vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - Cột mốc biên cương
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

Cột mốc biên cương
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 17.08.2011    Tiêu đề: Re: Cột mốc biên cương Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Biên giới Việt Nam- Cămpuchia


Ngay sau khi vừa bước chân ra khỏi cuộc chiến tranh biên giới tây nam, Việt Nam lập tức ký ngay với Cămpuchia một Hiệp ước hòa bình hữu nghị và hợp tác phát triển.

HIỆP ƯỚC HÒA BÌNH, HỮU NGHỊ VÀ HỢP TÁC GIỮA HAI NƯỚC VIỆT NAM VÀ CĂMPUCHIA (1979)
























Bốn năm sau, hai nước mới có điều kiện ký Hiệp ước về Nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới (cả trên đất liền và trên biển)

HIỆP ƯỚC VỀ NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ BIÊN GIỚI (1983)












Trong khi chờ đợi hoạch định lại biên giới, hai nước thống nhất ký Hiệp định về quy chế biên giới cùng thời điểm ký Hiệp ước Nguyên tắc hoạch định biên giới.

HIỆP ĐỊNH VỀ QUY CHẾ BIÊN GIỚI TRÊN ĐẤT LIỀN (1983)



















Và mất thêm hai năm để ký Hiệp ước Hoạch định biên giới.

Lần đầu tiên trong lịch sử, hai nước đã chính thức ký kết Hiệp ước hoạch định đường biên giới trên đất liền nhằm xây dựng đường biên giới hoà bình, hữu nghị, lâu dài trên cơ sở hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.


HIỆP ƯỚC HOẠCH ĐỊNH BIÊN GIỚI QUỐC GIA (TRÊN ĐẤT LIỀN) (1985)





























PHỤ LỤC I: BẢN KÊ 26 MẢNH BẢN ĐỒ TỶ LỆ 1/100.000 DO SỞ ĐỊA DƯ ĐÔNG DƯƠNG BIÊN VẼ (BẢN ĐỒ BONNE) ĐỂ MÔ TẢ ĐƯỜNG BIÊN GIỚI GIỮA NAM KỲ VỚI CĂMPUCHIA VÀ GIỮA TRUNG KỲ VỚI CĂMPUCHIA (TRONG LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG THUỘC PHÁP)







PHỤ LỤC II: BẢN KÊ 40 MẢNH BẢN ĐỒ TỶ LỆ 1/50.000 DO QUÂN ĐỘI MỸ BIÊN VẼ (BẢN ĐỒ UTM) Ở MỘT SỐ KHU VỰC GIÁP ĐƯỜNG BIÊN GIỮA VIỆT NAM CỘNG HÒA VỚI CĂMPUCHIA












Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Cămpuchia, do hai Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ký tại Phnôm Pênh ngày 27-12-1985.

Hiệp ước này quy định những điểm chính về đường biên giới trên đất liền và những vấn đề liên quan; thành lập và xác định nhiệm vụ của Ủy ban Liên hợp Phân giới thực địa; nguyên tắc khảo sát thực địa, hoạch định biên giới quốc gia trên biển.

Bản Hiệp ước được Nhà nước Việt Nam phê chuẩn ngày 31-01-1986 và Nhà nước Cămpuchia phê chuẩn ngày 07-02-1986.





Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 25.04.2017, sửa lần 4
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 18.08.2011    Tiêu đề: Re: Cột mốc biên cương Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Biên giới Việt Nam- Cămpuchia

HIỆP ƯỚC BỔ SUNG HIỆP ƯỚC HOẠCH ĐỊNH BIÊN GIỚI QUỐC GIA VIỆT NAM - CĂMPUCHIA

Vì sao cần ký Hiệp ước bổ sung?
Bài viết sau đây của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên trả lời cho câu hỏi này.

Ngày 10-10-2005, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam Phan Văn Khải và Thủ tướng Chính phủ Hoàng gia Vương quốc Cămpuchia Hun Sen đã ký "Hiệp ước giữa nước CHXHCN Việt Nam và Vương quốc Cămpuchia bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985".

Ngày 30-11-2005, Quốc vương Cămpuchia Sihamoni đã ký Sắc lệnh ban hành Hiệp ước và ngày 5-12-2005, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Trần Ðức Lương đã ký Lệnh công bố Hiệp ước, sau khi Quốc hội hai nước, cơ quan quyền lực cao nhất của hai Nhà nước đã phê chuẩn Hiệp ước bổ sung này.

Ngày 6-12-2005, tại Phnôm-pênh, Bộ trưởng Ngoại giao hai nước Việt Nam và Cămpuchia đã tiến hành trao đổi văn kiện phê chuẩn Hiệp ước.

Hiệp ước bổ sung về biên giới Việt Nam - Cămpuchia chính thức có hiệu lực kể từ ngày 6-12-2005.

Lịch sử vấn đề
Là hai quốc gia láng giềng có lịch sử quan hệ từ lâu đời, Việt Nam và Cămpuchia có chung đường biên giới trên đất liền dài 1.137 km đi qua 10 tỉnh biên giới của Việt Nam và 9 tỉnh biên giới của Cămpuchia.

Trải qua các triều đại phong kiến, giữa Việt Nam và Cămpuchia đã hình thành biên giới lịch sử, nhưng chỉ là những ranh giới vùng - miền.

Trong thời kỳ thực dân, biên giới giữa hai nước chủ yếu là đường ranh giới hành chính, bao gồm hai phần:

Ðoạn biên giới giữa Nam Kỳ và Cămpuchia được hoạch định bởi Thỏa ước Pháp - Cămpuchia năm 1870, và Công ước Pháp - Cămpuchia năm 1873, đã được phân giới cắm mốc, nhưng đến nay còn rất ít dấu tích trên thực địa.

Ðoạn biên giới giữa Trung Kỳ và Cămpuchia không có văn bản xác định đường biên giới, chỉ có Nghị định xác định ranh giới các tỉnh Trung Kỳ, chưa được phân giới cắm mốc.

Hai phần biên giới trên đã được chính quyền Pháp thể hiện trên 26 mảnh bản đồ Bonne tỷ lệ 1/100.000, do Sở Ðịa dư Ðông Dương xuất bản trong nhiều năm khác nhau.

Trong giai đoạn từ năm 1954 đến 1975, tranh chấp biên giới cả trên biển và trên bộ thường xuyên diễn ra giữa chính quyền Sài Gòn và Cămpuchia.

Trong các năm từ 1964 đến 1967, khi Cămpuchia công bố trung lập, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra tuyên bố công nhận chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Cămpuchia trong đường biên giới hiện tại. Trong các năm 1964, 1966, 1975 và 1976, hai bên đã xúc tiến một số cuộc đàm phán, thương lượng về biên giới, nhưng không đạt được thỏa thuận.

Sau khi Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Cămpuchia ra đời, ngày 18-2-1979, Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Campuchia đã ký Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa hai nước, tại Ðiều 4 đã thỏa thuận "tiến hành đàm phán để đi đến ký kết một hiệp định hoạch định biên giới giữa hai nước trên cơ sở đường biên giới hiện tại và kiên quyết sẽ cùng nhau xây dựng đường biên giới đó thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị lâu dài".

Ngày 20-7-1983, hai bên ký Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam - Campuchia, trong đó đã thống nhất áp dụng hai nguyên tắc:

(1) Trên đất liền, hai bên coi đường biên giới hiện tại giữa hai nước được thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Ðịa dư Ðông Dương thông dụng trước năm 1954 hoặc gần năm 1954 nhất (kèm theo 26 mảnh bản đồ đã được hai bên xác nhận) là đường biên giới quốc gia giữa hai nước;

(2) Ở nơi nào đường biên giới chưa được vẽ trên bản đồ, hoặc hai bên đều thấy chưa hợp lý, thì hai bên sẽ cùng nhau bàn bạc, giải quyết trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau vì lợi ích của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Cămpuchia, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Ðể có cơ sở duy trì quản lý, tạo sự ổn định trên biên giới trong khi giữa hai nước chưa có một đường biên giới chính thức, rõ ràng trên thực địa, cùng ngày 20-7-1983, hai bên ký Hiệp định về Quy chế biên giới Việt Nam - Cămpuchia.

Ðiều 1 ghi "Cho đến khi được hoạch định chính thức, biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Campuchia là đường biên giới hiện tại, được thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Ðịa dư Ðông Dương thông dụng trước năm 1954 hoặc gần năm 1954 nhất như quy định ở Ðiều 1 Hiệp ước nguyên tắc năm 1983".

Về sông suối, Ðiều 8 quy định "ở những nơi sông, suối, kênh, rạch thuộc một bên do đường biên giới đi về một phía bờ, những người dân khu vực biên giới bên kia vẫn được dùng nước các sông, suối, kênh, rạch đó vào sinh hoạt hằng ngày, tàu thuyền được đi lại bình thường, nhưng không được đánh bắt cá, tôm... việc xây dựng công trình thuỷ lợi vừa và lớn trên sông, suối, kênh, rạch biên giới phải do chính quyền cấp tỉnh hai bên bàn bạc và báo cáo lên Chính phủ hai bên quyết định".

Theo nguyên tắc đã thỏa thuận trong Hiệp ước năm 1983, hai bên tiến hành đàm phán và ký Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Cămpuchia ngày 27-12-1985.

Hiệp ước này đã được Hội đồng Nhà nước nước CHXHCN Việt Nam phê chuẩn ngày 30-1-1986 và Quốc hội nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia phê chuẩn ngày 7-2-1986. Ngày 22-2-1986, tại Hà Nội, hai bên đã trao đổi văn kiện phê chuẩn và Hiệp ước có hiệu lực kể từ ngày đó.

Theo Ðiều 1 Hiệp ước 1985, đường biên giới quốc gia trên đất liền giữa hai nước được mô tả chi tiết theo bản đồ UTM tỷ lệ 1/50.000 (đường biên giới đã hoạch định được chuyển từ bản đồ Bonne tỷ lệ 1/100.000 sang). Hai bộ bản đồ đính kèm Hiệp ước (bản đồ Bonne và UTM) đều có giá trị như nhau. Hiệp ước cũng quy định các vấn đề liên quan sông, suối, kênh, rạch biên giới: Các sông, suối biên giới dù có đổi dòng, đường biên giới vẫn giữ nguyên; những cù lao, bãi bồi dọc sông, suối biên giới ở phía bên nào sẽ thuộc bên đó; đối với các cầu biên giới, đường biên giới đi chính giữa cầu.

Như vậy, Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985 đã thể hiện rõ lập trường của hai nước tôn trọng đường biên giới hiện tại, căn cứ vào các bản đồ do chính quyền thực dân xuất bản và sử dụng bản đồ UTM của quân đội Mỹ để thuận tiện cho việc phân giới cắm mốc.

Sau khi Hiệp ước 1985 có hiệu lực, hai bên đã tiến hành phân giới được hơn 200 km trong tổng số 1.137 km đường biên và cắm được 72 mốc trong tổng số 322 mốc dự kiến. Năm 1989, do những lý do nội bộ Cămpuchia, công việc phân giới cắm mốc phải tạm dừng lại, và từ đó đến nay chưa được nối lại.

Sự cần thiết ký Hiệp ước bổ sung
Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985 đánh dấu một mốc quan trọng trong quan hệ hai nước. Ðây là Hiệp ước được ký kết giữa hai quốc gia độc lập, có chủ quyền, trên cơ sở tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, phù hợp luật pháp và thực tiễn quốc tế. Nội dung Hiệp ước phù hợp lập trường hai nước từ sau năm 1954. Thủ tục ký kết và thực hiện chặt chẽ từ Hiệp ước nguyên tắc đến Hiệp ước hoạch định.

Việc áp dụng nguyên tắc bản đồ là một quyết định đúng đắn của hai nước, song khi lựa chọn và áp dụng bản đồ, hai bên phải chấp nhận trên thực tế những hạn chế như sau: Bản đồ Bonne xuất bản rải rác trong nhiều năm khác nhau, từ năm 1951 đến 1954; nội dung và chất lượng bản đồ chưa hoàn thiện (có nhiều mảnh xuất bản tạm thời, một số mảnh có chỗ bỏ trắng địa hình, đường biên giới giữa một số mảnh bị đứt đoạn); tỷ lệ của bản đồ quá nhỏ (1/100.000), được in ấn từ những năm 50 thế kỷ trước, nên không còn phù hợp với thực địa thay đổi theo thời gian. Hơn nữa, việc ghi nhận hai bộ bản đồ có giá trị như nhau trong phân giới cắm mốc dẫn đến những phức tạp trên thực địa, khi có sự khác biệt giữa bản đồ với bản đồ, giữa bản đồ với thực địa, đặc biệt là ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, do hậu quả của lũ lụt thường xuyên. Về cơ bản, Hiệp ước năm 1985 đã hoạch định hầu hết đường biên giới giữa hai nước, song do những tồn tại trên, nên vẫn còn một vài điểm hai bên mới thoả thuận tạm thời, sẽ giải quyết trong quá trình đi thực địa.

Về sông suối biên giới, theo luật pháp và thực tiễn nhiều nước trên thế giới, biên giới thường đi theo luồng rãnh sâu (thalweg) đối với sông, suối tàu thuyền đi lại được, và theo trung tuyến dòng chảy chính đối với sông, suối tàu thuyền không đi lại được.

Khi đàm phán Hiệp ước 1985, phía Việt Nam đã đề nghị áp dụng như trên, nhưng phía Cămpuchia đề nghị: Pháp vẽ như thế nào, cứ giữ nguyên.

Ðiều này dẫn đến thực tế là có những khúc sông hoàn toàn do Việt Nam quản lý, có những khúc sông hoàn toàn do Cămpuchia quản lý, dẫn đến những tranh cãi cục bộ về sử dụng nguồn nước giữa nhân dân địa phương hai nước.

Sau 20 năm quản lý sử dụng sông suối biên giới, phía Cămpuchia thấy việc quy định biên giới chạy trên một bờ sông là bất tiện trong quản lý và sử dụng nguồn nước của nhân dân hai bên. Bạn thừa nhận đề nghị trước kia của Việt Nam là hợp lý, và mong muốn điều chỉnh biên giới sông, suối theo luật pháp và thực tiễn quốc tế. Việc điều chỉnh này cũng phù hợp nguyên tắc khác của luật quốc tế, là cùng chia sẻ nguồn nước, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, nhất là khi cả Việt Nam và Cămpuchia đều là thành viên của Ủy ban sông Mê Công. Việt Nam cũng đã từng cùng với Lào và Trung Quốc giải quyết vấn đề sông, suối biên giới như vậy.

Ngoài ra, từ năm 1989, có một số người xấu liên tục dùng vấn đề biên giới lãnh thổ để chống Việt Nam, chia rẽ quan hệ Cămpuchia - Việt Nam, nhiều lần yêu sách đòi xóa bỏ các Hiệp ước, Hiệp định biên giới Việt Nam - Cămpuchia đã ký trong những năm 80 của thế kỷ trước. Song, họ không thể phủ nhận được tính chất khách quan, công bằng và giá trị của các Hiệp ước, Hiệp định trên.

Hiến pháp Cămpuchia 1993 yêu cầu "tôn trọng đường biên giới do Pháp vẽ vào giữa những năm 1933-1953". Ðiều này hoàn toàn phù hợp nội dung của Hiệp ước 1985. Năm 1998, trong Tuyên bố chung của Thủ tướng Chính phủ hai nước nhân dịp Thủ tướng Cămpuchia Ung Huốt thăm Việt Nam, hai bên khẳng định tiếp tục tôn trọng các Hiệp ước, Hiệp định về biên giới đã ký, trong đó có Hiệp ước 1985. Hai bên đều có nhu cầu tiếp tục khẳng định giá trị của Hiệp ước 1985 trước những luận điệu chia rẽ đoàn kết giữa hai dân tộc. Hai bên cùng chia sẻ mục tiêu chung sớm hoàn thành công tác phân giới cắm mốc, xây dựng một đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định và hợp tác phát triển giữa hai nước.

Trong tình hình đó, việc sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985 là yêu cầu khách quan, phù hợp luật pháp và tập quán quốc tế, phù hợp mối quan hệ láng giềng hữu nghị Việt Nam - Campuchia và nguyện vọng của chính quyền và nhân dân hai nước.

Từ năm 1999, đàm phán đã được nối lại trong khuôn khổ Ủy ban liên hợp. Ðàm phán thật sự đi vào thực chất sau chuyến thăm Cămpuchia của Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh tháng 3-2005 và đạt được kết quả là việc hai Thủ tướng ký Hiệp ước bổ sung ngày 10-10-2005 tại Hà Nội.

Nội dung Hiệp ước bổ sung
Hiệp ước bổ sung có phần mở đầu và 6 Ðiều, bổ sung Hiệp ước 1985 một số nội dung chính như sau:

1- Khẳng định giá trị của Hiệp ước 1985, coi Hiệp ước này chỉ là Hiệp ước bổ sung của Hiệp ước 1985, Ðiều III, mục 4 và điều IV, mục 1 khẳng định quyết tâm của hai bên "sớm kết thúc tiến trình phân giới và cắm mốc" và quy định hai bên thông qua kế hoạch tổng thể về phân giới cắm mốc trước cuối năm 2005, phấn đấu hoàn thành phân giới cắm mốc trước tháng 12-2008. Ðây là một thắng lợi lớn của hai nước. Lần đầu tiên hai bên đã đặt ra mục tiêu cụ thể với một quyết tâm cao. Với thỏa thuận này, hai bên sẽ sớm nối lại tiến trình phân giới cắm mốc đã bị đứt quãng 17 năm qua.

2- Áp dụng các nguyên tắc và thực tiễn quốc tế về biên giới theo sông, suối để hoạch định đường biên giới sông, suối trên toàn tuyến biên giới đất liền giữa hai nước:

- Ðối với những đoạn sông, suối biên giới tàu thuyền không đi lại được, đường biên giới đi theo trung tuyến của dòng chảy chính.

- Ðối với những đoạn sông, suối biên giới tàu thuyền đi lại được, đường biên giới đi theo trung tuyến của luồng chính tàu thuyền đi lại được.

Việc ghi nhận nguyên tắc nêu trên để giải quyết biên giới theo sông suối về lâu dài có lợi cho cả hai bên, tháo gỡ những bất hợp lý trong sử dụng nguồn nước. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi và sự ổn định của nhân dân hai bên sông, tránh các thay đổi lớn, nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, hai bên đã thống nhất ghi vào Hiệp ước bổ sung "Trong trường hợp nảy sinh khó khăn trong việc áp dụng các quy định nêu trên, hai bên sẽ trao đổi hữu nghị nhằm tìm ra một giải pháp mà hai bên có thể chấp nhận được".

3- Hai bên đồng ý giải quyết sáu điểm mới thoả thuận tạm thời trong Hiệp ước 1985. Ba khu vực (khu vực 1 thuộc tỉnh Kon Tum giáp với tỉnh Ratanakiri, khu vực 2 thuộc tỉnh Gia Lai giáp với tỉnh Ratanakiri, khu vực 3 thuộc tỉnh Ðác Lắc giáp với tỉnh Mondunkiri) đều có chung đặc điểm là những khu vực rừng rậm, núi cao, không thể hiện địa hình và tiếp biên không khớp trên bản đồ Bonne đính kèm Hiệp ước 1985; không có dân sinh sống ở hai bên đường biên giới, đều là các khu vực bỏ trắng. Sau khi khảo sát thực địa, hai bên đã thống nhất điều chỉnh biên giới trong các khu vực này căn cứ vào các yếu tố địa hình. Ba khu vực khác giữa tỉnh An Giang và tỉnh Kầnđan, lâu nay hoặc do Việt Nam hoặc do Campuchia quản lý, nhưng lại chưa được thể hiện trên bản đồ Hiệp ước 1985. Hai bên đồng ý điều chỉnh cho phù hợp với thực tế quản lý.

4- Hai bên thống nhất giao cho Ủy ban liên hợp về biên giới những nhiệm vụ sau: Xây dựng kế hoạch tổng thể nhằm thực hiện lộ trình phân giới và cắm mốc đường biên giới chung trước cuối năm 2005; Phân giới, cắm mốc toàn bộ đường biên giới trên đất liền Việt Nam - Campuchia trên cơ sở Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985 và Hiệp ước Bổ sung; Xây dựng bản đồ đường biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia; Soạn thảo Nghị định thư về phân giới, cắm mốc đường biên giới trên đất liền giữa hai nước.

Ý nghĩa của Hiệp ước bổ sung
Hiệp ước bổ sung về biên giới Việt Nam - Campuchia là một thắng lợi chung của cả hai nước. Ý nghĩa lớn nhất của Hiệp ước bổ sung là hai bên cùng tái khẳng định giá trị hiệu lực của Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985, nối lại tiến trình phân giới cắm mốc, phấn đấu hoàn thành công việc này vào năm 2008, nhằm xây dựng đường biên giới hữu nghị, hoà bình, ổn định và hợp tác cùng phát triển giữa hai dân tộc.

Hiệp ước bổ sung điều chỉnh 6 điểm và biên giới theo sông, suối là hoàn toàn phù hợp với hai nguyên tắc cơ bản đã nêu trong Hiệp ước nguyên tắc 1983, được khẳng định trong Hiệp ước 1985, và Hiệp định quy chế biên giới 1983.

Cùng với Hiệp ước năm 1985, Hiệp ước bổ sung một lần nữa thể hiện rõ quyết tâm của hai Nhà nước Việt Nam và Campuchia trong việc giải quyết bằng thương lượng hòa bình các vấn đề tồn đọng về biên giới, lãnh thổ giữa hai nước. Việc ký Hiệp ước bổ sung đã một lần nữa khẳng định giá trị pháp lý của các Hiệp ước, Hiệp định biên giới mà hai nước đã ký trong những năm 80 của thế kỷ trước; đáp ứng mối quan tâm của chính quyền và nhân dân các địa phương hai bên biên giới.

Biên giới lãnh thổ là thiêng liêng đối với mỗi quốc gia. Nội dung Hiệp ước bổ sung đã đáp ứng mối quan tâm cũng như lợi ích chung của cả hai nước. Việc ký Hiệp ước bổ sung về biên giới và trao đổi các văn kiện phê chuẩn Hiệp ước đã thực sự đưa Hiệp ước vào đời sống chính trị của hai nước. Ðây là một thắng lợi của hai nước Việt Nam-Cămpuchia, tiếp tục nâng quan hệ Việt Nam và Cămpuchia lên tầm cao mới, thể hiện phương châm "láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài" mà Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh và Quốc vương Sihamoni đã thoả thuận tháng 3-2005.

...................................................................................NGUYỄN DY NIÊN
.................................................................................Bộ trưởng Ngoại giao


Ảnh gốc Hiệp ước bổ sung?













VIDEO: QUÁ TRÌNH PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI TRÊN BỘ VIỆT NAM - CĂM-PU-CHIA

http://vtv.vn/video/nui-song-bo-coi-qua-trinh-phan-dinh-bien-gioi-viet-nam-campuchia-215925.htm


******


Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 24.04.2017, sửa lần 3
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 19.08.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

ĐƯỜNG BIÊN GIỚI TRÊN ĐẤT LIỀN GIỮA VIỆT NAM VÀ CĂMPUCHIA





Đường biên giới

Đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Căm-pu-chia đã được hoạch định trong Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia Việt Nam - Cam-pu-chia năm 1985 và Hiệp ước bổ sung năm 2005, đi từ ngã ba biên giới Việt Nam-Lào-Căm-pu-chia (ở tỉnh Kon Tum) đến điểm mút của đường biên giới ngay trên bờ biển, tiếp giáp giữa tỉnh Kiên Giang và tỉnh Căm-pốt, chiều dài tổng cộng khoảng 1.137 km (đo trên bản đồ đính kèm Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985), vắt qua 10 tỉnh biên giới của Việt Nam là: Kiên Giang (48 km); An Giang (96 km); Đồng Tháp (49 km); Long An (136 km); Tây Ninh (220 km); Bình Phước (210 km); Đắc Nông (120 km); Đắc Lắc (73 km); Gia Lai 90 km và Kon Tum (95 km).

Đường biên giới có 90 điểm chuyển hướng, 18 điểm giao cắt thẳng, 24 điểm cao xác định, 12 đỉnh núi, 67 đoạn kẻ thẳng (tổng chiều dài khoảng 330 ki-lô-mét), 34 điểm cắt khe hoặc cắt sông suối, 16 điểm gặp bờ sông suối, 4 điểm gặp hợp lưu hoặc ngã ba, và một số điểm đặc trưng khác.

Nhìn chung, đường biên giới đất liền Việt Nam-Căm-pu-chia chủ yếu đi qua hai dạng địa hình đặc trưng là đồi núi và đồng bằng châu thổ. Đoạn biên giới thuộc các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Bình Phước và một phần tỉnh Tây Ninh chạy qua địa hình đồi núi có độ cao trung bình từ 100 mét đến 1.400 mét, một số đoạn biên giới đi theo dãy núi cao, một số đoạn biên giới cắt ngang qua rừng rậm nhiệt đới tập trung ở khu vực biên giới tiếp giáp ngã ba Đông Dương, một số đoạn là thẳng tắp, kéo dài hàng chục ki-lô-mét cắt qua rừng hoặc địa hình bất kỳ. Từ phía Nam tỉnh Tây Ninh qua các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang, đường biên giới đi ngoằn ngoèo qua địa hình khá bằng phẳng gồm những sông rạch, đồng ruộng, sình lầy, có những đoạn vào mùa mưa nước ngập mênh mông, không phân biệt được đâu là đường biên giới trên mặt đất, một số đoạn, đường biên giới chạy theo đường thẳng ngang qua các ruộng nước và đầm lầy.

Trong khu vực biên giới đất liền Việt Nam-Căm-pu-chia, ở phía Việt Nam có 101 xã, phường biên giới.


Hệ thống cửa khẩu quốc tế

Đến thời điểm tháng 5-2006, theo Điều 12 của Hiệp định về quy chế biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia ký ngày 20-7-1983 và những thoả thuận của hai bên trong thời gian gần đây, hai nước đã mở 10 cửa khẩu trên đường biên giới, gồm 6 cửa khẩu quốc gia và 3 cửa khẩu quốc tế, trong đó, cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh (Gia Lai)-Oyadao (Ratanakiri) được khai trương vào ngày 15-02-2007, là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế trong khu vực biên giới giữa hai nước phát triển trên cơ sở khai thác tiềm năng và thế mạnh của mỗi địa phương. Cặp cửa khẩu này còn góp phần thúc đẩy cho sự phát triển của 3 nước trong Khu vực Tam giác Campuchia-Lào-Việt Nam; gắn chặt sự đoàn kết giữa các dân tộc.

Đáp ứng nhu cầu giao lưu hợp tác qua biên giới của cả hai nước, Việt Nam và Căm-pu-chia tiếp tục xem xét mở mới và nâng cấp một số cửa khẩu. Ngoài các cửa khẩu quốc tế và cửa khẩu quốc gia (cửa khẩu chính), còn có các cửa khẩu phụ (tiểu ngạch) do các địa phương hai bên mở phục vụ cho việc qua lại của cư dân hai bên biên giới.

Cửa khẩu quốc tế:

(1) Lệ Thanh (Gia Lai) -Andong Pech
(2) Hoa Lư (Bình Phước) - Trapeang Sre
(3) Xa Mát (Tây Ninh) - Trapeang Phlong Pir
(4) Mộc Bài (Tây Ninh) - Bavet
(5) Bình Hiệp (Long An) - BrâyVo
(6) Thường Phước (Đồng Tháp) - Kaoh Roka
(7) Dinh Bà (Đồng Tháp) - Bon Tia Chak Cray
(8) Vĩnh Xương (An Giang / Sông Tiền) - Khaorm Samnor
(9) Xuân Tô Tịnh Biên (An Giang) - Phnom Den
(10) Xà Xía (Kiên Giang) - Lok

Cửa khẩu quốc gia:

(1) Bù Drang (huyện Đắk Rlấp, tỉnh Đắk Nông)
(2) Phước Tân (huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh)
(3) Khánh Bình (huyện An Phú, tỉnh An Giang)

Tính đến 31/3/2011, hai nước Việt Nam – Căm-pu-chia đã mở 47 cặp cửa khẩu, trong đó có 10 cặp cửa khẩu quốc tế, 12 cặp cửa khẩu chính và 25 cặp cửa khẩu phụ:

Cửa khẩu quốc tế:

(1) Lệ Thanh (Gia Lai) - An Đông Pếch (Ra-ta-na-ki-ri)
(2) Hoa Lư (Bình Phước) - Trapaing Sre (Ca-ra-chê)
(3) Xa Mát (Tây Ninh) - Trapeang Phlong (Công-pông Chàm)
(4) Mộc Bài (Tây Ninh) - Bà Vét (Svey-riêng)
(5) Bình Hiệp (Long An) - Prây Vo (Svey-riêng)
(6) Dinh Bà (Đồng Tháp) - Bon Tia Chắc Crây (Prây-veng)
(7) Thường Phước (Đồng Tháp) - Côk Rô Ca (Prây-veng)
(8) Sông Tiền (An Giang) - Ca Om Sam No (Can-đan)
(9) Tịnh Biên (An Giang) - Phơ Nông Đơn (Tà-keo)
(10) Hà Tiên (Kiên Giang) - Prek Chak (Căm-pốt)

Cửa khẩu chính:

(1) Đắc Ruê (Đắk Lắk) - Chi Miết (Môn-đun-ki-ri)
(2) Bu Prăng (Đắk Nông) - Đăk Đăm (Môn-đun-ki-ri)
(3) Đắk Peur (Đắk Nông) - Bu Sara (Môn-đun-ki-ri)
(4) Hoàng Diệu (Bình Phước) - La Pakhê (Môn-đun-ki-ri)
(5) Cà Tum (Tây Ninh) - Chăn Mun (Công-pông Chàm)
(6) Tống Lê Chân (Tây Ninh) - Sa Tum (Công-pông Chàm)
(7) Chàng Riệc (Tây Ninh) - Đa (Công-pông Chàm)
(8) Phước Tân (Tây Ninh) - Bố Môn (Svey-riêng)
(9) Mỹ Quý Tây (Long An) - Xòm Rông (Svey-riêng)
(10) Khánh Bình (An Giang) - Chrây Thum (Can-đan)
(11) Vĩnh Hội Đông (An Giang) - Kom Pung Kroxăng (Tà-keo)
(12) Giang Thành (Kiên Giang) - Ton Hon (Căm-Pốt)

Cửa khẩu phụ:

(1) Tân Tiến (Bình Phước) - Chay Khleng (Công-pông Chàm)
(2) Tà Vát (Bình Phước) - Tôn Lé Cham (Công-pông Chàm)
(3) Vạc Sa (Tây Ninh) - Phum Soty (Công-pông Chàm)
(4) Cây Gõ (Tây Ninh) - Bos Chếk (Công-pông Chàm)
(5) Tân Phú (Tây Ninh) - Kọ (Công-pông Chàm)
(6) Vàm Trảng Trâu (Tây Ninh) - Đôn (Svey-riêng)
(7) Tà Nông (Tây Ninh) - Kom Pông Th’Nuông (Svey-riêng)
(8) Long Phước (Tây Ninh) - Tà Y (Svey-Riêng)
(9) Long Thuận (Tây Ninh) - Kompông S’Piên (Svey-riêng)
(10) Phước Chỉ (Tây Ninh) - Brasát (Svey-riêng)
(11) Tân Nam (Tây Ninh) - Mơn Chây (Prây-veng)
(12) Long Khốt (Long An) - Xòm Dông (Svey-riêng)
(13) Vàm Đồn (Long An) - Chòm Loong (Svey-riêng)
(14) Kênh (Long An) - Cơ Rúa (Svey-riêng)
(15) Sở Thượng (Đồng Tháp) - Koos Xâm Pư (Prây-veng)
(16) Mộc Rá (Đồng Tháp) - Koos Xâm Pư (Prây-veng)
(17) Á Đôn (Đồng Tháp) - Gò Đồn (Prây-veng)
(18) Bình Phú (Đồng Tháp) - Bon Tia Chăc Crây (Prây-veng)
(19) Thông Bình (Đồng Tháp) - Pèm Tia (Prây-veng)
(20) Bắc Đai (An Giang) - Bắc Đai (Tà-keo)
(21) Sa Kỳ (Kiên Giang) - Cok Com Bô (Căm-pốt)
(22) Vàm Hàng (Kiên Giang) - Prêy Tho Mo Kol (Căm-pốt)
(23) Rạch Gỗ (Kiên Giang) - Đơm Sơ Ngau (Căm-pốt)
(24) Đầm Chít (Kiên Giang) - Prêy Tun Lê (Căm-pốt)
(25) Chợ Đình (Kiên Giang) - Thnốt Choong Srong (Căm-pốt)
























































******

VIDEO: HỆ THỐNG CỘT MỐC BIÊN GIỚI TRÊN ĐẤT LIỀN VIỆT NAM - CĂMPUCHIA


http://vtv4.vtv.vn/videodetail/35780


*****


Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 17.05.2017, sửa lần 5
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
vulong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 1863

Bài gửigửi: 20.08.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Cột mới (chưa mốc) big grin
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 26.08.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

LỊCH SỬ THƯƠNG MẠI BIÊN GIỚI VIỆT NAM - CĂMPUCHIA

Lịch sử phát triển thương mại biên giới Việt Nam – Cămpuchia đã có từ rất lâu do nhu cầu giao lưu, trao đổi hàng hóa. Trước năm 1945, Nam kỳ là xứ thuộc địa, còn Cămpuchia là xứ bảo hộ thuộc Pháp nên việc đi lại, giao thương mua bán hai bên khá dễ dàng. Sau 1954, người Pháp rút đi, chính quyền hai bên thiết lập các cửa khẩu và các trạm kiểm soát. Trên tuyến biên giới đất liền đã hình thành một số tụ điểm mua bán, lâu dần phát sinh hàng quán với nhiều thứ hàng hóa trao đổi, quy mô cũng tăng dần, mà người dân thường gọi là “chợ trời” trên các vùng biên giới giữa hai quốc gia.

Sông Tiền là tuyến giao thông thủy quan trọng nối thủ đô Phnômpênh – Cămpuchia ra biển Đông, con đường hàng hải chiến lược này đã hình thành từ hàng chục thế kỷ trước khi người Pháp vào Đông Dương, là một bộ phận quan trọng hình thành thương cảng Óc-eo của Vương Quốc cổ Phù Nam, là một thủy đạo chiến lược trong chiến tranh triền miên xưa kia giữa Chân Lạp với các quốc gia khác trong vùng cho đến khi người Châu Âu đặt chân lên đất Cao Miên. Ngoài sông Tiền trên phần đất Đồng Tháp, có hai tuyến đường thủy quan trọng nữa đi từ đất Campuchia vào Việt Nam, là sông Cao Sampu đổ vào sông Sở Thượng và sông Tam Ly, từ Trà-béc đổ vào Rạch Cỏ - Thông Bình. Hai nơi tiếp giáp trên đã là những vị trí quan yếu, kể từ lúc chúa Nguyễn xác lập quyền thống trị vùng cực Nam.

Các thành đất Hồng Ngự, Thông Bình được thiết lập thời Nguyễn để lo việc biên phòng. Về sau này các vùng tiếp giáp trên trở thành những đầu mối tiếp giáp, các cửa khẩu thuận lợi cho việc giao thông, thương mại cả 2 bên. Về phía nam sông Tiền phần đất thuộc tỉnh An Giang có 2 địa điểm quan trọng thường được nhắc đến là Vĩnh Xương bên bờ sông Tiền và Khánh Bình bên sông Bình Di. Vĩnh Xương nay là cửa khẩu quốc tế, Khánh Bình từng được xem là một trong chuỗi các chợ trời biên giới trước 1975 buôn bán cũng khá tấp nập.

Việc giao thương qua lại ở vùng biên giới là nhu cầu của cả hai bên và đã có từ lâu đời, phát triển từ thấp đến cao, tuy không phải lúc nào cũng suông sẻ, thuận lợi.

Tác giả Lê Hương trong cuốn sách “Chợ trời biên giới Việt Nam – Cao Miên” xuất bản ở Sài Gòn năm 1970 cho rằng, lịch sử chợ trời biên giới có từ năm 1955. Trước năm 1955, việc đi lại giữa hai bên không bị ngăn cản gì. Người Việt sang Cămpuchia cũng như người miền Nam ra Trung-Việt, Bắc-Việt. Cột mốc biên giới chỉ là cây trụ xây bằng gạch cắm cạnh quốc lộ. Cả hai bên không có đồn ải, hàng quán gì. Người dân ở vùng biên giới như ở Hà Tiên muốn lên Sài Gòn thì đi qua Nam Vang vòng xuống, còn dễ hơn là đi ở trong nước để lên Sài Gòn. Từ năm 1955 (sau khi ký kết Hiệp định Geneve 1954, Pháp rút khỏi Việt Nam), khi việc qua lại biên giới hai nước được kiểm sóat chặt chẽ so với trước, thì việc buôn bán chuyển qua hình thức chạy hàng lậu, mà địa điểm trao đổi là vùng biên. Thường thì ở những nơi mà chính quyền dễ dãi, những người buôn bán do quen biết có thể dễ dàng qua lại biên giới, mà chẳng cần giấy tờ. Lúc đầu chỉ là những điểm tụ họp nhỏ ven bờ ruộng, ven đường mòn, lâu dần phát triển thành chợ với các dãy hàng quán hình thành, và chợ trời cũng có từ đó.

Lê Hương mô tả khá kỹ 12 tuyến đường bộ xuyên biên giới Việt Nam - Cămpuchia, từ những tuyến đường đó hình thành một loạt các chợ trời, trong đó, 2 chợ có quy mô lớn là Gò Dầu Hạ (Tây Ninh), Thường Phước (Kiến Phong) và 4 chợ trời nhỏ hơn là chợ Hà Tiên, chợ Tịnh Biên, chợ Sở Thượng, và chợ Phước Tân. Ở An Giang, Lê Hương cũng kể thêm hai chợ trời nữa ở Bình Di và Khánh Bình.

Ở chợ Hà Tiên, những mặt hàng buôn bán nhiều nhất vào thời đó là hàng tiêu dùng thông thường như xà bông, thuốc hút, pin đèn, hàng nông sản đậu, mè, gia súc trâu bò, heo, gà vịt, hàng thổ sản như cau khô, vôi đỏ, tiêu sọ, rau câu, đường thốt nốt.

Trước năm 1970, khu vực tấp nập ở đất Hồng Ngự là chợ trời Thường Phước. Chợ nằm trên đất Cao Miên (từ dùng của Lê Hương, cũng là tên gọi thông dụng thời ấy, ngày nay tên gọi là Cămpuchia) do người Cao Miên lập nên để buôn bán với Việt Nam, vì hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu ở Cao Miên thời ấy tự do hơn so với Nam Việt Nam. Nơi đây buôn bán đủ loại; hàng từ Nam Vang mang đến một phần là hàng nội hóa của Cao Miên, như lụa Mỹ A (1 quần 2 thước giá 1.200đ, 1.400đ rất được ưa chuộng), dép cao su, thuốc điếu Ara, lạp sưởng Nam Vang, cá khô Biển Hồ. Hàng của Pháp có rượu Martel, Champagne, Dubonet, nước suối Vichy, đồ hộp, bơ Bretel, cá mòi Algerie, xì dầu Maggi, Chocolat, Fromage; các lọai thuốc uống, thuốc chính hiệu không được nhập cảng ở Việt Nam. Hàng có nguồn gốc từ Trung Quốc được ưa thích nhất như bình thủy, gào mên, chén dĩa, bút máy, đèn pin, hột quẹt, đá lửa các loại dầu gíó, dầu cù là. Hàng hóa đủ thứ, kể cả các loại thuốc uống, thuốc mập, đến cả dịch vụ đổi tiền; nói chung là tất cả các hàng hóa sinh lời cho các bên giao dịch, đặc biệt là những thứ mà Sài Gòn khan hiếm, hoặc không có. Nơi đây cũng từng có xưởng cưa của người Hoa, vựa trái cây do người Việt dựng lên làm ăn phát đạt một thời.

Một ngôi chợ trời khác thuộc đất Hồng Ngự, nhỏ hơn chợ Thường Phước, được gọi là chợ Sở Thượng, hay chợ Cái Sách. Những hàng hóa mang buôn bán trao đổi nơi đây phần lớn là các loại nông sản: heo, đậu, bắp, hạt sen khô, gạo từ Cao Miên bán sang.

Đến năm 1967, Chính phủ Cao Miên ra lệnh dẹp bỏ chợ trời. Các chợ này ngưng hoạt động một lúc, nhưng không lâu sau đó, các tay buôn xoay qua hướng làm lậu, không dựng lều quán như trước. Dần dà, do nhu cầu thông thương, các chợ lại hoạt động trở lại, chỉ đến khi chiến sự bùng nổ ác liệt trên vùng biên giới, thì các chợ trời này mới thực sự chấm dứt hoạt động.
Ở chợ trời Gò Dầu Hạ còn có các lọai thuốc cao đơn hoàn tán, có cả cần sa á phiện, sách báo Việt ngữ, sách từ Trung Quốc tuyên truyền về về tư tưởng Mao Trạch Đông cho người Hoa, những mặt hàng dược như thuốc uống. Thuốc mập, thuốc chích, thuốc trị ung thư là những mặt hàng thời thượng lúc bấy giờ ở chợ này. Trong tài liệu này, Lê Hương còn ghi nhận, vào tháng 9 năm 1967 một đồng riên Cămpuchia (riel) ăn 2,6 đồng bạc ta (tiền Sài Gòn).

Với chợ trời Tịnh Biên, Lê Hương ghi nhận xuất hiện loại kinh sách chữ Khơmer được in ở Nam Vang, mà nguyên nhân là do thời Pháp ở những vùng có người Khơmer đều có lớp dạy chữ Miên và chữ Pháp, sang thời chính phủ Ngô Đình Diệm, ở miền Nam không in kinh sách bằng tiếng Khơmer. Những người Khơmer không có kinh sách để đọc và tình trạng đó kéo dài đã hàng chục năm.

........





Mặt hàng buôn bán làm cho chợ trời Tịnh Biên mang sắc thái riêng so các chợ khác biệt là trâu, bò, heo, gà. Nói trâu bò là nói chung chung, chứ chủ yếu là bò. Địa điểm buôn bán thành danh, thật ra cũng không phải tận Tịnh Biên ngày nay, mà ở chân núi Sam, tỉnh Châu Đốc.

Tỉnh Châu Đốc cho phép chợ mở mỗi tháng 3 lần vào các ngày 10, 20 và 30, chính thức hoạt động từ đầu năm 1953. Tài liệu ghi nhận thời chính quyền Ngô Đình Diệm, các quận trưởng ở vùng biên giới thường phát hành giấy “chứng thư nguyên xứ” cấp cho những người buôn bán bò, xác nhận rằng, con vật ấy được nuôi tại Việt Nam (có thể là để tránh thuế). Bò từ Cămpuchia được tư thương lùa sang, khi đưa vào chợ phiên, sau khi trình giấy chứng thư nguyên xứ ấy cho nhân viên quản lý, thì được đóng dấu sắt nung vào mông, bỗng trở thành bò Việt Nam, và được phép chuyên chở về Sài Gòn. Bên Cămpuchia, người ta nuôi bò không phải để kéo cày như ở Việt Nam, mà chủ yếu để giết thịt. Loại bò này to lớn, béo mập hơn bò Việt Nam, nhìn sơ qua là biết ngay nguồn gốc xuất xứ, nhưng khi đã có dấu sắt nung trên mông, thì nghiễm nhiên trở thành bò Việt Nam, và được dân Sài Gòn sành ăn thích thú, vì thịt của nó rất ngon.

Giấy chứng thư nguyên xứ ban đầu cấp cho bò, nhưng dần dà được vận dụng cấp cả cho cá tươi từ Biển Hồ về (nguồn gốc ra đời loại giấy này, có lẽ từ lệnh của chính phủ Cămpuchia cấm bán heo, bò, cá Biển Hồ sang Nam Việt Nam). Giấy này được cấp chủ yếu cho người quen của các quan chức địa phương, nhưng họ "để lại" cho những người buôn bán cá.





Cửa khẩu Khánh Bình bên sông Bình Di nổi tiếng có lẽ là do việc buôn bán heo, gà. Tài liệu kể lại, ở đầu xã Khánh Bình, cạnh bờ sông Bình Di, là đường biên giới tự nhiên giữa hai nước, có chợ Long Bình, là một chợ xã, nhưng nhộn nhịp sầm uất, không thua gì chợ quận.

Chính phủ Cămpuchia cấm xuất heo sang Việt Nam, trường hợp bị bắt sẽ phạt số tiền gấp 4-5 lần trị giá con vật. Số tiền này trích thưởng cho nhân viên thuế quan 40-50%. Những người buôn bán đối phó bằng cách cho một lượng nhỏ "tình nguyện bị bắt" và cùng các nhân viên quan thuế đến văn phòng nộp phạt. Một lượng lớn khác ém sẳn trước đó, khi tàu của đội kiểm tra đi rồi, thì họ đổ tràn sang phía biên giới Việt Nam. Những nhà buôn này sẽ hùn tiền lại để bù đắp cho số tiền mất mát do bị phạt.

Chợ trời Tịnh Biên đựơc ghi nhận là một trong 6 chợ trời lớn nhất trên vùng biên giới Việt Nam - Cămpuchia. Sách này mô tả rằng: “Ngày xưa (có lẻ trước năm 1954) con đò Tịnh Biên bận rộn vì những chiếc xe Sàì Gòn, Châu Đốc đi Hà Tiên và Nam Vang hàng ngày. Từ khi bên Việt Nam có quốc lộ 17 từ Rạch Giá đi Hà Tiên, nên đường số 2 bớt xe rất nhiều, mỗi ngày chỉ còn một chuyến xe chở khách từ Vĩnh Bình đi Nam Vang và hôm sau trở về. Trục giao thông này biến thành nơi chạy hàng lậu giữa hai quốc gia, mà chợ trời cũng can dự một phần lớn. Khi xe này đổi đường khác, bến Tịnh Biên hầu như không còn xe nào qua lại nữa. Họa hoằn mới có một chiếc xe mà chủ nhân cao hứng đi chơi biên giới, hoặc có việc khẩn phải đi sang đất bạn với đủ giấy tờ hợp lệ, ngoài ra thì con đò kéo bằng dây và chống bằng sào chỉ chở bạn hàng chợ trời, chở xe lôi ba bánh mà thôi”. Một nguyên nhân khác, có thể là do tình trạng thu thuế cao lên và các hoạt động tội phạm làm mất an ninh. An toàn suy giảm, các nhà buôn bán không còn muốn lai vãng tới.

Trong khi chợ trời Tịnh Biên suy giảm thì hàng hóa ở Châu Đốc, An Giang vẫn dồi dào, có nghĩa rằng, đã có nhiều ngõ khác bù vào.

Không có tư liệu thêm nào ghi nhận tình hình thương mại biên giới trong những năm 1970-1975, nhưng việc trao đổi buôn bán qua biên giới Việt Nam- Cămpuchia chắc chắn là không bao giờ ngưng, kể cả những năm chiến tranh khốc liệt nhất ở Nam Việt Nam cũng như khi lan sang Cămpuchia. Giai đoạn ngưng trệ là thời kỳ Polpot nắm quyền và chiến sự lan tràn trên vùng biên giới 2 nước. Sau năm 1979, buôn bán qua biên giới có lẽ phục hồi và sau đó là giai đọan phát triển mạnh, khi mà ở Việt Nam vào lúc đó thiếu hụt nghiêm trọng hàng hóa tiêu dùng, còn Cămpuchia là “thánh địa” cho hàng hóa từ Thái Lan, Hồng Kông, Singapore tự do đổ vào, để chuyển tiếp sang Việt Nam qua biên giới.
Thời kỳ đó, Châu Đốc có lẽ là một trong những địa danh được nhiều người quan tâm, với mong muốn tìm kiếm những thứ mà trong nước không thể kiếm được. Từ vải vóc, quần áo, son phấn, cho đến văn phòng phẩm, xe máy và cả ô tô. Các huyện vùng biên hầu như đều có lợi ích không nhỏ trong trao đổi mua bán qua biên giới.

Từ sau năm 1993, có nhiều thay đổi diễn ra ở Cămpuchia. Cơ cấu chính trị thay đổi, khiến mối quan hệ kinh tế thương mại cũng có chút thay đổi. Tại Việt Nam, kinh tế cũng có nhiều thay đổi. Tình trạng khan hiếm hàng hóa không còn gay gắt như trước. Việc nhập lậu qua biên giới theo thời gian cũng giảm dần, không còn rầm rộ và công khai như trước. Khả năng kiểm soát của hải quan, các cơ quan ở các cửa khẩu cũng mạnh hơn trước, cho nên các huyện biên giới không còn sầm uất như trước. Vấn đề bây giờ không phải là mua hàng nước ngoài qua biên giới, mà là tính đến chuyện làm sao bán được hàng Việt Nam sang. Điều đó cũng phù hợp với những biến chuyển trong quan hệ chính trị của hai nước và tình hình nội tại ở mỗi nước.

Nhìn lại lịch sử phát triển đó có thể tóm tắt ở các điểm chính sau đây:

Nền kinh tế Cămpuchia ít chịu sự kiểm soát hơn so Việt Nam, trước năm 1975 cũng vậy, mà sau năm 1975 cũng vậy. Cămpuchia trong nhiều năm là điểm trung chuyển hàng hàng hóa của nước ngoài vào Việt Nam tiêu thụ ở Việt Nam. Biên giới lúc nào cũng có nhu cầu trao đổi, nhưng mức độ nhiều ít khác nhau, tùy theo tình hình trong nước của Việt Nam. Khi Việt Nam khan hiếm hàng hóa, thì hàng hóa từ Cămpuchia đổ vào rất mạnh, Việt Nam nhập khẩu từ Cămpuchia là chính. Khi hàng hóa Việt Nam dồi dào, thì hàng hóa lại chuyển ngược vào Campuchia qua cửa ngõ biên giới nhiều hơn.

Mậu dịch biên giới đơn giản, dễ dàng và thực hiện chủ yếu bởi mối quan hệ quen biết, nên nó trở thành hình thức thuận tiện cho trao đổi thương mại giữa hai quốc gia.

Sự phồn thịnh của khu vực biên giới từ nhiều năm trước là nhờ buôn lậu, mà chủ yếu là nhập lậu từ Cămpuchia. Buôn bán trên biên giới đã có lịch sử lâu đời, đã hình thành một mạng lưới các mối quan hệ trao đổi chằng chịt đan xen nhau.

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam thay đổi, sức sản xuất trong nước đang tăng lên, thì mối quan hệ và cấu trúc hình thành lâu nay thay đổi. Việt Nam chuyển từ nhập hàng sang xuất hàng, từ cần nhập hàng tiêu dùng qua biên giới sang bán hàng Việt Nam ở Cămpuchia. Cămpuchia trở thành nơi nhập hàng của Việt Nam cho nhu cầu trong nước và trung chuyển qua nước khác.

Những hàng hóa mà Cămpuchia bán sang, lúc đầu là các loại nông sản: heo, đậu, bắp, hạt sen khô (thời kỳ trước năm 1975) đến các loại hàng công nghiệp, hàng tiêu dùng: vải, thuốc lá, rượu, bia cho đến xe máy. Đại thể, tất cả những thứ hàng hóa mà ở Việt Nam khan hiếm, cấm nhập khẩu, đều được trao đổi mua bán mạnh trên vùng biên giới, tương tự như những gì đã diễn ra ở các chợ trời biên giới trong thời chiến tranh.
Từ sau năm 1993, khi chính sách mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam có kết quả, khả năng sản xuất hàng hóa trong nước của Việt Nam về cơ bản đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu thì tình trạng buôn bán “sôi động” trên tuyến biên giới đã giảm hẳn so với trước đó.

Đọc số liệu của hải quan Đồng Tháp cung cấp cho thấy: từ năm 1991 đến 1998, kim ngạch xuất khẩu qua biên giới là 6,4 triệu USD, thì xuất chính ngạch chỉ 0,794 triệu USD, còn lại là tiểu ngạch (5,6 triệu). Nhập khẩu 25 triệu USD thì phần chính ngạch 6 triệu USD, tiểu ngạch 19,1 triệu USD. Tổng số tiền thu hải quan trong 8 năm là 155 tỷ đồng, số thu giảm dần trong những năm về sau. Càng về những năm sau này, buôn bán qua cửa khẩu càng giảm sút, chợ búa hàng quán tiêu điều. Tỉnh Đồng Tháp muốn phát triển kinh tế vùng biên bằng cách lập các khu kinh tế cửa khẩu ở Dinh Bà, Thường Phước và Kế Sách (Sở Thượng), và xin chủ trương của Chính phủ. Buôn bán chỉ là một phần, cái chính là làm sao để có thể thu hút được đầu tư.

Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 26.08.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Trích dẫn:
vulong đã viết: Cột mới (chưa mốc) big grin


@vulong: Sợ là cột (mốc) này nằm trên biên giới Việt -Trung.

big grin
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
vulong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 1863

Bài gửigửi: 26.08.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Trích dẫn:
PhanHong đã viết:
Trích dẫn:
vulong đã viết: Cột mới (chưa mốc) big grin


@vulong: Sợ là cột (mốc) này nằm trên biên giới Việt -Trung.

big grin

Đúng rồi anh, nghe nói là còn 1 cột mốc 836(1) ở bên kia thác, nhưng phóng viên chưa có điều kiện sang đó để khảo sát thực địa big grin
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 27.08.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Trích dẫn:
Đúng rồi anh, nghe nói là còn 1 cột mốc 836(1) ở bên kia thác, nhưng phóng viên chưa có điều kiện sang đó để khảo sát thực địa big grin


1/ Vì đường biên giới ở đây đi giữa sông và thác, nên theo thông lệ quốc tế, lấy luồng chính làm đường phân giới.

Rõ ràng, đường này thay đổi theo mùa (mùa khô và mùa mưa).

Vậy nên, ở hai bên bờ, mỗi quốc gia dựng một cột mốc đánh dấu (giới hạn) đường biên để ghi nhận, cùng một vị trí mốc 836, có hai mốc (mốc đôi, hay mốc kép) là 836 (1) và 836 (2).

Mốc giới ở địa phận quốc gia nào thì do quốc gia đó xây dựng và quản lý.

Khi xây dựng, đội phân giới cắm mốc liên hợp sẽ cùng đo đạc kiểm tra tọa độ, để còn ghi vào hồ sơ mốc giới và đánh dấu trên bản đồ.

2/ Sang mốc 836 (1) dễ không mà. Ngồi quán nước, bảo "cò" nó dẫn sang, hết 100K. Nhưng chụp ảnh thì có thể phải xin phép lính biên phòng TQ đấy. Nhưng mà minek?

cool
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 29.08.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

NHỮNG TẤM ẢNH CHỤP Ở KHU VỰC BIÊN GIỚI VIỆT NAM - CĂMPUCHIA VÀ BIÊN GIỚI VIỆT - LÀO

Người Pháp sau khi chiếm Đông Dương đã bỏ nhiều tâm huyết nghiên cứu bán đảo này.

Những tấm ảnh dưới đây trích từ tác phẩm "Les Jungles Moi, Exploration et histoire des hinterlands moi du Cambodege, de la Cochinchine, d l'Annam et du Laos" xuất bản năm 1912 của Henri Maỉtre. Đầu đề ngắn gọn của tác phẩm này là "Les Jungles Moi", dịch theo từng con chữ là "Rừng rậm của người Mọi" - song dịch giả Lưu Đình Tuấn đã dịch một phần tác phẩm (phần III) ra tiếng Việt với đầu đề là "Rừng người Thượng" để tránh những hiểu lầm không đáng có (chữ "Mọi" ngày xưa rất "lành", được dùng khác với ý nghĩa có phần khinh bỉ như bây giờ).

Lý do không dịch hết toàn bộ tác phẩm, mà chỉ chọn dịch phần III là bởi, tác giả chính là ... một tên sĩ quan thực dân khét tiếng, đã từng chiến đấu một mất một còn với anh hùng Nơ Trang Lơng ở Tây Nguyên. Nơ Trang Lơng gọi "anh tác giả" là "thằng Hăng-ri Mết".

Tuy nhiên, bỏ qua yếu tố này, có thể coi Henri Maitre là một nhà dân tộc học, phong tục học, địa lý học, thậm chí là nhà văn.

Những tấm ảnh trong cuốn sách (thực ra, tác phẩm khá đồ sộ, nên gọi là "cuốn sách" xem chừng chưa đầy đủ, đúng mực) được phái bộ của Henri Maitre chụp trong ba cuộc thám sát Tây Nguyên, khi đoàn người cùng với xe bò chở đồ (có lúc phải huy động voi) và phu cáng khiêng võng trèo đèo lội suối hành quân qua khu vực biên giới Việt Nam - Cămpuchia và biên giới Việt - Lào ngày nay.

Để nói lên, người Pháp cực kỳ cẩn thận. Họ cử các nhà khoa học, nhà nghiên cứu tầm cỡ tìm hiểu cặn kẽ vấn đề trước khi công bố bản đồ iên quan đến đường biên giới.

Những ngọn núi, dòng sông, bản làng, phong tục tập quán... được mô tả thật chi tiết và kỹ lưỡng.

Trong quyển sách còn có gần năm chục hình minh họa, vẽ các dụng cụ lao động, kiến trúc nhà cửa, mái nhà, vũ khí... của các bộ tộc sống trên cao nguyên, nhưng không đưa vào đây.

Lục tìm các tấm ảnh "original" trên Internet nhưng không thấy, đành chụp lại một cách cẩu thả từ cuốn sách, với suy nghĩ, không dám động chạm đến vấn đề bản quyền tác giả của những tấm ảnh (cực kỳ) thú vị đó.














































































































































































































































































































Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7  Trang kế
Trang 2 trong tổng số 7 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser