vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - Cột mốc biên cương
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

Cột mốc biên cương
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 30.08.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TỈNH KON TUM

Địa giới Kon Tum qua các thời kỳ lịch sử

Kon Tum là tỉnh ở phía bắc cao nguyên Gia Lai - Kon Tum, một trong 3 cao nguyên lớn của Tây Nguyên.



Vùng đất này thuở xưa còn rất hoang vắng, người thưa đất rộng. Các dân tộc bản địa gồm Xê-đăng, Ba-na, Gia-rai, Giẻ-triêng, Bờ-râu, Rơ-măm. Mỗi dân tộc gắn với một vùng cư trú khác nhau. Nét đặc biệt trong thiết chế xã hội cổ truyền của các dân tộc ở tỉnh Kon Tum là tổ chức xã hội duy nhất chỉ có làng. Làng được xem như đơn vị hành chính mang tính bao quát và cụ thể, chi phối mọi hoạt động trong đời sống xã hội. Mỗi làng mang tính độc lập riêng biệt, do một chủ làng là người có uy tín nhất trong làng đứng đầu.

Tuy vùng đất cao nguyên này được coi là thuộc lãnh thổ Đại Việt từ năm 1470, khi vua Lê Thánh Tông đánh chiếm kinh đô Trà Bàn cvủa Chiêm Thành, lập phủ Quy Nhơn, nhưng trải qua các triều đại, nơi đây chưa hề có hệ thống hành chính, mà chỉ tồn tại chế độ "già làng".

Trong giai đoạn khởi nghĩa Tây Sơn (1771 - 1786), ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã xây dựng mối quan hệ đoàn kết với các dân tộc vùng này.

Năm 1840, dưới thời vua Thiệu Trị, triều đình Huế lập Bok Seam - một người Bana làm quan cai trị các bộ tộc Tây Nguyên, đồng thời cho phép người Kinh và người các dân tộc được phép tự do quan hệ mua bán, trao đổi. Từ đây, những lái buôn người Kinh bắt đầu đến với Tây Nguyên để mua bán, trao đổi hàng hóa.

Trong thời gian này, người Pháp cũng tìm đường đến Kon Tum để truyền đạo. Trong khoảng thời gian từ năm 1841 đến 1850, tức là trước khi Pháp nổ súng tấn công thành Điện Hải ở Đà Nẵng (mà người Pháp gọi là Touran) cả chục năm, các nhà truyền giáo người Pháp đã đặt được cơ sở Thiên chúa giáo đầu tiên của họ ở Kon Tum.

Năm 1867, thực dân Pháp bắt đầu tấn công xâm lược Kon Tum. Bằng những thủ đoạn thâm độc nhằm chia rẽ các dân tộc trong vùng, thực dân Pháp đã thôn tính Kon Tum và Tây Nguyên.

Năm 1892, thực dân Pháp đặt tại Kon Tum một tòa đại lý hành chính đầu tiên do một cố đạo người Pháp là Vialleton (tên Việt là cha Truyền) cai quản.

Năm 1904, tỉnh tự trị Plây-cu Đe (Pleikou Der) được thành lập, tách ra từ tỉnh Bình Định. Năm 1907, tỉnh Plây-cu Đe bị bãi bỏ, và Đại lý hành chính Kon Tum tách ra từ tỉnh này, được đặt dưới sự cai trị của Công sứ Bình Định.

Ngày 9 tháng 2 năm 1913, tỉnh Kon Tum được thành lập, gồm toàn bộ tỉnh Plây-cu Đe trước kia. Tỉnh Kon Tum bấy giờ bao gồm Đại lý hành chính Kon Tum tách ra từ tỉnh Bình Định, Đại lý hành chính Cheo Reo tách ra từ tỉnh Phú Yên, và Đại lý hành chính Buôn Ma Thuột - trước đó vốn là một tỉnh riêng, nhưng đến năm 1913 bị giảm từ tỉnh xuống thành Đại lý hành chính để sáp nhập vào tỉnh Kon Tum.

Năm 1917, tổng Tân Phong và tổng An Khê thuộc tỉnh Bình Định được nhập lại (gọi là huyện Tân An) bổ sung vào tỉnh Kon Tum, rồi sau đó Đại lý hành chính An Khê được thành lập (gồm huyện Tân An và khu vực sinh sống của người dân tộc thiểu số), đặt dưới quyền cai trị của Công sứ Kon Tum.

Đến năm 1923, tỉnh Đắc Lắc được thành lập, từ Đại lý hành chính Buôn Mê Thuột tách ra khỏi tỉnh Kon Tum.

Năm 1925, thành lập Đại lý hành chính Plây-cu dưới quyền Công sứ Kon Tum, và đến năm 1932 Đại lý này mới tách ra để trở thành tỉnh Plây-cu. Đến năm 1943, Đại lý hành chính An Khê tách từ tỉnh Kon Tum để nhập vào tỉnh Plây-cu.

Thành phố Kon Tum thành lập vào năm1929, thực tế lúc đó chỉ là thị trấn, gồm tổng Tân Hương và một số làng dân tộc thiểu số phụ cận. Đây là nơi hội tụ của các làng người Kinh lên lập nghiệp tại Kon Tum (tân hương = quê hương mới). Theo thứ tự, các làng của tổng Tân Hương được thành lập theo thời gian và tên gọi như sau: Tân Hương (năm 1874); Phương Nghĩa (năm 1882); Phương Quý (năm 1887); Phương Hòa (năm 1892); Trung Lương (năm 1914); Phụng Sơn (năm 1924); Ngô Thạnh (năm 1925); Ngô Trang (năm 1925); Phước Cần (năm 1927); Lương Khế (năm1927).

Ngày 3-12-1929, theo Nghị định của Khâm sứ Trung Kỳ, tổng Tân Hương được lập thành thị trấn Kon Tum, từ đó thị trấn Kon Tum trở thành trung tâm chính trị - kinh tế - xã hội của tỉnh Kon Tum. Theo thời gian, mảnh đất nơi đây không ngừng được mở rộng và phát triển. Ngoài các làng của người Kinh lập nên, về sau có thêm nhiều làng của người dân tộc thiểu số vùng ven như các làng Kon Rbàng, KonM'nai, ChưHreng, cũng nằm trong phạm vi quản lý hành chính của thị trấn Kon Tum.

Tháng 8-1945, cùng với cả nước, ngày 25-8-1945, nhân dân Kon Tum đã nổi dậy giành chính quyền. Chính quyền cách mạng tổ chức lại tỉnh Kon Tum thành 4 đơn vị hành chínhm gồm các huyện Đắc Gờ-lây, Đắc Tô, Kon Plong và thành phố Kon Tum. Chính quyền cách mạng lâm thời tỉnh Kon Tum được thành lập, đóng trụ sở tại thành phố Kon Tum để lãnh đạo nhân dân bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới.

Ngày 26-6-1946, thực dân Pháp tấn công và chiếm lại Kon Tum, thiết lập trở lại bộ máy cai trị vùng này. So với trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, bộ máy thống trị và chính sách cai trị của Pháp từ tỉnh tới làng không mấy thay đổi. Đứng đầu bộ máy hành chính cấp tỉnh là một Công sứ người Pháp, bên dưới có các huyện, thường do tên đồn trưởng người Pháp nắm giữ, rồi đến làng. Thực dân Pháp đã tập hợp bọn tay sai người địa phương, đặc biệt là dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo các chủ làng để nắm giữ bộ máy quyền lực ở cơ sở.

Về phía cách mạng, sau khi thực dân Pháp tái chiếm Kon Tum, chính quyền cách mạng lâm thời tan rã, tổ chức Đảng bị phân tán, thất lạc. Trong thời gian này, tỉnh Kon Tum chịu sự quản lý chỉ đạo về hành chính của Xứ ủy Trung Kỳ và Phân ban vận động quốc dân thiểu số Nam Trung Bộ.

Tháng 1-1947, thành lập Phân khu 15, trong đó nòng cốt là tỉnh Kon Tum và các huyện miền Tây của hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. Trên thực tế, tổ chức hành chính của Kon Tum vẫn giữ nguyên, nhưng chịu sự quản lý và chi phối của Phân khu 15 về hoạt động quân sự. Tháng 8-1947, Khu 15 Tây Nguyên được thành lập, tỉnh Kon Tum là một trong những đơn vị hành chính trực thuộc Khu 15. Tháng 3-1950, theo chủ trương của Liên Khu ủy 5, tỉnh Kon Tum và tỉnh Gia Lai được sáp nhập thành tỉnh Gia - Kon. Ban cán sự Gia-Kon ra quyết định thành lập 7 khu (huyện). Địa bàn tỉnh Kon Tum tổ chức thành 3 khu: Khu 1 (Đắc Gờ-lây); Khu 2 (Đắc Tô); và Khu 3 (Kon Plong).

Tháng 10-1951, theo quyết định của Liên Khu ủy 5, tỉnh Kon Tum và các huyện phía tây Quảng Ngãi hợp nhất thành Mặt trận miền Tây.

Tháng 2-1954, Kon Tum là tỉnh đầu tiên và duy nhất ở Tây Nguyên được giải phóng hoàn toàn. Một thời gian sau, Mặt trận miền Tây cũng được giải thể. Theo tinh thần Hiệp định Giơ-ne-vơ ký ngày 20-7-1954, tỉnh Kon Tum bước vào thời kỳ lịch sử mới.

Về phía địch, sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Mỹ - ngụy tiếp quản Kon Tum. Năm 1958, chúng chia bộ máy hành chính tỉnh Kon Tum thành tòa hành chính Kon Tum - bộ máy hành chính cấp tỉnh, bên dưới gồm các quận Kon Tum, Đắc Tô, Kon Plong và Đắc Sút.

Theo Nghị định số 348-BNV/HC/NĐ ngày 27 tháng 6 năm 1958: quận Kon Plong gồm 3 tổng 11 xã, quận Đắc Tô gồm 9 tổng 29 xã, quận Đắc Sút gồm 6 tổng 23 xã, thị xã Kon Tum (gọi là quận Kon Tum) gồm 10 tổng 57 xã, trong đó có 10 xã người Kinh. Chưa đầy một tháng sau, quận Đắc Tô lại bị chia thành 2 quận Đắc Tô và Tou-mơ-rông.

Năm 1959, nguỵ quyền thành lập thêm quận Chương Nghĩa theo Sắc lệnh số 234-NV ngày 9 tháng 9 năm 1959, trên cơ sở tách một phần đất của quận Kon Plong ra.

Năm 1960, quận Kon Plong bị xóa bỏ. Như vậy, thực tế quận Tou-mơ-rông và quận Chương Nghĩa chiếm gần trọn diện tích của quận Kon Plong trước đó. Một phần đất còn lại của quận Kon Plong không thuộc phạm vi của hai quận mới này nhập về quận Kon Tum.

Năm 1961, quận Chương Nghĩa bao gồm phần đất phía đông sông Đắc Nghé, giáp với quận Ba Tơ (Quảng Ngãi) được cắt về tỉnh Quảng Ngãi. Tỉnh Kon Tum còn lại 4 đơn vị hành chính cấp quận là: Kon Tum, Đắc Tô, Đắc Sút, Tou-mơ-rông.

Sau năm 1965, phân cấp hành chính của nguỵ quyền Sài Gòn tại Kon Tum có sự thay đổi. Đối với khu vực thị xã, thị trấn đông dân, vẫn giữ nguyên cấp quận; còn những nơi xa xôi, ít dân cư hơn, thì giảm từ quận xuống một cấp, gọi là phái viên hành chính.

Năm 1970, bộ máy hành chính ở Kon Tum, ngoài Tòa hành chính và các ty, sở ở tỉnh, bên dưới có các cấp sau: quận Kon Tum, quận Đắc Tô, phái viên hành chính Đắc Sút, phái viên hành chính Măng Búc, phái viên hành chính Chương Nghĩa (quận Chương Nghĩa chuyển về Quảng Ngãi, một thời gian sau đó, lại nhập trở lại tỉnh Kon Tum).

Năm 1972, nguỵ quyền đổi tên chi khu Đắc Pét thành quận Đắc Sút để mở rộng chức năng về hành chính.

Sau chiến dịch xuân - hè năm 1972, quân ta giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh và đại bộ phận các vùng nông thôn, vùng kiểm soát của địch bị thu hẹp đáng kể. Quận lỵ Đắc Tô của địch phải lưu vong về đèo Sao Mai, đông nam thành phố Kon Tum. Các chi khu Đắc Pét, Măng Đen, Măng Búc bị cô lập giữa vùng giải phóng của ta. Địch chỉ còn co cụm phần lớn tại khu vực thị xã Kon Tum.

Năm 1974, quân ta tấn công dồn dập tiêu diệt hoàn toàn các chi khu Đắc Pét, Măng Đen, Măng Búc. Tận dụng thời cơ thắng lớn ở Buôn Ma Thuột, ngày 17-3-1975, quân và dân trong tỉnh đã nổi dậy tấn công vào đầu não của địch ở nội thị, giải phóng thành phố và toàn tỉnh Kon Tum.

Từ năm 1976 đến năm 1991, tỉnh Kon Tum sáp nhập với tỉnh Gia Lai thành tỉnh Gia Lai - Kon Tum.

Nghị quyết kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa 8 ngày 12 tháng 8 năm 1991 đã tách tỉnh Gia Lai - Kon Tum, trở lại thành hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai. Theo đó, một số huyện mới được thành lập như Ngọc Hồi (năm 1992); Đắc Hà (năm 1994), huyện Kon Rẫy (năm 2002), huyện Tu-mơ-rông (năm 2005).

Đến năm 2005, tỉnh Kon Tum có 01 thành phố và 8 huyện, trong đó, thành phố Kon Tum là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh.

Địa danh Kon Tum nghĩa là gì?

Theo truyền thuyết của dân tộc Bana, vùng đất Kon Tum ngày nay ban đầu chỉ là một làng của người Bana ở gần bên dòng sông Đắc Bla với tên gọi Kon Trang - Or. Lúc ấy, làng Kon Trang - Or rất thịnh vượng với dân số khá đông. Bấy giờ, giữa các làng luôn gây chiến với nhau để chiếm đoạt của cải và bắt người về làm nô lệ. Hai con trai của Ja Xi - một trong số những người đứng đầu làng Kon Trang - Or tên là Jơ Rông và Uông chán ghét cảnh chiến tranh, đã làm nhà ra ở riêng gần chỗ có hồ nước, cạnh dòng Đắc Bla. Vùng đất này rất thuận lợi cho phương thức sống định cư, nên dần dần có nhiều người đến ở, mỗi ngày một phát triển thêm đông, lập thành làng mới, vớí tên gọi là Kon Tum, có nghĩa là "làng Hồ" (Kon là làng, Tum là hồ, ao, bàu nước,...).

Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 31.08.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

QUÁ TRÌNH PHÂN GIỚI CẮM MỐC TRÊN ĐƯỜNG BIÊN GIỚI TRÊN BỘ GIỮA VIỆT NAM VÀ CĂMPUCHIA


Ðể thực thi chủ quyền của mình tại xứ thuộc địa Nam kỳ, Pháp tiến hành hoạch định biên giới giữa Nam kỳ và Vương quốc Cămpuchia (xứ tự trị "nháy nháy") theo luật của Pháp. Giai đoạn 1872-1888, giữa Pháp và Cămpuchia đã ký một loạt văn bản pháp lý về hoạch định biên giới và phân giới cắm mốc.

Ngày 15/7/1873, Thống đốc Nam kỳ (người Pháp) và vua Nô-rô-đôm của Cămpuchia (cha của Thái tử Nô-rô-đôm Xi-ha-núc) ký Công ước hoạch định vĩnh viễn đường biên giới giữa Nam kỳ và Cămpuchia. Đây có thể xem như việc ký kết, hoạch định lần thứ nhất về đường biên giới Việt Nam - Cămpuchia (đoạn từ Tây Ninh đến Hà Tiên). Đồng thời, hai bên ấn định trên đoạn biên giới này sẽ cắm 124 cột mốc, được đánh số thứ tự liên tục từ No.1 đến No.124: mốc số 1 đặt ở hợp lưu của sông Tông-lê Tru và sông Tông-lê Tràm thuộc tỉnh Tây Ninh ngày nay; mốc số 124 đặt ở Hòa Thành, Hà Tiên, thuộc tỉnh Kiên Giang ngày nay. Đến năm 1886, đã hoàn tất việc cắm 124 cột mốc trên thực địa theo Công ước 1873.

Sau đó, do có những phát sinh trong quá trình quản lý thực tế, nên ngày 20/3/1899, Toàn quyền Liên bang Đông Dương ký Nghị định điều chỉnh đoạn biên giới từ mốc No.41 đến mốc No.50, và cho cắm thêm 4 mốc phụ trên đoạn biên giới này. Dễ hiểu là hầu hết các mốc cũ của Pháp, do được cắm vào giai đoạn cuối của thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, và được chế tạo bằng những vật liệu thời xưa không bền vững, lại trải qua thời gian hơn 100 năm, chịu sự tác động xô đẩy của chiến tranh và đặc biệt là tác động của các hiện tượng mưa nắng gió bão lũ lụt của tự nhiên, nên chúng đều đã bị thất thoát hoặc hư hỏng nặng nề, làm cho việc nhận biết đường biên giới trên thực địa gặp nhiều khó khăn.

Không như đoạn biên giới Nam kỳ-Cămpuchia, đoạn biên giới Trung kỳ-Cămpuchia chỉ được xác định thông qua các Nghị định xác định ranh giới giữa từng tỉnh của xứ Trung kỳ với các tỉnh xung quanh, trong đó có các tỉnh của Vương quốc Cămpuchia, chứ không có văn bản phân định đường biên giới một cách đàng hoàng, do triều đình hai bên chưa bao giờ ngồi cùng nhau hoạch định đường biên giới giữa hai xứ tự trị. Xem ra, các ông vua phong kiến ngày xưa chỉ mải ăn chơi nhảy múa, chứ không mấy khi sai sứ thần gặp nhau bàn bạc cho thấu đáo chuyện này.

Vớt vát một chút là, hình ảnh về từng khúc biên giới giữa Nam kỳ-Cămpuchia, cũng như Trung kỳ-Cămpuchia được Sở Địa dư Đông Dương của người Pháp chịu khó thể hiện trên 26 mảnh bản đồ. Tuy nhiên, đây là loại bản đồ cổ lỗ sĩ, sử dụng phép chiếu Bonne (thông dụng ở châu Âu thời đó) và ít thích hợp cho các nước nằm gần đường Xích đạo như các xứ thuộc địa, tự trị và bảo hộ trong Liên bang Đông Dương. Tỷ lệ xích của bản đồ là 1/100.000, tức là, 1 cm con con trên bản đồ tương ứng với 100.000 cm = 1.000 m = 1 km trên thực địa. Cũng tức là, nếu ai đó "nhỡ tay" xê dịch cột mốc biên giới đi 50 mét, thậm chí 100 mét, thì sự thay đổi vị trí của cột mốc trên bản đồ chỉ "thi thoảng, tí tì ti". Hơn thế, các mảnh bản đồ được đo đạc, biên vẽ, xuất bản tà tà trong nhiều năm, chứ không "đồng khởi" cùng một lúc, nên sự thiếu nhất quán giữa các mảnh hoàn toàn có thể xảy ra.

Lần hoạch định biên giới tiếp theo là vào năm 1985. Với mong muốn xây dựng một đường biên giới hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển, ngày 27/12/1985, tại Phnôm-pênh, Chính phủ hai nước ký Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước sau nhiều vòng đàm phán. Theo đó, Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc của hai nước được thành lập và hai bên đồng thoả thuận: trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Cămpuchia sẽ cắm 322 mốc quốc giới.

Năm 1994, hai bên cùng tiến hành khảo sát toàn tuyến biên giới, chỉ phát hiện được có 13 mốc giới và một số dấu vết mốc cũ. Đến thời điểm năm 2005, hai bên đã phát hiện được hơn 100 mốc cũ và dấu vết mốc cắm từ thời Pháp.

Kiểm đếm lại, trong vòng 20 năm, từ 1985 đến 2005, hai bên dù rất tích cực, cũng chỉ cắm được vẻn vẹn 72 mốc (trên tổng số 322 mốc dự kiến), và phân giới được hơn 200 km đường biên giới (trên tổng chiều dài 1.137 km dự kiến). Một sự kiện xảy ra giữa chừng là phía Cămpuchia đột ngột đề nghị hai bên tạm dừng công việc phân giới cắm mốc bởi... "lý do kỹ thuật", thực chất là do nội bộ chưa thống nhất công nhận đường biên giới mà hai bên đã hoạch định trong Hiệp ước 1985.

Lần hoạch định thứ 3 là vào ngày 10/10/2005, tại Hà Nội, Chính phủ hai nước ký “Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia Việt Nam - Campuchia”; đồng thời, Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền của hai nước được tái lập, và hai bên một lần nữa thỏa thuận lại: trên toàn tuyến biên giới sẽ cắm 314 mốc.

Hai bên cũng thống nhất, trong thời gian tiến hành công tác phân giới cắm mốc trên thực địa, việc quản lý biên giới vẫn thực hiện theo Thông cáo báo chí của Chính phủ hai nước ký ngày 17/01/1995, cho đến khi hoàn thành toàn bộ công tác phân giới cắm mốc trên thực địa và hoàn tất việc ký kết Nghị định thư về phân giới cắm mốc trên đất liền.

TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI CỤ THỂ TẠI CÁC TỈNH

Tỉnh Kon Tum có đường biên giới chiều dài 290 km về phía tây, tiếp giáp với vùng bắc Căm-pu-chia khoảng 140 km và với Hạ Lào khoảng 150 km.

Với chiều dài 138,4km, trên đoạn biên giới tiếp giáp giữa tỉnh Kon Tum và tỉnh Ra-ta-na-ki-ri (Cămpuchia) dự kiến có 24 vị trí cắm mốc, đánh số từ vị trí mốc số 1 đến vị trí mốc số 24 (cột mốc không số cắm tại ngã ba biên giới được điều chỉnh bằng một Hiệp ước riêng do ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia ký kết). Tháng 6-2007, nhóm liên hợp phân giới cắm mốc Việt Nam - Căm-pu-chia hai tỉnh Kon Tum và Ra-ta-na-ki-ri bắt đầu triển khai công tác phân giới cắm mốc trên thực địa. Sau hơn 3 năm, vào tháng 2-2011, đã hoàn thành việc xác định toàn bộ 24 vị trí cắm mốc, và cắm đủ 29 mốc giới trên thực địa. Ngoài ra, để làm rõ đường biên giới, nhóm liên hợp phân giới cắm mốc hai tỉnh Kon Tum và Ra-ta-na-ki-ri còn xác định thêm 27 điểm đặc trưng, và phân giới được trên 90 km đường biên giới. Đến cuối tháng 9-2011, hai bên cố gắng phân giới xong hơn 40 km đường biên giới còn lại. Như vậy, Kon Tum sẽ là tỉnh đầu tiên trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Căm-pu-chia hoàn thành toàn bộ công tác phân giới cắm mốc trên thực địa. Công việc còn lại là hoàn chỉnh hồ sơ và tham gia soạn thảo Nghị định thư mô tả hướng đi của đường biên giới.

Thực hiện Hiệp ước giữa hai nhà nước về việc tăng dày, tôn tạo mốc giới Việt Nam– Lào, tỉnh Kon Tum phối hợp cùng các đơn vị chức năng của nước bạn Lào thực hiện tốt công tác này. Đến tháng 3-2011, hai bên đã thống nhất hoàn chỉnh sơ đồ, bản đồ 33 của vị trí mốc (trên tổng số 57 vị trí mốc), xây dựng xong 33 cột mốc (trên tổng số 61 cột mốc), hoàn thành nhiệm vụ cắm mốc đoạn biên giới tiếp giáp với tỉnh Át-tô-pư. Đoạn giáp với tỉnh Sê-kông còn 24 vị trí cắm mốc và 28 cột mốc, vẫn đang tiếp tục thực hiện, đến nay đã cắm xong 5 cột mốc.

Gia Lai nằm ở phía bắc Tây Nguyên trên độ cao 600 – 800 mét so với mặt biển, phía tây giáp Cam-pu-chia với 90 km đường biên giới quốc gia. Những dãy núi cao của dãy Trường Sơn ở Gia Lai là đầu nguồn của nhiều hệ thống sông đổ về Căm-pu-chia và miền duyên hải miền Trung như: sông Ba, sông Sê San và các con suối khác. Hiện, tỉnh có 7 xã biên giới thuộc 3 huyện biên giới. Huyện Ya Giai có 2 xã (Ya O, Ya Chia); huyện Đức Cơ có 3 xã (Ya Dom, Ya Nan, Ya Pnôn) và huyện Chư Prông có 2 xã (Ya Puch, Ya Mơr). Tại mỗi xã, thiết lập 1 đồn biên phòng.

Đắc Lắc có 2 huyện, 4 xã biên giới với 73 km đường biên giới tiếp giáp với tỉnh Mon-đun-ki-ri của Cămpuchia, trong đó có 34 km biên giới trên bộ và 39 km biên giới trên sông suối. Theo thỏa thuận của Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Cămpuchia, trên đoạn biên giới đi qua tỉnh Đắc Lắc dự kiến sẽ cắm 7 mốc, từ mốc số 41 (tiếp giáp với tỉnh Gia Lai ở phía Bắc), đến đoạn giữa mốc 47-48 (tiếp giáp với tỉnh Đắc Nông ở phía Nam), trong đó có 4 mốc đơn, 2 mốc đôi và 1 cụm mốc ba.

Tuyến biên giới qua tỉnh Đắc Nông dài 130 km, chủ yếu chạy theo sông suối, nên tương đối dễ nhận biết. Tuy nhiên, do địa hình khó khăn, phức tạp, thời tiết thất thường, đặc biệt mùa mưa ở Tây Nguyên thường kéo dài 6 tháng, nên việc đi lại, xác định vị trí và tổ chức cắm mốc, phân giới rất khó khăn. Đến giữa tháng 3-2011, sau hai giai đoạn thực hiện phân giới cắm mốc giữa hai tỉnh Đắc Nông (Việt Nam) và tỉnh Mon-đun-ki-ri (Cămpuchia), đã cắm được 8 trên tổng số 16 mốc giới.

Bình Phước được giao tổ chức thực hiện phân giới cắm mốc trên tuyến biên giới với 18 vị trí (từ cột mốc số 61 đến số 78), 26 cột mốc (có 8 cột mốc đôi), trong đó có 1 cột mốc thiết kế theo tiêu chuẩn mốc loại A (mốc đại), xây dựng tại cửa khẩu quốc tế Hoa Lư (huyện Lộc Ninh), các cột mốc còn lại được thiết kế theo tiêu chuẩn mốc loại B của Bộ Xây dựng

Từ tháng 6-2006, tỉnh Tây Ninh đã phối hợp với 3 tỉnh giáp ranh Cămpuchia là: Svây-riêng, Prây-veng và Công-pông Chàm tiến hành đàm phán, khảo sát và tổ chức cắm mốc. Qua 5 năm triển khai công tác phân giới cắm mốc, hai bên đã xác định được 89 vị trí (trên tổng số 101 vị trí cắm mốc), trong đó, đã hoàn thành việc xây dựng 95 cột mốc (trên tổng số 110 cột dự kiến). Cột mốc đầu tiên khởi công xây dựng là cột mốc mang số hiệu 171 dựng tại cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, hoàn thành vào tháng 9-2006. Năm 2007, xây dựng cột mốc thứ hai, mang số hiệu 118 tại cửa khẩu quốc tế Xa Mát. Hai bên cũng đã phân giới được 43 km (trên tổng số 240 km đường biên giới). Từ nay đến cuối năm 2011, hai bên tiếp tục khảo sát thực địa, đàm phán để tiếp tục xác định 12 vị trí mốc còn lại, trong đó, 4 vị trí đã được lập biên bản kỹ thuật, báo cáo lên Ủy ban phân giới cắm mốc quốc gia.

Tuyến biên giới tỉnh Đồng Tháp với tỉnh Prây-veng nằm trên địa bàn các huyện Tân Hồng, Hồng Ngự và thị xã Hồng Ngự với chiều dài 47,8 km. Trong hai năm 2009 - 2010, đã xác định được 5 vị trí cắm mốc (trên tổng số 10 vị trí) và tiến hành cắm được 11 cột mốc (trên tổng só 17 cột mốc dự kiến), trong đó, có 8 cột mốc thuộc 4 vị trí đã xây dựng hoàn chỉnh và đưa vào sử dụng. Đồng Tháp có 4 cửa khẩu thông sang Cămpuchia là: Thông Bình, Dinh Bà, Mỹ Cân và Thường Phước.

Tuyến biên giới đi trên địa bàn Long An dài 133 km, đi qua 20 xã của 5 huyện biên giới là Đức Huệ, Thạnh Hóa, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng tiếp giáp với tỉnh Svây-riêng và 1 huyện của tỉnh Prây-veng của Cămpuchia. Dự kiến cắm 54 cột mốc, trong đó có 6 mốc đôi. Theo báo cáo từ nhóm liên hợp phân giới cắm mốc số 7, đến thời điểm này, đã có 32 cột mốc đã được nghiệm thu, bàn giao cho cơ quan chức năng của hai nước quản lý bảo vệ; 3 cột mốc đang được triển khai xây dựng, còn lại các mốc khác đang tiến hành khảo sát xác định vị trí mốc.

An Giang là tỉnh đầu nguồn sông Mê-kông trên phần đất của Việt Nam, có 98 km đường biên tiếp giáp với Cămpuchia. Từ An Giang đến thủ đô Phnôm-pênh thuận lợi cả hai đường thủy bộ. Đường thủy theo tuyến sông Tiền và ngả Bát-sắc, đường bộ có hai tuyến là: (1) từ cửa khẩu Khánh Bình đi qua tỉnh Cần Đan, và (2) từ cửa khẩu Tịnh Biên đi qua tỉnh Tà-kẹo, Cần-đan đến Phnôm-pênh với chiều dài 120 km, mất chừng 2 giờ 30 phút đi xe ô tô. Quốc lộ N1 Việt Nam dài khoảng 200 km cặp theo vành đai biên giới Việt Nam - Cămpuchia, nối liền các địa phương như Hà Tiên (Kiên Giang) với Tịnh Biên, Châu Đốc, Tân Châu (An Giang) qua Hồng Ngự, Tân Hồng (Đồng Tháp), rồi lên Long An về Tây Ninh. Với những lợi thế về vị trí địa lý thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biên giới và mở rộng quan hệ giao lưu hợp tác và đầu tư, Chính phủ đã ký quyết định cho phép An Giang thành lập 3 Khu kinh tế cửa khẩu là: Tịnh Biên, Khánh Bình và Vĩnh Xương. Đến 8-2011, hai bên đã xác định được 24 vị trí cắm mốc, xây dựng xong và bàn giao cho các lực lượng biên phòng bảo vệ, quản lý 12 cột mốc; 12 cột mốc còn lại đang thi công.

Kiên Giang có đường biên giới trên bộ dài 56,8 km tiếp giáp với tỉnh Căm-pốt và một phần tỉnh Tà-kẹo của Cămpuchia. Số cột mốc dự kiến cắm là 28 cột. Đến nay, đã xây dựng xong 14 cột mốc và xác định được vị trí cho 7 cột mốc. Còn lại 7 cột mốc, hai bên đang tiếp tục đàm phán xác định vị trí. Ngày 24-5-2011, Đoàn công tác đặc biệt của Ủy ban liên hợp biên giới hai nước Việt Nam - Cămpuchia đã cùng ra thực địa để xác định vị trí mốc giới số 314 nằm trên bờ biển tại khu vực tiếp giáp giữa thị xã Hà Tiên (Kiên Giang) và huyện Công-pông Trách thuộc nước bạn. Đây là mốc giới cuối cùng trên tuyến biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Cămpuchia.



















Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 08.09.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

KHU CĂN CỨ TÀ THIẾT

Đã định thôi chuyên đề "Biên giới Việt Nam- Cămpuchia" để chuyển qua một chuyên đề khác, nhưng sực nhớ ra, nói đến biên giới Việt Nam- Cămpuchia mà không nhắc tới Tà Thiết thì kể cũng... phí.

* * *
Theo quốc lộ 13, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 130 km, cách trung tâm thị trấn Lộc Ninh 17 km mét là địa danh Tà Thiết - Kroom nằm trên địa bàn xã Lộc Thành, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Ngày trước, dân trong vùng quen gọi nơi này là “rừng chính phủ” - chính là căn cứ của Quân ủy và Bộ Tư lệnh các lực lượng giải phóng miền Nam Việt, thường gọi tắt là căn cứ Tà Thiết.

Trước nữa, nơi này vốn là Sở chỉ huy tiền phương của ta khi mở chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, với 2 mục tiêu rõ rệt là giải phóng một phần các tỉnh Binh Long, Phước Long, Tây Ninh làm nơi đóng trụ sở của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và tạo bàn đạp uy hiếp Sài Gòn từ hướng Bắc và Tây Bắc.

Ngày 7/4/1972, ta giải phóng hoàn toàn một đơn vị hành chính cấp quận đầu tiên ở miền Nam, đó là quận Lộc Ninh thuộc tỉnh Bình Long. Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền quyết định dời căn cứ Quân ủy Miền và Bộ Tư lệnh Miền từ sóc Con Trăng trong chiến khu Dương Minh Châu (Tây Ninh) về đóng tại Tà Thiết. Lý do là so với vùng bắc Tây Ninh, khí hậu ở đây ít khắc nghiệt hơn, và có thế rừng giải phóng rộng lớn. Đặc biệt, Lộc Ninh là điểm cuối cùng của tuyến đường vận tải chiến lược Hồ Chí Minh, nên có điều kiện nắm bắt nhanh mọi diễn biến về chính trị, quân sự và thuận lợi cho sự chỉ đạo lãnh đạo, cũng như tiếp nhận vũ khí, lương thực, thực phẩm phục vụ cho chiến trường miền Nam. Việc chọn Tà Thiết cũng gây bất ngờ đối với địch, vì lâu nay, các căn cứ của Bộ chỉ huy Miền thường đóng trong rừng sâu, nay đàng hoàng chuyển dịch ra một khu vực có dân có rẫy.

Đầu tháng 3-1973, căn cứ Tà Thiết bắt đầu được xây dựng và được xác định đây là căn cứ cuối cùng của cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cuối tháng 1-1973, các đơn vị công binh Miền cấp tập mở những con đường mới phục vụ cho 3 cục là Cục tham mưu, Cục chính trị, và Cục hậu cần thuộc Bộ chỉ huy Miền di dời về căn cứ Tà Thiết. Đến đầu tháng 2-1973, các con đường đã nhanh chóng được hoàn tất. Cuối tháng 3-1973, tất cả các cơ quan trong Bộ Chỉ huy Miền và các đơn vị trực thuộc đã ổn định xong nơi ăn chốn ở.

Dưới tán những cây xoài cây me cổ thụ, xung quanh có rừng le đan chằng chịt bao bọc, là những công trình nhà ở và làm việc của các vị chỉ huy cao cấp: Tư lệnh Trần Văn Trà, Chính ủy Phạm Hùng, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Lê Đức Anh, Phó Tư lệnh Nguyễn Thị Định, Bí thư biệt khu Sài Gòn - Gia Định Võ Văn Kiệt.

Nhà của Tư lệnh Trần Văn Trà được dựng gần cửa rừng, ngoài một trảng trống, theo kiến trúc nhà sàn của đồng bào dân tộc Khơ-me, nằm đan xen giữa mươi nóc nhà của đồng bào, nhằm đánh lạc hướng địch. Sau nhà có một cây me cổ thụ và hàng cây thốt nốt. Mái lợp 4 tầng lá trung quân. Bên trong nhà kê vài chiếc bàn và chiếc giường ngủ. Sinh thời, ông từng chỉ đạo sát sao việc phục hồi khu di tích căn cứ Tà Thiết. Năm 1995, khu di tích hoàn thành, thì đúng một năm sau, ông thanh thản ra đi. Hiện tại, trong ngôi nhà có bày một bàn thờ để du khách có thể thắp nhang trước di ảnh vị tướng tài ba.

Nhà của Phó Tư lệnh Nguyễn Thị Định cách cửa rừng 3 km, đường đi đến đó vòng vèo lên xuống như đường rừng. Căn nhà nhỏ nhắn, diện tích chỉ nhỉnh hơn 10 m2, mái cũng lợp lá trung quân, có một chái phụ xoè ra ôm choàng vào một gốc bằng lăng. Các đồ đạc trong nhà rất giản dị: một tấm phản nằm, một bộ bàn ghế đai, và sau này, khi bà mất, có thêm một hương án.

Nhà của Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Lê Đức Anh cũng giản dị như vậy.

Cùng với nhà ở và nhà làm việc của các cấp chỉ huy là một loạt các công trình phục vụ khác như: hầm giao ban, nhà hội trường, bếp Hoàng Cầm nấu ăn không khói,... tất cả đều được xây dựng theo lối nhà nửa chìm nửa nổi để về đêm hạn chế ánh sáng đèn phát ra ngoài. Bên trên được lợp bằng lá trung quân để tránh bị máy bay địch phát hiện. Bốn phía xung quanh mỗi công trình đều có hệ thống giao thông hào thoát hiểm. Các hầm trú ẩn thường được làm kế cận nhà, chìm vào lòng đất, trên đặt mái bằng. Những hầm đặc biệt như hầm chỉ huy, hầm thông tin, hầm quân y… được làm rộng rãi để tiện hoạt động. Các hạng mục công trình đều đặt cách xa nhau từ 50 đến 200 mét.

Ngày 20-7-1974, tại Hội nghị quân chính Miền ở căn cứ Tà Thiết, đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục miền Nam thay mặt Trung ương Đảng tuyên bố quyết định thành lập Quân đoàn 4 (gồm 2 sư đoàn bộ binh 7 và 9, các trung đoàn 24 pháo binh, 71 phòng không, 429 đặc công và 3 tiểu đoàn thông tin). Tướng Hoàng Cầm được bổ nhiệm Tư lệnh quân đoàn 4. Đây là sự kiện quan trọng làm nức lòng cán bộ chiến sĩ, vì nó đánh dấu bước trưởng thành mới của chủ lực Miền.

Nhưng căn cứ Tà Thiết sau đó còn mang những sự kiện lịch sử đặc biệt hơn.

Đây là nơi từng diễn ra các cuộc hội họp và tiếp các phái đoàn cao cấp của Bộ Chính trị, Bộ Tổng tham mưu, Trung ương Cục miền Nam. Ngày 8-4-1975, đồng chí Lê Đức Thọ thay mặt Bộ Chính trị phổ biến Nghị quyết 7 của Trung ương về việc thành lập Bộ chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Sau đó, để có một tên gọi xứng tầm với một chiến dịch lớn nhất và có ý nghĩa nhất, kết thúc cuộc chiến tranh trường kỳ 21 năm chống Mỹ, Bộ Chỉ huy chiến dịch đề nghị Trung ương đặt tên cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Đáp ứng nguyện vọng đó, Bộ Chính trị đồng ý đổi tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định thành chiến dịch mang tên Bác - chiến dịch Hồ Chí Minh - bằng bức điện 37 TK do Tổng Bí thư Lê Duẩn ký. Bức điện lịch sử đó được phổ biến tại nhà hội trường trong căn cứ Tà Thiết.

Sau chiến thắng lịch sử mùa xuân 1975, nhằm bảo vệ, gìn giữ lịch sử, từ khi còn là tỉnh Sông Bé cũ, khu di tích đã được dành riêng 1.600 ha rừng tự nhiên nằm trọn trong rừng phòng hộ Tà Thiết, được coi là rừng đặc biệt, bất khả xâm phạm.

Đã hơn 4 năm trôi qua kể từ khi UBND tỉnh Bình Phước lập đề án quy hoạch 3.200 ha rừng tự nhiên, trong đó 500 ha là vùng lõi, nhằm bảo vệ khu tích Tà Thiết. Thế nhưng, đến nay, đề án này vẫn chỉ nằm trên giấy, và lâm tặc đã ngang nhiên vào khai thác gỗ, đốt rừng, gây ra những hậu quả tai hại.

Khu vực vùng đệm, nhà nước có chủ trương giao cho dân trồng cây gây rừng. Lợi dụng việc này, nhiều người có tiền ở Sài Gòn lên đây gạ gẫm mua lại đất lâm nghiệp của dân và thuê lại dân xung quanh trồng tre trúc, đu đủ, sả để bán cho thương nhân Đài Loan làm hương liệu tinh dầu. Đến mùa khô, nhiều vườn sả bốc cháy trông thật tang thương.

Bật mí, tôi đã lên Tà Thiết đôi ba lần.




Bản đồ Tà Thiết



Khu vực cấm



Kính chào quý khách



Cổng vào



Đường nhựa bên trong khu căn cứ



Cây cổ thụ



Bụi cây rậm rạp



Sơ đồ hướng dẫn tham quan



Sa bàn khu căn cứ



Phòng truyền thống - trưng bày các hiện vật



Bên trong phòng truyền thống



Phòng họp



Nhà thường trực



Nhà nửa chìm nửa nổi



Nhà hội trường



Nhà hội trường



Dây lá móng bò



Bảng giới thiệu



Mái lá trung quân



Giao thông hào



Giao thông hào



Nhà Tư lệnh Trần Văn Trà



Nhà Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Lê Đức Anh



Bên trong nhà đồng chí Lê Đức Anh



Nhà nữ tướng Nguyễn Thị Định



Nhà đồng chí Võ Văn Kiệt



Nghe thuyết minh



Hầm trú ẩn



Đồng chí Trần Văn Trà



Đồng chí Lê Đức Anh



Đồng chí Nguyễn Thị Định



Trưa 30-4-1975



Trại Đa-vít (trong sân bay Tân Sơn Nhất) - 3-5-1975.



Bà Ba Định



Bà Ba Định đứng bên Thủ tướng Phi-đen Cát-xtrô



Bảng chỉ dẫn lối đi



Bếp Hoàng Cầm



Điện thoại dùng tại căn cứ Tà Thiết



Đài bán dẫn và đèn pin



Chiếc đài bán dẫn lịch sử (hiện để ở Bảo tàng lịch sử quân sự - Hà Nội)



Ống dẫn xăng dầu xuyên Trường Sơn vào Lộc Ninh



Nồi nấu thuốc súng



Khuôn mìn



Xe vận tải



Cây bằng lăng do đồng chí Lê Đức Anh trồng


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 09.09.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc

TỔNG QUAN

Biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc đã hình thành trên thực tế từ hơn 1.000 năm trước. Nhưng phải đến cuối thế kỷ 19, biên giới hai nước mới được chính thức hoạch định lần đầu tiên, thông qua các cuộc đàm phán giữa chính quyền thực dân Pháp (với tư cách là Chính phủ bảo hộ của Bắc kỳ) và Triều đình nhà Thanh, Trung Quốc.

Sau khi cách mạng thành công ở mỗi nước, vào cuối thập niên 50 của thế kỷ 20, Việt Nam và Trung Quốc thoả thuận giữ nguyên trạng đường biên giới giữa hai nước, trên cơ sở Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và 1895, và sẽ tiến hành hoạch định lại đường biên giới vào thời gian thích hợp.

Giữa thập niên 70 của thế kỷ 20, Việt Nam và Trung Quốc chính thức đàm phán về biên giới. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, các cuộc đàm phán không mấy tiến triển và bị gián đoạn trong một thời gian dài.

Phải đến cuối năm 1991, khi Việt Nam và Trung Quốc chính thức bình thường hoá quan hệ, các cuộc đàm phán về biên giới lãnh thổ giữa hai nước, nhất là về biên giới trên đất liền, mới đi vào thực chất.

Trong quá trình hoạch định, xây dựng đường biên giới hoà bình hữu nghị, hai bên đã trải qua những điểm mốc đáng chú ý như sau:

- Ngày 7/11/1991: Hai nước ký Hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên đường biên giới.
















- Ngày 19/10/1993: Hai nước ký Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ.

- Ngày 30/12/1999: Hai nước ký Hiệp ước biên giới trên đất liền.

- Ngày 27/12/2001: Hai bên tiến hành cắm cột mốc đầu tiên tại cửa khẩu Móng Cái (Việt Nam) - Đông Hưng (Trung Quốc).

- Ngày 31/12/2008: Hai bên ký Tuyên bố chung về việc hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc.

- Ngày 23/2/2009: Hai bên long trọng tổ chức Lễ hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc.

- Ngày 18/11/2009: Hai bên ký 3 văn kiện: Nghị định thư phân giới cắm mốc, Hiệp định về quy chế quản lý biên giới, Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc.

- Ngày 14/7/2010: Hai bên tuyên bố, 3 văn kiện ký ngày 18/11/2009 chính thức có hiệu lực.


Toàn bộ đường biên giới, đo thật chi li, dài 1.449,566 km, trong đó, đường biên giới trên đất liền là 1.065,652 km, đường biên giới trên mặt nước (sông, suối) là 383,914 km, được đánh dấu bằng 1.971 cột mốc cho 1.378 vị trí mốc chính và 402 vị trí mốc phụ.

Mốc số không (trên thực tế không đánh số) nằm ở giao điểm đường biên giới ba nước Việt Nam- Lào- Trung Quốc là mốc lớn, được làm bằng đá hoa cương, có ba mặt, gắn quốc huy của ba nước, đặt trên đỉnh núi Khoan La San (Shi Ceng Da Shan - Thập tầng đại sơn), theo Hiệp định về ngã ba biên giới năm 2007 ký giữa CHXHCN Việt Nam, CHDCND Lào và CHND Trung Hoa.




Mốc cuối cùng (mã số 1378) là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt ở phía Đông Nam bãi Dậu Gót (Heng Shi Sha Zhou). Mốc được thiết kế đặt trên đế mốc bằng bê tông hình tròn, cao gần 10 mét, bảo đảm khi thủy triều lên (4 - 5 mét) vẫn nổi trên mặt nước. Từ mốc cuối cùng này, đường biên giới theo trung tuyến sông kéo đến giới điểm 62, và cũng là điểm bắt đầu của đường biên giới trên biển trong vịnh Bắc Bộ.










Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 18.10.2011, sửa lần 3
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 10.09.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TỪ BIÊN GIỚI NGĂN CÁCH ĐẾN BIÊN GIỚI HỢP TÁC

.......................................................................................LƯU VĂN LỢI
....................................................Nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ

Biên giới là một cái gì thật phổ quát. Người nông dân, người thành thị, nhà khoa học và người dân thường nghe nói đến biên giới là hiểu ngay vấn đề, tuy cách hiểu của mỗi ngươì một khác. Thế thì biên giới là cái gì?

Thời công xã nguyên thuỷ, giữa nơi cư trú của hai bộ lạc bao giờ cũng có một cánh rừng ở giữa, không một bộ lạc nào được đến đó săn bắn hái lượm, thế là biên giới đấy.

Tục truyền, ở giữa nước Nam ta và nước Trung Hoa có núi cỏ rẽ, cỏ nước Nam rẽ về nước Nam, cỏ bên Trung Hoa rẽ về Trung Hoa, do đó hình thành một vệt ngăn cách bên này với bên kia, thế là biên giới đấy.

Trang Tử cho rằng, trên đầu con ốc sên có hai nước, sừng bên trái là nước Súc, sừng bên phải là nước Nan, hai nước từng đánh nhau để tranh giành đất đai, thế là biên giới đấy.

Khi Đại đế Charlemane chia đế quốc cho ba con trai, có 120 viên quan được cắt cử ra để giải quyết việc phân chia bằng cách dùng bốn con sông Rôn, Sôn, Mơ-dơ và Etxsô để ngăn cách phần phía Tây với hai phần kia, do đó hình thành biên giới bốn sông, thế là biên giới đấy.

Ở châu Âu thời trung cổ, thậm chí sau đó, thường có nhiều cuộc hội kiến giữa các quân vương, thủ tục gặp rất phức tạp. Năm 926, vua nước Pháp Charles LeSimple gặp vua Henri nước Germani để ký một Hiệp ước hoà bình, phải gặp nhau giữa sông Ranh. Năm 1807, tại Tilsit, Napoléon đệ nhất, Hoàng đế nước Pháp gặp Alexandre đệ nhất, Hoàng đế nước Nga, hội kiến trên một chiếc bè lớn mà Napoléon ra lệnh đóng, đậu chính giữa dòng sông Niêmen, cách đều hai bờ sông, thế là biên giới đấy.

Từ một khái niệm mơ hồ lúc đầu, càng về sau biên giới càng gắn với vấn đề lãnh thổ để trở thành cụ thể: mới đầu là vùng biên giới, về sau là đường biên giới.

Đường biên giới có thể coi là bức tường ngăn cách giữa hai nước, không những giới hạn phạm vi lãnh thổ thuộc chủ quyền quốc gia của mỗi nước, mà còn là nơi qua lại của nhân dân hai nước, tại một số cửa khẩu do hai nước thoả thuận mở.

Khắp nơi trên thế giới trong hàng nghìn năm, biên giới đã ngăn cách các quốc gia, các dân tộc như thế.

Đầu thế kỷ 20, một nhà văn Phần Lan đã phải viết: “Ôi biên giới! Các Ngài hãy nhìn cái hố sâu kia chia cắt các vùng đất, các rừng, các núi, các tôn giáo, các niềm tin, các tình yêu, các mối hận thù như thế nào, thậm chí rạch trời làm đôi!”.

Là đường phân chia phạm vi lãnh thổ của hai quốc gia, biên giới ngăn cách hai quốc gia, hai dân tộc. Nhưng trên thực tế, biên giới là nơi tiếp xúc của nhân dân biên giới, là nơi trao đổi của họ về kinh tế, văn hóa, xã hội. Hai phương diện pháp lý, nhân văn đó, do chủ trương “biên giới ngăn
cách” của hai nhà nước, trở thành đối lập nhau, càng ngăn cách nhân dân hai bên biên giới.

Nhưng ngày nay, các quan hệ quốc tế được mở rộng, nhu cầu hợp tác giữa các quốc gia được tăng cường, quan hệ giữa các quốc gia ngày càng mở rộng. Chủ trương biên giới ngăn cách không còn thích hợp nữa, tất nhiên chủ quyền của hai nước láng giềng vẫn cần phân định rạch ròi.

Nói chung, ngày nay các quốc gia có nhu cầu hợp tác với nhau. Thực tế nhiều yếu tố thúc đẩy xu hướng hợp tác ở biên giới như nhu cầu bảo đảm chống ô nhiễm môi trường, nhu cầu hợp tác kinh tế ở địa phương, hợp tác trong việc bảo vệ và sử dụng tài nguyên thiên nhiên (phân chia nguồn nước, dùng nước làm thuỷ điện, bảo vệ và phân chia nguồn nước ngầm, chống ô nhiễm không khí, chống tiếng ồn, bảo vệ động vật, thực vật ...), bố trí lãnh thổ (xây dựng nhà máy điện hạt nhân, xây dựng sân bay ... ), chính sách đối với công dân nước này hay nước kia sang làm việc.

Sự mở rộng giao lưu giữa hai nước láng giềng có mặt tốt cần phát huy và mặt xấu cần đề phòng, như: vấn đề quá cảnh hàng hóa, vấn đề phát triển du lịch, vấn đề buôn lậu, vấn đề săn bắn trộm .... Vì mặt tốt người ta mở rộng giao lưu, còn các mặt tiêu cực thì tìm cách hạn chế và ngăn
cấm.

Thật ra, nói mở rộng giao lưu là cho qua lại dễ dàng, hợp tác ở một số nơi nào thôi, còn phần biên giới còn lại vẫn là biên giới ngăn cách, vẫn cần sự kiểm soát chặt chẽ.



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 18.10.2011, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 12.09.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC LÁNG GIỀNG

....................................................................LÊ MINH NGHĨA...................................
.........................................................Cố Trưởng ban Ban Biên giới của Chính phủ

Đây là báo cáo tại Hội thảo mùa Hè về “Phát triển khu vực châu Á Thái Bình Dương và tranh chấp Biển Đông” tổ chức tại thành phố New York vào 2 ngày 15 và 16-7-1998. Dù có nhiều chi tiết cần được cập nhật, (nhất là liên quan đến các nước ASEAN), song để tôn trọng tác giả (đã qua đời năm 2004), ở đây đăng lại nguyên bản, không sửa đổi. Lưu ý rằng, khi trình bày báo cáo này, tác giả đã về hưu, không còn giữ một chức vụ nào.

Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi đân tộc. Trong đó, lãnh thổ và biên giới quốc gia lại là hai yếu tố gắn bó với nhau như hình với bóng do đó pháp luật quốc tế hiện đại và tập quán quốc tế đều thừa nhận tính bất khả xâm phạm của lãnh thổ quốc gia và biên giới quốc gia. Cho đến đầu thế kỷ 20, luật pháp quốc tế vẫn còn thừa nhận việc dùng vũ lực để xâm chiếm một bộ phận hay toàn bộ lãnh thổ của một nước là hợp pháp. Nhưng ngay sau chiến tranh thế gìới thứ haì, Hiến chương Liên hợp quốc được thông qua năm 1945 có điều 2, khoản 4 cấm sử dụng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia. Cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ và quyết liệt của các dân tộc thuộc địa sau chiến tranh thế giới thứ hai, mà dân tộc ta là một đội ngũ tiên phong với chiến thắng lẫy lừng Điện Biên Phủ, đã dẫn tới nghị quyết cụ thể và đầy đủ hơn của Liên hợp quốc về vấn đề này.

Nghị quyết 1514 ngày 14/12/1960 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về việc trao trả nền độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa đã viết: "Mọi hành động vũ trang và mọi biện pháp đàn áp, bất kể thuộc loại nào, chống lạỉ các dân tộc phụ thuộc sẽ phải được chấm dứt để các dân tộc đó có thể thực hiện quyền của họ về độc lập hoàn toàn một cách hoà bình và tự do, và toàn vẹn lãnh thổ của họ sẽ được tôn trọng".

Nghị quyết 26/25 năm 1970 của Liên hợp quốc lại viết: "Các quốc gia có nghĩa vụ không được dùng đe doạ hoặc dùng vũ lực để xâm phạm các đường biên gỉới quốc tế hiện có của một quốc gia khác hoặc như biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan đến các biên giới của các quốc gia".

"Mọi hành động thụ đắc lãnh thổ bằng đe doạ hoặc bằng sử dụng vũ lực không được thừa nhận là hợp pháp".

Theo những tài liệu hiện có, thì triều đình phong kiến Việt Nam quan tâm chỉ đạo vấn đề biên giới - lãnh thổ từ khoảng thế kỷ thứ 10, sau khi giành lại quyền độc lập tự chủ với chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất năm 938, và ngày càng củng cố nền độc lập tự chủ đó.

Theo Tống sử, Tông Cảo, sứ giả nhà Tống được phái sang nước ta năm 990, sau chiến thắng Bạch Đằng lần thứ hai năm 981 đã báo cáo rằng khi họ đến "hải giới Giao Chỉ" thì Lê Hoàn (Vua Lê Đại Hành) đã phái 9 chiến thuyền và 300 quân lên đón và dẫn họ đến địa điểm quy định. Trong cuốn Lĩnh ngoại đại đáp (1178), Chu Khứ Phi một viên quan nhà Tống ở Quảng Đông, Quảng Tây đã viết rằng: dòng nước Thiên Phân Dao là định giới giữa 'bíển Giao Chỉ" và biển Quỳnh - Liêm (tức vùng biển Quỳnh Châu, Liêm Châu của Trung Quốc).

Như vậy là, ngay từ thế kỷ thứ 10 và 12 , sứ thần Trung Quốc và quan lại Trung Quốc đã biết, đâu là vùng biển Giao Chỉ (tức Việt Nam), đâu là vùng biển Trung Quốc.

Trong thế kỷ 11, đã diễn ra một số cuộc đàm phán biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc để đòi lại những vùng đất mà Trung Quốc còn chiếm, sau khi phải rút quân trong cuộc chiến tranh xâm lược năm 1076-1077, cuộc chiến tranh đã xuất hiện 4 câu thơ của Lý Thường Kiệt mà hai câu đầu khẳng định chủ quyền lãnh thổ:

Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.


(Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời).

Trong các cuộc đàm phán đó có cuộc đàm phán về biên giới năm 1078, do Đào Tòng Nguyên dẫn đầu; và cuộc đàm phán năm 1084, do Trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh dẫn đầu. Trong thư gửi cho vua nhà Tống đòi đất, vua Lý Nhân Tông viết: "Mặc dầu những đất ấy nhỏ bé, nhưng vẫn khiến lòng tôi đau xót, luôn luôn nghĩ đến cả trong giấc mộng."

Ngoài việc dùng quân sự đánh úp, giải phóng châu Quang Lang, ngay sau khi đại quân Tống rút lui, đấu tranh kiên trì của triều đình kết hợp với đấu tranh của nhân dân: bắn lén, bỏ thuốc độc cộng thêm khí hậu khắc nghiệt, khiến cho, theo Tống sử, đội quân đồn trú của nhà Tống mỗi năm tổn thất 70%-80% và năm 1079 mặc dầu đã đổi tên châu Quảng Nguyên thành Thuận Châu, vẫn đành coi là vùng "đất độc" và trả lại cho ta, và năm 1084 trả lại cho ta vùng Bảo Lạc, Túc Tang. Khi đi đàm phán biên giới, sứ thần ta đã tặng cho nhà Tống 5 thớt voi khiến cho, theo Đại việt sử ký toàn thư, người Tống có thơ rằng "Nhân tham Giao Chỉ tượng, khước thất Quảng Nguyên kim" nghĩa là, vì tham voi của Giao Chỉ mà bỏ mất vàng của Quảng Nguyên (họ đã đánh giá sai nguyên nhân dẫn đến việc trả lại đất).

Trong Lịch triều hiến chương loại chí viết năm 1821, Phan Huy Chú nhận xét là trong đàm phán về biên gìới đời Lý có hai mặt mạnh: một là có "oai thắng trận", hai là "sứ thần bàn bạc, lời lẽ thung dung, khôn khéo".

Nhà Trần đã bố trí các trọng thần phụ trách các hướng biên giới: Tướng quốc Thái sư Trần Thủ Độ phụ trách hướng Lạng Sơn, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật phụ trách hướng Hà Giang, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư phụ trách hướng Đông Bắc (Người thay Nhân Huệ Vương là con Hưng Đạo Đại Vương, Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng).

Thế kỷ 15, Vua Lê Thái Tổ đã cho khắc vào vách núi đá ở Hoà Bình để nhắc con cháu:

Biên phòng hảo vị trù phương lược
Xã tắc ưng tư kế cửu an


(Tạm dịch: việc biên phòng cần có phương lược phòng thủ; đất nước phải lo kế lâu dài).

Năm 1473, vua Lê Thánh Tông chỉ thị cho những người đi giải quyết vấn đề biên giới với nhà Minh "Chớ để họ lấn dần, nếu các ngươi dám lấy một thước núi, một tấc sông tổ tiên để lại mà đút mồi cho giặc, thì tội phải tru di".

Năm 1466, khi quân Minh cướp bóc vùng Thông Nông, Bảo Lạc thuộc tỉnh Cao Bằng, một mặt nhà vua phản kháng đòi nhà Minh phải bồi thường, mặt khác ra lệnh đầy 2 người chỉ huy ở Cao Bằng đi xa về tội phòng giữ biên giới không cẩn mật, và ra sắc dụ cho các tỉnh biên giới: "Người bầy tôi giữ đất đai của triều đình, chức phận là phải bảo toàn cảnh thổ, yên ủy nhân dân, bẻ gẫy những mũi nhọn tiến công, chống lại những kẻ khinh rẻ nước mình"

Bộ luật Hồng Đức công bố năm 1483 có điều khoản 74, 88 về bảo vệ đất đai ở biên giới như sau: "Những người bán ruộng đất ở biên cương cho người nước ngoài thì bị tội chém"; Quan phường xã biết mà không phát giác cũng bị tội; "Những người đẵn tre, chặt gỗ ở nơi quan ải thì bị xử tội đồ" (đồ là đầy đi làm khổ sai).

Chính nhờ cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ, thông minh, khôn khéo của các thế hệ Việt Nam nối tiếp, mặc dầu trong tình hình so sánh lực lượng rất chênh lệch, phong kiến phương Bắc luôn luôn có ý đồ thôn tính lấn chiếm, nhưng biên cương phía Bắc nước ta vẫn hình thành rõ rệt và ổn định về cơ bản từ ngàn năm nay.

Tạp chí Géographer của Vụ tình báo và nghiên cứu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 29/10/1964 thừa nhận: "Sau hơn 10 thế kỷ bị đô hộ, năm 939 Bắc Kỳ phá vỡ ách đô hộ của Trung Quốc và thành lập vương quốc Đại Cồ Việt ... Nhà nước mới này đã bảo vệ được nền độc lập của mình ... Một đường biên giới gần giống như ngày nay dường như đã tồn tại giữa hai quốc gia" cách đây 10 thế kỷ.

Trong bài "Tổng Tụ Long và đường biên giới Trung Hoa - Bắc Kỳ" năm 1924, Bonifacy, tư lệnh đạo quan binh Hà Giang đầu thế kỷ 20 viết: "Đường biên giới lịch sừ giữa Việt Nam và Trung Hoa đã được xác định một cách hoàn hảo (parfaitement défini). Khi cần, người Việt Nam biết bảo vệ các quyền của họ, mặc dầu người Trung Hoa cho rằng, không thể có đường biên giới giữa Việt Nam và Thiên Triều".

Điều mà con cháu ngày nay vô cùng cảm kích, khâm phục, biết ơn là ông cha ta chẳng những chăm lo bảo vệ vững chắc biên cương đất liền mà còn rất quan tâm xác lập và bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên vùng biển.

Tiếp theo hành động buộc sứ thần Trung Quốc phải thừa nhận "hải giới" Việt Nam cuối thế kỷ thứ 10, nhà Lý đã thành lập trang Vân Đồn để quản lý vùng biển Đông Bắc; nhà Trần nâng trang Vân Đồn thành trấn Vân Đồn trực thuộc triều đình; Nhà Lê đặt tuần kiểm ở các cửa biển để quản lý biển, thu thuế các tầu thuyền nước ngoài. Do vậy, chủ quyền Việt Nam trên các đảo vùng biển Đông Bắc được xác lập sớm. Đến thế kỷ 19, khi Pháp và nhà Thanh đàm phán về vùng biển trong Vịnh Bắc bộ thì không có tranh chấp về chủ quyền đối với các đảo ở vùng này, nhà Thanh phải thừa nhận tất cả các đảo ở phía Tây đường kình tuyến Paris 105o43' Đ là thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Năm 1171, 1172, vua Lý Anh Tông đích thân đi "tuần tra các hải đảo ngoài biển ở địa giới các phiên bang Nam, Bắc, tìm hiểu đường đí, vẽ bản đồ và ghi chép phong vật".

Ở phía Nam, các chúa Nguyễn sau khi xác lập chủ quyền Việt Nam đối với các đảo dọc bờ biển miền Trung và miền Nam: Cồn Cỏ, Ly Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, đầu thế kỷ 18 đã xác lập chủ quyền Việt Nam trên các đảo trong Vịnh Thái Lan. Khi đặt ách thống trị trên Nam Kỳ và Cămpuchia, các quan chức Pháp đã tiến hành khảo sát vùng biển giữa hai nước Việt Nam, Campuchia và đứng trước tình hình tất cả các đảo trên vùng biển này về mặt hành chính đều thuộc tỉnh Hà Tiên của Việt Nam. Ngày 25/3/1873 chuẩn đô đốc thống đốc Nam Kỳ Krantz đã thừa nhận thực tế đó trong Nghị định quy định đảo Phú Quốc và tất cả các đảo trên vùng biển giữa Nam Kỳ và Cămpuchia được tách khỏi tỉnh Hà Tiên, lập thành một quận trực thuộc Thống đốc Nam Kỳ.

Đối với các đảo xa bờ, theo chính sử Việt Nam và theo nhiều nhân chứng nước ngoài, từ thế kỷ 17, các chúa Nguyễn với. danh nghĩa Nhà nước đã thành lập các đội Hoàng Sa, Bắc Hải hàng năm ra khai thác và quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tiếp đó, triều Nguyễn rất quan tâm đến việc củng cố chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo, các hoàng đế Gia Long, Minh Mạng liên tiếp phái thuỷ quân ra Hoàng Sa - Trường Sa khảo sát, đo đạc, vẽ bản đồ, lập miếu, dựng bia. Theo Đại Nam thực lục chính biên, trong 3 năm: 1833, 1835, 1836 vua Minh Mạng liên tiếp có chi thị về Hoàng Sa.

Không chỉ chăm lo khai thác hai quần đảo, nhà vua Việt Nam còn lo bảo đảm an toàn cho tàu thuyền Việt Nam và các nước qua lại vùng biển xung quanh hai quần đảo. Năm 1833, vua Minh Mạng đã chỉ thị cho Bộ Công rằng: "Trong hải phận Quảng Nghĩa, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu; không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường bị nạn. Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm phái người tới đó trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối xanh tốt, người dễ nhận biết, có thể tránh được nạn mắc cạn".[1]

Trong một tài liệu viết năm 1768, đô đốc Pháp D'Estaing, người nhận nhiệm vụ nghiên cứu kế hoạch tiến công vào Việt Nam đã viết rằng: "Việc đi lại giữa quần đảo đá Paracel (tức Hoàng Sa) và đất liền còn khó khăn hơn việc đi lại ngoài biển khơi. Thế mà các thuyền nhỏ của xứ này thường qua lại vùng quần đảo". D'Estaing đánh giá các thủy thủ Việt Nam là "những người quen sông nước và là các thủy thủ giỏí". Trong một tài liệu khác viết vào cuối năm 1758 đầu năm 1759, D'Estaing còn nói ở Huế có tới 400 khẩu pháo hầu hết là của Bồ Đào Nha thu lượm từ các xác tầu đắm ở Paracel[2].

Trong cuốn "Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" xuất bản ở Paris năm 1996, giáo sư Monique Chemillier Gendreau, chủ tịch Hội luật gia Châu Âu đã vìết; "Khi có Hiệp ước bảo hộ của Pháp năm 1884, Việt Nam đã nắm giữ không có cạnh tranh và trong khoảng gần hai thế kỷ, một quyền (un droit) đối với các quần đảo (Hoàng Sa, Trường Sa), theo đúng chế độ luật pháp của thời kỳ đó".[3]

Từ 1884, Chính quyền Pháp ở Đông Dương đã tiếp tục thực hiện và củng cố chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo: tiến hành khảo sát khoa học, dựng bia chủ quyền, dựng đèn biển, lập trạm khí tượng, đài vô tuyến điện, đưa quân ra đồn trú, thành lập đơn vị hành chính trên quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên và sát nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.

Sau thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, nước Việt Nam giành lại được độc lập thống nhất hoàn toàn, vấn đề bảo vệ biên giới, bảo vệ lãnh thổ toàn vẹn của tổ quốc mới lại hoàn toàn thuộc về trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam.

Năm 1954, Bác Hồ nói ở đền Hùng: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước" và năm 1961, mặc dầu mới có một nửa nước được giái phóng, Bác Hồ đã nóì: "Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó". Bác Hồ đã chỉ thị cho chúng ta phải nhận thức rõ tình hình mới, phải chăm lo bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Sau này, tưân theo chỉ thị của Bác Hồ, hiến pháp Việt Nam năm 1992 đã khẳng định lãnh thổ Việt Nam "bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời" và 'Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm".

Trong bối cảnh địa lý và chính trị của nước ta sau năm 1975 , trước sự phát trtển của luật pháp quốc tế về biển, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải giải quyết một loạt vấn đề biên giới - lãnh thổ với các nước láng giềng:

1. Giữa Việt Nam, Lào, Cămpuchia cần có một đường biên giới có giá trị pháp lý quốc tế, do các nhà nước có thẩm quyền ký kết, tạo ra cơ sở vững chắc để xây dựng một đường biên giới hữu nghị lâu dài giữa ba dân tộc.

2. Việt Nam cần xác định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa với Indonesia, Thái Lan, Malaysia; vì theo các quy định mới của luật biển quốc tế thì vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của nước ta và các nước đó chồng lên nhau.

3. Việt Nam cần giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ trên biển với Philippin, Malaysia, vì hai nước này có yêu sách về chủ quyền đối với một phần hoặc đại bộ phận quần đảo Trường Sa.

4. Với Trung Quốc, Việt Nam phải giải quyết các vấn đề sau:

- Đường biên giới trên đất liền;

- Đường biên giới trong Vịnh Bắc bộ;

- Các vấn đề chủ quyền lãnh thổ và thềm lục địa trên Biển Đông: từ năm 1909, Trung Quốc bắt đầu có tranh chấp quần đảo Hoàng Sa và từ những năm 1930, bắt đầu có hành động tranh chấp quần đảo Trường Sa (sẽ trình bày cụ thể ở dưới).

- Vấn đề ranh giới vùng thông báo bay (FIR) ngoài khơi Trung bộ - Việt Nam, Trung Quốc đưa ra đề nghị lập FIR Sanya lấn vào phần phía Bắc FIR Hồ Chí Minh, mà Hàng không dân dụng quốc tế giao cho Hồng Công tạm thời quản lý năm 1975, chủ yếu là họ muốn quản lý toàn bộ vùng trời trên quần đảo Hoàng Sa và lấn vào phần phía Đông FIR Hà Nội trên Vịnh Bắc Bộ.

Với chủ trương nhất quán là giải quyết mọi tranh chấp về biên giới lãnh thổ với các nước láng giềng bằng thương lượng hoà bình, Việt Nam đã và đang giải quyết các vấn đề được đặt ra như sau:

1. Với Lào

Tháng 2/1976, lãnh đạo hai nước đã cho ý kiến về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước. Đường biên giới giữa Việt Nam và Lào là đường bỉên giới trên bản đồ của Sở Địa dư Đông Dương năm 1945 tỷ lệ 1/100 000 (năm 1945 là thời điểm hai nước tuyên bố độc lập).

Như vậy là, lãnh đạo Việt Nam và Lào đã cho nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới hai nước theo nguyên tắc Uti-possidétis ("anh hãy làm chủ cái anh đang có"), một nguyên tắc đã được áp dụng ở Châu Mỹ la-tinh trong thời kỳ phi thực dân hoá và đã được Tổ chức thống nhất Châu Phi chấp nhận với nội dung "tôn trọng các đường biên giới tồn tại vào lúc mà các nước Châu Phi giành được độc lập".

Dựa trên nguyên tắc Uti possidétis, qua 4 đợt đàm phán trong Uỷ ban liên hợp Việt - Lào về hoạch định biên giới, ngày 18/7/1977, hai nước ký Hiệp ước Hoạch định biên giới. Việc phân giới cắm mốc đường biên giới dài 2.067 km bắt đầu tiến hành ngày 25/7/1978 và đến 24/8/1984 thì kết thúc.

Ngày 24/1/1986, hai nước ký Hiệp ước bổ sung ghi nhận những điểm điều chỉnh đường biên giới đã hoạch định năm 1977, ký Nghị định thư ghi nhận kết quả phân gìới cắm mốc. Ngày 1/3/1990, hai nước ký Hiệp định quy chế biên giới. Thi hành Hiệp định này, hàng năm có cuộc họp giữa Đoàn đại biểu biên giới hai nước với sự có mặt của đại diện các Bộ, ngành liên quan và các tỉnh biên giới của hai nước để kiểm điểm việc thi hành Hiệp định quy chế biên giới.

2. Với Cămpuchia

Trước năm 1964, quan điểm cơ bản của phía Cămpuchia về biên giới lãnh thổ giữa hai nước là đòi Việt Nam trả lại cho Campuchia 6 tỉnh Nam Kỳ và đảo Phú Quốc.

Giai đoạn từ năm 1964 đến 1967, Chính phủ Vương quốc Cămpuchia do Quốc trưởng Norodom Sihanouk đứng đầu chính thức đề nghị Việt Nam công nhận Cămpuchia trong đường biên giới hỉện tại, cụ thể là đường biên giới trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương thông dụng trước năm 1954, với 9 điểm sửa đổi, tổng diện tích khoảng 100 km2. Trên biển, phía Cămpuchia đề nghị các đảo phía Bắc đường do Toàn quyền Brévié vạch năm 1939 (gọi tắt là đường Brévié) là thuộc Cămpuchia, cộng thêm quần đảo Thổ Chu và nhóm phía Nam quần đảo Hải Tặc.

Trong năm 1967, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã chính thức công nhận và cam kết tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của Cămpuchia trong đường biên giôi hiện tại (công hàm của Việt Nam không nói tới vấn đề chủ quyền đối với các đảo trên biển và 9 điểm mà Cămpuchia đề nghị sửa đổi về đường biên giới trên bộ).

Ngày 27/12/1985, Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Cămpuchia đã ký Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia, trên cơ sở thoả thuận năm 1967. Thi hành Hiệp ước, hai bên đã tiến hành phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới từ tháng 4/1986 đến tháng 12/1988 được 207 km (trên tổng số 1.137 km). Đến tháng 1/1989, theo đề nghị của phía Cămpuchia, hai bên tạm dừng việc phân giới cắm mốc.

Trên biển, ngày 7/7/1982, hai Chính phủ ký Hiệp định thiết lập vùng nước lịch sử chung giữa hai nước và thỏa thuận: sẽ thương lượng vào thời gian thích hợp để hoạch định đường biên giới trên biển, lấy đường gọi là đường Brévié được vạch ra năm 1939 với tính chất là đường hành chính và cảnh sát, làm đường phân chia đảo giữa hai nước.

Với Chính phủ Cămpuchia thành lập sau khi ký Hiệp ước hoà bình về Cămpuchia năm 1993: Năm 1994, 1995, Thủ tướng Chính phủ hai nước đã thoả thuận thành lập một nhóm làm việc cấp chuyên viên để thảo luận và giải quyết vấn đề hoạch định biên giới giữa hai nước và thảo luận những biện pháp cần thiết để duy trì an ninh và ổn định trong khu vực biên giới, nhằm xây dựng một đường biên giới hoà bình, hữu nghị lâu dài giữa hai nước. Hai bên thoả thuận, trong khi chờ đợi giải quyết những vấn đề còn tồn đọng về biên giới thì duy trì sự quản lý hiện nay.

Thực hiện thoả thuận giữa Thủ tướng Chính phủ hai nước nhân dịp Thủ tướng Ung Huốt sang thăm Việt Nam đầu tháng 6/1998, nhóm chuyên viên liên hợp về biên giới Việt Nam - Cămpuchia đã họp tại Phnom Pênh từ ngày 16 đến ngày 20/6/1998. Trong cuộc họp này, hai bên đã trao đổl về việc tiếp tục thực hiện các Hiệp ước, Hiệp định về biên giới giữa hai nước đã ký trong những năm 1982, 1983, 1985. Hai bên đã dành nhiều thời gian thảo luận một số vấn đề về quan điểm của hai bên liên quan đến biên giới biển và biên giớl trên bộ với mong muốn xây dựng đường biên giới giữa hai nước trở thành đường biên giới hoà bình, hữu nghị và hợp tác lâu dài.

Hai bên đã thống nhất kìến nghị lên Chính phủ hai nước tiến hành thành lập Uỷ ban liên hợp với những nhiệm vụ:

- Soạn thảo Hiệp ước về hoạch định biên giới biển và Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia trình lên chính phủ hai nước.

- Chỉ đạo việc phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới.

- Giải quyết mọi vấn đề liên quan đến việc thực hiện Hiệp định về quy chế biên giới giữa hai nước.

Qua trao đổi về đường biên giới biển, phía Cămpuchia kiên trì quan điểm muốn lấy đường do Toàn quyền Brévié vạch ra tháng 1/1939 làm đường biên giới biển của hai nước.

Ta đã nói rõ là ta không chấp nhận đường Brévié làm đường biên giới biển giữa hai nước, vì:

1. Đường Brévié không phải là một văn bản pháp quy, chỉ là một bức thư (lettre) gửi cho Thống đốc Nam Kỳ, đồng gửi cho Khâm sứ Pháp ở Campuchia. Văn bản đó chỉ có mục đích giải quyết vấn đề phân định quyền hành chính và cảnh sát đối với các đảo, không giải quyết vấn đề quy thuộc lãnh thổ;

2. Cả hai bên không có bản đồ đính kèm theo văn bản Brévié, vì vậy hiện nay ít nhất lưu hành 4 cách thể hiện đường Brévté khác nhau: Đường của Pôn Pốt, đường của Chính quyền miền Nam Việt Nam, đường của ông Sarin Chhak trong luận án tiến sỹ bảo vệ ở Paris sau đó được xuất bản với lời tựa của Quốc trưởng Norodom Sihanouk; và đường của các học giả Hoa Kỳ.

3 . Nếu chuyển đường Brévié thành đường biên giới biển thì không phù hợp với luật pháp quốc tế, thực tiễn quốc tế, quá bất lợi cho Việt Nam, và nên lưu ý là vào năm 1939, theo luật pháp quốc tế lãnh hải chỉ là 3 hải lý, chưa có quy định về vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa, thì đường Brévié làm sao có thể giải quyết vấn đề phân định lãnh hải theo quan điểm hiện nay và phân định vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa.

Phía Việt Nam đã đề nghị hai bên thoả thuận: áp dụng luật biển quốc tế, tham khảo thực tiển quốc tế, tính đến mọi hoàn cảnh hữu quan trên vùng biển hai nước để đi đến một giải pháp công bằng trong việc phân định vùng nước lịch sử, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của hai nước.

3. Với Indonesia

Việt Nam và Indonesia cách nhau 250 hải lý vùng biển tính từ Côn Đảo và Natuna Bắc là hai đảo xa nhất của hai nước đối diện nhau do đó trước kia không có vấn đề biên giới giữa hai nước (nếu tính từ bờ biển Việt Nam và bờ biển Bornéo thì cách nhau trên 400 hải lý). Đến nay do sự phát tnển của luật pháp quốc tế về biển, hai bên phải phân định ranh giới vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế.

Năm 1972, Indonesia và chính quyền Sài Gòn đàm phán 1 vòng, quan điểm của Indonesia là phân định theo trung tuyến giữa các đảo xa nhất của hai bên, quan điểm của Sài gòn là trung tuyến Giữa bờ biển Việt Nam và Bornéo, hai quan điểm tạo nên vùng chồng lấn rộng khoảng 37.000 km2. (Đảo Natuna Bắc là đảo xa nhất của Indonesia đối diện với miền Nam Việt Nam cách Bornéo 320 km; Côn Đảo, đảo đối diện với Natuna bắc chỉ cách đất liền 90 km).

Từ năm 1978 CHXHCN Việt Nam và Indonesia bắt đầu đàm phán. Indonesia giữ quan điểm cũ, quan điểm của ta dựa vào định nghĩa thềm lục địa là sự kéo dài tự nhiên của lục địa, do đó ranh giới nên theo đường rãnh ngầm ngăn cách sự kéo dài tự nhiên của hai thềm lục địa, hai quan điểm tạo ra vùng tranh chấp lúc đầu rộng khoảng 92.000 km2.

Qua 10 vòng đàm phán hai bên đã dần dần thu hẹp được vùng tranh chấp xuống còn khoảng 4.500 km2 nhưng đầu năm 1993 Indonesia đề nghị huỷ bỏ toàn bộ kết quả đàm phán từ 1978 dến 1992 và đàm phán lại từ đầu.

Cho đến nay, qua 5 vòng trao đổi không chính thức, hai bên chưa đi đến thoả thuận nối lại đàm phán.

4. Với Malaysia

Giữa Việt Nam và Malaysia có một vùng chống lấn vùng biển và thềm lục địa rộng khoảng 2.800km2. Vùng này hình thành bởi đường ranh giới thềrn lục địa do chính quyền Sài Gòn công bố năm 1971 và đường ranh giới thềm lục địa do Malaysia công bố năm 1979. Sở dĩ có sự khác nhau đó là do Sài Gòn có tính đến đảo Hòn Khoai cách đất liền 6,5 hải lý còn Malaysia đã bỏ qua đảo Hòn Khoai.

Tháng 5/1992 Việt Nam và Malaysia đã ký thoả thuận hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn, giao cho các công ty dầu lửa của hai bên ký các dàn xếp thương mại và tiến hành hợp tác thăm dò, khai thác rồi phân chia sản phẩm; việc phân định vùng chồng lấn sẽ giải quyết sau. Việc hơp tác giữa hai ngành aầu khí đang tiến triển bình thường.

Ngoài ra vùng khai thác chung giữa Thái Lan và Malaysia rộng 7.250 km2 có 800 km2 liên quan đến Việt Nam. Ba nước đã thoả thuận sẽ cùng nhau giải quyết khu vực này và cuộc họp đầu tiên đã diễn ra tháng 2/1998 vòng hai sẽ họp vào nửa cuối năm 1998 để bàn về khả năng khai thác chung vùng chồng lấn.

Giữa Việt Nam và Malaysia còn có tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Trường Sa do Malaysia có yêu sách đối với vùng phía Nam quần đảo Trường Sa và trên thực tế trong 2 năm 1993-1994 Malaysia đã cho quân chiếm ba bãi đá ngầm ở Nam quần đảo Trường Sa: Hoa Lau, Kỳ Vân, Kiệu Ngựa.

Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Malaysia nhiều lần khẳng định sẽ giải quyết mọi tranh chấp giữa hai nước bằng thương lượng hoà bình.

5. Với Thái Lan

Giữa Việt Nam và Thái Lan có hai vấn đề trên biển phải giải quyết:

a) Phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

b) Giải quyết vấn đề tầu thuyền đánh cá Thái Lan thường xuyên vi phạm vùng biển Việt Nam và có trường hợp Thái Lan đã dùng hải quân, không quân bảo vệ các hoạt động này.

Về vấn đề thứ nhất giữa hai nước có một vùng chồng lấn rộng khoảng 6000 km2 do Việt Nam có tính đến hiệu lực của đảo Thổ Chu còn Thái Lan thì phủ nhận hiệu lực của đảo Thổ Chu.

Từ năm 1992, hai bên đàm phán qua 9 vòng cấp chuyên viên.

Ngày 9/8/1997 hai nước ký Hiệp định về phân định ranh giới trên biển giữa hai nước. Theo hiêp định, Việt Nam được 32,5% diện tích vùng chồng lấn.

Về vấn đề thứ hai: Uỷ ban hỗn hợp Việt Nam - Thái Lan về thiết lập trật tự trên biển đã họp hai vòng. Hai bên đã thoả thuận phối hơp trong việc giáo dục ngư dân, đi tới tổ chức tưần tra chung, thiết lập kênh liên lạc cảnh báo vi phạm, hơp tác tổ chức điều tra nguồn lợi biển giữa hai nước.

Việc giải quyết dứt điểm vấn đề này cũng còn đòi hỏi một thời gian.

6. Với Philippin

Philippin vốn là nước không có quyền gì đối với quần đảo Trường Sa, vì Hiệp định Paris năm 1898 giữa Mỹ và Tây Ban Nha, theo đó Tây Ban Nha giao Philippin cho Mỹ, đã xác định phạm vi quần đảo Philippin trên bản đồ kèm theo Hiệp định, theo bản đồ đó, nước Philippin không bao gồm 1 đảo nào của quần đảo Trường Sa.

Từ năm 1951, Philippin bắt đầu chuẩn bị dư luận để nhẩy vào tranh chấp quần đảo Trường Sa với lời tuyên bố của Tổng thống Philippin Quirino rằng, quần đảo Spratly (tức Trường Sa) phải thuộc về Philippin, vì nó ở gần Philippin.

Từ năm 1971-1973, Philippin cho quân đội ra chiếm đóng 5 đảo trên quần đảo Trường Sa và năm 1977-1978 chiếm thêm hai đảo nữa. Cả 7 đảo nằm ở phía Bắc quần đảo. Họ ra sức cửng cố vị trí trên quần đảo: Chở đất ra đảo để trồng dừa, cạp thêm đất ra biển để làm đường băng cho máy bay chiến đấu, mở đường hàng không thường kỳ, tổ chức đánh cá, xây dựng kho ướp lạnh, tổ chức thăm dò, khai thác dầu khí ở Đông Bắc quần đảo (có tin nói là sản lượng dầu khai thác ở đây đảm bảo 10% nhu cầu dầu của Philippin).

Đầu năm 1979, Philippin công bố sắc lệnh của Tổng thống Marcos ký ngày 11/6/1978 coi toàn bộ quần đảo Trường Sa (trừ đảo Trường Sa) là lãnh thổ Philippin và đặt tên cho quần đảo là Kalayaan.

Năm 1980, Philippin mở rộng lấn chiếm xuống phía Nam quần đảo, chiếm đóng đảo Công Đo cách đảo gần nhất mà họ chiếm đóng cũ gần 150 hải lý.

Từ năm 1978 đến 1994, Việt Nam và Philippin đã thoả thuận ở cấp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Thủ tướng Chính phủ, Tổng thống và Chủ tịch nước là sẽ giải quyết mọi tranh chấp giữa hai nước bằng thương lượng hoà bình trên tinh thần hữu nghị, hoà giải, tin cậy lẫn nhau.

Ngày 7/11/1995 hai Bộ Ngoại giao Việt Nam - Philippin đã đạt được thoả thuận về 9 nguyên tắc ứng xử cơ bản đối với vùng tranh chấp trong đó có các điểm chính là

- Hai bên đồng ý thông qua thương lượng, hoà bình tìm kiếm giải pháp cơ bản cho vấn đề tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa.

- Kiềm chế không sử dụng hay đe doạ sử dụng vũ lực, thúc đẩy hợp tác song phương hoặc đa phương về bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học, khí tượng, chống thảm hoạ, tìm kiếm cứu nạn, chống cướp biển và kiểm soát ô nhiễm môi trường, bảo vệ tài nguyên biển ở quần đảo Trường Sa.

- Bảo đảm tự do hàng hải theo quy định của luật quốc tế.

- Từng bước tăng cường hợp tác và giải quyết dứt điểm tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa.

Cuối tháng 4 đầu tháng 5/1996, hai bên đã thực hiện thành công chuyến khảo sát chung về khoa học biển tại khu vực quần đảo Trường Sa và Biển Đông. Hai bên sẽ tiếp tục tổ chức khảo sát khoa học chung trên khu vực quần đảo và trên Biển Đông. Ủy ban hỗn hơp Việt Nam - Philippin do Bộ trưởng Ngoại giao hai nước dẫn đầu họp tại Hà Nội tháng 1/1997 đã thoả thuận về một số biện pháp xây dựng lòng tin trên quần đảo, trong đó có việc trao đổi các cuộc viếng thăm của các chỉ huy quân sự và lực lượng đồn trú của hai bên trên quần đảo.

7. Với Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

Năm 1957-1958, có sự trao đổi giữa Trung ương Đảng hai nước về biên giới. Ngày 2/11/1957, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam gửi thư cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đề nghị: "Vấn đề biên giới là một vấn đề quan trọng cần giải quyết theo những nguyên tắc pháp lý đang có hoặc được xác định lại do Chính phủ hai nước quyết định; nhất thiết cấm các nhà chức trách và các đoàn thể địa phương không được thương lượng với nhau để cắm lại mốc giới hoặc cắt nhượng đất cho nhaư". Hàm ý của bức thư là hai bên cần căn cứ vào các Công ước về hoạch định biên giới mà Pháp (đại diện cho xứ Bắc kỳ nằm trong Liên bang Đông Dương) và triều đình nhà Thanh đã ký cuối thế kỷ trước để giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước.

Tháng 4/1958, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã trả lời đồng ý với ý kiến của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về công tác biên giới Việt - Trung.

Cuộc đàm phán đầu tiên về biên giới giữa hai nước là về Vịnh Bắc bộ, diễn ra từ 15/8/1974 - 22/11/1974 tại Bắc Kinh, cấp Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Cuộc đàm phán mới chỉ có tính cách tìm hiểu quan điểm của nhau và không đi tới thoả thuận nào.

Cuộc đàm phán thứ hai về biên giới là về đường biên giới trên bộ và về Vịnh Bắc bộ, diễn ra từ tháng 10/1977 đến tháng 6/1978 tại Bắc Kinh, cấp Thứ trưởng Ngoại giao. Cuộc đàm phán này cũng không đi tới thoả thuận nào.

Từ tháng 2 năm 1979 đến 1986, diễn ra chiến tranh và xung đột quân sự trên vùng biên giới, đặc biệt là trên biên giới các tỉnh Hà Giang, Lạng Sơn, ác liệt và kéo dài nhất là ở biên giới tỉnh Hà Giang.

Từ năm 1991, hai nước khôi phục quan hệ bình thường. Qua hai vòng đàm phán về biên giới cấp chuyên viên và một vòng đàm phán cấp Chính phủ trong hai năm 1992, 1993, ngày 19/10/1993 hai nước ký "Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa".

Thực hiện thoả thuận trên, hai bên đã tổ chức 3 diễn đàn đàm phán cấp chuyên viên: về biên giới trên bộ; về biên giới trong Vịnh Bắc bộ; về các vấn đề trên Biển Đông, và một diễn đàn đàm phán cấp Chính phủ để xem xét các vấn đề do các nhóm chuyên viên trình lên.

7.1. Về biên giới trên bộ

Thực hiện thoả thuận ngày 19/10/1993 là căn cứ vào các Công ước Pháp - Thanh các năm 1887 và 1895 mà Pháp và Trung Quốc đã ký cuối thế kỷ trước để "xác định lại toàn đường biên giới trên bộ giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc". Hai bên đã tiến hành họp 12 vòng nhóm công tác về biên giới trên bộ trước năm 2000.[4]

7.2. Về đường biên giới trong Vịnh Bắc Bộ

Hai bên đã họp 10 vòng nhóm công tác về Vịnh Bắc bộ, và 6 vòng tổ chuyên gia về Vịnh Bắc Bộ, để thực hiện thoả thuận về nguyên tắc phân định Vịnh Bắc bộ là "áp dụng luật biển quốc tế và tham khảo thực tiễn quốc tế, để tiến hành đàm phán phân định Vịnh Bắc bộ", "theo nguyên tắc công bằng và tính đến mọi hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh Bắc bộ để đi đến một giải pháp công bằng".

Cuộc đàm phán có tiến triển và hai bên đang cùng cố gắng để có thể ký Hiệp ước về phân định Vịnh Bắc bộ cũng trước năm 2000. Vấn đề lớn nhất mà hai bên phải giải quyết là vấn đề hiệu lực các đảo ven bờ của Việt Nam và đảo Bạch Long Vĩ cách Hải Phòng 130 km.

7.3. Về các vấn đề trên Biển Đông

Trên Biển Đông, vấn đề tranh chấp phức tạp và quan trọng nhất là về hai quần đảo: quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bởi vì hai quần đảo giữ một vị trí chiến lược trọng yếu trên Biển Đông. Nếu như nước ngoài chiếm cả hai quần đảo thì nước Việt Nam không còn thế đứng trên Biển Đông và bị bao vây trên hướng biển.

Quần đảo Hoàng Sa bao gồm trên 30 đảo, bãi, đá ngầm trên một vùng biển rộng khoảng 15.000 - 16.000 km2 cách Đà Nẵng khoảng 170 hải lý. Quần đảo Trường Sa gồm trên 100 đảo, bãi, đá ngầm trên vùng biển rộng khoảng 160.000 - 180.000 km2, đảo gần nhất của quần đảo cách Vũng Tầu khoảng 250 hảì lý. (Trung Quốc quan niệm quần đảo Trường Sa rộng hơn nhiều quan niệm của ta là điểm cực Nam của quần đảo Trường Sa là 6o50' Bắc trong khi Trung Quốc coi điểm cực Nam của quần đảo Trường Sa là 4o Bắc giáp Bornéo).

Theo những tài liệu chính thức, Nhà nước phong kiến Việt Nam đã chiếm hữu và làm chủ hai quần đảo từ thế kỷ thứ 17, tiếp đó, Chính quyền Đông Dương đã củng cố chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo: thành lập bộ máy hành chính thuộc hai tỉnh Thừa Thiên và Bà Rịa, cho cảnh sát ra đồn trú, lập đài khí tượng, trạm vô tuyến điện, xây đèn biển.

Cho đến đầu thế kỷ 20 không có nước nào tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo đối với Việt Nam.

Đại Thanh đế quốc toàn đồ xuất bản năm 1905 tái bản lần thứ tư năm 1910 chỉ vẽ đế quốc Đại Thanh đến Hải Nam.

Trung Quốc địa lý học Giáo khoa thư xuất bản năm 1906 viết: "Điểm mút của Trung Hoa ở Đông Nam là bờ biển Nhai Châu, đảo Quỳnh Châu, vĩ tuyến 18o13' Bắc".

Đầu năm 1907, Nhật Bản chiếm Đông Sa (Pratas) làm cho các nhà cầm quyền miền Nam Trung Quốc quan tâm đến các đảo trên Biển Đông. Tháng 5 năm 1909 Tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Nhân Tuấn phái đô đốc Lý Chuẩn đem 3 pháo thuyền ra thăm chớp nhoáng một vài đảo trên quần đảo Hoàng Sa rồi về . Năm 1921 Chính quyền miền Nam Trung Quốc ra quyết định sát nhập quần đảo Hoàng Sa (mà họ gọi là Tây Sa) vào đảo Hải Nam.

Từ đó bắt đầu có sự tranh chấp giữa Trung Quốc và Pháp về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và từ những năm 1930 trên quần đảo Trường Sa. Năm 1935 lần đầu tiên Trung Quốc chính thức công bố một bản đồ có cả 4 quần đảo trên Biển Đông là của Trung Quốc (công hàm của Công sứ Trung Quốc ở Paris gửi Bộ Ngoại giao Pháp năm 1932 còn viết rằng: "Các đảo Tây Sa là bộ phận lãnh thổ Trung Quốc xa nhất về phía Nam").

Nếu không có chiến tranh thế giới thứ hai thì chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là liên tực và thật sự từ thế kỷ 17.

Nhưng năm 1939, Nhật Bản đã chiếm cả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ tay Pháp và đã biến quần đảo Trường Sa thành căn cứ hải quân trong chiến tranh thế giới thứ hai.

Tháng 11/1943, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ, Anh, Trung (Tổng thống Roosevelt, Thủ tướng Churchill, Tổng thống Tưởng Giới Thạch) họp tại Cairo có bàn về các lãnh thổ mà Nhật chiếm của Trung Quốc. Tuyên bố của Hội nghị viết: "Các vùng lãnh thổ mà Nhật chiếm của Trung Quốc phải trả lại cho Trung Quốc gồm Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ". Như vậy rõ ràng là cả 3 người đứng đầu 3 cường quốc trong đó có Tổng thống Trung Hoa Tưởng Giới Thạch đều thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa không phải là lãnh thổ của Trung Quốc.

Tháng 7, tháng 8 năm 1945 Tuyên ngôn của Hội nghị Potsdam với sự tham gia của 4 nước Mỹ, Anh, Trung, Liên Xô lại viết: "Các điều khoản của bản tuyên bố Cairo sẽ được thi hành". Như vậy cả 4 cường quốc trong đó có Trung Quốc đều thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa không phải là lãnh thổ Trung Quốc.

Năm 1947, cuốn Nam Hải chư đảo địa lý chí lược do Bộ Nội Chính Trung Hoa Dân Quốc xuất bản có bản đồ "Nam hải chư đảo vị trí lược đồ" thể hiện một đường 11 đoạn, coi 80% Biển Đông và cả 4 quần đảo trên Biển Đông là thuộc Trung Quốc.

Năm 1950, trên bản đồ Trung hoa Nhân dân Cộng hoà Quốc phân tỉnh tinh đồ có một phụ đồ thể hiện quốc giới của Trung Quốc gồm 11 đoạn, coi cả 4 quần đảo và 80% Biển Đông là lãnh thổ Trung Quốc. Điểm cực nam của Trung Quốc là 4 độ Bắc giáp Bornéo.

Ngày 15/8/1951, Chu Ân Lai, Thủ tướng Trung Quốc tuyên bố: "Các quần đảo Tây Sa và Nam Sa, cũng như các quần đảo Đông Sa và quần đảo Trung Sa, từ xưa đến nay là lãnh thổ Trung Quốc."

Năm 1951, tại Hội nghị San Francisco với sự tham gia của 51 nước, đại biểu Liên Xô đã đề nghị trao hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc. Đề nghị này đã bị Hội nghị bác bỏ với 46 phiếu chống, 3 phiếu thuận và văn kiện của Hội nghị ký ngày 8/9/1951 chỉ ghi về hai quần đảo là "Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với 2 quần đảo". Tại Hội nghị này, ngày 7/9/1951, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã trịnh trọng tuyên bố "Khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đời của Việt Nam đối với các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa". Đối với Tuyên bố đó, không một nước nào phản đối hoặc bảo lưu. Như vậy là cộng đồng quốc tế đã thừa nhận hai quần đảo không phải là lãnh thổ Trung Quốc.

Trong Hoà ước giữa Trung Quốc và Nhật Bản ký ngày 28/4/1952, Trung Quốc ghi nhận việc Nhật Bản từ bỏ mọi quyền đối với hai quần đảo, như nội dung đã được ghi trong văn kiện Hội nghị San Francisco, mà không hề yêu cầu Nhật Bản trả lại cho Trung Quốc hai quần đảo.

Tuy vậy, trên thực tế, lợi dụng tình hình Pháp rút khỏi Đông Dương, Việt Nam chưa tiếp quản hai quần đảo, năm 1956, Trung Quốc cho quân đội ra chiếm nhóm phía đông quần đảo Hoàng Sa, Đài Loan cho quân đội ra chiếm đảo Ba Bình trên quần đảo Trường Sa.

Tháng Giêng năm 1974, lợi dụng tình hình Mỹ phải rút khỏi Đông Dương, Trung Quốc dùng một lực lượng hải quân, không quân đánh chiếm nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa, khi đó do quân đội của Chính quyền Sài Gòn bảo vệ. Chính quyền Sài Gòn đã liên lạc với Mỹ yêu cầu giúp đỡ. Theo báo cáo của Trần Kim Phượng, Đại sứ Sài gòn tại Mỹ ngày 2/2/1974, thì "Ngoại trưởng Kissinger chỉ coi cuộc tranh chấp đảo Hoàng Sa như là một vấn đề ngoài lề, thậm chí là điều bất lợi trong khung cảnh của sự phối hợp với Trung Cộng để hạn chế Băc Việt Nam" và phía Mỹ "không muốn nhúng tay vào".

Thái độ của Mỹ khiến cho ông Nguyễn Văn Thiệu phải bộc lộ lo ngại với các cận thần về khả năng Trung Cộng sẽ đánh Trường Sa và chiếm Par Force, giống như Paracel (có Complicité hoặc bằng Laisser-faire của Mỹ), những chữ Pháp nói trên là theo bút tích của ông Thiệu.

Năm 1988, Trung Quốc lại huy động lực lượng không quân, hải quân tấn công chiếm 6 điểm trên quần đảo Trường Sa, từ đó ra sức củng cố các điểm này làm bàn đạp cho những bước tiến mới.

Ở Trung Quốc đã có những dư luận về những bước tiến tiếp bằng vũ lực trên quần đảo khiến cho năm 1997 hai tác giả người Mỹ Humphrey Hawksley và Simon Holberton đã viết cuốn Dragon Strike coi là "một lời cảnh báo" về "một sự kiện lịch sử sắp diễn ra trong vài năm sắp tới". "Tuy chỉ là một kịch bản suy tưởng nhưng dựa trên hàng trăm sự kiện có thật xảy ra những năm qua và trong những ngày gần đây. Vì vậy nó cung cấp cho các nhà chiến lược của nhiều quốc gia một tầm nhìn và nhiều điều đáng suy nghĩ".

Và ở Trung Quốc, năm 1993, hai tác giả Hiểu Bình và Thanh Ba đã biên soạn và xuất bản cuốn "Quân đội Trung Quốc liệu có đánh thắng trong cuộc chiến tranh tới không?".

Cuốn sách viết: "Nếu nhà cầm quyền Việt Nam không có nhượng bộ gì trong vấn đề Nam Sa thì Trung Quốc và Việt Nam nhất định sẽ có đánh nhaư"; "Thập kỷ 90 là thời kỳ then chốt để giải quyết vấn đề Nam Sa. Thời kỳ này qua đi, có thể Trung Quốc sẽ mất một dịp may lịch sử".

Cuốn sách còn cho biết rằng năm 1992, một hội nghị quân sự của Trung Quốc họp ở miền Nam Tnmg Quốc đã định ra những nguyên tắc tác chiến, kết hợp thủ đoạn đánh và doạ, "nhanh chóng ... đánh đuổi quân chiếm đóng nước ngoài ra khỏi Nam Sa (tức Trường Sa)".

Tình hình tranh chấp phức tạp trên Biển Đông khiến cho dư luận quốc tế lo ngại, ngày 22/7/1992, các Bộ trưởng Bộ Ngoại giao các nước thành viên của Hiệp hội các nước Đông Nam Á đã ra tuyên bố của Hiệp hội ASEAN về vấn đề Biển Nam Trung Hoa, bản tuyên bố viết: "Cho rằng các vấn đề Biển Nam Trung Hoa chứa đựng những vấn đề nhậy cảm thuộc về chủ quyền và quyên tài phán của các bên ưực tiếp liên quan.

Lo ngạì rằng bất kỳ diễn biến có tính chất thù địch nào trong Biển Nam Trung Hoa sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoà bình và sự ổn định trong khu vực.

Dưới đây :

1. Nhấn mạnh sự cần thiết phải giải quyết bằng phương thức hoà bình, không dùng vũ ìực, đối với tất cả các vấn đề liên quan đến chủ quyền và quyền tài phán trong Biển Nam Trung Hoa.

2. Khẩn thiết yêu cầu các bên liên quan tự kiềm chế, nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho việc giải quyết tận gốc tất cả các cuộc tranh chấp."

Trong tưyên bố ngày 10/5/1995, Mỹ cũng tỏ ra lo ngại về tình hình khu vực và "cực lực phản đối việc sử dụng vũ lực hay đe doạ để giải quyết những yêu sách đối nghịch".

Về phía Việt Nam, chúng ta kiên trì thực hiện nguyên tắc đã thoả thuận ngày 19/10/1993 là "tiếp tực đàm phán về các vấn đề trên biển (Biển Đông) để đi đến một giải pháp cơ bản lâu dài. Trong khi đàm phán giải quyết vấn đề, hai bên đều không tiến hành các hoạt động làm phức tạp thêm tranh chấp, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực".

Tuyên bố của Quốc hội Việt Nam tháng 6/1994 nhân dịp phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển đã cụ thể hoá quan điểm của Việt Nam về vấn đề Biển Đông là:

"Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các bất đồng liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hoà bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền và quyền tàí phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa, trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để từn gìảì pháp cơ bản, lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực".

Quốc hội Việt Nam nhấn mạnh:

"Cần phân biệt vấn đề giải quyết tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa với vấn đề bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam căn cứ vào những nguyên tắc và những tiêu chuẩn của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982".

Sở dĩ có điều nhấn mạnh này là để đối phó với sự việc năm 1992 Trung Quốc đã ký với Công ty Crestone của Hoa Kỳ cho công ty này thăm dò khai thác một lô rộng 25.500 km2 trên thềm lục địa Việt Nam cách đường cơ sở của Việt Nam 84 hải lý và cách Hải Nam 570 hải lý. Theo tin nước ngoài ngày 4/12/1996, Công ty Benton Oil và Gas có trụ sở ở Califomia đã mua lại Công ty Crestone với giá 15,45 triệu USD vâ do đó đã thay thế Công ty Crestone trong quan hệ với Trung Quốc để thực hiện hợp đồng mà Crestone đã ký với Trung Quốc.

Ngày 10/6/1994 Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn tuyên bố rằng lô Thanh long, phía Tây khu vực Tư Chính cách đảo Hòn Hải nằm trên đường cơ sở của Việt Nam 90 hải lý cũng thuộc chủ quyền của Trung Quốc vì đó là vùng phụ cận của quần đảo Nam Sa.

Về yêu sách của Trung Quốc đối với thềm lục địa Việt Nam ở khu vực Tư Chính, Thanh Long, xin giới thiệu một số ý kiến của Luật sư Brice Clagett Văn phòng luật sư Covington và Burling ở Washington đăng trên tạp chí Dầu mỏ và khí đốt của Anh (các số 10 và 11 năm 1995) để tham khảo, Clagett viết: "Lô Thanh Long nằm ngay trên thềm lục địa Việt Nam, thậm chí cả trong nghĩa hẹp của từ ngữ này"; "Theo bất kỳ định nghĩa nào về thềm lục địa hoặc theo bất kỳ quan điểm hơp lý nào của Luật quốc tế, yêu sách của Trung Quốc đối với khu vực Thanh Long là lố bịch", "Có thể kết luận rằng yêu sách của Trung Quốc đối với khu vực Tư Chính cũng bất hợp lý không hơn không kém yêu sách của họ đối với khu vực Thanh Long. Khu vực Tư Chính tiếp giáp với khu vực Thanh Long về phía Đông, nằm chủ yếu trên dốc lục địa và (có lẽ) bờ lục địa của Víệt Nam. Khu vực Tư Chính bắt đầu từ quãng đường đẳng sâu 150m và tựt xuống rồi kết thúc ở khu vực đồng bằng ở sâu 1800-2000m tách khỏi đảo Trường Sa". "Bờ dốc của đảo Trường Sa nằm đối diện chứ không tiếp liền với bờ dốc của lục địa Việt Nam".

"Yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền lịch sử và quyền đối với hầu hết Biển Đông và/hoặc đối với đáy biển và lòng đất của nó là trái với sự phát triển toàn diện của luật biển quốc tế hiện đại và không thể được coi là một vấn đề luật pháp nghiêm chỉnh".

Chúng ta đang cố gắng cùng Trung Quốc thực hiện "Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ" giữa hai nước, thực hiện quyết tâm của lãnh đạo hai nước là đẩy nhanh tiên tnnh đàm phán nhằm sớm đi đến ký Hiệp ước về biên giới trên bộ và Hiệp ước phân định Vịnh Bắc bộ để khi bước sang thế kỷ 21 hai nước Việt Nam và Trung Hoa đã có biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định lâu dài trên đất liền và ở Vịnh Bắc bộ, đồng thời kiên trì đàm phán về các vấn đề trên Biển Đông để đi đến một giải pháp cơ bản, lâu dài. chúng ta cững chân thành và kiên trì thực hiện thoả thuận "Trong khi đàm phán giải quyết vấn đề, hai bên đều không tiến hành các hoạt động làm phức tạp thêm tranh chấp, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực".

Nhưng chúng ta cũng hiểu rằng cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, giữ vững vị trí của nước Việt Nam trên Biển Đông là một cuộc đấu tranh kết hợp các hoạt động của tất cả các ngành trong đó mặt pháp lý là rất quan trọng, một cuộc đấu tranh phức tạp và lâu dài nhưng vô cùng quan trọng và thiêng liêng của nhân dân ta trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc. Các ngành trong nước đang cùng nhau thực hiện ý kiến thống nhất trong Hội nghị biển toàn quốc tháng 2/1995 là: "Chúng ta phải thức tỉnh ý thức về biển của cả dân tộc, làm chủ được biển của mình, phát triển mạnh mẽ kinh tế biển gắn liền với bảo vệ chủ quyền và các quyền lợi của nước ta trên biển, một lần nữa vươn lên trở thành một quốc gia mạnh về biển ở Đông Nam Á" .

--------------------------------------------------------------------------------

[1] Đại Nam thực lục chính biên, quyển 104, kỷ thứ hai.

[2] Ghi chú về Châu Á. Tạp chí của Hội nghiên cứu Đông Dương, Tập XVII số 1. tr 79 - 100

[3] Monique Chemillier Gendreau: Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. tr.90

[4] Hiệp ước hoạch định biên giới trên đất liền này đã được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Đường Gia Triền ký ngày 3-12-1999.



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 14.09.2011, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 13.09.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

ĐƯỜNG BIÊN GIỚI VIỆT - TRUNG TRÊN ĐẤT LIỀN VÀ HỆ THỐNG MỐC GIỚI


Mô tả khái lược đưòng biên giới
Đường biên giới được hoạch định trên bản đồ địa hình 1/50.000, hướng đi đường biên giới được mô tả trong Hiệp ước biên giới trên đất liền thành 62 đoạn. Trên toàn tuyến biên giới, hai bên xác định 1.378 vị trí mốc chính, được đánh dấu trên bản đồ và đánh số liên tục từ Tây sang Đông. Ngoài 1.548 cột mốc chính, hai bên thống nhất cắm thêm 422 cột mốc phụ tại 402 vị trí cần thiết. Như vậy, tổng số cột mốc hai bên đã cắm là 1.970.

Các đơn vị hành chính ở khu vực biên giới
Đường biên giới trên đất liền Việt nam - Trung Quốc tiếp giáp giữa 7 tỉnh của Việt Nam (Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh) với tỉnh Vân Nam và Khu tự trị dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc.

Về phía Việt Nam, có 33 huyện, thị xã, thành phố biên giới, cụ thể là:

- Tỉnh Điện Biên có 1 huyện Mường Nhé.

- Tỉnh Lai Châu có 3 huyện: Mường Tè, Sìn Hồ, Phong Thổ.



(Bản đồ vẽ khi chưa chia tách tỉnh Lai Châu thành hai tỉnh mới là Điện Biên và Lai Châu)

- Tỉnh Lào Cai có 4 huyện và 1 thành phố: các huyện Bát Xát, Bảo Thắng, Mường Khương, Si Ma Cai, và thành phố Lào Cai.





- Tỉnh Hà Giang có 7 huyện: Xín Mần, Hoàng Su Phì, Vị Xuyên, Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, và Mèo Vạc.





- Tỉnh Cao Bằng có 9 huyện: Bảo Lâm, Bảo Lạc, Thông Nông, Hà Quảng, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Hạ Lang, Quảng Hòa và Thạch An.





- Tỉnh Lạng Sơn có 5 huyện: Tràng Định, Văn Lãng, Cao Lộc, Lộc Bình, Đình Lập.





- Tỉnh Quảng Ninh có 2 huyện và 1 thành phố: các huyện Bình Liêu, Hải Hà, và thành phố Móng Cái.



Về phía Trung Quốc, có 15 huyện biên giới, cụ thể là:

- Tỉnh Vân Nam có 8 huyện: Phú Linh, Ma Ly Pho, Mã Quan, Hà Khẩu, Bình Biên, Kim Bình, Lục Xuân và Giang Thành.

- Khu tự trị dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây có 7 huyện: Phòng Thành, Ninh Minh, Bằng Tường, Long Châu, Đại Tân, Nà Po và Trịnh Tây.

Địa hình
Địa hình khu vực biên giới có cấu trúc tương đối phức tạp, độ chia cắt lớn, thấp dần từ Tây qua Đông.

- Đoạn biên giới đi qua địa phận tỉnh Điện Biên và Lai Châu chạy theo đường phân thủy giữa hai nước, trên các đỉnh núi cao từ 2.000 đến 3.000 mét, có độ chia cắt lớn, cứ khoảng 1 km lại có khe hay suối, khiến cho việc đi lại vô cùng khó khăn.

- Đoạn biên giới đi qua địa phận tỉnh Lào Cai có địa hình hiểm trở, do ở tỉnh này có ngọn Phan-xi-phăng cao 3.143 mét (được mệnh danh là nóc nhà Đông Dương) thọc ra biên giới một loạt đỉnh có độ cao từ 1.300 đến 2.900 mét.

- Đoạn biên giới đi qua địa phận tỉnh Hà Giang có cao nguyên đá Đồng Văn và nhiều đỉnh cao trên dưới 2.000 mét chạy dọc theo biên giới.

- Đoạn biên giới đi qua địa phận tỉnh Cao Bằng có nhiều dãy núi đá hiểm trở có độ cao trên 1.000 mét.

- Đoạn biên giới đi qua địa phận tỉnh Lạng Sơn đã bớt hiểm trở hơn, chủ yếu là những đồi thấp và lác đác một số đỉnh núi có độ cao từ 300 đến 800 mét, cá biệt có đỉnh Mẫu Sơn cao 1.200 mét..

- Đoạn biên giới đi qua địa phận tỉnh Quảng Ninh có độ cao trung bình 500 mét, phía Tây có dãy núi Bắc Cương cao hơn 800 mét, tiếp đến là vùng đồi núi trọc có độ cao tương đối thấp, tiếp giáp với dải đồng bằng ven biên, phái Đông có cửa sông Bắc Luân.

Sông suối
Dễ hiểu, hệ thống sông suối khu vực biên giới có xu thế chảy từ Tây Bắc xuống Đông Nam, lòng sông hẹp và sâu, dòng chảy xiết, nhiều ghềnh thác, ít thuận tiện cho giao thông thủy. Một đặc điểm nữa là có những đoạn sông suối biên giới có dòng chảy theo mùa (mùa khô và mùa mưa), khi thì nước xuống thấp, lúc lại dâng cao. Dòng chảy mạnh gây bồi lở và đổi dòng dẫn tới việc địa hình lòng sông bị biến đổi.

Có thể tạm chia làm 3 loại chính như sau:

- Loại phát nguyên từ lãnh thổ Trung Quốc chảy qua Việt Nam như lưu vực các con sông thuộc hệ thống sông Hồng (Lào Cai), sông Lô (Hà Giang), sông Quây Sơn (Cao Bằng), sông Bắc Vọng (Cao Bằng).

- Loại phát nguyên từ lãnh thổ Việt Nam chảy qua Trung Quốc như lưu vực các con sông Bằng Giang (Cao Bằng), Kỳ Cùng (Lạng Sơn).

- Loại phát nguyên từ lãnh thổ hai nước, có dòng chính hay dòng nhánh trùng với đường biên giới như một phần của các sông như: một số sông suối thuộc sông Đà (Lai Châu), sông Chảy (Lào Cai, 5 km), Nho Quế (Hà Giang), Bằng Giang (Cao Bằng), Quây Sơn (Cao Bằng), Ca Long (Quảng Ninh).



....................................................Sông Nho Quế

Hệ thống mốc giới:
Cụ thể về các loại mốc giới: có mốc chính và mốc phụ, đều có giá trị pháp lý như nhau. Vị trí các mốc chính do Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc Việt Nam - Trung Quốc thống nhất. Vị trí các mốc phụ do các Nhóm liên hợp phân giới cắm mốc cùng xác định trong quá trình phân giới cắm mốc, nhằm làm rõ hơn hướng đi của đường biên giới tại các khu vực địa hình không rõ ràng.

Về kích cỡ, có 3 loại mốc khác nhau. Mốc lớn (mốc đại) nặng 950 kg, đặt ở các cửa khẩu quốc tế và cửa khẩu chính. Tại những cửa khẩu quan trọng, mốc đại được gắn thêm hình Quốc huy. Mốc vừa (mốc trung) nặng 500 kg, cắm ở các vị trí khác, và mốc nhỏ (mốc tiểu) nặng 300 kg, cắm ở những nơi khó cắm mốc. Biện pháp này cho phép có thể linh hoạt xây dựng hệ thống cột mốc đối với các loại địa hình khó khăn, phức tạp khác nhau ở vùng rừng núi biên giới.

Về tính chất, có mốc đơn (đặt trên đường biên), mốc đôi cùng số (đặt hai bên bờ sông suối biên giới), và mốc ba cùng số (đặt ở nơi hợp lưu giữa sông suối nội địa và sông suối biên giới). Trong số 1.970 cột mốc hai bên đã cắm có 1.627 cột mốc đơn, 232 cột mốc đôi, và 111 cột mốc ba, không kể cột mốc cắm tại ngã ba biên giới Việt Nam-Lào-Trung Quốc.

Hai bên thống nhất phân công phía Việt Nam phụ trách cắm các mốc đơn mang số hiệu chẵn, phía Trung Quốc phụ trách cắm các mốc đơn mang số hiệu lẻ. Các mốc đôi cùng số, mốc ba cùng số nằm trên lãnh thổ nước nào, sẽ do nước đó cắm. Trong quá trình cắm mốc và đo đạc tọa độ, độ cao cột mốc, luôn luôn có sự tham gia và giám sát của bên kia.

Hầu hết các cột mốc làm bằng đá hoa cương (granit) nguyên khối, một số ít cột mốc đúc bằng bê tông. Khoảng cách đoạn biên giới giữa hai cột mốc kế tiếp xa nhất là 15 km, gần nhất là 40 mét.



Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 14.09.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

THỎA THUẬN VỀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ BIÊN GIỚI LÃNH THỔ


Từ cuối thế kỷ 19, đường biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc trở thành đường biên giới pháp lý, vì đã được xác định (lần đầu tiên, theo thông lệ quốc tế) trong các Công ước Pháp-Thanh năm 1887 và 1895. Tiếp đó, trên thực địa, hai bên ký kết Công ước đứng ra cùng phân chia ranh giới và tiến hành cắm 314 mốc giới có chạm khắc cả chữ Pháp và chữ Hán trên toàn tuyến biên giới. Nếu kể thêm 4 cột mốc cắm trên đoạn biên giới Lào - Trung ngày nay (hồi đó được tính cho biên giới Bắc Kỳ - Vân Nam) thì tổng cộng có 318 cột mốc trên toàn tuyến biên giới.

Điều dễ hiểu là tất cả những công việc hoạch định biên giới, phân giới và cắm mốc được tiến hành từ hơn 100 năm trước đây, với những phương tiện và điều kiện thô sơ lúc đó. Lời văn mô tả trong hai Công ước và các mảnh bản đồ về nhiều đoạn biên giới (so với yêu cầu bây giờ) chưa thật đầy đủ, rõ ràng và chính xác. Đường biên giới được vẽ trên bản đồ tỷ lệ lớn ( 1 cm trên bản đồ tương ứng với 1 km trên thực địa) với nền địa hình được thể hiện một cách tổng hợp, nhiều nơi rất khác so với địa hình tự nhiên trên thực địa (mà chúng ta nhìn thấy) ngày hôm nay. Việc phân giới, cắm mốc (tất nhiên) có những hạn chế nhất định: số lượng cột mốc quá ít so với độ dài đường biên giới; toàn bộ các cột mốc giới đều không được xác định bằng lưới tọa độ, không có bản vẽ sơ đồ khu vực và ảnh chụp cho từng cột mốc để có thể nhận biết quanh cảnh xung quanh một cách rõ ràng.

Hệ thống mốc giới đã tương đối quy củ, nhưng chưa thực sự khoa học. Các mốc được đánh số theo từng đoạn nhỏ liên tục, không theo một hướng thống nhất, đoạn thì đánh số thứ tự từ Đông sang Tây, đoạn thì đánh từ Tây sang Đông. Mẫu thiết kế và kích thước các cột mốc không thống nhất trên toàn tuyến. Nội dung dòng chữ khắc trên mốc (cả chữ Pháp và chữ Hán) giữa các đoạn không nhất quán, khá tùy hứng. Khoảng cách giữa các cột mốc trên toàn tuyến biên giới phân chia không đều nhau.

Mặt khác, trải qua những biến động khắc nghiệt của thời gian, thời tiết, biến cố lịch sử, hầu hết các cột mốc giới đã bị hư hỏng (sứt mẻ, vỡ, mòn vẹt), mất mát, thậm chí bị xê dịch đưa đẩy so với vị trí vẽ trên bản đồ, không còn phù hợp với tình hình thực tế. Bản thân địa hình địa vật tại nơi cắm mốc cũng có nhiều thay đổi. Ngoài ra, bên cạnh những hạn chế trên, trong hơn 1 thế kỷ qua, tình hình chính trị-xã hội ở mỗi nước đều đã trải qua nhiều biến đổi, quan hệ giữa hai nước cũng đã trải qua các bước thăng trầm.

Toàn bộ các yếu tố kể trên dẫn đến việc, trong một thời gian dài, hai bên từng đã có những nhận thức khác nhau về hướng đi của đường biên giới và vị trí cột mốc ở một số khu vực, khiến cho tình hình ngày càng trở nên trầm trọng và phức tạp, thậm chí, thường xuyên xảy ra tranh chấp trên toàn tuyến biên giới.




















Ngay từ những năm 50 của thế kỷ trước, cả Việt Nam và Trung Quốc đều nhận thức rõ yêu cầu khách quan của việc xác định lại một cách rõ ràng đường biên giới trên đất liền giữa hai nước. Từ giữa những năm 1970, hai bên tiến hành đàm phán về vấn đề biên giới và lãnh thổ, song chưa đạt được thỏa thuận nào đáng kể. Sau khi bình thường hóa quan hệ vào năm 1991, hai nước mới bắt đầu đàm phán một cách thực chất.

Năm 1992, tiến hành đàm phán ở cấp chuyên viên.

Năm 1993, đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ, trong đó, đường biên giới trên đất liền là một trong 3 nội dung đàm phán. Đoàn đàm phán của ta gồm có đại diện các ban ngành và các tỉnh biên giới hữu quan, đã tiến hành đàm phán thận trọng và nghiêm túc, với nhận thức đầy đủ về trách nhiệm trước đất nước. Ngày 19-10-1993, đại diện Chính phủ hai nước ký "Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ".

Thỏa thuận năm 1993 đề ra một loạt các nguyên tắc chỉ đạo tiến trình đàm phán giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền giữa hai nước, cụ thể như sau:

Một là, hai bên lấy các Công ước Pháp-Thanh năm 1887, 1895 cùng các văn kiện, bản đồ phân định và cắm mốc biên giới kèm theo, cũng như các mốc giới cắm theo quy định để xác định lại đường biên giới trên đất liền. Đây là nguyên tắc cơ bản và quan trọng.

Hai là, trong quá trình đối chiếu xác định hướng đi của đường biên giới đối với những khu vực, sau khi đã đối chiếu nhiều lần mà vẫn không đi đến nhất trí, hai bên sẽ cùng nhau khảo sát thực địa, suy tính đến tình hình tồn tại khu vực với tinh thần thông cảm và nhân nhượng lẫn nhau, thương lượng hữu nghị để tìm giải pháp công bằng, hợp lý.

Ba là, sau khi hai bên đã đối chiếu xác định lại đường biên giới, bất cứ khu vực nào do một bên quản lý vượt quá đường biên giới, về nguyên tắc, phải được trả lại cho bên kia vô điều kiện. Đối với một số vùng cá biệt, để tiện cho việc quản lý biên giới, hai bên có thể thông qua thương lượng hữu nghị điều chỉnh thích hợp trên tình thần thông cảm và nhân nhượng lẫn nhau, công bằng, hợp lý.

Bốn là, hai bên đồng ý tính đến mọi tình hình và tham khảo tập quán quốc tế để giải quyết biên giới trên sông, suối.

Năm là, đối với các khu vực dân cư hai bên đã sinh sống lâu đời (ở một số khu vực, dân Trung Quốc cư trú quá đường biên giới; ở một số khu vực khác, dân ta cư trú quá đường biên giới) thì hai bên nhất trí duy trì cuộc sống ổn định của dân cư.

Sáu là, hai bên thoả thuận lập Nhóm công tác liên hợp để bàn bạc, đàm phán cụ thể về các vấn đề liên quan, tiến tới ký kết Hiệp định biên giới trên đất liền trong thời gian sớm nhất.



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 15.09.2011, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 15.09.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÔNG ƯỚC PHÁP - THANH 1887 và 1895

Điều khơi dậy tính tò mò cho nhiều người là bản gốc của hai bản Công ước Pháp-Thanh ký năm 1887 và 1895 hiện giờ ở đâu. Đương nhiên, những Công ước này đều được soạn thảo bằng hai thứ tiếng là tiếng Pháp và tiếng Hán.

Trên Internet, chỉ tìm thấy đường link đến văn bản tiếng Hán (không thấy dấu má). Còn bản tiếng Pháp, có người mách, hiện nằm trong Kho lưu trữ quốc gia của Pháp ở Paris.

Đành tham khảo văn bản tiếng Anh vậy.

Đi ngược thời gian mò mẫm hiểu thêm nguồn gốc xuất xứ hai bản Công ước này mới biết, bản Công ước Pháp-Thanh ký năm 1887 chỉ là việc cụ thể hóa Điều khoản số 3 trong Hòa ước Thiên Tân 1885 (gồm 10 điều khoản) của hai cường quốc "Đại Pháp" và "Đại Thanh" (tự nhận).

Còn bản Công ước Pháp-Thanh ký năm 1895 là để bổ sung và điều chỉnh một số điều khoản của bản Công ước 1887, vì trong quá trình thực thi đã nảy sinh một số vấn đề. Vả lại, lợi dụng thời cơ triều đình Mãn Thanh suy yếu, "bè lũ" thực dân Pháp đã giúp Việt Nam ta đòi lại được một số vùng đất khi đó bị chính quyền tỉnh Vân Nam "nuốt" mất. (Lẽ dĩ nhiên, đổi lại, Pháp phải nhượng bộ nhà Thanh ở điểm này điểm nọ).


Công ước Pháp - Thanh 1887















Công ước Pháp - Thanh 1895














Đường biên giới giữa Bắc Kỳ (Tonkin) với Trung Hoa được chia thành 3 đoạn lớn, tương ứng với 3 tỉnh biên giới của Trung Hoa là Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam. Ở thời kỳ phân định và cắm mốc 1885-1897, vùng tự trị Choang tỉnh Quảng Tây chưa thành lập. Phủ Khâm Châu thuộc tỉnh Quảng Đông.

- Đường biên giới tiếp giáp với tỉnh Quảng Đông: bắt đầu từ biển (Trúc Sơn-Trà Cổ) cho đến Bắc Cương Ải.

- Đường biên giới tiếp giáp với tỉnh Quảng Tây: từ Bắc Cương Ải cho đến Nham Động Hà Ca, là giao điểm hai vùng biên giới Quảng Tây và Vân Nam.

- Đường biên giới tiếp giáp với tỉnh Vân Nam: từ Nham Động Hà Ca cho đến tận sông Mê-kông. Theo tinh thần của Công ước Pháp - Thanh 1895 thì vùng Thượng Lào hồi ấy thuộc về Việt Nam.

Đường biên giới giáp với tỉnh Quảng Ðông được chia thành hai đoạn nhỏ. Đoạn 1 từ biển đến hợp lưu sông Ka Long. Trên đoạn này, đường biên giới là trung tuyến dòng sông. Có 20 cột mốc cả thảy, mỗi bên cắm 10 cột mốc (mốc kép) dọc theo hai bờ sông, được đánh số từ 1 đến 10, theo thứ tự từ Đông sang Tây. Đoạn 2 từ hợp lưu sông ka Long đến Bắc Cương Ải (ranh giới với tỉnh Quảng Tây). Trên đoạn này, hai bên tổ chức cắm 23 cột mốc, đánh số thứ tự cũng từ Đông sang Tây.




Mẫu thiết kế cột mốc cắm dọc theo bờ sông Ka Long thuộc địa phận Việt Nam, giáp với tỉnh Quảng Đông.
Các chữ ghi trên mốc:
Frontière Sino-Annamite, 1890 (chữ Pháp)
Đại Nam (chữ Hán)








Mẫu thiết kế cột mốc cắm dọc bờ sông Ka Long thuộc địa phận tỉnh Quảng Đông.
Các chữ ghi trên cột mốc:
Hàng giữa: Đại Thanh quốc Khâm Châu giới (biên giới phủ Khâm Châu nước Đại Thanh).
Hàng phải: Quang Tự thập lục niên nhị nguyệt lập (làm năm Quang Tự thứ 16, tháng Hai).
Hàng trái: Tri châu sự Lý Thọ Đổng thư (do tri châu Lý Thọ Đổng đề).






Đường biên giới giáp với tỉnh Quảng Tây cũng được chia thành hai đoạn nhỏ. Ðoạn 1 từ ranh giới giữa Quảng Tây với Quảng Ðông đến Bình Nhi, trên sông Kỳ Cùng. Đoạn này cắm cả thảy 70 cột mốc, đánh số theo thứ tự từ Tây sang Ðông (?!). Ðoạn 2 từ Bình Nhi đến biên giới Vân Nam: có 140 cột mốc, cắm từ Ðông sang Tây.




Bản sơ đồ thiết kế cột mốc cho khu vực biên giới giữa Bắc Kỳ với tỉnh Quảng Tây.
Người ký tên trên bản sơ đồ thiết kế là Đại úy Didelot.
Sơ đồ thiết kế được làm tại Bình Nhi, ngày 31 tháng 3 năm 1891.




Các chữ ghi trên cột mốc:
Hàng trên (chữ Pháp): Frontière Sino-Annamite (biên giới Trung-Việt).
Hàng dọc (chữ Hán): An Nam quốc biên giới (biên giới nước An Nam)
Hàng dưới (chữ Pháp): Année 1891 (năm 1891).





Tấm ảnh chụp lại từ cuốn sách "Au Tonkin et sur la frontière du Kwang-si" của Famin.
Hàng chữ trên cột mốc:
Chữ Pháp: Frontière Sino-Annamite (biên giới Trung Hoa - An Nam)
Chữ Hán: Trung Quốc Quảng Tây giới (biên giới tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc).



Đường biên giới giáp với tỉnh Vân Nam được phân chia ra thành năm đoạn nhỏ.

Vùng tả ngạn sông Hồng được chia làm các đoạn nhỏ. Ðoạn đầu tiên, từ hợp lưu của sông Hồng với sông Lũng Pô qua sông Nậm Thi, đường biên giới chính là trung tuyến dòng sông, do đó không cắm mốc. Ðoạn 1 đến sông Kosso (Qua Sách) cắm 21 cột mốc. Ðoạn 2 từ sông Qua Sách đến Cao Mã Bạch cắm 19 cột mốc. Ðoạn 3 và 4 từ Cao Mã Bạch đến biên giới Quảng Tây, có 24 cột mốc được cắm. Như thế,thứ tự tính đếm là từ Tây sang Đông và tính từ sông Hồng ra đến biển có tổng cộng 314 cột mốc.

Vùng hữu ngạn sông Hồng, là đoạn 5, được phân định lại theo Công ước Gérard năm 1895. Theo Công ước này, phần Thượng Lào thuộc về Việt Nam. Từ Sông Hồng đến sông Ðà không cắm mốc. Từ sông Ðà đến biên giới Lào cắm 4 cột mốc, được đánh số theo thứ tự từ Ðông sang Tây. Cột mốc thứ 1 ở mệng núi Phúc Ngõa, cột mốc thứ 2 ở miệng núi Chỉ Sưởng, cột mốc thứ 3 giáp Mường Sa và Mường Bun, và cột mốc thứ 4 ở cửa trại Sông Mặc Ô. Vùng biên giới này được ông Auguste Pavie, trong lúc nhận công tác nghiên cứu vùng Thượng Lào để chuẩn bị cho sự ra đời của một quốc gia mà người Việt quen gọi tên là quốc gia Trái Độn (Etat tampon), đã vẽ họa đồ.




Mẫu thiết kế cột mốc trên đường biên giới tiếp giáp với tỉnh Vân Nam.
Các chữ ghi trên mốc:
Hàng trên: số mốc,
Hàng tiếp theo (chữ Pháp): Chine-Annam (Trung Quốc - An Nam).
Lưu ý là lúc này người Pháp không ghi là Annamite, mà ghi là Annam.
Hai hàng dọc ở dưới (chữ Hán).
............Hàng phải: Đại Pháp quốc Việt Nam (Việt Nam thuộc nước Đại Pháp)
............Hàng trái: Đại Thanh quốc Vân Nam (tỉnh Vân Nam nước Đại Thanh).





Ảnh chụp cột mốc số 17. Số 7 bị khuyết, tuy nhiên có hàng chữ Hán ghi rõ đây là cột mốc giới số 17.

Theo hình dáng và nội dung ghi trên cột mốc thì cột mốc này thuộc vùng biên giới giáp với tỉnh Vân Nam. Nhưng không biết cột mốc thuộc đoạn nào, vì có đến 3 cột mốc cùng mang số 17 ở các đoạn sau đây:

Ðoạn 1: Từ hợp lưu của sông Hồng với sông Lũng Pô đến sông Qua Sách.
Cột mốc số 17 nằm ở giữa đèo, trên đường từ Nhai Đầu đến Ðường Tử Biên.

Ðoạn 2: Từ sông Qua Sách đến Cao Mã Bạch thuộc Bắc Kỳ và Tân Nham thuộc Vân Nam.
Cột mốc số 17 nằm trên đường từ Thạch Duẫn đến Tie-Tchang.

Các đoạn biên giới thứ 3 và thứ 4: Từ Cao Mã Bạch (Bắc Kỳ) và Tân Nham (Vân Nam) đến ranh giới giữa tỉnh Vân Nam với tỉnh Quảng Tây.
Cột mốc số 17 nằm trên đèo, trên con đường nối Long Qua Ca (Trung-Hoa) với Long Cô (Bắc Kỳ).

Theo kết quả khảo sát đơn phương năm 1992, trong tổng số 314 cột mốc đã cắm trên đất Việt Nam theo hai Công ước Pháp - Thanh, có 18 cột bị mất, 71 cột bị hư hỏng nặng.


* * *

Cần phân biệt hai giai đoạn, là giai đoạn phân định biên giới (sau này đổi thành "hoạch định biên giới" cho nó hoành tráng !) và giai đoạn phân giới cắm mốc:

- Giai đoạn phân định biên giới: Giai điạn này bắt đầu bằng buổi họp phân định biên giới lần đầu tiên diễn ra tại Đồng Đăng, vào ngày 12-1-1886; và chấm dứt vào ngày 26-6-1887, là ngày ký Công ước. Hai bên Pháp - Thanh thống nhất chia biên giới làm hai vùng: vùng biên giới Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây) và vùng biên giới Vân Nam (vì Vân Nam hồi đó bị triều đình ngầm coi như "phiên thuộc"). Pháp cử một phái đoàn duy nhất để phân định toàn vùng biên giới, trong khi nhà Thanh cử hai phái đoàn, một đại diện cho Lưỡng Quảng, và một đại diện cho Vân Nam.

- Giai đoạn phân giới và cắm mốc: chia làm 5 thời kỳ.

1/ Thời kỳ 1889-1890: Hai bên Pháp - Thanh tiến hành phân giới cắm mốc đường biên giới giáp với tỉnh Quảng Đông. Chủ tịch ủy ban phân giới cắm mốc của Pháp là ông Chiniac de Labastide.

2/ Thời kỳ 1890-1891: Hai bên Pháp - Thanh tiến hành phân giới cắm mốc đường biên giới giáp với tỉnh Quảng Tây. Chủ tịch ủy ban phân giới cắm mốc của Pháp là ông Frandin.

3/ Thời kỳ 1892-1893: Tiếp tục công việc phân giới cắm mốc đường biên giới giáp với tỉnh Quảng Tây. Chủ tịch ủy ban phân giới cắm mốc của Pháp là ông Servière.

4/ Thời kỳ 1893-1894: Kết thúc việc phân giới cắm mốc và công nhận công trình của các ủy ban kể trên tại vùng Lưỡng Quảng. Chủ tịch ủy ban phân giới cắm mốc của Pháp là ông Galliéni.

5/ Thời kỳ 1895-1897: Hai bên Pháp - Thanh tiến hành phân giới cắm mốc vùng Vân Nam, và kết thúc công trình phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới thông qua việc trao đổi giác thư (Nghị định thư) công nhận đường biên giới ngày 02-10-1897. Chủ tịch ủy ban phân giới cắm mốc của Pháp là ông Pennequin.

Các cột mốc cắm ở các thời kỳ 1 và 2 đều là mốc tạm. Lý do là vì các viên chức phụ trách (De Labastide, Frandin…) chưa được trao thẩm quyền. Các hồ sơ thể hiện kết quả phân giới cắm mốc phải đưa về Bắc Kinh để Đặc sứ toàn quyền Pháp và Tổng lý Nha môn (tương đương Bộ trưởng Bộ Ngoại giao) của Trung Hoa và phê duyệt.

Các công trình của ông Frandin sau này được ông Galliéni công nhận. Do đó, các biên bản mô tả vị trí các cột mốc do ê-kíp Frandin phụ trách có giá trị và hiệu lực pháp lý. Ở các thời kỳ sau (thời Galliéni và Pennequin), người phụ trách có toàn quyền quyết định, hồ sơ không cần phải đưa về Bắc Kinh phê duyệt nữa.



MẠNG LƯỚI CÁC MỐC GIỚI CẮM THEO CÔNG ƯỚC PHÁP - THANH





Các mốc giới tiếp giáp với Quảng Tây (đoạn 1)
(Các mốc giới tiếp giáp với Quảng Đông không thấy vẽ ?!)



Các mốc giới tiếp giáp với Quảng Tây (đoạn 2)



Các mốc giới tiếp giáp với Vân Nam, nằm ở tả ngạn sông Hồng



Các mốc giới tiếp giáp với Vân Nam, nằm ở hữu ngạn sông Hồng


Nói một cách đầy đủ, về mặt pháp lý, hai Công ước 1887, 1895 cùng các biên bản và bản đồ hoạch định, các biên bản và bản đồ phân giới cắm mốc kèm theo (được hai bên chuẩn bị trước, trong và sau khi ký Công ước), là một thể thống nhất các văn bản pháp lý bổ sung cho nhau, cung cấp các yếu tố về đường biên giới và các mốc giới, cho phép thể hiện tương đối rõ ràng minh bạch trên bản đồ, cũng như nhận biết trên thực địa.

Quá trình phân giới cắm mốc trên thực địa kéo dài mất 12 năm. Điều đó chứng tỏ, công việc thiết lập đường biên giới theo hai Công ước Pháp - Thanh là công phu và phức tạp, ngay cả trong trường hợp, giữa hai quốc gia Việt Nam và Trung Hoa xưa kia vốn đã tồn tại sẵn một đường biên giới ước lệ và truyền thống.



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 19.09.2011, sửa lần 8
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7  Trang kế
Trang 3 trong tổng số 7 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser