được tiếp xúc với Bộ Công an của Liên Xô để chào bán phần mềm ”Nhận dạng văn bản tiếng Nga” của nhóm anh Hoàng Kiếm. Đề tài này được Bộ Công an Liên Xô đặt hàng Viện khoa học Tính toán và Điều khiển toàn Liên bang đã mấy năm, song chả thấy kết quả đâu.

Thế là chúng tôi ôm máy quét ảnh HP vào trình diễn cho Bộ Công an xem. Tuy lần đầu nhận dạng phát sinh một số lỗi (nhận dạng sai, hoặc đánh dấu bôi đỏ, chưa hiểu ra đó là chữ gì), nhưng sau khi ”dạy” cho máy tính (tổng cộng hết 20 phút), thì nó phăm phăm nhận dạng, không còn mắc một lỗi nào nữa. Cuối cùng, họ mua với giá 15.000 USD thì phải.

Thực ra, ý tưởng của phần mềm ”Nhận dạng văn bản tiếng Nga” (và tiếng Việt) bắt nguồn từ phần mềm OCR miễn phí ghi trên một chiếc đĩa mềm đi kèm theo các máy quét ảnh (scanner). OCR là viết tắt cụm từ tiếng Anh của Optical Character Recognation, nghĩa là “Nhận dạng ký tự bằng phương pháp quang học”. Phần mềm của nước ngoài cho phép nhận dạng 5-6 ngôn ngữ thông dụng nhất của phương Tây: Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… với độ chính xác khá cao, trên 90%. Tuy nhiên, nó không có chức năng “dạy và học”, nên không thể dùng nó để nhận dạng các ký tự tiếng Nga và tiếng Việt.

Nhóm của anh Hoàng Kiếm đã dấn sâu thêm một bước, so với phần lý thuyết được trình bày "gọn ghẽ" trong nhiều tài liệu, hiện thực hóa chức năng “dạy và học”. Ngay trong quá trình phần mềm đi nhận dạng một con chữ nào đó, nó lấy con số thống kê làm cơ sở để quyết định xem với hình ảnh này, thì nên nhận dạng là chữ cái (ký tự) nào. Theo một nghĩa nào đó, quá trình này là quá trình "tự học", "tự rút kinh nghiệm". Chỉ khi con số thống kê tương đối cân bằng cho vài trường hợp, thì máy tính nghi hoặc, không tự quyết định được là nên ngả theo hướng nào. Lúc đó, nó sẽ bôi đỏ hình ảnh ấy, và trông chờ vào sự trợ giúp (sự dạy dỗ, huấn luyện) của người sử dụng. Và bóng đến chân người sử dụng. Anh ta cần đưa ra quyết định là với hình ảnh này, thì đi với ký tự nào. Máy tính sẽ ghi nhận và từ đấy trở đi, nó sẽ ngả theo chiều hướng ấy.

Còn có những "quy luật" khác trợ giúp, chẳng hạn, quy luật về tần số xuất hiện của một ký tự trong văn bản. Nhiều quốc gia đã xuất bản từ điển tần suất, nêu rõ: chữ "a" xuất hiện với tần suất bao nhiêu, chữ "e" xuất hiện với tần suất bao nhiêu,...v.v.. Như vậy, khi phần mềm nhận dạng thấy một hình ảnh (ký tự) xuất hiện trong 1 trang (hoặc toàn văn bản) tương tự như tần suất đã nêu trong từ điẻn tần suất, thì nó có quyền "nghĩ" là: cái hình ảnh đó phải đi đôi với chữ cái đó.

Năm 1990, hai anh ĐCB và TĐH thuộc nhóm anh Hoàng Kiếm đi họp hay dự hội nghị gì đó ở bên Pháp, do mua vé máy bay của hãng A-e-rô-phờ-lốt (Airoflot) - rẻ hơn vé của Air France - nên có ghé thăm chi nhánh Mát-xcơ-va. Chúng tôi đón hai anh bằng một bữa cơm trưa thịnh soạn.

Qua vụ này, cái ông Phó tiến sĩ ở Viện khoa học Tính toán và Điều khiển toàn Liên bang lại thúc giục anh TVT làm luận văn Phó tiến sĩ, nhưng anh không màng. Ông nói rất thật, không phải ông mong chờ ”học trò” TVT sẽ mua vé máy bay cho ông đi chơi Việt Nam một chuyến, sẽ sắm sửa cho ông ”từ đầu đến chân”, mà chỉ là, một thằng trình độ như mày mà không làm Phó tiến sĩ thì phí quá !

Còn phần mềm Camap thì chúng tôi giới thiệu nhiều lần qua các cuộc triển lãm điện máy, điện tử, tin học, song không "ăn ảnh", chả ai hỏi đến.
*
* *
Do bận việc gia đình, anh NHC xin về công tác ở Việt Nam, và chi nhánh Hà Nội cử anh NSH (VK74) sang thay. Hồi này, lứa máy Bull Micran 45 chuyển theo đường bộ đã hết, nên công ty Genpacific mua một dây chuyền lắp ráp đặt tại Xí nghiệp điện tử Bình Hòa (Tp Hồ Chí Minh). Anh PTG được cử sang Pháp để chuẩn bị cho việc đưa dây chuyền về. Ấn tượng nhất với anh PTG có lẽ là... phòng khám răng. Anh bị đau răng, đi khám các phòng khám ở Sài Gòn không khỏi, bác sĩ hàn thế nào mà vài hôm mối hàn lại bong ra. Khi sang Pháp, anh PTG hàn được chiếc răng ưng ý, anh NMH hỏi hết bao nhiêu tiền, anh PTG bảo, gần 100 USD, nhưng thà như thế lại tốt hơn cái kiểu hàn răng kém chất lượng ở Sài Gòn.

Thời gian đó, các anh HQT và TVT ”xoay phỏm” các khách hàng ở Liên Xô theo hướng mua máy lắp ráp Đông Nam Á. Tôi với anh NSH đã mấy lần đi dựng máy, cài đặt, cấu hình cho khách hàng mua máy 286 và 386. Bọn Singapore chả cấm vận cấm veo gì cả, cứ bỏ tiền mua là nó cung cấp thôi. Chúng tôi có một máy công cụ là máy 386 (viết tắt của 80386) khá mạnh, dùng để format (đặt khuôn dạng), cài đặt hệ điều hành, sao chép phần mềm... nên tốc độ không còn bị rùa bò như khi tôi và anh NHC cùng làm nữa.

Nhân nói về máy 286 và 386, tôi lại nhớ tới câu nói của anh NQA: "Thưa Ngài, tôi chỉ đủ tiền mua máy 386, chứ không đủ tiền mua máy 286". Là vì, mua máy đời cũ không được việc, sau này lại nâng cấp, thì quả là "một tiền gà, ba tiền thóc", thà lúc đầu mua béng máy đắt tiền là hơn.

Tính anh NSH khá lỳ, ít khi đầu hàng. Có lần, chúng tôi ”chữa dịch vụ” một chiếc máy vi tính. Cắm điện vào, máy im re. Anh NSH còn lấy đồng hồ đo điện đo thử chân nguồn của con vi xử lý 80386, làm tôi đứng tim. Đến bữa ăn, anh vẫn say sưa quá, nên bảo mọi người cứ ăn trước, cuối cùng bị quá bữa, bỏ luôn. Sau cùng thì ông Trời cũng không phụ công anh. Anh dùng kính lúp phát hiện ra lỗi: một sợi tóc mảnh mai rơi dọc theo khe cắm (slot), đã làm chập mạch điện.

Nhớ cái lần anh NSH phải đi một mình lên Ác-khăng-ghen xa xôi và băng tuyết ở phương Bắc để ”dựng” máy, đâu như 150 máy. Hôm ấy, tôi cũng phải đi "chiến đấu" một mình ở một ”mặt trận” khác, nên anh HQT khá lo lắng, vì đây là lần đầu tiên anh NSH ”đơn thương độc mã”. Cuối cùng, mọi việc cũng đâu vào đấy.

Một lần khác, anh TVT bảo là, hôm nay gặp bọn ở Ê-rê-van lên, chúng nó yêu cầu bộ gõ tiếng Ác-mê-ni-a. Thế là anh TVT ngồi hì hục sửa phần mềm russfx.exe, còn anh NSH hì hục ngồi nạp bộ chữ Ác-mê-ni-a (cũng là bộ chữ Xla-vơ) vào EP-ROM của máy in Epson.

Tôi nhớ, nhờ anh NVH giới thiệu, chúng tôi bán được bộ mạng cục bộ LAN Ethernet II đầu tiên cho khối SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế), lắp đặt tại trụ sở của nó bên bờ sông Mát-xcơ-va. Hôm lắp đặt, cứ chiểu theo tài liệu mà làm, mọi việc cứ đều tăm tắp, khít khìn khịt ”như cậu với mợ”, sướng lắm. Nhưng đến cái mục in thử qua mạng cục bộ LAN (Local Aera Network) thì ô diêu quá, mất 2 tiếng đồng hồ, vẫn không in được. Về sau, anh TVT ”lệnh” đem cái dây máy in dài 2,5 mét về trung tâm bảo hành để nghiên cứu. Anh NSH tỉ mẩn đo đạc, phát hiện ra chúng nó giao cho mình sai dây. Đại ý, phải giao cái dây ”bắt chéo”, thì nó lại giao cho mình cái dây ”song hành” (cũng có thể là ngược lại). Sau đó, anh NSH đề nghị anh TVT đặt một sợi dây 25 cặp chất lượng cao dài gần chục mét từ Singapore. Anh NSH chỉ sử dụng 4 cặp trong đó và hàn theo đúng sơ đồ ”bắt chéo”. Cắm vào máy in, in được luôn. Cán bộ kỹ thuật của văn phòng khối SEV bắt đầu nhìn nhận các kỹ sư Việt Nam với con mắt khác.

Không biết tôi nhớ có chính xác không, nhưng sau vụ thắng lợi này, chi nhánh tổ chức liên hoan ở nhà hàng Việt Nam, có mời anh NVH tham dự. Hôm ấy có món ốc bươu nhồi thịt rất ngon. Chị TMT dặn đi dặn lại mọi người, khi ăn, nhớ dùng dĩa đâm vào lôi ốc và thịt băm củ sả ra, còn vỏ ốc đặt nhẹ nhàng lên một cái đĩa bên cạnh, không được làm sứt mẻ, vỡ, hoặc làm thất lạc vỏ ốc, vì nhà hàng họ sẽ bắt đền. Thì ra, họ chỉ nhập thịt ốc đông lạnh theo đường hàng không từ Việt Nam sang, còn vỏ ốc sẽ được "tái sử dụng" sau mỗi bữa tiệc.

Khi anh NSH sang, anh có mang theo bộ joy-stick để chơi trò “Bắn xe tăng”. Anh chơi trò này rất miệt mài, và hay ”chửi” anh MTH, vì khi chơi phối hợp hai người, anh MTH hay ngẫu hứng cho xe tăng của mình chạy lông nhông, đâm cả vào xe của đồng đội, khiến hai anh cứ loay hoay tiến lùi, chạy không kịp, bị đội xe tăng của "địch" nó ào đến, bắn "bùm, bùm", tan xác cả hai.

Buồn cười nhât là một hôm, anh hỏi chị TMT: "Này, bà có biết cái quần đùi của tôi ở đâu không?". Chị TMT liếc nhìn tôi và anh MTH. Như đang thanh minh, chị giãy nảy lên, bảo: "Ơ, cái anh này. Em thì làm sao biết được quần đùi của anh để ở đâu?".
*
* *
Do chi nhánh đã có thêm người, nên chị TMT tìm thuê thêm căn hộ làm chỗ ngủ, chứ ăn bữa tối thì chúng tôi vẫn ăn chung.

Chị TMT đã sống ở Liên Xô một thời gian khá dài nên phải công nhận, chị biết cách giải quyết những việc đó rất tốt. Như cái hồi anh HQT và TVT về Tết, sô-cô-la ở Mát-xcơ-va bị lùng sục mua hết, chị TMT bèn thuê một ông lái xe tắc-xi cạnh nhà đưa đi ra tận ngoại ô, mua được bao nhiêu là sô-cô-la Bỉ để cho mọi người trong chi nhánh gửi quà Tết về cho gia đình. Hay có hồi thiếu gối và chăn, lại cũng ông lái xe tắc-xi đó đưa chị đi mua, một phát ăn ngay.

Chị TMT thuê được một phòng trong một căn hộ 3 buồng ở khu chung cư gần đấy, đi vài ba bến xe điện bánh hơi là tới. Tôi và anh TVT đem đồ đạc và một ít quần áo qua đó. Chị chủ nhà dặn, có ai hỏi, các Ngài đừng nói là ”thuê nhà”, mà làm ơn nói hộ chúng tôi là ”ở nhờ vài hôm”, vì nếu họ biết chúng tôi cho thuê 1 buồng ngủ, họ sẽ làm khó dễ, thậm chí thu hồi căn hộ 3 buồng, chỉ cấp cho căn hộ 2 buồng. Chị kể, sở dĩ vợ chồng chị được phân căn hộ 3 buồng, vì anh chồng được phong anh hùng lao động toàn Liên bang, do có thành tích đặc biệt xuất sắc (đạt 180% năng suất) trong công việc đào đất làm hệ thống đường tàu điện ngầm. Cả vùng Mát-xcơ-va chỉ có 3 người là anh hùng.

Anh này trông nhỏ con, nhưng rắn rỏi, chắc nịch, bản tính là người trung thực. Chị vợ thì phốp pháp, to béo, phúc hậu. Thỉnh thoảng, chị nấu bữa sáng mời anh TVT và tôi ăn, chị bảo, các Ngài cứ ăn sáng tự nhiên, tôi không dám tính thêm tiền. Hôm nào chúng tôi nhận lời ăn là chị mừng quýnh cả lên, như bắt được vàng. Có lẽ, do chị TMT đã thanh toán đầy đủ tiền thuê nhà cho chị, và dưới con mắt của chị, chúng tôi thuộc loại tri thức, nhà khoa học, hay nhà kinh doanh ”tài ba” gì đấy, cả ngày vùi đầu vào công việc, đến 9-10 giờ đêm mới về, hôm sau sáng bảnh mắt, 9 giờ đã ra đi. Chúng tôi thừa một chiếc ti-vi đen trắng, nên anh TVT đưa sang phòng chị, cắm điện, bảo chị cứ để đấy cho các cháu nó xem, không cần áy náy. Thỉnh thoảng, chúng tôi cũng xoa đầu mấy đứa trẻ, chuyện trò với chúng.

Anh chồng lầm lì hơn, nhưng khi chúng tôi bắt chuyện, anh thân thiện bắt chuyện lại ngay. Anh bảo, các Ngài thông cảm cho, tôi là Đảng viên, phó bí thư chi bộ, biết là cho thuê nhà là không gương mẫu, nhưng các Ngài thấy đấy, chúng tôi có 3 cháu, lương tôi đã thuộc loại cao so với người khác trong đội lao động, nhưng thời buổi này, chi tiêu còn nhiều khó khăn. Tôi đã dặn vợ tôi rồi, hôm nào Ban quản lý họ thay đổi mã số ở cái hộp ở cửa ra vào, vợ tôi sẽ giả vờ đẩy xe nôi đưa đứa bé ra công viên phía ngoài cho mút sữa, chờ các Ngài đi làm về, đi ngang qua, vợ tôi sẽ nói mã số mới cho các Ngài, các Ngài cứ bấm mã số là vào được.

Một lần, anh TVT rủ tôi đi kiếm tiền vào buổi đêm. Anh nói, có bọn đánh hàng qua đường hàng không, 12 giờ đêm, hàng sẽ về đến sân bay. Bọn nó sẽ tập trung máy vi tính ở một căn phòng mượn của kho hàng, bọn mình có nhiệm vụ cài đặt máy, mỗi máy là... đô-la. Có đi không? Tôi không nhận lời vì mấy hôm vừa rồi, trên ti-vi liên tục đưa tin xảy ra những vụ án mạng giết người cướp của trên quãng đường dài 30 km đồng không mông quạnh đi từ trung tâm ra sân bay (ở Mát-xcơ-va có đến 3 sân bay quốc tế). Tôi lấy cớ đang đau đầu, không đi được, nhưng anh TVT thì quá hiểu tôi, anh biết ngay là tôi... sợ chết. Đến 4 giờ sáng thì anh TVT về, anh bấm chuông, chị chủ nhà ra mở cửa. Cái mũ lông của anh ướt sũng. Anh vào phòng, giơ mấy tờ xanh xanh in hình Tổng thống Mỹ khoe chiến công với tôi, rồi lăn ra ngủ.

Từ đó, anh không bao giờ đả động đến chuyện rủ rê tôi nữa. Thực ra, còn một nguyên nhân nữa khiến tôi không muốn đi, là vì tôi nghĩ, nếu vụ việc bị phát hiện và tới tai anh NQA, thì với vị thế của mình, anh TVT chẳng làm sao, còn tôi, dứt khoát nhận án kỷ luật nặng.
*
* *
Khi tiết trời Mát-xcơ-va sang xuân thì ở nhà, anh NQA gợi ý anh HQT đón vợ con sang. Anh HQT đồng ý, bởi lẽ, một vài tuần sau, bố mẹ đẻ anh từ Cộng hòa Ý bay sang Mát-xcơ-va. Bố anh vừa hết nhiệm kỳ Đại sứ tại đó. Các bác ở chơi một tuần, thăm bạn bè làm việc ở ngành ngoại giao, đi thăm một số danh lam thắng cảnh, rồi về Hà Nội trước, vợ con anh HQT vẫn ở lại. Sau đó, công ty cho phép anh TVT, chị TMT, tôi, anh MTH, anh NSH đưa vợ chồng con cái sang. Con gái chị TMT đang đi học, nên phải hè mới sang được. Anh NSH có chuyện buồn, vợ anh bị tai nạn giao thông, nên đợt đấy, chỉ có vợ con các anh TVT, MTH và vợ tôi sang chơi, ghép vào với vợ con anh HQT lập thành một ”đội”.

Tôi vẫn nhớ, ban ngày, ”các bà” rỗi việc, lo chợ búa, nấu nướng, ôn luyện tiếng Nga (”ôi, chết rồi, đờ-va tiếng Nga là 2 hay 3 ý nhỉ?”). Trẻ con thì xem phim hoạt hình, chơi trò chơi điện tử. Đến thứ bảy, chủ nhật, sau những bữa cơm chung ồn ào và mãn nguyện, lại... ”từng đôi chim bay đi”.
*
* *
Tôi đưa vợ tôi đến Hồng trường (Quảng trường Đỏ), điện Kờ-rem-lin, vào lăng viếng lê-nin, lên đồi Lê-nin thăm trường Đại học Tổng hợp Lô-mô-nô-xốp, đi chơi công viên Văn hóa (tương tự công viên Vui vẻ ở Bu-đa-pét), đi tàu thủy trên sông, thăm công viên có tượng đài Bác Hồ, thăm bảo tàng Tranh tròn Bờ-rô-đin-nô, thăm bảo tàng nghệ thuật, xuống các ga tàu điện ngầm... Vợ tôi viết thư về khoe với bố mẹ và gia đình, cứ như là đã bước chân tới thiên đường của chủ nghĩa xã hội.



Đi chơi Cộng hòa Dân chủ Đức (1990)

Vợ tôi có người anh họ học bên Liên Xô về, anh có người bạn cùng lớp đại học sống ở Mát-xcơ-va cùng bố mẹ. Khi vợ tôi sang, anh gửi thư và quà cho người bạn và nhờ chúng tôi chuyển tới tận tay. Tôi gọi điện cho anh ta, tên là A-li-ô-sa, bảo anh ta buổi tối ghé qua lấy thư và quà. Sau đó, anh ta mời vợ chồng tôi chủ nhật đến nhà anh ta chơi cho biết nhà.

Chủ nhật, chúng tôi tới với 2 cân thịt lợn xay và mấy tập bánh đa nem, dự định làm món nem rán góp vui. Bố mẹ anh rất vui, đón tiếp chúng tôi niềm nở, thân tình. Trong lúc vợ tôi hướng dẫn bà chủ nhà và cô con gái quấn nem, ông bố ngồi nói chuyện với tôi, A-li-ô-sa thì xin lỗi vì đang dở tay với đống ảnh mới chụp trong phòng ảnh. Anh nói, tốt nghiệp đại học rồi, xin việc khó quá, anh kiếm sống bằng nghề chụp ảnh: chụp ảnh hội nghị, đám cưới, kể cả chụp ảnh dạo. Bố A-li-ô-sa là sĩ quan không quân, làm việc ở một nhà máy chế tạo máy bay quân sự, nên trong nhà, đâu đâu cũng thấy hình ảnh và mô hình máy bay. Ông nói, ông chính là người tham gia thiết kế chiếc SU-23. Hiện giờ ông đã về hưu. Tôi cũng nói, tôi từng là quân nhân, công tác tại Viện Kỹ thuật quân sự của Việt Nam. Bữa ăn trưa diễn ra thân mật, không khách sáo.

Khu chung cư đó là nơi ở của các sĩ quan hàng không quân sự, những người kiểu như bố anh A-li-ô-sa. Chúng tôi đến đó năm sáu lần, nên quen mặt một số người. Thật buồn, khi một lần, ở khu phố trung tâm, tôi bắt gặp đôi vợ chồng già đang đứng xếp hàng trước cửa hàng trang sức bằng vàng. Thì ra, do đời sống khó khăn quá, hai vợ chồng quyết định bán đi cặp nhẫn cưới của mình.
*
* *
Sau khi dây chuyền lắp ráp máy vi tính Bull Micral ở Tp. Hồ Chí Minh đi vào hoạt động, bên chi nhánh Mát-xcơ-va bắt đầu chào bán trở lại máy tính Bull Micran, bởi lẽ, máy tính 386 vẫn là đồ ”xịn” đắt tiền, máy tính 286 phổ thông hơn, ít tiền hơn. Trong một hợp đồng, khoảng 20% là máy 386 (dùng máy lắp ráp ở Đông Nam Á) , còn 80% vẫn là 286 (dùng máy Bull Micran). Các máy vi tính Bull Micral 45V (V = Việt Nam) giờ đây đã được kích sẵn lên chế độ hoạt động với xung nhịp 12 Mhz, lại được lắp thêm bộ đồng xử lý (co-processor), nên tốc độ làm việc khá hơn trước. Dung lượng ổ cứng đã tăng lên 40 GB. Các núm bàn phím được tháo ra, in thêm chữ cái tiêng Nga màu đỏ trên đấy, trông thật đẹp mắt.

Thấy anh em đội ngũ kỹ thuật ở B-40 nói, công ty nhập về ”lò Bát quái” để kiểm tra chất lượng máy vi tính: lắp ráp xong, cho máy vào đấy, để ở chế độ vận hành bình thường, nâng nhiệt độ bên trong lên 35 độ C, các máy Đông Nam Á ”ngỏm củ tỏi” hết, chỉ có máy Bull Micran là trụ được 36 tiếng đồng hồ với nhiệt độ lên đến 40 độ C.

Lúc này, ông Mi-sa, bạn học đại học của anh NVH, học tập theo gương anh NQA, cạy cục "xin" được với Chính phủ Nga kinh phí đầu tư nhập khẩu về một dây chuyền lắp ráp của hãng Bull Micral. Anh NQA và anh ĐTV có chuyến công tác ở Pháp để xem qua dây chuyền. Trước khi sang Pháp, các anh ghé qua Mát-xcơ-va đón ông Mi-sa, đồng thời khảo sát mặt bằng, nơi sẽ đặt dây chuyền lắp ráp. Địa điểm ở một nước Cộng hòa "khỉ ho cò gáy", cách xa Mát-xcơ-va, Thấy bảo, dây chuyền của ông Mi-sa chỉ lắp ráp toàn máy 386 thì phải.

Đợt đó, chị TMT có làm một bữa cơm nửa ta nửa Tây tại căn hộ của chi nhánh, mời ông Mi-sa, mấy người bạn, cả anh NVH đến. Ông Mi-sa thân mật bắt tay tôi, hỏi tôi có phải là người đã phiên dịch cho ông ở Vũng Tàu. Lúc ngồi uống nước chè sau bữa ăn, anh NVH thì thào kể với tôi, đợt ông Mi-sa đi Việt Nam về, Genpacific trang bị cho ông và hai ông bạn đầy đủ "từ đầu đến chân": 1 bộ quần áo bò, 1 đôi giầy thể thao Adidas, 1 cái mũ, 1 đôi kính, 1 máy radio-casset, 1 dàn A-kai, 1 ti-vi màu... Khi về đến Liên Xô, ông bán tuốt tuồn tuột, được 29.000 rúp, mua được một căn hộ.
*
* *
Một mắt xích thương mại rất-rất quan trọng của chi nhánh Mát-xcơ-va cũng là một giảng viên ở Học viện Ngoại thương Mát-xcơ-va, tên là Mác-xi-mốp, người Do Thái. Tôi không rõ anh HQT quen anh chàng Mác-xi-mốp như thế nào, nhưng phải công nhận, ”hắn” là người giúp cho chi nhánh kiếm ra vô số hợp đồng, đặc biệt ở địa bàn Bộ Công nghiệp Nặng.

Mỗi lần Mác-xi-mốp đến chơi, bao giờ anh ta cũng lịch sự hôn tay chị TMT, cười cười vui vẻ, nói oang oang pha trò, đưa ra những câu hỏi lững lờ để thăm dò, rồi đến 10 giờ tối mới ”à”, như chợt nhớ ra điều gì đó liên quan đến hợp đồng, và nhấm nháp nước chè tới tận 1 giờ đêm, thì hai bên vào... chung kết. Anh HQT biết rõ những trò này, nên anh phải ngủ từ chiều, để đến đêm còn tỉnh táo, không sa vào bẫy của Mác-xi-mốp.

Những hợp đồng của anh ta đưa đến bao giờ cũng có một mục ”không chính thức” là mua những đồ gia dụng như ti-vi, máy ghi âm, băng cát-xét SONY... để làm quà tặng. Đây là chất xúc tác rất hiệu quả, khiến cho nhiều xí nghiệp ở Bộ Công nghiệp Nặng có nguồn rúp chuyển nhượng dồi dào phó thác cho sự điều khiển và giật dây của Mác-xi-mốp. Anh ta biết cương, biết nhu, vì biết cách đánh giá nguời đang đối diện mình thông qua hành động, cử chỉ, thái độ, giọng nói, nụ cười, ánh mắt, từ ngữ... Anh ta tỉnh táo nên biết rõ lúc nào là lời nói thật, lúc nào là lời nói tâng bốc, lúc nào là lời nói sai sự thật, từ đó, mặc cả dần dần cho tới giá sát nhất có thể.

Tôi đã chứng kiến những cuộc mặc cả ”nhạt nhẽo” như thế không dưới hai chục lần.

Tuy nhiên, tôi thán phục nhất là chiêu ”nâng lên hạ xuống” của Mác-xi-mốp. Một lần, anh ta với vẻ mặt đau khổ, nằn nì anh HQT: À này, hôm qua chúng mình đã thống nhất hợp đồng với khách hàng rồi, nhưng ”tao” có một đề nghị, không biết ”mày” có giúp được "tao" không. Đó là câu thăm dò, thả câu. Anh HQT vẫn hững hờ: Đề nghị gì nhỉ? Mác-xi-mốp bảo: Đây nhé, tổng giá trị hợp đồng vẫn vậy vẫn là ... rúp chuyển nhượng, không thay đổi. Điều thay đổi duy nhất là khách hàng nó muốn ”mày” nâng hộ nó đơn giá máy tính lên và hạ đơn giá máy in xuống. "Tao" trộm nghĩ, đối với ”mày”, đằng nào cũng thế, chả có gì thay đổi cả. Sau 1 tiếng đồng hồ ngồi lỳ, cuối cùng, Mác-xi-mốp đạt được mục tiêu của mình. Hắn không quên cảm ơn anh HQT rối rít: ”Mày” đúng là ân nhân của ”tao”.

Một buổi tối khác, là một hợp đồng khác, nhưng lần này, Mác-xi-mốp lại than vãn: HQT à, ”mày” mà không giúp ”tao” vụ này thì hợp đồng này ”vỡ” mất. Vẫn là câu thăm dò thái độ. Anh HQT vẫn hững hờ: Vỡ cái gì cơ? Mác-xi-mốp thiểu não bảo: Vỡ hợp đồng ! Là vì hôm nay chúng mình ”số ruồi”, gặp phải cái bọn ẩm ương. Nhưng ”tao” nghĩ, vấn đề cũng chẳng phức tạp lắm đâu, đơn giản thôi mà. Gần giống như cái lần trước ”mày” làm ơn cho ”tao” đấy thôi. Mác-xi-mốp ngừng mấy giây, hớp một hụm trà để đánh giá tình hình, rồi mới bộc bạch tiếp: Tổng giá trị hợp đồng vẫn vậy, không bớt một xu, mày xem đây này. Vẫn y hệt như hôm qua "tao" đã trao đổi với "mày", vẫn là ... rúp chuyển nhượng. Chỉ có một chút điều chỉnh, tí tẹo tèo teo, mà ”tao” nghĩ, sự điều chỉnh này nằm trong tầm tay của ”mày”. Lại ngừng mấy giây, lại tợp một hụm trà: Đó là ”mày” hạ một tí đơn giá máy tính xuống và nâng một tí đơn giá máy in lên. Có thế thôi. Đừng làm thêm cái gì nữa ! ”Tao” đội ơn ”mày” nhiều lắm, HQT ơi là HQT ơi ! Sao mà thiên hạ bây giờ lắm cái bọn ”củ chuối” thế, chúng nó chả biết điều, cứ hay bắt tao phải điều chỉnh đi, điều chỉnh lại, khốn nạn cái thân thằng này. Thôi, nốt lần này thôi, ”mày” hứa giúp ”tao”, HQT nhé. Ờ, mà xét cho cùng, ”mày” có mất đ... gì đâu.

Thêm 1 tiếng đồng hồ ngồi lỳ, uống ước trà khan, cuối cùng, Mác-xi-mốp hớn hở cầm bản hợp đồng mới ra về, không quên hứa: Ngày mai, "tao" sẽ ép bọn chúng nó ký trước, rồi đưa "mày" ký sau. Cảm ơn HQT nhé. Bắt tay nào! Không có ”mày” giúp đỡ, chắc là ”tao” muốn đi tự tử mât.

Thực ra, nếu nghĩ lướt qua, chả thấy mình bị thiệt gì cả. Khách hàng vẫn trả ngần ấy tiền. Lại nhận được sự cảm ơn ”chân thành” của ”thầy giáo” Do Thái Mác-xi-mốp.

Khoảng một tuần sau, Mác-xi-mốp đề nghị chi nhánh cho cán bộ kỹ thuật vào một xí nghiệp của Bộ Công nghiệp Nặng ”dựng máy”, thông báo rằng, toàn bộ số máy sẽ được chia thành ba phần, một phần nằm lại Mát-xcơ-va, còn hai phần sẽ được chuyển bằng tàu hỏa đưa đi các tỉnh. Hôm tập kết máy móc tại ga để bàn giao cho 2 tỉnh, Mác-xi-mốp yêu cầu anh HQT cử cán bộ kỹ thuật có mặt, để nếu cán bộ kỹ thuật của tỉnh có thắc mắc, hay câu hỏi gì thì còn có người giải đáp. Anh HQT cử tôi ra ga.

Tại đây, tôi chứng kiến trò ảo thuật của Mác-xi-mốp. Thì ra, anh ta lập một công ty riêng, và ”mua ké” vào hợp đồng của Bộ Công nghiệp Nặng. Sau đó, anh ta bán lại số hàng này cho 2 đầu nậu ở một tỉnh bên ngoài Mát-xcơ-va. Khi một đầu nậu đến nhận hàng, hai bên tranh luận với nhau khá căng thẳng về giá đắt rẻ thế nào ấy. Tôi thấy Mác-xi-mốp rút từ ca-táp đựng tài liệu ra bản hợp đồng Bộ đã ký với Genpacific, nhưng dấm dấm dúi dúi, chỉ cho anh kia xem nửa trang, và nói: Đấy, mày xem, đây là hợp đồng gốc, có chữ ký và đóng dấu nhé. Giá máy tính bọn Genpacific bán cho tao đây này. (các bản hợp đồng có chữ ký nháy của anh HQT ở từng trang). Dạo này giá lên lắm. Rồi anh ta nhét vội hợp đồng vào trong ca-táp, sau đó dấm dấm dúi dúi rút ra nửa trang khác, và nói: Đây, tao lại cho mày xem hợp đồng gốc. Giá máy in bọn Genpacific bán cho Bộ đây này. Tao đã bảo mày rồi, giá máy in dạo này cũng lên lắm. Mày có mua thì mua, không thì để tao gọi thằng khác, nó đang đứng đằng kia kìa, chỉ chờ tao làm việc xong với mày là đến lượt nó. Nhanh lên !

Vì đã có trong tay ”bằng chứng” giá bán của Genpacific cho Bộ, nên công ty của Mác-xi-mốp đã bán lại cho 2 đầu nậu kia cả máy tính lẫn máy in với giá cắt cổ.
*
* *
Do có ”công lao”, đạt đủ doanh số (10 triệu USD ?), Mác-xi-mốp được anh HQT thay mặt công ty mời tổ chức một đoàn sang ”nghiên cứu thị trường” Việt Nam. Đoàn gồm 4 người, do Mác-xi-mốp đạo diễn. Ba người kia của Bộ Công nghiệp Nặng. Đến sát ngày chuẩn bị khởi hành, anh ta hộc tốc "phi" tới chi nhánh, khẩn khoản đề nghị ”thêm một suất”, cho cô thư ký tóc vàng tên là Na-ta-li-a. Anh ta giả vờ dỗi: Thôi, nếu mày cứ dứt khoát chỉ cho 4 suất, thì tao xin thôi, không đi nữa, để nhường cho Na-ta-li-a đi đợt này. Sau đó, anh ta gọi điện cho Na-ta-li-a. À ơi độ 10 phút, anh ta hạ ống nghe xuống, buồn bã bảo: Na-ta-li-a nó tử tế lắm mày ạ, nó không chịu. Nó bảo, nếu nó đi Việt Nam thay vào suất của tao, thì nó không đi. Hay thôi, đợt này chỉ cần 3 người của Bộ đi là được rồi, tao đi đợt khác vậy. Mác-xi-mốp biết rất rõ, đây là “phần thưởng” của công ty Genpacific cho Mác-xi-mốp, không đời nào Genpacific “loại” hắn ra khỏi danh sách đoàn. Anh HQT cũng bảo, đại ý, đoàn đi Việt Nam mà không có mày làm trưởng đoàn thì mất vui, thà không tổ chức đoàn đi cho xong. Anh ta liền săng xái ”bày mưu”: Cho tao hỏi, HQT này, thế công ty Genpacific dự kiến một suất đi như thế bao nhiêu tiền? Cá nhân tao sẵn sàng chịu thiệt. Bọn mày cứ bớt suất của mỗi người đi một chút, là thêm được một suất ngay ấy mà, khó gì.

Cuối cùng, anh HQT điện về xin ý kiến ”sếp” NQA và các ”sếp” trong Ban Giám đốc, mọi người nói, thôi, thằng ấy nó đã quyết liệt như thế, thì chiều nó vậy.

Nhưng rồi, Mác-xi-mốp lại đạo diễn thêm một trò vui. Tôi nghe kể lại, không biết trong đó sự thật chiếm bao nhiêu phần trăm, là hắn đã nói chuyện trước với hải quan sân bay Nga, để họ cố tình giữ lại toàn bộ hành lý của đoàn đi tại sân bay Sê-rê-mi-che-vô 2 (Mát-xcơ-va), nên khi đoàn đến Tân Sơn Nhất thì bị lâm vào hoàn cảnh ”thất lạc hành lý”. Bộ phận đón tiếp của Genpacific nhanh chóng nhận được lệnh đưa cả đoàn thẳng từ sân bay ra cửa hàng quần áo mua cho mỗi người hai bộ. Thăm thú dây chuyền lắp ráp máy vi tính ở Xí nghiệp Bình Hòa, đi chơi Vũng Tàu,... xong, lúc trở về Mát-xcơ-va, hải quan trao lại toàn bộ hành lý cho những hành khách ”kém may mắn”, chả thiếu thứ gì.

Bái phục sát đất. Thật là một con người mưu mẹo!
*
* *
Khi công ty của Mác-xi-mốp đã lớn mạnh, một lần, anh ta mời chúng tôi tới tham quan trụ sở.

Chúng tôi tới một tòa nhà chung cư 12 tầng trên phố Ác-bát rợp bóng lá sồi, bên ngoài có lính canh cửa. Cô thư ký Na-ta-li-a trình thẻ, những anh lính cho chúng tôi bước vào. Bên ngoài thang máy là một tấm bảng ghi rõ các chủ nhân sống ở từng tầng. Tôi vô cùng sửng sốt khi đọc thấy tên ”nguyên Tổng Bí thư Brê-giê-nhép” ở tầng 4 thì phải. Nhận thấy sự ngạc nhiên của chúng tôi, Mác-xi-mốp ôn tồn giải thích: Ở Liên Xô, các lãnh tụ khi về hưu không ở biệt thự riêng, mà ở chung cư cao tầng, để tiện cho công tác bảo vệ. Chúng tôi vào thang máy đi lên tầng 10. Hai anh lính bồng súng, cắm lưỡi lê tuốt trần, không nói không rằng, bước theo vào. Thang máy rất rộng, đủ chỗ cho 20 chục người, xung quanh có ốp gương. Na-ta-li-a lại dùng thẻ để bấm số 10. Đến tầng 10, hai anh lính bước ra, nhường chỗ cho chúng tôi đi ra.

Thì ra, bố của Na-ta-li-a là Đại tướng gì đó, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (tôi không nhớ tên). Mỗi tầng có 9-10 phòng, nên chúng tôi không rõ, gia đình Na-ta-li-a có những ai đang ở nhà. Na-ta-li-a chiếm ba phòng, và cô dành một phòng làm trụ sở công ty do Mác-xi-mốp làm Tổng Giám đốc. Không thấy bất kỳ nhân viên nào, chỉ thấy máy điện thoại, máy fax, máy vi tính bày trên mấy cái bàn.

Chúng tôi ngồi uống trà ở sa-lông, nói mấy câu chuyện vu vơ, rồi ra về.
*
* *
Tôi không nhớ là tôi đi với anh MTH hay anh NSH đến nhà ông Bộ trưởng Bộ Công nghiệp Nặng để lắp cho gia đình ông bà ấy cái ti-vi màu 29 inh, có hai cái loa xờ-te-ri-ô vểnh lên như hai tai con voi. Hộp các-tông đựng ti-vi đã có xe chở đến nhà ông bà từ trước, chúng tôi chỉ mang theo tuốc-nơ-vít, kìm cắt, mỏ hàn... Ông Bộ trưởng người nhỏ nhắn, ăn nói nhỏ nhẹ. Ông bảo, hiện tại, ông bà đang dùng ti-vi trắng đen để ở phòng khách. Chúng tôi dựng chiếc ti-vi màu lên, đặt nó vào một chiếc kệ gỗ trong phòng ngủ. Bà vợ ông nói, ở đây tai vách mạch rừng, hàng xóm họ hay dòm ngó lắm, các cháu đặt ti-vi thế nào, để buổi tối, hai bác xem ti-vi màu trong phòng ngủ, nhưng sẽ tắt tiếng đi, chỉ xem hình ảnh, còn ti-vi đen trắng vẫn bật ở phòng khách, dùng để nghe tiếng.
*
* *
Một lần, Mác-xi-mốp lại hộc tốc gõ cửa căn hộ ở phố “Ba-bút-sơ-kin-xkai-a” buổi tối. Bươc vào nhà, sau màn chào hỏi như thường lệ, hắn bắt đầu màn kêu ca. Mác-xi-mốp bảo anh HQT: Có việc này, trừ mày ra, chả ai giải quyết nổi. Chuyện là, hôm trước, trong hợp đồng đã đầy đủ các thứ rồi, nhưng những món hàng “ngoài hợp đồng” về đến nơi, bọn trên Bộ nó chia nhau hết. Có một tay Thứ trưởng, có vị trí rất quan trọng ở Bộ, nó chưa có gì. Mà tay này, mày biết không, nó mê chơi băng cát-xét kinh khủng. Tao chưa từng thấy ai mê băng cát-xét như tay này. HQT à, bọn mày còn cái băng trắng nào không, “thí” cho nó vài băng, để sau này, khi nào tao cần chữ ký của nó, tao còn mặt mũi lên gặp nó, không có thì ngượng lắm.

Anh HQT đưa mắt nhìn tôi, tôi gật đầu, anh liền nói với Mác-xi-mốp là cứ về đi, để bọn tao lục lại đồ, có thì cho ông ấy, tiếc gì, còn không thì phải đợi bên nhà gửi sang. Sáng hôm sau, anh HQT gọi cho Mác-xi-mốp: Bọn tao tìm thấy rồi. Thế hẹn nhau ở cổng Bộ, rồi mày dắt người của tao vào phòng làm việc của tay Thứ trưởng nhé. Y hẹn, Mác-xi-mốp dẫn anh HQT và tôi vào phòng làm việc của tay Thứ trưởng. Cô thư ký rót mấy cốc trà từ chiếc ấm Xa-mô-va. Ông Thứ trưởng xoa xoa hai bàn tay, bảo, rất mê chơi băng cát-xét, mà bây giờ thứ hàng này khan hiếm quá, bói không ra. Anh HQT bảo tôi lấy ra một hộp nguyên đai nguyên kiện 10 băng SONY, đưa cho ông Thứ trưởng, ông này cảm ơn rối rít.

Khi ra về, tôi hỏi anh HQT sao không đưa cho Mác-xi-mốp để Mác-xi-mốp đưa cho ông Thứ trưởng, anh HQT bảo: Làm sao mình tin được nó 100%.
*
* *
Một lần rỗi rãi, anh MTH khoái chí kể chuyện qua mặt cảnh sát cho tôi nghe, hồi anh đi thực tập năm ngoái, lúc chưa vào Genpacific.

Hồi ấy, mọi người đua nhau buôn ni-ken vè Việt Nam. Anh MTH chung vốn liếng với mấy anh bạn, ”ẵm” được mấy tấn ni-ken, thuê xe tải chở về ”ốp” (ký túc xá) để đóng thùng chuyển về nước theo đường tàu biển.

Xe tải đang vi vu trên phố thì một anh bạn trông thấy bóng cảnh sát chặn trước ngã tư, vội kêu lên: Chết mẹ rồi ! Lúc này, đường hẹp quá, không thể quay đầu. Anh MTH bình tĩnh bảo: Tất cả ngồi im, để tôi xử lý. Khi xe tới gần, cảnh sát giơ gậy điều khiển giao thông vẫy vẫy, ra hiệu dừng lại. Anh MTH bảo lái xe phanh lại. Anh xuống xe, chạy tới chỗ hai anh cảnh sát. Anh rút từ trong túi áo ra 2 ”tờ xanh” (100 USD), miệng liến láu: Chào các đồng chí! Đồng chí Bô-rít Xéc-gây-ê-vích có nhờ tôi đưa hộ cho các đồng chí thứ này. Anh vừa nói vừa dúi vào tay hai đồng chí cảnh sát. Anh bảo tiếp: Bây giờ, hai đồng chí khẩn trương lên xe cùng tôi, giúp chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ mà đồng chí Bô-rít Xéc-gây-ê-vích đã giao cho.

Hai đồng chí cảnh sát tức thì cho anh MTH ngồi cùng xe cảnh sát có còi hú treo phía trên, dẫn đường cho chiếc xe tải bon bon tiến về ”ốp”. Tới nơi, hai anh kia vẫn chưa hết ngỡ ngàng, thì anh MTH bảo: Bây giờ, các đồng chí giúp chúng tôi khuân các bao này lên tầng. Hai anh kia cởi áo đồng phục, chỉ mặc mỗi may-ô, cõng những bao ni-ken nặng chình chịch lên thang máy, tập kết trong kho hàng của các anh đã bố trí sẵn.

Xong việc, anh MTH rút thêm 2 ”tờ xanh” nữa úy lạo: Đây là thành quả lao động của các đồng chí hôm nay. Cảm ơn các đồng chí rất nhiều. Nhân đây, nhờ các đồng chí gửi lời cảm ơn của tôi đến đồng chí Bô-rít Xéc-gây-ê-vích kính mến ! Hôm nào rỗi, anh em mình sẽ gặp nhau ở quán rượu.
*
* *
Tôi gặp ông A-lanh Mông-lô đôi ba lần ở B-40, khi tôi đang theo học lớp đào tạo do ông Đi-đi-ê giảng dạy. Ấn tượng về ông Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc kinh doanh nói chung là tốt, rất tốt. Đó là một người ăn mặc giản dị, cởi mở, thân tình, dễ gần và... tất bật. Không chải chuốt như ông Đi-đi-ê, ông A-lanh quần bò áo sơ mi, gặp lũ lập trình viên chúng tôi là nở nụ cười, gật đầu chào, mặc dù ông là cấp trên. Thấy bảo, ông ở biệt thự trên phố Nguyễn Trọng Tuyển, đi ô tô của công ty, khi nào xe công ty bận thì ông đi... xích lô. Giai thoại về ông là, một lần, khi bước chân xuống xích lô, ông rút tiền ra trả, nhưng người đạp xích lô không nhận, xòe ngón tay ra hiệu phải trả nhiều tiền hơn. Ông tranh cãi, đại ý, tao đã đi hàng chục “cuôc” trên quãng đường này rồi, giá cả đã “rành”, đừng có giở thói du côn ra đây. Còn nếu mày không nhận tiền, thì ngồi lên xích lô, để tao đạp “trả nợ” mày về chỗ ban nãy, coi như ... huề. Mỗi lần vào B-40, ông nhanh nhẹn bước vào căn phòng nhỏ, đọc bằng tiếng Pháp cho cô Mỹ Anh nội dung bức điện báo (fax) mà cô Mỹ Anh sẽ dịch ra tiếng Anh để gửi đi. Có hôm ở B-40 bị mất điện, cô Mỹ Anh lấy xe máy phóng ra nhà bưu điện thành phố gần nhà thờ Đức Bà để gửi fax. Một lần, tôi mạnh dạn bắt chuyện với ông và được biết, tuy ông mang quốc tịch Pháp, nhưng sinh ra ở I-ran, vợ ông người I-ran, đã có 3 đứa con.

Cả anh HQT và TVT khi nói về ông đều tỏ rõ sự khâm phục “chất quái” trong con người ông. Còn nguyên do, đôi khi hai anh gọi ông A-lanh là “thằng”, theo tôi, có lẽ ảnh hưởng từ anh NQA. Ở chi nhánh Mát-xcơ-va, tôi đã nghe anh NQA kể chuyện, đại ý, thời gian đầu, khi anh và anh TVT sang Liên Xô, mặc dù có sự giúp đỡ nhiệt tình của anh NVH (đại diện Tổng cục Điện tử tại khối SEV) và ông bạn Mi-sa của anh NVH, song việc tiếp cận khách hàng Liên Xô rất vất vả. Chả ai tin cái bọn “nghèo kiết xác” như Việt Nam lại đang đi chào bán máy vi tính, một mặt hàng công nghệ cao, cho cường quốc thế giới Liên Xô! Rồi hỏi đến xuất thân, học hành, thì được giới thiệu là học bên Hung-ga-ri, một quốc gia đàn em, về. Trình độ ấy, ở Liên Xô, cũng vào loại tầm thường !

Anh NQA điện cho ông A-lanh, bảo, mày “phi” gấp sang đấy cái ! Ông A-lanh bay sang Mát-xcơ-va và ông diễn thành công vai thương gia Pháp đi chào bán công nghệ cao của phương Tây cho Liên Xô (đang bị Mỹ cấm vận nhé!). Anh NQA bảo, “thằng” này biết đủ thứ tiếng: Pháp, Anh, Nga, nhưng nó giấu biệt với khách hàng là nó biết tiếng Nga, cứ xì xà xì xồ tiếng Pháp, hãn hữu thì đệm thêm tiếng Anh “mổ cò”. Nó bảo, các ông bà Liên Xô có tư tưởng sính ngoại, sính phương Tây, nên cần khai thác triệt để đặc điểm ấy. Với dăm bảy lần ông Tây mắt xanh mũi lõ xuất hiện trong bộ com-plê cra-vát sang trọng bên cạnh hai anh chàng tóc đen mũi tẹt da vàng, khách hàng Liên Xô bắt đầu để mắt tới sản phẩm công nghệ cao của Công ty Liên doanh Việt-Pháp, đó là máy vi tính Bull Micral. Rồi thì đầu xuôi đuôi lọt.

Anh HQT kể, khi đặt bút ký hợp đồng đầu tiên với khách hàng Liên Xô, quân ta áy náy với chuyện giao hàng lắm, vì dân mình vốn thật thà. Ông A-lanh bảo, trong làm ăn kinh doanh, không việc gì phải quá thật thà như thế, miễn là mình không định lừa người ta là được. Ông dặn anh HQT và anh TVT bài hẹn với khách hàng “tuần sau” (next week) sẽ giao hàng, nếu chúng mày nói nhiều thấy nguợng mồm thì chuyển qua “tháng sau” (next month).

Bên cạnh máy vi tính, Genpacific còn bán cả máy in, ổ đĩa cứng, ổ đĩa mềm, thanh RAM, bộ đồng xử lý (co-processor)..., thậm chí máy 386 lắp ráp, cho khách hàng. Chớp thời cơ, ông A-lanh cho thành lập một công ty sân sau bên Singapore do “ông” Benjamin làm Giám đốc, và có trao đổi với anh NQA, nên anh NQA dặn dò hai anh THQT và TVT khi cần lấy hàng thì liên hệ với “ông” Benjamin. Khoảng giữa năm 1990, chi nhánh Mát-xcơ-va đã đạt đủ doanh số ở mức nào đấy, nên công ty Singapore kia mời hai anh HQT và TVT sang Singapore khảo sát thị trường. Anh TVT kể, khi tới sân bay Singapore, anh giật mình khi thấy “ông” Benjamin trẻ hơn mình cỡ... nửa giáp.

Các anh được đưa tới tham quan trụ sở công ty, và há hốc mồm, khi thấy đó là một căn gác xép còn bé hơn căn hộ của chi nhánh Mát-xcơ-va, muốn lên xuống, phải trèo cầu thang gỗ. Công ty có 3 người, thì cả ba đều mang chức danh Giám đốc: 1 Giám đốc điều hành (Benjamin), 1 Giám đốc kỹ thuật (nam), 1 Giám đốc tài chính (nữ). Tất nhiên, họ làm việc với phong cách chuyên nghiệp, trả lời được toàn bộ các câu hỏi mình đưa ra. Họ đưa các anh tới Sim Lim Square (quảng trường Sim Lim), nơi có siêu thị tin học 6 tầng nổi tiếng nhất Singapore với đủ thứ linh kiện, mặt hàng, thượng vàng hạ cám trên trời dưới bể. Những “anh tài” sừng sỏ của làng tin học thế giới như IBM, HP, DELL, Microsoft,... đều thuê gian hàng ở đây, có điều to hay nhỏ mà thôi. Họ cũng đưa các anh tham quan “xưởng lắp ráp máy vi tính của công ty” trong một con ngõ uốn lượn quanh co, nhà cửa lụp xụp đâu như ở khu Tiểu Ấn, cách chỗ tắc xi đỗ chừng gần một cây số. Tại đây, hơn chục thiếu niên độ tuổi 13-14 đang hăng say miệt mài lao động: lắp máy vi tính.

Trong một lần trà dư tửu hậu, anh TVT bảo với tôi, trong vòng một năm, Genpacific đã mua từ “cái công ty của ông A-lanh Mông-lô” vài ba triệu USD tiền hàng, cứ cho lãi trung bình là 5%, thì số tiền họ kiếm được cũng đáng kể đấy chứ. Cho nên, ông A-lanh không bao giờ làm những điều bậy bạ để kiếm tiền kiểu như ông Đi-đi-ê. Còn anh NQA kể, sau một thời gian bán hàng hiệu quả cho Liên Xô, phía Pháp yêu cầu nâng lương của ông A-lanh lên 60.000 USD một năm, anh NQA phản đối, song phía Pháp vẫn khăng khăng bảo vệ ý kiến này. Cuối cùng, phía Việt Nam phải chịu. Nhưng do anh NQA là Tổng Giám đốc, nên lương tất nhiên phải cao hơn, cụ thể là 80.000 USD một năm (mỗi ngày kiếm hơn 2 tờ !).

Trong quân đội râm ran tin đồn: Có một tay thiếu tá đi làm cho Tây, lương cao ngất ngưởng, hơn lương Thủ tướng. Người ta cử cán bộ đi điều tra khắp nơi, mới “tòi” ra cựu thiếu tá NQA. Anh NQA kể, khi nhận lương cao như thế, anh đã nghĩ ngay đến chuyện đóng thuế thu nhập cho nhà nước. Anh lên tận Tổng cục thuế để hỏi, trên đấy nói, Bộ Tài chính chưa có quy định về việc này. Anh liền đề xuất, thôi, hằng tháng các ông cứ tạm thu của tôi bao nhiêu đấy, đến khi nào có chủ trương của nhà nước, Nghị định của Chính phủ, thì ta xét sau. Họ đồng ý liền.
*
* *
Do nằm trong đội hình Thương vụ, nên Genpacific hay được mời tham dự các triển lãm, hội chợ tổ chức ở Liên Xô. Tôi nhớ, có anh Tuấn Anh, là đại diện của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam hay đi theo các đoàn này. Chúng tôi (tôi và vợ tôi) rong ruổi nhiều nơi trên đất nước Liên Xô, từ Khác-cốp, Tôm-xcơ, Nô-vô-xim-biếc đến Vla-đi-vô-xtốc, Xa-kha-lin. Có những nơi như Tôm-xcơ hay Xa-kha-lin, phải mất vài tháng xin thị thực, vì đó là những khu vực đặc biệt.

Khác-cốp là một thành phố yên tĩnh, có nhiều vườn hoa nhỏ nhắn nhưng xinh tươi, đem lại cảm giác dễ chịu, song cũng có lúc làm tâm hồn người ta thấy cô đơn, kiểu như thành phố Huế.

Thành phố Tôm-xcơ thì thanh bình kiểu khác, nhiều cây cối, cỏ cây hoa lá, chim chóc, người đi lại trên phố khá đông đúc, là nơi có các nhà máy tinh luyện nhiên liệu u-ran-ni-um cho các nhà máy điện hạt nhân. Tôi nhớ, sau đợt triển lãm, chúng tôi ghé vào một hiệu chụp ảnh ở trung tâm. Chủ hiệu là một ông già khó tính. Ông bảo tôi, xin nói trước với anh chị là chụp ảnh ở đây đắt lắm đấy. Tôi hỏi ông, bác cho cháu hỏi, chụp ở đây bao nhiêu tiền một kiểu. Ông bảo, chúng tôi không chụp theo tấm, mà chụp theo bộ, một bộ 30 rúp (tức là bằng tiền đi tắc-xi từ sáng đến chiều trong 10 ngày). Tự nhiên tôi cảm thấy tò mò, và cũng đang sẵn tiền trong túi, nên muốn chụp thử xem thế nào. Tôi hỏi ông, thanh toán tiền trước hay thanh tóan tiền sau cho bác. Ông bảo thanh toán trước. Sau khi tôi trả tiền, ông đích thân dẫn chúng tôi vào phòng chụp.

Đó là một căn phòng bài trí theo kiểu quý tộc Nga thời xưa, có những bức tranh phong cảnh, chân dung khổ lớn treo trên tường, thảm Ba-tư trải sặc sỡ dưới sàn, đèn chùm điệu đàng tua tủa lên trời trông như mỏ neo mi-ni, có đi-văng, sô-pha, lò sưởi với những thanh gỗ thông cháy lép bép. Chiếc máy ảnh có ba chân để ở giữa phòng, ống kính trùm một tấm vải. Chúng tôi chấn chỉnh trang phục, chải tóc rồi theo sự hướng dẫn cầu kỳ của ông thợ, lúc chụp đôi, lúc chụp đơn, lúc chụp ngồi, lúc chụp đứng, lúc chụp nằm ngả ngốn. Mỗi lần chụp, ông thợ lại chui đầu vào tấm vải đen trùm kín ống kính, tay giơ giơ lên trời, mồm hô “Chụp đây này !” rồi kéo cái dây đậy ống kính đánh “tách”. Phải công nhận, buổi chụp ảnh hôm ấy thật xứng với đồng tiền bát gạo. Sau này, do chuyển nhà nhiều lần, những tấm ảnh này bị mối xông, thất lạc, chúng tôi tiếc đứt ruột.

Hôm đến thành phố Nô-vô-xim-biếc, chúng tôi mất hơn hai tiếng đồng hồ chờ đợi mới vào được phòng, vì hết phòng. Đến khi vào được phòng, tắm táp, nghỉ ngơi chưa được 15 phút thì có tiếng gõ cửa rất gấp. Tôi mở cửa. Một thanh niên trọc đầu, xăm trổ đầy mình chẳng nói chẳng rằng, đẩy tôi ra một bên, “hiên ngang” tiến vào phòng. Tôi định phản ứng thì thấy ba bốn tên khác đứng ngay ở hành lang, mặt mũi sát khí đằng đằng. Tôi đã chuẩn bị tinh thần sẽ bị cướp bóc, soát ví, nặng hơn là đấm đá, thượng cẳng chân, hạ cẳng tay. Nhưng không phải. Thanh niên vừa vào phòng tiến tới chiếc đi-văng ngó nghiêng. Hắn rút ở bên sườn ra một con dao găm sắc nhọn. Tôi hơi hoảng, nhưng không kêu lên, vì hắn không hề nhằm vào tôi, vì mắt hắn vẫn cứ nhìn cái đi-văng chằm chằm. Bằng một động tác dứt khoát, hắn vung dao và rạch một đường ở mép cái đi-văng. Lúc này, hai tên nữa đã vào trong phòng, cầm theo cái túi du lịch. Chúng moi từ bên trong cái đi-văng ra cơ man là tiền rúp và nhét lấy nhét để vào túi du lịch. Xong việc, chúng thản nhiên đi ra, coi như không có tôi và vợ tôi ở trên cõi đời này. Cô lễ tân bước vào, miệng xin lỗi rối rít. Cô bảo, đây là sự cố ngoài mong muốn, và thông báo với chúng tôi tin vui: bà giám đốc khách sạn đã đồng ý đền bù cho vợ chồng tôi một căn phòng đờ-luých, mà không phải trả thêm tiền.



Thủ đô Ki-ép (1990).

Thành phố Xa-kha-lin là thủ phủ của tỉnh Xa-kha-lin, tức là toàn bộ quần đảo Xa-kha-lin. Bay từ Mát-xcơ-va, chúng tôi phải hạ cánh 4 lần để tiếp nhiên liệu và chuyển máy bay. Khi máy bay hạ cánh xuống sân bay, tất cả được thông báo ngồi yên tại chỗ, để “các lực lượng chức năng thi hành phận sự của mình”. Hóa ra, họ kiểm tra thị thực ngay trên máy bay, đề phòng có sự tráo người. Trên đảo, phải đến một phần ba là những người gốc Triều Tiên, lưu lạc đến đây qua hai lần chiến tranh thế giới. Phong cách nhà cửa, trang phục của họ khác với người Nga. Công ty đón tiếp đoàn xúc tiến thương mại gồm nhiều kỹ sư, thợ kỹ thuật từng công tác tại Liên doanh dầu khí Việt-Xô ở Vũng Tàu. Chỉ những ai có ô tô riêng mới được gia nhập công ty này. Họ hoạt động có vẻ bí ẩn, mang màu sắc ma-phi-a.

Cuối buổi triển lãm, họ mời các trưởng đoàn Việt Nam vào một căn phòng, bảo từng người viết tờ khai đã mang vào Xa-kha-lin những máy móc thiết bị gì. Sau đó, họ hỏi, các ông các bà có biết luật lệ hải quan ở đây không. Mọi người nhìn nhau, không ai biết gì cả. Họ nói, đây là khu vực an ninh đặc biệt, không được phép mang vào máy móc thiết bị chưa qua kiểm tra vào đây. Cho nên, họ được lệnh cấp trên tạm thời tịch thu toàn bộ số máy móc thiết bị (máy tính, máy fax, máy in...) của chúng tôi. Kiện cáo gì, xin mời về Mát-xcơ-va làm việc. Lần ấy, tôi trở về Mát-xcơ-va người không. Một năm sau, anh HQT mới đi Xa-kha-lin cãi nhau chết thôi với tụi này, và cũng chỉ nhận lại một phần máy móc thiết bị đã “bị tịch thu vì hoạt động trái phép”.



Liên hoan kỷ niệm ngày thành lập chi nhánh Mát-xcơ-va. Người đứng là anh NHT, khi đó là Giám đốc chi nhánh Hà Nội thay anh VMS. Người ngồi giữa, đang hút thuốc, là anh PTG, bên cạnh là anh HQT.



Người ở giữa mặc áo màu nâu là anh HQT. Người thứ hai (trái sang) là chị TMT, người thứ ba là anh ĐTV.



Người thứ hai (phải sang) là anh Võ Quốc Công, người thứ tư là anh ĐTV.



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 01.08.2016, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 30.07.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÂU CHUYỆN VỀ NHỮNG HỌC VIÊN QUÂN SỰ TẠI HUNG-GA-RI (tiếp theo 17)

CÔNG TY LIÊN DOANH GENPACIFIC

CÔNG TY 3C- NHỮNG BUỔI BAN ĐẦU

Khoảng tháng 10 năm 1990, công ty 3C được thành lập tại Việt Nam, lấy 3 chữ cái đầu đều là chữ “C” trong tiếng Anh, biểu thị cho 3 lĩnh vực quan trọng bậc nhất của ngành công nghệ tin học là “Computer - Communication – Control” (Máy tính – Truyền thông – Điều khiển).

Nguyên do lớn nhất, theo tôi hiểu, là trong Liên doanh Genpacific có sự không nhất trí về phương án phân chia lợi nhuận. Phía Pháp đòi 70% theo đúng như tỷ lệ góp vốn pháp định trong Hợp đồng liên doanh. Phía Việt Nam cho rằng, do phía Pháp chưa đóng đủ số tiền ban đầu cần phải đóng, nên sẽ chỉ được hưởng phần lãi tương ứng với số tiền mà họ đã đóng ở thời điểm thành lập Công ty liên doanh mà thôi. Thực ra, họ không góp tiền mặt, mà góp bằng lô máy vi tính Bull Micral 45, hình như tổng cộng 50-60 chiếc. Còn phía Liên hiệp Điện tử-Tin học Việt Nam thì góp ngôi nhà mặt tiền 356 B Lê Văn Sỹ và số tiền tương đương với kinh phí đào tạo của Chính phủ Việt Nam đối với đội ngũ kỹ thuật, lập trình viên, với cách tính 20.000-25.000 USD cho một đầu người (tổng cộng, hơn hai chục người).

Theo đó, dường như phía Việt Nam đã đóng đủ lượng tiền góp vốn ban đầu. Vả lại, cũng nên xem xét “công lao (động)” của hai bên trong thời gian vừa qua. Phía Pháp không chịu, dọa đưa vụ việc ra Tòa án kinh tế ở Hồng Công, theo đúng những gì đã ghi trong điều khoản của Hợp đồng liên doanh. Giằng dai mãi, chả đi đến đâu. Trong khi các khách hàng bên Liên Xô vẫn háo hức đòi ký hợp đồng, thì Liên hiệp Điện tử-Tin học Việt Nam đề nghị Liên doanh tạm dừng hoạt động bán hàng để không phát sinh thêm các vấn đề cần giải quyết.

Các anh NQA và BHH (Cố vấn Tổng Giám đốc) đã quyết định thành lập một công ty tư nhân tại Việt Nam để “giải” bài toán này.

Những năm 1986-1988, muốn thành lập công ty tư nhân không hề dễ, mặc dù đã có những đổi mới khá căn bản về mặt nhận thức (giao khoán cho nông dân, cho phép các nhà máy, xí nghiệp quốc doanh được liên kết với nhau làm kinh tế và được bán ra thị trường những sản phẩm “dôi ra” lấy tiền chia cho công nhân, gọi nôm na là làm kế hoạch 3).

Tháng 1-1989, đại hội thành lập Hội Tin học Việt Nam được tổ chức. Như TS. Đinh Xuân Bá thuật lại, trước đó, ông là Chủ nhiệm khoa Tin học (Đại học Bách khoa Hà Nội) và tham gia là thành viên Ban vận động thành lập Hội Tin học Việt Nam. Ông cùng một số anh em muốn lập một công ty hay một tổ chức làm kinh tế cho Hội. Tuy nhiên, dù đã làm việc với Ban Kinh tế đối ngoại của thành phố Hà Nội, gặp Mặt trận Tổ quốc thành phố, rồi gặp Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, cũng không giải quyết được vấn đề. Các cơ quan này không hề gây khó dễ, ngược lại, họ rất thiện chí, chỉ mỗi tội, như người ta nói, chưa có tiền lệ. Rất may là trong bản đề xuất thành lập Hội, Điều lệ Hội có ghi: Hội được thành lập công ty, tổ chức kinh tế để lấy thu bù chi… và Ban Tổ chức Chính phủ đã ký.

Ngày 30-7-1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 268-CT “Về đăng ký và hoạt động của các tổ chức làm kinh tế, do các cơ quan hành chính và các đoàn thể thành lập” cho phép các cơ quan nhà nước, đoàn thể, viện nghiên cứu, trường học, tổ chức xã hội được tổ chức mô hình tổ chức kinh tế (công ty), gọi tắt là các công ty 268. Chớp thời cơ, Hội Tin học Việt Nam thành lập 5 công ty 268 đầu tiên của Hội vào tháng 9-1990, đó là: Công ty Coprosii (từ Ủy ban Khoa học kỹ thuật nhà nước, do anh Mai Anh làm Giám đốc), Công ty Secoin (do GS. Đinh Xuân Bá làm Giám đốc), Công ty Gentece (từ nhóm nhà máy M-2, Ban cơ yếu Trung ương), Công ty Compac (từ nhóm nhà máy bán dẫn quân đội Z-181) và Công ty Appinfo (từ nhóm các giảng viên Bộ môn Toán ở Đại học Kỹ thuật quân sự, do anh Nguyễn Long, tục gọi Long “cò”, vì anh gầy như con cò hương, làm Giám đốc).

Một tháng sau, “núp bóng” Hội Tin học Việt Nam, nhóm các hội viên đến từ Liên hiệp Điện tử -Tin học Việt Nam đã “xin” với Hội cho thành lập Công ty Máy tính – Truyền thông – Điều khiển 3C, và nhanh chóng được Hội chấp thuận. Tổng Giám đốc khi đó là anh BHH. Anh NQA làm Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Sau đó, Công ty 3C tức tốc thành lập chi nhánh Mát-xcơ-va, bổ nhiệm anh HQT làm Giám đốc, chị TMT làm Kế toán trưởng.

Chi nhánh Mát-xcơ-va của Genpacific được lệnh đổi hết những hợp đồng dự kiến (chưa ký chính thức) sang cho Công ty 3C. Nhiều khách hàng thắc mắc, anh HQT giải thích, thì đó chỉ là cái tên thôi mà, còn có việc gì xảy ra, chúng mày cứ nhè đầu tao mà bổ, tao xin chịu trách nhiệm hoàn toàn. Lại nhờ “đồng chí” Mác-xi-mốp bồi thêm vài cú, không ai thắc mắc nữa. Tôi nhớ, khi làm hợp đồng nhập hàng từ bên Singapore, anh TVT hỏi “ông” Benjamin, mác máy là gì, để còn ghi vào hợp đồng với khách hàng. “Ông” Benjamin cười cười bảo, thế các ông thích nó là mác gì, thì nó là mác ấy. Ban đầu, mọi người không hiểu, vì lâu nay đấ quá quen với chuyện nhãn hiệu, thương hiệu của những hãng làm ăn chân chính, kiểu như Bull Micral 45V, không phải thích đổi thì đổi. Về sau, ngộ ra, anh TVT bảo, ờ, hay nhỉ, thế thì “ông” làm cho tôi nhãn hiệu 3C-286 và 3C-386 có được không, “ông” Benjamin “OK” liền.

Anh NSH và tôi là những người đi “dựng máy” cho những hợp đồng đầu tiên của 3C (toàn máy lắp ráp Đông Nam Á 3C-286 và 3C-386, chứ không dùng máy Bull Micral 45V). Tất cả những anh em kỹ thuật đang công tác tại chi nhánh Mát-xcơ-va của Genpacific được hưởng thêm chế độ phụ cấp của Công ty 3C, ngang bằng với phụ cấp của Genpacific.

Nếu nói là Công ty 3C “sau một đêm ngủ dậy, bỗng trở thành triệu phú” thì nhiều người cho là bốc phét. Song sự việc xảy ra cũng gần na ná như thế. Sau khi thành lập, Công ty 3C vay tiền của Công ty Genpacific để thực hiện hợp đồng đã ký với Liên Xô. Khách hàng chuyển tiền rúp chuyển nhượng cho Công ty 3C vào tài khoản mở tại Ngân hàng Trung ương Liên Xô. Ngân hàng cấp cho Công ty một tờ chứng thực ghi nhận Công ty đã có số tiền rúp chuyển nhượng là ngần này ngần này. Đem tờ giấy ấy về Việt Nam, nộp cho Bộ Tài chính, Bộ Tài chính ghi nhận Công ty đã có ngần này ngần này đô-la Mỹ, tính theo tỷ giá quy đổi của nội bộ Hội đồng tương trợ kinh tế (khối SEV) là 0,6 rúp chuyển nhượng bằng 1 đô-la Mỹ. Sau đó, Công ty tiến hành đàm phán, thương lượng với Bộ Tài chính về tỷ giá quy đổi USD ra đồng Việt Nam. Đàm phán xong, Bộ Tài chính ghi nhận, trong tài khoản tiền Việt của Công ty 3C có ngần này ngần này đồng Việt Nam. Công ty 3C chuyển trả tiền vay và tiền lãi cho Công ty Genpacific. Từ đây, Công ty 3C có tiền riêng của mình, không cần đi vay mượn ai nữa.
*
* *
Anh HQT muốn mọi việc rõ ràng rành mạch nên bàn với anh TVT (cả hai anh đều là người của Công ty Genpacific, đồng thời của Công ty 3C) là nên điều cán bộ kỹ thuật của 3C sang Mát-xcơ-va công tác. Chính vì thế mà anh TVT đã thuyết phục được anh HVT, tốt nghiệp khoa Vô tuyến điện, Đại học Bách khoa Hà Nội, cùng cỡ tuổi anh TVT và tôi, vốn là “con nuôi” của ông bố anh TVT. Anh HVT đã “chinh chiến” khắp nơi ở Hà Nội, sửa chữa các loại ti-vi, đầu am-pli, ra-đi-ô cát-xét,... rất giỏi, nhưng chưa biết về máy tính. Anh TVT giao nhiệm vụ cho tôi kèm cặp anh HVT về máy vi tính (tìm hiểu sơ bộ bên trong máy vi tính, một số lệnh của hệ điều hành DOS, phần mềm Norton Commander, cài đặt bộ gõ tiếng Nga cho máy tính...), giao cho anh MTH nhiệm vụ kèm cặp anh HVT về sửa chữa màn hình. Lúc này, các anh đã có sơ đồ vẽ tay màn hình vi tính của anh MTH và sơ đồ hãng Bull Micral gửi qua, tương đối khớp nhau. Do đó, anh HVT nắm vấn đề rất nhanh, không phải mày mò nữa. Rồi thì sửa chữa máy in, ổ đĩa mềm, ổ đĩa cứng.

Khi tôi về nước, anh HVT vẫn còn ở lại công tác một thời gian. Anh kể, một lần, anh nhận một cú điện thoại rao bán một thứ hàng hóa mà mọi người Việt Nam (gọi là “dân Cộng") vẫn hay mua để đóng thùng gửi về nước, với giá quá hời. Anh hơi “tham lam” nên lần đến địa chỉ ấy để mua hàng. Tới nơi, vừa bước vào thang máy thì bị ba bốn thằng Tây nó trấn. Chúng nó cứ bấm cho thang máy chạy lên chạy xuống, không cho ai vào, và “khảo” tiền của anh để trong người. Anh đút một tay vào túi quần, giả như trong túi có súng, bọn nó cũng “rét”, nên cuối cùng anh cũng thoát hiểm, với nhiều vết bầm tím, sưng vù mặt mũi. Coi như của đi thay người.

Những năm đó, tình hình ở Mát-xcơ-va không thể gọi là an toàn. Có nhiều người Việt Nam mất tích một cách bí ẩn, vì đồ đạc cá nhân vẫn còn nguyên ở đơn vị. Đơn vị cử ra một số người có trách nhiệm cùng kiểm kê đồ đạc thì thật lạ, trong va ly vẫn còn đủ thứ, kể cả khá nhiều tiền mặt, nhẫn vàng. Nếu người kia bỏ trốn thì hẳn sẽ mang theo quần áo, tiền bạc, thư từ của người thân chứ. Đằng này... Những vụ đó, đơn vị có báo cảnh sát Nga, song họ chẳng hơi đâu. Vì biết đâu, nội bộ người Việt Nam chúng mày mâu thuẫn với nhau, thậm chí, mâu thuẫn nảy nở từ hồi ở Việt Nam thì sao, điều tra tốn công lắm.

Bộ Công an Việt Nam phải cử một đội công tác sang Mát-xcơ-va để “xử lý” những vụ kiểu ấy. Ngày nào, các anh cũng phải cử gần chục người túc trực tại sân bay Sê-rê-mi-che-vô 2, chắc để “tóm cổ” những đối tượng phạm tội có ý định lên đường về nước. Nếu tôi nhớ không nhầm thì con số mất tích bí ẩn ở Liên Xô lên đến gần 80 người (thông tin này do một anh sĩ quan công an trong đội đến chơi căn hộ ở “Ba-bú-sờ-kin-xkai-a” nói lại).

Ba bốn năm sau này, khi anh TVT mở công ty riêng ở Hà Nội, thuê trụ sở của Bệnh viện quân đội 108, gần số 1 Hàn Thuyên, treo biển to rầm, chuyên bán máy vi tính lắp ráp và linh kiện nhập ở Sim Lim Square về, anh cử anh HVT làm Giám đốc điều hành.
*
* *
Tôi nhớ, hồi đó Công ty 3C có hướng làm cân điện tử, là một đề tài đang nóng ở Việt Nam, chủ yếu dùng để cân các xe than của nhà máy nhiệt điện Ninh Bình. Các anh ở nhà điện sang, đề nghị chi nhánh Mát-xcơ-va tìm hiểu vấn đề này.

Anh MTH có một anh bạn thuộc loại nối khố, “hoạt động cách mạng” lâu năm ở Mát-xcơ-va, tên là anh Th. Lâu rồi nên tôi không nhớ rõ, có phải anh này đã dẫn anh MTH và tôi đến gặp một giáo sư trường MGU (Đại học Tổng hợp Lô-mô-nô-xốp), hay là anh MTH lấy thông tin từ thầy Nguyễn Bình Thành. Hôm giáo sư hẹn gặp là vào buổi tối, khoảng 10 giờ đêm, vì ông đi ngoại tỉnh. Anh MTH trình bày vấn đề, hỏi xem ông có biết ở Nga ai bán công nghệ về cân điện tử không. Ông giáo sư trầm ngâm, chậm rãi bảo, tao có công nghệ cân điện tử dùng trong khoa học về vũ trụ, độ chính xác là cân 1 tấn chỉ sai nửa ki-lô-gam, chúng mày có mua không. Hai chúng tôi lác mắt.

Về sau, Công ty 3C mở ra một bộ phận chế tạo cân điện tử và anh MTH là một trong những “át chủ bài” của bộ phận này.
*
* *
Anh NQA kể:

CHUYỆN TRẢ NỢ CHO LIÊN XÔ

Việc một số người bắt đầu bôi nhọ mình, dùng vài hình ảnh và sự kiện để cố ý đánh lạc hướng dư luận và làm cho những người khác dựa vào đó để "phán" (nói toẹt ra là lên án, hay gây hồ nghi) về mình, là chuyện nhỏ. Nghề của họ vậy, mình không để ý. Nhưng bạn Nguyễn Phan Huy Khôi bảo, đã từng một vài lần gặp mình và cho rằng mình "khoe cái quá khứ lừng lẫy đã từng đủ tiền đề nghị đứng ra trả nợ cho Việt Nam, nhưng Chính phủ Việt Nam từ chối."

Tôi không nhớ đã gặp anh Khôi ở đâu và anh hiểu gì về tôi, mà anh "phán" bạo thế.

Nhân đây, nói chuyện trả nợ Liên Xô để các bạn có thêm thông tin. Mình chả bao giờ "khoe" vụ này cả, vì nó thất bại hoàn toàn.

Các bạn khơi lại, thì "khoe" chơi vậy:

Việt Nam nợ Liên Xô (cho đến trước khi LX tan rã) khoảng mười mấy tỷ rúp chuyển nhượng (RCN = đồng rúp ghi sổ giữa các nước khối SEV, không phải đồng rúp xanh dùng mua đồ ngoài chợ, và tỷ giá chính thức lúc đó là 0,6 RCN = 1 USD). Tính ra, Việt Nam nợ Liên Xô cỡ trên 20 tỷ USD (nếu đổi ra USD). Bọn mình lúc đó có cơ chế đổi USD ra RCN rất ngon ( 1 USD ~ 70 RCN), như thế, chỉ cần khoảng 290 triệu USD là có thể xóa sạch nợ của Việt Nam với Liên Xô.

Liên Xô rất khoái máy tính lúc đó, mình buôn máy tính chính thức (chứ chưa bao giờ buôn lậu) và có quan hệ tốt với Gosplan (Ủy ban Kế hoạch nhà nước LX). Liên Xô sẵn sàng ký mua số máy tính của bọn mình tổng số lên trên 20 tỷ RCN, trả tiền ngay và 6 tháng sau, mình mới phải giao máy tính.

Cốt lõi là: mình ký hợp đồng, Liên Xô trả tiền, mình dùng chính tiền đó trả nợ cho VN và đòi Chính phủ Việt Nam trả mình tiền sau đó (VND hay USD càng tốt), mình mua và lắp máy tính giao cho Liên Xô. Điều kiện Chính phủ VN trả tiền cho mình, chỉ sau khi Liên Xô chính thức xác nhận với Chính phủ VN rằng, VN không còn nợ LX một cô-pếch nào. Việc trả tiền cho mình theo lộ trình 10 năm. Đấy thuần túy là một dự án kinh doanh, chứ mình chả có đồng xu dính túi nào, nói chi đến "đã từng đủ tiền đề nghị đứng ra trả nợ cho Việt Nam".

Chính phủ Việt Nam có từ chối không?

Mình và BHH nhờ anh Trần Xuân Giá (lúc đó bên Hội đồng Bộ trưởng) dẫn vào gặp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười. Chiều rồi, ông ngồi ở gốc cây si đọc sách. Anh Giá bảo ông Mười có Gs Ts đến gặp (khoe thêm: mình chả bao giờ dùng danh hiệu Gs hay Ts cả, nhưng chúng là do nước ngoài cấp, tức là xịn, chứ không phải rởm). Ông Mười cứ nghe thấy Gs.Ts. đến gặp ông, là họ muốn xin cái gì đó, và ông hỏi "Các chú muốn xin gì?" Tôi bảo "Tôi không xin gì cả, mà chỉ muốn đề xuất với ông chuyện trả nợ LX". Nghe một chút, ông còn bảo "Thế các chú muốn lừa ông anh cả ư?"

Tôi bảo, chúng tôi là dân kinh doanh, chả lừa được ai, thuận mua vừa bán, bác ạ. Chúng tôi còn đưa ra hợp đồng chứng minh cho ông rằng, cái máy xúc đặc biệt mà VN mua của LX theo Nghị định thư đang hoạt động ở Quảng Ninh với giá 0,5 triệu RCN, thì chúng tôi có thể mua đúng máy đó với giá 5.000 RCN. Chẳng biết ai lừa ai. Và tất cả các khoản nợ mua máy móc, làm thủy điện sông Đà (không thuộc viện trợ quân sự), vân vân, là món nợ mà chúng tôi muốn trả.

Đến đây, ông thực sự được thuyết phục và ông Mười lệnh cho anh Giá tổ chức một cuộc họp tại Bộ Ngoại thương (trên tầng 2 nhà ở phố Ngô Quyền). Có mặt nhiều thứ trưởng (Tài chính, Ngoại thương, UBKH Nhà nước) và cả chục vụ trưởng vụ phó. Tôi trình bày đề án như nêu ở trên (mấy gạch đầu dòng, chưa đầy 1 trang A4). Ai cũng thấy hay, nhưng rồi chẳng ai quyết cả, nên dự án hoàn toàn thất bại (nghe anh Doanh bảo, lúc ấy ngân sách lấy đâu ra 300 triệu USD trả cho ông. Tôi bảo anh Doanh, nếu họ bảo chưa có tiền, tôi đã có thể dàn xếp tài chính cho hợp với ngân sách quốc gia, nhưng đấy là chuyện "bí mật quốc gia", ai dám nói).

Chuyện chỉ có thế. Lúc đó, tôi chả có xu nào, chỉ có sơ đồ "lấy mỡ nó rán nó mà thôi".

Rồi nhiều năm sau, nghe tin Thủ tướng Phan Văn Khải ký được thỏa thuận giải quyết nợ với Nga (kế vị LX), họ giảm cho khá nhiều, nhưng vẫn phải trả, có lẽ, cỡ 2 tỷ USD, nửa bằng tiền mặt, nửa bằng hàng hóa, và khối đại gia hiện nay nhờ vào đó mà giàu to. Đêm nghe tin đó, tôi không ngủ được, dù chỉ là một phút, vì tức:

- Việt Nam phải trả nhiều tiền hơn.
- Việt Nam phải xin xóa một phần nợ (xin, chắc là nhục hơn trả sạch sành sanh chứ )

(Nhất là 1 ông bạn tôi ở Văn phòng Chính phủ kể về nỗi nhục xin gặp lãnh đạo Nga: nó bảo, trả nợ đi, thì mới bàn đến chuyện gặp).
*
* *
Anh NQA kể:

VỤ TRỐN THUẾ LỚN NHẤT LỊCH SỬ

3C đang ăn nên làm ra, thì "dính" ngay một "phốt" liên quan đến "vụ trốn thuế lớn nhất lịch sử" mà báo chí thời đó rùm beng.

Thời điểm cuối 1990, lúc đó Đông Đức và Tây Đức chuẩn bị sáp nhập chính thức, và cũng là lúc khối SEV bị xóa bỏ. Tổng Công ty May quốc doanh Confectimex nhờ 3C giúp 400 ngàn rúp chuyển nhượng để mua vải sợi của Đức. Tôi thấy ngon, nên bàn với Confectimex là anh ký được cái gì, cứ ký tất, thượng vàng hạ cám, và không phải trả một đồng nào cả, chúng tôi sẽ lo tất.

Vậy là đàm phán xong một hợp đồng 23 triệu rúp, mua gần 6.000 tấn vải sợi về bán. Hồi đó, tư nhân không có quyền nhập khẩu, nên 3C chấp nhận bỏ vốn hoàn toàn, thỏa thuận ăn chia mình 30, Confectimex 70.

Hợp đồng ký rồi, trong tay 3C lúc đó cũng không một đồng rúp lẻ. Nhưng mà vẫn ung dung. Bởi Liên Xô hồi đó vẫn đang "khát" máy tính. Thỏa thuận xong một hợp đồng tiền mua máy tính là có "tiền tươi", còn máy móc, 6 tháng sau mới phải giao. Vậy là "lấy mỡ nó rán nó", dùng tiền bán máy tính đi mua vải sợi. Nguyên một phi vụ này, đã ăn lời 56 tỷ đồng.

Thấy lãi lớn, một Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ kêu, thế thì thiệt cho quốc doanh quá, rồi viện dẫn một văn bản nào đó đòi bảo toàn vốn cho doanh nghiệp nhà nước. Thế là Confectimex tung ra cái đơn xin bảo toàn vốn, có chứng nhận đầy đủ của Bộ Công nghiệp, Tổng cục Thuế và Cục Thuế Hà Nội, đòi tăng chi phí thêm 21,5 tỷ nhằm giảm lợi nhuận, chia cho 3C ít đi. Phía 3C phản đối kịch liệt, nên bị quy là trốn thuế.

Vụ này có hai anh cảnh sát kinh tế Hà Nội tham gia “phát hiện” nên được phong vượt cấp lên đại úy. Lại còn được Bộ trưởng Công an và Bí thư Thành ủy Hà Nội gửi thư khen đăng báo đã phát huy lòng dũng cảm dùng các biện pháp nghiệp vụ tinh thông để phát hiện vụ trốn lậu thuế tinh vi, được Bộ Tài chính thưởng 250 triệu đồng. Các báo cũng giăng title lớn là “vụ trốn lậu thuế lớn nhất lịch sử Việt Nam”.

Đúng lúc đó thì họp Quốc hội. Phải nói là tôi rất biết ơn ông Nguyễn Kỳ Cẩm, Chánh Thanh tra Chính phủ, vì đã đọc báo cáo kết quả Thanh tra trước Quốc hội, rằng là đang có vụ trốn thuế lớn nhất lịch sử tại Công ty 3C, đang điều tra, sắp khởi tố hình sự. Tôi lúc đó đang ở Sài Gòn, nghĩ "thế là xong". Nhưng rồi, cũng vớ ngay lấy cái báo cáo này, để gửi đơn khiếu kiện. Rải như bươm bướm từ Văn phòng Chủ tịch nước đến Văn phòng Chính phủ.

Dư luận lại ầm ĩ "3C sắp sập đến nơi rồi !".

Mấy tháng sau, Thủ tướng mới kết luận là không có vụ trốn lậu thuế nào cả, đồng thời chỉ đạo “không được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng”.

Vậy mà có nhà báo, được tôi cho xem kết luận của Thủ tướng rồi, vẫn còn nhảy vào viết bài, ra ý bênh vực cho 3C. Cũng từ đó mà quan hệ giữa 3C với bên thuế thành ra căng thẳng.

Sự cố xảy ra từ năm 1992, nhưng kéo dài mãi đến gần hai năm mới xử lý xong. Nhiều người ở 3C đã tứ tán đi nới khác và tuy 3C được minh oan cho kiểu làm ăn chưa từng có tiền lệ, nhưng không ít hệ lụy đã kéo đến sau đó. Vì 3C hồi ấy, đã "mếch" lòng bên thuế, nên còn ai dám làm ăn với 3C nữa. Nhiều hợp đồng lớn đã "lỡ" từ đó. Tôi khi đó, thực sự cảm thấy chán hẳn với cơ duyên buôn máy tính.

3C xem như bị khai tử.
*
* *
Lời kể của anh NQA:

PHI VỤ TRẢ TIỀN MUA MÁY BAY CHO HÀNG KHÔNG VIỆT NAM

Lại nói về hợp đồng 23 triệu rúp, mua gần 6.000 tấn vải sợi từ Cộng hòa Dân chủ Đức. Hồi đó, tư nhân không có quyền nhập khẩu, nên 3C chấp nhận bỏ vốn hoàn toàn, thỏa thuận ăn chia mình 30, Confectimex 70. Có người hỏi, như thế có liều lĩnh quá không. Giai đoạn đầu, như thế là không liều.

Chỉ đến lúc thanh toán, quy định phải có những hóa đơn, chứng từ xác nhận, trên cơ sở đó, phía Việt Nam mới trả tiền cho công ty của Đức. Nhưng giả sử, lúc đó hai nước Đức thống nhất, đồng rúp chuyển thành đồng mác, hay một loại tiền nào đó, thì Công ty 3C sẽ "chết", chuyển ngay từ phía thắng to sang lụn bại. Bởi vì, bản thân 3C cũng đang là những “thằng nợ”. Lúc đó, phía đối tác cũng cứ “rập rà rập rờn” không gửi bộ chứng từ. Chúng tôi như ngồi trên hoả lò, với hàng chục câu hỏi: Nếu chỉ còn mấy ngày nữa mà cả hệ thống “sập”, thì có thanh toán hay không? Thanh toán, mà nhỡ bên kia không nhận được thì ra sao?... Và liều, cứ thế mà thanh toán. Thanh toán thẳng sang Moscow bằng đồng rúp.

Lúc ấy, cũng có nhiều người khác có quyền nhập khẩu như Confectimex. Tôi gặp ông Trần Xuân Nguyên (Tổng Giám đốc Công ty Hàng hải bây giờ) đề nghị: “Ông sang Ba Lan, Đức… thấy có tàu bè, ông cứ mua, tôi thanh toán cho”. Chúng tôi chỉ là những người móc hầu bao đứng ra thanh toán, nếu họ làm, và ăn phần trăm. Khi đi mua các loại tàu thủy, họ không chịu làm, vì nghĩ rằng không có lợi nhuận. Đến khi "ngộ ra", thì cơ hội tuột mất rồi.

Chỉ có hãng Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) là nắm được cái “thóp” đấy. Họ nhảy sang mua được 5 chiếc TU-154 của Đức và thực sự, trong khoảng 6, 7 năm mà không có phi đội ấy, thì cả ngành Hàng không Việt Nam khó lòng vượt qua được. Chúng tôi không phải là người đi nhặt máy bay, hay buôn máy bay, như người ta đồn đại, mà chúng tôi chỉ thanh toán tiền rúp chuyển nhượng với Cộng hòa Dân chủ Đức và lấy lại tiền Việt Nam cho mình: 129 ngàn USD cho 1 chiếc máy bay. Tiền đó do 3C cho vay. Một số giao dịch đó không lời nhiều lắm, nhưng cũng không phải nhỏ.
*
* *
Anh NQA tự sự:

Năm 1987, sau khi làm luận án tiến sĩ khoa học, về nước, tôi được phân vào làm ở Tổng cục Điện tử Việt Nam. Ở đó còn một ông tiến sĩ khoa học nữa, nội bộ cơ quan cũng có những bất ổn, bên nào cũng muốn kéo thêm người để "uýnh nhau", thế là tôi lảng. Đúng lúc đó, có một anh bạn đang làm ở Sài Gòn rủ tôi vào làm một dự án về phần mềm tin học. Công việc đó nay gọi là thuê ngoài (outsourcing).

Thời năm 1989, thuật ngữ outsourcing chưa ra đời. Công việc cụ thể là hợp tác với một công ty ở bên Pháp để làm phần mềm thuê ngoài, do vậy có thể nói, đó là công ty làm outsourcing đầu tiên ở Việt Nam, công ty có tên là Genpacific. Outsourcing tức là mình có người phát triển phần mềm, làm ra phần mềm ấy, hay gia công phần mềm của người khác, để cung cấp cho khách hàng của người thuê gia công, họ có khách hàng của họ (trong trường hợp này là khách hàng Pháp) - thực sự cũng chỉ là làm thuê thôi. Tôi thấy dự án cũng hay, vì phù hợp với những kiến thức mình đã được học, và quyết định bỏ Hà Nội vào Sài Gòn.

Hơn nữa, đây là một ý tưởng rất hay, đi trước thời đại (gọi là thế cũng được), vì ý tưởng làm outsourcing chỉ thực sự nở rộ sau năm 2000, khi có sự cố máy tính Y2K toàn cầu thì nhiều công ty Mỹ thuê các công ty Ấn Độ viết phần mềm khắc phục. Chúng tôi có khoảng 25 người lập trình rất giỏi, đại bộ phận là người trước kia làm ở Viện Kỹ thuật quân sự. Chúng tôi cũng "thuê" một người làm phần mềm của Banque Nationale de Paris về Việt Nam để tập huấn về những yêu cầu của khách hàng bên Pháp ra sao... Có thể nói, 25 người này đều là những người rất giỏi và hiện đều là những người thành đạt. Thời gian đó, họ đã viết được những phần mềm phục vụ được những nhu cầu của khách hàng Pháp và châu Âu. Nhưng rất đáng tiếc, dự án đó thất bại hoàn toàn.

Có thể, nguyên nhân đầu tiên là chúng tôi hơi hão huyền, vì không lường trước được những khó khăn mà mình sẽ gặp phải: Làm thế nào để cung cấp dịch vụ đó cho bên Pháp, bằng cách nào, bằng phương tiện gì? Làm sao đưa được phần mềm và người sang để cài đặt? Hồi đó chưa có Internet, điện thoại quốc tế thì vẫn còn lạc hậu. Để gọi một cú điện thoại sang Paris, chúng tôi phải nhờ cô nhân viên bưu điện nối điện thoại, đợi có khi cả tiếng đồng hồ, thì mới nói được nhưng với một chất lượng rất kém và giá "cắt cổ". Cũng có thể gửi người đi, nhưng vô cùng tốn kém. Cũng có thể có cách khác là nhồi chương trình phần mềm vào băng từ, rồi nhờ hàng không chuyển. Nhưng cũng không thể làm theo cách này được, vì lúc đó mỗi tháng chỉ có 2 chuyến Air France...

Giá như chúng tôi phát hiện ra những khó khăn ấy sớm, thì đã không làm cái việc ấy, và chuyển sang làm việc khác từ lâu rồi.

Khi dự án phần mềm bị thất bại, thì chúng tôi chuyển sang hướng làm phần cứng: Sản xuất máy vi tính. Chúng tôi làm một dây chuyền lắp ráp máy vi tính với đầy đủ quy trình, thiết bị nhập từ Pháp về tại nhà máy điện tử Bình Hòa, với công suất 4.000 máy tính/năm. Tất nhiên, lúc đó vẫn còn đang cấm vận, nên máy của chúng tôi làm ra được bán với giá rất đắt (khoảng 5.000-6.000 USD/chiếc) với cấu hình mà nói ra bây giờ thì "nực cười", bộ nhớ ổ đĩa là 8 MB, RAM giỏi lắm là khoảng 256 KB, tốc độ 8 MHz. Bây giờ, một máy tính vớ vẩn thì các chỉ số ấy cũng phải cao gấp ngàn lần.

Genpacific là công ty liên doanh, vốn chủ yếu là từ Pháp và cũng chỉ là dưới dạng vật tư, thiết bị, chứ có đồng tiền mặt nào đâu. Việt Nam có một văn phòng ở 358B Lê Văn Sỹ góp vào làm vốn. Anh em đầu tiên tham gia vào Genpacific rất đói, chúng tôi phải đi lắp ráp thuê đồng hồ điện tử, trong đó có cả Gimiko. Nhưng khi có dây chuyền lắp ráp máy tính nói trên, chúng tôi sản xuất cũng kha khá. Việc bán được hàng lại cũng bắt đầu từ chỗ "không may" của chúng tôi: Có một triển lãm điện tử ở Mông Cổ mà Chính phủ Việt Nam hứa sẽ tham dự, nhưng chắc nghĩ là chẳng có mối lợi gì từ một nước còn lạc hậu như thế, nên chẳng đơn vị nào muốn đi, và thế là họ cử chúng tôi đi. Từ đó, chúng tôi đã sang Liên Xô tìm cách bán hàng. Thời đó, bức tường Berlin chưa sụp đổ, nên việc bán máy tính sang Liên Xô rất "trúng".

Thực ra, mới đầu chúng tôi cũng chỉ là lấy công làm lãi trong một hợp đồng tay ba. Hợp đồng đầu tiên tôi ký với khách hàng Liên Xô trị giá 2,7 triệu USD, nhưng theo hình thức: mình giao máy cho Liên Xô, Liên Xô giao phân bón cho Pháp, Pháp lại giao linh kiện cho mình làm... Đại khái là tay ba như thế. Nhưng cuối cùng, do đang đổi mới, Liên Xô không thể giao phân bón cho Pháp được. Nhưng hợp đồng thì đã ký, nên cuối cùng, phía họ phải tìm cách bù bằng một hợp đồng khác: Không phải hàng đổi hàng nữa mà là trả tiền mặt, mở LC đàng hoàng. Thế là từ một anh làm gia công, chúng tôi trở thành một người chủ bán hàng thực sự. Giá trị hợp đồng lúc đó không còn là 2,7 triệu USD nữa, mà chỉ còn gần 2 triệu USD, nhưng được trả bằng tiền mặt.

Lúc đó, Liên Xô đang rất cần máy vi tính. Họ hỏi, có lấy tiền rúp chuyển nhượng không? Chúng tôi chẳng biết đồng tiền ấy là gì, vì không sờ mó được. Hóa ra, họ bán máy móc cho các công trường của Việt Nam ở Quảng Ninh, sông Đà, cầu Thăng Long... và Việt Nam trả lại bằng quần áo, giày dép, nông sản... gì gì đó, tất cả đều tính bằng đồng rúp chuyển nhượng ấy. Bây giờ, họ muốn lấy bằng máy vi tính thì tuyệt quá rồi còn gì. Chúng tôi dùng đồng tiền rúp chuyển nhượng thu được từ việc bán máy tính, nhượng lại cho các ngân hàng, để đổi lấy tiền mặt.

Năm 1993, tôi thôi ở Genpacific, mà nói thẳng ra là bị "đuổi", vì đã phạm một lỗi rất ấu trĩ. Hồi đó, Genpacific có rất nhiều tiền, nhưng về mặt nguyên tắc, không được dùng tiền đó để kinh doanh các lĩnh vực khác. Nhưng tôi đã ký hợp tác kinh doanh với một nhóm "đại gia", tự gọi nhau là G5, đang làm ăn với Liên Xô, cần vốn. Thực chất là cho vay tiền. Nhưng đến kỳ hạn, họ không thanh toán được, thế là tôi đối mặt với khả năng bị Hội đồng quản trị "sờ" gáy. Sau khi được các đệ tử (cũng ở Liên Xô) chuyển tiền cho tôi hoàn trả công ty, tôi thoát khỏi việc bị "sờ gáy" và rời Genpacific ra Hà Nội điều hành Công ty 3C.

Lúc đó, cụ Hoàng Minh Thắng là Chủ tịch Hội đồng Trung ương các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, cụ cũng khởi xướng lập ra một ngân hàng, gọi là Ngân hàng thương mại cổ phần Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, viết tắt là VP Bank. Công ty 3C và một số cá nhân thuộc Công ty 3C tham gia đóng cổ phần vào ngân hàng ấy như một sự tình cờ ngẫu nhiên.

Chúng tôi chẳng có kiến thức gì cả. Tất cả những người tham gia vào đó, không ai có kiến thức gì về ngân hàng, mà phần lớn là những người tạm cho là có thành công một ít ở những lĩnh vực khác và có thể nói là hơi "hoắng". Lúc đó, chúng tôi nhờ ông Nguyễn Trọng Khánh, cũng đã từng làm ở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và cũng là Tiến sĩ kinh tế ở Hungary về, làm Tổng giám đốc. Nhưng đáng tiếc là một thời gian ngắn sau, anh bị bệnh và mất. Sau đó, chúng tôi cũng thuê một số người ở các ngân hàng quốc doanh sang làm.

Lúc đó, ngân hàng Việt Nam cũng mới chuyển từ hệ thống một cấp sang hai cấp, nghĩa là manh nha có những ngân hàng thương mại. Nhưng phải nói thật họ đều là quan chức nhà nước, chứ không có ai là "banker" cả. Họ làm cho chúng tôi một thời gian ngắn, rồi cũng chẳng mấy hiệu quả. Hội đồng quản trị can thiệp quá sâu, họ có quyền cho đối tượng nào vay, nhưng phần lớn các đối tượng vay lại là các công ty hoặc của thành viên hội đồng quản trị, hoặc của người thân của hội đồng quản trị, đó là cái lỗi ấu trĩ không thể tưởng tượng được. Tất cả những yếu tố đó đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản: Vốn của VP Bank chỉ có 70 tỷ, trong khi đó, nợ trong nước là khoảng 700 tỷ, mà phần lớn là khó đòi; bảo lãnh LC trả chậm ở nước ngoài là 50 triệu USD.

Lúc đó, tôi cũng là thành viên của Hội đồng quản trị, nhưng là thành viên bình thường, chỉ tham dự họp một năm đôi lần. Rồi tôi phải nhận nhiệm vụ bất đắc dĩ là làm Chủ tịch Hội đồng quản trị một ngân hàng. Không nhận không được, vì còn ai nữa đâu. Tiền Công ty 3C bỏ vào đấy hơi nhiều. Thực sự là mệt mỏi. Tất nhiên, trước đó và cả sau này, tôi chưa bao giờ trực tiếp điều hành một ngân hàng nào cả, và do đó, phải đọc rất nhiều sách về ngân hàng. Sách của Hungary, của Anh...

Quả thực lúc đó là cực chẳng đã, như đã ở trên một con thuyền đắm, buộc mình phải làm thuyền trưởng, chứ chưa bao giờ tôi có ý đồ buộc mình vào ngân hàng. Tôi nghĩ, lỗi là của chính mình, chứ không phải ai khác. Điều đầu tiên là phải xốc lại quy trình làm việc. Đã biết là muốn xốc lại thì phải rất “rắn”, nhưng nói chung, cũng khó, vì trong ngành dịch vụ, con người là quan trọng bậc nhất. Nếu "rắn" quá, mọi người hoảng loạn sẽ đi hết, thì sụp ngay. Cho nên phải vừa vừa, làm từng bước. Quan trọng nhất là làm thế nào để dựng lại một bộ máy rệu rã.

Dù tôi là người rất thương người, hầu như chẳng bao giờ sa thải ai. Nhưng ngay khi nhậm chức, ngày đầu tiên, tôi đã sa thải ngay ông Chánh Văn phòng Hội đồng quản trị. Về sau, cũng có dính đến mấy giấy tờ kiện cáo, nhưng chuyện đó không thành vấn đề đối với tôi. Ngoài những liệu pháp mềm mỏng, cũng cần phải có một vài liệu pháp cực sốc, để mọi người chấn chỉnh lại.

Chủ nợ của chúng tôi lúc đó chủ yếu là các công ty Hàn Quốc, đơn kiện lên các cấp lãnh đạo ở ta như bươm bướm. Ai đời, chả bao giờ dám giới thiệu mình là chủ nhà băng cả. Thậm chí, tai tiếng với doanh nghiệp Hàn Quốc đến mức, thấy ông Đại sứ nước này, là phải lỉnh đi cho lẹ!

Điều quan trọng lúc ấy là phải kiếm người, thuê CEO. Chúng tôi tìm được anh Huỳnh Bửu Sơn, là người đã làm trong ngành ngân hàng từ trước 1975 ở Sài Gòn, được học bài bản về ngân hàng, có kinh nghiệm về ngân hàng thương mại, ra ngoài Hà Nội để làm Tổng giám đốc. Anh Huỳnh Bửu Sơn đã có đóng góp đáng kể trong việc khôi phục lại VP Bank.

Chúng tôi chỉ có kế hoãn binh là phải đàm phán với các chủ nợ, đồng thời lập dự án về việc giãn nợ trình lên Nhà nước và được sự đồng ý, thì chúng tôi mới dần dần tháo gỡ những khó khăn.

Một phần cũng nhờ VP Bank may mắn ẵm được “Hà Nội vàng” bên bờ Hồ Gươm. Nguyên đây là dự án khách sạn “Hà Nội vàng”, liên doanh với một ông chủ Hồng Công, vì dư luận phản ứng là phá vỡ cảnh quan Hồ Gươm, rồi rơi vào đúng thời điểm khủng hoảng tài chính châu Á, mà bị dở dang. Tới năm 1999, phía Việt Nam trong liên doanh nguyên là dân làm ăn ở Hungary về, tưởng bọn tôi giàu lắm, nên "gạ" tham gia.

Của đáng tội, ngân hàng có thể bị dẹp bất cứ lúc nào thật. Nhưng mà thấy miếng đất đẹp quá, nên anh em trong HĐQT rất "máu". Đúng lúc đó, cổ đông nước ngoài của VP Bank là một quỹ đầu tư, vì hết hạn hoạt động, nên muốn bán rẻ phần vốn góp 10% của mình. Vốn gốc góp năm 1995 là 2 triệu USD, vậy mà họ nhượng lại chỉ lấy có 4 tỷ tiền Việt. Mình mới "gạ" Bảo Việt mua. Ông này từ chối, nhưng lại thấy dự án “Hà Nội vàng” của mình hay quá, liền nhảy vào. Cũng may là có Bảo Việt, mà việc sang nhượng “Hà Nội vàng” suôn sẻ.

Giờ, mỗi “thằng” làm một góc. Phần của VP Bank nhỏ hơn, song cũng đủ làm trụ sở. Còn 10% vốn kia, mấy anh em ở đây lại phải gồng mình ôm vào. Cơ may mà! Giờ đã lời gấp 50-60 lần rồi.

Tôi cùng anh em tháo gỡ đến 2004, cơ bản ổn định rồi, thì mọi việc điều hành để Tổng Giám đốc thực hiện. Tôi giờ chỉ là thành viên HĐQT, lâu lâu tới kỳ họp lại phán dăm câu ba điều. Năm nay cũng 62 rồi, thấy gì thích thì làm thôi.

Tôi đang dịch sách, nghiên cứu, viết lách lăng nhăng. Vừa rồi cùng anh em lập một viện nghiên cứu tư nhân, để nghiên cứu những thứ rất là “chối” - kiểu như phát triển kinh tế thế nào, chính sách môi trường, y tế, giáo dục ra sao... Mỗi người góp ít tiền cho nó hoạt động nhưng viện sẽ chẳng là của ai cả. Mọi kết quả nghiên cứu sẽ là của nó thôi.

Trong đời kinh doanh, tôi gặp vô vàn thất bại, nhưng tôi không hề ngại những thất bại đó; trái lại, nhìn lại, tôi thấy đã học được rất nhiều, vì đã trải qua những thất bại như thế. Tất nhiên, sau mỗi lần thất bại là buồn, nhưng quan trọng là phải biết nhìn trước, nhìn sau và nhìn lại mình, hay nói cách khác là tự kiểm duyệt mình. Tôi cũng là người luôn may mắn, vì sau mỗi lần thất bại, thì lại tìm được chính trong sự thất bại ấy một hướng đi mới, đầy khám phá, thử thách và vượt qua được. Trong cuộc sống, đôi khi ta phải biết trân trọng sự "hão huyền" hay "hoắng" mà mình có, bởi ở một góc độ nào đó, nó thể hiện sự lãng mạn của tư duy. Không có sự lãng mạn, thì cuộc sống sẽ vô cùng tẻ nhạt...

.......................Kim Anh
..........(Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần)

.............Nghĩa Nhân - Thanh Hoa
................(Pháp luật TPHCM)

*
* *
Anh NQA kể:

NHỮNG DỰ ÁN BẤT THÀNH

Sau 2, 3 năm thành lập, công ty 3C lúc đó kiếm tiền như nước. Với số tiền đó, có thể mua 50 đến 70 biệt thự dọc đường Lý Thường Kiệt, Hai Bà Trưng (Hà Nội) là quá dễ. Nhưng cuối cùng, chúng tôi đã không mua được 1 cm2 nào ở những khu đất “vàng” đó. Liệu chúng tôi có thấy tiếc vì thời điểm đó không dùng tiền để đầu tư bất động sản không? Tiếc chứ, nhưng không có chuyện “giá mà” nữa. Có thể là vì tôi “không khôn”, vì, người mà tinh về bất động sản và có duyên, thì chắc chắn sẽ mua.

Lúc đấy, tôi đang tính làm tiếp những cái “rồ dại”. Nhiều lúc người ta thành công nhanh, nên biến thành “quái”, cứ nghĩ mình là kinh khủng, có thể làm được nhiều thứ. Chúng tôi đã mất không biết bao nhiêu tiền đi làm những việc “giời ơi” như thế. Chẳng hạn, dự án xây dựng khu đô thị mới ở Bãi Giữa sông Hồng. Chúng tôi từng thuê một đội đi vẽ, đo đạc, tính toán thành một khu đô thị. Nhưng rồi, không làm được, vì đụng đến chuyện dòng chảy, lũ, đê điều….

Vào giữa cơn sốt "đá đỏ Quỳ Hợp", Công ty 3C bỏ ra 300.000 USD ký kết với Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An để mua một phần mỏ đá trong Quỳ Hợp. Chúng tôi kéo một "gã" chuyên gia đá quý người Úc lên tận nơi phân tích, đánh giá. Rồi cũng tổ chức khai thác, làm ăn rất đàng hoàng. Nhưng rồi về sau, chẳng lãi lờ được xu nào, lại thấy kiểu làm ăn như mafia. Thế là, về danh nghĩa, vẫn sở hữu một phần ba mỏ đá quý, nhưng coi như bỏ lửng.

Rồi cũng thời gian này, có "tay" Tiến sĩ Hóa học ở Viện Khoa học Việt Nam quảng cáo về công nghệ ủ men bằng nấm vi sinh, cũng là bột sắn bột ngô, nhưng sau 48 tiếng, độ đạm tăng vọt, dùng làm thức ăn vỗ béo lợn, thì chẳng mấy chốc mà giàu. Thế là lập ngay Công ty cổ phần công nghệ hóa sinh (BCE).

Đầu tiên là thử nghiệm trên 1 ngàn đầu lợn, sau nâng lên 12 ngàn con, khắp từ Quảng Ninh, Thái Bình, Hà Nội đến Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang. Chúng tôi kết hợp với một công ty xuất khẩu thịt cùng đánh giá độ nạc, mỡ ra sao, thì kết quả cho thấy, chất lượng thịt rất tuyệt vời. Lợn tăng trọng nhanh, giá cả các nguyên liệu rất hợp lý, người nông dân nuôi lợn, người làm sắn, ngô cũng được lợi và người xuất khẩu như chúng tôi cũng lãi.

Báo cáo cho thấy, lợn tăng 25-30 kg/tháng, chất lượng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, thịt nhiều nạc, chẳng mấy chốc mà lợn Việt xuất sang Nga, Hồng Công, lời vô kể. Tôi đã cầm sẵn giấy giới thiệu đến Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, dự kiến sẽ vay vốn xây khoảng hơn chục xưởng chăn nuôi từ Bắc chí Nam, độ hơn nửa năm là thu hồi vốn, lại tạo công ăn việc làm cho bao nhiêu người.

Nhưng, thử nghiệm tới hơn 7 tháng, mà mãi vẫn chưa đưa vào thực tiễn, các nhà khoa học lại suốt ngày đòi chi thêm tiền. Tôi nghĩ: “Chết rồi, bỏ bao nhiêu tiền, sao lại thế?”. Tôi hỏi: “Nguyên liệu mua vào là thế nào?”. Một người nói: “Chúng tôi phải giấu bí quyết”. Tôi trả lời: “Tôi không quan tâm, nhưng trong vòng 1 tháng, ông mua những thứ gì và mất bao nhiêu tiền, với đầu vào như thế, ông làm ra được bao nhiêu ?”. Hoá ra, các bố ấy “bốc phét” hết. Chất lượng tốt, nhưng càng làm càng lỗ.

Rồi trong một lần đi với "tay" Tiến sĩ Hóa học lên Thái Nguyên tiếp thị công nghệ nước khoáng (thực chất dán mác nước khoáng Kim Bôi, nhưng lại khai thác từ nước giếng khoan ngay tại Thái Nguyên), tôi mới tá hỏa, vì nhận ra chân tướng nhà khoa học "bịp". Kiểm tra tài chính, y như rằng, toàn thành tích tăng trọng “lừa”. Cũng may, chưa đôn đáo vay tiền xây nhà xưởng. Tôi nói: “Xin lỗi nhé, từ nay trở đi, không bao giờ tôi làm với các ông nữa”.

Thế là dẹp!
*
* *
CÂU CHUYỆN CỦA NGƯỜI BỊ “LỠ TÀU” INTERNET

ICTnews - Khoảng 10 năm về trước, một doanh nghiệp tư nhân, tuy có đủ các điều kiện kỹ thuật để trở thành nhà cung cấp dịch vụ truy cập Internet (ISP), nhưng đành phải “lỡ tàu” vì hai chữ “cơ chế”.

Đầu năm 1996, TS Nguyễn Quang A cùng một số cổ đông đã quyết định đầu tư thành lập một công ty mang tên Ba Tin để đón đầu cơ hội cung cấp dịch vụ Internet. Và vào mùa hè năm đó, khi các doanh nghiệp nhà nước với tiềm lực rất lớn còn đang loay hoay triển khai, thì Ba Tin đã cho ra đời mạng Intranet có tên là Vinet với 10 đường dây điện thoại để phục vụ nhu cầu truy nhập của người sử dụng. Là mạng được xây dựng trên giao thức Internet (TCP/IP) nên Vinet có giao diện đẹp cùng với nhiều thủ tục tìm kiếm rất nhanh. Chính nhờ vậy mà rất nhiều cơ quan như Bộ Công nghiệp, Văn phòng Quốc hội, Tổng cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng… đã đặt hàng Ba Tin xây dựng mạng Intranet, cùng phần mềm quản lý dữ liệu trên mạng cho mình.

Còn riêng với Vinet, để có nội dung cho mình, mạng này đã hợp tác với các cơ quan báo chí mà đi đầu là Thời báo Kinh tế Việt Nam. Tiếp đó là các báo Tuần báo Quốc tế, Xưa & Nay, Doanh Nghiệp, Tia Sáng, Tin học & Đời sống… Và mặc dù Việt Nam chưa nối mạng Internet, nhưng thông tin của các báo này vẫn đến được với độc giả toàn cầu khi truy cập địa chỉ www.batin.com.vn với máy chủ được đặt tại Úc (Australia). Có thể nói, mạng Vinet của Ba Tin chính là chuyến tàu đầu tiên để đưa các báo chí trong nước đến với bạn đọc toàn cầu.

Vì vậy, Ba Tin đã được xếp vào danh sách ưu tiên sẽ được làm ISP cùng với FPT, VDC và Saigon Postel (Netnam tuy có đủ điều kiện kỹ thuật, nhưng lại chưa có tư cách để kinh doanh, vì là dịch vụ của cơ quan nghiên cứu khoa học, chứ không phải là doanh nghiệp, Viettel thì chưa sẵn sàng về kỹ thuật).

Tháng 3/1997, Quy chế tạm thời về quản lý và khai thác dịch vụ Internet được ban hành với Nghị định 21/CP. Tuy nhiên, quy chế này chỉ cho phép doanh nghiệp nhà nước hoặc do nhà nước nắm cổ phần chi phối được làm ISP, với lý do để đảm bảo an ninh thông tin của đất nước.

Ba Tin đành đứng ngoài cuộc chơi, nhưng vẫn còn hy vọng có thể làm nhà cung cấp nội dung trên Internet (ICP). Song việc này cũng không thành, vì việc cung cấp thông tin lên mạng Internet phải tuân thủ Luật Báo chí. Mà theo quy định của Luật Báo chí Việt Nam, thì tư nhân không có quyền ra báo. Trong khi đó, các cơ quan nước ngoài tại Việt Nam thì vẫn được quyền làm ICP, vì Việt Nam tuân thủ Công ước quốc tế về Internet.

TS. Nguyễn Quang A, trên cương vị Chủ tịch Hội Tin học Việt Nam khi đó đã đề nghị phải sớm sửa đổi tận gốc Nghị định 21/CP: Trước hết, quy định bắt buộc phải đặt máy chủ tại Việt Nam là rất ấu trĩ vì đã là Internet, thì đặt máy chủ ở đâu cũng như nhau. Còn khái niệm ICP là chuyện rất “riêng có” của Việt Nam, vì đã thiết lập được website thì nghiễm nhiên phải cập nhật thông tin lên đó, chứ chẳng ai lại muốn để tĩnh. Vì thế, ông đề nghị không áp dụng Luật Báo chí cho việc cung cấp thông tin lên mạng Internet. Ngoài ra, còn rất nhiều vấn đề khác cần phải sửa đổi, bởi quản lý phải theo kịp sự phát triển, chứ không phải phát triển phải dựa trên năng lực quản lý, như tinh thần của Nghị định 21/CP.

Quy chế tạm thời đã làm Ba Tin bị “lỡ tàu” để làm ISP và đành phải chờ đợi. Tháng 8/2001, Nghị định 55/2001/NĐ-CP được Chính phủ ban hành để thay thế Nghị định 21/CP, cùng với cơ chế “mọi thành phần kinh tế đều được phép làm ISP”. Bên cạnh đó, xuất hiện một số khái niệm mới là nhà cung cấp dịch vụ kết nối Internet (IXP) và nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến (OSP). Nhờ đó, một số doanh nghiệp tư nhân đã trình hồ sơ và được cấp phép là ISP như QT Net, Việt Khang, Techcom, OCI… Tuy nhiên, trong danh sách các doanh nghiệp trình hồ sơ với Tổng cục Bưu điện khi đó đã không có tên Ba Tin.

Về điều này, ông Lê Trung Nghĩa, nguyên là một cổ đông chiến lược của Ba Tin khi đó đã nhìn nhận là phải có tiềm lực rất mạnh, thì mới có thể trụ được và các doanh nghiệp tư nhân thì rất khó có cửa. Lời dự đoán của ông nay đã nghiệm đúng, vì với sự bùng nổ của Internet băng thông rộng (ADSL) thì chỉ khi chủ động được về hạ tầng truyền dẫn, doanh nghiệp làm ISP mới trụ được. Và thực tế là tất cả các doanh nghiệp tư nhân có giấy phép ISP đều không rục rịch được gì. “Đành rằng doanh nghiệp muốn kinh doanh thì phải tuân thủ luật pháp, nhưng cơ hội thì đã mất đi, thậm chí vĩnh viễn mất đi!”, ông Nghĩa nói.

Câu chuyện của công ty Ba Tin là một trang sử buồn của buổi khởi đầu Internet Việt Nam. TS. Nguyễn Quang A cho biết, dự thảo Nghị định 21/CP mà ông được mời tham gia xây dựng lúc đầu đâu có thắt chặt đến như thế. Nhưng cuối cùng, vì lý do thận trọng mà phải quy định chặt, theo một cựu quan chức có trách nhiệm của Bộ Khoa học và Công nghệ thì có quy định chặt như vậy, lãnh đạo mới dám quyết định cho Việt Nam chính thức được nối mạng Internet vào ngày 19/11/1997.

Câu chuyện về công ty Ba Tin chính là một minh chứng rõ nét cho sự khó khăn, trắc trở trong buổi đầu đưa Internet vào Việt Nam, đồng thời ở góc độ nào đó, cũng phản ánh quá trình đổi mới và hội nhập của đất nước.

......................................Đức Hoàng
...................(Bưu điện Việt Nam số 89 ra ngày 5/11/2007)

*
* *
TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT VÀ CỐ GIÁO SƯ HOÀNG PHÊ

Cố GS. Hoàng Phê là người chủ biên của cuốn “Từ điển Tiếng Việt” nổi tiếng, được hoàn tất đúng 20 năm trước và được xuất bản lần đầu tiên năm 1988. Cuốn từ điển này gồm khoảng 36 ngàn mục từ, được biên soạn trên cơ sở gần 3 triệu phiếu tư liệu, được hàng chục nhà nghiên cứu cần mẫn sưu tập bằng tay trong nhiều năm trời của Viện Ngôn ngữ học.

GS. Hoàng Phê luôn mong mỏi ngành từ điển học Việt Nam phải tiến xa hơn nữa, phải có những cuốn từ điển cỡ lớn, có những tổ chức chuyên biên soạn và xuất bản từ điển như Larousse, Oxford. Rời Viện ngôn ngữ học, về hưu, GS. Hoàng Phê vẫn tiếp tục say mê với việc làm từ điển.

Năm 1992, tôi gặp GS. Hoàng Phê lần đầu tiên và chúng tôi nảy ra ý định thành lập một nhà xuất bản từ điển và sách ngôn ngữ. Khi chúng tôi xúc tiến, Sắc luật số 003 SLT ngày 19-6-1957 về Quyền tự do xuất bản đang có hiệu lực. Ngay Điều 1 của Sắc luật quy định: “Quyền tự do xuất bản của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm” và Sắc luật quy định tư nhân được hoạt động xuất bản. Chúng tôi đã soạn thảo các hồ sơ cần thiết để xin phép thành lập nhà xuất bản. GS. Hoàng Phê đã đi gặp các vị lãnh đạo cao nhất của đất nước để kiếm sự ủng hộ. Ai cũng khen là ý tưởng hay và hứa giúp đỡ. Nhưng kết quả không như mong muốn. Tìm hiểu, chúng tôi thấy một dự luật xuất bản đang được chuẩn bị với quy định tư nhân không được thành lập nhà xuất bản (luật này sau đó được thông qua ngày 7-7-1993). Vì thế, mọi nỗ lực của chúng tôi đều vô vọng. Phải tìm cách khác.

Với số vốn khiêm tốn, GS. Hoàng Phê, công ty 3C và một số nhà khoa học đã xin thành lập “Trung tâm Từ điển học” với mục đích: nghiên cứu từ điển học; xây dựng tài nguyên ngôn ngữ phục vụ cho xử lý ngôn ngữ tự nhiên; ứng dụng công nghệ tin học vào công tác biên soạn từ điển; biên soạn từ điển, sách công cụ dạy và học ngôn ngữ; đào tạo chuyên gia và kỹ thuật viên từ điển học.

Thay cho nhà xuất bản, Trung tâm Từ điển học được thành lập ngày 30/6/1993. Từ đó đến nay, Trung tâm đã phối hợp với Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản hàng chục đầu sách ngôn ngữ và các từ điển tiếng Việt, từ điển chính tả, An Nam dịch ngữ (cuốn từ điển tiếng Việt cổ nhất, cổ hơn từ điển Việt-Bồ-Latin năm 1651 của Alexandre de Rhodes). Trong số đó, cụm công trình của GS. Hoàng Phê, gồm: Logic-ngôn ngữ học, Từ điển chính tả, Từ điển vần và Chính tả tiếng Việt đã được tặng Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ năm 2005.

Việc xúc tiến làm cuốn từ điển tiếng Việt mới, là một trọng tâm của Trung tâm Từ điển học ngay từ ngày đầu. Trải qua 14 năm miệt mài làm việc, với muôn vàn khó khăn, Trung tâm đã xây dựng được một ngân hàng dữ liệu gồm khoảng 60 triệu âm tiết, thu thập từ sách báo tiếng Việt từ xưa đến nay (Trung tâm đã thuê sao lại hầu như tất cả các số báo của Đông Dương tạp chí (từ 1913) do cụ Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút, Nam Phong tạp chí (1917-1934) của cụ Phạm Quỳnh, An Nam tạp chí (1926) do cụ Tản Đà sáng lập, v.v. để đưa vào cơ sở dữ liệu cùng với các tác phẩm văn học, báo chí suốt từ thời đó đến nay) để soạn ra cuốn từ điển tiếng Việt mới.

Nguồn tư liệu phong phú này là cơ sở đáng tin cậy cho quá trình biên soạn cuốn Từ điển, từ khâu thu thập mục từ, giải thích nghĩa và lựa chọn thí dụ. Nhờ đó, so với những cuốn từ điển tiếng Việt được xuất bản trước đây, cuốn Từ điển này đã thu thập được thêm một số lượng không nhỏ những từ ngữ cũ, từ ngữ cổ và những từ ngữ mới (như: a bảo, ATM, cúm gà, múa lân, sàn giao dịch, sao la, thủy cầm, thư thoại, website,...), đã bổ sung được những nghĩa từ mới được phát sinh trong quá trình sử dụng ngôn ngữ thời gian gần đây (như nghĩa của “làm giá” trong “có hiện tượng làm giá chứng khoán”, “câu kết với nhau làm giá để thao túng thị trường”). Cuốn Từ điển cũng trở nên hay hơn, sinh động và có tính thuyết phục hơn, nhờ những thí dụ minh họa được trích dẫn từ rất nhiều tác phẩm của nhiều tác giả trên khắp mọi miền đất nước.

GS. Hoàng Phê đã trực tiếp chỉ đạo và ông là người có đóng góp lớn nhất cho việc soạn thảo cuốn từ điển này, cho đến khi ông mất. Các nhà ngôn ngữ học của Trung tâm Từ điển học đã hoàn tất phần việc mà GS. Hoàng Phê còn đang làm dang dở, và cuốn “Từ điển tiếng Việt” (mới) dày gần 2.000 trang vừa ra mắt bạn đọc với gần 46 ngàn mục từ, gần 54 ngàn nghĩa và hơn 73 ngàn thí dụ minh họa, là một công trình đồ sộ mang dấu ấn sâu đậm của GS. Hoàng Phê.

Một điểm nổi bật nữa của cuốn “Từ điển tiếng Việt” (mới) này là, có chữ Hán đi kèm các mục từ Hán-Việt. Trong 45.757 mục từ của từ điển có 15.901 mục từ Hán-Việt (chiếm 34,75%), trong đó có khoảng 1/4 nghĩa của từ không dính dáng gì đến nghĩa của từ Hán gốc hay thậm chí hoàn toàn không có trong tiếng Hán. Ngoài ra còn có nhiều mục từ gốc Pháp, Anh, Ấn hay Chàm và tổng cộng số mục từ có gốc nước ngoài chiếm khoảng 35%. Đấy là những con số thống kê có ý nghĩa. Nó cho thấy ngôn ngữ là một cơ thể sống, có vay, có mượn, có “hội nhập”, có biến dị, v.v.

Và việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt không có nghĩa là phải loại bỏ những từ vay mượn, càng không có nghĩa nhất thiết phải bám vào nghĩa của từ gốc xuất xứ. Tất nhiên, những dữ liệu mà cuốn từ điển mang lại (ở dạng điện tử, có phân loại, dễ thống kê) chỉ là những dữ liệu ban đầu giúp cho các nhà khoa học nghiên cứu. Còn có ý nghĩa hơn, khi tính tần suất sử dụng thực tế (trong sách báo, trong khẩu ngữ hàng ngày) của mỗi mục từ và từ đó tính ra tỷ lệ sử dụng trung bình của các loại từ, như từ Hán-Việt chẳng hạn. Thí dụ về phổ phân bố các vần, phân bố từ Hán-Việt theo vần. Kho dữ liệu ngôn ngữ của Trung tâm Từ điển học có thể được dùng cho nhiều nghiên cứu lý thú khác.

Ngày 7-3-1987, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá “quyển từ điển Tiếng Việt này là quyển từ điển đầu tiên ở nước ta, do một tập thể cán bộ ngôn ngữ học biên soạn trên cơ sở tư liệu tương đối đầy đủ. Nó có tác dụng thiết thực với việc chuẩn hóa và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Đây là cuốn sách cần thiết cho những người muốn tìm hiểu, học tập, trau dồi tiếng Việt”.

........................08/2007
.................Nguyễn Quang A
.................Nguồn: Tia sáng

Ghi chú: "Từ điển tiếng Việt", Hoàng Phê chủ biên, NXB Khoa học xã hội, 1988, tái bản có sửa chữa bổ sung 1992, 1994, 1995, 1996, 1997, 1998, NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học tái bản có sửa chữa bổ sung, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006. Những người dùng quen gọi tắt là "Từ điển Hoàng Phê".
*
* *
Tôi vẫn nhớ, những người đầu tiên được anh TVT chọn vào Công ty 3C-Soft (phần mềm 3C) là các anh ĐCB, TĐH, NQS. Các anh ĐCB, TĐH tốt nghiệp lớp Tin học Đại học Kỹ thuật quân sự, còn anh NQS học Toán bên MGU (Đại học Tổng hợp Lô-mô-nô-xốp) về. Các anh ĐCB một thời công tác tại Cục Cơ yếu (Bộ Tổng tham mưu) cùng với anh ĐMT (khi đó đang rậm rịch xin ra quân để về Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam), sau đó cùng được chọn vào nhóm đi bổ túc thêm ở Cộng hòa Dân chủ Đức. Hai anh ĐCB, TĐH tham gia nhóm nghiên cứu về “Trí tuệ nhân tạo” của anh Hoàng Kiếm, là tác giả phần mềm “Nhận dạng tiếng Việt”. Còn anh NQS hồi ấy hay trình diễn phần mềm “Lấy lá số tử vi” để in lá số cho mọi người trong Genpacific Hà Nội. Bên 35 Tràng tiền chật chội quá, nên hai anh TĐH, NQS hay ngồi ở số 1 Hàn Thuyên.

Sau 1991, bức tường Béc-linh sụp đổ, phe xã hội chủ nghĩa và Liên Xô (cũ) bị tan rã, đồng rúp chuyển nhượng không còn, anh TVT từ Mát-xcơ-va về, xin với các anh NQA và BHH lập 3C-Soft, mời anh Hoàng Kiếm làm Giám đốc Kỹ thuật.

Công ty 3C-Soft được anh NQA ưu ái cho đặt trụ sở tại một ngôi biệt thự trong ngõ Lý Thường Kiệt mà Công ty 3C mới bỏ tiền ra mua. Những năm tôi ở tuổi mẫu giáo, nhà tôi ở khu tập thể báo Nhân Dân trong ngõ đó (vào sâu hơn), nên tôi biết ngôi biệt thự xinh xắn có chiếc cổng sắt với giàn hoa ti-gôn màu tím tỏa từ trên xuống như một thác nước, và đặc biệt là hai cô con gái xinh đẹp, tóc dài thướt tha (hơn tôi 15-16 tuổi), hay được các chàng trai săn đón. Nếu tôi nhớ không nhầm thì nhà chị Thuận Nam (tức nhà bác Hoàng Bích Sơn) hồi ấy cũng ở trong ngõ Lý Thường Kiệt, sau mới chuyển về phố Trần Phú.

Quả thực, Công ty 3C-Soft làm những sản phẩm gì, tôi không rành lắm.



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 04.08.2016, sửa lần 42
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Những bài viết gợi về ký ức một thời Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 9, 10, 11, 12  Trang kế
Trang 10 trong tổng số 12 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser