vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - Cột mốc biên cương
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

Cột mốc biên cương
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 17.10.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

BẢN ĐỒ BIÊN GIỚI

Như đã biết, Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia Việt Nam - Lào (1977) quy định: Hai bên nhất trí lấy 48 mảnh bản đồ của Pháp tỷ lệ 1:100.000 của Nha địa dư Đông Dương (Service Géographique de l’Indochine) xuất bản năm 1954 (hoặc gần 1954 nhất) làm căn cứ chính để hoạch định đường biên giới giữa hai nước.

Theo tinh thần Hiệp ước bổ sung (1986), đường biên giới được sửa đổi, thể hiện trên 13 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25.000. Trong Hiệp định về Quy chế biên giới quốc gia Việt Nam - Lào (1990) có liệt kê các mảnh bản đồ biên giới Việt Nam - Lào tỷ lệ 1:25.000.

Từ năm 1995 đến 2003, hai bên phối hợp xây dựng bản đồ địa hình kỹ thuật số dựa trên công nghệ hiện đại về đường biên giới quóc gia tỷ lệ 1:50.000, gồm 63 mảnh. Sau khi được các cơ quan thẩm quyền của hai nước phê chuẩn, bộ bản đồ này trở thành tài liệu pháp lý, chính thức bổ sung vào các văn kiện pháp lý về biên giới giữa hai nước.

* * *

Năm 1983, Việt Nam và Cămpuchia thống nhất sử dụng 26 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100.000 của Nha Địa dư Đông Dương thông dụng trước năm 1954, hoặc gần năm 1954 nhất; và trên 40 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50.000 UTM của Mỹ sản xuất từ năm 1966 đến 1971, làm căn cứ để hoạch định đường biên giới quốc gia giữa hai nước. Bản đồ của Pháp liên quan nhiều đến các khu vực của Cămpuchia sát biên giới. Bản đồ của Mỹ, ngoài một số khu vực của Cămpuchia, còn liên quan nhiều đến những khu vực của Việt Nam sát biên giới.

Năm 1985, hai nước ký Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia.

Do một số mảnh bản đồ "thành lập dựa trên phép chiếu Bonne" của Pháp và một số mảnh bản đồ "thành lập dựa trên phép chiếu UTM" của Mỹ không thể khớp biên với nhau được, nên năm 2005, hai nước ký Hiệp ước bổ sung cho Hiệp ước 1985 để điều chỉnh biên giới tại một số xã thuộc các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông và An Giang.

Điều III của Hiệp ước bổ sung nêu rõ: Các chuyên gia kỹ thuật của mỗi Bên ký kết sẽ tự rà soát việc chuyển vẽ đường biên giới từ bản đồ Bonne tỷ lệ 1:100.000 sang bản đồ UTM tỷ lệ 1:50.000 đính kèm Hiệp ước hoạch định biên giới 1985. Vào cuối năm 2006, các chuyên gia kỹ thuật của mỗi Bên ký kết sẽ gặp nhau để đối chiếu kết quả của mình, và đề xuất giải pháp kỹ thuật lên Ủy ban liên hợp về biên giới để xem xét và thông qua. Đối với những khu vực mà hai bên không nhất trí được về kết quả đối chiếu cũng như giải pháp kỹ thuật thì đường biên giới tại các khu vực đó sẽ giữ nguyên như trên bản đồ Bonne tỷ lệ 1:100.000.

Tháng 6-2010, trong phiên họp giữa Chủ tịch Ủy ban liên hợp về phân giới, cắm mốc Việt Nam - Cămpuchia, để đảm bảo tính khách quan, khoa học và chính xác, hai bên thỏa thuận sẽ tổ chức đấu thầu việc thành lập bộ bản đồ địa hình biên giới.

Tháng 12-2010, tại Phnôm Pênh, hai bên đã mở thầu quốc tế. Tham dự buổi lễ mở thầu có đại diện các nhà thầu quốc tế gồm: BlomInfo AS (Đan Mạch), IGN (Pháp), Kokusai (Nhật Bản), liên danh nhà thầu Samboo - Panasia - SaeHan (Hàn Quốc), và liên danh nhà thầu Pasco - FinnMap (Nhật Bản và Phần Lan).

Kết quả là, vào tháng 1-2011, công ty BlomInfo A/S (Đan Mạch) là nhà thầu đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật với giá bỏ thầu thấp nhất, do vậy đã trúng thầu.

Dự kiến, một bản đồ biên giới tỷ lệ 1:25.000 sẽ được hoàn thành vào tháng 7-2012, và sẽ được đính kèm Nghị định thư phân giới cắm mốc, (theo kế hoạch, do Thủ tướng hai nước ký vào cuối năm 2012).

* * *

Bản đồ biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc phức tạp hơn, có nhiều điều dích dắc, tế nhị hơn. Lý do là bởi, một thời gian dài, tất cả các bản đồ của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (trong đó có bản đồ các khu vực biên giới Việt- Trung) khi thành lập đều căn cứ trên mạng lưới tọa độ cơ sở... do Trung Quốc giúp Việt Nam xây dựng. Hồi đó chưa có các thiết bị và công nghệ tiên tiến nên đo vẽ thủ công là phổ biến.

Chưa kể, một số chuyện "khó nói" mà cuốn Sách trắng của Nhà xuất bản Sự thật không đề cập đến, ví dụ, hồi kháng chiến chống Pháp, đã có lần ta cùng bạn chủ động di dời cột mốc vào bên trong lãnh thổ Việt Nam vài ba cây số để... đánh lừa quân Pháp, ngăn chặn, không cho chúng đem quân càn quét tới các căn cứ của Việt Minh ở sát vùng biên giới Việt - Trung, nhưng rồi sau đó, hai bên quên bẵng đi mất, chẳng dịch chuyển các cột mốc trở lại vị trí ban đầu.

Hoặc có hồi, sau ngày hòa bình lập lại, ở miền Bắc, bạn sốt sắng giúp ta làm nhiều tuyến đường giao thông (lực lượng thi công chủ yếu là quân đội) dọc theo biên giới để hai bên dễ tuần tra, canh gác, ứng phó không cho Mỹ-ngụy thả biệt kích xuống các khu vực này. Sau đó, một số lán trại không ai dỡ đi, để lâu ngày, bị biến thành nơi trú chân của các quân nhân Trung Quốc. Họ lấy vợ, sinh con đẻ cái, cư trú trên đất Việt Nam, nhưng không nhập quốc tịch Việt Nam.

Đây cũng là một nguyên nhân khiến Việt Nam không muốn dùng các bản đồ được vẽ trong thời kỳ Việt Nam Dân chủ cộng hòa làm căn cứ để hoạch định đường biên giới với Trung Quốc, mà muốn dùng bản đồ đính kèm trong các Công ước Pháp - Thanh 1887 và 1895.

* * *

Để có các số đo chính xác về các vị trí thuộc quyền kiểm soát lãnh thổ, mỗi quốc gia cần xây dựng mạng lưới điểm khống chế tọa độ của mình. Sau đó, chỉnh lý lưới điểm khống chế bằng cách đo các điểm phương vị thiên văn, các điểm thiên văn, lưới điểm trọng lực cơ sở và chi tiết, lưới điểm trắc địa vệ tinh. Đây là cơ sở toán học dùng trong việc thiết lập các loại bản đồ.

Năm 1959, với sự giúp đỡ trực tiếp của Tổng hội Trắc địa Trung Quốc, Việt Nam bắt tay xây dựng mạng lưới các điểm tọa độ cơ sở phủ trùm miền Bắc theo phương pháp tam giác đo góc truyền thống. Thời gian thực hiện từ năm 1960 đến 1964. Mạng lưới này chia thành 3 mạng lưới nhỏ hơn ở 3 khu vực của miền Bắc là: khu Đông, khu Tây 1 và khu Tây 2. Bước một, Trung Quốc giúp Việt Nam xây dựng mạng lưới ở khu Đông và khu Tây 1. Các chuyên gia Trung Quốc nhiệt tình giúp đỡ tất cả các khâu, từ thiết kế tới thi công đo đạc. Qua công trình này, Việt Nam đã có được một đội ngũ cán bộ kỹ thuật đo đạc lành nghề, tự đảm nhiệm được công việc ở khu Tây 2. Toàn bộ kết quả đo đạc được đem về Trung Quốc để tính toán, chỉnh lý, bình sai, đến năm 1966 thì hoàn thành. Trung Quốc chỉ chuyển giao cho Việt Nam kết quả cuối cùng.

Lưới các điểm tọa độ cơ sở phủ trùm miền Bắc gồm 1.035 điểm tam giác hạng I và II. Lưới tam giác hạng I có 339 điểm, đạt mật độ bao phủ 400 km2 có 1 điểm. Lưới tam giác hạng II có 696 điểm, đạt mật độ 150 km2 có 1 điểm. Cạnh tam giác hạng I có độ dài trung bình 25 km (lớn nhất là 42 km và nhỏ nhất là 9 km). Cạnh tam giác hạng II có độ dài trung bình 14 km (lớn nhất là 27 km và nhỏ nhất là 5 km). Lưới hạng I được bố trí dày hơn tại khu vực quanh Hà Nội. Khoảng cách giữa các đường đáy là 130 km. Các điểm hạng II được bố trí chủ yếu theo phương pháp chêm thêm vào lưới hạng I.

Cũng trong giai đoạn này (1959 - 1964), song song với lưới tọa độ, các lưới độ cao hạng I, hạng II và một số đường hạng III được tiến hành xây dựng. Ở miền Bắc, lưới độ cao hạng I gồm 4 đường (Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Đồng Đăng, Hà Nội – Lào Cai, Hà Nội- Vĩnh Linh), với tổng chiều dài 1.175 km. Lưới độ cao hạng II gồm 12 đường (Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Đồng Đăng, Hà Nội – Lào Cai, Hà Nội- Vĩnh Linh), tổng chiều dài 2.420 km. Các đường độ cao hạng II tạo thành các vòng tựa vào đường độ cao hạng I, tuy vậy, vẫn có một số đường treo lơ lửng. Hai lưới này được bình sai theo hệ độ cao Hoàng Hải (Trung Quốc), có giá trị vênh hơn độ cao mực nước biển đo ở trạm Hòn Dấu (Hải Phòng) là 41 cm. Giâi đoạn 1962 - 1974, ta xây dựng thêm lưới độ cao hạng III với chiều dài 2.792 km, và lưới độ cao hạng IV với chiều dài 7.524 km.

Từ năm 1971, mạng lưới điểm trọng lực hạng I, hạng II được xây dựng. Lưới trọng lực hạng I gồm 25 điểm, 34 cạnh, tạo thành 9 hình khép và 5 cạnh treo. Các điểm mốc này là những khối bê-tông cốt thép có kích thước 100cm x 150cm x 50cm. Lưới trọng lực hạng II gồm 148 điểm, 186 cạnh, tạo thành 18 hình khép và 8 cạnh treo.

Ngoài ra, còn có 2 đường đáy trọng lực là Vĩnh Yên-Tam Đảo và Tp.Hồ Chí Minh- Vũng Tàu và 13 điểm cạnh đáy, 28 điểm thiên văn, và 13 phương vị Laplace. Các điểm thiên văn (kinh độ, vĩ độ và phương vị) đạt mật độ cỡ 10.000 km2 có 1 điểm thiên văn và 1 điểm phương vị thiên văn. Hệ thống tọa độ-độ cao này có độ chính xác khá cao.

Hệ quy chiếu được chọn sử dụng là hệ quy chiếu chung của hệ thống xã hội chủ nghĩa: ellipsoid quy chiếu Kra-xốp-xki với bán trục lớn a = 6.378.245 m, nghịch đảo độ dẹt 1/f = a/(a-b) = 298,3, điểm gốc tọa độ là đài thiên văn Pun-cô-vô (Liên Xô cũ). Tọa độ của Việt Nam được truyền đến thông qua điểm núi Ngũ Lĩnh thuộc lưới tọa độ Trung Quốc; lưới chiếu tọa độ phẳng Gaus-Kruger múi chiếu 6 độ, 3 độ, và 1,5 độ. Danh pháp bản đồ áp dụng theo hệ thống xã hội chủ nghĩa (thực chất là của Liên Xô cũ), nói một cách khách quan, không sáng sủa như danh pháp bản đồ theo hệ thống WSG-84 quốc tế.

Trên cơ sở hệ thống các lưới tọa độ cơ sở và hệ quy chiếu này, nhà nước Việt Nam đã công bố Hệ tọa độ Hà Nội-1972, viết tắt là hệ HN-72.

Khoảng thời gian 1969-1974, xuất hiện nhu cầu sử dụng các bản đồ UTM thu được của quân đội Mỹ phục vụ công tác chiến trường. Thực tiễn lúc đó không có mối liên hệ giữa hai hệ quy chiếu (hệ HN-72 và hệ Indian Nam Á), vì không thể đo nối hai lưới tọa độ “xã hội chủ nghĩa” và “tư bản chủ nghĩa”. Do vậy, phải sử dụng công thức lý thuyết và lợi dụng một số địa vật rõ nét trên cả hai bản đồ để đối chiếu và so sánh. Từ tọa độ của chúng tính ngược ra các tham số, kẻ được lưới ô vuông theo HN-72 trên các bản đồ UTM của Mỹ, với độ chính xác cỡ 10 m.

* * *

Sau ngày thống nhất đất nước, ta tiếp tục phát triển mở rộng mạng lưới tọa độ vào các tỉnh phía Nam. Vấn đề không phải nằm ở chỗ ta không có số liệu (ta mới tiếp thu kho dữ liệu bản đồ khá phong phú của Nha địa dư Đà Lạt), cũng không phải do ta kỳ thị “giặc ngoại xâm” mà không muốn kế thừa, càng không phải do ta không đủ trình độ kế thừa mạng lưới điểm khống chế do Pháp và Mỹ xây dựng từ đầu thế kỷ 20. Mà do các mốc trên thực địa đã lâu không ai quản lý, để “quần chúng nhân dân” tự do lấn chiếm xây nhà xây cửa, đã bị mất dấu gần hết.

Bấy giờ, lực lượng đo vẽ bản đồ của ta, ngoài đội ngũ kỹ sư do Trung Quốc đào tạo, còn có các kỹ sư tốt nghiệp từ Liên Xô (cũ) và một số nước xã hội chủ nghĩa anh em.

Lưới tam giác đo góc hạng I được mở rộng từ vĩ tuyến 16 độ 10 phút tới 17 độ 10 phút, mang tên gọi lưới Bình-Trị-Thiên (đo 1977-1983), gồm 25 điểm, trong đó có 3 điểm cũ và 22 điểm mới.

Lưới tam giác đo góc hạng II vượt qua vĩ tuyến 17, dọc theo các tỉnh duyên hải miền Trung cho tới Tp. Hồ Chí Minh (8 khu đo, sau ghép lại thành 4 khu, cả thảy 428 điểm), được hoàn tất trong thời gian 15 năm (1977-1992). Chính vì thế, nhiều mốc chôn ngoài thực địa bị đập phá và mất dấu. Năm 1991, mất công đo khôi phục lại 73 điểm thuộc 2 khu vực là Thuận Hải-Lâm Đồng và Huế-Bình Định. Xét về mặt địa lý, các khu đo ở miền Trung nằm xa kinh tuyến trung ương của múi chiếu 18 (kinh tuyến 105 độ), nên phải chuyển toàn bộ toạ độ về múi chiếu thứ 19 với kinh tuyến trung ương là 111 độ. Sau này, trong quá trình tính toán, chắt lọc dữ liệu, sai số do sự chuyển đổi này gây ra bị khống chế trong vòng 1 mét.

Thông qua một dự án do Chương trình phát triển Liên hợp quốc UNDP tài trợ, năm 1991, Việt Nam xây dựng lưới đường chuyền hạng II đồng bằng Nam Bộ theo cách: từng lưới nhỏ gối lên nhau, tọa độ điểm cuối của lưới trước là tọa độ điểm khởi đầu của lưới sau. Nhưng do phải thực hiện tiến độ rất gấp để đáp ứng nhu cầu triển kinh tế cho các ngành và các địa phương, nên đã xây dựng đồng thời (nhẽ ra phải nối tiếp nhau) ở cả hai khu vực là Tây Nam Bộ (1988-1989) với 124 điểm; và Đông Nam Bộ (1989-1990) với 50 điểm; cứ 10 đến 15 cạnh lại bố trí 1 phương vị thiên văn.

Cực chẳng đã, phải sử dụng 2 điểm khởi đầu có tọa độ gần đúng, tính toán chuyển đổi theo lưới miền Bắc trong hệ tọa độ HN-72. Lưới Tây Nam Bộ lấy toạ độ gốc là điểm đo mang số hiệu II-06 ở An Giang, phương vị gốc là cạnh An Giang-Núi Sập. Lưới Đông Nam Bộ lấy toạ độ gốc là điểm đo mang số hiệu II-176 ở nhà thờ Hạnh Thông Tây, trùng với điểm 64654 của lưới tam giác hạng II (Tp. Hồ Chí Minh). Phương vị gốc là cạnh nối điểm II-176 với điểm II-175 (cũng là cạnh nối điểm 64654 với điểm 64648 trong lưới tam giác hạng II Tp. Hồ Chí Minh). Hai lưới này có 4 điểm trùng, được coi là cơ sở để hòa hai lưới thành một mạng lưới thống nhất, với điểm khởi đầu là điểm cuối cùng trong lưới tam giác miền Trung (trùng với điểm II-191 của lưới Đông Nam Bộ). Tuy nhiên, lợi bất cập hại. Điều này đã gây nên sự “chuệch choạc”, không nhất quán của hệ tọa độ HN -72 trên phạm vi toàn quốc.

Các lưới điểm độ cao hạng I, hạng II nối từ miền Bắc vào cũng được xây dựng, kế thừa lưới điểm độ cao do Nha địa dư Đà Lạt xây dựng trước đây. Trong hai năm 1987-1988, Việt Nam hợp tác với Liên Xô (cũ) xây dựng mạng lưới vệ tinh Doppler gồm 14 điểm trên đất liền và 4 điểm trên các đảo.

Đến năm 1991, về cơ bản, công tác đo đạc ngoài thực địa đã thực hiện xong trên phạm vi toàn quốc, trừ 3 khu vực khó khăn là Tây Nguyên, Sông Bé (Bình Phước) và Minh Hải (Cà Mau), và các đảo ngoài khơi. Sau đó, nhờ các tiến bộ khoa học kỹ thuật là công nghệ đo sử dụng thiết bị định vị toàn cầu (GPS), đã khắc phục được các khó khăn về khí hậu, thời tiết (sương mù, mưa bão, lũ quét), giao thông đi lại, che khuất tầm nhìn, thú dữ, tiếp tế hậu cần...

* * *

Hệ tọa độ HN-72 sử dụng lưới chiếu tọa độ phẳng Gauss-Kruger gây ra nhiều bất tiện trong quá trình thi công xây dựng các công trình lớn như cầu đường. Vì sao vậy? Số là trong hệ tọa độ HN-72, chỉ tại khu vực có kinh tuyến trùng với kinh tuyến trục thì kích thước trên bản vẽ kỹ thuật mới đúng y như kích thước trên mặt đất, còn ở các khu vực khác ở xa kinh tuyến trục, kích thước của các đối tượng trên bản vẽ kỹ thuật bao giờ cũng lớn hơn kích thước thực. Tính toán theo lý thuyết cho thấy, ở rìa múi chiếu 6 độ, cứ trên 1 km thực địa, biến dạng chiều dài có thể đạt tới giá trị 1,3 mét. Đơn cử như khi xây dựng cầu dây văng Bãi Cháy ở Quảng Ninh; cầu Tân Đệ ở Thái Bình, nếu tính toán theo hệ tọa độ HN-72 thì khi lắp dầm cầu bê-tông đúc sẵn trên những trụ cầu xây giữa sông, phải cưa bớt dầm cầu đi !

Nói một cách khách quan, trong một dải đất có bề rộng khoảng 40 km bao bọc kinh tuyến trục trong hệ tọa độ HN-72 (20 km sang phải và 20 km sang trái kinh tuyến trục của Việt Nam!), biến dạng chiều dài của các đối tượng nhỏ hơn 4 mm trên 1 km thực địa, vì thế, có thể yên tâm, coi như không đáng kể. Ở Liên Xô, lãnh thổ của họ nằm ở bán cầu Bắc nên “vùng an toàn” của họ rộng hơn ta.

* * *

Từ năm 1980, Bộ quốc phòng Mỹ đưa ra ý tưởng xây dựng một hệ quy chiếu thống nhất cho toàn Trái đất. Sau đó, chính cơ quan này đã bỏ nhiều nỗ lực để hoàn thiện ý tưởng đưa ra. Đến năm 1984, một hệ quy chiếu quốc tế khá hoàn chỉnh được nhiều quốc gia thừa nhận, trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp số liệu toàn cầu do Liên đoàn Trắc địa quốc tế (IAG – Interbational Assocciation of Geodesy) đề xuất. Đây là hệ quy chiếu cho Trái đất kiểu truyền thống, bao gồm ellipsoid quy chiếu, tọa độ quy chiếu, các hằng số liên quan đến Trái đất, và mô hình trường trọng lực Trái đất.

Hệ quy chiếu này ngay lập tức đi vào đời sống kỹ thuật của thế giới. Đặc điểm là nó gắn rất chặt với sự phát triển của công nghệ định vị toàn cầu (GPS – Global Positioning System). Không lực Hoa Kỳ đặt 5 trạm quan trắc trên đất liền và trên biển để tính toán quỹ đạo các vệ tinh GPS. Sau đó, Cục bản đồ và hình ảnh Hoa Kỳ bổ sung thêm 7 trạm quan trắc ở châu Mỹ, châu Âu, châu Phi, châu Á, châu Úc.

Hệ thống WGS-84 (rộng hơn hệ quy chiếu) có các tham số sau: bán trục lớn, bán trục nhỏ của ellipsoid, độ dẹt, tốc độ quay của Trái đất; hằng số trọng lực; tọa độ 12 trạm quan trắc thiên văn (12 = 5+7); mô hình trường trọng lực; chuối điều hoà cầu với 130.676 hệ số; mô hình Geoid với lưới 15 độ mỗi chiều, độ chính xác của độ cao tại mỗi nút lưới là 0,5 m đến 1 m.

Vào năm 1994, các nhà khoa học nhận thấy hệ quy chiếu cũng như hệ tọa độ Trái đất phải là hệ động thì mới có thể mô tả được đầy đủ các biến động của thế giới thực. Vì thế, tổ chức quốc tế IGS ra đời, bao gồm 60 cơ quan đo đạc trên thế giới. Cơ quan này tổ chức ra một mạng lưới trắc địa quốc tế gồm 140 điểm, tại mỗi điểm đặt máy thu GPS 24/24 giờ. Sau một năm hoạt động, đã xác định ra hệ quy chiếu động đầu tiên mang tên ITRF-94 (International Terrestrial Reference Frame). So sánh hệ thống này với hệ thống WGS-84 cho thấy, không có sự khác biệt nhiều lắm, cỡ 1cm về vị trí và 0’’0004 về góc xoay.

Vì sao Bộ quốc phòng Mỹ đưa ra ý tưởng xây dựng một hệ quy chiếu thống nhất cho toàn Trái đất? Đó là vì Mỹ không chấp nhận cách mô hình hoá quả địa cầu ở thế kỷ 18-19. Những tấm bản đồ toàn cầu vẽ theo phương pháp đó đẹp thì đẹp thật, nhưng độ chính xác thì phải nói, rất thấp. Nguyên nhân căn bản là khi mô hình hoá, người ta đã giả thiết những điều ”phi lý”, ví dụ như: Trái đất hình quả cam, hoặc hình quả trứng; bề mặt Trái đất trơn tru, không lồi lõm…

Tưởng tượng rằng, bề mặt Trái đất như vỏ quả cam trượt xoay tròn quanh trục quay của Trái đất. Khi đó, vị trí tương đối giữa các điểm trên bề mặt Trái đất không hề thay đổi, nhưng đối với một người ngoài hành tinh thì có sự thay đổi. Thay vì hạ cánh phi thuyền xuống biển, anh ta có thể sẽ không may hạ cánh trên miệng núi lửa. Vì vậy, mạng lưới các điểm khống chế không tồn tại độc lập, mà cần phải bị ràng buộc vào các giá trị đo thiên văn. Thêm một tưởng tượng nữa: bề mặt Trái đất liệu có thực sự ổn định không? Câu trả lời là không. Cho nên, thêm một lần nữa, mạng lưới các điểm khống chế, đặc biệt là lưới độ cao, cũng phải bị ràng buộc vào các giá trị đo trọng lực.

* * *

Hệ thống lưới tọa độ cơ sở của Việt Nam hiện nay bao gồm: Lưới tam giác đo góc hạng I (339 điểm); Lưới tam giác đo góc hạng II (1.116 điểm); Lưới đường chuyền hạng II (174 điểm); Lưới độ cao hạng I (gồm 4 đường với tổng chiều dài 1.175km); Lưới độ cao hạng II (gồm 12 đường với tổng chiều dài 2.420 km); Tọa độ thiên văn (68 điểm); Tọa độ GPS tuyệt đối (8 điểm); Lưới GPS cạnh ngắn (123 điểm), Lưới GPS cạnh dài ven bờ và hải đảo (36 điểm); Lưới GPS cấp “0” (71 điểm); Lưới vệ tinh Doppler (19 điểm).


BỘ BẢN ĐỒ BIÊN GIỚI TRÊN ĐẤT LIỀN VIỆT - TRUNG

Bộ bản đồ đính kèm Nghị định thư phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc dùng để ký chính thức vào năm 2009 được đóng thành tập, gồm 35 mảnh bản đồ, đánh số thứ tự từ 1 đến 35.

Để chuẩn bị cho giai đoạn phân giới cắm mốc và thành lập bản đồ đính kèm Nghị định thư, hai bên thống nhất phối hợp bay chụp ảnh hàng không và đo vẽ thành lập mới bản đồ địa hình 1:50.000 khu vực biên giới. Năm 1996, hai bên bắt đầu triển khai công tác bay chụp.

Cuối năm 2000, hai bên đã hoàn thành 34 mảnh bản đồ địa hình khu vực biên giới trên bộ Việt - Trung, tỷ lệ 1:50.000. Riêng mảnh số 35 được thành lập ở giai đoạn phân giới cắm mốc. Trong quá trình thành lập bản đồ, hai bên đã áp dụng một số tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất: bay chụp ảnh hàng không gắn với việc xác định toạ độ tâm ảnh bằng GPS, đo vẽ nội nghiệp trên trạm đo vẽ ảnh số...

Năm 2001, Ủy ban Liên hợp phân giới cắm mốc đã thống nhất dùng bản đồ địa hình biên giới trên bộ Việt - Trung tỷ lệ 1:50.000 làm bản đồ phục vụ công tác phân giới cắm mốc trên thực địa. Để thành lập bản đồ đính kèm Nghị định thư, hai bên thống nhất áp dụng phương pháp thành lập bản đồ trên máy vi tính. Hai bên thống nhất số hóa bản đồ 1:50.000 đo vẽ song phương. Tài liệu dùng để số hóa là các phim gốc tách bản của bản đồ. Sau khi số hóa, dữ liệu được chuyển sang file ảnh (dạng raster) để chuyển giao cho các Nhóm liên hợp phân giới cắm mốc sử dụng vào công việc của mình. Mảnh thứ 35 được thành lập theo phương pháp biên tập, dựa trên tài liệu bản đồ do mỗi bên cung cấp. Thành quả phân giới cắm mốc làm được đến đâu, được chuyển lên bản đồ và lập mô tả hướng đi đường biên giới đến đó. Trên bản đồ đính kèm Nghị định thư (bản in trên giấy) đường biên giới được biểu thị bằng nét liên màu đỏ, lực nét 0,2 mm. Đối với các đoạn biên giới đi theo sông, suối 1 nét (bề ngang hẹp quá, nên chỉ thể hiện 1 nét trên bản đồ), đường biên giới (màu đỏ) được vẽ so le hai bên sông, suối 1 nét. Đối với sông 2 nét (bề ngang đủ rộng), đường biên giới được vẽ trùng với trung tuyến của sông 2 nét. Riêng ở những đoạn sông Ka Long, Bắc Luân mà tàu thuyền đi lại được, đường biên giới vẽ theo trung tuyến luồng chính tàu thuyền đi lại.

Các mốc giới được biều thị bằng vòng tròn màu đỏ, gồm 3 loại: mốc đơn, mốc đôi mốc ba và mốc phụ. Ở những chỗ mật độ mốc quá dày, mốc không biểu thị được đúng vị trí, thì không biểu thị ký hiệu tâm mốc. Trên bản đồ ngoài ký hiệu mốc còn biểu thị số hiệu và độ cao mặt đất của cột mốc, độ chính xác đến cm. Khu vực không thể biểu thị được đầy đủ cột mốc thì có thể lược bỏ. Các khu vực có mốc phải xê dịch vị trí để biểu thị, cột mốc bị lược bỏ hoặc điểm độ cao đặc trưng không thể ghi được đầy đủ lên bản đồ, đều phải trích lập sơ đồ phóng, đặt vào vị trí phù hợp ở chỗ trống trên bản đồ.

Trong giai đoạn làm bản đồ biên giới đính kèm Nghị định thư, ở phần công việc nội nghiệp, hai bên căn cứ vào thành quả phân giới cắm mốc do các Nhóm liên hợp phân giới cắm mốc chuyển vẽ để chuyển lên bản đồ số hóa.

Sau khi biên tập, dữ liệu bản đồ làm trên bộ phần mềm EZmap, được chuyển sang dạng EPS để ra phim. Sau khi sửa lỗi in thử, bản đồ được in chính thức từ đầu tháng 11-2009. Bản đồ được chế bản điện tử, chế bản dương, in ốp-sét 5 màu. Việc in bản đồ được thực hiện trên máy in 8 màu. Cơ số in bản đồ mỗi loại mỗi thứ tiếng là 452 bản, trong đó đóng kỹ để ký mỗi loại 2 bản, đóng thường 200 bản, và để rời 250 bản.

Ít ai biết, bản đồ đã phải in đi in lại hàng trăm lần, vì chỉ cần phạm một sai sót về màu sắc, về độ nét to nhỏ, là phải bỏ hết, in lại.



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 22.10.2011, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 18.10.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TÁM NĂM TRỜI ĐI CẮM MỐC

Chúng ta đã xem những hình ảnh "Vượt rừng cắm mốc" ở biên giới Việt - Lào.

Còn đây là hình ảnh về quá trình phân giới cắm mốc không kém phần khó khăn gian khổ ở biên giới Việt - Trung.




Nhóm liên hợp cắm mốc



Cùng chụp ảnh kỷ niệm bên một cột mốc cũ



Băng qua đá tai mèo



Ngang qua vách đá



Nắng



Mưa



Lội suối



Băng rừng



Lên đỉnh núi cao



Khó khăn và gian khổ



Phút nghỉ ngơi



Nồi cơm giữa rừng



Kham khổ



Bữa cơm đạm bạc



Ăn cơm bằng ống nứa



Cùng xác định hướng đi của đường biên giới



Đánh dấu tạm thời vị trí cột mốc bằng cọc tre



Đàm phán ngay trên thực địa



Cùng làm việc



Cùng thảo luận



Cùng kiểm tra cột mốc



Ghi nhật ký công tác



Khiêng cột mốc



Không ngại đỉnh núi



Hạ bớt cây cao xung quanh cột mốc



Đưa cột mốc vào đúng vị trí hai bên đã xác định từ trước



Đánh vật



Dùng thiết bị GPS kiểm tra lại vị trí cột mốc lần cuối



Hai đội trưởng đổ những xô vữa cuối cùng vào chân cột mốc



Bắt tay



Đo đạc tọa độ địa lý



Giữa dòng



Thủ tướng Chính phủ lên tận Cửa khẩu Thanh Thủy - Hà Giang thị sát



Đồng bào dân tộc đi chợ đường biên

Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 19.10.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

THEO CHÂN MỘT NHÓM LIÊN HỢP ĐI CẮM MỐC





Sương mù và đá tai mèo



Không quản ngại khó khăn



Dừng chân lấy sức



Cột mốc cũ



Thăm thực địa



Đi ngoại nghiệp



Thiết bị tân tiến



Tác nghiệp



Xác định vị trí cột mốc sẽ cắm



Sử dụng thiết bị đo đạc có gắn GPS



Ký nhận trên sơ đồ nháp



Kiểm tra thêm một lần nữa cho chắc chắn



Nữ thành viên đội cắm mốc



Đổ bê tông chân cột



Đổ bê tông chân cột



Phút giải lao



Chụp ảnh vị trí cắm mốc



Cùng ăn trưa



Bên cột mốc



Cột mốc đôi



Cột mốc 504



Chai nước bên cột mốc



Uống bia mừng thắng lợi



Trao đổi hồ sơ biên bản


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 20.10.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

NGHỊ ĐỊNH THƯ PHÂN GIỚI CẮM MỐC

Theo đúng Thỏa thuận năm 1993, hai bên thành lập Nhóm công tác liên hợp để bàn bạc cụ thể về các vấn đề liên quan, tiến tới việc ký kết Hiệp định biên giới trên đất liền.

Từ năm 1994 đến 1999, Nhóm công tác liên hợp đã tiến hành 16 vòng đàm phán ở thủ đô Hà Nội và Bắc Kinh.

Mỗi bên tự căn cứ vào các văn bản pháp lý đã nêu để vẽ đường biên giới theo sự đánh giá của mình lên cùng một loại bản đồ (gọi là bản đồ đường biên giới chủ trương), sau đó cùng trao cho nhau để đối chiếu, xác định những đoạn biên giới hai bên vẽ trùng nhau và khác nhau.

Qua đối chiếu, hai bên vẽ trùng khớp nhau khoảng 900 km trong tổng số 1.350 km toàn tuyến biên giới (độ dài tính theo đường chim bay). Trong 450 km còn lại, có 164 khu vực hai bên có nhận thức khác nhau, với tổng diện tích khoảng 227 km2 (các khu vực này được gọi là khu vực C). Ngoài ra, ở 125 khu vực khác với tổng diện tích gần 5 km2, hai bên vẽ khác nhau do sai lệch về kỹ thuật và các khu vực này (được gọi là khu vực A và B) được giải quyết nhanh chóng bằng các biện pháp kỹ thuật một cách hợp lý, công bằng cho cả hai bên.

Thực chất của suốt quá trình đàm phán chính là tập trung giải quyết 164 khu vực C kể trên. Đến cuối năm 1999, hai bên đã giải quyết xong toàn bộ 164 khu vực đó. Kết quả giải quyết là: trong tổng số 227 km2 của 164 khu vực này, thì khoảng 113 km2 được xác định thuộc Việt Nam và khoảng 114 km2 được xác định thuộc Trung Quốc.

Giải pháp đối với 164 khu vực C được hai bên mô tả cặn kẽ trong Bản ghi nhận chung, và sau đó, đưa vào bản Hiệp ước biên giới trên đất liền ký năm 1999. Kèm theo Hiệp ước là bộ bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000, được xem là bản đồ biên giới tạm thời.

Những đoạn biên giới sông, suối đã được Công ước Pháp-Thanh năm 1887 và 1895 đã quy định rõ ràng, thì giải quyết theo đúng quy định của các Công ước đó. Còn những đoạn biên giới sông, suối chưa được hai Công ước nói trên quy định rõ ràng, thì giải quyết theo đúng thông lệ quốc tế, cụ thể là: ở các đoạn sông, suối tàu thuyền đi lại được thì đường biên giới đi theo trung tuyến luồng chính tàu thuyền đi lại, còn ở những đoạn sông, suối tàu thuyền không đi lại được, thì đường biên giới ở các sông, suối này sẽ đi theo trung tuyến dòng chảy hoặc dòng chảy chính.

Tiếp đó, hai bên mất 8 năm cùng xác định vị trí sẽ cắm mốc, dỡ bỏ các mốc cũ, cắm mốc mới, lập hồ sơ chi tiết cho từng mốc mới.

Nhóm công tác biên giới lúc này được bổ sung và kiện toàn, trở thành Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc Việt - Trung.

Trong thời gian này, hai bên vẫn phải tiếp tục các cuộc họp, thảo luận, đàm phán, hội đàm ở nhiều cấp khác nhau: cấp chuyên viên. cấp chuyên gia, cấp Chủ tịch Ủy ban liên hợp, cấp Chính phủ, cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước (Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng).




.........................................Cột mốc ở Lũng Cú - Hà Giang


Chiều 18-11-2009 tại Bắc Kinh, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Hồ Xuân Sơn và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Vũ Đại Vĩ thay mặt Chính phủ hai nước đã ký Nghị định thư phân giới cắm mốc, Hiệp định về quy chế quản lý biên giới và Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu trên biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc.

Nghị định thư phân giới cắm mốc dày 450 trang với trên 2.200 trang Phụ lục kèm theo, gồm bộ bản đồ địa hình khu vực biên giới Việt-Trung (40 tờ bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000); tập “Bảng đăng ký mốc giới” (1.980 trang); tập “Bảng tọa độ và độ cao mốc giới” (111 trang); và tập “Bảng quy thuộc các cồn, bãi trên sông suối biên giới” (8 trang).

Nghị định thư mô tả chi tiết hướng đi của toàn bộ đường biên giới, các chi tiết tọa độ cũng như độ cao của từng cột mốc. Để tiện cho việc quản lý, đường biên giới được chia thành 8 đoạn, mỗi đoạn và mỗi mốc giới có 1 bộ hồ sơ riêng, bao gồm lời văn mô tả, sơ đồ tọa độ và bản đồ.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc, từng đoạn biên giới, từng cột mốc biên giới giữa hai nước được thể hiện một cách rõ ràng nhất, không chỉ bằng lời văn, mà cả trên các sơ đồ và bản đồ, giúp cho mọi người đều có thể dễ dàng nhận biết đường biên giới.

Cách làm tỉ mỉ và cẩn thận này hỗ trợ đắc lực cho phương pháp quản lý hiện đại, kể cả áp dụng kỹ thuật số trong công tác quản lý biên giới, tạo điều kiện cho các cán bộ trực tiếp làm công tác biên giới thực thi nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả nhất.

Bên cạnh Nghị định thư, hai bên còn ký 2 văn kiện quan trọng là Hiệp định về quy chế quản lý biên giới và Hiệp định về cửa khẩu và quản lý cửa khẩu.

Việc hoàn thành 3 văn kiện trước thời hạn hơn 1 tháng là kết quả của sự nỗ lực chung của cả hai bên, là sự đóng góp thiết thực kỷ niệm 10 năm ngày ký Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc, hướng tới kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Trung Quốc và là sự kiện mở đầu cho “Năm hữu nghị Việt-Trung 2010”.

Sau khi được các cơ quan hữu quan hai nước phê chuẩn, 3 văn kiện quan trọng này chính thức có hiệu lực từ ngày 14-7-2010, và Hiệp ước biên giới trên đất liền ký năm 1999 mới thực sự đi vào cuộc sống.

































































Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 22.10.2011, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 21.10.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

NGHỊ ĐỊNH THƯ PHÂN GIỚI CẮM MỐC

(tiếp theo)





























































(Còn nữa)
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 22.10.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

NGHỊ ĐỊNH THƯ PHÂN GIỚI CẮM MỐC

(tiếp theo)




























































(Còn nữa)
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 24.10.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

NGHỊ ĐỊNH THƯ PHÂN GIỚI CẮM MỐC

(tiếp theo)












































...... (còn nhiều nữa).....








* * *
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
khanhque
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Dec 08, 2005
Bài gửi: 517
Đến từ: Hanoi, Vietnam

Bài gửigửi: 02.11.2011    Tiêu đề: ĐÂT MŨI CÀ MAU Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Xin bái phục PhHong về nội dung và dung lượng thông tin cung cấp tại đây, có nhiều tư liệu cần cho công tác nghiên cứu. Khanhque cũng có việc liên quan đén bộ đội Biên phòng nhưng chưa có điều kiện tham gia vào mục này. Hôm nay nhân tiện vừa từ đất mũi Cà Mau về có vài cảm nghĩ và hình ảnh xin đóng góp và chia sẻ cùng ace bằng những dòng nhật ký viết vội.

Tp Cần Thơ: Monday, October 31, 2011
Đất Mũi là một vùng đất thiêng liêng trong tâm thức người Việt Nam và trong đời, ai cũng ước một lần được đến cho nên mọi người trong đoàn rất hồi hộp và thấp thỏm cho chuyến đi này. Hôm nay cả đoàn dậy sớm lên đường đúng lúc 5 h sáng, khi ngoài đường còn tối om, xe phải bật đèn pha, có những đoạn đường vẫn còn ngập nửa bánh xe vì nước triều chưa rút hết.

Đường QL 1A trong này khá tốt, đủ rộng, mặt đường nhẵn, mật độ xe lưu thông không cao, thỉnh thoảng mới gặp ô tô ngược chiều, nên xe chạy nhanh, tốc độ đều đều 80 -90 km/h. Tính là tay xế cừ khôi, ngoan ngoãn, nhanh nhẹn. Công bằng mà nói cũng ỷ thế xe biển đỏ nên thường chạy quá tốc độ cho phép và thường xuyên cắt vạch liền. Cũng nhờ vậy mới kịp đưa đoàn cán đích chợ Năm Căn lúc 10:40, trừ thời gian nghỉ ăn sáng ở Tp Bạc Liêu (40’) xe chạy mất 5 giờ đồng hồ trên đường qua đoạn đường hơn 230 km, xuyên qua các huyện Phụng Hiệp, Kế Sách, Mỹ Xuyên, Phú Lộc của tỉnh Sóc Trang, Tp Bạc Liêu, huyện Hòa Bình, Giá Rai, Hộ Phòng của Bạc Liêu, Tp Cà Mau, huyện Cái Nước, Năm Căn của Cà Mau; Phà Đầm Cùng vượt sông Đầm Cùng là bến phà còn lại duy nhất trên QL 1A từ Đồng Đăng đến Năm Căn. Tuy vậy, tại đây cũng chỉ mất 15’ để qua phà, bên cạnh một cây cầu cũng đang được xây dựng bằng công nghệ đúc hẫng, nghe nói đầu quý III năm 2012 bến phà này cũng sẽ hoàn thành sứ mệnh. Tại Năm Căn du khách phải mua vé ca nô cao tốc để vượt 50 km đường thủy trên sông Cửa Lớn và xuyên qua rừng cấm Ngọc Hiển để tới đất Mũi. Mỗi ca nô thường chở được khoảng 10 du khách với giá vé 1,8 triệu đồng. Khi đi thủy triều đứng, sóng nhỏ ca nô lướt với tốc độ 50 km/h mà vẫn êm du, đặc biệt khi qua rừng giữa lòng kênh rợp mát bóng tràm, đước thì tuyệt vời làm sao. Có đoạn dưới nước cá nhày cả lên mũi thuyền chào khách, trên không các loại chim nối đuôi đua tốc độ với ca nô, nói chung ca nô thường bị các nhóm chim rừng cho “ngửi khói” thơm. Đúng là “Rừng, biển và dòng kinh quyện một màu xanh bát ngát/ Em nón nghiêng che để ánh mắt như vì sao rơi xuống rừng tràm…” . Anh xế ca nô bảo đây là rừng cấm chỉ có khách du lịch được qua lại, đôi chỗ có barie bằng các thân cây to và bê tông chắn ngang để kiểm soát, nhưng do sản vật ở đây quá phong phú và dễ bắt, dễ lấy nên dân vẫn thường xuyên khai thác lén, chính quyền không thể kiểm soát nổi. Ca nô lướt như bay trên dòng kênh xanh xanh màu nước, màu cây bạt ngàn, khi gặp ca nô bạn ngược chiều cả hai cùng đánh võng tránh sóng, tránh nước té nó nghiêng rạt sát mặt nước làm nhiều người phát hoảng kêu ré lên, bù lại được trải cảm giác mạnh không kém các trò chơi mạo hiểm. Sau 45’ bay trên nước chúng tôi cặp cầu cảng đất mũi. Lên bờ lại mua vé thăm quan 10 k/người. Có nhân viên hướng dẫn đoàn đi thăm quan các điểm nhấn của đất mũi. Đầu tiên là trèo lên chòi quan sát cao 4 tầng để thấy toàn cảnh khu vực đất mũi. Từ trên cao nhìn ra 4 hướng đẹp quá đi mất, các phó nháy nghiệp dư thi nhau bấm máy. Nào là cảnh rừng thảm, cảnh kênh xanh, một dải đất nhọn đúng như mũi tàu. Tuy nhiên có đôi chút sứt mẻ bởi nước triều, sóng sô làm lở lói phía bờ tây. Tại đó công trường kè giữ đang hoạt động khẩn trương; hàng nghìn cọc gỗ, cọc bê tông đang ở thế đương đầu với sóng gió để bảo vệ mũi tàu của Tổ quốc. Bù lại mũi đông lại đang cần mẫn hàng năm tiến ra biển hàng trăm mét nhờ công nghệ “mắm trước, đước theo sau, tràm củng cố”. Để thuyết minh công nghệ này HDV đưa du khách xuống mép nước xem tận mắt những mầm non của cây mắm bò trên bãi phù sa như bãi chông nhọn có nhiệm vụ gạn đục khơi trong những hạt phù sa quý báu do kênh rạch chuyên chở về từ ngọn nguồn sông suối xa xôi, ngay sau rễ mắm là vạt đước với những bộ rể chằng chịt chắc khỏe giữ cho lớp phù sa khỏi bị nước cuốn đi, khi phù sa đã gần thành đất thì chàm mọc lên dùng bộ rễ của mình củng cố những gì mắm và đước tôn tạo được. Có nhiều nhà hàng thủy tạ nhô hẳn ra biển khá khang trang sắn sàng đón tiếp du khách. Phía đông là ấp Mũi có khoảng 1000 cư dân với những mái nhà mái lá xen mái tôn ẩn mình khiêm tốn dưới rừng tràm. Có thể thấy nhiều cột đèn cao áp sát cánh với cây rừng. Theo hướng dẫn viên thì lưới điện quốc gia đã tới đây từ 10 năm trước. Ngay dưới chân đài quan sát là công trường xây dựng đang hoàn thiện những mố cầu bê tông cho cây cầu cuối cùng của đường Hồ Chí Minh tại đất mũi này, cũng theo hướng dẫn viên thì 5 năm nữa du khách có thể tới đây bằng đường bộ, không phải mất tiền đi ca nô nữa.
Điểm nhấn thứ 2 là biểu tượng con thuyền đất mũi được xây cất trên khoảng đất trống ngay sát mép nước. Nhỏ thôi nhưng trông đẹp và ấn tượng. Tọa độ của biểu tượng là 8 độ 37’. 30” vĩ độ bắc và 104 độ 43’. Xuân Diệu thật khéo minh họa cho cho mảnh đất này: “ Tổ quốc tôi như một con tàu/ Mũi thuyền ta đó – mũi Cà Mau”. Đúng vậy, tại đây hàng năm con tàu Việt Nam tiến được hàng trăm mét về hướng nam, phía đảo Hòn Khoai xa nữa là Singapor. Lại thi nhau chụp ảnh bên con tàu đất mũi.
Sau khi chụp ảnh kỷ niệm bên biểu tượng đất mũi du khách được giới thiệu về công trình mốc tọa độ Quốc gia cách đó không xa. Trước kia khi mới xây dựng công trình này cũng nằm sát mép nước nhưng qua năm tháng bồi lấn nay nó đã lùi sâu vào đất liền mấy trăm mét rồi. Tại đây các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã trồng mỗi người một cây kỷ niệm. Đi qua bãi đỗ dành cho máy bay trực thăng du khách quay ra cầu cảng ca nô trên con đường bê tông rợp bóng cây rừng bị phủ một lớp bùn phù sa mỏng do nước triều để lại từ đêm qua, đi không chú ý dễ trượt ngã.
Trước khi rời đất mũi du khách có thể mua một vài kỷ vật hay đặc sản biển của đất mũi trong các loại tôm cá khô khá phong phú, mà theo như đánh giá của một số người sành sỏi thì ngon và rẻ hơn các nơi khác. Ngoài biểu trưng đất mũi bằng thủy tinh trong suốt thấy mọi người mua nhiều sản vật địa phương theo hiệu ứng đám đông mình cũng mua một bịch tôm nõn khô giá 500 k/1 kg
Đường ra qua rừng đước vẫn êm ả và nên thơ, nhưng khi vào sông Cửa Lớn thì khác hẳn. Cậu xế ca nô nói không về sớm chỉ cần 1 tiếng nữa nước xuống mạnh, sóng trên sông rất dữ, cao tới hàng mét các bác khó chịu nổi. Vậy mà vẫn khủng khiếp. Mặc dù cậu xế đã cố gắng duy trì lúc thì đi bờ bên tả, khi thì mép bên hữu để tránh sóng to nhưng du khách vẫn có cảm giác như ngồi trên xe ngựa bánh sắt đang bay trên bãi đá. Sóng liên tục phang không thương tiếc vào đáy ca nô chan chát, đanh như dàn búa tạ cố đập cho bằng vỡ ca nô, du khách đua nhau nhấp nhổm trên ghế như tôm tươi đang bị rang trên chảo chưa đến lúc tái. Nếu không lên gân bám chắc vào thành ghế thì chắc chắn bị hất xuống nước. Suốt dọc đường mình lo lắng và ân hận quá vì khi rời bến đã không cài khóa áo phao cẩn thận, lúc này có sự cố gì bay xuống nước thì khó xử lý lắm. Ca nô luôn bị nhấc bổng khỏi mặt nước rồi rơi tự do xuống, khiếp quá. Mình hô “chậm thôi”. Cậu xế bảo không thể đi chậm được, các bác cứ yên trí, không sao đâu,. Lúc đi trong rừng có người bảo sao đường về nhanh thế, còn bây giờ mong mãi vẫn chưa về tới bến, sót ruột quá. Đúng 12:50 ca nô cặp bến, mọi người đều thở phào, không ai bảo ai đều thốt lên: “Thoát rồi”. Cậu xế cười: “như thế này chưa là gì đâu các bác ạ”. Còn thế nào nữa chứ?
Dù sao mình cũng có cảm giác mãn nguyện và tự hào. Đầu năm nay mình đã có dịp đặt chân tới điểm cao cực bắc của Tổ quốc – cột cờ Lũng Cú, Hà Giang, rồi hồ Ba Bể Bắc Kạn, hang Cốc Pó, động Ngầm Ngao, thác Bản Giốc Cao bằng. Bây giờ lại có mặt ở điểm cực nam, đất Mũi Cà Mau. Như vậy mình đã đi hết hơn 2300 km của đường QL 1A suốt từ Tân Thanh - Lạng Sơn tới Năm Căn - Cà Mau cộng với 50 km đường sông rạch tới xóm Mũi, điểm nút cuối cùng của đường HCM theo dự kiến.

Trung tâm Thành phố Cà Mau


Huyện Năm Căn kính chào quý khách


Đường còn ngập nước triều dâng


Cầu Đầm Cùng sẽ thay thế bến phà cuối cùng trên tuyến QL 1A đang được xây dựng khẩn trương



Chợ Năm Căn


Áo phao cẩn thận mang vào/ kẻo mà sóng đánh rồi nhao khỏi xuồng


Anh đến quê em đất biển Cà Mau/Cỏ cây xanh tươi đước rừng bát ngát



Trong rừng đước





Từng hạt phù sa lấn biển thêm rừng, những mầm cây mắm như măng đi đầu


"Ơi đất mũi Cà Mau, nên thơ và đẹp giàu"



Những trụ cầu đang được xây dựng tại điểm cuối cùng của đường HCM trong tương lai không xa


Trận tuyến của những người giữ đất "mũi tàu Việt Nam"


"Tổ quốc tôi như một con tàu/ Mũi thuyền ta đó - mũi Cà Mau"


Bên Mốc tọa độ Cà Mau


Ơi đất mũi Cà Mau, trăm thương ngàn mến


Bãi đáp trực thăng
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn MSN Messenger
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 03.11.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

@bác khanhque: Rất mừng là bác đã bỏ thì giờ ngó qua cái bài viết "khô khan" này.

Bài viết vẫn chưa kết thúc, phần biên giới trên bộ còn vài ba bài nữa, em đang chuản bị. Phần biên giới trên biển cũng có nhiều điều hay, nhưng chưa "chín". Thực ra, còn một số vấn đề như đường sắt liên vận, đường tuần tra biên giới, hay sông nước "xuyên biên giới" cũng là những đề tài em đang tìm hiểu, hy vọng sẽ có ngày "hiểu ra".

À, suýt quên. Em (cố tình) quên chưa xin phép bác (quyền) sử dụng cái ảnh bác "ôm" cột mốc ở cửa khẩu Lao Bảo. Bocs.

Tuần sau, em lọ mọ đi cửa khẩu Lào Cai. Sẽ cố gắng chớp vài cái ảnh.

Em - PH
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7  Trang kế
Trang 6 trong tổng số 7 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser