vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - Cột mốc biên cương
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

Cột mốc biên cương
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 30.09.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

QUÁ TRÌNH PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI TRƯỚC KHI KÝ CÔNG ƯỚC PHÁP - THANH 1887


NHẬT KÝ CỦA BÁC SĨ NÊ-ÍT-XƠ
ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ "VÒNG QUANH THẾ GIỚI"





































SƠ ĐỒ, BẢN ĐỒ 3 VÙNG BIÊN GIỚI




Sơ đồ khu vực Bình Nhi, giáp tỉnh Quảng Tây



Sơ đồ khu vực giáp với Tiên Phong thuộc địa phận tỉnh Vân Nam



Sơ đồ khu vực lân cận Móng Cái, giáp tỉnh Quảng Đông


NHẬT KÝ CỦA BÁC SĨ NÊ-ÍT-XƠ
IN THÀNH SÁCH






















































BỘ TRANH KHẮC DÙNG ĐỂ MINH HỌA CUỐN SÁCH CỦA BÁC SĨ NÊ-ÍT-XƠ

Trong quá trình tham gia phái đoàn phân định biên giới, các thành viên của phái đoàn đã chụp ảnh và ký họa được khá nhiều tranh bằng chất liệu chì than.

Một họa sĩ người Pháp tên là Eug. Burnand đã phỏng theo đó vẽ ra bộ tranh khắc độc đáo.

Có thể chia các tranh khắc thành 3 chủ đề lớn, tương ứng với 3 lần phái đoàn gặp gỡ, trao đổi, đàm phán, ký biên bản phân định đường biên giới.

Lần thứ nhất, tại Đồng Đăng, Lạng Sơn, Bình Nhi, trên sông Kỳ Cùng, phân định đường biên giới giữa tỉnh Quảng Tây với Bắc Kỳ.

Lần thứ hai, tại Lào Cai, sông Lũng Pô, phân định đường biên giới giữa tỉnh Vân Nam với Bắc Kỳ.

Lần thứ ba (bác sĩ Neis bị mắc bệnh tả, phải về Hà Nội, rồi đi sau), tại Móng Cái, phân định đường biên giới giữa tỉnh Quảng Đông với Bắc Kỳ.

Trân trọng giới thiêu bộ tranh khắc thú vị của tạp chí Vòng quanh thế giới:

(chú thích bằng tiếng Pháp)










Con tàu đưa phái đoàn từ Hà Nội tới Chũ (địa phận Bắc Giang ngày nay)



Ông Scherzer - Lãnh sự Pháp vùng Quảng Đông



Thác Ngòi



Tháp nhà thờ



Khúc quành buổi đêm



Nơi làm việc của phái đoàn Pháp tại Đồng Đăng



Nhà của người Thổ



Sang đến bờ sông bên kia, đoàn Pháp được một đội quân Trung Hoa khí giới sáng lòa "đón tiếp thịnh soạn".



Thổi kèn đón khách



Lần đầu tiên, hai bên Pháp - Thanh ký biên bản phân định biên giới



Khúc sông ở Binai



Ngược dòng sông Hồng lên Lào Cai



Một trại nuôi bò gần Lào Cai



Ngôi chùa ở Lào Cai - đại bản doanh của phái đoàn Pháp



Con phố nhỏ ở Lào Cai



Cổng nhà



Bản làng



Sông Nậm Thi



Tiên Phong (thuộc địa phận Trung Hoa)



Sĩ quan trắc đia



Giải cứu đồng đội bị tấn công trên sông Lũng Pô



Lễ tiễn đưa viên sĩ quan Pháp về nơi an nghỉ cuối cùng ở Bắc Hà



Sụp lạy vị thần biển cả linh thiêng - Hòn Dấu, Đồ Sơn



Khu vực phụ cận Móng Cái



Khu dân cư ở Móng Cái



Phong cảnh Móng Cái



Quanh cảnh Móng Cái



Ngôi đền



Ngôi nhà trên phố ở Móng Cái



Móng Cái 1886



Án ngữ điểm cao



Một chốt gác



Dàn trận chiến đấu



Trung úy Haitre kiêm phiên dịch



Bọn phỉ bêu đầu viên sĩ quan Pháp



Bia mộ Trung úy Haitre



Tướng phỉ



Người Mán



Tiễu trừ bọn cướp



Bản đồ mũi Bạch Long, nơi có một quần thể các làng Việt Nam nằm gọn trong lãnh thổ Trung Hoa, chỉ thông được với Việt Nam qua đường biển


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 07.10.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

GIẢI LAO GIỮA CHỪNG


Tất cả chúng ta đã đi một quãng đường khá dài (quy đổi thành 500 trang A4) nên érdemes volna là dừng lại một chút và kiểm điểm lại xem chúng ta đã đi những đâu, và con đường đi tiếp là thế nào.

Chủ đề đang nói tới là chủ đề biên giới của Việt Nam với những nước xung quanh.

Có hai bài viết của các bậc tiền bối, đều đã từng là Trưởng ban biên giới của Chính phủ (trước kia trực thuộc thẳng Chính phủ, chứ không trực thuộc Bộ Ngoại giao như bây giờ), "mở mang" những khái niệm cơ bản: biên giới là gì, Việt Nam đang giải quyết các vấn đề gì xung quanh các đường biên giới của mình (trên bộ và trên biển) với các ông bà hàng xóm.

Trước tiên, nói về biên giới trên đất liền hẵng. Có 3 quốc gia có chung biên giới với Việt Nam, đó là Trung Quốc, Lào, Cămpuchia.

Biên giới Việt - Lào có vẻ "ngon ăn" nhất, nên ta bập vào trước. Hết nạc ta vạc đến xương. Ít người biết, hồi bắt đầu phân giới cắm mốc, đã có lần, biên phòng Việt Nam nổ súng ở Quảng Bình, vì cứ tưởng đội phân giới cắm nước bạn Lào là ... gián điệp. Sau sự cố ấy, công tác thông tin liên lạc giữa hai bên được đề cao và chú ý hơn. Hiện giờ, hai bên đang thực hiện dự án "Tôn tạo và Tăng dày cột mốc", và cố gắng đến hết năm 2012 thì hoàn thành. Công việc không hề dễ dàng, khi phải khiêng những cột mốc bằng đá hoa cương nặng dăm bảy tạ, thậm chí 1 tấn, lên những điểm cao chót vót của dãy Trường Sơn, và đổ bê tông chân cột mốc ở những chốn rừng thiêng nước độc.

Tiếp theo là biên giới trên bộ với Cămpuchia. Do trước kia Cămpuchia và Việt Nam đều là "con" của mẫu quốc Đại Pháp, nên có thuận lợi là "dựa vào mẹ". Khó khăn thì nhiều. Thứ nhất, Chính phủ Pháp nhiệt tình đứng ra phân định biên giới giữa Cămpuchia với Nam Kỳ, vì xứ này là đất của họ. Còn đoạn biên giới Trung Kỳ - Cămpuchia ít được quan tâm hơn, vì Trung Kỳ xưa kia là đất của triều đình Huế. Do đó, các bản đồ được tham khảo cật lực là bản đồ của Pháp (vẽ lây nhây trong nhiều năm, và còn nhiều đoạn biên giới chỉ vẽ đường đứt đoạn, ngụ ý chưa có gì là chính thức) và bản đồ tác chiến của quân đội Mỹ-ngụy.

Khó khăn lớn nhất chính là nội bộ phía bạn, vì theo nhận thức của một số vị giỏi môn lịch sử xa xưa thì toàn bộ miền Nam của Việt Nam bị (cố tình) ngộ nhận là... đất đế chế Cămpuchia. Cho nên, hai bên phải thảo luận "chí chết" xem khi đàm phán phân định biên giới lãnh thổ thì sẽ dựa vào căn cứ nào, và trên những nguyên tắc nào. Nếu không, chuyện sẽ chẳng đi đến đâu, "hòa cả làng". Nhìn ra thế giới, mọi người đều ủng hộ nguyên tắc "hãy sở hữu cái anh đang có trong tay". Tất nhiên, từ 1954, không ai ủng hộ chuyện dùng vũ lực chiếm đất quốc gia láng giềng cả.

Cũng may là hồi trước hai bên chưa cắm quá nhiều mốc, nên bây giờ không cần "Tôn tạo và Tăng dày" (như với Lào), mà cứ thế tằng tằng triển khai các cột mốc giới. Ban đầu đự kiến năm 2008 sẽ hoàn thành việc phân giới cắm mốc, nhưng sau đó đã phải "gia hạn" nhiều lần. Hiện giờ, hai bên đặt kế hoạch tiến độ đến cuối năm 2012 thì hoàn tất. Tháng 4-2011, hai Thủ tướng vẫn còn phải ký văn bản điều chỉnh lại một số vị trí cột mốc trên đường biên giới.

Khác với biên giới Việt - Lào nhiều núi non hiểm trở, song thanh bình, tình hình ở các khu vực biên giới trên bộ Việt Nam -Cămpuchia "sóng gió" hơn. Sẽ có một bài đề cập đến nạn cờ bạc (bịp) sôi động ở đây để mọi người tham khảo. Để "mồi khách", đã có một bài viết về lịch sử kinh tế biên giới Việt Nam - Cămpuchia, và một bài khác viết về Khu căn cứ Tà Thiết (Lộc Ninh, Tây Ninh) ngay sát biên giới Việt Nam - Cămpuchia, là nơi đóng cơ quan Trung ương Cục miền Nam và Bộ Tư lệnh chỉ huy Miền.

"Xương nhất" là biên giới trên đất liền Việt - Trung. Do Trung Quốc không được vinh dự là thành viên Liên bang Đông Dương, nên không chịu ảnh hưởng của các Nghị định chia tách, sáp nhập địa giới hành chính do các đời Toàn quyền Đông Dương ban hành, như trường hợp của Lào và Cămpuchia.

Căn cứ của việc đàm phán đường biên giới Việt - Trung sẽ là gì, nếu năm 1949, khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, họ tuyên bố không chấp nhận các hiệp định, hiệp ước, hòa ước, thỏa ước, điều ước... mà các chế độ phong kiến Trung Hoa đã ký kết với các siêu cường châu Âu ? Lý do thật chính đáng và dễ hiểu: ký trong thế yếu, bị ép ký, và đôi khi, các thế lực phong kiến hủ bại đã bán rẻ quyền lợi của quốc gia và dân tộc.

Chỉ duy nhất trường hợp đề nghị của Việt Nam (về các Công ước Pháp - Thanh) là được nhượng bộ "sẽ xem xét".

Khi Việt Nam mong muốn đàm phán với Trung Quốc về vấn đề biên giới lãnh thổ (không biết "ông anh" có mong mỏi như mình không?), thì phải tách ra 3 vấn đề tương đối độc lập: biên giới trên bộ, biên giới trên biển trong vịnh Bắc Bộ (chỉ liên quan đến hai nước), và biển Đông cũng như các hòn đảo, quần đảo trên biển Đông (liên quan đến nhiều nước).

Hai bên phải cùng nhau đưa ra Thỏa thụận về những nguyên tắc làm việc.

Điểm đầu tiên, được coi là tiền đề của tất cả các điểm còn lại, là hai bên thống nhất lấy hai bản Công ước Pháp - Thanh 1887 và Công ước bổ sung 1895 làm căn cứ đàm phán. Chả còn phương án nào khác.

Thời Bắc thuộc cách đây cả ngàn năm, biên giới mang khái niệm động, vùng, dải, thi thoảng mới có một số mốc đánh dấu, song chẳng ăn thua. Sở dĩ Trung Quốc không "khoái" hai bản Công ước Pháp - Thanh "dở hơi" này lắm, vì trong đó không chỉ đề cập đến đường biên giới trên bộ, mà còn đến cả sự phân chia quyền sở hữu các hòn đảo trong vịnh bắc Bộ. Người Pháp đã vạch một đường thẳng (kinh tuyến) theo phương Bắc - Nam để "chia" vịnh Bắc Bộ làm hai phần. Cách phân chia này làm Trung Quốc cảm thấy thiệt thòi, và có vẻ, cũng không tuân thủ luật lệ quốc tế lắm. Thôi thì, phải thông cảm cho nước mẹ Đại Pháp: muốn nhanh chóng, khẩn trương, thuận tiện, thế là đơn giản hóa mọi chuyện "cho nó xong".

Tất nhiên, người Việt Nam thừa thông minh để hiểu rằng cái đường kinh tuyến "tai hại" đó sẽ ngáng trở thiện chí đàm phán biên giới của Trung Quốc. Từ đó, Việt Nam chủ động đề xuất là sẽ đàm phán, thỏa thuận về đường biên giới trên bộ hẵng, sau khi dứt điểm xong việc này, mới tính đến việc phân chia (lại) vịnh Bắc Bộ; và sau cùng thì mới tính đến vấn đề biển Đông (Trung Quốc họ gọi là biển Nam Trung Hoa).

Có thể do sự tế nhị ấy (biên giới trên bộ, phân chia đảo trong Vịnh Bắc Bộ) mà cả hai bên không thấy công bố một cách công khai mạch lạc cho dân chúng biết mặt mũi hai bản Công ước Pháp - Thanh 1887 và 1895, cùng các bản đồ, biên bản kèm theo... Cho dù, những ai có cái tính "tò mò" , "ham hiểu biết", đều có thể tham khảo (không miễn phí !) tại Trung tâm lưu trữ văn khố hải ngoại của Pháp.

Một điều khá mù mờ là các biên bản lập giữa hai bên khi xuất hiện những sự thay đổi nào đó, khách quan hay chủ quan, về vị trí 314 cột mốc đã cắm, có còn được lưu trữ đầy đủ và bảo quản kỹ càng không. Theo thông lệ quốc tế, tất cả những tài liệu văn bản ấy phải được coi là "bộ phận không thể tách rời" của hai bản Công ước. (Nhìn nhận chính xác thì đấy chính là tài sản quốc gia).

Câu trả lời, đáng buồn, hình như là "không".

Lỗi này thuộc về SGI (Sở Địa dư Đông Dương, sau đổi là Nha Địa dư Đông Dương). Truy tiếp, lỗi này thuộc về sự di chuyển địa điểm 2 lần của Sở, từ Hà Nội vào Sài Gòn, và sau đó, từ Sài Gòn lên Đà Lạt. Tóm lại... chẳng ai có lỗi cả.

Theo tài liệu "mang tính chất tố cáo" của Pháp thì nhà Thanh đã nhiều lần tự tiện di chuyển nhiều cột mốc để "mở rộng lãnh thổ" của mình. Cho nên, sau này, khó khăn cho các bậc hậu bối hai bên là, nếu ai đó không có thiện chí, thì có thể vin vào đó để giấu bớt tài liệu gốc đi, hoặc chỉ trưng ra những tài liệu nào có lợi cho mình mà thôi. (Không dám đặt câu hỏi là: Pháp có xắn tay bê cột mốc để lấn đất "hộ" cho Việt Nam không?)

Ngót trăm năm trời, hình hài, mặt mũi cái gọi là "đường biên giới lịch sử Pháp - Thanh" như thế nào, ít ai dám "to mồm" khẳng định 100%.

Tuy nhiên, gặp khó khăn vẫn phải làm, có điều, cần nhất cái tâm.

Bài viết đã đưa chúng ta đến hai bản Công ước 1887 và 1895, quay ngược lại Hòa ước Thiên Tân (cũng là Pháp - Thanh), và dẫn tới những câu chuyện lịch sử, khi thực dân Pháp xâm chiếm Nam Kỳ, hai lần xâm chiếm Bắc Kỳ, trả giá bằng tính mạng hai viên chỉ huy cao cấp nhất, và một số nhân vật lịch sử: Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, Tổng đốc Hoàng Diệu, Phò mã Hoàng Kế Viêm, tướng quân (Cờ Đen) Lưu Vĩnh Phúc.

Chúng ta gặp gỡ hai tác giả Ốc-ca và Nê-ít-xơ, đều là bác sĩ quân y trong đoàn quân viễn chinh (ông này thay ông kia), những người đã cung cấp cho độc giả thật chân thực và sinh động tình hình về "30 tháng ở Bắc Kỳ" và "Đi qua những miền biên giới Bắc Kỳ".

Tự hỏi, trong vài chục năm gần đây, sau những lần đàm phán về biên giới trên bộ, sao không thấy tác giả Việt Nam nào... đánh tiếng ? Có điều gì "thâm cung bí sử" chăng?.

Một nhà văn đã viết, nhiều khi, bóng ma không tồn tại, mà do ta tự tưởng tượng ra.

* * *
Trước khi đàm phán về đường biên giới trên bộ, hai bên Việt Nam - Trung Quốc đã cùng nhau ngồi lại chụm đầu thống nhất "Quy chế tạm thời giải quyết các vấn đề biên giới". Không có cái này thì loạn mất, biên phòng hai nước không biết quản lý các khu vực ven đường biên thế nào.

Khu vực biên giới Việt Nam - Cămpuchia là một ví dụ điển hình.


NẠN CỜ BẠC XUYÊN BIÊN GIỚI VIỆT NAM - CĂMPUCHIA

Thông tin từ Phòng Tham mưu Tổng hợp - Cục Cửa khẩu Bộ đội Biên phòng cho biết, tính đến tháng 8/2011, dọc theo tuyến biên giới Việt Nam -Cămpuchia, trên phần đất bạn đã có 56 điểm cờ bạc gồm 42 casino và 26 trường gà. Cũng trên tuyến biên giới này, cả hai quốc gia Việt Nam - Cămpuchia có tổng cộng 55 cửa khẩu lớn nhỏ để giao thương.

Hiện tại, 68 điểm cờ bạc bên kia đường biên đang thò những chiếc vòi bạch tuộc luồn sâu vào nội địa Việt Nam, đến tận các ngóc ngách, từ thành thị đến thôn quê, hút tiền sang trái phép. Nạn nhân trực tiếp là những người dân và nạn nhân gián tiếp là nền kinh tế.

Đường dây "tuyển nai"

Sau vài lần móc nối thất bại, cuối cùng, người đưa tin của tôi cũng mò ra một đường dây "tuyển nai" cho sòng bài biên giới. "Tuyển nai" là tiếng lóng đặc trưng của giới bài bạc bịp Chợ Lớn, không hiểu sao nó lại chui vào hệ thống sòng bài của các tay trùm bên kia biên giới. "Nai" là con bạc, là đối tượng để giới cờ bạc gian lận chuyên nghiệp móc túi công khai qua việc đánh bài (tất nhiên là đánh theo kiểu gian lận). Hành vi đánh bài lận móc túi "nai" được giới cờ bạc gọi là "xẻ nai". Tôi không tìm được từ "xẻ nai" ở trường hợp này, mà phát hiện ra những từ lóng mới như: "Lưu linh", "cái bang", "tiền sống", "tiền chết" ở đường biên không còn yên tĩnh này.

Theo số điện thoại của người đưa tin cung cấp, tôi liên lạc với Hừng (để bảo mật, tất cả các nhân vật trong loạt bài đều được đổi tên) - một trùm nhỏ trong số hàng trăm trùm lớn chuyên "tuyển nai". Khi cuộc gọi được kết nối, bằng giọng khẩn thiết, tôi tự giới thiệu mình là tài xế xe con thất nghiệp đang đói dài họng, cần việc làm. Hừng lạnh giọng hỏi lại tôi: Ai giới thiệu? Tên gì? Nhà ở đâu? Đang chạy loại xe 4 bánh gì? Đã được dặn trước, tôi bịa nhanh một cái tên, một địa chỉ và cho biết đang sở hữu một chiếc xe hơi có tuổi đời tương đương 1 người trung niên, nhưng mới xuất xưởng đại tu. Hừng khen tôi khôn, rồi nói: "Ờ được, xe cũ như vậy, lỡ bị bắt bỏ luôn không tiếc. Chứ mấy thằng đời mới, tui hông chơi". Hừng cho tôi một cái hẹn.

Sáng sớm ngày 24/8/2011, y hẹn với Hừng, tôi đi hơn 40 km để đến một quán cà phê không tên thuộc huyện Đức Hòa (tỉnh Long An) chờ đợi. Đang ngồi sốt ruột thì một người phụ nữ phốp pháp khoảng dưới 40 tuổi thản nhiên sà vào bàn của tôi hỏi: "Anh là…?". Người phụ nữ nói đúng cái tên tôi bịa ra với Hừng, nên tôi biết ngay đó là người của anh ta. Tôi gật đầu xác nhận. Người phụ nữ khăng khăng không chịu nói tên, với lý do không cần thiết, rồi xổ một loạt câu hỏi thẩm tra nhân thân tôi.

Sau phần thẩm tra, người phụ nữ huyên thuyên nói về công việc: "Anh tìm đến tụi tui là đúng chỗ rồi đó. Tui nói ngắn gọn như vầy, anh cứ về Sài Gòn chiêu dụ “nai” lên sòng Tho Mo (cụm casino biên giới thuộc xã Mỹ Quý Tây, huyện Đức Huệ, Long An). Anh phải có “nai” mới nói chuyện với tụi tui được. Chuyến đầu tiên gọi là làm quen, anh đưa ít nhất 4 “nai” lên biên giới, rồi tôi giới thiệu với chủ sòng. Sau đó, cứ mỗi “nai” anh chở lên biên giới tôi trả anh 200.000 đồng, với điều kiện anh không được lấy tiền xe của “nai”. Nếu phát hiện anh lấy của “nai” dù 1 xu, tụi tui cũng xử đẹp anh. Anh biết đó, luật biên giới, "xử" là chỉ có… máu.

Bây giờ, tui tính cho anh thấy lời lãi nè. Xe của anh là xe 4 chỗ, nhưng chở ép được 5 người. Từ Sài Gòn lên biên giới Tho Mo khoảng 60 cây số, cả đi lẫn về tốn khoảng 300 ngàn tiền xăng. Nếu anh chở ép được 5 người thì anh được tụi tui trả 1 triệu đồng, trừ tiền xăng, anh còn lời 700 ngàn đồng/ một chuyến. Mỗi ngày anh chạy 2 chuyến, trừ chi phí, anh sẽ kiếm được hơn 1 triệu đồng…".

Người phụ nữ cho biết, thị là "tay em" của một quản lý sòng tên An (sau này, qua điều tra, tôi không tìm thấy người quản lý nào tên An ở các sòng bài thuộc Tho Mo). Theo lời của thị thì hiện nay, mỗi ngày có ít nhất 80 xe 4 bánh trong lực lượng "tuyển nai" từ Tp HCM, Long An, Tiền Giang, Bình Dương, Đồng Nai đưa người lên sòng Tho Mo. Lực lượng tài xế "tuyển nai" này đều được các chủ sòng ở Tho Mo ra quy định cấm lấy tiền xe của "nai". Đó là cách cạnh tranh thu hút bớt lượng con bạc từ cửa khẩu Mộc Bài (thuộc huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh).

Bài bản vỡ lòng mà thị dạy tôi chiêu dụ con bạc là, rủ rê mọi người quen đi sòng bài để tham quan cho biết, chứ đừng đánh. Không mang theo nhiều tiền, khi vào sòng, muốn đánh bài thì sẽ có người cho mượn tiền đánh. Nếu ăn được nhiều tiền, sẽ có người ở Việt Nam mang tiền đến tận nhà giao. Nếu thua, sẽ có người đến tận nhà thu. Khi qua cửa khẩu, nếu có passport (hộ chiếu) thì chỉ tốn 20.000 đồng lệ phí qua cửa khẩu biên giới phía Việt Nam; Nếu không có passport thì chỉ cần thẻ chứng minh nhân dân kẹp 100.000 đồng "phí" cho trạm biên phòng. Khi qua trạm cửa khẩu Campuchia, mỗi người bị bắt buộc mua 1 "vé qua khẩu" giá 120.000 đồng. Ở vùng giáp biên Tho Mo có 3 sòng bài gồm casino 777 (còn được gọi là My Som Rom), casino Heng Heng và casino 999. Mỗi sòng bài đều có một trường gà. Tại mỗi cửa sòng bài đều có một bàn "thư ký".

Cầm chiếc "vé qua khẩu", khách có thể ghé chiếc bàn "thư ký" của bất kỳ 1 trong 3 sòng bài đóng dấu. Chiếc "vé qua khẩu" có con dấu trở thành "phỉnh giấy" trị giá 120.000 đồng tiền Việt Nam, “phỉnh” có giá trị trước 12 giờ trưa hàng ngày. "Phỉnh" là loại tiền chỉ có giá trị trong casino dùng để đánh bài thay tiền thật. Khách được quyền dùng tấm "phỉnh giấy" ấy đặt cửa 1 lần cho bất kỳ ván bài nào trước 12 giờ trưa. Chính tấm "phỉnh giấy" là chất xúc tác khơi gợi máu đỏ đen trong lòng những người "tham quan" sòng bài.

Đã từng có nhiều người tự nhủ lòng "dứt khoát không đánh bài" khi qua biên giới, vào casino chỉ để tham quan. Nhưng sau khi "ăn" được 120.000 đồng từ cú đặt cửa đầu tiên bằng chiếc "vé qua khẩu" đã khiến họ trở thành "khách rớt bài", tạm trú trong một căn phòng bí mật nào đó chờ người thân đem tiền qua chuộc mạng.

Đang trò chuyện ngon trớn, chuông điện thoại reo, người phụ nữ bắt máy. Nhìn sắc mặt của thị, tôi đoán có chuyện chẳng lành. Quả đúng như vậy, sau khi tắt điện thoại, thị xám mặt hỏi tôi: "Anh là ai? Tại sao anh nói xạo địa chỉ nhà? Tại sao người của tôi đến địa chỉ nhà anh hỏi, không ai biết anh?".

Tôi chìa gương mặt đưa đám ra thanh minh: "Chị thông cảm! Vì tôi chưa biết anh Hừng và chị là người như thế nào, nên giấu địa chỉ". Người phụ nữ không nói thêm lời nào, đứng lên te tái rời quán. Lúc đó, tôi mới trông thấy một gã đàn ông trạc 30 tuổi đứng chờ thị cách quán vài trăm mét từ lúc nào. Gã phóng xe gắn máy đến đón người phụ nữ rồi rồ ga lao vụt đi. Cái cách rồ ga của gã hứa hẹn với tôi nhiều pha nguy hiểm khi trở lại. Độ can đảm của tôi không đủ để nấn ná thêm một giây nào nữa. Tôi không dám chạy xe về hướng Tp HCM cũng không dám đi về hướng trung tâm huyện Đức Hòa. Tôi biến nhanh về hướng ngược lại: Lộc Giang.

Theo sự hiểu biết của tôi thì Long An có 133 km đường biên giới và 5 cửa khẩu, gồm 1 cửa khẩu quốc tế (Bình Hiệp, Mộc Hóa), 1 cửa khẩu chính (Tho Mo, Mỹ Quý Tây, Đức Huệ) và 3 cửa khẩu phụ. Các nhà đầu tư cờ bạc và đầu tư buôn lậu Campuchia chọn 3 cửa khẩu Bình Hiệp, Tho Mo và Tân Hưng làm điểm "hút" tiền từ phía Việt Nam bằng hình thức cờ bạc và chuyển hàng lậu.

Từ năm 2009, phía bên kia cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp, 4 casino lớn được khánh thành gồm Rubi, Lucky, 333 và Prayvo. Riêng 3 sòng bài bên kia cửa khẩu Tho Mo và 1 sòng bên kia huyện Tân Hưng (Svay Angong) bắt đầu đi vào hoạt động từ cuối năm 2009, nhưng do trục trặc trong việc ăn chia sao đó, nên đến tháng 2/2011 mới được mở cửa hoạt động trở lại. Vì sinh sau đẻ muộn so với những sòng bạc giáp biên giới Mộc Bài tỉnh Tây Ninh, nên tất cả các chủ sòng khu vực này đều tổ chức đường dây tài xế xe hơi "tuyển nai" bằng hình thức trả tiền công theo đầu "nai".

Chỉ tính riêng tại Tho Mo, có 1 điểm giữ xe 2 bánh và 3 điểm giữ xe 4 bánh miễn phí cho khách sang biên vào sòng. Điểm giữ xe chính là trạm trung chuyển của các đường dây đưa người qua biên. Tại điểm giữ xe, một lực lượng xe ôm sẽ chở khách đến tận trạm kiểm soát biên phòng cửa khẩu. Nếu khách ngại để lại tên tuổi tại trạm cửa khẩu, muốn vượt biên bằng đường "lậu", lực lượng xe ôm sẽ thu phụ phí 500.000 đồng/người. Nếu khách đi thẳng qua cửa thủ tục biên phòng thì xe ôm sẽ dừng, bỏ khách cách trạm 50 mét. Khách tự đi qua cổng biên giới, tự làm thủ tục. Qua khỏi cửa khẩu 50 mét, một nhóm xe ôm khác sẽ chở khách đi tiếp đến trạm kiểm soát của Campuchia. Từ trạm kiểm soát Campuchia, khách tự đi bộ đến các casino, cách đó khoảng vài trăm mét.

Trong khi các sòng ở Tho Mo ra giá 200.000 đồng/đầu khách đánh bạc cho cánh tài xế xe hơi dù, thì các chủ sòng ở vùng biên giới An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang ra giá 300.000 đồng/đầu khách. Chỉ tính từ biên giới Tho Mo thuộc Long An đến biên giới Xà Xía thuộc Hà Tiên, mỗi ngày có hơn 200.000 xe bốn bánh "tuyển nai" cho các chủ sòng casino biên giới. Một ngày, có bao nhiêu tiền của người dân Việt Nam chảy vào các sòng cờ bạc công khai bên kia biên giới? Không thể có con số chính thức được.

Chỉ tính theo số liệu thống kê tạm tính của lực lượng Bộ đội biên phòng tại 9 cửa khẩu lớn Việt Nam - Campuchia, trung bình mỗi tháng có hơn 185.000 lượt người Việt Nam sang biên vào sòng bài. Điều đó có nghĩa là, trung bình mỗi ngày có 6.000 lượt người mang tiền sang biên đánh bài. Con số nội tệ chảy phi pháp sang các sòng bài mỗi tháng đủ làm các nhà kinh tế choáng váng. Và theo tìm hiểu của tôi, có tổng cộng 73 băng nhóm "tuyển nai" hoạt động phục vụ cho các casino ở đây. Hầu hết những kẻ cầm đầu băng nhóm "tuyển nai" đều là công dân Việt Nam.

Hừng chỉ là trùm nhỏ của một băng "tuyển nai" tại cửa khẩu Tho Mo. Nếu so với hàng trăm ông, bà trùm khác suốt tuyến biên giới, Hừng chỉ là... con tép. Tôi chỉ biết được điều này khi tiếp xúc với Khan - một lưu linh ở các sòng bài thuộc khu vực Bavet - Mộc Bài. Những thông tin tôi thu thập được tại Mộc Bài vào ngày hôm sau 15/8 mới làm lạnh lưng những người có ý định qua biên vào sòng.

Hôm nay, khi đến Lộc Giang, tình cờ tôi phát hiện được 1 trường hợp bị bắt cóc bán cho trùm "mở sổ" ở casino Campuchia đòi tiền chuộc. Nạn nhân là một chú bé 14 tuổi tên Di bị dị tật hở hàm ếch nên còn có tên gọi là Di "ngọng".

Vay tiền thế mạng hay bắt cóc đòi tiền chuộc?

Lần theo lời chỉ dẫn của một "thổ địa" trú tại Lộc Giang, tôi rời con đường chính Tân Mỹ - Lộc Giang, rẽ vào một con đường đất đỏ. Ngôi nhà gạch tương đối khang trang của chị Trần Kim Lệ (36 tuổi) nằm ở cuối con đường ấp Lộc Chánh (xã Lộc Giang, huyện Đức Hòa, Long An). Khu vực thuần nông nghèo khó này có 70% là nhà tạm bợ, xiêu vẹo nên ngôi nhà của chị nổi bật. Chính vì cái vẻ khang trang của ngôi nhà mà gia đình chị bị các đối tượng chuyên dụ dỗ con bạc sang sòng bài Campuchia dòm ngó. Chúng đâu biết rằng, ngôi nhà là thành quả tích cóp của hàng chục năm bán cá đồng của chị.

Hơn một tháng nay, chị Lệ ăn ngủ không yên vì không biết sinh mạng con trai mình ra sao. Chị cho biết đã gửi đơn cầu cứu đến các cơ quan chức năng nhờ giúp đỡ cứu con chị ra khỏi tay bọn buôn người qua biên giới.

Trong tâm trạng thất thần, chị kể, vào ngày 16/7/2011, con trai chị là Nguyễn Thành Di, bị một đối tượng cư ngụ cùng địa phương có tên là Thanh chở đến quán cà phê "Điểm hẹn" ở cách nhà khoảng 3km. Đến tối, không thấy con trai về nhà, chị Lệ đi tìm hỏi thì được biết, con chị được một đối tượng tên Dưa, khoảng 23 tuổi, đưa đi thị xã Tân An (tỉnh Long An) chơi. Linh cảm của một người mẹ cho chị biết con mình gặp chuyện bất ổn. Suốt đêm hôm đó đến sáng hôm sau, vợ chồng chị chạy đôn đáo khắp nơi để tìm, nhưng không kết quả.

Bất ngờ, chiều ngày 17/7/2011, số máy lạ ...889446412 mang mã số Campuchia gọi vào điện thoại của chồng chị. Từ điện thoại, giọng một người đàn ông vang lên đầy vẻ đe dọa: "Con trai mày qua đây thế thân mượn tiền đánh bài. Bây giờ mày phải trả cho tụi tao 65 triệu đồng. Nếu không trả, mày đoán được sinh mạng của con mày ra sao rồi đó". Anh Tửng chồng chị Lệ chưa kịp nói gì thì người đàn ông đã cúp máy. Chị Lệ bán tín bán nghi, nên điện thoại vào số máy lạ, đề nghị cho nói chuyện với con trai. Từ điện thoại, giọng em Di run rẩy: "Mẹ kêu ba đưa tiền cho thằng Hiếu trong băng "nhà đèn" ở Trảng Bàng (Tây Ninh) nhanh lên. Tụi nó đòi giết con!". Chỉ nói đến đó, máy bị cúp ngang.

Lo sợ cho tính mạng con trai, một mặt anh chị gửi đơn trình báo và cầu cứu đến các cơ quan chức năng của địa phương, một mặt chạy vạy mượn tiền khắp nơi mới gom đủ con số bọn bất lương yêu cầu.

Ngày 19/7, anh chị chủ động gọi vào số máy lạ để xin chuộc con. Lần này, gã đàn ông không chấp nhận số tiền chuộc là 65 triệu đồng nữa mà đòi... 100 triệu đồng. Anh chị lại cuống quýt vay mượn tiền. Chưa mượn được đủ số tiền bọn bất lương yêu cầu, thì đêm 20/7, số máy trên lại nhắn tin vào máy của anh Tửng với nội dung: "Mày có trả tiền cho con mày không. Nếu không trả, tao sẽ đem con mày đi bán 1 quả thận, 1 con mắt là dư tiền của tao rồi. Mày cho tao biết có trả tiền hay không để tao tính?".

Anh Tửng vội gọi lại số máy của bọn bất lương để xin thêm thời gian thì giọng người đàn ông gay gắt: "Bây giờ, tiền chuộc của con mày đã lên đến 200 triệu đồng rồi. Mày tiếc tiền chuộc con thì đừng trách tao". Sau khi đe dọa thêm một lúc, người đàn ông lạnh lùng cúp máy. Kể từ ngày đó đến nay, tối nào số máy lạ từ bên kia biên giới cũng gọi vào điện thoại của anh chị. Khi bắt máy anh chị chỉ kịp nghe con trai kêu thảm thiết: "Mẹ ơi cứu con!" rồi im bặt. Chị Kim Lệ gác mọi chuyện làm ăn lân la sang tận Campuchia đi khắp các sòng bài tìm con suốt nhiều ngày, nhưng vô vọng.

Kể từ ngày 14/8 đến nay, số máy lạ không còn gọi cho anh chị nữa. Người đàn bà mất con gần như không còn sinh khí sống, thiết tha nói: "Không biết con tôi còn sống hay chết. Cho dù chết, cũng cho tôi tìm thấy xác. Nếu còn sống thì bằng giá nào tôi cũng tìm con tôi về".

Chị cho biết thêm, trong những ngày chị tìm con, có hai đối tượng cư ngụ cùng địa phương đến tận nhà chị chửi mắng thô tục và thách thức: "Mày đi báo công an hả? Cứ báo đi, xem có làm được gì tụi tao không?".

Từ nhiều nguồn thông tin, tôi phát hiện số máy… 889446412 là của một người đàn ông tên Khắc, cư ngụ cùng địa phương với chị Lệ. Khắc và mẹ của Khắc là bà Thân, đều là những đối tượng "chủ sổ" ở các casino biên giới.

Kiểm chứng thông tin cho thấy diễn biến vụ "mất tích" của em Di như sau: Sáng ngày 16/7/2011, Thanh rủ em Di đến quán cà phê "Điểm hẹn", gần ngã ba Lộc Chánh. Tại đây, em Di bị hai đối tượng tên Ba Dưa và Chứng rủ rê sang casino biên giới chơi. Chứng và Ba Dưa là những thanh niên lêu lổng, có biểu hiện sử dụng ma túy, và là đàn em của Khắc. Những đối tượng này sống bằng nghề "tuyển nai" cho các chủ sòng casino biên giới.
Băng nhóm của Chứng gồm hàng chục đối tượng đã từng dụ dỗ, lôi kéo hàng trăm người tại địa phương sang bên kia biên giới đánh bài, và đã có hàng chục người biến thành con nợ của Khắc, bị giam cầm đòi tiền chuộc. Trong số các đối tượng bị Khắc giam giữ đòi tiền chuộc, Tùng "bến đò" là người từng lâm nạn hơn 6 lần. Trong băng nhóm này có những cái tên mà dân địa phương nghe đến đã lè lưỡi lắc đầu như: Lộc (còn có tên khác là Lợi "liều"; Thành "ghẻ"; Tư Tri…).

Gần như cả gia đình Lộc đều sống bằng nghề "ăn theo" casino biên giới. Mẹ của Lộc, vợ Lộc đều là những "chủ sổ" có tiếng ở casino. Riêng Lộc, ngoài cái nghề "tuyển nai" sang biên giới, hắn còn có một nghề khác là thu gom xe gắn máy bị "đá" bán qua bên kia biên giới. Người dân địa phương từng chứng kiến Lộc chở cả xe tải loại "hàng" này về nhà chờ mối lái bên Campuchia sang mua.

Điều đáng nói là em Di chỉ mới 14 tuổi, tức chưa đến tuổi mà "luật casino" chấp nhận cho bước vào cửa sòng. Vì vậy, nguyên nhân em Di bị thua bài vay tiền thế mạng đòi tiền chuộc là vô lý. Lý do duy nhất có thể chấp nhận được là, em Di bị đàn em của Khắc bắt cóc tống tiền. Được biết, Cơ quan C45 Bộ Công an đã vào cuộc điều tra, và đang tiến hành biện pháp giải cứu em Di.

Nhằm tìm hiểu thêm những chiếc vòi bạch tuộc của các casino bên kia đường biên, tôi rời Lộc Giang, tiến thẳng về hướng biên giới. Từ Lộc Giang vượt qua phà, có hai lối đi về biên giới. Cả hai lối đi này đều được dân buôn lậu chọn làm đường vận chuyển hàng. Tại cầu Đôi, rẽ trái tiến thẳng khoảng 12km sẽ về cửa khẩu Tho Mo, rẽ trái đi khoảng 15km sẽ đến thẳng cửa khẩu Mộc Bài.

Tội ác…

Chuyện con bạc bị thua cháy túi vay tiền thế mạng rồi bị giam giữ tại Campuchia chờ người thân chuộc mạng không còn xa lạ với những người dân sinh sống gần biên giới nữa. Hiện tượng này đã xảy ra từ những ngày đầu tiên các casino đi vào hoạt động. Mới đây, ngày 14/8/2011, một người đàn ông đào thoát khỏi nơi giam giữ của bọn chủ sổ ở Bavet chạy về Việt Nam, mang thân hình bầm dập vì bị hành hạ, đến trình báo với lực lượng biên phòng Long An. Ông ta cho biết, cùng bị giam giữ có 6 người Việt Nam khác bị "rớt bài" vay tiền thế mạng gồm 4 nam, 2 nữ, trong đó có một nhân vật tên Tèo "mập".

Tèo "mập" tên thật là Đỗ Thành Công, cư ngụ ở xã Bình Hiệp, Mộc Hóa, Long An, hành nghề chạy xe ôm. Khoảng giữa tháng 7/2011, Tèo "mập" sang casino thử vận may. Kết quả của chuyến thử vận may suốt 2 ngày đêm, Tèo "mập" thua trắng tay. Để có tiền "gỡ bạc", Tèo "mập" vay thế mạng chủ sổ Nguyễn Thị Bích Lan (cư ngụ Gò Dầu, Tây Ninh) 1.000 USD với lãi suất 10% mỗi ngày. Lại thua trắng, Tèo "mập" trở thành "khách trọ".

"Khách trọ" là tiếng lóng, ám chỉ những con nợ còn trong thời gian hẹn trả nợ. "Khách trọ" bị giam lỏng trong một khách sạn (của casino), được đối xử rất tử tế, cơm nước đầy đủ, để chờ người thân gửi tiền qua chuộc. Khi hết thời gian hẹn, nếu chủ sổ vẫn chưa nhận được tiền chuộc, thì kẻ thế mạng trở thành "nợ bạc". "Nợ bạc" bị tống vào một căn phòng trọ nào đó cho bọn côn đồ "luyện tay" (tức đánh đập, hành hạ). Suốt thời gian "luyện tay", những kẻ "nợ bạc" thường xuyên bị đưa đến nhiều địa điểm giam cầm. Tèo "mập" chính thức trở thành "nợ bạc" từ ngày 1/8/2011 với số nợ tính lãi lên đến 2.000 USD. Mỗi ngày, Tèo "mập" bị "luyện tay" cả chục lần. Lần nào cũng hộc máu mồm, máu mũi mới được tha.

Đến ngày 7/8/2011, khi bị giam tại một phòng khách sạn trên tầng 5 của casino Sato (Bavet), do không chịu đựng nổi những ngón đòn tra tấn, Tèo "mập" đã cùng với một "nợ bạc" khác tên Tùng (cư ngụ ở Vĩnh Long) phá cửa sổ nhảy lầu đào thoát. Tùng bị gãy chân tay, còn Tèo "mập" thì chết tại chỗ. Bọn giam người đã thuê một chiếc taxi giá 2.000 USD chở xác Tèo "mập" đi về hướng tỉnh lị Svay Rieng khoảng 40 cây số, quẳng xuống sông. Mấy ngày sau, người dân Campuchia sống ven sông phát hiện xác Tèo "mập", đã vớt lên chôn cất cạnh ngôi chùa ở Romeas Haek.
Hiện, Cơ quan C45 Bộ Công an đã bắt giữ được "chủ sổ" Nguyễn Thị Bích Lan để làm rõ vụ án. Thi thể của Tèo "mập" cũng đã hồi hương, bàn giao cho thân nhân chôn cất.

Cuối tháng 7/2011, trinh sát C45 giải cứu thành công một "nợ bạc" tên Nguyễn Minh Tân (20 tuổi, cư ngụ huyện Châu Thành, Bến Tre). Được biết, Nguyễn Minh Tân và Trương Toàn (sinh năm 1986, cư ngụ tại quận 10, Tp HCM) là 2 đối tượng sang casino biên giới đánh bạc. Do thua hết tiền, hai người này đã vay thế mạng 2.000 USD từ một chủ sổ tên Hang Lợi ở Bavet. Số tiền cần chuộc mạng cộng vốn lẫn lãi lên đến 5.000 USD/người. Do không giữ đúng thời gian hứa chuộc mạng, cả hai bị đám "luyện tay" của Hang Lợi chặt một lóng tay gửi về gia đình.

Ngày 19/7, được cảnh sát Campuchia hỗ trợ, các trinh sát thuộc Cơ quan điều tra của Công an Việt Nam bất ngờ ập vào một ngôi nhà trọ tồi tàn ở Chiphou, cách Bavet khoảng 15 km về hướng tây bắc, giải cứu thành công Nguyễn Minh Tân. Riêng Trương Toàn bị đám "luyện tay" đưa về giam cầm ở Bình Dương, rồi Bình Phước. Tân đã trốn được khỏi nơi giam cầm vào ngày 19/7.

Cách nay không lâu, Th. A. - một đại gia con cưng của một vị cán bộ hưu trí của tỉnh Tây Ninh, trở thành nạn nhân của sòng bài biên giới. Th. A. được bố cho "ra riêng" một công ty sản xuất và xuất khẩu khoai mỳ (sắn) mang tên T.H.M. Lợi nhuận từ công ty khiến rất nhiều đại gia khác thèm thuồng, nhưng Th. A. lại thích làm “thần bài” hơn. Một lần, Th. A. sang biên giới chơi thử một chuyến. Chuyến chơi thử này, Th. A. mang về 7 tỉ đồng. Chuyến thứ 2 anh ta đem "lợi nhuận" về 5 tỉ VND từ sòng bài.

Chuyến thứ 3, anh ta mang sang casino một khoản ngoại tệ trị giá tương đương 6 tỉ đồng để "chiến đấu". Lần này, anh ta ra về trong trạng thái vô thức trên một chiếc xe du lịch "an ủi' của sòng bài.

Những "tà lọt" đi theo cho biết, anh ta đã cháy túi hơn 100 triệu USD tại sòng, đồng thời, ký giấy sang nhượng toàn bộ tài sản ở Việt Nam. Có nghĩa là, anh ta đã trở thành một tên du thủ du thực, không nhà, không tài sản, chỉ trong một ván bài định mệnh. Cơn đột quỵ xảy ra ngay trên chiếc xe "an ủi" của sòng bài. Về đến nhà, anh ta "thăng" luôn, để lại cho dư luận một bài học cay đắng.

Người dân Gò Dầu (Tây Ninh) gọi cây cầu Gò Dầu nằm trên tuyến đường đến cửa khẩu Mộc Bài bằng cái tên mới là: "cầu giải thoát". Họ đã chứng kiến và nhọc công cứu vớt rất nhiều người nhảy sông tự tử, sau khi từ casino biên giới về. Không ít người "muốn giải thoát" ở cây cầu này là tiểu thư xinh đẹp lẫn đại gia.

Hệ thống khép kín trong các sòng bài

Nhờ được giới thiệu trước, tôi gặp Hòa ngay khi đến cửa khẩu Mộc Bài. Hòa đã từng là "chủ sổ" tại một sòng bài bên kia biên giới. Cuối năm 2010, Hòa chính thức "đóng sổ", không làm ăn ở casino nữa. Thời còn làm "chủ sổ", trung bình mỗi ngày, Hòa kiếm được hơn 20 triệu đồng. Lý do Hòa bỏ nghề chỉ vì trong máu có tiềm ẩn "con ma bài". Kiếm tiền từ sòng bài rất nhiều, nhưng Hòa thua bài nhiều hơn. Sau vài trận cháy túi, bán cả nhà cửa, ruộng vườn, Hòa dứt áo với casino, trở về Bến Cầu cặm cụi sửa xe gắn máy. Nhờ đã từng là “chủ sổ” nên Hòa biết khá rõ mọi chiêu thức hoạt động của những kẻ sống ký sinh vào sòng bài.

Khi mới khai trương hoạt động vào năm 2002, các casino bên kia cửa khẩu biên giới Mộc Bài chỉ tuyển nhân viên phục vụ là người Việt Nam thuộc các huyện Bến Cầu, Gò Dầu (tỉnh Tây Ninh). Vì sao vậy? Theo quy định của chính quyền Campuchia, công dân nước sở tại không được phép vào các casino đánh bài. Vì nhắm đến các "thượng đế con cháu thằng bần", nên các chủ sòng tuyển lựa nhân viên Việt Nam, nhằm tránh việc bất đồng ngôn ngữ.

Rõ ràng, ngay từ đầu mục đích của các dự án xây dựng casino dọc biên giới Việt Nam - Campuchia là thu hút giới mê bài người Việt Nam. Hồ sơ của C45 cho thấy, hệ thống 42 casino, 26 trường gà Campuchia mọc dài theo tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia, từ Gia Lai cho đến Kiên Giang. Tất cả những địa phương có đường biên giới chung với Campuchia đều gánh gồng tình trạng người dân vượt biên đánh bài.

Chủ sòng thật sự của các casino biên giới này hầu hết đều là người Trung Quốc, gốc Macau hoặc Hồng Công. Tất cả các chủ sòng khi đưa ra dự án đầu tư casino đều mời gọi các quan chức nước sở tại hùn vốn theo kiểu "tôi bỏ tiền, anh bỏ quyền lực vào". Trong thời gian hoạt động thử nghiệm cụm casino Bavet, tất cả những bộ phận quan trọng như quản lý sòng bài, quản lý nhà hàng của sòng bài, nhân viên "kỳ bẻo" và lực lượng bảo vệ đều có gốc gác ở Macau và Hồng Công. Lực lượng này chuyển giao "nghiệp vụ" dần cho các nhân viên người Việt và Campuchia.

Thời gian "chuyển giao" này, hầu hết những nhân viên đổi phỉnh đều được tuyển từ Việt Nam với mức lương 100 USD/tháng. Đối với các nhân viên gốc nông dân vùng Bến Cầu, Gò Dầu, đó là mức lương khá hấp dẫn. Mỗi sáng, lực lượng này xuất ngoại sang biên làm việc, đến tối lại hồi hương. Lực lượng này trở thành những cái loa quảng cáo không công cho các casino.

Sau khi hoạt động được hai năm, tổng kết lại, chính các chủ sòng cũng bất ngờ vì sự đam mê đánh bài của các "thượng đế" Việt Nam. Một bất ngờ khác nằm ngoài dự đoán của các chủ sòng là bên này biên giới Việt Nam tự hình thành một lực lượng cò hùng hậu, sẵn sàng làm hướng dẫn viên, không cần hưởng lương, của các chủ sòng. Lực lượng cò này hình thành từ đội ngũ chạy xe ôm biên giới. Không hưởng lương sòng bài, nhưng họ sẵn sàng chở những vị khách mê bài bạc vượt biên giới trái phép bằng các con đường mòn vào nộp mạng cho các sòng bài. Không bỏ lỡ cơ hội, các chủ sòng nhanh chóng đưa ra hình thức "khen thưởng" cho các tay cò kiêm xe ôm: Thưởng 500.000 đồng hoa hồng, nếu đưa được một khách vào sòng đổi phỉnh 500 USD.

Sau 5 năm hoạt động, các chủ sòng ở Bavet nhận thấy phía Việt Nam có quá nhiều cò, và số lượng những con bạc Việt cháy túi vật vờ tại casino không chịu về nước ngày một nhiều. Thế là họ đổi chính sách. Các chủ sòng mời những con bạc cháy túi hợp tác làm "chủ sổ".

Để được làm "chủ sổ", chỉ cần nộp 1 bản photo giấy chứng minh nhân dân, 2 tấm ảnh thẻ, và ký quỹ cho chủ sòng mỗi ngày 10.000 USD. Quyền lợi là "chủ sổ" được quyền "mở sổ" cho vay nóng tại casino. Đổi lại, "chủ sổ" phải trả lương cho lực lượng "lưu linh" trong sòng làm công việc hướng dẫn khách chơi bài với mức từ 80 USD đến 150 USD, tùy theo tay nghề. Kể từ khi có lực lượng "chủ sổ", các chủ sòng không tốn tiền nuôi nhân viên hướng dẫn nữa. Hàng ngày, sau khi casino đóng cửa, đại diện chủ sòng sẽ tính sổ cộng trừ lời lãi với "chủ sổ", và "chủ sổ" sẽ được nhận lại tiền ký quỹ.

Ngoài việc hưởng mức lãi suất từ 10% đến 30% tính theo ngày, từ việc cho các con bạc cháy túi vay nóng tại sòng, các "chủ sổ" còn được sòng bài chi hoa hồng với mức 20% khoản khách chơi bài đổi phỉnh. Để dễ ghi sổ thanh toán, các "chủ sổ" chia các khoản tiền lưu thông trong sòng bài thành hai loại. "Tiền chết" là khoản lưu thông từ túi của khách vào quầy đổi phỉnh. "Tiền sống" là khoản tiền sòng bài chung cho khách ăn bài. Chủ sổ được hưởng hoa hồng từ khoản tiền "tiền chết".

"Phỉnh" để chơi bài là một miếng nhựa tròn, có nhiều mệnh giá. Mỗi mệnh giá phỉnh có màu khác nhau. Phỉnh trị giá 100 USD màu xanh; 10 USD màu nâu; 5 USD màu vàng; 1 USD màu đỏ và 1/2 USD có màu trắng.

Trong phòng VIP còn có một kiểu phỉnh rất đặc biệt, mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu rõ giá trị thực của nó. Đó là loại phỉnh giấy. Trên tờ phỉnh giấy có ghi sẵn những ô trống để người chơi chỉ việc điền tên họ, địa chỉ, số chứng minh, số tài khoản và tài sản chưa định giá như: nhà xưởng, nhà kho, lô đất, xe hơi, thậm chí, công ty kinh doanh mà con bạc sở hữu!
Để có ăn, các "chủ sổ" tìm những con bạc cháy túi đang vật vờ làm "lưu linh" cho mình. Khi khách bước vào sòng, "lưu linh" có nhiệm vụ đi cặp kè theo khách, hướng dẫn khách đổi phỉnh và cách chơi bài. Khi khách thua bài, "lưu linh" phải biết cách rỉ tai để khách tiếp tục sát phạt. Khi khách cháy túi, "lưu linh" phải biết cách chiêu dụ khách vay nóng "chủ sổ". Và "lưu linh" được hưởng 10% số "tiền chết" của khách.

Tiếp sức với lực lượng "lưu linh", ở các sòng bài còn có một lực lượng "hướng dẫn viên" trôi nổi khác, gọi là "cái bang". Đó là những con bạc cháy túi không dám mò về nhà, đành lấy casino làm nơi sống vật dựa. Những khách "mồ côi" không phải là mối của "chủ sổ" sẽ được các "cái bang" chăm sóc. Tuy không được hưởng lương, nhưng các "cái bang" cũng nhiệt tình giúp khách để được hưởng mức hoa hồng từ "tiền chết".

Ngoài lực lượng "lưu linh", các "chủ sổ" còn phải có 2 nhóm thuộc hạ khác. Một nhóm ở trong nước có nhiệm vụ tìm con bạc, rủ rê sang casino chơi bài, gọi là "tuyển nai". Nhóm "tuyển nai" còn có nhiệm vụ khác là điều tra địa chỉ, lai lịch và khả năng tài chính của con bạc. Nhóm thứ hai có nhiệm vụ làm áp lực với thân nhân "nợ bạc" để đòi tiền chuộc. Nhóm này thường có máu côn đồ, dám xẻo tai, chặt lóng tay, và hành hạ "nợ bạc".

Hầu hết những "chủ sổ" tại các sòng casino biên giới đều là người Việt hoặc Việt kiều Campuchia có thân nhân đang sinh sống tại Việt Nam. Nhiều con bạc sang biên giới vào sòng không cần mang tiền mặt theo. Con bạc chỉ cần nêu số tiền cần có để chơi bài, "chủ sổ" sẽ giao ngay số phỉnh có giá trị tương đương. Cùng lúc ấy, tại Việt Nam, người của "chủ sổ" có mặt tại nhà con bạc để nhận số tiền tương đương.

Với cách "chuyển khoản" này, con bạc không tốn một xu tiền dịch vụ. Hàng tháng, có hàng tỉ đồng chảy sang Campuchia theo kiểu này. Khi con bạc cháy túi, chỉ cần viết một bản vay nợ ngắn gọn, nêu rõ thời gian trả, là "chủ sổ" chi tiền bằng mệnh giá phỉnh ngay tại chỗ. "Luật" của sòng bài là, vay bao nhiêu phải thắng bấy nhiêu, mới được nghỉ. Nếu con bạc vay 10 triệu đồng mà gỡ được 999.000 đồng, cũng không được dừng chơi.

Suốt thời gian chơi bài, tất cả các con bạc đều được xem là thượng đế, được sòng bài chiêu đãi ăn uống và phòng khách sạn miễn phí không hạn định. Thế nhưng, cứ 10 người vào sòng là có đến 9 người trắng tay. Trong 10 người trắng tay, có 1 người vay tiền. Và khoảng 10 người vay tiền, có 1 người trở thành "nợ bạc", về nước với thân thể bầm dập.

“Luật của sòng”

Tất cả những thủ đoạn hoạt động đó đều được giới casino "chế tài" bằng một thứ luật riêng bất thành văn, gọi là "luật của sòng". "Luật của sòng" chỉ có một điều khoản khuyến cáo duy nhất, đó là sự im lặng. Khoản "chế tài" của thứ luật này chỉ có hai mức. Nhẹ thì bị đánh hội đồng, bẻ gãy tay, chân. Nặng thì "mất tích". Nếu nói về quyền lực thì tại các casino, đứng nhất là chủ sòng, đứng nhì là những "chủ sổ". Chủ sòng có quyền lực với chính quyền, còn giới "chủ sổ" có quyền lực đối với giới xã hội đen.
Vì sao chỉ có người Việt làm "chủ sổ"? Giới chủ sòng tuyên bố: "Hãy để người Việt trừng trị người Việt".

Kể từ khi bắt tay vào việc, từ đầu tháng 8/2011, tổ đặc trách lực lượng hình sự Bộ Công an điểm danh tại cụm casino Bavet hơn 10 "chủ sổ" khát máu người. Những cái tên được điểm danh đều là người Việt như Nguyễn Hoàng (Gò Dầu), Huỳnh Công (Trảng Bàng), Thị Diễn (Đức Hòa), Phan Thị, Lê Trường, Kim H. (Lộc Ninh), Bích H, Võ Văn…

Trong đó, đối tượng Cái là một trong những "chủ sổ" hầm hố nhất, với lực lượng đàn em lên đến hơn 200 tên. Băng này có hệ thống "tuyển nai" và côn đồ hoạt động khắp các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Cách nay khoảng 10 năm, Cái chỉ là một gã lang thang ghi đề ở Gò Dầu, Tây Ninh. Sau vài lần sang casino, Cái mất cả nhà cửa, vợ con. Thế là Cái trở thành một "cái bang" lê la ở các sòng. Từ "cái bang", Cái leo dần lên "lưu linh".

Năm 2008, khi đã có chút vốn, Cái chính thức mở sổ tại casino Las Vegas. Cái có một đám đệ tử khoảng hơn 50 tên nằm khắp các vùng Bình Phước, Vũng Tàu, Bình Dương, Đồng Nai. Thủ đoạn của Cái là cho đàn em kiểm tra địa chỉ, tài sản của những khách có máu chơi bạc có mặt tại sòng. Nếu gặp khách "thơm", có nhiều tài sản giá trị, Cái cho “lưu linh” tiếp cận mồi chài làm quen, xin số điện thoại. Thỉnh thoảng, Cái gọi điện thoại hỏi thăm sức khỏe, rồi mời gọi sang casino.

Khi khách đến casino, Cái sẵn sàng tặng không cho khách một mớ phỉnh trị giá vài trăm USD để tạo thiện cảm. Với chiêu dẫn dụ đó, nhiều con mồi đại gia đã trở thành "nợ bạc" của Cái. Nhờ điều tra tài sản của khách chơi bạc trước khi tung mồi dụ, nên hầu hết "nợ bạc" của Cái không cần phải đánh đập, hành hạ hay tháo lóng tay. Hiện nay, Cái có hàng ngàn héc-ta cao su, bất động sản đều khắp các tỉnh miền Đông Nam Bộ.

Tại Bavet, có một đối tượng được giới sòng bài gọi là "sát thủ" chuyên giam người đòi nợ thuê cho các "chủ sổ". Đó là Lợi. Đối tượng này sinh năm 1974, quê quán ở Đức Hòa, Long An, nhưng đã bỏ tiền mua quốc tịch và hộ khẩu tại Bavet, Campuchia. Mỗi một nạn nhân, Lợi đòi "chủ sổ" chi tiền công 4.000 USD. Lợi không là đàn em của “chủ sổ” nào cả. Ai thuê Lợi cũng làm. Lợi chính là người nghĩ ra chiêu chặt lóng tay nạn nhân để đòi tiền chuộc. Hiện, đối tượng này đang bị lực lượng Công an tạm giữ hình sự để điều tra về những tội ác hắn gây ra.

Trước hiện tượng nhiều đối tượng sang Campuchia đánh bạc bị trắng tay, trở thành "nợ bạc" đòi tiền chuộc, Thiếu tướng Võ Thành Đức - Giám đốc Công an tỉnh Bình Dương đã cử một tổ công tác qua các casino khảo sát. Sau khi khảo sát, tổ công tác phát hiện những casino này sử dụng những lá bài có từ tính. Thông qua công nghệ vi tính, các hồ lỳ có thể điều khiển tỷ lệ số bàn thắng thua. Tất nhiên, tỷ lệ thắng bài nhiều hơn phải là sòng bài. Đó là lý do những ván chơi thử đầu tiên, khách mới luôn luôn thắng bài. Khi khách chơi bài "sung máu quyết liệt" thì khách luôn luôn thua.

Đã nhiều lần, Tổng cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm về tận các địa phương giáp biên có casino lập chuyên án bẻ gãy các đường dây chiêu dụ đưa đón con bạc, cũng như phá những vụ án liên quan đến casino. Tuy nhiên, những động thái đó không thể giải quyết dứt căn chứng bệnh chảy máu nội tệ sang biên

...................................................................• Nông Huyền Sơn





Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 17.10.2011, sửa lần 4
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 08.10.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

VƯỢT RỪNG CẮM MỐC




Mở đường lên vị trí cột mốc



Trèo qua mỏm đá



Bữa cơm trong rừng



Qua đêm trong rừng



Tiết kiệm từng giọt nước



Ăn lõi chuối rừng cho đỡ khát



Trên đỉnh núi Giăng Màn (Cha Lo - Quảng Bình)



Sắp tới đích rồi !

Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 10.10.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN

TỪ 1950 ĐẾN 1979

Không rõ cuối thế kỷ 19, sau thời kỳ phân giới cắm mốc, Chính phủ Pháp và triều đình nhà Thanh có lập ra những đồn biên phòng để tuần tiễu dọc đường biên, kiểm soát tình hình trật tự an ninh và duy trì vị trí các cột mốc giới không ? Chắc là không, hoặc nếu có làm công tác này thì chắc chỉ làm lấy lệ, khó mà "đến nơi đến chốn" được. Điều này dễ hiểu và dễ... thông cảm.

Báo cáo đề ngày 26-6-1887 của một nghị sĩ quốc hội Pháp tên là Dureau de Vaulcomte, là thành viên trong Ủy ban kiểm tra việc thực thi Công ước Pháp - Thanh 1887 có đoạn viết:

"Nous possedons une feuille d’une de ces cartes, plus exactement une reproduction d’une copie conforme. On y trouve les indications suivantes: Cinquieme section de la frontiere. Echelle 1/24000. Signe: Constans, Prince King Soung.

Les seuls noms identifiables sont: Riviere Noire, Lai-Chau, Phong To; tous les autres sont chinois; il s’agit donc bien d’une carte chinoise. La frontiere est marquee d’un trait ponctue de lettres A a E; elle correspond exactement au descriptif de la convention. Cette carte n’est qu’un croquis tres mal dessine, etabli de chic, sans mesures faites sur le terrain. Elle ne ressemble que de tres loin a la carte reguliere faite ulterieurement. Sauf au depart du Fleuve Rouge, la frontiere tracee sur ce croquis n’a aucun rapport avec la frontiere actuelle. C’est celle du Vice-Roi.

En somme, deux ans apres la signature du traite de paix, on avait tout juste reconnu 120 kilometres de frontiere; tout le reste, plus de 1,000 kilometres figurait sur des cartes fantaisistes. La Convention n’etait pratiquement qu’un chiffon de papier et tout restait a faire".


Tạm dịch:

"Chúng tôi có trong tay một tấm bản đồ trong số nhiều tấm bản đồ đó, đúng hơn là một bản sao y bản chính. Ta thấy trên bản đồ những dòng chữ sau đây: "Vùng thứ 5 của đường biên giới. Tỉ lệ 1/24.000. Ký tên Constans, Prince King Soung".

Các địa danh có thể nhận ra là: Sông Đà, Lai Châu, Phong Thổ; tất cả những tên khác là chữ Trung Hoa; như vậy, đây đúng là một bản đồ của Trung Hoa. Đường biên giới được vạch bằng một đường nối các chữ A đến chữ E, phù hợp hoàn toàn với các điểm mô tả trong Công ước. Tấm bản đồ này chỉ là một sơ đồ vẽ rất sai, được lập nên nhờ sự khéo tay, chứ không hề dựa trên những đo đạc trên thực địa. Nó không giống các bản đồ thông thường vẽ sau này một tí nào. Ngoại trừ khởi điểm của sông Hồng, đường biên giới vẽ trên sơ đồ này không có một tương quan nào với đường biên giới hiện nay. Đây là bản đồ của viên Tổng đốc (Vân Nam).

Rút cục, hai năm sau khi ký Hiệp ước hòa bình, người ta chỉ biết có 120 km đường biên giới; phần còn lại, hơn 1.200 km vẽ trên các bản đồ vô căn cứ. Công ước, trên thực tế, chỉ là một mảnh giấy vụn, và tất cả đều phải làm lại từ đầu".

Chính vì thế mà ra đời Công ước bổ sung 1895.

Tuy nhiên, biên bản mô tả vị trí các cột mốc không thật rõ ràng. Một số thí dụ:

Cột mốc số 1: nằm ở giao điểm giữa sông Thiên Hà với con đường từ Cúc Phương đến Lão Ao Trang, dưới chân một cụm núi chắn ngang.
Cột mốc số 2: trên đường từ Long Ba Mỹ đến Bạch Thạch Nhai.
Cột mốc số 3: trên một cái đèo, trên đường từ Nam Trại đến Giáp Mã Thạch.
Cột mốc số 4: trên một cái đèo, trên đường từ Nam Trại đến Tân Trại.
Cột mốc số 5: trên đường từ Nam Trại đến Thủy Ðối Phòng.
Cột mốc số 6: trên đường từ Thiên Hà Trại đến Thủy Ðối Phòng.
Cột mốc số 7: trên đường từ Tân Trại đến Tân Ðiếm, ở gần Ðộc Mộc Kiều (cầu độc mộc).
Cột mốc số 8: trên đường từ Mường Khương đến Thiên Tang.

Có lẽ, đó là kẽ hở để ai đó muốn di chuyển cột mốc mà không sợ bị phát hiện.

Đọc một báo cáo khác về vị trí các cột mốc trong đợt kiểm tra các cột mốc ở khu vực Lạng Sơn từ ngày 15 đến ngày 30-6-1914, thấy viết như sau:

21 cột mốc chính xác.
4 cột mốc có ghi nhận trên bản đồ, nhưng không thấy trên thực địa.
6 cột mốc có trên thực địa, nhưng không thấy trên bản đồ.
7 cột ở đúng vị trí trên bản đồ, nhưng không đúng số hiệu đã ghi.
5 cột mốc không ghi số hiệu gì cả. Có lẽ, các cột mốc này đã có trước năm 1886 (là năm hai bên Pháp - Thanh bắt đầu tiến hành cắm mốc).

* * *

Sau cách mạng tháng Tám 1945, thể chế mới của nước Việt Nam là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn phải lo đối phó với biết bao vấn đề cấp thiết hơn (diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm), còn đâu thì giờ và nguồn lực để chăm lo đến "vùng sâu vùng xa".

Năm 1945, phe Đông Minh thắng phe Trục (phe phát-xít), quân Pháp thế chân quân Tưởng ở miền Bắc và quân Anh ở miền Nam (lúc này đổi, gọi là Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, không ai gọi là Bắc Kỳ, Trung Kỳ, và Nam Kỳ nữa) vào giải giáp quân đội phát đội phát - xít Nhật ở Đông Dương.

Năm 1946, Pháp gây hấn "quyết tâm cướp nước ta một lần nữa". Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải rút lên núi rừng Việt Bắc. Thực dân Pháp quay trở lại chiếm Hà Nội.

Tháng 10-1947, Pháp bất ngờ đem đại quân mở cuộc tấn công quy mô lên Việt Bắc, trong đó 12.000 tên nhảy dù xuống Bắc Cạn, Chợ Mới, Chợ Đồn, bắt sống được cụ Nguyễn Văn Tố có thân hình mảnh dẻ, dáng dong dỏng cao và có bộ râu dài màu đen, sử dụng thành thạo tiếng Pháp, thế là Tây mừng rơn, hý hửng tưởng bắt được cụ Hồ Chí Minh. Nhưng quân đội Việt Minh đã đập tan được cuộc tấn công này, đến 12-1947 tổ chức lễ duyệt binh mừng chiến thắng taị thị xã Tuyên Quang.

Với thất bại này, người Pháp chưa thể kết thúc sớm cuộc chiến ở Đông Dương như mong muốn khiêm tốn của họ. Trong khi đó, lực lượng Việt Minh mạnh hẳn lên nhờ thu được một số lượng lớn trang thiết bị, vũ khí, đạn dược của quân Pháp. Tuy nhiên, thành công của Pháp là đã thiết lập được một hệ thống đồn bốt vững chắc dọc theo đường số 4, kiểm soát chặt chẽ biên giới Việt-Trung.

Ngày 8-3-1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại ký Hiệp ước Elysée, thành lập một chính quyền Việt Nam nằm trong Khối liên hiệp Pháp, gọi là Quốc gia Việt Nam, đứng đầu là Quốc trưởng Bảo Đại. Bảo Đại yêu cầu Pháp phải trao trả Nam Kỳ cho Việt Nam, và Pháp đã chấp nhận yêu cầu này. Tính đến đầu năm 1950, đã có 35 quốc gia trên thế giới công nhận Chính phủ của Bảo Đại.

Ngày 1-10-1949, ra đời nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Chính phủ Tưởng Giới Thạch phải tháo thân chạy trốn ra đảo Đài Loan.

Ngày 15-1-1950, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đánh điện cho Bắc Kinh yêu cầu thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức. Mao Trạch Đông, Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc, lúc này đang ở thăm Liên Xô, gửi điện về cho Lưu Thiếu Kỳ, là Tổng Bí thư, chỉ thị tiếp nhận đề nghị của Việt Nam, đồng thời, yêu cầu Bộ Ngoại giao Trung Quốc chuyển ngay đề nghị của Việt Nam cho Liên Xô và các nước Đông Âu khác.

Vào ngày 18-1-1950, Trung Quốc trở thành nước đầu tiên công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Xta-lin nối đuôi theo sau, vào ngày 30-1-1950. Tiếp đó là các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Triều Tiên.

Tháng 4-1950, Việt Nam đề nghị Trung Quốc gửi chuyên viên quân sự đến Việt Nam với tư cách cố vấn ở Đại bản doanh và ở cấp độ sư đoàn, và với tư cách chỉ huy ở cấp độ trung đoàn và tiểu đoàn. Trung Quốc trả lời, sẽ chỉ gửi cố vấn, chứ không gửi chỉ huy. Ngày 17-4-1950, Quân ủy trung ương Trung Quốc ký quyết định thành lập nhóm cố vấn quân sự giúp đỡ Việt Nam gồm 79 người, cùng một số trợ lý.

Chỉ trong vòng 5 tháng, từ tháng 4-1950 đến 9-1950, Trung Quốc đã gửi sang Việt Nam 14.000 súng trường và súng lục, 1.700 súng máy và tiểu liên, 150 súng cối, 60 khẩu sơn pháo, 300 súng ba-zô-ka, cùng đạn dược, thuốc men, quần áo, quân trang và 2.800 tấn thực phẩm (số liệu trích từ quyển sách "Các dữ kiện lịch sử về vai trò nhóm cố vấn quân sự Trung Quốc trong cuộc đấu tranh giúp đỡ Việt Nam chống Pháp", xuất bản ở Trung Quốc 1990).



Thu đông 1950, được sự khuyến khích giúp đỡ nhiệt tình của Trung Quốc, quân ta mở chiến dịch Biên giới, tiêu diệt hai binh đoàn Lơ Pa-giơ (Lepage) và Sác-tông (Charton), đập tan hệ thống đồn bốt cứ điểm của Pháp đóng ở Thất Khê, Đông Khê, Na Sầm, Cao Bằng. Quân Pháp tiếp tục rút khỏi Đình Lập, Lạng Sơn, Lào Cai và Hòa Bình, để lại 11.000 tấn đạn dược và bỏ̉ ngỏ gần như toàn bộ khu vực phía Bắc đồng bằng sông Hồng. Các chuyên gia quân sự Pháp ngậm ngùi ước tính, riêng số vũ khí bị bỏ lại ở Lạng Sơn, đủ để trang bị cho một đại đoàn của Việt Minh.

Vậy là cánh cửa biên giới đã mở toang, khai thông căn cứ địa Việt Bắc với Trung Quốc.

Tất nhiên, hồi đó, chả ai hơi đâu đề cập đến vấn đề đường biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Nhưng đến 1953-1954, khi chuẩn bị trận chiến cuối cùng ở Điện Biên Phủ và tham gia ký Hiệp định đình chiến ở Giơ-ne-vơ, vấn đề biên giới lãnh thổ bắt đầu được xới lên.

Không gì khách quan bằng việc đọc quyển "Sách trắng" do Nhà xuất bản Sự thật của ta xuất bản 3-1979.

Tuy thế, khi đọc rất cần đến tư duy "biện chứng lịch sử". Nếu không, dễ sa đà vào cái bẫy thù hằn dân tộc.


VẤN ĐỀ BIÊN GIỚI GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền. Đường biên giới Việt Nam và Trung Quốc đã hình thành rõ rệt trong nhiều thế kỷ trước. Đã nhiều lần trong lịch sử, nước ta đã cử các sứ bộ sang Trung Quốc họp hoặc hội nghị với Trung Quốc (như hai cuộc Hội nghị Vĩnh Bình giữa nhà Lý và nhà Tống năm 1033 và năm 1084 ) để ấn định biên cương.

Đến thế kỷ thứ XIX, đế quốc Pháp thiết lập chế độ thực dân ở nước ta, Chính phủ Pháp nhân danh Việt Nam và triều đình nhà Thanh ký các Công ước 1887, 1895 giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam và Trung Quốc, chính thức công nhận đường biên giới đó. Đồng thời đường biên giới đó được cụ thể hoá bằng 310 cột mốc quốc giới, trên thực địa đã có phần lợi cho phía Trung Quốc.

Mặc dù vậy, để xây dựng biên giới hữu nghị lâu dài giữa Việt Nam và Trung Quốc vì lợi ích của cả hai dân tộc, tháng 12 năm 1957, Ban Chấp hành trung ương Đảng ta đã đề nghị nguyên tắc giữ nguyên trạng đường biên giới do lịch sử để lại, mọi vấn đề biên giới và lãnh thổ phải do hai Chính phủ quyết định, mọi vấn đề tranh chấp có thể xảy ra về biên giới và lãnh thổ cần được giải quyết bằng thương lượng hoà bình. Tháng 4 năm 1958, phía Trung Quốc trả lời đồng ý với đề nghị của Đảng ta.

Nhưng trong thực tế, thái độ của phía Trung Quốc trái ngược hẳn. Thi hành chính sách bành trướng đại dân tộc và học đòi thái độ hống hách đè nén các dân tộc, các nước láng giềng của các triều đại phong kiến trước đây, nhà cầm quyền Bắc Kinh trong nhiều năm nay đã gây ra bao nhiêu vụ khiêu khích biên giới, lấn chiếm đất đai của Việt Nam, phá hoại hai cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 1974 và năm 1977-1978 để giải quyết vấn đề biên giới. Ngày 17 tháng 2 năm 1979, họ lại phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, ồ ạt tiến đánh 6 tỉnh của Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc với 60 vạn quân.

Để giúp bạn đọc hiểu được thực chất của vấn đề biên giới Việt –Trung, thấy rõ thiện chí của Đảng, Chính phủ và nhân dân ta, thái độ phản trắc của những người cầm quyền Trung Quốc, Nhà xuất bản Sự thật xuất bản cuốn sách này. Cuốn sách gồm toàn bộ bản “Bị vong lục của Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc nhà cầm quyền Trung Quốc gây khiêu khích, xâm lấn lãnh thổ Việt nam ở vùng biên giới” công bố ngày 15 tháng 3 năm 1979 tại Hà Nội".

Chúng tôi chú thích thêm một số điểm ở cuối sách để bạn đọc tham khảo.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

............................................................................Tháng 3 năm 1979
.....................................................................NHÀ XUẤT BẢN SỰ THẬT


I - Sự hình thành biên giới lịch sử giữa Việt Nam và Trung Quốc và sự thoả thuận năm 1957-1958 về biên giới giữa hai nước.

1-- Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng giáp giới nhau trên đất liền và trên biển (vịnh Bắc Bộ). Đường biên giới giữa hai nước đã được hình thành qua quá trình lịch sử lâu dài. Trước khi bị Pháp áp đặt chế độ thực dân, Việt Nam đã là một nước độc lập có chủ quyền, có đường biên giới rõ rệt, ổn định với Trung Quốc.

Cách đây gần 100 năm, Chính phủ Pháp và triều đình nhà Thanh Trung Quốc đã ký kết các Công ước 1887-1895 giải quyết vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, chính thức công nhận về cơ bản đường biên giới vốn có đó.

Việc hoạch định biên giới đã được hai bên cùng tiến hành theo từng đoạn từ tháng 1 năm 1886 đến tháng 3 năm 1887; ngày 26 tháng 6 năm 1887 hai Chính phủ nói trên đã ký Công ước hoạch định biên giới tại Bắc Kinh. Điều 1 của Công ước này đã hoạch định đoạn biên giới giữa Việt Nam với các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và một phần tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Điều 2 của Công ước đã hoạch định biên giới trong vịnh Bắc Bộ và đoạn biên giới giữa Việt Nam và phần còn lại của tỉnh Vân Nam cho đến Sông Đà. Chính phủ Pháp và triều đình nhà Thanh lại ký tại Bắc Kinh Công ước ngày 20 tháng 6 năm 1895 bổ sung cho Công ước năm 1887, nói rõ thêm về đoạn biên giới giữa Việt Nam và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).

Việc cắm mốc đã được tiến hành từ đầu năm 1890 đến tháng 6 năm 1897. Hệ thống mốc giới gồm trên 310 cột mốc giới đã cụ thể hoá đường biên giới trên thực địa; nói chung các mốc giới đó còn tồn tại cho đến ngày nay.

Thực tế, từ ngày ký các Công ước, các chính quyền kế tiếp nhau ở hai bên đều thực hiện chủ quyền trong vùng đất và phần vịnh Bắc Bộ do đường biên giới phân định. Tuy nhiên, các chính quyền phản động của Trung Quốc từ năm 1949 trở về trước cũng đã lấn chiếm trên 60 điểm của Việt Nam.

Như vậy, đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc chạy suốt trên đất liền và trong vịnh Bắc Bộ đã được hoạch định rõ ràng trong các Công ước ký kết giữa Chính phủ Pháp và triều đình nhà Thanh trong những năm 1887-1895, và đã được chính thức cắm mốc ( trên đất liền). Đó là một đường biên giới hoàn chỉnh cả trên trên đất và trong vịnh Bắc Bộ, có cơ sở lịch sử trong đời sống chính trị lâu đời của hai dân tộc, có giá trị pháp lý quốc tế vững chắc, có đầy đủ yếu tố thực tế để nhìn nhận tại thực địa.

Qua các văn kiện trao đổi, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần xác nhận đường biên giới lịch sử đó. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng cuộc đàm phán và ký kết Công ước hoạch định biên giới đã được tiến hành song song với việc đàm phán ký kết Công ước về thương mại giữa Pháp và nhà Thanh. Triều đình nhà Thanh ra sức liên kết hai vấn đề này để gây sức ép với Pháp. Trong quá trình thương lượng, vì mục đích sớm mở rộng buôn bán với Trung Quốc, thành lập các Lãnh sự quán Pháp trên đất Trung Quốc và nhanh chóng thực hiện kế hoạch bình định Việt Nam, Pháp đã cắt nhượng cho nhà Thanh mũi Bắc Luân, vùng Giang Bình, tổng Tu Long và một số nơi khác, làm thiệt hại cho nhân dân Việt Nam.

2-- Mặc dù vậy, tháng 11 năm 1957, Ban Chấp hành trung ương Đảng Lao Động Việt Nam (tức Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay) đã nêu với phía Trung Quốc: hai bên giữ nguyên trạng đường biên giới do lịch sử để lại, vấn đề quốc giới là vấn đề quan trọng nên cần được giải quyết theo những nguyên tắc pháp lý đang có, hoặc được xác định lại, và phải do Chính phủ hai nước quyết định; mọi tranh chấp có thể xảy ra về biên giới, lãnh thổ cần được giải quyết bằng thương lượng. Đây là một chủ trương đúng đắn, hợp tình hợp lý, phù hợp với thực tế lịch sử và luật pháp quốc tế. Tháng 4 năm 1958, Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc trả lời đồng ý với đề nghị của phía Việt Nam. Sự thoả thuận nói trên của hai Đảng có ý nghĩa nguyên tắc và thực tiễn to lớn, vì không những để giải quyết các vấn đề bất đồng về biên giới và lãnh thổ, mà còn để xây dựng đường biên giới hữu nghị lâu dài giữa hai nước. Đó là những ý nghĩ chân thành và lòng mong muốn thật sự của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam, cho nên phía Việt Nam luôn luôn triệt để tôn trọng sự thoả thuận giữa hai Trung ương Đảng.

Nhưng thái độ của phía Trung Quốc lại trái ngược hẳn. Họ vi phạm ngày càng nghiêm trọng sự thoả thuận đó và không tôn trọng nguyên tắc giữ nguyên trạng đường biên giới do lịch sử để lại và đã lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam ở 90 điểm trên toàn tuyến biên giới Việt -Trung từ 1949 đến nay.

II- Tình hình Trung quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay.

Trong một phần tư thế kỷ vừa qua, nhà cầm quyền Trung Quốc đã lần lượt lấn chiếm hết khu vực này đến khu vực khác của Việt nam, từ khu vực nhỏ hẹp đến khu vực to lớn, từ khu vực quan trọng về quân sự đến khu vực quan trọng về kinh tế. Họ đã dùng đủ mọi thủ đoạn, kể cả những thủ đoạn xấu xa mà các chế độ phản động của Trung Quốc trước kia không dùng.

1--Từ xâm canh, xâm cư đến xâm chiếm đất.

Lợi dụng đặc điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một dải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương rồi định cư những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng nương, cuối cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang ngược coi những khu vực đó là lãnh thổ Trung Quốc.

+ Khu vực Trình Tường thuộc tỉnh Quảng Ninh là một thí dụ điển hình cho kiểu lấn chiếm đó. Khu vực này được các văn bản và các bản đồ hoạch định và cắm mốc xác định rõ ràng là thuộc lãnh thổ Việt Nam: đường biên giới lịch sử tại đây đi qua một dãy núi cao, chỉ rõ làng Trình Tường và vùng chung quanh là lãnh thổ Việt Nam. Trên thực tế, trong bao nhiêu đời qua, những người dân Trình Tường, những người Trung Quốc sang quá canh ở Trình Tường đều đóng thuế cho nhà đương cục Việt Nam. Nhưng từ năm 1956, phía Trung Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc sang làm ăn ở Trình Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường, vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị Choang-Quảng Tây. Nhà đương cục Trung Quốc nghiễm nhiên biến một vùng lãnh thổ Việt Nam dài 6 km, sâu hơn 1,3 km thành sở hữu tập thể của một công xã Trung Quốc, thành lãnh thổ Trung Quốc. Từ đó, họ đuổi những người Việt Nam đã nhiều đời nay làm ăn sinh sống ở Trình Tường đi nơi khác, đặt đường dây điện thoại, tự cho phép đi tuần tra khu vực này, đơn phương sửa lại đường biên giới sang đồi Khâu Thúc của Việt Nam. Tiếp đó họ đã gây ra rất nhiều vụ hành hung, bắt cóc công an vũ trang Việt Nam đi tuần tra theo đường biên giới lịch sử và họ phá hoại hoa màu của nhân dân địa phương.

Trình Tường không phải là một trường hợp riêng lẻ, còn đến trên 40 điểm khác mà phía Trung Quốc tranh lấn với thủ đoạn tương tự như xã Thanh Loa, huyện Cao Lộc (mốc 25, 26, 27) ở Lạng Sơn, Khăm Khau (mốc 17-19) ở Cao Bằng, Tà Lùng, Làn Phù Phìn, Minh Tân (mốc 14) ở Hà Tuyên, khu vực xã Nặm Chay (mốc 2-3) ở Hoàng Liên Sơn với chiều dài hơn 4 km, sâu hơn 1 km, diện tích hơn 300 ha. Có thể nói, đây là một kiểu chiếm đất một cách êm lặng.

2--Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam.

Năm 1955, tại khu vực Hữu Nghị Quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt-Trung đến Yên Viên gần Hà Nội, lợi dụng lòng tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300 m so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua.

Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã đề nghị Chính phủ hai nước giao cho ngành đường sắt hai bên điều chỉnh lại điểm nối ray cho phù hợp với đường biên giới lịch sử, nhưng họ một mực khước từ, bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vấn đề biên giới thì sẽ xem xét. Cho đến nay, họ vẫn trắng trợn nguỵ biện rằng, khu vực hơn 300 m đường sắt đó là đất Trung Quốc, với lập luận rằng “ không thể có đường sắt của nước này đặt trên lãnh thổ nước khác”.



Cũng tại khu vực này, phía Trung Quốc đã ủi nát mốc biên giới số 18, nằm cách cửa Nam Quan 100 m, trên đường quốc lộ, để xoá vết tích đường biên giới lịch sử, rồi đặt cột ki lô mét số 0 đường bộ sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100 m, coi đó là vị trí đường quốc giới giữa hai nước ở khu vực này.

Như vậy, họ đã lấn chiếm một khu vực liên hoàn, từ đường sắt sang đường bộ, thuộc xã Bảo Lâm, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn của Việt Nam dài 3,1 km và vào sâu đất Việt Nam 0,5 km. Năm 1975, tại khu vực mốc 23 (xã Bảo Lâm, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn) họ định diễn lại thủ đoạn tương tự, khi hai bên phối hợp đặt đường ống dẫn dầu chạy qua biên giới. Phía Việt Nam đề nghị đặt điểm nối ống dẫn dầu đúng đường biên giới, họ đã từ chối, do đó, bỏ dở công trình này.

Khi xây dựng các công trình cầu cống trên sông suối biên giới, phía Trung Quốc cũng lợi dụng việc thiết kế kỹ thuật là thay đổi dòng chảy của sông suối về phía Việt Nam để nhận đường biên giới có lợi cho phía Trung Quốc.

Cầu ngầm Hoành Mô thuộc tỉnh Quảng Ninh được Trung Quốc giúp xây dựng vào năm 1968. Một thời gian dài sau khi cầu được xây dựng xong, hai bên vẫn tôn trọng đường biên giới ở giữa cầu, vật liệu dự trữ để sửa chữa cầu sau này cũng được đặt ở mỗi bên, với số lượng bằng nhau, tính theo đường biên giới giữa cầu. Nhưng do Trung Quốc có sẵn ý đồ chỉ xây một cống nước chảy nằm sát bờ Việt Nam, nên lưu lượng dòng chảy đã chuyển hẳn sang phía Việt Nam, từ đó phía Trung Quốc dịch đường biên giới trên cầu quá sang đất Việt Nam. Thủ đoạn như vậy cũng được thực hiện đối với cầu Pò Hèn (Quảng Ninh), đập Ái Cảnh (Cao Bằng), cầu Ba Nậm Cúm ( Lai Châu)…

3--Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam.

Trên đoạn biên giới đất liền, cũng như ở các đoạn biên giới đi theo sông suối, tại nhiều nơi, phía Trung Quốc đã tự tiện mở rộng xây dựng các công trình để từng bước xâm lấn đất.

Tại khu vực mốc 53 (xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 20 tháng 2 năm 1970, phía Trung Quốc đã huy động trên 2.000 người, kể cả lực lượng vũ trang, lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong, và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc.



Các thị trấn Ái Điểm (đối diện với Chi Ma, Lạng Sơn), Bình Mãng (đối diện Sóc Giang, Cao Bằng) vốn đã nằm sát các mốc giới 43 và 114 lại ngày càng được phía Trung Quốc mở rộng ra lấn sang đất Việt Nam từ hàng chục đến hàng trăm mét với công trình, nhà cửa, trường học, khu phố…

Bằng cách tổ chức lâm trường, trồng cây gây rừng, làm đường chắn lửa, đặt hệ thống điện cao thế, điện thoại lấn vào lãnh thổ Việt Nam, Trung Quốc đã biến nhiều vùng đất khác của Việt Nam thành đất của Trung Quốc.

4-- Từ mượn đất của Việt Nam đến biến thành lãnh thổ của Trung Quốc.



Ở một số địa phương, do địa hình phức tạp, điều kiện sinh hoạt của dân cư Trung Quốc gặp khó khăn, theo yêu cầu của phía Trung Quốc, Việt Nam đã cho phía Trung Quốc mượn đường đi lại, cho dùng mỏ nước, cho chăn trâu, lấy củi, đặt mồ mả…trên đất Việt Nam. Nhưng lợi dụng thiện chí đó của Việt Nam, họ đã dần dần mặc nhiên coi những vùng đất mượn này là đất Trung Quốc. Khu vực Phia Un (mốc 94-95) thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng là điển hình cho kiểu lấn chiếm này. Tại đây, mới đầu phía Trung Quốc mượn con đường mòn, rồi tự ý mở rộng mặt đường để ô tô đi lại được vào khu vực mỏ của Trung Quốc, đặt đường dây điện, đưa dân đến ở ngày càng đông, lập làng bản mới. Dựa vào “ thực tế” đó, từ năm 1956, họ không thừa nhận đường biên giới lịch sử chạy trên đỉnh núi Phia Un, mà đòi biên giới chạy xa về phía nam con đường, sâu vào đất Việt Nam trên 500 mét. Lý lẽ của họ là, nếu không phải đất của Trung Quốc, sao họ lại có thể làm đường ô tô, đặt đường dây điện thoại được…Nguyên nhân chủ yếu của việc họ lấn chiếm là vì, khu vực Phia Un có mỏ măng-gan.

5--Xê dịch và xuyên tạc pháp lý các mốc quốc giới để sửa đổi đường biên giới.

Ngoài việc lợi dụng một số mốc giới đã bị Trung Quốc xê dịch từ trước, sai với nguyên trạng đường biên giới lịch sử để chiếm giữ trái phép đất Việt Nam, nay phía Trung Quốc cũng tự ý di chuyển mốc ở một số nơi, hoặc lén lút đập phá, thủ tiêu các mốc không có lợi cho họ, như ở khu vực Chi Ma (Lạng Sơn), khu vực mốc 136 ở Cao Bằng…Đối với những trường hợp như vậy, họ đều khước từ đề nghị của phía Việt Nam về việc hai bên cùng điều tra và lập biên bản xác nhận. Ngay tại một số nơi mà vị trí mốc giới đặt đúng với đường biên giới lịch sử, họ cũng tìm cách xuyên tạc đường biên giới đã rõ ràng chạy giữa hai mốc, như khu vực Kùm Mu-Kim Ngân-Mẫu Sơn (mốc 41, 42, 43) ở Lạng Sơn dài trên 9 km, sâu vào đất Việt Nam 2,5 km, diện tích gần 1000 ha, khu vực Nà Pảng-Kéo Trình (mốc 29, 30, 31) ở Cao Bằng dài 6,45 km sâu vào đất Việt Nam 1,3 km, diện tích gần 200 ha.

6-- Làm đường biên giới lấn sang đất Việt Nam.

Để chuẩn bị cho các cuộc tấn công xâm lược Việt Nam, liên tiếp trong nhiều năm trước, phía Trung Quốc đã thực hiện kế hoạch làm đường biên giới quy mô lớn, nấp dưới danh nghĩa là để “cơ giới hoá nông nghiệp”. Đặc biệt là từ năm 1974 tại đây, họ đã mở ồ ạt những chiến dịch làm đường, có nơi huy động một lúc 8.000 người vào công việc này. Trong khi làm các đường đó, họ đã phá di tích về đường biên giới lịch sử, nhiều nơi họ đã lấn vào lãnh thổ Việt Nam. Chỉ tính từ tháng 10 năm 1976 đến năm 1977, bằng việc làm đường biên giới họ đã lấn vào đất Việt Nam hàng chục điểm, có điểm diện tích rộng trên 32 ha, sâu vào đất Việt Nam trên 1 km như khu vực giữa mốc 63-65 thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng, hay khu vực giữa mốc 1-2 Cao Ma Pờ thuộc tỉnh Hà Tuyên dài 4 km, sâu vào đất Việt Nam 2 km.

7-- Lợi dụng việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới.

Năm 1955-1956, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc in lại bản đồ nước Việt Nam tỷ lệ 1/100.000. Lợi dụng lòng tin của Việt Nam, họ đã sửa ký hiệu một số đoạn đường biên giới dịch về phía Việt Nam, biến vùng đất của Việt Nam thành đất Trung Quốc. Thí dụ, họ đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao Bằng, nơi họ định chiếm một phần thác Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong.

8-- Dùng lực lượng vũ trang uy hiếp và đóng chốt để chiếm đất.

Trên một số địa bàn quan trọng, phía Trung Quốc trắng trợn dùng lực lượng vũ trang để cố đạt tới mục đích xâm lấn lãnh thổ. Tại khu vực Trà Mần-Suối Lũng (mốc 136-137) thuộc huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng, năm 1953 Trung Quốc đã cho một số hộ dân Trung Quốc sang xâm cư ở cùng với dân của Việt Nam; sau đó họ tiếp tục đưa dân sang thêm hình thành 3 xóm với 16 hộ, 100 khẩu, mà họ đặt tên là Si Lũng, theo tên một làng của Trung Quốc gần đó. Tuy thế, cho đến năm 1957 phía Trung Quốc vẫn thừa nhận khu vực này là đất của Việt Nam. Từ năm 1967 trở đi, họ tiến hành việc dựng trường học, bắc dây truyền thanh, đào hố khai thác than chì, rồi ngang nhiên cắm cờ biểu thị chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc.

Tháng 6 năm 1976, họ đã trắng trợn đưa lực lượng vũ trang đến đóng chốt để đàn áp quần chúng đấu tranh và ngăn cản việc tuần tra của Việt Nam vào khu vực này, chiếm hẳn một vùng đất Việt Nam trên 3,2 km có mỏ than chì.

Ở khu vực giữa mốc 2-3 thuộc xã Nậm Chảy, huyện Mường Khương, tỉnh Hoàng Liên Sơn cũng xảy ra tình hình như vậy. Năm 1967-1968, nhiều hộ người Mèo thuộc huyện Mã Quan, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc chạy sang định cư ở đây. Phía Việt Nam đã yêu cầu phía Trung Quốc đưa số dân đó trở về Trung Quốc, nhưng họ đã làm ngơ, lại tiếp tục tăng số dân lên đến 36 hộ gồm 152 người, vào vùng này thu thuế, phát phiếu vải cho dân, đặt tên cho xóm dân Mèo này là “ Sìn Sài Thàng”, tên của một bản Trung Quốc ở bên kia biên giới, cách khu vực này 3 km. Mặc dù phía Việt Nam đã nhiều lần kháng nghị, họ vẫn không rút số dân đó đi, trái lại, đầu năm 1976 còn đưa lực lượng vũ trang vào đóng chốt chiếm giữ. Nay họ đã lập thêm đường dây điện thoại, loa phóng thanh, dựng trường học, tổ chức đội sản xuất , coi là lãnh thổ Trung Quốc.

9-- Đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Quần đảo Hoàng Sa ( mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) cách Đà Nẵng khoảng 120 hải lý về phía đông. Phía Việt Nam có đầy đủ tài liệu để chứng minh rằng quần đảo này cũng như quần đảo Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Nam Sa) ở phía nam là lãnh thổ Việt nam. Từ lâu, nhân dân Việt nam đã phát hiện và khai thác quần đảo Hoàng Sa, nhà Nguyễn đã chính thức thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo đó. Sau khi thiết lập chế độ bảo hộ nước Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX, Pháp nhân danh nước Việt Nam đã lập tại quần đảo đó hai đơn vị hành chính, một trạm khí tượng mà các số liệu được cung cấp liên tục trong mấy chục năm cho Tổ chức Khí tượng thế giới (OMM) dưới ký hiệu Hoàng Sa (Pattle). Việt Nam đã lên tục thực hiện chủ quyền của mình đối với quần đảo này. Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa là rõ ràng và không thể chối cãi.

Nhưng sau khi quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam, theo các quy định của Hiệp định Pa-ri ngày 27 tháng 1 năm 1973, và nhân lúc nhân dân Việt Nam đang đẩy mạnh cuộc đấu tranh để giải phóng miền Nam Việt Nam và nguỵ quyền miền Nam sắp sụp đổ, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã trắng trợn dùng lực lượng vũ trang chiếm quần đảo Hoàng Sa.

Cách họ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vẫn là cách họ đã dùng để lấn chiếm đất đai của các nước láng giềng, nhưng với một sự phản bội hèn hạ, vì họ luôn khoe khoang là “hậu phương đáng tin cậy của nhân dân Việt Nam anh em”. Đại để, sự kiện diễn biến như sau:

- Ngày 26 tháng 12 năm 1973, Bộ Ngoại giao Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thông báo cho Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa biết ý định của mình sẽ tiến hành thăm dò dầu lửa trong vịnh Bắc Bộ, và đề nghị hai nước tiến hành đàm phán để xác định chính thức biên giới giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ.

- Ngày 11 tháng 1 năm 1974, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố quần đảo Tây Sa (tức là Hoàng Sa của Việt Nam), quần đảo Nam Sa ( tức là Trường Sa của Việt Nam) là lãnh thổ của Trung Quốc, và không cho ai xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc.

- Ngày 18 tháng 1 năm 1974, Chính phủ Trung Quốc trả lời phía Việt Nam, đại ý nói: đồng ý đề nghị đàm phán về vịnh Bắc Bộ, nhưng không đồng ý cho nước thứ ba vào thăm dò, khai thác vịnh Bắc Bộ. Thực tế là họ ngăn cản Việt Nam hợp tác với Nhật Bản, Pháp, Ý trong việc thăm dò, khai thác thềm lục địa Việt Nam trong vịnh Bắc Bộ.

- Ngày 19 tháng 1 năm 1974, với một lực lượng lớn hải quân và không quân, Trung Quốc tiến đánh quân đội của chính quyền Sài Gòn đóng ở quần đảo Hoàng Sa và họ gọi cuộc hành quân xâm lược quần đảo này là “cuộc phản công tự vệ” .

Từ năm 1973 về trước, phía Trung Quốc đã lấn chiếm, gây khiêu khích ở nhiều nơi trên biên giới Việt-Trung. Từ khi họ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, các sự kiện biên giới do họ gây ra, các vụ lấn chiếm đất đai Việt Nam ngày càng tăng:

Năm 1974: 179 vụ
Năm 1975: 294 vụ
Năm 1976: 812 vụ
Năm 1977: 873 vụ
Năm 1978: 2.175 vụ.

III- Hai cuộc đàm phán giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Quốc để giải quyết những vấn đề biên giới giữa hai nước.

Năm 1957-1958, hai bên thoả thuận cùng với việc giữ nguyên trạng đường biên giới do lịch sử để lại sẽ tiến hành các cuộc hội đàm cấp tỉnh để giải quyết những vấn đề cụ thể thuộc về dân sinh và trật tự trị an ở vùng biên giới hai nước. Từ đó, đã có nhiều cuộc họp giữa các địa phương và đã đi đến một số quy định về việc đi lại, buôn bán, thăm hỏi…giữa nhân dân các tỉnh biên giới. Tuy nhiên, việc giải quyết vấn đề lãnh thổ phải do Chính phủ hai nước tiến hành đàm phán. Vì vậy, đã có hai cuộc đàm phán cấp Thứ trưởng Bộ Ngoại giao năm 1974 và năm 1977-1978.

Cuộc đàm phán lần thứ nhất:

Nhằm phục vụ công cuộc xây dựng đất nước, ngày 26 tháng 12 năm 1973, Chính phủ Việt Nam đã đề nghị với Chính phủ Trung Quốc mở cuộc đàm phán giữa hai Chính phủ để xác định chính thức đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ.

Ngày 18 tháng 1 năm 1974, Chính phủ Trung Quốc nhận lời đàm phán, nhưng đòi không được tiến hành công tác thăm dò trong một khu vực hình chữ nhật giữa vĩ tuyến 18 độ-20 độ, kinh tuyến 107 độ-108 độ và “không để nước thứ ba vào thăm dò vịnh Bắc Bộ”, với mục đích ngăn cản Việt Nam khai thác những tài nguyên của mình trong thềm lục địa Việt Nam.

Ngày 15 tháng 8 năm 1974, cuộc đàm phán được tiến hành ở Bắc Kinh.

Công ước Pháp-Thanh 1887, Điều 2 đã nói rõ: Kinh tuyến Pa-ri 105 độ 43’ kinh độ đông ( nghĩa là kinh tuyến Grin-uých 108 độ 03’13’’) là đường biên giới giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ. Phía Việt nam sẵn sàng bàn với phía Trung Quốc để xác định về cửa vịnh Bắc Bộ, từ đó đi đến xác định chính thức đường biên giới trong vịnh.

Phía Trung Quốc hoàn toàn phủ nhận Điều 2 của Công ước 1887, không coi đường kinh tuyến nói trên là đường biên giới, một mực nói rằng, trong vịnh Bắc Bộ xưa nay chưa hề có đường biên giới, nay hai nước phải bàn bạc để phân chia. Mặc dù phía Việt Nam tuyên bố sẵn sàng nghe ý kiến của phía Trung Quốc, nhưng họ chỉ nói một cách chung chung là, nếu theo đường kinh tuyến đó thì họ “được phần nhỏ quá, còn phía Việt Nam được phần lớn quá”, cho nên phải “phân chia công bằng, hợp lý”, nhưng họ cũng không chịu đưa ra một phương án nào cụ thể, cố tình kéo dài cuộc đàm phán. Cuối tháng 11 năm 1974, cuộc đàm phán phải tạm ngừng.

Cuộc đàm phán lần thứ hai:

Ngày 18 tháng 3 năm 1975, Chính phủ Trung Quốc đề nghị với Chính phủ Việt Nam mở cuộc đàm phán giữa hai Chính phủ về vấn đề biên giới trên bộ giữa hai nước vào năm 1975.

Ngày 12 tháng 4 năm 1975, Chính phủ Việt Nam trả lời đồng ý về nguyên tắc, nhưng vì trước mắt đang bận nhiều việc do sự phát triển của tình hình giải phóng miền Nam Việt Nam, nên Chính phủ Việt Nam đề nghị lùi cuộc đàm phán vào một thời gian thích hợp. Trong lúc chờ đợi, phía Việt Nam đề nghị hai bên mở lại các cuộc hội đàm giữa các tỉnh biên giới, nhưng những cuộc đàm phán này cũng không đưa lại kết quả gì, trong khi đó, phía Trung Quốc ngày càng tăng cường vi phạm và khiêu khích ở biên giới Việt Nam-Trung Quốc.

Ngày 7 tháng 10 năm 1977, cuộc đàm phán bắt đầu tại Bắc Kinh giữa đại biểu Chính phủ Việt Nam và đại biểu Chính phủ Trung Quốc để giải quyết những vấn đề về biên giới trên bộ và trong vịnh Bắc Bộ.

Phía Việt Nam một lần nữa khẳng định, hai bên cần triệt để tôn trọng Công ước 1887 và 1895 về đường biên giới trên bộ và trên biển, vì vậy, cần bàn về về toàn bộ đường biên giới. Phía Trung Quốc một mực chỉ muốn bàn vấn đề biên giới trên bộ.

Cuộc đàm phán gặp khó khăn. Để đưa cuộc đàm phán tiến lên, phía Việt Nam đồng ý bàn vấn đề biên giới trên bộ trước, vấn đề biên giới trong vịnh Bắc Bộ sau. Nhưng phía Trung Quốc vẫn không chịu bàn. Họ đòi phía Việt Nam phải từ bỏ quan điểm cho rằng, trong vịnh Bắc Bộ đã có đường biên giới, thì họ mới bàn vấn đề biên giới trên bộ.

Để tìm lối thoát, phía Việt Nam lại đề nghị hai bên đi ngay vào bàn vấn đề biên giới trên bộ, còn bất đồng về vịnh Bắc Bộ, mỗi bên giữ ý kiến của mình và sẽ bàn sau. Trên cơ sở những đề nghị của Việt Nam và những đề nghị của Trung Quốc, phía Việt Nam đã đưa ra một bản dự thảo Hiệp định về đường biên giới quốc gia trên bộ giữa hai nước để hai bên cùng bàn bạc.

(Còn tiếp)



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 17.10.2011, sửa lần 12
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 10.10.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

(Tiếp theo)

Toàn văn bản dự thảo Hiệp định như sau:

DỰ THẢO
HIỆP ĐỊNH VỀ ĐƯỜNG BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRÊN BỘ GIỮA NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA


Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.

Xuất phát từ lòng mong muốn không ngừng củng cố và tăng cường tình đoàn kết chiến đấu và tình hữu nghị vĩ đại truyền thống trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc;

Nhằm mục đích xây dựng đường biên giới hữu nghị lâu dài giữa Việt Nam và Trung Quốc, phù hợp với nguyện vọng tha thiết và lợi ích cơ bản của nhân dân hai nước;

Trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, hoàn toàn bình đẳng với nhau và trên nguyên tắc tôn trọng đường biên giới do lịch sử để lại;

Đã thoả thuận những điều sau đây:

Điều 1
Hai bên chính thức xác nhận đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được hoạch định và cắm mốc theo các văn kiện về biên giới ký kết giữa Chính phủ Cộng hoà Pháp và

Chính phủ nhà Thanh Trung Quốc là đường biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.

Các văn kiện biên giới đó gồm có:

- Công ước về hoạch định biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc ký ngày 26 tháng 6 năm 1887, với các biên bản và bản đồ hoạch định kèm theo.

- Công ước bổ sung Công ước về hoạch định biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc ngày 26 tháng 6 năm 1887, ký ngày 20 tháng 6 năm 1895. với các biên bản và bản đồ hoạch định kèm theo.

- Các biên bản và bản đồ cắm mốc thực hiện hai Công ước nói trên ký kết từ ngày 15 tháng 4 năm 1890 đến ngày 13 tháng 6 năm 1897, ngày hoàn thành việc cắm mốc đoạn đường biên giới giữa Bắc Kỳ (Việt Nam) và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).

Trong các điều khoản sau đây, các văn kiện về biên giới nói trên được gọi tắt là “ Công ước 1887 và Công ước 1895”

Điều 2
Hai bên cam kết tôn trọng đường biên giới quốc gia giữa hai nước nói ở điều 1.

Những vùng đất nào do bên này quản lý vượt quá đường biên giới nói ở Điều 1. thì nay trả lại cho bên kia.

Điều 3
Đường biên giới quốc gia giữa hai nước nói ở Điều 1 nói chung là rõ. Trường hợp có một số ít nơi trên đường biên giới sau khi hai bên đã cùng nhau đối chiếu, nghiên cứu nhiều lần theo đúng các quy định của Công ước 1887 và Công ước 1895. mà vẫn không xác định được là thuộc về bên nào, thì hai bên sẽ qua khảo sát thực địa, hiệp thương hữu nghị giải quyết theo nguyên tắc công bằng hợp lý .

Điều 4
1-- Đối với những nơi đường biên giới đi trên sông, suối, cũng như đối với các cù lao, bãi nổi trên các sông, suối biên giới đó; và trường hợp các sông suối biên giới đổi dòng vì nguyên nhân thiên nhiên, hai bên triệt để tuân theo các quy định của Công ước 1887 và Công ước 1895 liên quan đến đường biên giới trên các sông, suối đó.

2-- Không kể đường biên giới trên sông, suối biên giới theo các quy định của Công ước 1887 và Công ước 1895 như thế nào, đường biên giới trên các cầu bắc qua các sông, suối đó đều đi qua chính giữa cầu.

Điều 5
Trong thời hạn một năm, sau khi quyết định của Uỷ ban liên hợp nói ở Điều 7 dưới đây về từng đoạn đường biên giới được hai Chính phủ chuẩn y, dân ở vùng đất mà bên này trả lại cho bên kia sẽ trở về sinh sống ở nước mà mình mang quốc tịch.

Trường hợp có người muốn ở lại thì trong thời hạn đó, họ phải đăng ký với chính quyền địa phương để trở thành công dân của bên được trả vùng đất.

Điều 6
Mỗi bên không để dân của mình vượt đường biên giới sang quá canh và làm ăn trái phép tại những vùng đất thuộc lãnh thổ bên kia.

Ở những vùng đất trả lại cho nhau, sẽ chấm dứt quá canh, ngay sau khi quyết định của Uỷ ban liên hợp nói ở Điều 7 dưới đây về từng đoạn đường biên giới được hai Chính phủ chuẩn y.
Người có hoa màu làm trên đất quá canh chưa thu hoạch sẽ được phép sang chăm nom cho đến lúc thu hoạch xong, và phải tuân theo mọi luật lệ của nước sở tại.

Điều 7
Sau khi Hiệp định này có hiệu lực, hai bên thành lập Uỷ ban liên hợp biên giới Việt nam-Trung Quốc (goị tắt là Uỷ ban liên hợp) gồm số đại biểu hai bên bằng nhau. Uỷ ban liên hợp căn cứ vào các điều khoản của Hiệp định này thực hiện nhiệm vụ sau đây:

1-- Xác định cụ thể trên thực địa toàn bộ đường biên giới quốc gia trên bộ giữa hai nước theo Điều 1 của Hiệp định này;

2-- Giải quyết trên thực địa những nơi trên đường biên giới nói trong Điều 2 và Điều 3 của Hiệp định này. Các quyết định của Uỷ ban liên hợp về từng đoạn đường biên giới phải được hai bên chuẩn y;

3-- Giải quyết những vấn đề liên quan đến việc bên này trả lại những vùng đất cho bên kia;

4-- Kiểm tra và xác nhận vị trí của các mốc quốc giới theo Công ước 1887 và Công ước 1895, đặt lại những mốc quốc giới không ở đúng vị trí theo các Công ước nói trên, và đặt thêm các mốc quốc giới bổ sung ở những nơi hai bên thấy cần thiết, giải quyết các vấn đề liên quan đến việc tu bổ các mốc quốc giới;

5-- Soạn thảo Nghị định thư xác định trên thực địa đường biên giới quốc gia trên bộ giữa hai nước, vẽ bản đồ đường biên giới đó có ghi tỉ mỉ vị trí đường biên giới và vị trí các mốc quốc giới;

Uỷ ban liên hợp bắt đầu hoạt động ngay sau khi được thành lập và kết thúc nhiệm vụ sau khi Nghị định thư nói trên được ký kết.

Điều 8
Nghị định thư với bản đồ kèm theo nói ở Điều 7, đoạn 5 sẽ do hai Chính phủ ký kết và sẽ là một bộ phận cấu thành của Hiệp định này.

Điều 9
Hiệp định này sẽ được phê chuẩn và có hiệu lực kể từ ngày trao đổi văn kiện phê chuẩn.

Sau khi Hiệp định này có hiệu lực và Nghị định thư nói ở Điều 7, đoạn 5 của Hiệp định được ký kết, mọi Công ước, văn kiện có liên quan đến đường biên giới trên bộ giữa hai nước lập tức mất giá trị.

Làm tại……….ngày………tháng………năm……….thành hai bản bằng tiếng Việt Nam và tiếng Trung Quốc, cả hai văn bản Việt Nam và Trung Quốc đều có giá trị như nhau.

THAY MẶT CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THAY MẶT CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA

--------------------------------------------------------------------------------------------

Phía Trung Quốc đã từ chối xem xét bản dự thảo Hiệp định đó. Họ đưa ra một đề nghị khác, thực chất là đề nghị cũ của họ được sửa đổi. Ý đồ của họ là nhằm duy trì hiện trạng biên giới (không phải nguyên trạng đường biên giới lịch sử) nhằm giữ những chỗ họ lấn chiếm và sửa lại nhiều chỗ có lợi cho họ.

Cuộc đàm phán kéo dài, dây dưa đến 10 tháng không đi đến kết quả. Ngay trong khi phía Trung Quốc tăng cường khiêu khích ở biên giới, gây ra vụ người Hoa, cắt viện trợ cho Việt Nam, phía Việt Nam vẫn kiên trì tiếp tục nói chuyện. Nhưng cuối cùng không đi đến kết quả gì, vì tình hình chứng tỏ là phía Việt Nam càng thiện chí, thì phía Trung Quốc càng lấn tới. Họ ngoan cố thực hiện dã tâm bành trướng nước lớn của họ, cho nên họ không chịu đáp ứng một điều kiện nào do phía Việt Nam đưa ra. Cuộc đàm phán về biên giới bị thất bại, trách nhiệm hoàn toàn thuộc về phía Trung Quốc.

IV- Tình hình Trung Quốc gây khiêu khích, xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của Việt Nam từ năm 1978 đến nay

Từ đầu năm 1978 đến ngày 17 tháng 2 năm 1979, ngày mà nhà cầm quyền Bắc Kinh đưa quân ồ ạt xâm lược Việt Nam, một mặt họ làm bế tắc cuộc đàm phán về biên giới, mặt khác họ công khai thực hiện chính sách điên cuồng chống Việt Nam.

Nói riêng về khu vực biên giới, nhà cầm quyền Bắc Kinh leo thang dùng vũ lực, tăng cường khiêu khích xâm phạm biên giới, chủ quyền, lãnh thổ của Việt Nam.

Từ đầu năm 1978 đến khoảng tháng 8 năm 1978, nhà cầm quyền Bắc Kinh dùng dụ dỗ, cưỡng ép người Hoa đang làm ăn yên ổn ở Việt Nam, chủ yếu là tại các tỉnh biên giới, chạy về Trung Quốc hòng gây rối loạn về chính trị, xã hội và kinh tế cho Việt Nam khi đó, đang phải giải quyết hậu quả nặng nề của những thiên tai chưa từng thấy ở Việt Nam trong vòng 100 năm qua, đồng thời họ chuẩn bị một số tay chân cần thiết cho các cuộc hành quân xâm lược sau này. Với những thủ đoạn thâm độc đó, họ đã lôi kéo khoảng 170.000 người Hoa về Trung Quốc.

Thâm độc hơn cả là họ thình lình đóng cửa biên giới, trong lúc dòng người Hoa đang ùn ùn đổ về Trung Quốc, để kiếm cớ xúi giục những người đó chống lại nhà đương cục Việt Nam. Đó là tình hình họ đã gây ra ở cầu biên giới Bắc Luân (thuộc tỉnh Quảng Ninh), ở cửa khẩu Hữu nghị quan (thuộc tỉnh Lạng Sơn). Trong lúc người Hoa ùn tắc lại, họ cho bọn tay sai kết hợp với một bọn côn đồ hành hung, gây hỗn loạn ngày 8 tháng 8 năm 1978 ở cầu Bắc Luân, ngày 25 tháng 8 năm 1978 ở Hữu nghị quan, làm chết hai cán bộ và công an biên phòng của Việt Nam và 25 người khác bị thương.

- Nhà cầm quyền Bắc Kinh ồ ạt đưa quân đội (bộ binh, thiết giáp, không quân, pháo binh) áp sát biên giới, xây dựng công sự, bố trí trận địa trên các điểm cao suốt dọc biên giới, đưa thường dân Trung Quốc ở vùng biên giới vào sâu nội địa. Trong lúc đó, bộ máy tuyên truyền đồ sộ của Bắc Kinh vu cáo Việt Nam “xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc” và Phó thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình, bất chấp các nguyên tắc của Liên hợp quốc, lên tiếng đe doạ “dạy cho Việt Nam một bài học”, “trừng phạt Việt Nam”.

- Các lực lượng vũ trang của Trung Quốc liên tiếp xâm nhập lãnh thổ Việt Nam, phá các hàng rào dây thép gai, các bãi mìn và các công trình phòng thủ khác của phía Việt Nam.

- Đột nhập lãnh thổ Việt Nam để tập kích các trạm gác của dân quân và của công an biên phòng Việt Nam, bắn lén, bắt cóc người của Việt Nam đưa về Trung Quốc. Một vài thí dụ:

+ Ngày 13 tháng 10 năm 1978, lực lượng vũ trang Trung Quốc vào sâu đất Việt Nam tại xã Pha Long, huyện Mường Khương, tỉnh Hoàng Liên Sơn, phục kích một tổ công tác đang làm nhiệm vụ, bắn chết hai chiến sĩ công an biên phòng, bắt anh Nguyễn Đình Ấm đưa về Trung Quốc,

+ Ngày 1 tháng 11 năm 1978, ở đồi Chông Mu thuộc tỉnh Cao Bằng, hàng trăm lính với hơn 1.000 dân binh Trung Quốc tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam, nổ súng tiến công một tổ dân quân Việt Nam đang làm nhiệm vụ trên đất Việt Nam,

+ Ngày 23 tháng 12 năm 1978, lực lượng vũ trang Trung Quốc vượt biên giới sang tập kích một tổ dân quân Việt nam đang làm nhiệm vụ trên đất Việt Nam tại khu vực mốc 2 (thuộc Bình Nhi, tỉnh Lạng Sơn), bắt đưa về Trung Quốc 4 người.

Những vụ khiêu khích tương tự phải tính hàng trăm trên toàn tuyến biên giới.

Kể từ đầu năm 1979, các cuộc khiêu khích của phía Trung Quốc được tiến hành với một qui mô ngày càng lớn, với những lực lượng vũ trang ngày càng đông hơn:

Dùng súng lớn (từ đại liên, súng cối 82 đến DKZ75 và 85) từ đất Trung Quốc trắng trợn bắn sang đất Việt Nam, có khi bắn từng đợt, có khi bắn liên tiếp nhiều ngày, mục tiêu của họ là người dân thường đang đi trên đường, các làng bản, các khu phố của các thị trấn, các công trường, lâm trường, nông trường v..v..Dưới đây là một vài thí dụ:

+ Ngày 14 tháng 1 năm 1979 bắn vào thôn Phai Lầu, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh,

+ Cùng ngày, bắn vào các phố chính của thị xã Lao Cai, tỉnh Hoàng Liên Sơn đang lúc đông người qua lại.

+Ngày 2 tháng 2 năm 1979 bắn vào nhà máy đường Phục Hoà và xóm Hưng Long, xã Quy Thuận, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng,

+ Từ ngày 10 tháng 1 năm 1979 đến ngày 25 tháng 1 năm 1979, liên tục dùng súng bộ binh các loại và súng cối 82 bắn vào đồn biên phòng Việt Nam ở Trà Lĩnh thuộc tỉnh Cao Bằng,
- Dùng lực lượng bộ binh lớn có hoả lực mạnh yểm trợ tiến công và lấn chiếm một số vùng đất của Việt Nam. Một vài thí dụ:

+ Ngày 10 tháng 2 năm 1979, hơn một tiểu đoàn quân chính quy Trung Quốc tiến vào đất Việt Nam hơn 2 km đánh chiếm các trạm gác của dân quân xã Thanh Loà, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn,

+ Ngày 11 tháng 2 năm 1979, một đại đội quân chính quy Trung Quốc vào đánh chiếm khu vực Hang Nà-Cốc Pheo thuộc xã Cấn Yên, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng,

+ Ngày 15 tháng 2 năm 1979, một đại đội quân chính quy Trung Quốc vượt biên giới sang đánh chiếm bản Nà Ke, xã Bảo Lâm, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn,

Tất cả những hành động khiêu khích ngang ngược ngày càng nghiêm trọng của phía Trung Quốc từ trước đến nay, nhất là từ năm 1978, không nhằm mục đích nào khác là ráo riết chuẩn bị cuộc chiến tranh xâm lược chống nhân dân Việt Nam. Thực tế đã xác minh điều đó:

Từ rạng sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, nhà cầm quyền Bắc Kinh phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam với 60 vạn quân gồm 11 quân đoàn và nhiều sư đoàn độc lập (trong đó có một số sư đoàn sơn cước chủ yếu gồm những người trước đây đã sang vùng biên giới làm đường giúp Việt Nam và những người Hoa trước đây đã ở Việt Nam), hơn 500 xe tăng và thiết giáp, hơn 700 máy bay các loại. Ngay ngày đầu, gần 20 sư đoàn bộ binh Trung Quốc đồng thời tiến đánh sáu tỉnh của Việt Nam giáp với Trung Quốc: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn, Lai Châu.

Do bị thất bại trước những đòn giáng trả nặng nề của nhân dân Việt Nam, bị dư luận toàn thế giới lên án mạnh mẽ và nhân dân Trung Quốc phản đối, nhà cầm quyền Bắc Kinh mấy ngày gần đây đang phải rút quân đội của họ về nước.

Từ khi bắt đầu xâm lược Việt Nam, đi đến đâu, quân xâm lược Trung Quốc cũng bắn bừa bãi, đốt phá, cướp của, hãm hiếp phụ nữ và giết người không ghê tay bằng những cách cực kỳ dã man. Chúng dùng báng súng đập vỡ sọ, đâm người bằng lưỡi lê, chém đầu chặt người ra thành từng khúc, ném lựu đận vào hầm trú ẩn, tập trung người rồi xả súng bắn. Số đông người bị giết hại là người già, phụ nữ và trẻ em. Ở Cao Lâu, Văn Lãng (Lạng Sơn) chúng xé xác em Vi Việt Lương, học sinh lớp 4 ra làm nhiều mảnh, lôi 7 em bé đang ngủ ra bắn rồi chặt từng khúc vứt ra sân. Ở xã Thanh Loà (Lạng Sơn), bốn tên lính Trung Quốc bắt cô giáo cấp 1 người dân tộc Tày mang lên đồi hãm hiếp rồi xả súng bắn chết. Ở xí nghiệp gạch ngói xã Quang Kíu, huyện Bát Xát (Hoàng Liên Sơn), chúng xả súng B40 giết hết nam công nhân, còn nữ công nhân thì hãm hiếp rồi đưa về Trung Quốc.

Đặc biệt nghiêm trọng là ở chợ huyện Bát Xát (Hoàng Liên Sơn), chúng chặt đầu, mổ bụng gần 100 em nhỏ, vứt xác nằm ngổn ngang.

Trong quá trình rút về nước một cách chậm chạp, quân Trung Quốc xâm lược vẫn tiếp tục gây nhiều tội ác đối với nhân dân Việt Nam. Chúng bắn pháo, dùng thuốc nổ phá huỷ tất cả những gì còn lại, các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng và thị xã Lao Cai đã bị triệt phá; chúng còn gài lại nhiều mìn ở khắp nơi, thậm chí bỏ thuốc độc xuống giếng nước làm cho một số dân thường bị thương vong, hoặc ngộ độc.

V- Con đường đúng đắn để giải quyết các vấn đề về biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Thực tế trình bày ở các phần trên đã chỉ rõ ràng:

- Giữa Việt Nam và Trung Quốc từ lâu đã hình thành một biên giới lịch sử và biên giới đó đã được các Công ước năm 1887 và 1895 hoạch định, tiếp đó được cắm mốc rõ ràng trên suốt hơn 1.400 km trên đất liền.

- Phía Trung Quốc vi phạm sự thoả thuận giữa hai nước về việc giữ nguyên trạng đường biên giới do lịch sử để lại, đã hàng nghìn lần xâm phạm biên giới, chủ quyền, lãnh thổ của nước Việt Nam trong suốt 21 năm qua.

- Phía Trung Quốc đã cố tình làm bế tắc các cuộc đàm phán về vấn đề biên giới giữa hai nước, ngày càng tăng cường khiêu khích vũ trang nước Việt Nam và ngày 17 tháng 2 năm 1979 đã đưa quân ồ ạt xâm lược Việt Nam.

Để che giấu quy mô của cuộc chiến tranh, lừa gạt nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới, nhà cầm quyền Trung Quốc đã nói láo một cách hèn hạ rằng phía Việt Nam đã “khiêu khích”, “xâm lược”, khiến Trung Quốc phải “phản công tự vệ”. Cũng như khi họ xâm lược Ấn Độ năm 1962, lúc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974, phía Trung Quốc từng đã nói là “phản công tự vệ”. Khi những nhà cầm quyền Bắc Kinh nói “phản công tự vệ” chính là họ đang hành động như bọn xâm lược.

Nhà cầm quyền Bắc Kinh còn nói đây chỉ là một cuộc “chiến tranh hạn chế” tiến hành với “những lực lượng biên phòng”. Sự thật rõ ràng là họ tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn nhằm thôn tính Việt Nam, mở đầu với sự tham gia của hàng chục sư đoàn quân chính quy, bằng số quân Mỹ cao nhất lúc Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Nhân dân khắp năm châu, chính phủ nhiều nước kể cả những bạn bè của Đặng Tiểu Bình ở phương Tây đều gọi đây là cuộc xâm lược của Trung Quốc chống Việt Nam. Người dân thường Trung Quốc cũng bắt đầu thức tỉnh về cuộc phiêu lưu mà các nhà cầm quyền Trung Quốc đang đẩy đất nước họ đi tới với những những hậu quả không thể lường hết được.
Vì sao những người cầm quyền Trung Quốc lại tiến hành xâm lược Việt Nam mặc dù điều đó lột trần bộ mặt thật bành trướng đại dân tộc, bộ mặt xâm lược của họ?

Nguồn gốc của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam hiện nay hiện nay là chính sách của những người cầm quyền Trung Quốc nhằm làm cho Việt nam suy yếu hơn, hòng buộc Việt Nam phải khuất phục và phụ thuộc Trung Quốc, đồng thời nhằm thôn tính Lào và Campuchia để biến bán đảo Đông Dương thành bàn đạp của họ để thực hiện chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc của họ ở Đông Nam Á. Họ đã thất bại liên tiếp trong việc dùng bè lũ PônPốt-Iêng Xary đánh Việt Nam từ phía Tây Nam, gây khiêu khích vũ trang và tăng cường sức ép quân sự từ phía bắc, dùng người Hoa để phá rối và gây bạo loạn bên trong, lợi dụng lúc Việt Nam bị khó khăn về kinh tế và lôi kéo các nước cắt cắt viện trợ hòng bóp nghẹt Việt Nam. Họ còn đóng cửa ba lãnh sự quán của Việt Nam ở Côn Minh, Nam Ninh, Quảng Châu, cắt đường tàu liên vận quốc tế, huỷ bỏ Hiệp định về miễn thị thực cho cán bộ hai nước hòng che dấu việc tiến công quân sự chống nước Việt Nam. Cuối cùng, những người cầm quyền Trung Quốc liều lĩnh tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Tiến đánh tất cả sáu tỉnh biên giới phía bắc của Việt Nam, họ còn mưu toan sửa đổi đường biên giới, tức là giữ chặt những chỗ họ đã lấn chiếm trước đây, đồng thời lấn chiếm thêm những chỗ khác. Chính họ đã trắng trợn nói lên điều đó khi họ nói quân Trung Quốc sẽ rút về bên kia “đường biên giới mà Trung Quốc công nhận”. Theo tin đầu tiên, họ đã cho chuyển sâu về phía Việt Nam mốc số 41 và mốc số 45 ở khu vực Chi Ma (tỉnh Lạng Sơn). Mặc dù vậy, họ thường xuyên tuyên bố: “ Trung Quốc không lấy một tấc đất của ai!”.

Lập trường của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được nêu rõ trong Công hàm ngày 2 tháng 3 nămm 1979 gửi Bộ Ngoại giao Trung Quốc: những người cầm quyền Trung Quốc đã gây chiến tranh xâm lược Việt Nam thì họ phải vĩnh viễn chấm dứt xâm lược; phải rút ngay, rút hết, rút không điều kiện quân đội của họ về phía bên kia đường biên giới do lịch sử để lại, như hai bên đã thoả thuận; triệt để tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Ngày 6 tháng 3 năm 1979, phía Việt Nam đã tuyên bố:

“Nếu Trung Quốc thật sự rút toàn bộ quân của họ khỏi lãnh thổ Việt Nam như họ đã tuyên bố, thì sau khi quân Trung Quốc rút hết về bên kia đường biên giới lịch sử đã được hai bên thoả thuận tôn trọng, phía Việt nam sẵn sàng đàm phán ngay với phía Trung Quốc ở cấp Thứ trưởng Bộ Ngoại giao về việc khôi phục quan hệ bình thường giữa hai nước. Địa điểm và thời gian sẽ do hai bên thoả thuận”

Nếu những người cầm quyền Trung Quốc tiếp tục chính sách xâm lược chống Việt Nam thì quân và dân Việt Nam sẽ dùng quyền tự vệ thiêng liêng, kiên quyết chiến đấu chống xâm lược để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới.

Nhân dân Việt Nam quyết tiếp tục làm hết sức mình gìn giữ tình hữu nghị truyền thống với nhân dân Trung Quốc. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiên quyết đòi nhà cầm quyền Trung Quốc:

1-- Vĩnh viễn chấm dứt xâm lược, phải rút ngay, rút không điều kiện quân đội của họ về nước; chấm dứt mọi hành động tội ác đối với nhân dân Việt nam; triệt để tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; tôn trọng đường biên giới do lịch sử để lại như hai bên đã thoả thuận; phải chấm dứt ngay việc dời cột mốc biên giới và những hành động khác nhằm thay đổi đường biên giới đó.

2-- Cùng phía Việt Nam sớm mở cuộc thương lượng nêu trong Công hàm ngày 15 tháng 3 năm 1979 của Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi Bộ Ngoại giao Trung Quốc nhằm đem lại hoà bình và ổn định ở vùng biên giới giữa hai nước, khôi phục quan hệ bình thường giữa hai nước.

Nhân dân và Chính phủ Việt Nam tin chắc rằng các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước trong Phong trào không liên kết, các nước độc lập dân tộc, các nước bè bạn và nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới sẽ tăng cường đoàn kết, ủng hộ Việt Nam vì độc lập, hoà bình, ổn định ở Đông Nam Á và thế giới.
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 11.10.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN

HAI CUỘC CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, đến thập kỷ 1970, mối quan hệ tay ba Việt-Trung-Xô không còn thân thiện và ấm áp như hồi thập niên 1960 nữa.

Việt Nam là "nước nhỏ", đứng ở giữa, nên phải cố gắng làm đẹp lòng cả hai nước lớn, vì họ đều có những hỗ trợ rất đáng kể về quân sự và kinh tế cho một quốc gia nghèo đói, trình độ sản xuất còn non yếu, lại hàng ngày hàng giờ gánh chịu hậu quả của sự đánh phá khốc liệt bằng máy bay thả bom hủy diệt, tàu chiến thả thủy lôi phong tỏa các cảng biển của đế quốc Mỹ.

Một khi hai nước lớn kia "lủng củng" với nhau, ông em út Việt Nam quả thực bối rối. Còn nếu rơi vào tình cảnh một trong hai "ông anh" ra tối hậu thư, bắt "mày phải bỏ ông kia thì tao mới chơi với mày", thì lúng túng thật sự.

Chính vì thế, quan hệ (chính trị) Việt Nam - Trung Quốc hồi ấy chắc chắn có những vết rạn nứt.

Những đề nghị đàm phán về biên giới lãnh thổ của Việt Nam trong thập kỷ 1970 với Trung Quốc làm cho "ông anh nóng mặt, coi thằng em là láo toét".

Và thế là xảy ra sự kiện không thể ngờ được là Cămpuchia "bống dưng" tấn công Việt Nam, tranh chấp biên giới lãnh thổ với Việt Nam.

CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM

Ngày 3-5-1975, Cămpuchia đổ bộ lên đảo Phú Quốc.

Ngày 10-5-1975, Cămpuchia đánh chiếm đảo Thổ Chu.

Lúc đó, Việt Nam chỉ đánh giá, đây có lẽ là hành động của một nhóm cướp biển manh động nào đó.

Ngày 20-5-1975, tại Hội nghị Trung ương Khơ-me, tập đoàn Pôn Pốt- Yêng Xa-ry âm thầm xác định: "Việt Nam là kẻ thù số 1, là kẻ thù truyền kiếp...".

Việt Nam chưa nhận thức hết được tính nghiêm trọng của vấn đề, mặc dù đã đưa ra nhận định: có khả năng Khơ-me đỏ sẽ khiêu khích, tiến tới gây xung đột vũ trang ở biên giới Tây nam.

Tháng 4-1976, Thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền trong quá trình chuẩn bị cho đàm phán biên giới Việt Nam- Cămpuchia, đã cảm nhận được phần nào dã tâm của các lãnh đạo Khơ-me đỏ, điện gấp về nước: "Đề nghị thông tin ngay cho các đơn vị biên giới, vùng biển, tăng cường canh gác biên giới, các đảo, hải phận tiếp giáp với Cămpuchia".

Ngày 30-4-1977, Cămpuchia sử dụng lực lượng cấp sư đoàn tấn công 13 trong số 15 xã biên giới của tỉnh An Giang.

Ngày 25-7-1977, Cămpuchia dùng 4 sư đoàn đánh sâu vào Việt Nam 19 km, tàn sát 9.000 dân ở 3 xã thuộc huyện Tân Biên (An Giang).

Tính từ 30-4-1975 đến 6-1977, Cămpuchia đã xâm nhập biên giới trên 2.000 lần.

Trong gần 2 năm 1977-1978, quân Cămpuchia đã gây ra những thiệt hại cho Việt Nam như: 3 vạn người chết và mất tích (có vụ họ giết một lúc 1.000 người, moi gan mổ bụng rất dã man); 40 vạn dân mất nhà cửa; 3.000 nhà bị bỏ hoang; hàng chục nghìn nhà thờ, trường học, chùa chiền bị đốt phá; 1.000 trâu bò bị cướp...

Chiến thuật du kích mà các cố vấn chuyên gia nước ngoài dạy cho quân đội Pôn Pốt là: "Lúc tập trung, lúc phân tán; Ta đánh, địch chạy; Ta dừng, địch bu bám; Kết hợp với gài mìn, cạm bẫy, phục kích, bắn tỉa..."

Cuối 1977.đầu 1978, Cămpuchia tập trung binh lực, định chiếm thị xã Tây Ninh. Ta biết được ý đồ này, dùng 8 sư đoàn tấn công sâu vào đất Cămpuchia 30 km, đánh thiệt hại 5 sư đoàn địch. Cămpuchia lại gây hấn ở "khe lõm" Tây Ninh, Đồng Tháp, Long An, Việt Nam lập tức đáp trả bằng cách phản công, đánh sâu tới Chi Pu, Pra Xốt, cách Svây-riêng 10 km, cách Phnôm Pênh 100 km. "Đội bạn" lo ngại, quyết định đưa vấn đề xung đột với Việt Nam ra công khai, khiến ta phải rút phần lớn lực lượng đang nằm ở đất Cămpuchia về.

Trong 2 tháng đầu năm 1978, thống kê được 903 vụ pháo kích bằng trọng pháo 130 ly (do "đối tác nước ngoài" cung cấp) sang đất Việt Nam. Tiếp đó, Cămpuchia tập trung 17 sư đoàn, ồ ạt tấn công trên toàn tuyến biên giới 3 tỉnh Tây Ninh, An Giang và Kiên Giang, dự kiến sẽ sớm "giải phóng Sài Gòn". (Theo một số người Cămpuchia lý giải thì địa danh Sài Gòn có xuất xứ từ tiếng Khơ-me ?!).

Từ 6-1978, Việt Nam không còn mơ hồ về khái niệm "địch-ta", "đồng chí-kẻ thù" nữa, nên quyết tâm tiêu diệt Khơ-me đỏ.

Trước tiên, ta bắt liên lạc với quân khu 203 (lực lượng Cămpuchia nổi lên chống lại Khơ-me đỏ), giúp bạn xây dựng 15 tiểu đoàn bộ binh và 24 đội công tác vận động quần chúng.

Với ưu thế hơn hẳn về lực lượng: 2 quân đoàn (Quân đoàn 3 và Quân đoàn 4), 2 sư đoàn của Quân khu 5 (sư 315 và sư 307), 2 sư đoàn của Quân khu 7, đến tháng 9-1978, ta nhanh chóng xóa sổ được 6 sư doàn của Cămpuchia.

Cuối năm 1978, Cămpuchia và "ông anh hàng xóm" vẫn không hay biết gì về kế hoạch "tổng tấn công" của Việt Nam. Lý do khách quan là lúc đó đang là mùa mưa, và bên Cămpuchia có khá nhiều sông rạch trên 3 con đường chiến lược dẫn tới Phnôm pênh là đường số 1, số 2 và số 7. Nhưng ta vẫn điều thêm Quân đoàn 2 từ miền Trung vào, nhờ xe tăng, xe cầu phá, các vũ khí nặng "quá giang" một tàu vận tải của Liên Xô (đang bốc dỡ hàng ở cảng Hải Phòng, được Đại sứ quán Liên Xô điện với chủ tàu, xin điều động gấp vào miền Trung) từ Đà Nẵng vào Sài Gòn, sau đó, dùng phà chuyển tiếp xuống Cần Thơ.

"Đội bạn" hớ hênh bố trí 19 sư đoàn dọc biên giới, 4 sư đoàn dự bị ở bên trong (nhưng thực chất là những lực lượng đã bị đập tơi bời, nay đang vá víu, củng cố lại), và hùng hổ huy động 10 sư đoàn mở cuộc tấn công:

+ 3 sư đoàn đánh Bến Sỏi (Tây Ninh)
+ 2 sư đoàn đánh Hồng Ngự (Đồng Tháp)
+ 2 sư đoàn đánh Bảy Núi (An Giang)
+ 2 sư đoàn đánh Hà Tiên (Kiên Giang)
+ 1 sư đoàn đánh Trà Phô - Hà Tiên (Kiên Giang)

Không những phản công, ta còn truy kích sâu vào lãnh thổ Cămpuchia và quyết tâm tấn công vào thủ đô Phnôm Pênh trước 8-1-1979. Là bởi vì, theo lịch dự kiến, vào ngày này, Hội đồng bảo an của Liên hợp quốc (trong đó có "ông anh") sẽ họp, và điều đó có thể sẽ gây bất lợi cho Việt Nam.

Trên mỗi con đường chiến lược dẫn về Phnôm Pênh, quân Cămpuchia bố trí 5 sư đoàn phòng thủ, nhưng do ham tấn công quá, nên khi quân ta dùng xe tăng và xe bọc thép, xe lội nước hành quân thần tốc thì "đội bạn" ú a ú ớ, không kịp trở tay.

Trưa 7-1-1979, khi ta vào Phnôm Pênh, thì địch đã rút khỏi đấy từ 6-1, thế là ta phân công các mũi tản ra truy kích quân địch đang tan rã, chui lủi trong rừng. Ngày 8-1, bạn tuyên bố thành lập Hội đồng cách mạng.

Quân ta còn phải tổ chức thêm 11 chiến dịch nữa, mãi đến tận tháng 6-1979, mới truy quét gần hết tàn quân Khơ-me đỏ.

Sau này, qua tin tình bào thì được biết, lúc 9 giờ sáng ngày 6-1, một chiếc Bô-inh 747 đã chở toàn bộ gia đình Xi-ha-núc và một số đại sứ nước ngoài rời Phnôm Pênh. Sáng sớm 7-1-1979, thêm một chuyến Bô-inh 747 chở các lãnh đạo đầu sỏ của Khơ-me đỏ đi trốn. May cho 2 chuyến bay này, vì vài hôm trước, các cán bộ quân sự của ta đã định điều máy bay A-37 thu được của Mỹ ở Tân Sơn Nhất bay sang ném bom sân bay Pô-chen-tông phá hỏng đường băng, nhằm uy hiếp Khơ-me đỏ và những ai đang "to mồm" ủng hộ Khơ-me đỏ, song người có cương vị chỉ huy cao cấp nhất tại Cămpuchia là đồng chí Lê Trọng Tấn đã không đồng ý phê duyệt kế hoạch "cứng rắn" này.

Dù sao, vẫn phải mở cho "đối phương" một con đường thoát hiểm trong danh dự.


CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC

Giải phóng Phnôm Pênh được hơn 1 tháng thì xảy ra chiến tranh biên giới phía Bắc.

Lý do là "thằng em láo quá, làm mất mặt ông anh, tao phải dạy cho mày một bài học".

Hôm ấy là ngày 17-2-1979, đúng lúc Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Văn Tiến Dũng (Tổng Tham mưu trưởng) đang có mặt ở Phnôm Pênh.

Những ngày đầu, ta chỉ sử dụng lực lượng bộ đội địa phương để chống đỡ. Tổng Bí thư và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng không cho phép "đụng đến" Quân đoàn 1, vốn là lực lượng dự bị chiến lược.

Khi quân Trung Quốc vào đến Lạng Sơn (còn cách Hà Nội 178 km), trên lệnh cho Quân doàn 1 vào tư thế chuẩn bị. Ta không "ném" Quân đoàn 1 vào cuộc chiến ngay, vì không còn tuyến phòng thủ dự bị sô 2.

Giải pháp "trung dung" lúc này là huy động 1 sư đoàn của Quân đoàn 1, dùng tàu hỏa chuyển ngay quân lên Kép (Bắc Giang), tạo nên một chốt chặn. Tất nhiên, 1 sư đòan chả bõ bèn gì.

Việc điều Quân đoàn 2 từ Cămpuchia về không đơn giản, bởi các đơn vị đang bận truy quét tàn quân Khơ-me đỏ, ở rất phân tán. Quân đoàn nhận được lệnh gấp rút tập trung toàn bộ lực lượng về một mối để dễ bề cơ động. Sau đó, bộ đội được lệnh bỏ lại toàn bộ quân trang, súng ống, chỉ hành quân người không bằng máy bay vận tải cánh quạt AN-12 của Liên Xô, tàu hỏa, và xe cơ giới. Ra đến đất Bắc, lại được cấp quân trang quân dụng, súng ống đầy đủ. Thế là chỉ mất có 1 tuần, toàn bộ Quân đoàn 2 đã kịp đứng chân tại Bắc Ninh và Bắc Giang.

Tiếp đó, Quân đoàn 3 cũng được điều từ chiến trường K (Cămpuchia) gấp ra Bắc, đóng quân tại Bắc Cạn và Thái Nguyên, đề phòng mọi bất trắc cho thủ đô Hà Nội.

Trung Quốc "ớn" khi nghe lời tuyên bố cứng rắn: nếu Trung Quốc vào Hà Nội thì Liên Xô sẽ vào Bắc Kinh !.




Năm 1979, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân cho ra mắt bạn đọc cuốn sách có tiêu đề "Không được đụng tới Việt Nam".

Dưới đây là một đoạn trích từ cuốn sách đó.

LUỐN SÂU ĐÁNH HIỂM

Tối hôm đó, đơn vị chúng tôi rời bản Bốc Thượng. Trước lúc xuất kích, có chiến sĩ còn nói đùa : "Hôm nay là ngày Quốc tế Phụ nữ, các bạn biết rồi chứ. Chúng mình phải đánh một trận thật tuyệt để báo công gửi về cho mẹ, cho vợ và người yêu".

Chúng tôi mang theo bên người lương khô đủ ăn 3 ngày, còn tất cả là súng đạn và thủ pháo. Lực lượng luồn sâu của tiểu đoàn có 3 mũi : mũi 1 có 20 đồng chỉ, anh Đào Văn Quân, chính trị viên đại đội 1 làm chỉ huy trưởng. Anh Quân là cán bộ trẻ trong đơn vị, mới 25 tuổi, quê ở Tứ Kì, Hải Hưng. Đại đội phó Tường Duy Chính là chỉ huy phó. Mũi 2 là mũi phụ, có 19 chiến sĩ. Còn lại là bộ phận cối 82 ly do anh Dương chỉ huy, có nhiệm vụ bắn kiềm chế địch, đề phòng chúng phản ứng vào đội hình của đơn vị. Ba cán bộ chỉ huy của 3 mũi đều là những chiến sĩ đã dày dặn chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Hai đêm hành quân, đến bản Na Toòng thì được lệnh dừng lại để trinh sát. Ở đây, chúng tôi đã gặp 3 dân quân dẫn đường. Đó là 2 cô gái Phan Thị Hoa, Lã Thị Sự và anh Vương Văn Ngô. Anh chị em này đều là những chiến sĩ thuộc đơn vị dân quân khu Thanh Sơn, đã từng đánh địch từ những ngày đầu, khi bọn Trung Quốc xâm lược mới đặt chân vào thị xã Cao Bằng. Theo các chiến sĩ dân quân, chúng tôi đưọc lệnh đi sâu vào khu chiến, nơi địch đóng dày đặc trên các đồi Thiên Văn, Pháo Đài... Riêng ở đồi Thiên Văn có tới 1 trung đoàn, hàng ngày chúng canh gác trên đoạn đường ra vào cửa ngõ thị xã. Nhiệm vụ của tiểu đoàn đặc công chúng tôi là phải đánh nhanh rồi tản nhanh, nếu không sẽ bị hãm trong vòng vây của địch.

Bộ đội ta đào xong công sự thì trời vừa sáng. Bỗng từ đài quan sát báo tới : địch bắt đầu xuất hiện. Nhưng chỉ là một chiếc xe tải từ Tài Hồ Xìn chạy tới. Đến chân đồi Na Cảy, nó dừng lại. Những tên lính Trung Quốc nhảy xuống xe và đi vào khu giao thông để bốc hàng rồi vào bản cướp bóc. Chốc chốc, chúng lại khiêng ra xe nào gà, nào vịt, nào lợn. Các chiến sĩ căm lắm, nhưng vẫn phải nén lòng chờ đợi, không đánh vào bọn này, mà chờ những đơn vị lớn hơn.

Đến 8 giờ 30, có 8 chiếc xe tải khác lại vẫn từ Tài Hồ Xìn chạy về thị xã. Trên xe chúng chất đầy những bao hàng và những chiếc xe đạp hỏng. Đó là những thứ chúng cướp được ở dọc đường. Chiếc xe đầu đã chạy lọt vào đúng trận địa phục kích mà chúng tôi vẫn chưa được lệnh đánh. Hàng chục con mắt và đôi tai chiến sĩ cứ căng ra và đỏ dồn về phía anh Quân và tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh Thời để chờ đợi, chỉ sợ mình không nghe kịp lệnh để rút nụ xoè tung lựu đạn xuống đầu địch. Và cứ mỗi chiếc xe giặc chạy qua tầm súng, chúng tôi lại một lần hồi hộp, chờ lệnh nổ súng.

Bỗng có lệnh :

- Hãy bình tĩnh, đã có công luồn sâu 3 ngày vào lòng địch thì phải biết nén căm giận để đánh một trận thật giòn giã.

Nửa giờ sau, lại có tiếng động cơ râm ran từ thị xã Cao Bằng vọng đến. Đài quan sát báo: có 17 chiếc xe chở đầy lính và đạn tên lửa H-12 sắp chạy qua trận địa.

Bây giờ thì được đánh thật rồi. Từ hầm súng, chúng tôi như muốn bật cả dậy. Phan Thị Hoa, Lã Thị Sự - các cô gái du kích Thanh Sơn tay thoăn thoắt buộc từng băng AK vào nhau, và mở sẵn nắp thủ pháo trao cho từng chiến sĩ.

Chúng tôi nằm trên dốc ta-luy trong xuống mặt đường nhìn rõ từng hòn đá nhỏ. Chiếc xe thứ nhất đã lao qua. Rồi chiếc thứ 2, thứ 3. Ba chiếc đầu chở đạn. Những chiếc sau đều chở lính, chúng đội mũ sắt, xếp hàng bảy đầy ắp.

Khi chiếc xe cuối cùng vào đúng vị trí khoá đuôi, thì Nguyễn Văn Sinh được lệnh nổ súng. Trên vai anh, quả đạn B-41 vọt ra khỏi nòng, cắm vào thùng xe nổ tung. Trong đám lửa màu da cam hiện rõ từng tên lính bị hất tung lên rồi ném xuống mặt đường. Phát đạn B-41 của Sinh cũng là khẩu lệnh của trận đánh. Tiếp đó là tiếng thủ pháo, lựu đạn nổ xen lẫn từng tràng liên thanh của AK dồn dập đánh địch.

Ở vị trí phía trước chặn đầu, Hà Văn Nhạc bắn 3 viên AK báng gấp, đúng vào mặt tên lái. Hắn cúi gập người, buông tay vôlăng, chiếc xe lảo đảo thúc đầu vào vách ta-luy dựng đứng, bật trở lại, xoay nửa vòng chắn ngang đường. Chiếc thứ hai lách sang trái tìm đường thoát. Đại đội phó Tường Duy Chính đứng vụt dậy, tựa vào thành hào ngắm bắn một quả B-41. Đạn tên lửa H-12 trên xe bị đốt cháy nổ tung liên tiếp. Thế là cả đội hình 14 chiếc còn lại với hơn 500 tên lính nằm gọn trong tầm súng và biển lửa. Chỉ huy trưởng Đào Văn Quân chỉ huy các chiến sĩ Lợi, Công, Đề và anh dân quân Vương Văn Ngô đánh tạt sườn. Anh Quân bắn luôn 6 phát B-41 vào 6 chiếc xe đang nối nhau, bóp còi inh ỏi để tìm đường tẩu thoát. Nhưng chúng còn chạy vào đâu. Bọn lính từ trên xe nhảy xuống chỉ kịp giúi đầu xuống sàn xe hoặc nằm rạp xuống hai bên rãnh thoát nước. Từ trên cao, chiến sĩ ta chỉ việc bỏ lựu đạn, thủ pháo, bắn AK xuống. Xác địch chết chồng chéo lên nhau, trông thật thảm hại.

Bỗng một tên xách được khẩu trung liên từ thùng xe lao ra đường, chạy đến bụi tre và nằm xuống định bắn trả. Hắn chưa kịp bắn, Hà Văn Triệu đã nhanh hơn, đưa điểm ngắm vào cái đầu trọc của hắn, kéo một loạt ngắn AK. Đó là tên lính duy nhất định chống cự trong đám 1 tiểu đoàn giặc đi trên đoàn xe đã bị tiêu diệt gọn.

Chúng tôi đang đánh thì một tình huống xảy ra nằm ngoài dự kiến của thủ trưởng Thời. Đó là hàng trăm tên địch chốt trên các đồi Thiên Văn và Yên Ngựa, khi nghe tiếng súng nổ và ngọn lửa bốc cao dưới mặt quốc lộ 3, đã bỏ luôn súng, rủ nhau chạy lên đồi cao nhìn xuống nơi đồng bọn bị tiêu diệt. Nắm đúng thời cơ, trung đội trưởng cối 82 ly ra lệnh đánh. Hàng chục quả đạn đã được tính toán kỹ lưỡng phần tử bắn, nối đuôi nhau dội lửa xuống đầu địch, tiêu diệt hơn 100 tên nữa. Tất cả trận đánh chỉ diễn ra trên 20 phút. Khi bọn địch phản ứng thì đơn vị chúng tôi đã nhanh chóng theo 3 chiến sĩ dân quân thọc qua bản Na Cảy, trở về vị trí tập kết.

Về đến nơi, lúc chia tay đơn vị, cô gái dân quân người Tày tên Phan Thị Hoa nắm tay anh Đào Văn Quân, nói giọng tha thiết :

- Nếu em được vào bộ đội, em sẽ tình nguyện vào đơn vị đặc công của các anh...

Còn chúng tôi nghĩ, nếu lần sau có những trận đánh được phối hợp với anh chị em dân quân như thế này, thì đơn vị lập công càng lớn hơn...

.......................................Minh Tiến, ghi theo lời kể của Nguyễn Văn Thành, Đại đội 1, Tiểu đoàn 45.


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 13.10.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN

XUNG ĐỘT BIÊN GIỚI VIỆT - TRUNG TRONG THẬP KỶ 1980

Tháng 3-1979, quân Trung Quốc rút khỏi Việt Nam.

Sau cuộc chiến tranh biên giới, Trung Quốc tuyên bố họ không tham vọng dù "chỉ một tấc đất lãnh thổ Việt Nam", nhưng trên thực tế, Trung Quốc chiếm đóng khoảng 60 km2 phần lãnh thổ tranh chấp, mà trước khi chiến sự nổ ra, thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam. Tại một số nơi như khu vực quanh Hữu Nghị Quan gần Lạng Sơn, Trung Quốc chiếm giữ các khu vực không có mấy giá trị về mặt quân sự, nhưng có giá trị biểu tượng quan trọng. Tại các nơi khác, Trung Quốc chiếm giữ các vị trí có ý nghĩa chiến lược quân sự, có thể dùng làm bàn đạp để từ đó tiến đánh Việt Nam.

Việc Trung Quốc chiếm đóng một số khu vực lãnh thổ biên giới làm cho Việt Nam hết sức căm giận, và giữa hai bên đã nổ ra một loạt trận giao tranh nhằm giành quyền kiểm soát các khu vực đó. Xung đột biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc tiếp diễn suốt thập kỷ 1980, mà đỉnh điểm là hai năm 1984 và 1985.

Tháng 6-1980, quân Việt Nam trong khi truy kích quân Khơ-me Đỏ tháo chạy đã vượt qua biên giới Thái Lan (do Thái Lan dung túng cho Khơ-me Đỏ lập một số căn cứ huấn luyện trên đất Thái Lan). Dù sau đó, quân Việt Nam nhanh chóng rút khỏi lãnh thổ Thái Lan, nhưng sự kiện này khiến Trung Quốc cảm thấy "bị qua mặt", nên quyết định lên tiếng. Một mặt, trên mặt trận ngoại giao, Trung Quốc gào lên phản đối Việt Nam. Mặt khác, trên mặt trận quân sự, Trung Quốc liên tục nã đạn pháo vào thị xã Cao Bằng. Các cuộc bắn phá của Trung Quốc không nhằm vào một mục tiêu quân sự chiến lược nào cả, chỉ mang tính tượng trưng là "trừng phạt".

Ngày 02-01-1981, Bộ Ngoại giao Việt Nam đề nghị hai bên ngừng bắn để đón Tết Nguyên đán, song đề nghị này bị phía Trung Quốc bác bỏ. Tuy vậy, hai bên vẫn tiến hành trao đổi tù binh như đã định. Tình hình biên giới tương đối yên tĩnh trong mấy tháng tiếp theo.

Tháng 5-1981, giao tranh đột ngột bùng lên. Trung Quốc sử dụng một số trung đoàn tiến công đánh chiếm cứ điểm đồi 400 thuộc huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (mà Trung Quốc gọi là Pháp Tạp Sơn).

Đồng thời, Trung Quốc tấn công và đánh chiếm dãy các điểm cao chiến lược mang số hiệu 1800a, 1800b, 1688 và 1509 tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên (Hà Giang và Tuyên Quang ngày nay). Pháo hạng nặng và cối của Trung Quốc bắn dày đặc, không tiếc đạn, khiến quân Việt Nam chết và thương vong quá nhiều.

Tới năm 1984, Trung Quốc lại dùng nhiều tiểu đoàn mở các đợt tấn công lớn vào các huyện giáp biên của tỉnh Lạng Sơn. Cuộc tấn công lớn nhất diễn ra tại huyện Tràng Định. Trung Quốc còn chiếm các đồi 820 và 636, gần đường tiến quân năm 1979, tại Hữu Nghị Quan. Dù lực lượng hùng hậu, nhưng tới ngày hôm sau, các đợt tấn công của họ đều bị đánh lui, hoặc phải rút bỏ các vị trí đã chiếm được.

Tại Hà Tuyên, trong từ tháng 4 đến tháng 7-1984, Trung Quốc tấn công dữ dội vào dải đồi thuộc huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên của Việt Nam mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn, gần cột mốc biên giới số 13. Lão Sơn thực ra là một dãy đồi chạy từ Tây sang Đông, từ quả đồi ở bình độ 1800 nằm ở phía Tây, tới quả đồi bình độ 1200 nằm ở phía Đông. Trung Quốc mở màn cuộc tấn công lúc 5 giờ sáng ngày 28-4-1984 sau một đợt pháo kích ác liệt. Hai sư đoàn 40 và 49 tấn công và đánh chiếm đồi 1200. Lực lượng phòng ngự của Việt Nam không trụ nổi, đành phải rút lui khỏi các ngọn đồi này.

Trung Quốc chiếm được một khu vực tạo nên một vùng lồi kéo dài khoảng 2,5 km tại đồi 468 hướng về phía Việt Nam. Vị trí này được bảo vệ bởi vách đá dựng đứng, có rừng bao phủ và con suối Thanh Thủy ở phía Nam, do đó, chỉ có thể tiếp cận được bằng cách băng qua cánh đồng trống trải ở phía Đông, rất thuận lợi cho việc phòng ngự.

Cuộc tranh giành các ngọn đồi 1509, 772, 233, 1200, 1030 diễn ra vô cùng khốc liệt. Sau ngày 15-5, chiến sự tạm ngừng, song đến ngày 12-7, chiến sự lại bùng lên, khi Việt Nam tổ chức phản kích chiếm lại các ngọn đồi này, rồi dừng hẳn, chỉ có các cuộc chạm trán hoặc đọ pháo lẻ tẻ.

Để phòng ngự các khu vực vừa chiếm được, Trung Quốc duy trì 2 quân đoàn tại khu vực Hà Tuyên, bao gồm 4 sư đoàn bộ binh, 2 sư đoàn pháo binh và vài trung đoàn xe tăng. Sư đoàn pháo binh Trung Quốc bố trí tại khu vực này gồm pháo 130 mm và bích kích pháo (lựu pháo) 155 mm, cũng như hỏa tiễn 40 nòng H-12. Các trung đoàn bộ binh đều trang bị cối 85 ly và 100 ly. Các cuộc giao tranh ở đây diễn ra chủ yếu là đấu pháo. Trong một số trận đụng độ, Trung Quốc đưa cả xe tăng vào giao chiến.

Kết quả, Trung Quốc chiếm được một số ngọn đồi thuộc dải đồi này, gồm 29 điểm trong lãnh thổ Việt Nam. Trong số các vị trí mà quân Trung Quốc chiếm được có các đồi 1509 (Núi Đất tức Lão Sơn), 772 ở phía tây sông Lô và các đồi 1250 (Núi Bạc), 1030, Si Cà Lá ở phía đông sông Lô. Chiến sự diễn ra dọc tuyến biên giới dài khoảng 11 km. Nơi Trung Quốc chiếm được sâu nhất trong lãnh thổ Việt Nam là đồi 685 và đồi 468, nằm cách đường biên khoảng 2 km.

Giao tranh kéo dài dằng dai, nhưng không có nơi nào quân Trung Quốc tiến sâu được hơn vào lãnh thổ Việt Nam quá 5 km, dù quân số của họ đông hơn rất nhiều.

Nếu như trong năm 1985, mỗi tháng Trung Quốc bắn trung bình 800 nghìn quả đạn pháo vào Vị Xuyên, trong tổng số khoảng 1 triệu quả đạn pháo trên toàn biên giới, thì trong thời gian từ cuối năm 1986 đến đầu năm 1987 số vụ bắn phá giảm hẳn, chỉ còn chừng vài chục ngàn quả đạn pháo trong một tháng. Đây có lẽ là kết quả của việc Tổng Bí thư Goóc-ba-chốp (Liên Xô) kêu gọi bình thường hóa quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong bài diễn văn đọc tại Vla-đi-vô-xtốc. Tới tháng 10-1985, Trung Quốc thành công trong việc thuyết phục Liên Xô đưa vấn đề Cămpuchia vào chương trình nghị sự của vòng đàm phán thứ 9 giữa Liên Xô và Trung Quốc.

Tuy nhiên, giữa lúc các tín hiệu ngoại giao đang có xu thế trở nên tích cực, thì tình hình biên giới Việt -Trung đột nhiên căng thẳng trở lại. Ngày 14-10-1985, Việt Nam tố cáo Trung Quốc bắn 35.000 phát đạn pháo vào Vị Xuyên, và có những hành động lấn chiếm lãnh thổ. Việt Nam đã đẩy lui 3 đợt tấn công của Trung Quốc tại đồi 1100 và cầu Thanh Thủy. Đây có thể là phản ứng của Trung Quốc trước việc Liên Xô từ chối gây sức ép đòi Việt Nam phải rút quân khỏi Cămpuchia, hoặc để đáp lại các hoạt động quân sự mùa khô mà Việt Nam đang chuẩn bị tiến hành tại Cămpuchia.

Trong các ngày đầu tháng 1-1987, Trung Quốc tăng cường bắn phá và đưa quân xâm lấn lãnh thổ. Họ đã bắn hàng chục ngàn phát đạn pháo và mở 15 đợt tấn công nhằm lấn chiếm lãnh thổ tại khu vực Vị Xuyên. Các sư đoàn của Trung Quốc đồng loạt tấn công các chốt do quân Việt Nam đang giữ tại các đồi 233, 685, 1100 và 1509.

Dù chiến sự diễn ra kịch liệt tại Vị Xuyên, tình hình tại các tỉnh biên giới khác của Việt Nam khá yên tĩnh, và Trung Quốc không huy động các đơn vị quân chủ lực trong suốt thời gian xung đột bùng nổ. Tương quan quân sự của hai nước tại vùng biên giới không thay đổi trong thời gian này.

Kể từ tháng 4-1987, Trung Quốc giảm quy mô các hoạt động quân sự tại Việt Nam, dù quân của họ vẫn tiếp tục tuần tra tại Lão Sơn và Yên Sơn.

Bắt đầu từ năm 1989, Trung Quốc rút khỏi một số điểm ở phía Bắc suối Thanh Thủy. Tháng 3-1989, họ rút khỏi 20 vị trí, và đến tháng 9-1989, họ rút thêm 9 điểm còn lại. Tại đồi 1509, nơi Trung Quốc gọi là Lão Sơn, họ cho tiến hành xây cất các công sự bê tông thuộc phần lãnh thổ của mình trước khi nổ ra chiến sự, chỉ để lại các công sự đắp bằng đất tại phần lãnh thổ thuộc về Việt Nam.

Năm 1990, cùng với việc Việt Nam rút quân khỏi Cămpuchia và Liên Xô sụp đổ, quan hệ giữa hai nước dần trở lại bình thường. Trung Quốc thực hiện việc rút quân dần dần khỏi các vị trí đã chiếm đóng của Việt Nam trong thời gian trước.

Năm 1992, Trung Quốc rút hết quân khỏi Lão Sơn và Yên Sơn.

CÓ AI HƠN CHÚNG TÔI!

Kính gửi nhà văn Phạm Viết Đào!

Cho phép em gọi anh bằng anh xưng em. Bởi, em nguyên là chiến sĩ của trung đoàn 754 trực thuộc Quân khu 2, cùng tham gia cuộc chiến tranh biên giới 1984 với em trai anh, Phạm Hữu Tạo, một con người đã vị quốc vong thân.

Em là Nguyễn Quốc Hùng - Hội viên hội nhà văn Hải Phòng, đang công tác tại Cảng Hải Phòng.

Ngay từ những ngày tháng còn là chiến sĩ trên mặt trận Vị Xuyên, em đã có một số truyện ngắn viết trực tiếp về những đồng đội của mình. Gửi đi nhiều, nhưng không được in. Có lẽ là lý do, mới tập tọng viết, tay nghề còn non kém quá, chỉ viết được cái gì nhìn thấy, chưa viết được điều mình cảm thấy.

Nhiều lúc muốn nói, nhưng không biết nói với ai, có ai cùng chia sẻ.

Những con số thống kê về sự hy sinh mất mất, những khốc liệt mà những người lính chúng em trải qua, đã nhiều tài liệu, bài viết đề cập tới. Trong bài này em chỉ viết về nỗi lòng riêng tư để tâm sự cùng anh cho đỡ tủi thân.

Tại sao em đặt tiêu đề cho những dòng tâm sự này này với cái tên “CÓ AI HƠN CHÚNG TÔI!”. Là bởi, em muốn so sánh và tị nạnh với những thế hệ đã đi qua các cuộc chiến tranh giải phóng cũng như bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Xin được tổng kết:

- Về mặt quân số: Khi giao quân, đại đội mới có 20 lính quê Hải Phòng. Một tháng sau, 8 người trụ lại làm nhiệm vụ bảo vệ đường biên giới Tổ quốc, còn lại trở về nơi thành phố bình yên để xây dựng cuộc sống ấm no. Có đại đội tỉ lệ trụ lại còn ít hơn (Xin lưu ý, em chỉ nói đến lính Hải Phòng, các vùng quê khác không thống kê, nhưng chắc không đến mức ấy) Những người còn trụ lại đều vào hoàn cảnh công nhân nhà nước đi nghĩa vụ quân sự như em và gia cảnh còn nghèo khó, muốn là người công dân tốt trong xã hội.

Thời gian nằm dưới cứ chờ lên thay quân, đêm nào cũng thấy đất chuyển thình thịch ngay đầu hồi nhà. Sáng ra, những nấm đất mới mọc lên. Những nấm đất mọc lên tỉ lệ thuận theo tiếng pháo đêm ấy. Lạnh lẽo!

Ba năm nghĩa vụ, qua ba đời trung đoàn trưởng thì có hai đảo ngũ với những lý do khác nhau (sau, nghe đâu toà án quân sự có xử).

Liệu tinh thần những người ở lại có vững?

- Về điều kiện cuộc chiến: Chiến tranh và hoà bình chỉ cách nhau một cây sào của trạm vệ binh. Bên trên là pháo nổ ì ầm như tiếng sấm rền suốt đêm ngày. Bên dưới, một nhóm con “phe” chờ lính chốt mang quân trang, lương thực (chủ yếu là gạo. Bởi gạo được cấp 1,2 kg/ ngày, mà nằm chốt chỉ có thể ăn ba bốn lạng một ngày) đổi lấy rượu, thuốc lào và những nhu yếu phẩm khác. Có dạo, hai bên ngừng bắn vài ngày, các con “phe” thở dài não ruột, buông: “Lâu lâu pháo không bắn, thấy buồn!” Liệu họ có tính, sau mỗi loạt pháo bao nhiêu chiến sĩ ngã xuống. Vô cảm!

Liệu tinh thần những người giữ chốt có vững?

Báo cáo! Chúng em đã hoàn thành nhiệm vụ! Không một điểm cao nào bị mất thêm.

* Khi ra quân chúng em nhận được gì ?

- Trên chuyến xe khách ở bến xe Gia Lâm, một người trung tuổi hỏi: “Các ông lính ở đâu về?” Em trả lời: “Biên giới Vị Xuyên - Hà Giang” Ông ta tròn mắt nhìn ngạc nhiên: “Lính biên giới về mà thằng thì ba lô lộn, thằng đi người không thế này thôi à?!” (Năm 1988 hàng hoá Trung Quốc bắt đầu xâm lược Việt Nam qua đường biên giới) Thờ ơ!

- Đến nay, 80% trong số những người lính trên chuyến xe trở về ấy đều làm tự do, thu nhập dưới mức trung bình. Mỗi năm một ngày gặp mặt, có người không dám đi, vì hai trăm nghìn góp quỹ là cả một khoản ngân sách lớn của gia đình!

- Em tự làm cuộc điều tra, khẳng định 100% số người độ tuổi bốn mươi trở xuống không biết có cuộc chiến tranh này trong lịch sử dân tộc. Vậy ai biết? Những người cha, người mẹ có con tham gia cuộc chiến đó mà được trở về nguyên vẹn cũng chỉ lơ mơ rằng con mình có tham gia một cuộc chiến gì đó, mức độ khốc liệt thế nào không rõ. Em kể cho các cháu nghe về cuộc chiến tranh này, đứa em gái em nói chen vào : “Bác Hùng lại kể về tiểu thuyết sắp viết.” (em có hai tiểu thuyết, một tập truyện ngắn đã in và một tiểu thuyết đang chờ ở nhà xuất bản). Vậy, chỉ có chúng tôi biết chúng tôi đã sống thế nào!

* Cá nhân em nhận được gì?

- Rất nhiều bằng khen, giấy khen. Được kết nạp Đảng trong hầm chỉ huy đại đội trên điểm cao 788 mà không phải qua khâu thẩm tra lý lịch tại địa phương. (Nếu có thẩm tra cũng vẫn cứ được. Bởi, bố em là cán bộ cách mạng tiền khởi nghĩa, bác ruột khi ấy là Đại tá, Cục trưởng cục hậu cần quân đoàn 1, cùng tham gia trên mặt trận Vị Xuyên). Chấm hết!

Bây giờ, mỗi lần xem bắn pháo hoa, khi tiếng khai hoả vang lên là ngực em nghẹn thắt lại, nước mắt không kìm nổi. Tiếng khai hoả của những quả đạn pháo hoa không khác gì tiếng đầu nòng của cối sáu, cối tám. Những gì mình phải chịu đựng trong những ngày tháng ấy, hơn hai mươi năm sau vẫn còn bị ám ảnh. Tủi thân!

Em có một người cháu gọi bằng cậu hy sinh tại cao điểm 1250. Hồn cháu bây giờ không biết lưu lạc nơi đâu. Mong được một lần đứng giữa ngã ba Thanh Thuỷ gào lên: Trạc ơi! Cháu ở đâu?

Xin được thắp nén nhang tâm linh cho liệt sĩ Phạm Hữu Tạo! Xin được thắp nén nhang tâm linh cho cháu Trạc! Xin được thắp nén nhang tâm linh cho tất cả các anh hùng liệt sĩ!
...........................................................Kính thư
....................................................Nguyễn Quốc Hùng

Thư của Nguyễn Quốc Hùng viết ngày 19/11/2010:

Vào blog của anh không khó. Nhưng do em phải làm ca nên thời gian vào mạng không nhiều, có khi cả tuần mới truy cập một lần.

Về cuộc chiến 1984, em có một điều thắc mắc, nhưng chắc khó có ai giải thích được.

Ngày ấy, thực trạng trên chiến trường là, bên ta chiếm lại cao điểm thì dễ, nhưng để giữ được thì rất khó. Còn bên nó đánh chiếm thì khó, nhưng đã chiếm được là giữ được. Ví như điểm cao 300; 400 ta đã nhiều lần chiếm lại được, nhưng không giữ được (hai điểm cao này rất quan trọng vì nó khống chế ngã ba Thanh Thuỷ, con đường tiếp vận chính cho tuyến trên). Bởi vì hoả lực của Trung Quốc mạnh quá, ta củng cố lại hầm hào công sự không được, và con đường vận tải tiếp ứng lên thì không thể.

Để khắc phục tình trạng này, bên ta thực hiện cách đánh lấn dũi. Tức là đào một đường hầm sâu dưới mặt đất ba mét, từ trận địa bên ta áp sát công sự của đối phương, dùng khoảng một tấn thuốc nổ phá thông, sau đó vận động theo đường hầm đó lên. Một phương án tối ưu. Đại đội em được giao nhiệm vụ đào đường hầm kiểu đó từ H6 lên 400. Khi tập luyện dưới làng Pinh, tham mưu trưởng trung đoàn quán triệt, sư 331 đã đào được hơn một trăm mét trên 1509, khi nào đại đội em đào xong, sẽ tổng công kích ba điểm cao quan trọng này. Tập luyện xong, đại đội xuất kích thực hiện nhiệm vụ. Một bộ phận chỉ huy, hậu cần đã tập kết tại H6, chúng em chuẩn bị 3 giờ sáng hành quân vào. Nhưng ngay tối đó có lệnh dừng lại. Và cũng chính tối đó, có một đơn vị đã ém quân chuẩn bị đánh 685 cũng được rút ra ngoài.

Sau này, khi sang phòng ngự bên Minh Tân, trinh sát tiểu đoàn phát hiện một kho vũ khí dưới chân 788. Tiểu đoàn báo cáo với trung đoàn phát hiện vũ khí địch ém lại để đánh sang ta. Khi ra quân, em kể lại việc này với bác em, thì ra, đó chính là vũ khí của đơn vị bác ém lại để đánh điểm cao (em không nhớ rõ điểm cao nào).

Rất tiếc, khi em ra quân thì bác em bị tai biến nặng, không hỏi được gì. Nếu có hỏi, chắc cũng không nhận được câu trả lời. Theo em, bước ngoặt của cuộc chiến chính là thời điểm chúng em có lệnh dừng lại. Nếu anh có lên Vị Xuyên, thử tìm hiểu xem đường hầm 1509 có còn không. Làng Pinh chắc giờ dân đã về ở, 3 mét đường hầm của bọn em đào tập chắc không còn.

Ngày ấy, viết bằng giấy thếp, không có điều kiện chép lại, cho nên gửi đi là đi hẳn. Sau này, do chuyển nhà mấy lần, có ba cuốn nhật ký viết thời kỳ đó thì mất mất hai, còn lại một cuốn viết vào thời gian chuẩn bị ra quân, nên tư liệu ghi lại về thời gian ở chốt không có. Đến cả bằng khen, giấy khen cũng bị rơi vãi, còn lại đâu như ba hoặc bốn tờ, em tính vứt đi nốt, nhưng vợ em lạc quan bảo giữ lại, biết đâu sau này có ngày dùng đến. Bây giờ, cũng có lúc em viết một truyện ngắn trực diện về cuộc chiến ấy, nhưng cứ ngây ngô như là không biết viết cái gì. Theo em, là do tâm lý bị ảnh hưởng. Bởi, ánh hào quang của những trận đánh qua các thời kỳ trước kia qua những trang viết khiến mình bối rối, nên chi tiết thì biết nhiều đấy, nhưng không chắt lọc được cho cách nói riêng của mình, và do một số biên tập viên mới nghe em nói dạm về ý tưởng đã bảo, viết thế không dùng được, nên chùn, buông luôn.

Khi nào em lên Hà Nội sẽ ghé qua anh.
.............................................................Em
....................................................Nguyễn Quốc Hùng


PHỎNG VẤN NHÀ VĂN ĐÀO THẮNG

Phạm Viết Đào:Thưa anh, được biết anh là một trong số ít những nhà văn có mặt tại Hà Giang giai đoạn 1984-1985. Hồi đó, anh có mặt ở Hà Giang với nhiệm vụ gì vậy?

Nhà văn Đào Thắng: Hồi đó, tôi tham gia đoàn làm phim tài liệu của Xưởng phim quân đội, có mặt tại Hà Giang để ghi lại những ảnh của mặt trận này. Tôi với tư cách là biên kịch, anh Nguyễn Đức Giảng là đạo diễn, anh Lê Hợi là quay phim. Chúng tôi có mặt tại Hà Giang từ tháng 4/1984.

P.V.Đ: Có nghĩa là anh có biết và quay được hình ảnh của trận đánh ác liệt xảy ra ngày 12/7/1984?

NVĐT: Chúng tôi có biết và ghi lại được một số hình ảnh. Hình ảnh đó sau này được sử dụng trong các bộ phim như: Đồng Văn tháng 5-1984, phim được Giải nhất của Bộ Quốc phóng trong năm; Thị xã yên tĩnh - Bông sen Bạc tại Liên hoan phim Việt Nam; Giữ đất - giải của Bộ Quốc phòng; Nhịp sống mặt trận…

Tôi nhớ, hồi đó khi Đoàn làm phim được điều động lên tham gia mặt trận này, có một vị Tùy viên văn hóa Liên Xô lúc đó đề nghị được đi theo Đoàn làm phim, và ông ta đã cùng chúng tôi lên tận Hà Giang để chứng kiến những gì xảy ra tại chiến tuyến này. Hồi đó có chuyên gia quân sự Liên Xô tham gia trên chiến tuyến này. Phiên dịch cho vị Tùy viên văn hóa này là dịch giả Thái Hà, người dịch tập truyện "Những người thích đùa" và một thời gian phụ trách Tạp chí Văn học nước ngoài.

Vị Tùy viên văn hóa này còn đòi theo chúng tôi lên tận chốt, nhưng chúng tôi không đồng ý, vì quá nguy hiểm. Ông ta đã sửng cồ lên với chúng tôi. Chán chường vì không được đi theo Đoàn làm phim, ông ta mượn rượu để mắng chúng tôi. Còn chúng tôi, Đoàn làm phim thì theo các chiến sĩ lên tận chốt để quay lại những hình ảnh sinh hoạt, chiến đấu của bộ đội ta. Có những cảnh, chúng tôi đặt máy quay chỉ cách vị trí H1 của địch có mấy chục mét…

P.V.Đ: Từng chứng kiến những trận đánh ác liệt chiến tuyến Thanh Thủy (Hà Giang), hiện anh còn lưu giữ được những ký ức gì về những trận đánh ác liệt ở đó không?

NVĐT: Cách đây 2 năm, tôi và nhà thơ Hữu Thỉnh có đến thăm nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười. Ông có nhắc chúng tôi là Hội Nhà văn nên tổ chức viết về cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung. Nếu không viết, hậu thế sẽ không nhớ tới các sự kiện lịch sử này. Ông cho biết, phía Trung Quốc người ta đã viết và xuất bản nhiều. Chính ông đã được đọc một số quyển sách do phía Trung Quốc viết theo cách nhìn nhận và đánh giá của họ.Ông đã đưa vấn đề này ra trao đổi với các nhà lãnh đạo Trung Quốc trong các dịp làm việc với họ. Họ thanh minh rằng, những quyển sách này viết ra không do sự chỉ đạo của lãnh đạo Trung ương; mà do các địa phương tự ý xuất bản.

P.V.Đ: Thế Nhà văn có ý định sẽ một lúc nào đó viết lại những điều mắt thấy tai nghe về những trận đánh ác liệt tại chiến tuyến Hà Giang ?

NVĐT: Tôi đang trăn trở điều này. Trong cuốn tiểu thuyết Dòng sông mía, (Giải nhất về tiểu thuyết của Hội Nhà văn) tôi đã đưa một số chi tiết của cuộc chiến ác liệt tại Hà Giang vào trong tác phẩm của mình. Đó là chi tiết, người mẹ tắm rửa cho thi hài của đứa con là liệt sĩ Các, được đưa từ mặt trận trở về, thi thể của anh đã có dòi. Đó là chi tiết hoàn toàn có thật mà chính mắt tôi đã chứng kiến tại mặt trận Hà Giang.

P.V.Đ: Anh có thể kể thêm về các chi tiết về cuộc chiến ở mặt trận này mà anh còn bị ám ảnh nhất?

NVĐT: Điều tôi ám ảnh nhất đó là hình ảnh và những kỷ niệm về Đại tá Trần Tất Thanh, vị Sư trưởng của Sư đoàn 31 bộ binh. Sư đoàn có tên là Tà Xanh. Ông là người đã trực tiếp chỉ huy những trận đánh làm thay đổi cục diện chiến trường tại chiến tuyến Vị Xuyên (Hà Giang).

Như anh biết, sau chiến dịch phản công đánh chiếm lại cao điểm 1509 ngày 12/7/1985 , bên ta tung ra 6 trung đoàn của 4 sư đoàn thiện chiến, áp dụng chiến thuật biển người của Trung Quốc, bị thất bại và thương vong lớn. Tướng Hoàng Đan trước khi xuất binh đã đến tận các trung đoàn úy lạo quân sĩ: Các đồng chí hãy chuẩn bị thật nhiều giây thừng để bắt thật nhiều bọn bành trướng mang về đây lĩnh thưởng. Phải làm cho Trung Quốc biết thế nào là sức mạnh Việt Nam.

Cuộc phản công thất bại.

Chúng ta không những không giành lại được 1509 mà còn mất thêm một số cao điểm. Trước tình thế đó, Bộ Quốc phòng đã thay tướng, điều tướng Nguyễn Hữu An, một chiến tướng tài danh, từng chỉ huy một trung đoàn đánh Điện Biên Phủ năm xưa, lên chỉ huy mặt trận. Sư đoàn 31 là sư đoàn bộ bộ binh của Đại tá Trần Tất Thanh, lúc đó đang đóng quân bên Lào, được điều về để nhận nhiệm vụ tại chiến trường khốc liệt này. Đại tá Trần Tất Thanh có kể cho tôi nghe một chi tiết cảm động: Khi Sư đoàn Tà Xanh rút khỏi Lào để bổ sung cho chiến tuyến Hà Giang, nhiều bà con Lào đã lưu luyến đi theo bộ đội Việt Nam 3 ngày đường để tiễn chân và bày tỏ tình cảm quý mến.

Khi Sư đoàn 31 được điều lên Hà Giang, đài BBC đã đưa tin ngay: "Con hổ Tà Xanh của Đại tá Trần Tất Thanh sắp lên chiến trường Vị Xuyên; hãy xem nó sẽ bị gãy răng ở chiến trường toàn đá này như thế nào". Kết cục, Con hổ Tà Xanh không bị gãy răng, mà đã làm cho quân Trung Quốc liểng xiểng.

Việc tướng Nguyễn Hữu An và Sư đoàn 31 Tà Xanh được điều động về Hà Giang đã tạo nên những thay đổi về cục diện chiến trường. Chúng ta đã đẩy lùi và chiếm lại một số cao điểm bị quân Trung Quốc chiếm giữ. Tôi không nhớ chi tiết các cao điểm nào, nhưng Đoàn làm phim đã lên tới các cao điểm H2, H3, là những cao điểm đối diện với cao điểm H1, là cao điểm bị Trung Quốc chiếm.

Tướng Nguyễn Hữu An và Sư đoàn Tà Xanh đã thay đổi cách đánh, dùng bộ đội đặc công áp dụng chiến thuật đánh công kiên của trận Điện Biên Phủ khi xưa, đánh nhỏ đánh chắc để tránh thương vong do phi pháo của địch rất mạnh gây cho ta.

Sư trưởng Trần Tất Thanh, một vị chỉ huy quả cảm và rất được lòng binh sĩ, vì ông rất hiểu tâm tư chiến sĩ. Việc đầu tiên của ông là bắt thay đổi toàn bộ tên gọi một số vị trí được bộ ta đặt tên trước đó, tỷ như: Suối Cô hồn, Cối xay thịt, Thung lũng tử thần, Cửa tử…yêu cầu bộ đội gọi tên thành những tên mới, ví như: Ngã ba kiên cường, Cao điểm anh hùng, Suối tương lai…

Khi đưa bộ đội lên, ông bố trị bộ đội thành tổ 3 người lên, đào phá đá thành những hàm ếch sâu trong lòng đá làm nơi ẩn nấp, xây dựng hệ thống các chiến hào trên vách đá để đi lại, hạn chế phi pháo địch. Đồng thời, ông lệnh cho các chiến sĩ giữ nghiêm quân kỷ, không để bộ đội để tóc dài. Vì ở ngoài mặt trận có 2 việc lính ta rất kiêng kỵ là cắt tóc và trả lời phóng vấn báo chí, đoàn làm phim, bởi nhiều anh lính sau khi cắt tóc, hay gặp báo chí hay bị tử thương. Sư trưởng Trần Tất Thanh đã buộc lính của mình thay đổi những hủ tục đó.

Bộ đội giữ chốt phải nói là vô cùng gian khổ, vì phải phá đá ra để làm hầm, không chỉ để trú ẩn trong đó, mà cả nơi ăn nghỉ, phải chịu đựng biết bao khó khăn thiếu thốn. Bộ đội nằm trong hầm đá ngủ nhiều ngày thường bị bệnh cứng khớp, do ngủ trực tiếp trên sàn đá nên mất nhiệt.

Trời Hà Giang mùa đông có khi nhiệt độ xuống tới 4 độ C. Nhiều bệnh binh được khiêng ra từ chốt, người cứ bị co quắp, chân tay không duối ra được, kể cả khi khiêng tới bệnh viện. Sư trưởng đã tìm cách chuyển gỗ, ván lên kê làm giường phản cho quân sĩ. Rồi khi đã lên tới chốt rồi, chuyện tắm rửa là một việc rất kỳ công, vì trên cao làm gì có nước.

Hôm đoàn làm phim lên chúng tôi đã chứng kiến một tiểu đoàn trưởng, 3 tháng canh chốt được bố trí thay phiên trở về tuyến sau để được tắm. Anh cho biết, bộ đội giữ chốt đã "tắm" như thế nào. Lính chiến trường gọi là tắm khô, không tắm bằng nước, mà tắm bằng cồn. Lấy cồn quân y tẩm bông lau người. Sĩ quan cấp tiểu đoàn phải 3 tháng mới tắm 1 lần, không biết lính thì được mấy lần.

Sư trưởng Trần Tất Thanh kể cho tôi một trận chiến đấu vô cùng oai hùng và cảm động, một trận đánh mà ông đã mất quá nhiều nước mắt. Phía Trung Quốc đã sử dụng pháo giã ác liệt vào trận địa phòng ngự của ta suốt từ 6 giờ sáng đến 10 giờ đêm. Pháo, cối của chúng cứ giã liên tục, đạn nố chớp chớp liên hồi, y như trong các trận đánh của các trò chơi điện tử bây giờ. Đứng tuyến sau nhìn thấy cảnh quân mình oằn lưng chịu đòn pháo địch, nước mắt ông tràn trề. Thế nhưng, khi pháo giặc im. chùng xua bộ binh địch lao lên đánh chiếm trận địa phòng ngự của ta, thì lại thấy súng của quân ta chớp lóe rền vang từ trong các hầm cố thủ, và quân địch bị đẩy lui. Nhìn cảnh đó, ông lại nước mắt lưng tròng vì sung sướng: vừa thương quân sĩ, vừa cảm phục tinh thần ngoan cường chịu đựng bảo vệ trận địa.

Có thể nói, sau trận 12/7/1984, quân ta và quân địch không tổ chức những trận đánh lớn cấp trung đoàn nữa, mà luôn giằng co nhau những trận đánh trên từng ngọn đồi điểm chốt. Chúng tôi đã vác máy quay lên tận cao điểm H2 để hướng ống kính máy quay lên cao điểm H1, là cao điểm lính Trung Quốc chiếm giữ. Bộ đội đã ngăn cản không cho chúng tôi lên, vì thấy nguy hiểm quá. Chúng tôi vẫn lên, vì chúng tôi cũng từng là lính chống Mỹ, nên có đủ kinh nghiệm tránh đạn của địch.

Tôi còn nhớ, khi Đoàn làm phim tập kết vào cái hang lớn gọi là Hang Mán, phải qua một chiếc cầu bắc bằng cây; khi qua đoạn suối này phải chạy thật nhanh, nếu chạy không nhanh thì sẽ ăn đạn cối của Trung Quốc. Thành ra, khi đi qua đoạn suối này, giống như trẻ con chơi trò ú tim. Chuẩn bị từng người một, từ bên này nhanh chóng lao qua bên kia. Khi chúng tôi lao qua được vào trong hang, thì pháo cối dồn dập nổ, chỉ chậm vài giây là coi như xong. Vào đến trong hang, lính mới phổ biến kinh nghiệm cho chúng tôi: Các chú nếu muốn tránh bị phi pháo địch bắn, thì phải mặc áo bỏ ngoài quần, và đừng mặc áo sĩ quan. Nếu lính Trung Quốc nhìn thấy mặc áo quần sĩ quan, chúng nổ súng ngay. Còn áo để ngoài quần là quy ước, ngầm hiểu đó là lính hậu cần. Khi thấy lính Trung Quốc để áo ngoài quần, thì ta cũng không bắn. Tóm lại, đó là một sự thỏa thuận ngầm kỳ ngôi ở nơi cửa tử.

Khi lên đến điểm cao H2, có thể nghe rõ bước chân di chuyển của lính Trung Quốc ở điểm cao H1. Bên này nghe rõ tiếng trò chuyện của phía bên kia.

P.V.Đ: Thế lên đến H2, các anh có quan sát được gì không?

NVĐT: Có một chuyện thú vị này bây giờ tôi tiết lộ với anh. Chính từ điểm cao H2, này một nhịp cầu “đình chiến“ được thiết lập, mà những nhịp cầu này lại do chính những người lính xây cất lên.

Hồi đó, cả một chiến trường dài trên chục km bộ đội ta mệnh danh là "Lò vôi thế kỷ" vì núi toàn đá vôi. Do pháo cối của hai bên bắn nhiều, nên lửa đạn đã biến cả những dải đá xanh dài trở nên trắng xóa, vì đá bị hóa thành vôi. Nghĩa là hai bên cứ đánh nhau ác liệt giằng co không ai chịu thua ai. Đến một thời điểm, thì chính người lính Trung Quốc thấy chán và vô nghĩa. Không rõ bên nào chủ động trước, nhưng hai đơn vị lính của phía Trung Quốc và Việt Nam tại điểm chốt tiền tiêu đã thỏa thuận ngầm với nhau là, thôi, không bắn nhau nữa. Vì như thế vô nghĩa. Phía chúng ta vì bao vệ biên cương của Tổ quốc nên chấp nhận hy sinh là có ỹ nghĩa Còn phía Trung Quốc, người lính ngộ ra họ là công cụ vô nghĩa và độc ác của nhà cầm quyền.

Từ chỗ hai bên căng thẳng rình bắn nhau, lính hai trạm chốt này đêm đêm đã bí mặt gặp nhau, giao lưu nhảy múa, hát hò và tặng thuốc lá, thuốc lào và nhu yếu phẩm cho nhau. Phía quân ta tặng quân Trung Quôc thuốc lào, còn lính Trung Quốc tặng ta thuốc lá Đại Thiền Môn, bánh kẹo, thậm chí cả bia rượu. Việc này phía ta đã nhanh chóng báo cáo về cho Tổng cục chính trị những diến biến bất thường của chiến trường Hà Giang. Để có bằng chứng chắc chắn, Tổng Cục chính trị đã bố trí để anh Việt, sau này về công tác ở Bảo tàng quân đội mang máy ảnh, máy ghi âm để bí mật ghi lại cảnh gặp gỡ giao lưu giữa lính ta và lính Trung Quốc trên cao điểm H 1, H 2 mang về báo cáo với Bộ Quốc phòng. Nghe nói sau vụ này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã sang Trung Quốc điều đình để hai bên thôi không đánh nhau nữa, vì lãnh đạo có muốn đánh, quân lính cũng chán đánh rồi .

Tóm lại, những điều tôi đã chứng kiến tại Hà Giang còn nhiều chuyện bi tráng lắm.

P.V.Đ: Thế từ sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ (1991), anh có quay lại thăm Hà Giang lần nào không ?

NVĐT: Có. Năm 2008, tôi có trở lại hai cao điểm H1, H 2. Phía ta bỏ cho chiến trường xưa cỏ mọc um tùm, còn cao điểm H1 phía Trung Quốc vẫn giữ, thậm chí họ còn gia cố chắc chắn thêm, và có lính canh giữ.

P.V.Đ: Thế còn những chiến binh năm xưa, về vị Sư trưởng Trần Tất Thanh, ông ta có được phong anh hùng không ?

NVĐT: Sư trưởng Trần Tất Thanh sau được phong Trung tướng và đảm nhận trọng trách Tư lệnh Quân khu 2. Đáng tiếc là ông đã hy sinh trong một tại nạn máy bay thảm khốc ở Lào vào ngày 25/5/1998. Cùng chịu nạn với ông là Đoàn tướng lĩnh cấp cao gồm 20 người, trong đó có Tổng Tham mưu trưởng, Trung tướng Đào Trọng Lịch, 5 vị Đại tá cấp Cục, Vụ…Trong vụ này, có một vị may mắn thoát nạn, đó là Tư lệnh quân khu 4. Ông có danh sách trong đoàn đi Lào, nhưng vì lý do gì đó ông ở lại, không đi được. Tuy nhiên, về sau, ông này cũng bị tử nạn trong vụ tai nạn máy bay khác, ở đảo Hòn Mê.

Điều bí ẩn xót xa là trong số những người bị tử nạn có nhiều sĩ quan từng là chiến binh chống bành trướng Trung Quốc ngoan cường, từ Tổng Tham mưu trưởng Đào Trọng Lịch, đang ngấp nghé vị trí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đến tướng Trần Tất Thanh. Còn tôi là người chứng kiến những trận đánh ở mặt trận Hà Giang thì thấy phần lớn những đơn vị tham gia những trận ác chiến đều là lính Thanh Nghệ. Chả nhẽ vì thế mà Tư lệnh Quân khu 4 bị oan gia, vì hăng hái mộ nhiều quân đánh Trung Quốc?

P.V.Đ: Là một nhà văn, anh suy nghĩ gì về mặt trận Vị Xuyên nói riêng và cuộc chiến biên giới phía Bắc ?

NVĐT: Vốn xuất thân là người lính và bao nhiêu năm đau đáu với các vấn đề tài chiến tranh và số phận của người lính, ví người lính gắn với số phận của dân tộc.

Lịch sử từng ghi danh những Ngô Quyền, Lê Đại Hành, Lý Thướng Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Toản, Lê Lợi, Trẫn Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi, Quang Trung .v.v. những danh nhân mà nếu không có họ không có giang sơn xã tắc của chúng ta bây giờ.

Mảng đề tài chiến tranh, nhất là cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, bị bỏ quên lâu lắm rồi, nhất thiết phải viết, phải trả lại sự thật cho lịch sử đau thương và bi tráng của dân tộc. Tôi nghĩ, đó là một việc rất lớn, và Ban chấp hành Hội Nhà văn kỳ này nên tích cực bắt tay vào nhiệm vụ khó khăn này.

P.V.Đ: Xin trân trọng cảm ơn nhà văn Đào Thắng và chúc anh thành công.


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 14.10.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

HIỆP ƯỚC BIÊN GIỚI TRÊN ĐẤT LIỀN VIỆT NAM - TRUNG QUỐC

Những vết thương do cuộc chiến tranh biên giới diễn ra ngắn ngủi năm 1979 và cuộc xung đột vũ trang kéo dài suốt một thập kỷ ngay sau đó - gây ra khiến cho mãi tới năm 1999, hai bên mới đạt được những thỏa thuận cuối cùng trên bàn đàm phán. Trong số những chướng ngại vật ngáng trở con đường dẫn tới việc ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt - Trung, người ta hay nói tới 2 trở ngại khổng lồ, đó là vấn đề tháo gỡ các bãi mìn sát thương bộ binh và mìn chống tăng ở khu vực biên giới (phía Việt Nam có hơn 30 chiến sĩ hy sinh), và sự chống đối từ nội bộ của cả hai phía về việc, có hay không sự nhân nhượng của đoàn đàm phán nước mình về lãnh thổ cho quốc gia phía bên kia.

Năm 1991, Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ.

Trải qua 2 vòng đàm phán cấp chuyên viên và 1 vòng đàm phán cấp Chính phủ trong hai năm 1992-1993, vào ngày 19-10-1993, hai nước ký “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”. Theo đó, hai bên thỏa thuận trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế, hiệp thương hữu nghị để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc; lấy Công ước Pháp – Thanh 1887 và 1895 và các văn kiện, bản đồ hoạch định, cắm mốc biên giới kèm theo làm căn cứ để xác định lại đường biên giới Việt – Trung.

Ngày 30-12-1999, tại Hà Nội, thay mặt hai Nhà nước, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đường Gia Triền ký Hiệp ước về biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc.

Việc hai nước đồng ý ký bản Hiệp ước quả là góp phần khép lại một chương quan trọng trong lịch sử quan hệ Việt Nam-Trung Quốc. Tuy nhiên, Hiệp ước mới chỉ ghi nhận toàn bộ hướng đi của đường biên giới Việt -Trung từ Tây sang Đông, thông qua 62 giới điểm (không kèm theo tọa độ).

Chớ nên ảo tưởng hão huyền, rằng, với bản Hiệp ước "màu nhiệm" này (kèm theo bộ bản đồ biên giới tạm thời), hai nước đã có ngay đường biên giới hòa bình hữu nghị để cùng ổn định lâu dài. Bởi lẽ, trước mắt vẫn còn đó đầy rẫy các khó khăn và thách thức trong việc phân định chính xác đường biên giới dù đã được hoạch định trên văn bản giấy tờ, cũng như giải tỏa hết mọi căng thẳng tại vị trí một số cột mốc biên giới, và giải quyết rốt ráo vấn đề buôn lậu xuyên biên giới.


HIỆP ƯỚC BIÊN GIỚI TRÊN ĐẤT LIỀN
.........................GIỮA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
...........................VÀ
NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA


Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (dưới đây gọi là "hai Bên ký kết");

Nhằm giữ gìn và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước và nhân dân hai nước Việt Nam và Trung Quốc;

Với lòng mong muốn xây dựng đường biên giới hòa bình, ổn định và bền vững mãi mãi giữa hai nước;

Trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình;

Trên tinh thần thông cảm, nhân nhượng lẫn nhau và hiệp thương hữu nghị;

Đã quyết định ký kết Hiệp định này và thỏa thuận các điều khoản sau:

Điều I. Hai Bên ký kết lấy các Công ước lịch sử về biên giới hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc làm cơ sở, căn cứ vào các nguyên tắc luật pháp quốc tế đã được công nhận, cũng như các thỏa thuận đạt được trong quá trình đàm phán về vấn đề biên giới Việt - Trung, đã giải quyết một cách công bằng, hợp lý vấn đề biên giới và xác định lại đường biên giới trên đất liền giữa hai nước.

Điều II. Hai Bên ký kết đồng ý hướng đi của đường biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được xác định từ Tây sang Đông như sau:

Giới điểm số 1 ở điểm có độ cao 1875 của núi Khoan La San (Thập Tầng Đại Sơn), điểm này cách điểm có độ cao 1.439 m trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,30 km về phía Tây - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1.691 m trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 3,70 km về phía Tây - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1.208 m trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,00 km về phía Nam.

Từ giới điểm số 1, đường biên giới theo đường phân thủy giữa các nhánh thượng lưu sông Nậm Mo Phí và sông Nậm Sa Ho đổ vào lãnh thổ Việt Nam và các nhánh thượng lưu sông Chỉnh Khang đổ vào lãnh thổ Trung Quốc, hướng chung Bắc - Đông Bắc chuyển Đông, qua các điểm có độ cao 1089, 1275, 1486 đến điểm có độ cao 1615, sau đó tiếp tục theo đường phân thủy kể trên, hướng chung là hướng Bắc chuyển Đông Bắc, qua điểm có độ cao 1221 đến điểm có độ cao 1264, tiếp đó theo sống núi, hướng Đông Nam đến điểm có độ cao 1248, rồi theo sống núi nhỏ, hướng Đông Bắc đến giới điểm số 2. Giới điểm này ở giữa sông Nậm Nạp (Tháp Nọa), cách điểm có độ cao 1369 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,70 km về phía Tây Nam, cách điểm có độ cao 1367 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,87 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1256 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,80 km về phía Đông - Đông Nam.

Từ giới điểm số 2, đường biên giới xuôi theo sông Nậm Nạp (Tháp Nọa), hướng Bắc chuyển Đông Bắc đến hợp lưu sông này với sông Tả Ló Phi Ma (Nam Mã), sau đó tiếp tục xuôi theo sông, hướng Bắc đến hợp lưu của nó với sông Đà (Lý Tiên), rồi xuôi sông Đà (Lý Tiên), hướng Đông đến hợp lưu sông này với sông Nậm Là (Tiểu Hắc), tiếp đó ngược sông Nậm Là (Tiểu Hắc) đến giới điểm số 3. Giới điểm này ở hợp lưu sông Nậm Là (Tiểu Hắc) với suối Nậm Na Pi, cách điểm có độ cao 978 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,87 km về phía Tây - Tây Nam, cách điểm có độ cao 620 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,50 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1387 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 4,40 km về phía Đông - Đông Bắc.

Từ giới điểm số 3, đường biên giới rời sông bắt vào sống núi, hướng Tây Bắc đến điểm có độ cao 1933, sau đó theo đường phân thủy giữa các nhánh thượng lưu các suối Là Pơ, Là Si, á Hu, Nậm Sau, Nậm Khô Ma, Nậm Hà Xi, Nậm Hà Nê, Nậm Xí Lùng, Nậm Hạ, Nậm Nghe, Nậm Dền Tháng, Nậm Pảng đổ vào lãnh thổ Việt Nam và các nhánh thượng lưu các sông Zhe Dong, Ha Luo Luo Ba, Da Tou Luo Ba, Mo Wu Luo Ba, Na Bang, Ge Jie, Da Luo, Nan Bu, Giao Beng Bang, Giao Cai Ping, Nan Nan, Jin Thui đổ vào lãnh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Bắc chuyển Đông Nam rồi chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1690, 1975, 1902, 2121, 2254, 2316, 1831, 3074, 2635, 2199, 2133, 2002, 1800 đến điểm có độ cao 1519, sau đó theo sống núi, hướng chung là hướng Đông đến chỏm núi không tên, rồi theo sống núi nhỏ, hướng Đông đến giới điểm số 4. Giới điểm này ở giữa suối Nậm Lé (Cách Giới), cách điểm có độ cao 1451 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,05 km về phía Bắc - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 845 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,90 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 1318 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,62 km về phía Tây Nam.

Từ giới điểm số 4, đường biên giới xuôi theo suôn Nậm Lé (Cách Giới), hướng chung Đông Bắc chuyển Tây Bắc đến hợp lưu suối này với sông Nậm Na, sau đó xuôi sông Nậm Na, hướng Đông Nam chuyển Đông đến hợp lưu sông này với sông Nậm Cúm (Đằng Điều), rồi ngược sông Nậm Cúm (Đằng Điều), hướng chung Đông Bắc đến đầu nguồn suối Phin Ho (Đằng Điều), rồi theo một khe nhỏ, hướng chung Đông - Đông Bắc đến giới điểm số 5. Giới điểm này ở điểm gặp nhau giữa khe kể trên với sống núi, cách điểm có độ cao 2283 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,62 km về phía Đông - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 2392 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,45 km về phía Nam - Đông Nam, cách điểm có độ cao 2361 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,50 km về phía Tây.

Từ giới điểm số 5, đường biên giới theo sống núi, hướng Nam đến điểm có độ cao 2413, sau đó theo đường phân thủy giữa các suối Tả Pao Hồ, Thèn Thẻo Hồ, Oanh Hồ, Nậm Nùng, Nậm Lon trong lãnh thổ Việt Nam và các sông San Cha, Tai Zang Zhai, Man Jiang, Wu Tai, Shi Dong, Ping, Zhong Liang và Cha trong lãnh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Nam, qua các điểm có độ cao 2468, 3013, 2539, 2790 đến giới điểm số 6. Giới điểm này ở điểm có độ cao 2836, cách điểm có độ cao 2381 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,40 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 2531 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 3,00 km về phía Đông - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 2510 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 3,05 km về phía Nam - Tây Nam.

Từ giới điểm số 6, đường biên giới theo sống núi, hướng Tây Nam đến một điểm gần yên ngựa phía Đông Bắc điểm có độ cao 2546 trong lãnh thổ Việt Nam, sau đó theo khe, hướng Đông Nam đến đầu nguồn suối Lũng Pô (Hồng Nham), rồi xuôi theo suối Lũng Pô (Hồng Nham) và hạ lưu của nó, hướng chung Đông Bắc đến hợp lưu suôn này với sông Hồng, từ đó đường biên giới xuôi sông Hồng, hướng Đông Nam đến hợp lưu sông Hồng với sông Nậm Thi (Nam Khê), tiếp đó ngược sông Nậm Thi (Nam Khê), hướng chung Đông Bắc đến hợp lưu sông Nậm Thi (Nam Khê) với sông Bá Kết (Bá Cát), rồi ngược sông Bá Kết (Bát Tự), hướng chung là hướng Bắc đến hợp lưu sông này với một nhánh suối không tên, sau đó ngược nhánh suối không tên đó, hướng Bắc đến giới điểm số 7. Giới điểm này ở giữa nhánh suối không tên nói trên, cách điểm có độ cao 614 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,00 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 595 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,20 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 463 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,65 km về phía Đông.

Từ giới điểm số 7, đường biên giới rời suối, hướng Đông Bắc, đến điểm có độ cao 143, sau đó hướng Đông Bắc, cắt qua một khe rồi bắt vào sống núi, hướng Bắc, qua các điểm có độ cao 604, 710, 573, 620, 833, 939, 1201 đến điểm có độ cao 918, rồi theo đường phân thủy giữa các nhánh sông trong lãnh thổ Việt Nam và các nhánh sông trong lãnh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1158, 1077, 997, 1407, 1399, 1370, 1344, 1281, 1371, 1423, 1599, 1528, 1552, 1372, 1523, 1303 đến điểm có độ cao 984, sau đó theo sống núi nhỏ, hướng chung là hướng Nam đến giới điểm số 8. Giới điểm này ở hợp lưu sông Xanh (Qua Sách) với một nhánh phía Tây của nó, cách điểm có độ cao 1521 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 3,85 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 1346 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 3,82 km về phía Nam - Tây Nam, cách điểm có độ cao 1596 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,27 km về phía Tây - Tây Bắc.

Từ giới điểm số 8, đường biên giới xuôi sông Xanh (Qua Sách), hướng chung là hướng Nam đến hợp lưu sông này với sông Chảy, rồi ngược sông Chảy, hướng chung Đông Nam, đến giới điểm số 9. Giới điểm này ở hợp lưu sông Chảy với sông Xiao Bai, cách điểm có độ cao 1424 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,95 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 1031 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,00 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 1076 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,40 km về phía Nam.

Từ giới điểm số 9, đường biên giới rời sông, bắt vào sống núi, rồi theo sống núi, hướng chung Đông Nam, qua điểm có độ cao 741 đến điểm có độ cao 1326, sau đó theo đường phân thủy giữa các nhánh của sông Chảy đổ vào lãnh thổ Việt Nam và các nhánh của sông Xiao Bai đổ vào lãnh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1681, 1541, 1716, 2002, 1964, đỉnh núi không tên (Đại Nham Động) đến điểm có độ cao 1804, từ đó, theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đến điểm có độ cao 1623, sau đó theo đường phân thủy giữa suối Nàn Xỉn trong lãnh thổ Việt Nam và sông Xiao Bai trong lãnh thổ Trung Quốc, hướng Đông Bắc, qua điểm có độ cao 1638 đến điểm có độ cao 1661, rồi theo khe, hướng Đông Bắc xuống giữa suối Hồ Pả, tiếp đó xuôi suối này đến hợp lưu suối này với một nhánh khác của nó, rồi rời suối bắt vào sống núi, rồi theo sống núi hướng Tây - Tây Bắc, qua điểm có độ cao 1259 đến giới điểm số 10. Giới điểm này ở một sống núi, cách điểm có độ cao 1461 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,25 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1692 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,90 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 1393 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,10 km về phía Nam.

Từ giới điểm số 10, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đến điểm có độ cao 948, sau đó theo sống núi, hướng Đông Bắc chuyển Đông, qua điểm có độ cao 1060 đến giới điểm số 11. Giới điểm này ở hợp lưu suối Đỏ (Nam Bắc) với một nhánh suối phía Tây Nam của nó (Qua Giai), cách điểm có độ cao 841 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,70 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 982 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,50 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 906 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,15 km về phía Nam - Tây Nam.

Từ giới điểm số 11, đường biên giới xuôi suối Đỏ (Nam Bắc) đến hợp lưu suối này với suối Nậm Cư (Nam Giang) , sau đó ngược suối Nậm Cư (Nam Giang) đến giới điểm số 12. Giới điểm này ở hợp lưu suối Nậm Cư (Nam Giang) với một nhánh phía Tây Bắc của nó, cách điểm có độ cao 1151 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,80 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 986 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,40 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 858 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,80 km về phía Tây.

Từ giới điểm số 12, đường biên giới rời suối, bắt vào sống núi, rồi theo sống núi, hướng chung Đông Nam, qua điểm có độ cao 1071 đến điểm có độ cao 1732, sau đó theo đường phân thủy giữa các nhánh sông trong lãnh thổ Việt Nam và các nhánh sông trong lãnh thổ Trung Quốc, hướng chung là hướng Đông chuyển Bắc rồi Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1729, 2071, 1655, 1705, 1423 đến giới điểm số 13. Giới điểm này ở một chỏm núi không tên, cách điểm có độ cao 993 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,55 km về phía Tây - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1044 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,15 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1060 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,70 km về phía Đông Nam.

Từ giới điểm số 13, đường biên giới tiếp tục theo đường phân thủy nói trên, hướng Đông đến điểm cách điểm có độ cao 1422 khoảng 70 m về phía Tây Nam, sau đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đi đến một điểm nằm trên đường phân thủy và cách điểm có độ cao 1422 khoảng 90 m về phía Bắc - Đông Bắc khu vực có diện tích 7700 m2 giữa đường đỏ nêu trên và đường phân thủy thuộc Trung Quốc), từ đây đường biên giới tiếp tục theo đường phân thủy nói trên, hướng chung là hướng Đông, qua các điểm có độ cao 1397, 1219, 657, 663 đến một chỏm núi không tên phía Đông Nam điểm có độ cao này, sau đó theo khe, hướng Bắc đến suối Nà La, rồi xuôi theo suối này hướng Đông Bắc đến giới điểm số 14. Giới điểm này ở hợp lưu suối Nà La với sông Lô (Pan Long), cách điểm có độ cao 922 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 3,20 km về phía Tây - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 183 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,50 km về phía Bắc - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 187 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,65 km về phía Đông.

Từ giới điểm số 14, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước qua điểm có độ cao 428 đến yên ngựa giữa điểm có độ cao 1169 trong lãnh thổ Việt Nam và điểm có độ cao 1175 trong lãnh thổ Trung Quốc, sau đó theo sống núi, hướng chung là hướng Bắc chuyển Tây Bắc, qua các điểm có độ cao 1095, 1115, 1022, 1019, 1094, 1182, 1192, 1307, 1305, 1379 đến điểm có độ cao 1397, rồi tiếp tục theo sống núi, hướng chung là hướng Bắc, qua các điểm có độ cao 1497, 1806, 1825, 1952, 1967, 2122, 2038 đến giới điểm số 15. Giới điểm này ở một chỏm núi không tên, cách điểm có độ cao 1558 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,90 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 2209 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,55 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 2289 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,70 km về phía Nam - Tây Nam.

Từ giới điểm số 15, đường biên giới theo sống núi, hướng chung là hướng Đông, qua điểm có độ cao 2076, sau khi cắt qua một con suối đến một chỏm núi không tên, sau đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, qua các điểm có độ cao 1887, 1672 đến điểm có độ cao 1450, rồi theo sống núi, hướng chung là hướng Nam chuyển Đông rồi hướng Bắc chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1438, 1334, 716, 1077 đến giới điểm số 16. Giới điểm này ở điểm có độ cao 1592, cách điểm có độ cao 1079 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,40 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 1026 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 3,25 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 1521 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,05 km về phía Tây - Tây Bắc.

Từ giới điểm số 16, đường biên giới theo sống núi, hướng chung Đông Nam chuyển Bắc, qua các điểm có độ cao 1578, 1503, 1493, 1359, 1342, 1296 đến điểm có độ cao 606, rồi theo sống núi nhỏ, hướng Bắc - Tây Bắc chuyển Đông Bắc đến giới điểm số 17. Giới điểm này ở giữa sông Miện (Babu), cách điểm có độ cao 654 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 3,30 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1383 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 4,10 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 882 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,70 km về phía Nam - Đông Nam.

Từ giới điểm số 17, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, hướng chung Đông - Đông Bắc, đến điểm có độ cao 799, sau đó theo sống núi, hướng chung Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 998, 1096, 1029, 1092, 1251 đến điểm có độ cao 1132, rồi theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đến điểm có độ cao 1628, sau đó theo sống núi, hướng chung Đông Nam chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1647, 1596, 1687, 1799, 1761, 1796 đến giới điểm số 18. Giới điểm này ở điểm có độ cao 1568, cách điểm có độ cao 1677 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,90 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 1701 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,70 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 1666 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,55 km về phía Tây Nam.

Từ giới điểm số 18, đường biên giới theo sống núi, hướng chung Đông - Đông Nam chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1771, 1756, 1707, 1500, 1683, 1771, 1651, 1545, 1928, 1718 đến điểm có độ cao 1576, sau đó theo hướng Tây Bắc vượt qua hai khe, qua điểm có độ cao 1397, rồi bắt vào sống núi, sau đó tiếp tục theo sống núi, hướng Tây Bắc chuyển Đông Bắc, qua điểm có độ cao 1748 đến điểm có độ cao 1743, sau đó tiếp tục theo sống núi, hướng Đông chuyển Bắc - Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1806, 1650, 1468, 1516, 1344, 1408 đến một chỏm núi không tên phía Tây Bắc của điểm có độ cao này, rồi theo sống núi, hướng Đông Bắc đến giới điểm số 19. Giới điểm này ở giữa sông Nho Quế (Pu Mei), cách điểm có độ cao 1477 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,60 km về phía Tây - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1464 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,30 km về phía Đông - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 1337 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,20 km về phía Nam.

Từ giới điểm số 19, đường biên giới xuôi sông Nho Quế (Pu Mei), hướng chung Đông Bắc chuyển Đông Nam đến giới điểm số 20. Giới điểm này ở giữa sông Nho Quế (Pu Mei), cách điểm có độ cao 1062 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,80 km về phía Đông - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 1080 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 5,20 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1443 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,85 km về phía Nam.

Từ giới điểm số 20, đường biên giới rời sông bắt vào sống núi nhỏ, hướng Đông Bắc đến điểm có độ cao 801, sau đó theo đường thẳng, hướng Đông Nam khoảng 2400 in đến điểm có độ cao 1048, theo hướng Đông Nam cắt khe bắt vào sống núi, rồi theo sống núi, hướng chung Đông Nam chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1122, 1170, 1175 đến điểm có độ cao 1641, sau đó theo sống núi, hướng Tây Bắc, cắt khe, rồi bắt vào sống núi hướng Bắc - Đông Bắc qua các điểm có độ cao 1651, 1538 đến giới điểm số 21. Giới điểm này ở điểm có độ cao 1697, cách điểm có độ cao 1642 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,85 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 1660 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,80 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 1650 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,40 km về phía Nam - Tây Nam.

Từ giới điểm số 21, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, hướng chung Đông Nam đến điểm có độ cao 1591, sau đó theo sống núi hướng Nam - Đông Nam qua các điểm có độ cao 1726, 1681, 1699 đến điểm có độ cao 1694, tiếp đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, hướng Đông Nam, qua các điểm có độ cao 1514, 1486 đến điểm có độ cao 1502, rồi theo sống núi, hướng Nam chuyển Đông Nam qua các điểm có độ cao 1420, 1373, 1365 đến một chỏm núi không tên phía Bắc - Tây Bắc điểm có độ cao 1383 trong lãnh thổ Việt Nam, từ đó đường biên giới theo đường thẳng hướng Đông - Đông Bắc đến một chỏm núi nhỏ, sau đó lại theo đường thẳng tiếp tục theo hướng này đến giới điểm số 22. Giới điểm này ở giữa con sông không tên (Yan Dong), cách điểm có độ cao 1255 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,45 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 1336 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,30 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 956 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,22 km về phía Tây - Tây Nam.

Từ giới điểm số 22, đường biên giới xuôi theo sông không tên nói trên (Yan Dong), hướng Đông Bắc, sau đó rời sông, qua điểm có độ cao 888, bắt vào sống núi, hướng chung Đông Nam chuyển Nam - Tây Nam, qua điểm có độ cao 1091, một chỏm núi không tên phía Đông điểm có độ cao 1280 trong lãnh thổ Việt Nam, các điểm có độ cao 1288, 1282, 1320, 1212, 1218, 1098, 1408 đến điểm có độ cao 1403, rồi theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, hướng chung là hướng Nam chuyển Đông Nam, qua các điểm có độ cao 1423, 1378 đến điểm có độ cao 451, sau đó theo sống núi, hướng Đông đến giới điểm số 23. Giới điểm này ở giữa suối Cốc Pàng, cách điểm có độ cao 962 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 3,10 km về phía Tây - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 680 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,55 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 723 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,60 km về phía Tây Nam.

Từ giới điểm số 23, đường biên giới rời suối theo khe hướng Đông, rồi theo con đường mé Nam sống núi hoặc trên sống núi, hướng chung là hướng Đông, qua các điểm có độ cao 914, 962, 901 đến điểm có độ cao 982, sau đó ngược sườn núi hướng Đông Bắc bắt vào sống núi, rồi theo sống núi, hướng chung là hướng Đông, qua các điểm có độ cao 819, 877 đến giới điểm số 24. Giới điểm này nằm ở một chỏm núi không tên, cách điểm có độ cao 783 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,53 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 1418 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,15 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 779 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,00 km về phía Đông Nam.

Từ giới điểm số 24, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, hướng Bắc - Tây Bắc chuyển Đông Nam, qua các điểm có độ cao 1212, 1506, 1489, 1461 đến điểm có độ cao 921, sau đó theo hướng Đông - Đông Nam cắt suối Khui Giồng, rồi bắt vào sống núi, sau đó theo sống núi hướng chung Đông Nam, qua các điểm có độ cao 1265, 1191, 1301 đến giới điểm số 25. Giới điểm này ở giữa sông Gậm (Bai Nan), cách điểm có độ cao 798 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,70 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 755 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,65 km về phía Tây - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 936 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,45 km về phía Nam.

Từ giới điểm số 25, đường biên giới rời sông bắt vào sống núi nhỏ, hướng Đông Nam đến điểm có độ cao 908, rồi theo sống núi, hướng chung Đông Nam, qua điểm có độ cao 1196, chỏm núi không tên ở phía Bắc - Tây Bắc điểm có độ cao 1377 trong lãnh thổ Việt Nam, các điểm có độ cao 1254, 1297, 1274, 1262, 994, 1149, chỏm núi không tên ở phía Đông điểm có độ cao 1302 trong lãnh thổ Việt Nam, các điểm có độ cao 1013, 1165, 829 đến giới điểm số 26. Giới điểm này ở điểm có độ cao 1028, cách điểm có độ cao 1272 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,50 km về phía Đông - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 1117 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,65 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 893 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,35 km về phía Tây - Tây Bắc.

Từ giới điểm số 26, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, hướng Đông Nam đến điểm có độ cao 662, rồi theo đường thẳng hướng Đông khoảng 500m đến một chỏm núi không tên, sau đó theo sống núi, hướng chung là hướng Bắc chuyển Đông - Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 934, 951 đến điểm có độ cao 834, tiếp đó theo khe hướng Đông - Đông Bắc, cắt suối Na Thin, rồi theo sống núi qua điểm có độ cao 824 đến điểm có độ cao 1049, sau đó theo sống núi và khe, hướng Đông Nam, cắt một sống núi nhỏ, rồi xuôi theo khe hướng Đông đến giới điểm số 27. Giới điểm này ở giữa suối Nà Rì, cách điểm có độ cao 772 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,05 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 1334 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,65 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 848 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,10 km về phía Đông Nam.

Từ giới điểm số 27, đường biên giới rời suối, ngược khe lên sống núi, hướng Đông - Đông Bắc đến điểm có độ cao 706, sau đó theo sống núi, hướng Bắc chuyển Đông - Đông Nam, qua các điểm có độ cao 807, 591, 513, 381 đến điểm có độ cao 371, sau đó theo sống núi, hướng Đông đến giữa suối Pai Ngăm (Ping Mèng), rồi ngược suối này về hướng Bắc khoảng 200 m, rời suối theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, qua các điểm có độ cao 591, 722, 818, 706, 890 đến giới điểm số 28. Giới điểm này ở điểm có độ cao 917, cách điểm có độ cao 668 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,55 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 943 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,75 km về phía Nam - Đông Nam, cách điểm có độ cao 955 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,90 km về phía Đông - Đông Bắc.

Từ giới điểm số 28, đường biên giới theo sống núi, hướng chung là hướng Đông, qua các điểm có độ cao 790, 803, 601, 524, 934, chỏm núi không tên ở phía Nam điểm có độ cao 1025 trong lãnh thổ Trung Quốc, các điểm có độ cao 871, 964, chỏm núi không tên phía Nam điểm có độ cao 855 trong lãnh thổ Trung Quốc, các điểm có độ cao 978, 949 đến điểm có độ cao 829, sau đó theo sườn núi, hướng Đông đến giới điểm số 29. Giới điểm này ở điểm có độ cao 890, cách điểm có độ cao 1007 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,50 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 1060 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,05 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1047 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,45 km về phía Tây Nam.

Từ giới điểm số 29, đường biên giới theo sườn núi phía Nam điểm có độ cao 1073 trong lãnh thổ Trung Quốc, hướng Đông đến điểm có độ cao 1077, rồi theo sống núi, hướng chung là hướng Đông chuyển Đông Nam, qua các điểm có độ cao 1104, 1115, 1073, 942, 832, 1068, 1066, 1066, 1030, 1028, 982, 1021, 826, 911 đến giới điểm số 30. Giới điểm này ở một con đường nhỏ, cách điểm có độ cao 770 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,40 km về phía Tây, cách điểm có độ cao 764 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,75 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 888 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,80 km về phía Nam.

Từ giới điểm số 30, đường biên giới theo sống núi, hướng chung Đông Bắc, cắt qua một suối không tên đến điểm có độ cao 715, rồi theo mé Nam và mé Đông một con đường của Trung Quốc, hướng Đông chuyển Bắc - Đông Bắc, cắt qua một con đường từ Việt Nam sang Trung Quốc, rồi theo dốc núi mé Tây Nam điểm có độ cao 903 trong lãnh thổ Trung Quốc bắt vào sống núi, hướng Đông Nam đến giới điểm số 31. Giới điểm này ở điểm có độ cao 670, cách điểm có độ cao 770 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,90 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 823 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,60 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 976 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,80 km về phía Tây Nam.

Từ giới điểm số 31, đường biên giới đi theo sống núi, hướng chung Đông Nam qua điểm có độ cao 955 đến điểm có độ cao 710, sau đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, qua điểm có độ cao 940 đến điểm có độ cao 780, rồi theo sống núi, hướng Đông Bắc, qua điểm có độ cao 780 đến điểm có độ cao 625, sau đó tiếp tục theo sống núi, hướng Đông đến giới điểm số 32. Giới điểm này ở giữa sông Bắc Vọng (Ba Bang), cách điểm có độ cao 792 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,35 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 808 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,85 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 822 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,05 km về phía Nam - Tây Nam.

Từ giới điểm số 32, đường biên giới rời sông bắt vào sống núi, hướng chung là hướng Đông chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 890, 667, 906, 691, 854, 884, 701, 884, 783, 619, 856, 591, 907, 651, 580, 785, 925, 950 đến giới điểm số 33. Giới điểm này ở giữa sông Quây Sơn (Nan Tan), cách điểm có độ cao 922 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,65 km về phía Bắc - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 685 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,10 km về phía Tây Nam, cách điểm có độ cao 965 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,30 km về phía Đông - Đông Nam.

Từ giới điểm số 33, đường biên giới rời sông bắt vào sống núi, hướng Đông Bắc, qua điểm có độ cao 612 đến điểm có độ cao 624, sau đó tiếp tục theo sống núi, hướng chung Đông Nam, qua các điểm có độ cao 521, 725, 845, 825, 755, 726, 516, 735, 902, 764, 573, 693, 627 đến giới điểm số 34. Giới điểm này ở điểm có độ cao 505, cách điểm có độ cao 791 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,60 km về phía Bắc - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 632 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,80 km về phía Đông - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 655 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,65 km về phía Nam - Tây Nam.

Từ giới điểm số 34, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước qua điểm có độ cao 878 đến điểm có độ cao 850, sau đó theo sống núi hướng chung là Đông Nam chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 837, 758, 712, 492, 695, 449 đến điểm có độ cao 624, rồi tiếp tục theo sống núi, hướng chung Đông - Đông Nam chuyển Tây Nam, qua các điểm có độ cao 731, 737, 805, 866, 752, 605, 815 đến giới điểm số 35. Giới điểm này ở cách điểm có độ cao 709 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,90 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 782 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,10 km về phía Nam, cách điểm có độ cao 794 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,45 km về phía Tây.

Từ giới điểm số 35, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đến giữa sông Quây Sơn, sau đó xuôi sông này, hướng chung Đông Nam đến giới điểm số 36. Giới điểm này ở giữa sông Quây Sơn, cách điểm có độ cao 660 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,20 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 589 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,05 km về phía Tây, cách điểm có độ cao 613 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,50 km về phía Tây Nam.

Từ giới điểm số 36, đường biên giới rời sông theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước qua các điểm có độ cao 597, 653, 560, 367, 629, 717, 685, 746 đến giới điểm số 37. Giới điểm này ở điểm có độ cao 620, cách điểm có độ cao 665 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,80 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 640 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,50 km về phía Tây - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 592 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,90 km về phía Tây Nam.

Từ giới điểm số 37, đường biên giới theo sống núi, hướng Đông Nam chuyển Tây - Tây Nam, qua điểm có độ cao 336 đến một chỏm núi không tên, sau đó theo sống núi, hướng Đông Nam đến một yên ngựa, rồi theo khe, hướng Tây Nam đến đầu một con suối không tên, sau đó xuôi theo suối đó, hướng Tây Nam, rồi rời suối, theo hướng Tây Nam qua điểm có độ cao 348 đến một yên ngựa, tiếp đó theo hướng Tây qua một lũng nhỏ đến giới điểm số 88. Giới điểm này cách điểm có độ cao 723 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,95 km về phía Đông - Đông Nam, cách điểm có độ cao 685 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,35 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 630 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,00 km về phía Tây.

Từ giới điểm số 38, đường biên giới theo sống núi, hướng chung Đông Nam chuyển Tây Nam, qua các điểm có độ cao 635, 656, cắt suối Luộc, qua điểm có độ cao 627 đến chỏm núi không tên ở phía Tây Bắc điểm có độ cao 723 trong lãnh thổ Trung Quốc, sau đó hướng Nam - Đông Nam, qua điểm có độ cao 412 bắt vào sống núi, hướng chung là hướng Nam, qua các điểm có độ cao 727, 745, 664, 487, 615, 473, 586 đến giới điểm số 39. Giới điểm này ở giữa đường mòn, cách điểm có độ cao 682 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,20 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 660 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,10 km về phía Tây Nam, cách điểm có độ cao 612 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,30 km về phía Tây - Tây Bắc.

Từ giới điểm số 39, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước qua điểm có độ cao 303 đến điểm có độ cao 558, sau đó theo sống núi, hướng chung là Tây Nam, qua các điểm có độ cao 591, 521 đến giữa một con suối không tên, rồi xuôi theo suối này, hướng Tây Nam đến hợp lưu của nó với một con suối khác, tiếp đó rời suối bắt vào sống núi, hướng chung Tây Bắc chuyển Tây Nam, qua các điểm có độ cao 602, 657, 698, 565 đến giới điểm số 40. Giới điểm này ở giữa sông Bắc Vọng (Ba Wang), cách điểm có độ cao 689 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 3,05 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 529 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,06 km về phía Đông - Đông Nam, cách điểm có độ cao 512 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,95 km về phía Tây Bắc.

Từ giới điểm số 40, đường biên giới xuôi sông Bắc Vọng (Ba Wang), hướng chung là hướng Nam đến hợp lưu của nó với sông Bằng Giang, sau đó ngược sông Bằng Giang, hướng chung Tây Bắc đến giới điểm số 41. Giới điểm này ở giữa sông Bằng Giang, cách điểm có độ cao 345 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,45 km về phía Đông - Đông Nam, cách điểm có độ cao 202 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,05 km về phía Nam - Tây Nam, cách điểm có độ cao 469 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,35 km về phía Bắc - Đông Bắc.

Từ giới điểm số 41, đường biên giới rời sông, hướng Tây đến điểm có độ cao 153, sau đó theo sống núi, hướng Tây Nam chuyển Nam, qua các điểm có độ cao 332, 463, 404, 544, 303 đến điểm có độ cao 501, rồi tiếp tục theo sống núi, hướng Đông chuyển Nam, qua các điểm có độ cao 255, 259, đến điểm có độ cao 472, sau đó tiếp tục theo sống núi, hướng Đông Nam chuyển Tây Nam, qua các điểm có độ cao 600, 552, 550, 530, 323, 514 đến một chỏm núi không tên ở phía Đông Nam điểm có độ cao 597 trong lãnh thổ Việt Nam, lại theo sống núi hướng Tây Nam, cắt khe, rồi theo sườn núi mé Đông Nam điểm có độ cao 658 trong lãnh thổ Việt Nam, hướng chung là hướng Tây đến điểm có độ cao 628, từ đây đường biên giới theo sống núi hướng Nam, qua các điểm có độ cao 613, 559 đến một điểm ở sống núi, sau đó theo đường thẳng, hướng Đông Nam đến giới điểm số 42. Giới điểm này ở điểm có độ cao 417, cách điểm có độ cao 586 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,70 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 494 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,10 km về phía Bắc - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 556 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,85 km về phía Nam - Tây Nam.

Từ giới điểm số 42, đường biên giới theo hướng Đông Bắc đến một chỏm núi không tên, sau đó theo đường thẳng hướng Đông đến một chỏm núi không tên khác, từ đó đường biên giới theo sống núi, hướng chung là hướng Đông, qua các điểm có độ cao 567, 506, 517, 534, 563 đến điểm có độ cao 542, rồi theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đến điểm có độ cao 570, sau đó lại theo sống núi, hướng Đông Nam chuyển Nam, qua điểm có độ cao 704 đến giới điểm số 43. Giới điểm này ở giữa một con suối không tên, cách điểm có độ cao 565 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,80 km về phía Đông - Đông Nam, cách điểm có độ cao 583 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,10 km về phía Nam, cách điểm có độ cao 561 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,87 km về phía Tây - Tây Nam.

Từ giới điểm số 43, đường biên giới xuôi theo suối không tên về hướng Đông Nam khoảng 500 mét, sau đó rời suối này theo hướng Đông, cắt qua một sống núi nhỏ đến khe, chuyển hướng Nam - Đông Nam xuống giữa con suối nói trên, tiếp đó xuôi theo suối này, hướng Nam, đến hợp lưu của suối này với một nhánh suối khác, sau đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước qua các điểm có độ cao 632, 637 đến giới điểm số 44. Giới điểm này ở giữa đường phòng hỏa, cách điểm có độ cao 666 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,50 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 943 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,56 km về phía Tây Nam, cách điểm có độ cao 710 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,30 km về phía Tây.

Từ giới điểm số 44, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước (trong đó đoạn nào theo đường phòng hỏa thì theo trung tuyến của đường phòng hỏa) qua các điểm có độ cao 637, 383 đến điểm có độ cao 324, sau đó theo sống núi nhỏ, hướng Nam - Tây Nam đến giữa nhánh phía Tây suôn Khuổi Lạn, sau đó xuôi theo suối này, hướng Nam đến giới điểm số 45. Giới điểm này ở giữa suối Khuổi Lạn, cách điểm có độ cao 293 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,90 km về phía Đông - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 323 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,42 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 322 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,60 km về phía Tây - Tây Nam.

Từ giới điểm số 45, đường biên giới rời suối bắt vào sống núi nhỏ, hướng Đông - Đông Nam đến điểm có độ cao 245, sau đó theo đường thẳng, hướng Nam, đến giữa sông Kỳ Cùng (Bình Nhi), tiếp đó ngược sông Kỳ Cùng (Bình Nhi), hướng chung Tây Nam đến giới điểm số 46. Giới điểm này ở giữa sông Kỳ Cùng bình Nhi), cách điểm có độ cao 185 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,55 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 293 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,22 km về phía Nam - Tây Nam, cách điểm có độ cao 270 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,45 km về phía Tây - Tây Bắc.

Từ giới điểm số 46, đường biên giới rời sông, hướng Nam, bắt vào sống núi đến điểm có độ cao 269, sau đó theo sống núi, hướng Tây Nam chuyển Đông Nam, tiếp đó theo hướng Nam, qua các điểm có độ cao 303, 304, 321, 284 đến giới điểm số 47. Giới điểm này ở ngã ba suối, cách điểm có độ cao 329 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,85 km về phía Nam - Đông Nam, cách điểm có độ cao 313 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,65 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 251 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,20 km về phía Tây.

Từ giới điểm số 47, đường biên giới rời suôn bắt vào sống núi nhỏ, hướng Đông Nam, qua mé Tây Nam điểm có độ cao 255 trong lãnh thổ Trung Quốc, bắt vào sống núi, rồi theo sống núi, hướng chung là hướng Nam qua các điểm có độ cao 281, 357 đến điểm có độ cao 344, sau khi cắt một suối không tên, ngược dốc bắt vào sống núi, rồi theo sống núi qua điểm có độ cao 428 đến điểm có độ cao 409, sau đó theo đường thẳng, hướng Nam đến điểm có độ cao 613, rồi theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đến giới điểm số 48. Giới điểm này ở điểm có độ cao 718, cách điểm có độ cao 658 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,44 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 832 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,50 km về phía Tây Nam, cách điểm có độ cao 836 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,65 km về phía Tây.

Từ giới điểm số 48, đường biên giới theo sống núi, hướng Đông Nam đến điểm có độ cao 852, sau đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đến điểm có độ cao 695, rồi lại theo sống núi, hướng Tây Nam chuyển Nam, qua các điểm có độ cao 702, 411, cắt một con đường, qua điểm có độ cao 581 đến giới điểm số 49. Giới điểm này ở điểm có độ cao 549, cách điểm có độ cao 436 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,10 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 511 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,45 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 557 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,40 km về phía Tây Nam.

Từ giới điểm số 49, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, hướng chung là Nam - Đông Nam rồi chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 359, 364, 406 đến giới điểm số 50. Giới điểm này ở điểm có độ cao 610, cách điểm có độ cao 618 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,30 km về phía Tây - Tây Nam, cách điểm có độ cao 395 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,90 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 730 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,80 km về phía Nam.

Từ giới điểm số 50, đường biên giới theo sống núi, hướng Bắc - Đông Bắc đến một chỏm núi không tên ở phía Tây điểm có độ cao 634 trong lãnh thổ Việt Nam, sau đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước qua điểm có độ cao 758 đến điểm có độ cao 742, rồi theo sống núi, hướng chung Đông - Đông Nam qua các điểm có độ cao 540, 497, 381 đến giới điểm số 51. Giới điểm này ở giữa suối Khuổi Đẩy, cách điểm có độ cao 388 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,60 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 411 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,60 km về phía Tây Nam, cách điểm có độ cao 386 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,75 km về phía Nam - Đông Nam.

Từ giới điểm số 51, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước qua các điểm có độ cao 451, 427 đến điểm có độ cao 475, sau đó theo sống núi, hướng chung là hướng Đông, qua các điểm có độ cao 499, 506, 511, 475, 477, 483, 486 đến điểm có độ cao 438, rồi theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đến giới điểm số 52. Giới điểm này ở điểm có độ cao 392, cách điểm có độ cao 389 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,10 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 356 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,65 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 408 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,70 km về phía Nam - Tây Nam.

Từ giới điểm số 52, đường biên giới theo sống núi, hướng chung là hướng Đông chuyển Đông Nam rồi Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 396, 402, 351, 361, 494, 476, 387, 432, 444, 389, 488, 480, 347 đến giới điểm số 53. Giới điểm này ở điểm có độ cao 248, cách điểm có độ cao 813 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,00 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 331 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,75 km về phía Nam - Tây Nam, cách điểm có độ cao 328 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,05 km về phía Đông - Đông Nam.

Từ giới điểm số 53, đường biên giới theo sống núi, hướng chung Đông Nam chuyển Tây Nam, qua các điểm có độ cao 401, 398, 409, 498, 509, 425, 456, 404, 475, 502, 721, 704, 939, 1282 đến điểm có độ cao 1358, sau đó tiếp tục theo sống núi, hướng Nam chuyển Đông Nam, qua các điểm có độ cao 851, 542 đến giới điểm số 54. Giới điểm này cách điểm có độ cao 632 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,70 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 473 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,40 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 545 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,50 km về phía Nam.

Từ giới điểm số 54, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước, hướng chung Đông - Đông Nam, qua các điểm có độ cao 370, 344, 366, 337 đến điểm có độ cao 435, sau đó theo sống núi, hướng chung Đông Nam, qua các điểm có độ cao 401, 440, 351, 438, 470, 612, 640, 651, 534, 525 đến giới điểm số 55. Giới điểm này ở điểm có độ cao 523, cách điểm có độ cao 551 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,80 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 480 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,95 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 528 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,14 km về phía Tây.

Từ giới điểm số 55, đường biên giới theo sống núi, hướng Đông - Đông Nam, qua các điểm có độ cao 506, 577, 670 đến điểm có độ cao 788, từ đó theo đường phân thủy giữa các nhánh sông trong lãnh thổ Việt Nam và các nhánh sông trong lãnh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Bắc chuyển Đông Nam, qua các điểm có độ cao 870, 825, 894, 855, 736, 706, 1029 đến giới điểm số 56. Giới điểm này ở điểm có độ cao 705, cách điểm có độ cao 863 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,80 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 861 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 1,00 km về phía Bắc - Đông Bắc, cách điểm có độ cao 913 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,20 km về phía Tây - Tây Nam.

Từ giới điểm số 56, đường biên giới theo đường phân thủy giữa các nhánh sông trong lãnh thổ Việt Nam và các nhánh sông trong lãnh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 652, 975, 875, 835, 1150, 1082 đến giới điểm số 57. Giới điểm này ở điểm có độ cao 882, cách điểm có độ cao 638 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 3,55 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 1265 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,95 km về phía Nam - Tây Nam, cách điểm có độ cao 1025 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,20 km về phía Tây - Tây Nam.

Từ giới điểm số 57, đường biên giới theo sống núi, hướng Tây Nam đến điểm tiếp nối với một khe, rồi theo khe, hướng Nam - Đông Nam, đến giữa suối Tài Vằn, sau đó xuôi suối này và hạ lưu của nó là suối Nà Sa đến giới điểm số 58. Giới điểm này ở hợp lưu suối Nà Sa với một nhánh sông nằm ở phía Đông, cách điểm có độ cao 423 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,95 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 447 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,75 km về phía Nam, cách điểm có độ cao 320 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,45 km về phía Tây.

Từ giới điểm số 58, đường biên giới ngược nhánh sông phía Đông nói trên đến ngã ba sông Đồng Mô, rồi ngược sông Đồng Mô, Bỉ Lao, Cao Lạn đến giới điểm số 59. Giới điểm này ở hợp lưu hai con suối Cao Lạn và Phai Lầu, cách điểm có độ cao 1052 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,10 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 600 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,57 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 602 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,00 km về phía Tây.

Từ giới điểm số 59, đường biên giới ngược suối Cao Lạn hướng Đông Nam, sau đó rời suối đi theo đường thẳng hướng Đông - Đông Nam đến một chỏm núi không tên phía Bắc điểm có độ cao 960 trong lãnh thổ Việt Nam, rồi theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đến giới điểm số 60. Giới điểm này ở điểm có độ cao 1100, cách điểm có độ cao 1156 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,10 km về phía Bắc - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 683 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,65 km về phía Tây Nam, cách điểm có độ cao 1094 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 0,95 km về phía Nam - Tây Nam.

Từ giới điểm số 60, đường biên giới theo sống núi nhỏ hướng Đông Bắc, xuống khe, rồi theo khe hướng chung là hướng Đông Bắc chuyển Đông - Đông Nam, đến một nhánh thượng lưu sông Ka Long, sau đó xuôi theo sông này, hướng Đông - Đông Bắc, đến giới điểm số 61. Giới điểm này ở hợp lưu sông Ka Long với một sông khác (Bắc Luân), cách điểm có độ cao 561 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,20 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 117 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 0,95 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 224 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 1,60 km về phía Nam - Tây Nam.

Từ giới điểm số 61, đường biên giới xuôi theo trung tuyến luồng chính tầu thuyền đi lại của sông Ka Long, Bắc Luân, đến điểm cuối của nó, bắt vào giới điểm số 62. Giới điểm này là điểm tiếp nối đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của hai nước Việt Nam và Trung Quốc.

Các cồn, bãi nằm hai bên đường đỏ của các đoạn biên giới theo sông suối trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đã được quy thuộc theo đường đỏ.

Đường biên giới trên đất liền giữa hai nước mô tả ở điều này được vẽ bằng đường đỏ trên bản đồ tỷ lệ 1:50.000 do hai bên cùng xác định, độ dài và diện tích dùng trong mô tả đường biên giới được đo từ bản đồ này. Bộ bản đồ nói trên đính kèm Hiệp ước này là bộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước.

(Còn nữa)



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 17.10.2011, sửa lần 10
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 14.10.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

(Tiếp theo)

Điều III. Hai Bên ký kết đồng ý vị trí chính xác điểm gặp nhau của đường biên giới giữa ba nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào sẽ do ba nước thỏa thuận xác định.

Điều IV. Mặt thẳng đứng đi theo đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc nói tại Điều II của Hiệp ước này phân định vùng trời và lòng đất giữa hai nước.

Điều V. Hai Bên ký kết đồng ý, trừ khi đã được Hiệp ước này quy định rõ ràng, đường biên giới Việt - Trung nói tại Điều II, đối với những đoạn lấy sông suối làm biên giới thì ở những đoạn sông suối tầu thuyền không đi lại được, đường biên giới đi theo trung tuyến của dòng chảy hoặc của dòng chảy chính; ở những đoạn sông suối tầu thuyền đi lại được, đường biên giới đi theo trung tuyến của luồng chính tầu thuyền đi lại. Vị trí chính xác trung tuyến của dòng chảy, của dòng chảy chính hoặc của trung tuyến luồng chính tầu thuyền đi lại và sự quy thuộc của các cồn, bãi trên sông suối biên giới sẽ được hai Bên ký kết xác định cụ thể khi phân giới, cắm mốc.

Tiêu chuẩn chính để xác định dòng chảy chính là lưu lượng dòng chảy ở mực nước trung bình. Tiêu chuẩn chính để xác định luồng chính tầu thuyền đi lại là độ sâu của luồng tầu thuyền đi lại, kết hợp với chiều rộng và bán kính độ cong của luồng tầu thuyền đi lại để xem xét tổng hợp. Trung tuyến của luồng chính tầu thuyền đi lại là trung tuyến mặt nước giữa hai đường đẳng sâu tương ứng đánh dấu luồng chính tầu thuyền đi lại.

Bất kỳ sự thay đổi nào có thể xảy ra đối với sông suối biên giới đều không làm thay đổi hướng đi của đường biên giới, không ảnh hưởng đến vị trí của đường biên giới Việt - Trung đã được xác định trên thực địa, cũng như sự quy thuộc của các cồn, bãi, trừ khi hai Bên ký kết có thỏa thuận khác.

Những cồn, bãi mới xuất hiện trên sông suối biên giới sau khi đường biên giới đã được xác định trên thực địa sẽ được phân định theo đường biên giới đã được xác định trên thực địa. Nếu các cồn, bãi mới xuất hiện nằm trên đường biên giới đã được xác định trên thực địa thì hai Bên ký kết sẽ bàn bạc xác định sự quy thuộc trên cơ sở công bằng, hợp lý.

Điều VI.

1. Hai Bên ký kết quyết định thành lập Ủy ban Liên hợp phân giới và cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc (dưới đây gọi là Ủy ban Liên hợp phân giới, cắm mốc) và giao cho Ủy ban này nhiệm vụ xác định trên thực địa đường biên giới Việt - Trung như đã nêu trong Điều II của Hiệp ước này, và tiến hành công việc phân giới, cắm mốc, cụ thể là, xác định vị trí chính xác của đường sống núi, đường phân thủy, trung tuyến của dòng chảy hoặc dòng chảy chính, trung tuyến luồng chính tầu thuyền đi lại và các đoạn đường biên giới khác, xác định rõ sự quy thuộc của các cồn, bãi trên sông suối biên giới, cùng nhau cắm mốc giới, soạn thảo Nghị định thư về biên giới trên đất liền giữa hai nước, gồm cả hồ sơ chi tiết về vị trí các mốc giới, vẽ bản đồ chi tiết đính kèm Nghị định thư, thể hiện hướng đi của đường biên giới và vị trí các mốc giới trên toàn tuyến, cũng như giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến việc hoàn thành các nhiệm vụ kể trên.

2. Ngay sau khi có hiệu lực, Nghị định thư về biên giới trên đất liền giữa hai nước nói tại khoản 1 Điều này trở thành một bộ phận của Hiệp ước này, và bản đồ chi tiết đính kèm Nghị định thư này thay thế bản đồ đính kèm Hiệp ước này.

3. Ủy ban liên hợp phân giới, cắm mốc bắt đầu công việc ngay sau khi Hiệp ước này có hiệu lực và chấm dứt hoạt động sau khi Nghị định thư và bản đồ chi tiết đính kèm về đường biên giới trên đất liền giữa hai nước được ký kết.

Điều VII. Sau khi Nghị định thư về biên giới trên đất liền giữa hai nước và bản đồ chi tiết đính kèm có hiệu lực, hai Bên ký kết sẽ ký kết Hiệp ước hoặc Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới giữa hai nước để thay thế Hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ký ngày 7 tháng 11 năm 1991.

Điều VIII. Hiệp ước này được hai Bên ký kết phê chuẩn và có hiệu lực kể từ ngày trao đổi các văn kiện phê chuẩn. Các văn kiện phê chuẩn sớm được trao đổi tại Bắc Kinh.

Hiệp ước này được ký tại Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 1999, làm thành hai bản, mỗi bản bằng tiếng Việt và tiếng Trung, cả hai văn bản đều có giá trị như nhau.


ĐẠI DIỆN TOÀN QUYỀN NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
ĐẠI DIỆN TOÀN QUYỀN NƯỚC CHND TRUNG HOA

-----------------------------------------------------------------------------


NGHỊ QUYẾT SỐ 36/2000/QH10 CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM VỀ VIỆC PHÊ CHUẨN HIỆP ƯỚC


QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

Theo đề nghị của Chủ tịch nước;

Sau khi xem xét báo cáo của Chính phủ, báo cáo của Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội và ý kiến của các đại biểu Quốc hội về việc phê chuẩn Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa,

...........................................................QUYẾT NGHỊ:

1. Phê chuẩn Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

2. Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định quyết tâm cùng nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa xây dựng đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc thành đường biên giới hòa bình, ổn định và bền vững mãi mãi, góp phần giữ gìn và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình.

3. Giao Chính phủ chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền triển khai sớm các việc làm cần thiết để ký kết Nghị định thư phân giới, cắm mốc và xác định bản đồ chi tiết; bố trí ngân sách thực hiện Hiệp ước; sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành liên quan tới quản lý đường biên giới; địa giới hành chính, sớm ổn định đời sống của nhân dân ở khu vực biên giới; cùng các cơ quan có thẩm quyền liên quan của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nghiêm chỉnh thực hiện Hiệp ước và xử lý đúng đắn, kịp thời những vấn đề phát sinh.

Chính phủ tiến hành thủ tục đối ngoại về phê chuẩn Hiệp ước và thông báo, hướng dẫn các cơ quan hữu quan thi hành Hiệp ước này.

Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 9 tháng 6 năm 2000.

.....................................Chủ tịch Quốc hội
.....................................NÔNG ĐỨC MẠNH




Lễ ký biên bản năm 1994



Hai bên ký biên bản đàm phán



Ký biên bản thành lập tổ đo vẽ bản đồ biên giới - năm 1999

Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7  Trang kế
Trang 5 trong tổng số 7 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser