vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - 999 năm Thăng Long - Hà Nội
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

999 năm Thăng Long - Hà Nội
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... , 31, 32, 33  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 14.03.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TẾT BÍNH THÂN 2016

ĐÔI ĐIỀU VỀ PHAN HUY CHÚ Ở SÀI SƠN

TIỂU SỬ

Phan Huy Chú (1782 – 1840), tự: Lâm Khanh, hiệu: Mai Phong, làm quan triều nhà Nguyễn, và là nhà thơ, nhà thư tịch lớn, nhà bác học Việt Nam.

Xuất thân trong dòng họ Phan Huy có tiếng về văn học, thuở nhỏ, Phan Huy Chú có tên là Hạo, sau vì kiêng quốc húy, đổi là Chú. Ông là con trai thứ ba của danh thần Phan Huy Ích và bà Ngô Thị Thục (thuộc dòng họ Ngô Thì, nức tiếng về văn học. Bà vốn là con gái Ngô Thì Sĩ, em gái của Ngô Thì Nhậm, bà mất khi Phan Huy Chú mới 10 tuổi).

Ông sinh ra và lớn lên ở thôn Thụy Khuê, thuộc huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai (nay là thôn Thuỵ Khuê, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội).

Quê gốc của ông là thôn Chi Bông, xã Thu Hoạch (đầu thời Nguyễn thuộc huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quan, trấn Nghệ An; nay thuộc xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh). Năm 1787, một người trong dòng họ Phan Huy (là ông nội của Phan Huy Chú) là Phan Huy Cận (sau đổi tên là Áng), làm quan lớn dưới triều Lê-Trịnh, sau khi từ giã chốn quan trường, đã đến sinh sống ở làng Thụy Khuê, trở thành "ông tổ đầu tiên của chi phái Phan Huy" ở đây.

Xuất xứ sự việc này như sau.

Dòng họ Phan Huy vốn có quê gốc ở Hà Tĩnh. Đến đời thứ 6, Đô đốc Phan Đăng Kính có hai người con gái là Phan Thị Lẫm, được tuyển chọn làm cung tần chúa Tây Đô Vương Trịnh Tạc (1657 - 1682) và Phan Thị Lĩnh làm cung tần chúa Định Vương Trịnh Căn (1682 - 1709). Hai bà đó từng về thôn Thụy Khuê xây chùa Bối Am, gọi là “Bối Am tự” và dựng đền Một Mái thờ cha, gọi là "Phan Đô Đốc từ". Trong đền tạc tượng thờ, đào vườn làm ao công của làng, gọi là ao Gạch, cho đúc chuông. Phải nói, hai bà cung tần là những người đầu tiên trong dòng họ Phan Huy cảm mến cảnh đẹp của Sài Sơn và đặt cơ sở ban đầu của dòng họ trên mảnh đất này.

Đến đời thứ 8, Tiến sĩ Phan Huy Cận (1722 - 1789) mới nhập cư vào ở Thụy Khuê và được coi là tổ chi phái Sài Sơn, trong gia phả thường gọi là Sơn phái, tức chi phái ở Sơn Tây. Họ Phan Huy có nhiều chi phái ở nhiều nơi, nhưng chi phái Sài Sơn đông đúc, phát đạt nhất vào thời Lê Trung Hưng, đầu thời Nguyễn, tức thế kỷ thứ XVIII và đầu thế kỷ thứ XIX.

Vốn thông minh, được cha mẹ nuôi dạy chu đáo, lại từng được cậu ruột là Ngô Thì Nhậm rèn dạy từ lúc 6 tuổi; nhưng “học tài thi phận”, cả hai lần thi Hương (Đinh Mão, 1807; và Kỷ Mão, 1819), Phan Huy Chú chỉ đỗ Tú tài. Kể từ đó, ông thôi việc thi cử, chỉ chuyên tâm vào việc nghiên cứu và trước tác.

Tuy không đỗ cao, nhưng ông vẫn nổi tiếng là người có kiến thức uyên bác. Vì vậy, năm Tân Tỵ (1821), vua Minh Mạng cho triệu ông vào kinh đô Huế, cử giữ chức Biên tu trường Quốc Tử Giám. Năm này, ông dâng lên vua bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí do ông biên soạn (khởi soạn khi còn đi học, đến năm 1809 thì cơ bản hoàn thành, gồm 49 quyển), và được khen thưởng.

Năm Ất Dậu (1825), ông được sung làm Phó sứ sang Trung Quốc. Khi về, được làm Phủ Thừa phủ Thừa Thiên, rồi thăng Hiệp Trấn Quảng Nam (1829). Ít lâu sau, ông bị giáng vì phạm lỗi, được điều động về kinh đô Huế giữ chức Thị độc ở Viện Hàn lâm.

Năm Tân Mão (1831), lại sung Phan Huy Chú làm Phó sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Nhưng khi về nước, thì cả đoàn sứ bộ đều bị giáng chức, riêng ông bị cách chức, vì tội "lộng quyền".

Năm sau, triều đình cho ông làm phục dịch trong phái bộ sang Batavia (Giang Lưu Ba, Indonesia) để lập công chuộc tội.

Trở về (Giáp Ngọ, 1834), ông được bổ làm Tư vụ bộ Công. Sau đó, vì chán chốn quan trường, ông cáo bệnh xin về hưu ở làng Thanh Mai, thuộc huyện Tiên Phong (nay là xã Vũ Thắng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội). Ở đây, ông làm nghề dạy học và soạn sách cho đến khi mất.

Phan Huy Chú mất ngày 27 tháng 4 năm Canh Tý (28 tháng 5 năm 1840) lúc 58 tuổi. Phần mộ của ông hiện ở tại thôn Mai Trai, xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì, Hà Nội.

Nhìn chung, Phan Huy Chú nổi tiếng là nhà nghiên cứu, biên khảo, hơn là nhà thơ, nhà văn. Tác phẩm có giá trị nhất của ông là bộ Lịch triều hiến chương loại chí. Đây có thể xem là "Bộ bách khoa toàn thư" đầu tiên của Việt Nam.

ĐÓNG GÓP CỦA PHAN HUY CHÚ ĐỐI VỚI ĐỊA CHÍ DÂN TỘC

Phan Huy Chú (1782-1840), sinh tại làng Thụy Khuê (còn gọi là làng Thầy) huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (nay là làng Thụy Khuê, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội) trong một gia đình có truyền thống văn hóa và khoa bảng. Ông nội là tiến sĩ Phan Huy Cận làm quan cấp cao trong triều đình Lê-Trịnh. Thân phụ là tiến sĩ Phan Huy Ích, giữ nhiều chức vụ quan trọng dưới thời Tây Sơn. Thân mẫu là bà Ngô Thị Thục, em gái Ngô Thì Nhậm, người được vua Quang Trung giao cho nhiều trọng trách. Như vậy, cả gia đình bên nội và bên ngoại của Phan Huy Chú với hai dòng họ tiêu biểu ở nước ta là Phan Huy và Ngô Thì, có nhiều đóng góp cho nền văn hóa Việt Nam.

Vốn thông minh, sớm có chí tìm tòi, đào sâu suy nghĩ khi học tập, lại được sự dạy dỗ của gia đình, nên từ thời niên thiếu, ông đã học giỏi nổi tiếng cả vùng Sơn Tây. Do tiếp cận nguồn sách vở mênh mông bao đời mà gia đình lưu trữ, lại nhờ trí tuệ thiên bẩm, ông thâu tóm được tinh hoa của mọi sách vở, nắm đựợc đầy đủ các đầu mối điển chương. Dù đã đọc thiên kinh vạn quyển, tài năng uyên bác siêu phàm, nhưng hai lần đi thi ông chỉ đỗ Tú tài. Vỡ thế người dân trong vùng thường gọi là Kép Thầy - Người làng Thầy hai lần đỗ Tú tài (3).

Dẫu không đứng trong làng đại khoa, nhưng thực tài của ông vẫn được khắp nơi biết đến, đến mức năm 1821, vua Minh Mạng cho triệu vào triều làm chức Hàn lâm biên tu, rồi Lang trung Bộ Lại, Tư vụ Bộ Công. Năm 1825 ông được cử đi sứ nhà Thanh, rồi sau đó, năm 1828 thăng chức Phủ thừa phủ Thừa Thiên và năm 1829 làm Hiệp trấn xứ Quảng Nam.

Phan Huy Chú đã có một cống hiến rất lớn trong bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc. Ông là nhà văn hóa lớn, nhà bách khoa thư, nhà địa chí nổi tiếng. Ông đã để lại một công trình đồ sộ là bộ Lịch triều hién chương loại chí, viết trong thời gian từ 1809 đến 1819, nghĩa là từ lúc ông 27 tuổi đến 37 tuổi mới xong.

Ngoài ra còn có các công trình khác như: Hoàng Việt địa dư chí, Mai phong du tây thành giã lục, Hoa thiều ngâm lục (tập thơ làm khi đi sứ Trung Quốc), Hải trình ký lược (kể về chuyến công cán ở Inđônêxia, có ghé Singapore), Lịch đại điển yếu thông luận, Dương trình ký kiến (2). Sự đóng góp của ông trong lĩnh vực địa chí dân tộc thể hiện rõ nhất trong hai bộ sách Lịch triều hiến chương loại chíHoàng Việt địa dư chí. Thông qua hai công trình này, Phan Huy Chú đã góp phần phát triển và hoàn thiện nội dung và phương pháp biên soạn sách địa chí mang tính quốc chí ở nước ta vào đầu thế kỷ XIX.

Sách Lịch triều hiến chương loại chí chia ra làm 10 "chí", tức là viết về 10 bộ môn với sự phân loại, nghiên cứu một cách rất hệ thống theo thứ tự:

Dư địa chí ghi chép về sự thay đổi bờ cõi Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, từ khi dựng nước đến đầu triều Nguyễn, sự thay đổi về phong thổ của các địa phương.

Nhân vật chí đề cập đến vua chúa, những tướng lĩnh danh tiếng, những người có công lao xây dựng các triều đại, những trí thức có đức nghiệp.

Quan chức chí khái quát việc đặt quan chức các đời, chế độ bổ dụng quan lại, chế độ ban cấp bổng lộc.

Lễ nghi chí ghi chép về chế độ áo mũ, xe kiệu của vua chúa, phẩm phục, võng kiệu của quan lại, lễ thờ cúng, tang ma, lễ sắc phong, tế cáo.
Khoa mục chí ghi chép về phép thi cử chọn người tài qua các đời, thể lệ các kỳ thi.

Quốc dụng chí nói về việc làm sổ đinh (sổ hộ khẩu), phép thu thuế, đánh thuế, tiền tệ, chế độ ruộng đất.

Hình luật chí nghiên cứu về phép định luật lệ các đời, luật các loại.

Binh chế chí nói về việc đặt các ngạch quân, phép tuyển mộ quân lính, chế độ lương bổng, quân trang quân dụng, phép thi võ.

Văn tịch chí khảo cứu về tình hình thư tịch, sách vở các đời.

Bang giao chí chép việc bang giao của các đời, nghi lễ tiếp đón sứ thần các nước.

Riêng Dư địa chí được chia thành hai phần: Phần đầu nghiên cứu về bờ cõi của đất nước qua các thời kỳ lịch sử từ khi dựng nước đến đầu nhà Nguyễn. Trong phần này tác giả đã nêu rõ lý do biên soạn Dư địa chí: Của báu của một nước, không gì quý bằng đất đai; nhân dân và của cải đều do đấy mà sinh ra. Nước Việt ta, từ thời Hùng Vương dựng nước, chia địa giới, đặt kinh đô, núi sông nước Nam đã có giới hạn ở sách trời. Nhưng tên đất nhân cũ đổi mới trước sau có khác nhau, phong khí mỗi ngày mở mang, xưa nay có biến đổi, mà sử ghi chép về địa dư không có bằng chứng hoặc còn thiếu sót, thì người muốn xem rộng, biết kê cứu vào đâu để đính chính được. Nên mới lấy ở các sách cũ, tham khảo thêm các truyện, đầu tiên chép về bờ cõi, chia biệt ra các thừa tuyên: nói về sự khác nhau về bờ cõi qua các đời (1).

Phần hai của Dư địa chí ghi chép về phong thổ các vùng đất, tỉnh thành: Thanh Hoa, Nghệ An, Sơn Nam, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương, An Bang, Hưng Hoá, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thuận Hoá, Quảng Nam, Phú Yên, Bình Khang, Diên Khánh, Bình Thuận, Gia Định, Định Viễn, Hà Tiên.

Về từng tỉnh, Phan Huy Chú điều tra tỉ mỉ sự biến đổi địa danh của các tỉnh qua các thời kỳ lịch sử, vị trí giới hạn địa lý, tổng số các phủ, huyện, tên các ngọn núi con sông tiêu biểu, các di tích danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Ông còn sưu tầm các bài thơ vịnh của các tác giả về các thắng cảnh đó, về các nhân vật tiêu biểu. Công trình này khảo cứu kỹ về các vùng đất của nước Đại Việt đến Thừa tuyên Quảng Nam thế kỷ XV đời vua Lê Thánh Tông, còn từ Nam Trung Bộ trở vào thì ghi chép sơ lược hơn. Đó là một nguồn tài liệu quý, tóm tắt những kiến thức địa lý học của các đời trước.

Chẳng hạn, về Thanh Hoa có mạch núi cao vót; sông lớn lượn quanh, biển ở phía đông, Ai Lao sát phía tây, bắc giáp trấn Sơn Nam, nam giáp đạo Nghệ An. Núi sông rất đẹp, là một chỗ có đất có cảnh đẹp ở nơi xung yếu. Các triều trước vẫn gọi là một trấn rất quan trọng. Đến đời Lê lại là nơi căn bản. Vẻ non sông tốt tươi chung đúc, nên sinh ra nhiều bậc vương tướng, khí tinh hoa tụ họp lại, nảy ra nhiều văn nho, đến những sản vật quý, cũng khác mọi nơi. Bởi vì đất thiêng thì người giỏi, nên nảy ra những bậc phi thường (1). Và cũng là những bậc phi thường như Hồ Quý Ly và Lê Lợi vào thể kỷ XV đều chống giặc Minh, có người thất bại, có người lại thành công, theo sách này, một phần do chọn đất khởi nghiệp:

Hồ Quý Ly dời kinh đô đến động An Tôn, huyện Vĩnh Phúc (Vĩnh Lộc ngày nay) gọi là Tây Đô, đắp thành đào hào, nền móng bền vững. Bên tả bên hữu thành, gần sát núi đá, sông Mã, sông Lương họp lại chảy về phía trước. Triều thần khi ấy là Nguyễn Nhữ Thuyết cho rằng, chỗ đất ấy ở về cuối nước đầu núi, can Quý Ly không nên đóng đô ở đây, nhưng Quý Ly không nghe. Rồi sau hai cha con họ Hồ bị quân Minh bắt được, thành ấy phải bỏ.

Lê Thái Tổ khởi nghĩa ở đất Lam Sơn, huyện Lương Giang, chặn giữ được chỗ hiểm yếu, làm nơi gây dựng cơ đồ nhà Lê. Khi xưa, tổ bốn đời của Lê Thái Tổ, nhà ở thôn Như Áng, một hôm đến chơi Lam Sơn, trông thấy đàn chim bay liệng quanh đấy, cho là chỗ đất tốt, liền dời đến ở. Từ đấy mở rộng đất, dựng cơ nghiệp, làm người hào trưởng một phương. Truyền đến ba đời, sinh Thái Tổ ở làng Kim Sơn, huyện Lôi Dương. Đến khi Thái Tổ lớn lên, kết nạp những người hào kiệt, khởi nghĩa ở Lam Sơn, không đầy 10 năm mà dẹp yên được cả nước, dựng nên Tây Kinh.

Tác giả còn ghi lại những cổ tích tiêu biểu tại Thanh Hoa như truyện An Tiêm và động Từ Thức.

Bãi An Tiêm ở huyện Nga Sơn, tương truyền đời Hùng Vương, có bề tôi tên là Mai An Tiêm, lúc còn nhỏ làm nô cho nhà vua. Lớn lên được dùng vào chức việc, dần dần trở nên hào phú. Vì có nhiều người dèm pha, nhà vua đuổi ra cửa biển. An Tiêm tới chỗ bị đày, nơi ấy vắng lặng không có bóng người, chỉ có chim thường đến tụ tập kêu hót. Một hôm, có con chim từ phía tây bay lại, ngậm hạt dưa, đánh rơi xuống. An Tiêm nhặt đem trồng ở bãi biển. Dưa sinh sản càng nhiều, ăn có vị ngọt. Nhân thế gọi là “tây qua”. Những người buôn bán đi lại mua đổi, An Tiêm thành ra giầu to. Vua nghe tin thấy thế, cho gọi về. Đổi tên bãi ấy gọi là bãi Huyền Tiêm. Truyện này chép rõ ở sách Lĩnh nam chích quái.

Động Từ Thức ở bãi biển huyện Nga Sơn, lại có tên là động Bích Đào, là nơi Từ Thức gặp tiên là nàng Giáng Hương ở đấy. Sự tích chép ở sách Truyện kỳ mạn lục...

Qua cách bố cục trình tự và lời bàn của mỗi chí, thấy rõ quan điểm của Phan Huy Chú là đối với một quốc gia, vấn đề lớn nhất là đất nước và con người. Đất nước là cương vực núi sông, đất đai, phong thổ, tài nguyên; còn con người, như ông viết: nước lấy người làm gốc (1).

Từ cả 10 chí cho thấy, ngọn bút của ông thể hiện một tấm lòng yêu nước thiết tha và ý thức dân tộc sâu sắc. Ông đã trình bày toàn bộ lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước thật thần diệu và góp phần sáng tạo nên nền văn hiến hàng ngàn năm giầu bản sắc.

Với cấu tạo thành 10 "chí" như thế, nội dung của sách thật rộng lớn, bao trùm nhiều lĩnh vực. Lịch triều hiến chương loại chí là một bộ văn hiến đồ sộ, một pho bách khoa toàn thư của đất nước. Giá trị của bộ sách này trước hết là giá trị khoa học, tư liệu không những phong phú, được phân loại mang tính hệ thống cao, mà còn chính xác nữa.

Ở Việt Nam, Nguyễn Trãi là người đặt nền móng cho việc biên soạn sách địa chí trong Dư địa chí (thế kỷ XV), được Lê Quý Đôn phát triển qua Phủ biên tạp lục (thế kỷ XVIII) và càng hoàn thiện hơn nhờ đóng góp của Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chíHoàng Việt địa dư chí.

Rõ ràng là, ông đã đưa trình độ khoa học địa chí nước ta đầu thế kỷ XIX phát triển lên một bước và là người đặt nền tảng cho những ngành khoa học sau này. Ông đã có công nghiên cứu, san định và lưu lại cho ngày nay kho tàng văn hóa dân tộc, khẳng định nước ta là một quốc gia “thanh danh, văn hóa và nhân tài thịnh vượng, không thua kém gì Trung Hoa”.

Bộ sách cho thấy kiến thức mênh mông sâu thẳm của tác giả, nó giúp người đọc hiểu thấu các đời. Phan Huy Chú là một nhà văn hóa có ý thức dân tộc rõ ràng, có quan điểm tiến bộ và một bộ óc bách khoa về nhiều lĩnh vực. Ông đã tổng kết lịch sử văn hóa nước Việt từ hàng nghìn năm trước cho đến thời của mình, nửa đầu thế kỷ XIX. Đồng thời ghi chép, khảo cứu tỉ mỉ địa lý, lịch sử, văn hóa các địa phương. Chỉ một bộ Lịch triều hiến chương loại chí cũng đủ khẳng định Phan Huy Chú là nhà văn hoá lớn, nhà địa chí nổi tiếng của dân tộc.

Khi làm chức Hàn lâm biên tu, ông dâng sách Lịch triều hiến chương loại chí cho vua Minh Mạng, được vua thưởng 30 lạng bạc, một chiếc áo sa, 30 ngòi bút và 30 thoi mực. Sang thế kỷ XX, GP.Muraseva, nhà nghiên cứu lịch sử con người đã đánh giá rằng: Lịch triều hiến chương loại chí xứng đáng được gọi là bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống Việt Nam (5).

Ngoài bộ sách nổi tiếng trên, cũng về đề tài địa chí, còn phải kể đến Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú. Về phương diện thời gian, sách này là cuốn thứ hai của tác giả viết về địa dư dưới thời nhà Nguyễn. Hoàng Việt địa dư chí được chép theo lối cổ, tức là chép theo từng đơn vị hành chính. Trong từng vùng thì mô tả về núi sông, danh thắng cổ tích, sản vật, nhân vật, phong tục nghề nghiệp…Cuốn sách được viết bằng lối văn ngắn gọn, giản dị, thỉnh thoảng có trích dẫn những bài thơ hay, những chiếu dụ quan trọng của nhà vua, hay những chuyện cũ về các sự tích làm cho nội dung thêm phong phú và hấp dẫn.

Khi bàn về sách này, nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp cho rằng: “Thực ra, sách Hoàng Việt địa dư chí này, mà thông thường gọi là Địa dư chí thời Minh Mạng, chỉ là bản tóm tắt phần Dư địa chí của Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí”(4). Dù đại thể giống nhau, nhưng cách sắp xếp bố cục của hai bộ sách có khác nhau:

- Dư địa chí trong Lịch triều hiến chương loại chí ghi chép bắt đầu từ Thanh Hoa-Nghệ An và cuối cùng là các tỉnh trong Nam Bộ như Định Viễn, Hà Tiên.

- Hoàng Việt địa dư chí thì ghi chép bắt đầu từ Thuận Hóa-Quảng Nam và cuối cùng là Thanh Hoa-Nghệ An (tức là lấy Thuận Hóa làm trung tâm, kinh đô mới của chế độ phong kiến Việt Nam).

Hoàng Việt địa dư chí là một bộ sách có giá trị không những về mặt địa dư mà còn có giá trị về mặt văn học và sử học. Qua sách này, người đời sau có thể hình dung ra hệ thống tổ chức hành chính, về núi sông thắng tích, nghề nghiệp tập quán, và đặc biệt là về cương vực Việt Nam thời Minh Mạng, một thời cực thịnh của triều Nguyễn. Bộ sách góp phần bảo tồn, tái hiện, giới thiệu các di sản quý báu của dân tộc và có thể phục vụ cho việc viết địa phương chí hiện nay.

Tìm hiểu về sự đóng góp của Phan Huy Chú đối với địa chí, văn hóa dân tộc, chúng ta thấy có thể rút ra những điểm chung, rất cần thiết cho các nhà nghiên cứu hiện nay là:

- Phải có lòng yêu nước, yêu lịch sử dân tộc một cách nồng nàn, biết quý trọng đối với những sự nghiệp mà tiền nhân để lại, quý trọng từ thanh danh văn hóa, giang sơn đất nước đến những yếu tố văn hóa nhỏ nhất trong phong tục tập quán, lễ nghi đạo đức của con người Việt Nam. Sự trân trọng và yêu quý đối với văn hóa dân tộc là một động cơ để cho chúng ta nghiên cứu, sưu tầm.

- Phải có vốn học vấn rộng, ham học hỏi, hiểu biết, học trong những thư tịch cổ, trong cuộc sống. Sự học là chiếc cầu nối để chúng ta đến với văn hóa dân tộc. Học giả Phan Huy Chú đã dành cả cuộc đời để học tập, học thật thông minh, trong so sánh, đối chiếu với các nền văn hóa tiếp cận với văn hóa Việt Nam (Trung Quốc, Nam Dương).

- Phải coi trọng phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp sưu tầm, phương pháp phân loại, phương pháp trình bày… Khoa học càng tiến bộ thì phương pháp càng được nâng cao. Những phương pháp này là công cụ hữu hiệu để Phan Huy Chú điều tra, sưu tầm, thu thập tư liệu, phân loại thành nhiều lĩnh vực, nhiều ngành khoa học khác nhau. Dù làm với phương pháp nào thì tinh thần của người nghiên cứu là phải giữ được tính khách quan khoa học, phải thật cụ thể chi tiết và cẩn trọng. Chính những điều này đã làm cho công trình khoa học của tác giả thật sự có giá trị.

- Phải có một cách làm việc thật sự khoa học, đừng để đời sống thường nhật (đối với Phan Huy Chú là đời sống quan trường) ảnh hưởng đến thời giờ, lòng say mê nghiên cứu. Muốn được một tác phẩm có giá trị, cần học rộng biết nhiều, có phương pháp nghiên cứu đúng đắn và phải dành thời gian cho công tác nghiên cứu. Trong 10 năm (1809-1819) Phan Huy Chú đã miệt mài nghiên cứu và để lại cho dân tộc bộ Lịch triều hiến chương loại chí. Đây là một trong những công trình vô giá về bảo tồn văn hóa, về địa chí dân tộc của thế kỷ XIX, rất đáng tự hào và trân trọng.

170 năm đã trôi qua từ khi Phan Huy Chú qua đời. Ông vẫn luôn là một tấm gương sáng về tinh thần bền bỉ học tập, nghiên cứu, là một trí tuệ, một tài năng kiệt xuất, đã cống hiến cho lịch sử văn hóa và khoa học dân tộc Việt Nam một khoa tàng sự nghiệp tri thức to lớn. Ông xứng đáng được xếp vào số không nhiều các nhà khoa học lớn của nước ta thời trước. Tên tuổi và sự nghiệp Phan Huy Chú sống mãi với lịch sử văn hóa, khoa học Việt Nam.

.........................Nguyễn Văn Cần

Tài liệu tham khảo:

1. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí. Tập 1: Dư địa chí, Nhân vật chí. Bản dịch của Viện Sử học, Nxb Sử học, Hà Nội, 1960.

2. Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc-vai trò của nghiên cứu và giáo dục. Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1999.

3. www.anninhthudo.vn

4. Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Tập 1, Thư viện quốc gia Hà Nội xuất bản, 1970.

5. Tạ Ngọc Liễn, Sổ tay văn hóa tổng hợp 1987-1990, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1991.


PHAN HUY ÍCH

Phan Huy Ích (1751 – 1822), tự: Khiêm Thụ Phủ, Chi Hòa, hiệu: Dụ Am, Đức Hiên, là cha của Phan Huy Chú, từng làm quan cho nhà Lê và cũng là một công thần của nhà Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam.

Ông tên thật là Phan Công Hậu, sinh ngày 12 tháng Chạp năm Canh Ngọ (tức 9 tháng 1 năm 1751) ở làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An, (nay thuộc xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh). Do kiêng húy của Tuyên phi Đặng Thị Huệ, về sau ông đổi tên thành Huy Ích.

Ông là con trai đầu của Tiến sĩ Phan Huy Cận (hay Cẩn, về sau đổi thành Phan Huy Áng). Thuở nhỏ, ông sống và học tập tại làng Thu Hoạch, đến năm 20 tuổi, năm 1771, ông thi đỗ Giải nguyên tại trường thi Nghệ An. Trước đó, năm 1753, cha ông là Phan Huy Cận cũng đỗ Giải nguyên tại trường thi Hương này.

Sau khi đỗ Giải nguyên, ông được triều đình thu dụng và bổ nhiệm một chức quan nhỏ tại trấn Sơn Nam. Ông trở thành học trò của Ngô Thì Sĩ, được thầy mến tài và gả con gái cho.

Năm 1775, ông cùng người anh vợ là Ngô Thì Nhậm dự thi Hội và cùng đỗ Tiến sĩ. Khoa này có 18 tiến sĩ, và Phan Huy Ích đỗ Hội nguyên Tiến sĩ, đứng đầu số đó. Trước đó, vào năm 1754, cha ông cũng từng đỗ Hội nguyên Tiến sĩ như thế. Cùng với phụ thân là Tiến sĩ Phan Huy Cận, Phan Huy Ích và em trai ông là Phan Huy Ôn được khắc tên vào bia tiến sĩ ở Văn miếu – Hà Nội. Đây là trường hợp hiếm có trong một gia đình.

Năm 1788, Quang Trung Nguyễn Huệ ra Bắc, xuống chiếu cầu hiền. Phan Huy Ích cùng Ngô Thì Nhậm, Đoàn Nguyên Tuấn, Nguyễn Thế Lịch là những viên quan cũ dưới triều Lê, ra hợp tác với Tây Sơn. Ngô Thì Nhậm được phong chức Tả thị lang Bộ Lại, còn Phan Huy Ích được phong làm Tả thị lang Bộ Hộ.

Sau cuộc hành quân phá quân Thanh, mùa xuân năm Kỷ Dậu, 1789, của Quang Trung, ông phụ trách công việc ngoại giao. Cuối tháng 2 năm 1790, Phan Huy Ích cùng với Đại tư mã Ngô Văn Sở được cử trong phái đoàn do Phạm Công Trị đóng giả vua Quang Trung dẫn đầu sang Trung Quốc mừng vua Càn Long 80 tuổi.

Năm 1792, về nước, ông được thăng Thị trung ngự sử ở tòa Nội các rồi Thượng thư bộ Lễ. Cũng trong năm này, vua Quang Trung mất. Ông cố gắng giúp đỡ vua trẻ Quang Toản, nhưng không ngăn nổi đà suy vi của Tây Sơn.

Mùa hạ năm 1802, sau khi tiêu diệt quân Tây Sơn, quân Nguyễn Ánh ra Bắc. Ông bị bắt cùng với Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thế Lịch, cả ba đều bị đánh đòn trước Văn Miếu và bị đục bỏ tên trên bia Tiến sĩ. Năm 1814, ông về quê làng Thu Hoạch dạy học và sau đó lại ra Sài Sơn an dưỡng. Theo các nhà nghiên cứu, trong thời gian này, ông hoàn chỉnh bản dịch Chinh phụ ngâm (tác giả Đặng Trần Côn viết bằng chữ Hán), mà người diễn Nôm đầu tiên là bà Đoàn Thị Điểm.

Ông mất ngày 20 tháng Hai năm Nhâm Ngọ (tức 13 tháng 3 năm 1822) tại quê nhà.

Các tác phẩm khác của ông: Dụ Am văn tập, Dụ Am ngâm lục.

Đặc biệt, ông là người đã soạn một bài tựa cho bộ sách Ngô gia văn phái.




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 17.03.2016, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 14.03.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TẾT BÍNH THÂN 2016

NGÔ GIA VĂN PHÁI

Ngô gia văn phái (Phái văn nhà họ Ngô) là một nhóm nhà văn Việt Nam thuộc dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai, thuộc huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội). Các trước tác của các thành viên trong Ngô gia văn phái, về sau được tập hợp lại thành bộ sách Ngô gia văn phái đồ sộ.

Bộ sách do Ngô Thì Trí (em trai Ngô Thì Nhậm) đề xướng và khởi công biên soạn tập đầu tiên. Ngô Thì Điển (con trai Ngô Thì Nhậm) làm công tác biên tập. Trong sách có 2 bài tựa, một bài của Ngô Thì Trí, một bài của Phan Huy Ích (em rể Ngô Thì Nhậm).

Đây là bộ sách có tính chất sưu tập nhằm nêu cao truyền thống văn hóa, văn học của dòng họ Ngô Thì, chứ không phải là một hợp tuyển hay một tổng tập của những tác giả cùng một trường phái, một khuynh hướng tư tưởng và sáng tác.

Ban đầu, chỉ gồm các tác giả từ Ngô Thì Ức đến Ngô Thì Điển, về sau được bổ sung thêm dần dần cho đến tác giả cuối cùng là Ngô Thì Giai, tổng cộng là 15 người, trong đó có nhiều tác giả nổi bật như Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Hương... Độ dày tác phẩm ước khoảng 5.000 trang.

Các trước tác đều bằng chữ Hán, bao gồm đủ các thể loại, nhiều nhất là thơ, rồi tới phú, truyện ký, tự, bạt, khải, biểu, tấu, sớ... Hiện có nhiều bản chép tay trong các thư viện, nhưng tương đối đầy đủ hơn cả là hai bộ sách mang ký hiệu A117a và VHv.1743 ở Viện nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội).

Không kể thơ từ, phú, văn tế là những thể loại quen thuộc của văn học chữ Hán, trong bộ sách còn có những tác phẩm rất có giá trị phản ánh tình hình chính trị xã hội, ngoại giao, những sự kiện lớn của đất nước trong một giai đoạn lịch sử vừa đau thương vừa bi tráng, như: Hoàng Lê nhất thống chí (tiểu thuyết chương hồi, viết trong khoảng thời gian từ 1776 đến 1804 - là sự kết hợp kỳ diệu giữa sử bút và văn bút, sự tranh chấp quan điểm chính thống với cảm quan hiện thực mãnh liệt của nhà văn và cũng là nhà sử học và sự chiến thắng của cảm quan hiện thực), Bang giao hảo thoại (văn xuôi nghị luận), Việt sử tiêu án (phê bình sử), Bảo chướng hoằng mô (văn xuôi nghị luận chính trị), Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh (văn xuôi nghị luận triết học), Khuê ai lục (thơ văn về tình yêu, hạnh phúc lứa đôi), thơ, ký… Tác giả của chúng vừa là những nhà ngoại giao, các chính khách vừa là học giả, nhà khoa bảng, nhà văn nhà thơ tiêu biểu trong một thời, như: Ngô Thì Sĩ (nhà sử học, nhà nghị luận, nhà thơ tài hoa, quan Đốc trấn xuất sắc), Ngô Thì Nhậm (nhà ngoại giao, nhà chính trị), Ngô Thì Chí (nhà tiểu thuyết, kẻ sĩ)…

Các nhà văn dòng họ Ngô Thì đã phản ánh được rất nhiều mặt, như: tình hình đời sống xã hội, chính trị, văn hóa, văn học... của nước Việt Nam, trải qua các triều đại nhà Hậu Lê, nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn (tức nửa cuối thế kỷ XVIII đến một phần của thế kỷ XIX).

Cùng thời với họ Ngô Thì ở Tả Thanh Oai, có thể kể đến họ Nguyễn ở Tiên Điền (Hà Tĩnh), họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu (Hà Tĩnh), nhưng có lẽ, không một họ nào ở nước Việt có đông đảo người sáng tác, trước tác với một quy mô rộng lớn và phong phú như họ Ngô Thì. Tuy nhiên, do mức độ tài năng, quan điểm xã hội và nhân sinh quan của mỗi người, nên giá trị của từng tác giả, từng tác phẩm có chỗ không đồng đều.

Lược kê một số tác giả.

Ngô Thì Ức (1709-1736), hiệu: Tuyết Trai cư sĩ. Ông là tác giả đầu tiên có tên trong Ngô gia văn phái. Ông sinh năm Kỷ Sửu (1709) tại làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội). Thuở nhỏ, ông học với thầy Đan Nhạc, lớn lên ông học với Tiến sĩ Vũ Huy. Ông học giỏi, đàn giỏi và giỏi cả nghề thuốc. Năm 24 tuổi, ông đỗ thủ khoa kỳ thi Hương, nhưng vì không để chí vào con đường khoa bảng, nên khi thi Hội thì bị hỏng. Từ đấy, ông không ra làm quan, chỉ ở nhà vui thú đồng quê và mở lớp dạy học.

Ông là cha của Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Đạo; và là ông nội của Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí, Ngô Thì Trí, Ngô Thì Du, Ngô Thì Hương ... Ông mất năm Bính Thìn (1736) đời vua Lê Ý Tông, khi mới 27 tuổi. Nhờ có con là Ngô Thì Sĩ làm quan lớn, nên về sau, ông được triều đình truy phong là Phong Trạch bá.

Các tác phẩm chính của ông là: Nam trình liên vịnh tập (Tập thơ ngâm nối vần cùng bạn trên hành trình về phương Nam) và Nghi vịnh thi tập (Tập thơ vịnh thú sông Nghi)...

Ông là một nhà thơ ẩn dật, nhưng yêu đời. Thơ ông phản ánh tâm trạng của một con người tài hoa, ưa thích cuộc sống tiêu dao, nhàn tản, thoát khỏi mọi công danh tục lụy. Ngoài ra, thơ ông còn thể hiện lòng mến yêu tha thiết cảnh sinh hoạt đồng yêu: bình dị, chất phác, đậm đà phong vị dân tộc. Lời thơ của ông tự nhiên, hồn hậu, chân tình.

Theo Phan Huy Chú (chắt ngoại ông) thì Ngô Thì Ức còn có quyển An Nam nhất thống chí.

Ngô Thì Sĩ (1726–1780), tự: Thế Lộc, hiệu: Ngọ Phong, đạo hiệu: Nhị Thanh cư sĩ, là con trai của Ngô Thì Ức. Ông làm quan nhà Hậu Lê, trải đến chức Đốc trấn Lạng Sơn. Ông là nhà sử học, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng ở thế kỷ 18 tại Việt Nam; được Phan Huy Chú (cháu ngoại ông) đánh giá là người có "học vấn sâu rộng, văn chương hùng vĩ, làm rạng rỡ cho tông phái Nho gia, là một đại gia ở Nam Châu". Các tác phẩm chính của ông là: Đại Việt sử ký tiền biên, Việt sử tiêu án, Khuê ai lục, Ngọ Phong văn tập...

Ngô Thì Đạo (1732-1802), hiệu: Ôn Nghị và Văn Túc, là con trai Ngô Thì Ức, em trai Ngô Thì Sĩ, và là cha của Ngô Thì Du. Thuở nhỏ, ông học với ông nội là Ngô Trân. Lớn lên, ông lên kinh đô Thăng Long học với Tiến sĩ Nhữ Đình Toản. Năm Đinh Sửu (1757), ông đỗ Giải nguyên khoa Hoành từ, được bổ chức quan. Năm 1784, ông xin thôi việc. Sau này, triều Tây Sơn cho người mời ra làm quan, song ông cứ tìm cách thoái thác.

Ngô Thì Đạo sáng tác nhiều, nhưng theo con ông là Ngô Thì Du thì các tác phẩm ấy đã "tản mát quá nửa, nay chỉ còn lại một tập bản thảo làm lúc cuối đời", đó là Hoành từ Hiến sát Văn Túc công di thảo (Bản thảo để lại của ông Văn Túc đỗ khoa Hoành từ, giữ chức Hiến sát). Trong bản thảo này, ngoài thơ còn có những thư từ gửi cho người thân và các bài điều trần về công việc. Ông tỏ ra hết sức quan tâm đến sự nghiệp giáo dục của con em trong gia đình, và luôn đề cao đạo Nho, coi đó là một “con đường lớn". Tại Viện nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội) hiện còn lưu giữ bản chép tay mang ký hiệu VHv.1743/11.

Ngô Thì Nhậm (1746–1803), tự: Hy Doãn, hiệu: Đạt Hiên, là con trai cả của Ngô Thì Sĩ. Ông thông minh, học giỏi, sớm có những công trình về lịch sử. Ông thi đỗ giải nguyên năm 1768, rồi Tiến sĩ tam giáp năm 1775. Sau khi đỗ đạt, ông được bổ làm quan ở bộ Hộ dưới triều Lê–Trịnh, được chúa Trịnh Sâm rất quý mến. Năm 1778, làm Đốc đồng Kinh Bắc và Thái Nguyên. Khi đó, cha ông đang là Đốc đồng Lạng Sơn. Cha con đồng triều, nổi tiếng văn chương trong thiên hạ.

Sau vụ án năm Canh Tý (1780), ông bị nghi ngờ là người tố giác Thế tử Trịnh Khải (sau là chúa Trịnh Khải), nên phải bỏ trốn về quê vợ ở Thái Bình lánh nạn.

Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần hai, xuống lệnh "cầu hiền" tìm kiếm quan lại của triều cũ. Danh sĩ Bắc Hà đã đầu quân cho nhà Tây Sơn từ trước đó mới chỉ có Trần Văn Kỷ, Ngô Văn Sở và Đặng Tiến Đông. Tới thời điểm này, cả vua Lê lẫn chúa Trịnh đều đã đổ. Ngô Thì Nhậm và một số thân sĩ Bắc Hà khác như Phan Huy Ích, Bùi Dương Lịch; các tiến sĩ Ninh Tốn, Nguyễn Thế Lịch, Nguyễn Bá Lan; Đoàn Nguyễn Tuấn (anh rể Nguyễn Du); Vũ Huy Tấn; Nguyễn Huy Lượng (tác giả "Tụng Tây Hồ phú")... lần lượt ra làm quan cho nhà Tây Sơn. Sử cũ viết, khi được Thì Nhậm, Nguyễn Huệ cả mừng mà rằng: "Thật là trời để dành ông cho ta vậy", và phong cho ông chức Tả thị lang bộ Lại, sau lại thăng làm Thượng thư bộ Lại - chức vụ cao cấp nhất trong Lục bộ.

Cuối năm Mậu Thân (1788) do vua Lê Chiêu Thống cầu viện, quân Thanh kéo sang Đại Việt, với chiêu bài diệt Tây Sơn dựng lại nhà Lê. Ngô Thì Nhậm đã có kế lui binh về giữ phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh Bình) góp phần làm nên chiến thắng của nhà Tây Sơn.

Năm 1790, vua Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm giữ chức Binh bộ thượng thư. Tuy làm ở bộ Binh, nhưng ông chính là người chủ trì về các chính sách và giao dịch ngoại giao với nhà Thanh. Ông là người đứng đầu một trong những sứ bộ ngoại giao sang Trung Quốc. Sau khi Quang Trung mất, ông không còn được nhà Tây Sơn tin dùng nữa, nên quay về nghiên cứu Phật học.

Sau khi Gia Long tiêu diệt nhà Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch và một số viên quan triều Tây Sơn bị đánh bằng roi tại sân Văn Miếu vào năm 1803.

Sau trận đòn, về nhà, Phan Huy Ích do không bị đánh bằng roi tẩm thuốc độc, nên còn sống. Còn Ngô Thì Nhậm thì bị Đặng Trần Thường ngấm ngầm sai quân lính đánh bằng roi tẩm thuốc độc, nên bị thuốc độc ngấm vào tạng phủ. Biết mình không qua khỏi, trước khi qua đời, ông có làm bài thơ gửi Đặng Trần Thường như sau:

Ai tai Đặng Trần Thường
Chân như yến xử đường
Vị Ương cung cố sự
Diệc nhĩ thị thu trường


Tạm dịch là:

Thương thay Đặng Trần Thường
Tổ yến nhà xử đường
Cung Vị Ương chuyện cũ
Tránh sao kiếp tai ương?


Quả nhiên, sau này bài thơ ứng nghiệm, Thường bị Gia Long xử tử.

Các tác phẩm chính của Ngô Thì Nhậm: Hàn các anh hoa, Doãn thi văn tập, Yên đài thu vịnh, Hoàng hoa đồ phả, Cúc đường bách vịnh...

Ngô Thì Chí (1753–1788), tự: Học Tốn, hiệu: Uyên Mật, là con trai thứ hai của Ngô Thì Sĩ, và là em ruột Ngô Thì Nhậm. Thi Hương, ông đỗ Á nguyên, làm quan đến chức Thiêm thư bình chương tỉnh quốc.. Khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc Hà lần thứ hai (1788), Ngô Thì Chí chạy theo vua Lê Chiêu Thống. Lúc bấy giờ, ông có dâng lên nhà vua bản Hưng trung sách (Sách lược trung hưng), bàn kế khôi phục nhà Lê. Sau đó, nhà vua phái ông lên Lạng Sơn (nơi cha ông làm Đốc trấn trước đây) chiêu mộ quân để chống lại quân Tây Sơn, nhưng ông đi tới huyện Phượng Nhãn thì ốm nặng và mất ở huyện Gia Bình (Bắc Ninh) năm 1788. Khi ấy, ông mới 35 tuổi.

Các tác phẩm chính của ông là: Học Phi thi tập, Học Phi văn tập, Quốc sử tiệp lụcHào mân khoa sứ (Tập sớ khóc cùng trời cao). Ngoài ra, ông chính là người khởi đầu viết bộ tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng Hoàng Lê nhất thống chí gồm 17 hồi, mà 7 hồi đầu là do ông viết.

Ngô Thì Trí (1766 - ?), hiệu là Dưỡng Hạo. Ông là con thứ 6 của Ngô Thì Sĩ. Lên 5 tuổi, ông đã mồ côi mẹ; 14 tuổi, ông mồ côi cha, nên thường sống ở nhà người anh cả là Ngô Thì Nhậm. Năm 1782, Trịnh Khải lên ngôi chúa. Ngô Thì Nhậm vì có liên quan đến vụ án năm Canh Tý, nên phải bỏ trốn về quê vợ ở Thái Bình. Gia đình họ Ngô trước đã sa sút, nay thêm ly tán. Ông lớn lên trong gia cảnh ấy và trong một xã hội nhiều biến động. Khi trưởng thành, Ngô Thì Trí ra làm quan cho nhà Lê trung hưng, giữ việc biên soạn, tu thư ở Sử quán. Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai. Lúc này, cả vua Lê và chúa Trịnh đều đã đổ. Ngô Thì Trí theo anh là Ngô Thì Nhậm ra làm quan cho nhà Tây Sơn, làm đến chức Hữu thị lang bộ Hộ, tước Bính Phong hầu. Năm 1802, nhà Tây Sơn bị nhà Nguyễn tiêu diệt, ông về sống ẩn dật ở quê nhà.

Tác phẩm chính của ông là Sóc Nam hành kính (Trên con đường xuyên Bắc Nam) bằng chữ Hán, gồm 26 bài thơ, 2 bài phú, 22 bài văn và một số câu đối. Tuy nhiên, công đáng kể của ông chính là sự khởi xướng việc sưu tập các tác phẩm của các tác giả dòng họ Ngô Thì và biên soạn tập đầu tiên. Nhờ vậy, ngày nay văn học Việt Nam mới có được bộ sách Ngô gia văn phái đồ sộ.

Ngô Thì Điển (? - ?), tự: Kính Phủ, hiệu: Tĩnh Trai, là con trai trưởng của Ngô Thì Nhậm. Lúc trẻ, ông từng là Giám sinh ở Quốc Tử Giám, có đi dạy học ở Bắc Giang, và ở Huế khoảng 10 năm, nhưng không rõ ông có làm quan cho nhà Nguyễn hay không. Ông mất năm nào không rõ. Tác phẩm của ông chỉ có tập Dưỡng chuyết thi văn (Thơ văn nuôi dưỡng cái chí vụng về). Bản chép tay hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội) mang ký hiệu A.117a/21.

Nhìn chung, thơ ông giàu suy tư, ẩn chưa một thái độ ngang tàng khinh bạc. Phần nhiều các bài đều mang âm hưởng trầm buồn, lời thơ giản dị. Theo đề xướng của người chú là Ngô Thì Trí, ông đã ra sức biên tập và làm ra bộ sách Ngô gia văn phái.

Ngô Thì Hoàng (1768-1814), còn có tên là Tịnh, hiệu: Huyền Trai, biệu hiệu: Thạch Ổ cư sĩ, là con Ngô Thì Sĩ, và là em cùng cha khác mẹ với Ngô Thì Nhậm.

Năm Đinh Mão (1807), ông thi đỗ tú tài dưới triều Nguyễn. Tác phẩm của ông chỉ có Thạch Ổ di chương gồm cả thơ, phú, văn xuôi. Phần lớn đều nói về đạo lý, tình yêu thiên nhiên và tâm tư của tác giả. Bản chép tay hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội) mang ký hiệu A.117a/20.

Ông mất năm Giáp Tuất (1814). Cháu ông là Ngô Thì Điển có làm bài Điện tiên thúc Huyền Trai công (Ông chú là Huyền Trai) để điếu ông, trong đó có câu: Chú sống ở đời 47 năm, văn chương như vậy, đức hạnh như vậy, sao trời khắt khe về công danh, lại nở hẹp hòi về tuổi thọ.

Ngô Thì Du (1772–1840), tự: Trưng Phủ, hiệu: Văn Bác. Ông là con của Ngô Thì Đạo (em Ngô Thì Sĩ) với người vợ thứ. Ông sinh tại Nghệ An, khi cha ông mang theo gia đình vào trấn nhậm ở đó. Mặc dù siêng học và học giỏi, nhưng ông không đỗ đạt. Năm 1788, khi Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc lần thứ hai, ông theo cha chạy về huyện Kim Bảng (Hà Nam), rồi Nam Chân (Nam Định) và nhiều nơi khác nữa. Mãi đến 8 năm sau, ông mới trở lại quê dựng nhà làm ruộng.

Năm 1802, sau khi cha mất và Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu là Gia Long, ông rời làng chạy về bên nhà thông gia. Khi ông đã ngoài 40 tuổi, gặp lúc triều đình nhà Nguyễn ban chiếu cầu người tài ra giúp nước, thấy ông là người giỏi nhưng nghèo, bạn bè khuyên ông ra làm quan. Sau khi viên trấn thần ghi tên ông đệ lên, ông lập tức được bổ làm Đốc học Hải Dương. Năm 1821, sau cái chết của người anh họ là Ngô Thì Hương (con út Ngô Thì Sĩ) và của người cháu (1822), ông buồn chán, nên đã làm đơn xin từ chức. Tuy nhiên, mãi đến năm 1827, đời vua Minh Mạng, nguyện vọng của ông mới được chấp thuận. Từ đó, ông sống ở quê cho đến khi mất, thọ 68 tuổi.

Tác phẩm của Ngô Thì Du gồm có: Trung Phủ công thi văn (Thơ văn của ông Trung Phủ), gồm 76 bài gồm thơ, văn và phú; Ngô gia thế phả tông thống truyền văn ký; Tân đàm tâm kính, là sách nghiên cứu về Phật học. Nhìn chung, thơ văn ông sáng sủa, chân chất; nhiều khi cảm động, thiết tha. Ông ưa dùng các thể văn xuôi, phú và thơ cổ thể trường thiên (ngũ ngôn hoặc thất ngôn) để tả thực hoàn cảnh sống mà ông từng nếm trải... Đặc biệt, ông là tác giả 7 hồi tiếp theo (hồi thứ 8 đến hồi thứ 14) của bộ tiểu thuyết lịch sử Hoàng Lê nhất thống chí.

Ngô Thì Hương (1774–1821) còn có tên là Vị, tự: Thành Phủ, hiệu: Ước Trai. Ông lớn lên trong cảnh gia đình họ Ngô Thì đã sa sút, cha đã qua đời và anh cả là Ngô Thì Nhậm thì đang gặp chuyện phiền phức với chúa Trịnh Khải. Do đó, việc học hành của ông không được chu đáo. Dù vậy, khi Gia Long lên ngôi (1802), ông cũng được thu dụng ngay. Buổi đầu, ông được cử làm Thiêm sự bộ Lại. Năm 1809, ông được sung làm Phó sứ trong đoàn sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Về nước, ông tiếp tục việc quan, lần lượt được giữ chức Hiệp trấn Lạng Sơn (1814-1817), Đề điệu trường thi Hương Gia Định (1819).

Cuối năm 1820, ông được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh. Nhưng trên đường đi, khi đến huyện Vĩnh Thuận, phủ Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), thì ông lâm bệnh và mất ngày 1 tháng 1 năm 1821. Lúc ấy, ông mới 47 tuổi.

Các tác phẩm chình của ông là: Mai dịch thú dư (Cỗ xe sứ trạm), tập ký sự bằng thơ chữ Hán, ghi chép lại cuộc đi sứ năm 1809; Thù phụng toàn tập (Toàn tập xướng họa). Một số thơ văn rời rạc, sau khi ông mất, được con cháu tập hợp làm thành tập Thành Phủ công di thảo (Bản thảo để lại của ông Thành Phủ).

Ông viết tuy không nhiều, nhưng những bài thơ bài văn viết về gia đình, về bản thân; hoặc ghi chép về người thực, việc thực... đều là những tác phẩm giàu cảm xúc, chứa đựng nhiều tư liệu quý. Quyển Mai dịch thú dư là tập thơ thể hiện rõ nhất phong cách của ông. Về nghệ thuật, ông có cách viết nhẹ nhàng nhưng dí dỏm, sâu sắc. Đó là nét ít gặp trong thơ chữ Hán.

Ngô Thì Hiệu (1791-1830), tự: Tử Thị, hiệu: Dưỡng Hiên, biệt hiệu: Hoa Lâm tản nhân. Tuy ông chỉ là Giám sinh, nhưng sáng tác khá nhiều thơ văn. Các tác phẩm chính của ông là: Nam du thi tập, Lạng hành ký sự, Quan ngư ký, Khôn trinh ký lục, Dạ trạch phú ký...

Ngô Thì Giai (1818-1881), tự: Cường Phù, hiệu: Vân Lâm cư sĩ, biệt hiệu: Thanh Xuyên. Ông là danh sĩ đời vua Tự Đức, có nhiều thơ văn được chép trong bộ sách Ngô gia văn phái, và ông cũng là người cuối cùng được biên chép trong bộ sách này. Con ông là Ngô Giáp Đậu, tác giả truyện lịch sử Hoàng Việt hưng long chí.



TÌM HIỂU CÁC VĂN BẢN BỘ SÁCH "NGÔ GIA VĂN PHÁI"

NGÔ GIA VĂN PHÁI là một tên bộ sách đã trở thành quen thuộc, không những đối với giới nghiên cứu, mà còn cả với nhiều bạn đọc ưa thích văn học cổ lâu nay. Tuy nhiên, diện mạo, lai lịch của bộ sách ra sao cũng đang còn là vấn đề cần được quan tâm khảo sát. Công việc đó sẽ không chỉ có ý nghĩa đối với ngành nghiên cứu văn học sử, mà trên lĩnh vực lý luận văn học, nó cũng có thể đem đến nhiều bổ ích, lý thú, ví như những quan niệm về văn, văn phái, thể loại, tác phẩm, tác giả, khuynh hướng... Vấn đề rất phong phú và cũng đòi hỏi nhiều công phu. Trong bài này, chúng tôi chỉ xin đi vào tìm hiểu hai vấn đề nhỏ: quá trình hình thành và tình trạng văn bản hiện nay của bộ sách "Ngô gia văn phái". Song trước hết, có lẽ cũng cần trình bày đôi nét về văn phái họ Ngô.

1. Khái niệm “văn phái” và bộ sách “Ngô gia văn phái”.

Trong lịch sử văn học Việt Nam, trước khi xuất hiện bộ Ngô gia văn phái, chưa thấy hai chữ “văn phái” được sử dụng như một thuật ngữ văn học. Vào khoảng những thế kỷ XIV, XV người ta mới chỉ quen dùng từ "xã" (trong "thi xã", như "thi xã Bích Động" của Trần Quang Triều), từ đàn (trong tao đàn như Hội tao đàn của Lê Thánh Tông). Tiếp sau đó, nhiều nhà khảo cứu nhấn mạnh đến vai trò tác gia với những định nghĩa khá rạch ròi và có lý luận.

Tiêu biểu là ý kiến của Ngô Thì Nhậm: “Xưa nay, sáng tác văn chương được gọi là tác gia đã khó. Được gọi là đại tác gia càng khó. Đại tác gia phải là những người (tạo nên) khuôn thước trong nghề thì mới gọi được. Có loại, làm khuôn thước cho gấm thêu. Có loại, làm khuôn thước cho vải vóc. Trong dòng văn chương gấm thêu, cũng có kẻ đi đến trơn tru, bóng mượt. Trong dòng văn chương vải vóc, cũng có kẻ đi đến phô phác, vụng về. Những người như thế, có thể gọi là tác gia, chứ không thể gọi là đại tác gia”(Đề tựa tập thơ “Tinh sà kỷ hành”).

Riêng những người tham gia sưu tập "Ngô gia văn phái" thì trên cơ sở từ "gia", muốn chứng thực thành tựu của một họ, một phái. Họ cũng đã đưa ra giới thuyết về vấn đề này. Ngô Thì Trí định nghĩa: “Phàm gọi tên là văn phái, là để chỉ cái ơn của thi thư cuồn cuộn như nước chảy khôn cùng” (Ngô gia văn phái tự).

Phan Huy Ích thì nói rõ hơn. Ông phân biệt "gia" và "phái". Thành được nhà đã khó: “Văn mà thành được nhà là khó. Các thế gia hoàn thành được những việc tốt đẹp, dòng phái xa dài. Riêng đối với tác phẩm kiệt xuất của văn chương, thì những kẻ rong ruổi trong rừng nghệ thuật, cầm chén nhặt từ không thiếu, những người có được tâm linh kỳ cốt, thì vắng hiếm. Nếu chẳng phải là khí làm nát được vàng đá, thanh hòa với âm nhạc, khuôn mẫu từ chương phát ra ở văn, thì không thể thành nhà” (Ngô gia văn phái tự).

Nhưng thành được "phái" (văn phái) còn khó hơn. Chẳng những các nhà văn phải đạt tới cái đặc sắc, khuôn khổ riêng của mỗi nhà, mà còn phải có sự nối tiếp giữa các thế hệ cùng một dòng họ.

“Trộm nghĩ rằng, gốc sâu thì ngọn tốt, sức chứa lớn thì tiếng kêu to. Có cái đức truyền nối trăm năm, thì sẽ phát ra ở nét văn của con người các thế hệ nối tiếp. Tinh hoa chất chứa thì tràn đầy ở văn chương, còn bản lĩnh thì quy về đạo lý. Khí cách của đại gia rực rỡ, tụ họp mùi thơm, nối dài nét đẹp. Cái đáng nêu lên ở văn phái là hòa hợp cùng mọi người mà không riêng” (Phan Huy ích - Lđd).

Như vậy, Phan Huy ích đã nhấn mạnh đến tính nhất quán trong các tác gia của văn phái. Nhưng xét cho kỹ, thì ông cũng như Ngô Thì Trí vẫn chưa hề nghĩ đến một nhóm hay một tập hợp các nhà văn có một khuynh hướng tư tưởng nhất quán hoặc cùng một phong cách, một phương pháp sáng tác, hoặc cao hơn, còn có cả tổ chức, tuyên ngôn như khái niệm văn đoàn, văn phái sau này. Các ông vẫn giữ quan niệm truyền thống của Nho gia. Văn phái chỉ là những người có học hành, có tài năng viết sách, bất kể là sách gì, thuộc các thế hệ nối tiếp của cùng một dòng họ, chứ không thể là người họ khác; do dòng họ có cái đức lớn và có truyền thống học hành, nên trong một thời kỳ dài, họ ấy vẫn sản sinh ra được các nhà có tài học và viết được sách vở. Còn khuynh hướng tư tưởng của các nhà văn ấy có khác nhau hay không, thì không quan trọng: “Ông cháu, cha con trong khoảng trăm năm nối nhau tích tụ, ngụp lội trong bể học bờ thánh. Bởi vì nguồn xa thì dòng dài, cái chứa lớn thì tưới nhuần lớn. Đã có đức ấy, thì ắt có lời ấy, thế thì lời sẽ thể hiện ra ngoài, mà có nền văn chương ấy” (Ngô Thì Trí - Lđd).

“Nền văn chương ấy” sẽ được coi là vật gia bảo, là ơn huệ thi thư mà con cháu phải trân trọng giữ gìn. Vì lẽ đó, tiêu chuẩn để sưu tập tác phẩm của văn phái họ Ngô chủ yếu lại là huyết thống, gia tộc chứ không phải khuynh hướng sáng tác.

Và "Ngô gia văn phái" vẫn chỉ là bộ tùng thư, thu thập toàn bộ tác phẩm của tất cả những ai thuộc dòng họ Ngô Thì mà thôi !

Đến như Phan Huy Ích gắn bó với gia đình này là thế, quan niệm của ông và Ngô Thì Nhậm, trong thơ văn cũng như trong cuộc đời, nhất trí là thế, vậy mà tác phẩm của ông cũng không được đưa vào đây một bài nào.

Đương nhiên, giữa các tác gia trong dòng họ Ngô, cũng đạt được đến sự thống nhất nào đó trên một số phạm trù rất chung, như quan niệm về sự hòa kính trong gia đình, nghĩa vụ của con cháu đối với gia tộc, thái độ trước một cuộc sống thanh cao, quan niệm về vị trí nghề nông... Song nét nổi lên dễ nhận thấy hơn ở "Ngô gia văn phái" là sự phân hóa trong hàng ngũ tác giả.

Điều đó cũng tất nhiên, bởi lẽ từ những năm 80 của thế kỷ XVIII, tình hình Bắc Hà rất rối ren. Sự xuất hiện của Quang Trung Nguyễn Huệ ở Thăng Long năm 1786, rồi trận đại thắng quân Thanh hai năm sau đó, đã hoàn toàn phá vỡ thế bùng nhùng của cục diện chính trị đương thời. Các nho sĩ bị đặt giữa ngã ba đường và buộc lòng phải chọn một hướng đi dứt khoát. Sự phân hóa của gia đình họ Ngô cũng nằm trong tình hình chung đó của giới nho sĩ đương thời. Mặt khác, trong một thời kỳ ngắn, ba triều đại đổi thay nhau và tiêu diệt lẫn nhau (1).

Các nhà văn nối tiếp của một dòng họ, phục vụ cho các triều đại thế tất phải có các tư tưởng khác nhau. Cho nên, mặc dù họ vẫn tôn trọng thứ bực trong gia tộc, vẫn gắng giữ tình cảm ruột thịt anh em chú bác, cố gắng duy trì nền nếp thống nhất, nhưng thực chất, giữa họ đã có những quan niệm rất khác nhau, thậm chí đối lập, trên nhiều vấn đề quan trọng. Và không thể tránh được sự hình thành những khuynh hướng khác nhau về quan điểm chính trị trên cơ sở đó hình thành các nhóm. Do vậy, bộ sách được gọi là "Ngô gia văn phái" mới chỉ dừng lại ở mức độ một tập hợp tác phẩm của những nhà văn khác nhau trong dòng họ Ngô mà thôi.

2. Sự hình thành bộ sách “Ngô gia văn phái”.

"Ngô gia văn phái" là một bộ sách phong phú, tác giả đông, tác phẩm nhiều và thể loại đa dạng. Khảo sát tình trạng văn bản hiện nay, ta có thể hình dung thấy bộ sách không phải được hoàn thành ngay trong một lần sưu tập, mà đã trải qua 3 thời kỳ:

- Thời kỳ đầu là những sưu tập rải rác về từng tác gia như: Nam trình lên vịnh của Ngô Thì Ức do Ngô Thì Sĩ sưu tập; Nghi vịnh thi tập gồm toàn bộ tác phẩm của Ngô Thì Ức do Ngô Thì Nhậm sưu tập để khắc in; Ngọ Phong thi tập được thu thập sau khi Ngô Thì Sĩ mất và đã hoàn thành từ năm Quý Mão (1783). Ngoài ra, một số tác giả đã tự hoàn chỉnh những sáng tác của mình thành từng tập, mỗi tập gồm những tác phẩm sáng tác trong một thời gian nhất định, như Ngô Thì Nhậm có: Hào mân ai lục, Bang giao hảo thoại, Thủy vân nhàn vịnh, Cúc hoa thi trận v.v..., Ngô Thì Chí có: Học Phi văn tập, Học Phi thi tập, Hào mân khoa sớ v.v...

- Thời kỳ thứ hai: sưu tập để xây dựng thành "Ngô gia văn phái". Hiện nay, chưa rõ công việc được bắt đầu và hoàn thành vào năm nào. Chỉ biết rằng, người khởi xướng là Ngô Thì Trí, nhưng người thực hiện chính và hoàn thành lại là Ngô Thì Điển, con trai cả Ngô Thì Nhậm. Trong lời đề tựa, Ngô Thì Trí nói rõ: “Tôi tài đức đều kém, học hành lỗ mãng, thường vẫn muốn soạn định thành sách, trên là để làm sáng tỏ công đức của cha ông, dưới là để có đủ sách thông khảo cho gia đình. Nhưng rồi công việc bề bộn, chưa làm được như nguyện. Sách này là do con trai anh trưởng tôi nối chí, tập hợp văn của vài bốn đời mà biên chép lại, phân mục quy lại. Tập hợp xong, bàn với tôi, đặt tên sách là“Ngô gia văn phái” (Ngô gia văn phái tự).

Trong một lời đề tựa khác, Phan Huy ích nói rõ hơn:

“Toàn tập gồm hơn 20 quyển, gần đây lưu truyền trong cõi, người ta tranh nhau truyền tụng. Nay con em trong nhà muốn khắc in, bảo tôi đề tựa. Tôi già rồi, yếu lại lười, từ lâu không cầm đến bút mực, sao đủ sức để tán dương một dòng họ lừng lẫy. Nhớ lại 50 năm trước, được nghe lời dạy bảo của nạhc phụ tôi, đã lĩnh hội được khuôn phạm văn gia. Đến giữa chừng, gặp sự đổi thay, tôi cùng anh vợ ứng thế, kẻ phác thảo, người nhuận sắc, hình hài và tinh thần nương dựa nhau. Thế mà nay, bể dâu biến đổi, chợt nhớ lại ngày trước, mơ hồ như một giấc mộng...” (Ngô gia văn phái tự).

Phan Huy ích không đề ngày tháng viết bài tựa, nhưng năm 1768, Ngô Thì Sĩ làm Hiến sát Thanh Hoa, Phan về quê thi, có rẽ vào thăm bố vợ, thi xong lại đến đó ở một năm để học. Như vậy có thể thời gian ông “được nghe lời dạy dỗ”, lĩnh hội được khuôn phạm văn gia là khoảng mùa thu 1768 đến mùa thu 1769. Thế thì, thời gian Phan Huy ích viết lời tựa cho "Ngô gia văn phái" có thể ức đoán vào khoảng năm 1819.

Cũng theo ông, lúc này bộ sách đã được người ta “tranh nhau truyền tụng”, tức là nó đã hoàn thành trước đó một thời gian. Từ những chi tiết trên, có thể đi đến kết luận rằng: Ngô gia văn phái đã được hoàn thành trong khoảng từ 1815 đến 1819. Bộ sách mới chỉ gồm hơn 20 quyển, sưu tập những trước tác trên vòng 100 năm của ba bốn thế hệ, tức là từ Ngô Thì Ức đến thế hệ Ngô Thì Điển.

- Thời kỳ thứ ba: chủ yếu là sự bổ sung, sao chép và sắp xếp lại ở các thế hệ sau. Hiện nay trong số các bản Ngô gia văn phái, có bản chép riêng tác phẩm của Ngô Thì Giai (1818 - 1881) và một người nữa là Tuân Phủ công, chưa rõ tên thật. Việc làm này có ưu điểm làm cho bộ cách phong phú thêm, bổ sung thêm được những tác phẩm mà Ngô Thì Điển còn chưa biết hoặc chưa sưu tầm hết. Nhưng nó cũng phá vỡ khuôn khổ ban đầu của bộ sách, khiến cho ngày nay rất khó xác định cách thức sắp xếp, các hệ thống chú thích, biên khảo... của nguyên bản Ngô Thì Điển.

3. Tình trạng hiện nay của các bản “Ngô gia văn phái”.

Hiện nay, theo sự thống kê của nhà thư mục học Trần Văn Giáp (Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Thư viện Quốc gia, 1971) và nhóm tuyển dịch Ngô gia văn phái (Ty Văn hóa Hà Sơn Bình xuất bản, 1980) thì ở Hà Nội, kể cả các thư viện công và tư, có đến khoảng gần 20 bộ "Ngô gia văn phái". Riêng Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm có 18 bộ. Tất cả đều là sách chép tay, nội dung không thống nhất, cách sắp xếp tác phẩm cũng không nhất quán; có thể nói, không bộ nào có kết cấu giống bộ nào. Tuy nhiên, cũng có thể tạm chia làm hai loại:

a. Loại lẻ bộ, gồm các bản:

A.117b gồm 4 quyển, ghi rõ “Đích tôn Ngô Thì Điển biên tập”, nhưng việc biên chép có nhiều nhầm lẫn và lộn xộn. Kết cấu của sách không hoàn toàn theo nguyên tắc thể loại, cũng không theo trật tự thời gian. Chẳng hạn Quyển I chép văn loại của Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, thì phần cuối lại chép tập thơ Mai dịch thú dư (của Ngô Thì Hương) trong khi đó Quyển IV chép thi loại (gồm Nghi vịnh thi tập của Ngô Thì Ức và Anh Ngôn thi tập của Ngô Thì Sĩ) thì phần cuối lại chép một phần của Ngọ Phong văn tập.

Mặt khác, tên đăng ký của Thư viện cũng không đúng với tên ghi trên trang đầu quyển sách; Chẳng hạn như: Quyển III tên đăng ký là "Ngô gia văn phái" A.117b/3 nhưng bên trong, sách gồm rất nhiều quyển: "Ngô gia văn phái" Quyển 20, 21, 22, 23, 24, 30, 31, 32; các quyển từ 19 trở về trước và từ 25 đến 29 không thấy. Quyển IV (A.117b/4) phần chép thơ thì gồm "Ngô gia văn phái từ quyển 1 đến quyển 4, nhưng sang phần văn lại có tên là "Ngô gia văn phái" quyển Thượng.

Như vậy, rõ ràng bản này là một bộ thu góp nhiều bộ khác nhau, nhưng không bộ nào hoàn chỉnh, do đó số lượng tác phẩm của mỗi tác gia đều bị thiếu hụt. Chắc chắn đây không phải bản gốc của Ngô Thì Điển.

A.117/c gồm 3 quyển và A.117/d gồm 3 quyển, chỉ chép riêng thơ Ngô Thì Nhậm.

A.117/d chỉ có 1 quyển chép tác phẩm của Ngô Thì Giai và một người nữa là Tuân Phủ Công.

VHv.807 gồm 6 quyển, chỉ chép riêng Xuân thu quản kiến của Ngô Thì Nhậm.

A1330: 1 quyển, chép tác phẩm của năm tác giả Ngô Thì Trí, Ngô Thì Du, Ngô Thì Điển, Ngô Thì Hiệu, Ngô Thì Lữ.

b. Loại tương đối đủ bộ.

Loại này không nhiều, cũng chỉ có vài bộ, nhưng không bộ nào hoàn chỉnh.

Tình hình cụ thể như sau:

VHv.16 gồm 13 quyển, chép tác phẩm của 7 tác giả. Sách này chép cẩn thận, chữ tốt, cách phân loại rành rọt, là bản bổ sung tốt cho A.117a.

VHv.1743 gồm 36 quyển. Nhìn qua có thể nghĩ rằng bộ này đầy đủ và gần với bản gốc hơn cả. Song xem xét kỹ thì không phải thế. Mặc dầu số trang số quyển rất đồ sộ, nhưng sách chỉ chép được 6 tác giả và tác phẩm cũng không được sưu tập đầy đủ. Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Chí không có thơ, Ngô Thì Nhậm không có Xuân thu quản kiến. Các tác giả: Ngô Thì Trí, Ngô Thì Hoàng, Ngô Thì Điển... đều không được chép. Trong khi đó, có đến hơn 10 quyển chép trùng lặp; có tác phẩm chép đi chép lại đến ba lần. Đó là các quyển: 1, 3 và 6, 35, 8; 2 và 7; 4 và 9, 34; 5 và 10, 34; 13, 14 và 29, 30; 26, 27 và 21; 28 và 19, 21, 26, 27; 34 và 4, 5, 11, 12.

Tóm lại, VHv.1743 cũng không phải là một bộ sách có kết cấu hoàn chỉnh, nó cũng nhập thêm những quyển lẻ; cách sắp xếp thì không hoàn toàn theo thể loại. Vì vậy, nội dung vừa thừa vừa thiếu, lại có hiện tượng lầm lẫn, lộn xộn, không thể tin cậy hoàn toàn được.

A.117a: gồm 30 quyển. Bản này do Viện Viễn Đông Bác cổ thuê chép, là bản hoàn chỉnh, biên tập có nguyên tắc nhất quán và tương đối hợp lý. Bản này sắp xếp riêng từng tác giả và trong mỗi tác giả, tác phẩm chủ yếu sắp xếp theo thể loại. Nói chủ yếu là vì, cũng có những tác phẩm được giữ nguyên, mặc dù tác phẩm đó bao gồm nhiều thể loại, như trường hợp Khuê ai lục của Ngô Thì Sĩ.

Theo cụ Trần Văn Giáp (Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Sđd) thì bản này được sao chép từ một bản gốc của nhà họ Ngô và là bản tốt nhất. Tuy nhiên, hiện nay chưa tìm thấy bản gốc hay một bản nào gần gũi với A117a. So với các bản khác, A117a có nhiều ưu điểm: số lượng tác giả, tác phẩm phong phú, đầy đủ hơn, chữ viết rõ ràng, ghi chú rành mạch, biên tập có quy tắc nên dễ theo dõi, và có thể dễ dàng tìm được ngay tác gia mình cần.

Song A.117a cũng còn nhiều nhược điểm: Hoàng Lê nhất thống chí là tác phẩm văn học giá trị bậc nhất của "Ngô gia văn phái", thì không hiểu vì sao những người sao chép lại bỏ sót? Bên cạnh đó, sự nhầm lẫn vẫn không thể tránh được. Các quyển 18, 19, 20 và 23 đã chép trùng tác phẩm của các tác giả: Ngô Thì Chí, Ngô Thì Trí và Ngô Thì Hoàng. Trong đó, quyển 18 mang nhan đề Học Phi thi tập nhưng lại chép cả Sóc Nam hành kính của Ngô Thì Trí và Thạch Ổ di chương của Ngô Thì Hoàng (những tác phẩm này được chép lại ở hai quyển 19, 20). Điều nguy hại là các phần Sóc Nam hành kính, Thạch Ổ di chương ở quyển 18 không đề tên tác giả, có thể khiến bạn đọc nhầm tưởng Ngô Thì Chí cũng là tác giả của hai tập này. Ngoài ra, mặc dù sách được chép cùng một khổ giấy, một cách đóng, một loại bìa và chúng được đánh số từ quyển 1 đến quyển 30, nhưng bên trong một số quyển lại mang những phụ đề chứng tỏ nó thuộc một hệ thống khác.

Ví như, tất cả các quyển chép tác phẩm của Ngô Thì Nhậm đều mang phụ đề "Ngô gia văn phái tuyển" và có một hệ thống ghi số riêng, chứng tỏ nó là phần IV, mà tác phẩm của Ngô Thì Chí là phần V, của một bộ hoàn chỉnh nào đó, nhưng ở đây, chỉ tuyển một phần (của Ngô Thì Nhậm từ “tứ chi lục” đến “tứ chi thập tứ” rồi sau đó là “tứ chi thập cửu” đến “tứ chi nhị thập ngũ” tức là từ quyển 6 đến quyển 14 của phần 4 và từ quyển 19 đến quyển 25 của phần 4. Phần của Ngô Thì Chí từ “ngũ chi nhất” đến “ngũ chi tam” tức là từ quyển 1 đến quyển 3 của phần 5).

Căn cứ vào lời tựa ở đầu bộ sách và đối chiếu với nội dung bên trong, có thể nghĩ rằng, A.117a chủ yếu đã giữ được kết cấu ban đầu của "Ngô gia văn phái". Bản này sưu tập khá kỹ tác phẩm của bốn thế hệ, tính từ Ngô Thì Điển trở lên, đến Ngô Thì Ức. Tuy nhiên, A.117a cũng không phải được sao từ một bản gốc. Số quyển đã tăng lên so với lời ghi của Phan Huy Ích (từ hơn 20 quyển lên 30 quyển); những phụ đề không nhất quán, lời ghi chú dưới quyển 21 Dưỡng chuyết thi văn của Ngô Thì Điển (Dĩnh trai công di tảo)... chứng tỏ bộ sách đã có sự tham gia bổ sung, sửa đổi, kết hợp nhiều bản và có thể cả việc kết cấu lại của thế hệ sau Ngô Thì Điển.

So sánh với VHv.1743 thì trong việc phân loại, sắp xếp tác phẩm, A.117a đã kết hợp được hai nguyên tắc: thể loại và tác giả, khiến cho sự tra cứu dễ dàng hơn, kết cấu của bộ sách cũng đỡ rối hơn. Cho dù vẫn còn thiếu nhiều tác phẩm quan trọng, như toàn bộ thơ Ngô Thì Nhậm, Hoàng Lê nhất thống chí, Việt sử tiêu án, A.117a vẫn là bản tốt đáng tin cậy hơn cả trong số những bản Ngô gia văn phái còn lại hiện nay trong Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Tóm lại, "Ngô gia văn phái" là một bộ tùng thư, sưu tập tác phẩm của dòng họ Ngô Thì ở Tả Thanh Oai. Bộ sách được hoàn thành từ khoảng những năm 20 của thế kỷ XIX. Sau đó, nó được sao chép lại nhiều lần, và trong quá trình đó, tác phẩm được bổ sung, quy cách sắp xếp, biên soạn cũng có thay đổi. Trong các bản ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện nay, không thấy có một bản gốc hoàn chỉnh nào, trái lại, ở mỗi bản đều có thể nhận ra dấu vết biến dạng của bộ sách, sau những lần sao chép. Ví như A.117a, VHv.1743 là bản có bổ sung, nhập vào một số bản khác nhau; A.117b là bản bổ sung tác phẩm tác giả mới; A.117c, A.117d, VHv.801... là những bản chỉ tách ra một số tác phẩm nào đó theo yêu cầu riêng của người sao chép; A.117b, VHv.16 là những bản đang sao chép dở dang.

Điều đáng tiếc nữa là mặc dù những người soạn "Ngô gia văn phái" định khắc in, nhưng ý đồ đó chưa được thực hiện, vì vậy, rất có thể, trong bộ sách còn lẫn những tác phẩm của tác giả ngoài Ngô gia, mà hiện nay chưa có điều kiện xác định. Tuy nhiên, từ bản đầy đủ nhất là A.117a, bổ sung thêm bằng các bản VHv.16, VHv.1734, A.117c, A.117d ... người nghiên cứu cũng có gần đủ tài liệu để tìm hiểu các tác gia, cũng như những vấn đề mà mình quan tâm.

……….........Trần Thị Băng Thanh
......(Tạp chí Hán Nôm số 1 năm 1988)

Chú thích:
(1) Ba triều đại là: Lê-Trịnh, Tây Sơn rồi Nguyễn.


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 15.03.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TẾT BÍNH THÂN 2016

ĐÔI ĐIỀU VỀ VĂN XƯƠNG ĐẾ QUÂN

Văn Xương Đế Quân được dân gian lẫn Đạo giáo tôn sùng là Thần chủ quản công danh phúc lộc của sĩ nhân.

Văn Xương Đế Quân là nhóm sao Đẩu Khôi, gồm 6 ngôi sao xếp thành hình bán nguyệt nằm ở phía trước sao Bắc Đẩu, mỗi sao có một tên, quản về văn vận khoa danh.

Văn Xương vốn là tên gọi chung của 6 sao Đẩu Khôi, gồm các sao: Thượng Tướng, Thứ Tướng, Quý Tướng, Tư Mệnh, Tư Trung, Tư Lộc. Người xưa cho rằng, Văn Xương là ngôi sao giữ về văn vận khoa danh, do đó, được các nho sinh sùng bái, cúng tế.

Văn Xương Đế Quân vốn sinh đầu đời Chu (Châu), đã trải 73 kiếp hóa thân, từng là sĩ đại phu. Cuối đời Tây Tấn, Ngài giáng sinh tại đất Thục tên là Á, họ là Trương, tự là Bái Phu, được lệnh Thượng đế Ngọc Hoàng cho làm chưởng quản Phủ Văn Xương và Lộc tịch (sổ sách về Quan lộc) của nhân gian.

Văn Xương Đế Quân họ là Trương, húy là Thiện Huân, có những thần tích linh dị, phàm nhương tai, khử họa, đảo vũ, cầu tự, hễ có thành tâm, tất có ứng nghiệm, có thể trấn phục yêu ma, tảo trừ dịch bệnh. Ngài được gọi là Văn Chương Tư Mệnh, vì các giới quý tiện văn võ y bốc sĩ nông công thương, hễ có lòng mong cầu công danh, đều trông cậy vào Ngài. Ngài cư ngụ ở cung Văn Xương, nơi chòm sao Tử Vi, thường giáng cơ viết kinh, hiển mộng báo tin, phân thân ứng hóa, cứu độ nhân sinh.

Tại Việt Nam, Văn Xương Đế Quân được thờ tại đền Ngọc Sơn, Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội, kể từ khi đền được trùng tu năm Thiệu Trị thứ nhất (1841). Ngoài ra, Ngài còn được thờ trong nhiều chùa miếu của người Hoa. Đạo giáo lấy ngày 3 tháng 2 âm lịch làm ngày lễ đức Văn Xương Đế Quân.

Tác giả Hoàng Giáp trong bài “Một vài từ Hán có ý nghĩa tôn giáo sâu xa tại đền Ngọc Sơn”, đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 1/1998, cũng có giải thích về Văn Xương Đế Quân, về cơ bản là giống với hai cách giải thích trên.

“Trong đền Ngọc Sơn có hai nơi đề Văn Xương Đế Quân: thứ nhất là biển gỗ bên trái, dưới tượng Văn Xương Đế Quân; thứ hai là bài vị trên bệ thờ cao nhất, trước tượng Văn Xương Đế Quân. Nếu dịch, ta chỉ có thể để nguyên âm Hán: Văn Xương Đế Quân. Để hiểu về Văn Xương Đế Quân, Ban Quản lý di tích và danh thắng Hà Nội đã viết tóm tắt tiểu sử thần Văn Xương. Nội dung ấy phù hợp với chú thích trong Tuyển tập văn bia Hà Nội: “Tử Đồng Đế Quân (Văn Xương Đế Quân) chính tên là Trương Á Tử, người đời Tấn, sau khi chết hiển linh được nhiều người thờ cúng. Đạo gia cho rằng, Tử Đồng Đế Quân coi việc ở phủ Văn Xương và giữ sổ tước lộc của nhân gian”.

Để hiểu Văn Xương Đế Quân, trước tiên ta cần tìm hiểu từ Văn Xương.

Các sách như Từ Hải, Nho Phật Đạo bách khoa từ điển, Âm chất văn chú chứng đều dựa vào thiên Quan thư trong Sử ký của Tư Mã Thiên để giải thích: Chòm sao Bắc Đẩu có 6 sao gọi là cung Văn Xương, một là Thượng Tướng, hai là Thứ Tướng, ba là Quý Tướng, bốn là Tư Mệnh, năm là Tư Trung, sáu là Tư Lộc. Sao Thượng Tướng và sao Thứ Tướng chủ về võ bị, sao Quý Tướng chủ về văn học, sao Tư Trung và Tư Lộc chủ về khen thưởng, ban tước lộc, sao Tư Mệnh chủ về trừng phạt gây tai họa.

Đạo giáo tôn sùng Văn Xương thành Văn Xương Đế Quân, hay Tử Đồng Đế Quân. Từ “Đế Quân” chẳng qua chỉ là tôn hiệu của thần mà thôi. Thế là Văn Xương, từ một cung gồm 6 sao, qua lăng kính của tôn giáo, đã trở thành vị thần trông coi cung Văn Xương. Đã là thần thì có ngày sinh, ngày hóa, cũng cân đai mũ mão, cũng ái ố hỉ nộ. Đạo giáo đại từ điểnÂm chất văn chú chứng đều nói: Đầu thời Chu, Văn Xương Đế Quân giáng sinh vào nhà Trương Ẩn đất Cối Kê, tên là Trương Thiện Huân. Thời Chu Lệ Vương, giáng sinh vào nhà Trương Vô Kỵ, gọi là Trương Trọng Tự. Thời Tấn, giáng sinh vào nhà họ Trương ở Kim Mã Sơn, gọi là Trương Á (Trương Á Tử). Thời Tống, giáng sinh vào nhà họ Trương, gọi là Trương Tuấn. Sau thời Tống, không thấy Văn Đế giáng sinh nữa. (Đạo giáo do Trương Đạo Lăng sáng lập, nên các thần của Đạo giáo, nhiều vị mang họ Trương).

Đạo giáo phát tích ở đất Ba Thục (Trung Quốc), nên đền thờ Văn Xương được xây dựng đầu tiên tại phía bắc Thành Đô, gọi là Thanh Hư quán. Cũng ở huyện Tử Đồng đất Ba Thục còn ngôi đền thờ Tử Đồng Đế Quân. Tử Đồng Đế Quân là thần của Ba Thục, thần bảo vệ cho dân địa phương. Trong quá trình dung hợp tôn giáo, dân Ba Thục đã gộp Văn Xương và Tử Đồng làm một, gọi là Văn Xương Đế Quân hay Tử Đồng Đế Quân.

Thời Đường, Tống, đền thờ Văn Xương Đế Quân phổ biến ở nhiều nơi. Tương truyền, kẻ sĩ đi thi ngang qua đền thờ Văn Xương Đế Quân, nếu gặp mưa thì đỗ Tiến sĩ. Các quan đại phu đi ngang qua đền thờ Văn Xương Đế Quân, nếu gặp mưa thì làm Tể tướng. Vương An Thạch do đi qua đền thờ Văn Xương Đế Quân gặp mưa, nên làm đến Tể tướng.

Thời Minh, nơi nào mở trường dạy học đều xây đền thờ Văn Xương Đế Quân. Thời Thanh quy định ngày sinh của Văn Xương Đế quân là ngày 3 tháng 2. Hàng năm cứ vào ngày này các đền quán thờ Văn Xương Đế Quân lại mở hội tế lễ rất linh đình”.

Tác giả Hoàng Giáp còn cho biết thêm:

“Trong cuốn Trấn Vũ quán lục, Thanh Hòa Tử chép: Vào năm Quang Thuận triều Lê Thánh Tông (1460 – 1469), Nguyễn Công, người làng Hoàng Xá, huyện Yên Sơn, tỉnh Sơn Tây đi sứ Trung Quốc, qua đền Văn Xương Đế Quân, đem tượng Đế Quân về thờ tại Trấn Vũ quán Hà Nội. Sau đó, lại đem tượng thần về quê lập đền phụng thờ”.

Sách Đại Nam nhất thống chí, mục về tỉnh Sơn Tây, viết về đền Tử Đồng Đế Quân trên núi Hoàng Xá, huyện Quốc Oai như sau:

“Đền Tử Đồng Đế Quân ở sơn phận xã Hoàng Xá, huyện Yên Sơn. Thần họ Trương, húy là Á, người Việt (chỉ tỉnh Quảng Đông hoặc Quảng Tây, Trung Quốc), sinh vào đời Tấn (265-420), sau dời đến ở đất Tử Đồng, thuộc Thục quận. Lúc trẻ thi đỗ, là danh sư đất Thục. Sau khi mất, học trò lập đền thờ, đề là “Văn Xương từ”. Khi Đường Minh Hoàng tránh giặc (An Lộc Sơn) chạy vào đất Thục, thần hiển linh giúp sức. Giặc yên, tấn phong Vương hiệu, sau gia phong Đế hiệu. Đời Lê Hồng Đức (1470-1497), Thượng thư Nguyễn Địch Tâm sang sứ Trung Quốc, xin được tượng thần đem về lập đền thờ ở xã Hoàng Xá. Về sau, học trò đi thi, đến cầu báo mộng thường được ứng nghiệm. Bản triều năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), phong Thượng đẳng thần”.

Tác giả Nguyễn Thế Long trong cuốn “Đình và Đền Hà Nội” viết:

“Văn Xương Đế Quân là vị thánh của Đạo giáo, được thờ ở Trung Quốc. Đến đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497), Nguyễn Công Định đi sứ Trung Quốc đem tượng thánh về thờ chung với Huyền Thiên Trấn Vũ ở Trấn Vũ Quán. Đến năm 1843, Hội Hướng Thiện mới rước từ Trấn Vũ Quán về thờ ở đền Ngọc Sơn”.

Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc trong cuốn “Hồ Hoàn Kiếm và Đền Ngọc Sơn”, khi viết về Văn Xương Đế Quân, cũng cho biết:

“Văn Xương, ngay ở Trung Quốc, cũng có nhiều cách giải thích. Theo sách Từ Nguyên, Văn Xương là tên vùng đất, tên sao, và tên vị thần. Vùng đất là huyện Văn Xương ở phía nam tỉnh Quảng Đông. Chòm sao có tên Văn Xương cung gồm các sao Đẩu, Khôi, Dực, Khuông v.v… Đó là cát tinh, chủ sự đại quý. Văn Xương còn là tên một vị thần mà người ta quen gọi là Văn Xương Đế Quân hoặc Tử Đồng Đế Quân.

Về lai lịch vị thần này, có nhiều sách nói khác nhau. Sách Trà hương thất tùng sao thì cho là Văn Xương từng làm Thái thú quận Ích Châu, đời Hán Kiến Vũ (25-55 sau CN) được tôn làm Tử Đồng văn quân. Sách Dư địa kỷ thắng lại cho đó là Trương Dục, người đất Thục, chống giặc Phù Tần và chết ở đất Tử Đồng năm Tấn Ninh Khang thứ 2 (374 sau CN). Sách Minh sử lại nói, đó Trương Á Tử, ở núi Thất Khúc nước Thục, chết trận thời nhà Tấn (thế kỷ thứ IV). Đến đời Đường (618-905) và cả đời Tống (960-1279), ông được phong đến tước Anh Hiển Vương. Những người theo Đạo giáo cho rằng, Tử Đồng được thượng đế giao cho làm chủ cung Văn Xương và giữ lộc tịch (tức sổ lộc ban phát cho trần gian). Triều Nguyên (1277-1367), phong là Đế Quân và cho thờ ở các trường học trong nước”.


Những điều ít biết về đền Ngọc Sơn trong lịch sử

Với thế hệ trẻ ngày nay, ít ai biết rằng, đền Ngọc Sơn từng trải qua bao thăng trầm, biến thiên, để rồi đứng vững vàng, lộng lẫy giữa lòng Hà Nội như ngày nay.

Nổi bật giữa Hồ Gươm trong xanh, đền Ngọc Sơn được xây trên một đảo nhỏ nằm về phía Bắc của hồ, mang vẻ đẹp cổ kính và sang trọng hiếm có.

Sách cổ còn ghi, khởi nguyên, khi vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long, đã đặt tên ngôi đền là Ngọc Tượng, đến đời nhà Trần, đổi là Ngọc Sơn. Thời Trần, ngôi đền để thờ những người anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong kháng chiến chống Nguyên Mông. Về sau, lâu ngày, đền ấy sụp đổ.

Đến thời Vĩnh Hựu nhà Lê (1735-1739), chúa Trịnh Giang dựng cung Thụy Khánh ven hồ để chiều chiều ra đây hóng mát, sai đắp hai quả núi đất ở bên bờ phía Đông, đối diện với đền Ngọc Sơn, gọi là núi Đào Tai và núi Ngọc Bội. Cuối đời nhà Lê, cung Thụy Khánh bị vua Lê Chiêu Thống cho đốt năm 1787 để trả thù các chúa Trịnh.

Một nhà từ thiện tên là Tín Trai, nhân nền cung cũ, dựng lên một ngôi chùa nhỏ, gọi theo tên cũ, là chùa Ngọc Sơn. Bài ký trên văn bia chữ Hán “Ngọc Sơn Đế Quân từ ký”, do Tiến sĩ Vũ Tông Phan soạn năm 1843 còn ghi được sự kiện này như sau:

"... Hồ Tả Vọng, tên cũ gọi là hồ Hoàn Kiếm, là một danh thắng đất kinh kỳ xưa. Phía Bắc hồ, một gò đất nổi lên, rộng khoảng ba bốn sào, tương truyền là chỗ đài câu cá thời cuối Lê. Trước đây, ông Tín Trai, người làng Nhị Khê, nhân có đền Quan Đế tại đấy, bèn mở rộng sửa sang thêm, gọi là chùa Ngọc Sơn...".

Vậy thì, trong lịch sử, trong khu vực đền Ngọc Sơn ngày nay vốn có ngôi chùa tên là chùa Ngọc Sơn. Chùa quay mặt về hướng Nam, phía trước dựng gác chuông, phong cảnh nhờ thế càng thêm khởi sắc. Tuy nhiên, trải qua năm tháng lâu ngày, chùa bị đổ nát, tưởng chừng chùa cũng muốn đi theo người.

Ít năm sau, đất chùa được nhường lại cho một Hội từ thiện đổi làm đền thờ Tam Thánh. Hội gồm những người xuất thân khoa mục tham gia. Khi mới thành lập, mục đích của Hội chủ yếu là khuyến khích người ta làm việc thiện. Hội thờ Văn Xương Đế Quân, nhưng chưa có đền thờ. Những người con của ông Tín Trai có quan hệ mật thiết với Hội, nên đã tình nguyện nhượng lại chùa này cho Hội.

Toàn Hội tập trung lại, đến làm lễ trước ngài Văn Xương Đế Quân, xin được quẻ bói, viết rằng:

Bảo kiếm tân ma bách hiện quang,
Tứ phương chiếu diện nhậm hành tàng.
Tòng tiền tự hữu căn cơ tại
Nhuận sắc tăng huy thanh bá dương.


Tạm dịch là:

Gươm báu mới mài ánh sáng choang,
Bốn phương chiếu rọi mặc hành tàng.
Từ xưa nền tảng còn nguyên đó
Nhuận sắc khang trang nức tiếng vang.


Theo đó, Hội tiến hành tu bổ đền thờ, dỡ bỏ gác chuông chùa, cải tạo chùa thành ngôi đền thờ Văn Xương Đế Quân. Đền được khởi công từ mùa Đông năm Tân Sửu (1841), đến mùa Thu năm Nhâm Dần (1842) thì hoàn tất.

Năm Tự Đức thứ 18 (1865), Phương Đình Nguyễn Văn Siêu đứng ra tu sửa lại đền. Đền mới sửa đắp thêm đất và xây kè đá xung quanh, xây đình Trấn Ba (chắn sóng), bắc một cầu từ bờ Đông đi vào, gọi là cầu Thê Húc (đón ánh hào quang).

Trong văn bia ”Trùng tu Văn Xương miếu bi ký”, do Án sát sứ tỉnh Hà Nội là Đặng Lương Hiên soạn vào khoảng thời gian sau khi tu sửa lại đền, có ghi lại rằng:

"... Hiện nay, đền thờ mới đã hoàn thành. Phía trước kè bờ nước, làm đình Trấn Ba, ngụ ý là cột trụ đứng vững giữa làn sóng văn hóa. Bên tả, phía Đông cầu Thê Húc, dựng Đài Nghiên. Lại về phía Đông, trên núi Độc Tôn, xây Tháp Bút, tượng trưng cho nền văn vật. Qua ba bốn năm, nhờ vào tiền quyên góp, mới làm xong...".

Với các văn nhân ở Hà Nội lúc bấy giờ, việc hướng thiện và chấn hưng giáo dục rất được đề cao. Khi dựng lại đền Ngọc Sơn, ngụ ý của các nhà nho là muốn nêu cao nền giáo hóa mang ý nghĩa nhân văn cao cả. Vì thế, trong bài ký, Án sát sứ Đặng Lương Hiên nhấn mạnh rằng:

"Miếu thờ Văn Xương Đế Quân ở khắp thiên hạ, để dạy mọi người làm điều thiện mà thôi. Nhưng người ta làm điều thiện, không gì quan trọng bằng ngăn lòng dục của người, mà bảo tồn lẽ phải của trời. Làm được như vậy, chẳng cầu lộc mà lộc tự về, phúc lộc tự nhiên mà đến với họ".

Thành Thăng Long xưa là một nơi lễ giáo, trải qua bao phen biến đổi, danh thắng hoang tàn. Cảm nhớ dấu xưa mà các trí thức văn nhân đã sửa sang phục hồi, đủ khiến non sông thêm vẻ đẹp. Về sau, đền thờ thêm Lã Tổ (thần coi về thuốc chữa bệnh) và Đức thánh Trần, vị anh hùng chống quân Nguyên Mông, tương truyền đã cho tập trận thủy quân tại hồ này.

Trải qua nhiều sự thay đổi, như một nhân duyên định mệnh, đền Ngọc Sơn vốn là ngôi đền, rồi xây chùa, rồi dỡ chùa dựng lại đền và đền trở thành đền Ngọc Sơn, tồn tại cho đến ngày nay và mãi mãi về sau.

Một không gian đẹp nên thơ giữa Hồ Gươm trong xanh, nổi bật trên nền trời là ngọn Tháp Bút vòi vọi tạo nên không khí thanh bình yên ả, mà lại đầy hào khí văn chương chữ nghĩa của Hà Nội dấu yêu.

Cũng vì nơi đây là nơi văn nhân Hà Nội và bạn bè tứ phương thường hay tới, nên mỗi dấu ấn ở đây đều mang ý nghĩa văn chương tao nhã mà sâu sắc. Chẳng hạn, ngay cổng ngoài đã có những dòng chữ Hán mang ý nghĩa chiết tự rất ý nghĩa như: Ngọc ư tư (nghĩa là: Ngọc ở đây); Sơn ngưỡng chỉ (nghĩa là: Ngửa trông núi).

Quả đúng như lời ứng nghiệm của quẻ bói năm nào, đền Ngọc Sơn trở thành một nơi nhuận sắc khang trang nức tiếng vang. Bạn bè thế giới và nhân dân khắp đất nước, mỗi khi tới Hà Nội, đều đến thăm đền Ngọc Sơn xinh đẹp.

Ngày nay, sĩ tử trước ngày đi thi thường dập dìu ghé qua đền thành tâm cầu khấn, mong muốn được ngôi sao văn chương phù hộ cho đỗ đạt khoa trường. Đúng như lời Tiến sĩ Vũ Tông Phan viết trong văn bia ”Ngọc Sơn Đế Quân từ ký”:

"Kể từ nay, việc thờ thần có nơi có chốn, các bậc sĩ phu cùng nhau hẹn ước đi về. Người mến cảnh, càng thêm yêu cả cái danh. Trong Hội, ai ẩn dật tu hành, ai muốn du ngoạn, nghỉ ngơi, đều đã có nơi có chốn. Hứng vui ngắm trăng dưới nước, hứng vui hóng gió trên non, có thể giúp nhiều cho điều thiện, đâu chỉ riêng mình được hưởng".

……………..Nguồn: Đài PT&THHN


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 15.03.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TẾT BÍNH THÂN 2016

CUỐN SÁCH VIẾT VỀ ĐỀN THỜ VĂN XƯƠNG ĐẾ QUÂN Ở KHU THẮNG CẢNH CHÙA THẦY

BÀI KÝ ĐỀN THƯỢNG

Đền Thượng là nơi thờ phụng đức Văn Xương Đế Quân và đức Quan Thánh Đế Quân.

Đền nằm trên eo lưng ngọn Sài Lĩnh, thuộc địa phận thôn Thụy Khuê, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), là một trong nhiều điểm danh lam tín ngưỡng trong quần thể đại danh lam Chùa Thầy. Kế bên đền Thượng là chùa Bối Am, một ngôi chùa cổ có trên ngàn năm tuổi; phía núi đầu rồng mặt trước ngọn Sài Lĩnh, có chùa Long Đẩu; lưng chừng mặt trước ngọn Sài Lĩnh là Đính Sơn Tự (chùa Cao), vốn là Hiển Thụy Am, tương truyền là nơi Đức Thánh Tổ hóa thân; và tại miệng rồng ở mặt trước ngọn Sài Lĩnh là Thiên Phúc Tự (Chùa Cả), một trong những ngôi chùa cổ nhất và lớn nhất Việt Nam.

Đền được thiết kế theo hình chữ SỸ (士), vốn xuất phát từ tấm lòng coi trọng hiền tài, tôn vinh kẻ sỹ của tiền nhân xưa, và cũng bởi, đền được dựng lên để phụng thờ đức Văn Xương Đế Quân và Quan Thánh Đế Quân. Tính tới nay, ngôi đền đã trải qua nhiều lần sửa sang, tu bổ, lớn nhất và gần đây nhất phải kể đến đợt trùng tu năm Canh Thìn (2000), khi ấy, ngôi đền hầu như được phục dựng lại toàn bộ. Kế bên đền, khi xưa còn có lầu chuông, nhưng qua thăng trầm của lịch sử, nay chỉ còn là phế tích.

“Tham thiên tán hóa”, ấy là lời tiền nhân ca tụng công đức diệu kỳ của các bậc thiện Thánh được thờ phụng tại đền, có thể dự vào trong trời đất mà giúp công cho Tạo hóa phù trợ và giáo hóa quần sinh. Bởi thế, đền là nơi các bậc tiền nhân học cao hiểu rộng, các sỹ tử nấu sử mài kinh khi xưa thường tới lui chiêm bái, ứng mộng, và cậy nhờ uy đức thánh hiền gia hộ để thêm viễn chí bền gan, khai mở để trí tuệ thêm thông đạt. Thời xưa như thế, thời nay cũng như thế.

Thiên nhân cảm ứng. Phúc đức là do thiện triệu vời. Thiện báo, ác báo, như bóng theo hình, trồng đậu nên đậu, trồng dưa thành dưa. Lời cổ nhân chẳng thể nào sai được. Đức Văn Xương cũng dạy rằng: làm điều thiện, gần thì báo ứng ngay cho mình, xa thì báo ứng đến cháu con, trăm phúc đưa tới, nghìn lành nhóm lại. Ấy là khích lệ người đời hành thiện, để cho người người, nhà nhà, và cả thiên hạ đều được phúc báo thanh thái.

Ngẫm rằng, vật đổi sao dời, thế cuộc mỗi thời mỗi khác, xưa bãi biển nay đã thành nương dâu, đó là lẽ thường trong trời đất. Đền Thượng cũng chẳng thể đứng ngoài vòng quy luật ấy. Nhưng cậy nhẽ trời che đất chở, cũng bởi uy đức các bậc thiện Thánh, kế đến là công sức của người dân thôn Thụy Khuê và lòng thành của chư vị thập phương, và hơn cả là sự soi xét của nhà nước mà tới nay Đền Thượng vẫn còn đứng đó giữa đất trời.

Như thế chẳng phải là điều lành lắm sao?

Nhưng ngặt nỗi, lầu chuông xưa vẫn còn u khuất, cảnh cũ nay chỉ còn là nền hoang. Ngó mà xót xa.Thật chẳng khác nào:

“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”

(Bài thơ “Thăng long thành hoài cổ” của Bà Huyện Thanh quan)

Chỉ mong một ngày không xa, quốc gia sẽ minh khảo và định liệu, chư vị thập phương chí thành ra tay giúp rập, để cảnh xưa lại về chốn cũ thì thực đúng là khơi thông lại mạch nguồn quá khứ, gắn bó lại giềng mối cổ kim, đắp bồi quả phúc, vun xới nhân lành. Công đức ấy thực không sao kể xiết.

Vài lời dông dài, cúi xin oai linh các vị thiện Thánh đại xá, mong được chư vị bổ khuyết thêm. Thực là may lắm.

.............Thụy Khuê,
.......Mùa thu năm Mậu Tý, 2008
.............NTT kính ghi


ĐÔI LỜI PHI LỘ

Cổ nhân dạy: cây có cội, nước có nguồn, con người có tổ tiên, quê hương, bản quán. Thế mà chúng tôi, vốn dĩ là người được sinh ra ở đất Thụy Khuê, song thân phụ mẫu và tổ tiên đời đời cũng ở đất Thụy Khuê, được cha sinh mẹ dưỡng, ăn cơm uống nước ở đất Thụy Khuê mà lớn lên, vậy nên trong lòng rất muốn làm được một điều gì đó, dù là nhỏ nhoi, gọi là chút báo đáp.

Chúng tôi cũng tự biết rằng, sức mình có hạn, việc mình có thể làm thì chẳng khác nào muối bỏ bể. Nhưng cũng lại nghĩ, người Thụy Khuê và thập phương chư vị còn nhiều lắm, chung lưng lại thì việc gì cũng có thể làm được. Nghĩ thế, nên lại hăm hở bắt tay vào. Nhìn hết xung quanh, thấy rằng những việc lớn đều đã có người làm cả, hoặc giả như chưa có người làm, thì mình cũng không đủ sức. Chỉ thấy có ngôi đền Thượng, thờ đức Văn Xương Đế Quân và Quan Thánh Đế Quân, may chăng là nơi chúng tôi có thể góp tay vào một chút gì đó.

Lại thấy, trải qua thời gian và nhiều biến cố lịch sử, thông tin về đền Thượng bị tản mát đi nhiều, thông tin bằng văn bản thì hầu như không còn gì, thông tin truyền miệng mà các bậc cao niên còn nhớ được lại không chắc chắn, không thống nhất với nhau, và có nhiều điểm không chính xác.

Vì vậy, nếu không kịp thời bổ cứu, ghi lại thì e rằng thông tin về một ngôi đền đặc sắc như đền Thượng sẽ còn khuyết thêm đi nữa, thậm chí bị sai lệch mãi. Bởi thế, chúng tôi sưu tầm khảo cứu các nguồn tư liệu khác nhau để tập hợp ra cuốn sách này, với mong muốn góp được một đôi lời làm sáng tỏ và tán thán công đức của các bậc thiện Thánh được phụng thờ tại đền Thượng, và cũng để phổ biến cho nhiều người cùng biết đến ngôi đền Thượng ở Thụy Khuê, một ngôi đền độc đáo, một dấu ấn văn hóa truyền thống đặc sắc trong vùng văn hóa xứ Đoài.

Vốn dĩ, ban đầu chúng tôi chỉ có ý định viết một bài giới thiệu nhỏ, tạm gọi là bài ký, về ngôi đền Thượng. Nhưng rồi, hẳn được các vị trợ duyên, nên cuối cùng, tập hợp ra thành cuốn sách này. Thực lòng mà nói, hầu hết nội dung cuốn sách là do chúng tôi sưu tầm được từ các nguồn khác nhau, tập hợp chung vào một chỗ và sắp xếp lại để tiện tra cứu. Còn phần tự biên soạn của chúng tôi thì chẳng đáng kể gì.

Cuốn sách được chia thành bảy phần, trong đó có một phần Phụ lục.

Phần Một – Tổng quan đền Thượng là phần giới thiệu khái quát về đền Thượng trong tổng thể xứ Đoài và khu vực chùa Thầy nói chung.

Phần Hai – Cận cảnh đền Thượng là phần chính của cuốn sách này, bao gồm các tư liệu chúng tôi đã sưu tầm được về các vị được phụng thờ tại đền Thượng.

Sau những hưng phế của lịch sử, thông tin về các vị không còn nhiều; đền phả và các đạo sắc cũng thất lạc đi gần hết. Vì thế, người đến thăm viếng đền có khi cũng chỉ biết sơ qua rằng đây là đền thờ đức Thánh Văn Xương Đế Quân mà chẳng biết sâu hơn, hoặc thậm chí không biết thông tin gì cả. Vì vậy, chúng tôi nghĩ rằng, nếu đưa ra được thông tin về các vị một cách rõ ràng hơn thì một mặt đó là sự tán thán công đức của các vị ấy, mặt khác là để tránh tệ mê tín dị đoan, vì mê tín dị đoan chỉ là do người ta không biết mà “tín” một cách vô căn cớ mà thôi.

Ở Phần Hai này, chúng tôi có mục "Hai vị phối thờ với đức Văn Xương Đế Quân", trong đó giới thiệu một số quan điểm khác nhau về tên gọi của hai vị phối thờ với đức Văn Xương Đế Quân. Tuy nhiên, do khả năng và thời gian có hạn, thông tin mà chúng tôi sưu tầm và cung cấp trong phần này chắc vẫn còn nhiều thiếu sót, chúng tôi cũng nhân đây, mong muốn các vị hiểu rộng chỉ bảo cho để có thể khẳng định và làm sáng tỏ thêm về các vị được thờ phụng tại đền Thượng.

Ngoài ra, chúng tôi cũng đưa vào mục "Bàn về bốn vị phối thờ tại đền Thượng". Trong phần này, chúng tôi chỉ ra các điểm không chính xác trong cách hiểu của nhà đền về danh tính và vị trí của bốn pho tượng phối thờ với đức Văn Xương và Quan Thánh Đế tại đền Thượng, đồng thời đính chính lại các điểm không chính xác đó.

Trong quá trình biên soạn cuốn sách này, chúng tôi cũng có tới thăm và khảo sát đền Ngọc Sơn tại Hà Nội. Vì vậy, trong Phần Hai này, chúng tôi cũng đưa vào mục "So sánh đền Thượng và đền Ngọc Sơn".

Phần Ba – Điển tích và Giai thoại, gồm một số điển tích và giai thoại liên quan đến các vị. Lẽ thường, các bậc đã được dân gian tôn làm thánh thần thì ắt phải đi liền với các điển tích và giai thoại đẹp và huyền bí. Đời này kế tiếp đời kia, có vị thì số lượng điển tích và giai thoại ngày càng nhiều lên, thậm chí giữa chúng còn có điểm khác nhau; có vị thì thông tin tản mát đi nhiều, chẳng còn lại được bao nhiêu. Âu đó cũng là điều bình thường trong lịch sử. Nhưng cũng vì vậy mà cần phải ghi chép lại, để tránh bị tản mát đi thêm nữa.

Phần Bốn – Đạo giáo là một số thông tin giới thiệu tổng quát về Đạo giáo, dòng tín ngưỡng thịnh hành một thời mà đền Thượng là một chứng tích.

Phần Năm – Nho giáo là phần khái lược về Nho giáo nói chung và Nho giáo – khoa cử của nước ta qua các triều đại phong kiến, và một số tác phẩm mang tính triết học của các bậc danh nho nước ta.

Thiết nghĩ, đền Thượng là nơi thờ phụng đức Thánh Văn Xương Đế Quân, thờ phụng sự học hành, khoa cử, vì vậy cũng cần có thêm chút thông tin sơ lược về nền Nho học và chế độ khoa cử nước nhà. Mặt khác, khi nhắc tới Nho học, cũng cần phải gạn đục khơi trong để tìm lấy những cái hay mà phát huy thêm trong thời đại ngày nay, và bỏ đi những nội dung tư tưởng không còn phù hợp nữa. Đặc biệt là là phải sửa lại lối học từ chương của Nho gia ngày xưa, vốn nặng về khoa cử, chỉ chuyên tâm học hành để tiến thân bằng con đường khoa cử, khiến cho con người bị lệ thuộc quá nhiều vào kinh điển, sách vở, mà làm hạn chế tính sáng tạo của cá nhân, và hạn chế tính hữu dụng của kiến thức học được.

Và cuối cùng là phần Phụ lục, bao gồm một số trước tác văn học đặc sắc có liên quan đến các vị được phụng thờ tại đền Thượng và liên quan tới khu vực Chùa Thầy; và thông tin về một số nơi khác ở nước ta cũng có thờ đức Văn Xương Đế Quân.

Cuối sách là mục Sơ lược tiểu sử các tác giả và nhân vật có tài liệu được sử dụng trong cuốn sách này hoặc được nhắc tới trong cuốn sách này. Do hiểu biết có hạn, thông tin về các vị có thể còn thiếu sót hoặc thậm chí sai sót ít nhiều, mặc dù chúng tôi đã hết sức cố gắng truy tầm và chắp nối. Rất mong được các vị lượng thứ.

Để tập hợp thành cuốn sách này, chúng tôi đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của cụ thủ từ đền Thượng, và các vị cao niên có hiểu biết về tôn giáo tín ngưỡng, nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc, và nhiều người khác nữa. Chúng tôi xin chân thành cám ơn tất cả các vị.

Tôi cũng không thể không nhắc tới tới tất cả các thành viên trong gia đình tôi, từ mẹ tôi, vợ tôi, tới các anh chị em tôi, những người đã khích lệ và ủng hộ tôi rất nhiều trong quá trình sưu tầm và biên soạn cuốn sách.

Trong quá trình sưu tầm tài liệu cho cuốn sách này, chúng tôi may mắn được tiếp xúc với tập thơ “Sài Sơn thi lục – 1930”, do nhà sư Thông Thi 通 詩, hiệu Như Tùng 如 松, trụ trì chùa Đính Sơn Tự (chùa Cao) sưu tầm từ các bút tích, di cảo của các vị có danh tiếng còn lưu lại tại khu vực chùa Thầy, cử nhân Hoàng Thúc Hội 黃 叔 會 biên tập, in tại chùa Thầy, năm Bảo Đại 5 (1930).

Hiện, tại Viện nghiên cứu Hán Nôm còn lưu hai bản “Sài Sơn thi lục” (bản ký hiệu A.3033 gồm 172 trang, 6 tựa, 1 bạt; và bản ký hiệu VHv.2358 gồm 164 trang, 5 tựa, 1 bạt).

Bản mà chúng tôi được tiếp xúc là bản gồm 84 bài, 15 bài thơ chữ Nôm và 69 bài thơ chữ Hán, được cụ Yên Sơn Nguyễn Bá Hân, nhà nghiên cứu Hán Nôm, nhà giáo nghỉ hưu, người làng Yên Sở, huyện Hoài Đức phiên âm và dịch sang quốc ngữ, bổ sung thêm 4 bài khác thành 88 bài, và đặt lại tên là Rừng thơ bên núi. Đây là bản thảo chưa xuất bản của cụ Yên Sơn Nguyễn Bá Hân, làm năm 1998.

Ngoài ra, Câu lạc bộ Hán Nôm Quốc Oai cũng đang biên dịch một bản “Sài Sơn Thi Lục” khác, gồm 184 trang, 77 bài thơ chữ Hán, 19 bài thơ chữ Nôm, văn bia và 2 bài phú.

Giống như duyên kỳ ngộ, chúng tôi được tiếp xúc với cụ Yên Sơn Nguyễn Bá Hân, và qua đó tiếp xúc với bản thảo của công trình dịch này mà cụ chưa xuất bản, và càng may mắn hơn nữa là được cụ cho phép sử dụng bản thảo ấy vào cuốn sách này. Nhân đây, chúng tôi xin bày tỏ lời cám ơn chân thành tới cụ.

Các tư liệu khi được sưu tầm và trích dẫn, nếu có xuất xứ, tác giả cụ thể thì đều được ghi rõ; tuy nhiên, cũng có một vài tư liệu mà nguồn gốc xuất xứ không rõ, hoặc do được trích qua trích lại nhiều lần mà thành ra không có xuất xứ thì đành không ghi nguồn gốc, xin chân thành cám ơn tác giả các tư liệu đó và mong được các vị lượng thứ.

Do không có trình độ Hán ngữ, các tư liệu chúng tôi sưu tầm được trong cuốn sách này nếu có xuất xứ bằng chữ Hán, thì đều chỉ là ở dạng bản dịch; việc thông tin có chính xác hay không, vì thế, đành phụ thuộc vào người dịch các tư liệu này. Chúng tôi chỉ biết cám ơn các vị ấy và không dám có ý kiến gì thêm.

Mặt khác, do hiểu biết có hạn, khả năng sưu tầm tư liệu còn nhiều hạn chế, thời gian lại không nhiều, các tư liệu trong cuốn sách này có chỗ thì đối chiếu được giữa các nguồn khác nhau để khẳng định, có chỗ thì chưa làm được, chỉ biết biên vào đây, để các vị xem xét, chỉnh lý, bổ khuyết cho.

Chúng tôi vẫn tự biết rằng, làm sách là công việc không bao giờ dễ dàng, đặc biệt là về một địa điểm tâm linh như đền Thượng.

Đức Khổng Tử có dạy: đối với quỷ thần thì chỉ nên “kính nhi viễn chi”, càng tôn kính, thì càng nên giữ khoảng cách. Thêm nữa, tư liệu mà nhà đền và một số ít người cao tuổi còn sót lại ở địa phương có thể cung cấp cho chúng tôi, dù bằng văn bản hay bằng đường truyền khẩu, thì chẳng có bao nhiêu, thậm chí không chính xác. Điều đó khiến cho việc làm của chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn, chẳng khác nào giữa rừng tìm chim, mò kim đáy bể.

Thế thì tại sao chúng tôi vẫn cứ gắng mải miết mà làm ? Như thế chẳng phải là không biết tự lượng sức mình mà làm liều hay sao ? Lại nữa, việc chỉ ra sai sót ở chỗ này chỗ kia chắc sẽ không tránh khỏi làm mếch lòng người này người khác; việc ấy không phải là việc mà kẻ khôn ngoan thông thường vẫn làm.

Nhưng thiết nghĩ, biết mà không nói cũng là có tội, bởi vì như thế, chẳng những làm phí hoài giá trị văn hóa quý báu của đền Thượng, mà còn có thể làm người sau hiểu sai đi ý nghĩa cao đẹp mà tiền nhân gửi gắm vào công trình văn hóa đặc sắc này; việc hiểu sai, nếu cứ tiếp diễn lâu dài, thì sẽ thành nếp, không thể sửa được. Và như thế thì càng có tội lớn với tiền nhân. Vì thế, chúng tôi đành làm kẻ liều mạng, làm kẻ thiếu khôn ngoan theo cái nhẽ thông thường, mà làm ra cuốn sách này. Run sợ còn chưa đủ, chứ đâu có dám mong gì một chút hư danh hão huyền.

Tuy vậy, khả năng của chúng tôi cũng chỉ có giới hạn, mà tri thức thì vô cùng, vì thế chúng tôi tin rằng, những thông tin mà chúng tôi cung cấp trong cuốn sách này vẫn còn nhiều sai sót. Cúi xin oai linh các vị thiện Thánh đại xá, mong chư vị niệm tình lượng thứ và chỉ bảo cho, để cùng hướng tới một mục đích chung, đó là làm sáng tỏ thêm những diệu ý mà tiền nhân xưa gửi gắm vào đền Thượng, nhưng qua thăng trầm của lịch sử, đã bị bụi thời gian che mờ phủ khuất.

Nếu như trong sách này có thông tin nào sai sót, thì chỉ mình tôi chịu trách nhiệm, còn như có chút công đức nào, tôi nguyện hồi hướng cả cho thất tổ cửu huyền được vãng sinh tịnh độ, cho toàn thể gia đình, cha mẹ, vợ con, anh em, họ hàng, bạn bè, làng xóm, hết thảy chúng sinh, đều được bình sinh an lạc, chung cuộc thành tựu, sinh về Tây phương.

Nam mô A Di Đà Phật!

.............Thụy Khuê,
.......Mùa thu năm Mậu Tý, 2008
.............NTT kính ghi


MỤC LỤC CUỐN SÁCH "ĐỀN THƯỢNG - THỤY KHUÊ"

PHẦN 1 - NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA

1.1. Đền Thượng trong lòng xứ Đoài
1.2. Đường tới đền Thượng
1.3. Những giá trị văn hóa của đền Thượng
1.4. Một số ngày lễ trọng tại đền Thượng

PHẦN 2 - CẬN CẢNH ĐỀN THƯỢNG

2.1. Lời dẫn
2.2. Các vị trí thờ hiện nay
2.3. Phụ chú về hai vị phối thờ với đức Văn Xương Đế Quân
2.4. Phụ bàn về bốn vị trí phối thờ
2.5. So sánh đền Thượng và đền Ngọc Sơn

PHẦN 3 - ĐIỂN TÍCH VÀ GIAI THOẠI

3.1. Đức Quan Thánh Đế (Quan Vũ)
3.2. Đức Thánh Trần (Trần Quốc Tuấn)
3.3. Phạm Điện súy Thượng Tướng Quân (Phạm Ngũ Lão)

PHẦN 4 - ĐẠO GIÁO

4.1. Lời dẫn
4.2. Tóm tắt về Đạo giáo
4.3. Đạo giáo ở Trung Quốc
4.4. Đạo giáo ở Việt Nam

PHẦN 5 - NHO GIÁO

PHẦN 6 - PHỤ LỤC

6.1. Một số địa điểm khác ở Việt Nam thờ Văn Xương Đế Quân
6.2. Thiện thư (Các thiện thư tiêu biểu liên quan đến hai vị được thờ chính tại đền Thượng)
6.3. Các trước tác văn học đặc sắc
6.4. Sài Sơn thi lục
6.5. Sơ lược tiểu sử các tác giả và nhân vật

TÀI LIỆU THAM KHẢO


LỜI CUỐI SÁCH

Thế là từ chỗ khởi đầu chỉ định viết một bài ký nhỏ về đền Thượng, sau nhờ được các vị thiện Thánh trợ duyên, lại được sự khích lệ và chỉ bảo tận tình của các vị cao niên, thành ra chúng tôi đã tập hợp ra cuốn sách này. Chỉ mong cuốn sách có thể cung cấp thêm một số tư liệu giúp làm sáng tỏ hơn và tán thán công đức của các vị thiện Thánh được thờ phụng tại đền Thượng. Đó là tâm nguyện cao nhất của chúng tôi.

Ngoài ra, khi tập hợp ra cuốn sách này, chúng tôi cũng mong muốn rằng, việc truy tầm và chắp nối lại những thông tin lịch sử còn tản mát đây đó có thể giúp phần nào khơi gợi lại ngọn nguồn dòng chảy từ quá khứ, tìm lại những giá trị văn hóa, lịch sử quý báu mà người xưa để lại, nhằm chắt lọc lấy những tinh hoa mà giữ gìn và gạt đi những gì là mê tín, không còn phù hợp với thời đại ngày nay.

Thực lòng mà nói, hầu hết nội dung cuốn sách đều do chúng tôi gom lại từ các nguồn khác nhau, tập hợp vào một chỗ và sắp xếp lại để tiện tra cứu. Công sức bỏ ra thực chẳng đáng kể gì, thế mà kết quả chúng tôi thu nhận được lại rất quý báu, ấy là ngộ ra rằng, cho dù là Nho giáo, Phật giáo, hay Đạo giáo, thì đích đến, chung quy lại, cũng chỉ là chữ THIỆN mà thôi.

“Thiên địa vạn vật nhất thể”, vạn vật tất thảy đều khởi phát từ một nguồn duy nhất, rồi biến hóa ra muôn hình muôn vẻ, nhưng rốt cuộc lại quay về một mối, hướng chung về một đích đến, một chữ THIỆN. Chân lý ấy thật đơn giản, thế mà trước đây chúng tôi không thể ngộ ra được.

Xin trích lời nhà bác học Lê Quý Đôn viết trong lời Đề từ cuốn "Âm chất văn chú" của ông để thay lời kết:

“Làm điều thiện, gần thì báo ứng ngay cho mình, xa thì báo ứng đến cháu con. Trăm phúc đưa tới, nghìn lành nhóm lại, tức như ý Kinh Dịch nói: “Làm nhiều điều thiện, tất thừa phúc lành”, ý Kinh Thư nói: “Làm thiện thì được trăm sự lành”. Nói về một nhà, thì nhờ đó, mà có thể được lành mạnh và hưởng phước lộc; nói về một nước, cho đến cả thiên hạ, thì nhờ đó, mà có thể làm cho phong tục tốt, đưa đến cõi thái bình. Đạo lý ấy rất lớn, độc giả nên kính cẩn giữ lấy mà cố gắng làm theo”.

Nhân nói về chữ THIỆN, chúng tôi xin được trích dưới đây nguyên văn bài phú được cho là của Trần Hy Di ghi trong cuốn Tướng mệnh khảo luận của tác giả Vũ Tài Lục để chư vị tham khảo, với mong muốn chia sẻ một phần tri thức quý báu của người xưa để lại, và chỉ mong, nếu chư vị nào chưa từng biết đến bài phú này, thì có thể tìm thấy ở đây một điều nào đó tâm đắc, để cho kho tàng việc thiện của chư vị lớn thêm ra mãi.

...............Thụy Khuê,
........Mùa thu năm Mậu Tý, 2008
...............NTT kính ghi


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 16.03.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TẾT BÍNH THÂN 2016

NHÀ LƯU NIỆM BÁC HỒ Ở CHÙA MỘT MÁI

Chùa Thầy không chỉ là di tích nổi tiếng, mà còn là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần về thăm và làm việc.

Theo lịch sử Đảng bộ xã Sài Sơn ghi lại, từ năm 1944, Sài Sơn được chọn làm ATK của Xứ ủy Bắc kỳ và là nơi làm việc của cơ quan Báo Cứu quốc.

Ngày 10-11-1946, Hồ Chủ tịch về thăm Sài Sơn và căn dặn cán bộ, động viên nhân dân tích cực tham gia kháng chiến, bảo vệ tốt di tích quê hương.

Đặc biệt, từ ngày 3-2-1947 đến 2-3-1947, Hồ Chủ tịch đã về ở và làm việc tại chùa Một Mái, trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược vừa bùng nổ ở Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn này.



Bia di tích lịch sử - văn hóa



Nhà lưu niệm Bác Hồ



Tấm bảng giới thiệu



Lời giới thiệu



Bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh



Gian bên phải nhà lưu niệm



Gian bên trái nhà lưu niệm



Các địa điểm dừng chân của Bác Hồ trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp



Biên niên hoạt động



Danh sách các đồng chí Trung ương Đảng làm việc với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian Người ở nhà Tổ chùa Một Mái



Đồng chí Trường Chinh



Đồng chí Võ Nguyên Giáp



Đồng chí Trần Đăng Ninh



Đồng chí Nguyễn Lương Bằng



Đồng chí Lê Đức Thọ



Đồng chí Hoàng Hữu Kháng



Đồng chí Vũ Kỳ



Cơ sở cách mạng xã Sài Sơn



Ông Phạm Văn Ngọc, lái xe cho Bác



Bà Lê Thị Linh



Bà Nguyễn Thị Thanh



Đôi dép cao su



Bác Hồ với nhân dân huyện Quốc Oai



Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm chùa Thầy (19-5-1957)



Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm chùa Thầy (19-5-1957)



Chủ tịch Hồ Chí Minh xem bia đá chùa Thầy (19-5-1957)



Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm chùa Một Mái (19-5-1957)



Đồng chí Trường Chinh thăm nhà lưu niệm



Đồng chí Trường Chinh nói chuyện với cán bộ và nhân dân xã Sài Sơn



Đồng chí Trường Chinh trao tặng phẩm



Đồng chí Trường Chinh trồng cây lưu niệm



Lời căn dặn của đồng chí Trường Chinh



Khu nhà Tổ chùa Một Mái



Cửa tò vò thông sang chùa Bối Am (chùa Một Mái)



Gian trong



Gian bên ngoài đang được xây dựng lại



Phản gỗ



Thay ngói mới



Viên ngói



Thân cột



Chân cột



Máy xẻ gỗ



Bàn cưa




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 16.03.2016, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 16.03.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TẾT BÍNH THÂN 2016

THỜI GIAN BÁC HỒ Ở CHÙA MỘT MÁI

Năm 1947 – Từ tháng 1 đến tháng 4

Tháng 2, ngày 2
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ toạ phiên họp Hội đồng Chính phủ để nghe báo cáo về quốc phòng, ngoại giao và thảo luận một số vấn đề về tài chính, kinh tế, tăng gia sản xuất.

18 giờ 30, Người rời xã Cần Kiệm, chuyển đến khu Chùa Một Mái xã Sài Sơn, phủ Quốc Oai, Sơn Tây (nay thuộc Hà Tây).

Trước khi đi, Người mời cụ chủ nhà sang để cảm ơn và căn dặn cụ cùng các con cháu tích cực ủng hộ kháng chiến và giữ gìn bí mật.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 11/SLb, sáp nhập các Sở, Ty Địa chính trong toàn quốc vào Bộ Canh nông.

Tháng 2, ngày 3
Tại khu Chùa Một Mái, trong gian buồng đầu hồi phía trái của Nhà Tổ vốn là chỗ ở của người coi chùa, vẻn vẹn chỉ có một tấm phản, một bàn nhỏ với chiếc máy chữ và cây đèn dầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:
- Sắc lệnh số 12/SL, ấn định chế độ kiểm duyệt, in, phát hành báo chí và ấn loát phẩm.
- Sắc lệnh số 13/SL, tạm cấm xuất nhập cảng hàng hoá cho đến khi có lệnh mới.
- Sắc lệnh số 14/SL, thành lập Nha tín dụng sản xuất nhằm mục đích giúp đỡ và khuyến khích sản xuất nông nghiệp, công nghệ và kỹ nghệ.

Tháng 2, ngày 7
10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi ông Hoàng Hữu Nam. Bức thư có ba nội dung:
1. Gợi ý về cách đối phó với yêu sách của lãnh sự Trung Hoa muốn cử đại biểu đi "an ủi" các Hoa kiều tản cư.
2. Đề nghị viết thư hỏi Chủ tịch Uỷ ban hành chính các tỉnh, yêu cầu họ trong 10 ngày phải trả lời rõ ràng và bí mật về một số câu hỏi Người nêu trong thư. Theo Người, "Những vấn đề trên, rất quan hệ cho việc tản cư và tăng gia sản xuất. Cũng quan hệ đến chính trị và quân sự".
3. Hỏi về tình hình chuẩn bị chuyến đi Nho Quan (Ninh Bình) của Người.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL, bổ nhiệm ông Đặng Việt Châu, nguyên Chánh văn phòng Bộ Nội vụ, làm đặc phái viên Bộ Nội vụ tại Thanh Hoá và ông Vũ Đình Huỳnh, nguyên Bí thư Chủ tịch Chính phủ làm đặc phái viên Bộ Nội vụ tại Ninh Bình.

Tháng 2, ngày 9
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cảm ơn nhân dân và ngoại kiều sau dịp Tết.
Thay mặt chiến sĩ, Người cảm ơn toàn thể đồng bào trong dịp Tết đã "tự mình tiết kiệm bớt ăn Tết mà uý lạo các chiến sĩ rất hậu... Lòng tốt của đồng bào tỏ rằng, chúng ta quân dân nhất trí, nên dù gian khổ mấy, trường kỳ kháng chiến cũng nhất định thắng lợi".

Thay mặt Chính phủ, bộ đội và nhân dân Việt Nam, Người trân trọng cảm ơn Hoa kiều và Ấn kiều "Trong lúc gian nan khổ cực này mà bà con Hoa kiều và Ấn kiều rất hăng hái ủng hộ cuộc kháng chiến cứu quốc của dân Việt Nam... Đủ thấy cảm tình của các dân tộc Á Đông ta càng ngày càng mật thiết".

Người còn gửi lời cảm ơn tới thanh niên, nhi đồng, các đoàn thể và cá nhân đã gửi thư chúc Tết. "Tiếc vì bận việc quá, không thể trả lời khắp. Vậy xin đồng bào nguyên lượng và nhận lời cảm ơn chung này".

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời một số câu hỏi của Đôn Camben (Doon Campbell), phóng viên Hãng Reuter (Anh).

Về câu hỏi Với điều kiện nào, Chính phủ Việt Nam ngừng chiến tranh?, Người khẳng định: "Khi những mục tiêu thống nhất và độc lập của nhân dân Việt Nam đạt được sẽ ngừng chiến và hoà giải ngay".

Về vấn đề tù binh, Người tuyên bố: "Họ được đối xử tốt hơn nhiều so với người Việt Nam".

Người còn giải thích việc các Bộ trưởng không đảng phái tham gia Chính phủ, nói rõ những mục tiêu chính trị - xã hội của nhân dân Việt Nam, nhận xét việc báo chí nước ngoài thường đưa tin thất thiệt.

Tháng 2, ngày 10
10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ toạ Hội nghị điền chủ toàn tỉnh Ninh Bình họp tại phủ Nho Quan để bàn việc tăng gia sản xuất, giúp đỡ đồng bào tản cư, di cư, vấn đề ủng hộ Chính phủ kháng chiến.

Phát biểu với Hội nghị, Người nói đại ý: kháng chiến và kiến quốc mới nghe thì tưởng như mâu thuẫn. Thực ra không phải, kháng chiến là để kiến quốc, là để xây dựng một nước Việt Nam tự do, độc lập. Nhưng muốn kháng chiến thắng lợi, thì phải trường kỳ kháng chiến, muốn trường kỳ kháng chiến thì phải tăng gia sản xuất và giúp đỡ đồng bào tản cư. Lúc này, "nước nhà trên hết, dân tộc trên hết, kháng chiến thắng lợi hơn hết".

Tháng 2, ngày 12
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư trả lời Chính phủ Cao Miên giải phóng, nhiệt liệt hoan nghênh việc thành lập một Uỷ ban giải phóng Việt - Miên - Lào, nhằm mục đích theo đuổi đến cùng cuộc chiến đấu chung chống đế quốc và thực dân Pháp.

Bức thư có đoạn: "Thay mặt cho toàn dân Việt Nam, tôi xin gửi Uỷ ban giải phóng lời chào mừng thân ái. Tôi tin chắc rằng các dân tộc ta, đã sẵn có một tinh thần tranh đấu cao, lại gắng đi tới một sự cộng tác chặt chẽ, thì thắng lợi thế nào cũng về ta, và chúng ta nhất định sẽ giành được
độc lập".

Cùng ngày, Người ký Sắc lệnh số 16/SL, bổ nhiệm ông Văn Tiến Dũng làm Chính trị Cục trưởng Bộ Quốc phòng và ông Khuất Duy Tiến làm Phó Chủ tịch Uỷ ban hành chính Hà Nội kiêm Chính trị phó Cục trưởng, Trưởng phòng dân quân trong Chính trị cục Bộ Quốc phòng.

Tháng 2, ngày 14
Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thảo điện mật gửi Thanh Hoá về chủ trương "vào Thanh kinh lý".
Toàn văn bức điện như sau:

"10 giờ sáng ngày 14-2-42. Thanh Hoá. Điện cho Châu:

Một. Sẽ có tối cao đặc phái Chính phủ vào Thanh kinh lý. Ngày vào sẽ định sau.
Hai. Châu chuẩn bị báo cáo các việc.
Ba. Mời các uỷ ban tản cư, tăng sản, các điền chủ, đại thương gia, nhà giàu, những người danh vọng, các lãnh tụ dân tộc thiểu số, các cán bộ hành chính và mặt trận các huyện, đại biểu quốc dân liên hiệp, đại biểu Công giáo.
Bốn. Chuẩn bị chỗ khai hội xa thành phố và giữ bí mật.
Năm. Phái đoàn đi đêm, chuẩn bị đón ở đâu?
Về việc này, các chú có ý kiến gì đề nghị?".

Chiều, Người chỉ thị cho Bộ Tổng chỉ huy rút các lực lượng chiến đấu ở trung tâm Hà Nội ra khỏi thành phố để bảo toàn chủ lực, kháng chiến lâu dài.

Tháng 2, ngày 15
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện (viết bằng tiếng Anh) cho Đại uý Mỹ Sáclơ Phen (Charles Fenn) trả lời về bức công điện ngày 7-2-1947 của ông ta.
Bức điện có đoạn: "Chúng tôi vô cùng cảm kích vì thiện chí của Ngài muốn giúp Việt Nam. Nếu như ngài tới đây với tư cách là một nhà báo Mỹ của một tờ báo lớn, thì Ngài còn có thể làm được rất nhiều việc".

Tháng 2, ngày 16
Tại Chương Mỹ (Hà Tây), Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ toạ phiên họp Hội đồng Chính phủ để nghe báo cáo của Bộ Kinh tế, Bộ Ngoại giao và bàn về một số vấn đề khác. Hội nghị đến 12 giờ đêm, tạm nghỉ ăn cháo gà, sau đó tiếp tục đến 4 giờ 30 phút sáng mới giải tán.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:
- Sắc lệnh số 17/SL, thành lập Nha khẩn hoang, di dân đặt trong Bộ Canh nông.
- Sắc lệnh số 18/SL, về việc bổ nhiệm Giám đốc và các Phó Giám đốc Nha khẩn hoang, di dân.
- Sắc lệnh số 19/SL, về tổ chức và chức năng của các Toà án binh trên toàn cõi Việt Nam (trừ các Toà án binh mặt trận).
- Sắc lệnh số 20/SL, quy định chế độ hưu bổng thương tật, tiền tuất cho thân nhân tử sĩ.
- Sắc lệnh số 21/SL, về việc bổ nhiệm Tổng Giám đốc Nha tín dụng sản xuất.
- Sắc lệnh số 22/SL, trích 30 triệu đồng ở ngân sách toàn quốc "làm số tiền quyên trợ (lần thứ nhất) cấp cho Nha tín dụng sản xuất".
- Sắc lệnh số 23/SL, thành lập Hội đồng sản xuất kỹ nghệ đặt trong Bộ Kinh tế.
- Sắc lệnh số 24/SL, bổ nhiệm Đổng lý văn phòng Bộ Kinh tế.

Tháng 2, ngày 17
Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc với các ông Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Lê Văn Hiến, Hoàng Hữu Nam để bàn và giải quyết một số vấn đề về quốc phòng, nội vụ, tài chính và thông báo về chuyến đi Thanh Hoá sắp tới của Người. Làm việc xong, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời mọi người ở lại cùng ăn cơm, vừa ăn vừa bàn việc nước.

Cùng ngày, Người viết thư gửi đồng bào tản cư, căn dặn "tản cư cũng là kháng chiến", "tản cư cũng phải tăng gia sản xuất", "các đồng bào mỗi người phải làm một việc, không nên một ai ăn rồi ngồi không", "mỗi người phải tự cho mình là một người chiến sĩ, mỗi người phải làm tròn nhiệm vụ của mình".

Cuối thư, Người viết:"Tôi và Chính phủ không giờ phút nào không lo lắng đến các đồng bào. Bây giờ đang cực khổ, thì chúng ta vui chịu với nhau. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công, chúng ta sẽ cùng nhau vui sướng. Con cháu Lạc Hồng, bao giờ cũng quật cường, không bao giờ sợ khổ".

Tháng 2, ngày 18
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết "Thư gửi Chính phủ và nhân dân Pháp", một lần nữa kêu gọi hãy đình chỉ ngay "cuộc chiến tranh trái Hiến pháp, tai hại và không vinh dự này".

Người trịnh trọng nhắc lại lập trường của phía Việt Nam là:"Chúng tôi muốn độc lập và thống nhất trong khối Liên hiệp Pháp; chúng tôi muốn hoà bình, một nền hoà bình hợp công lý làm vinh dự cho cả nước Pháp và nước Việt Nam".

Tháng 2, ngày 19
Từ núi Thầy (Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Tây), Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường vào Thanh Hoá. Cùng đi có Nguyễn Đăng Cao, phụ trách bảo vệ. Chiếc xe Jeep cũ kỹ do Phạm Văn Ngọc lái, đưa Người đi theo tuyến Sơn Tây - Hoà Bình. Buổi chiều, xe đến đồn điền Chi Nê (Hoà Bình). Người dừng chân và nghỉ qua đêm ở đây.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi ông Vũ Đình Huỳnh:

"Chú Huỳnh cùng Chủ tịch UBHC Ninh Bình,
1- Trả đồn điền của ông Phạm Lê Bổng lại cho ông ấy.
2- Người quản lý hiện giờ, phải trả lại sản vật hoa màu đầy đủ theo lệ thường. Nếu thiếu hoặc hư hỏng vật gì, thì theo phép luật mà xử trí. Nếu người quản lý mượn tên người nào hoặc đoàn thể nào mà làm quấy, thì cứ theo phép luật mà trị.
3- Hôm trước, ông Bổng có hứa với tôi: Đồn điền đó có thể thu nạp 500 đồng bào tản cư. Hỏi lại ông ấy rõ ràng. Thật có thể hay không. Nếu quả có thể, thì bao giờ người tản cư đến được.
4- Làm xong việc rồi, báo cáo cho tôi biết.
5- Công tác Ban Cứu tế (các điền chủ giúp đồng bào tản cư) tiến bộ thế nào?
Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 19 tháng 2 năm 1947
HỒ CHÍ MINH".

Người còn tái bút: "Gửi lời thăm cụ Từ, cụ Trực, cụ Trung và tất cả đồng bào Công giáo. Chú Nam mong gặp cụ Ngô Tử Hạ".

Tháng 2, ngày 20
Khoảng 2 - 3 giờ sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Chi Nê đi tiếp vào Thanh Hoá. Đến Thanh Hoá khoảng 7 - 8 giờ.
Sau khi làm việc với lãnh đạo tỉnh, Người gặp gỡ cán bộ trong tỉnh, đến dự cuộc mít tinh của đại biểu các tầng lớp nhân dân. Nói chuyện với các cán bộ, Chủ tịch đặc biệt nhấn mạnh vai trò quan trọng của người cán bộ và nêu cụ thể những đức tính cần thiết của người cán bộ trong việc đối xử với bản thân, với đồng chí, với công việc, với nhân dân và với đoàn thể.
Gặp gỡ đại biểu các tầng lớp nhân dân, Người góp những ý kiến cụ thể về các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá để xây dựng Thanh Hoá trở thành một tỉnh kiểu mẫu.

Khoảng 4 - 5 giờ chiều, Người rời Thanh Hoá, về thẳng đồn điền Chi Nê và nghỉ qua đêm tại đây.

Tháng 2, ngày 21
Sáng sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm cơ sở in bạc và kho bạc đầu tiên của nước ta đặt tại đồn điền Chi Nê, sau đó Người lên đường về núi Thầy (Sài Sơn, Quốc Oai).

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 25/SL về việc cải tổ Uỷ ban hành chính Thanh Hoá và viết Thư gửi đồng bào thiểu số Thanh Hoá 18).
Toàn văn bức thư như sau:

"Cùng đồng bào yêu quý,
Tôi đến thăm Thanh Hoá, tôi định lên thăm đồng bào, nhưng có việc gấp phải trở về ngay, chưa lên được. Tôi lấy làm tiếc. Lần sau tôi sẽ lên thăm đồng bào.
Lúc này, toàn thể quốc dân đang ra sức chống giặc cứu nước. Tôi chắc đồng bào Thượng du đều ra sức đoàn kết chuẩn bị tham gia giết giặc cứu nước để giữ vững quyền thống nhất độc lập của Tổ quốc. Việc dìu dắt đồng bào Thượng du, tôi trông cậy vào lòng ái quốc và sự hăng hái của các vị lang đạo.
Tôi gửi lời chúc mừng các vị lang đạo và toàn thể đồng bào mạnh khoẻ.
Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 21 tháng 2 năm 1947
Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH".

Tháng 2, sau ngày 21
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài "Thanh Hoá kiểu mẫu" nêu rõ mục đích, phương châm, cách làm cụ thể để xây dựng Thanh Hoá trở thành một tỉnh kiểu mẫu.

Tháng 2, sau ngày 22
Nhận được báo cáo: ngày 22-2-1947, máy bay giặc Pháp oanh tạc đồn điền Chi Nê, nơi đặt nhà máy in bạc đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, gây tổn thất nghiêm trọng cho cơ quan ấn loát, tài sản của điền chủ Đỗ Đình Thiện cũng bị thiệt hại nặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thiếp thư dưới đây cho gia đình ông Thiện:

"Chú thím Thiện,
Được tin chú thím, nhà Hiền và các cháu đều bình an, tôi rất vui lòng. Mất của cải, không sợ. "Còn trời còn nước còn non, thì còn của cải bà con họ Hồ". Kháng chiến thành công, ta làm ra của khác, chắc chắn hơn. Chúc các chú thím mạnh khoẻ. Hôn các cháu.
Chào thân ái và quyết thắng".

Tháng 2, ngày 24
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi ông Hoàng Hữu Nam, nhắc một số việc cụ thể liên quan đến công tác di chuyển và nội quy tản cư của các cơ quan Chính phủ.

Cùng ngày, Người viết thư gửi J. Xanhtơni (Jean Sainteny) - Uỷ viên Cộng hoà Pháp, khi biết tin ông ta sắp sửa về Pháp. Bức thư viết:

"Gửi ông Xanhtơni, Uỷ viên Cộng hoà Pháp.
Bạn thân mến,
Tôi vừa nhận được tin ông sắp trở về Pháp. Xin gửi tới ông và bà Xanhtơni lời chúc sức khoẻ, thượng lộ bình an.
Tôi tin chắc rằng, cũng như tôi, ông lấy làm tiếc một cách sâu sắc, rằng những cố gắng chung của chúng ta vun đắp cho hoà bình đã bị phá huỷ bởi một cuộc chiến tranh giữa những người anh em này. Tôi đã hiểu ông khá rõ, đủ để nói với ông rằng, ông không phải chịu trách nhiệm về chính sách vũ lực và tái chinh phục này.
Vì vậy, tôi muốn được nhắc lại với ông, mặc dù những điều đã xảy ra, giữa ông và tôi, chúng ta vẫn là bạn. Và tôi có thể khẳng định với ông, rằng nhân dân hai nước chúng ta vẫn là bạn của nhau.
Đã xảy ra bao nhiêu chết chóc và tàn phá!
Ông và tôi, chúng ta phải làm gì bây giờ?
Chỉ cần nước Pháp công nhận nền độc lập và sự thống nhất của Việt Nam thì ngay lập tức cuộc chiến sẽ ngừng, hoà bình và niềm tin cậy lẫn nhau sẽ trở lại, và chúng ta sẽ lại có thể bắt tay vào công cuộc lao động và kiến thiết vì hạnh phúc chung của hai dân tộc chúng ta.
Về phần tôi, tôi sẵn sàng cộng tác vì hoà bình, một nền hoà bình công bằng và vinh dự cho cả hai nước. Tôi hy vọng rằng, về phía ông, ông cũng sẽ hành động theo hướng đó. Hãy cầu Chúa ban cho chúng ta thành công!
Người bạn tận tâm của ông
24-2-1947
HỒ CHÍ MINH".

Tháng 2, sau ngày 21, trước ngày 26
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư "Gửi đồng bào thượng du", biểu dương tinh thần yêu nước của đồng bào các dân tộc thiểu số trong công cuộc kháng chiến cứu nước. Người cảm ơn đồng bào và trân trọng hứa: "Đến ngày kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công, Tổ quốc và Chính phủ sẽ luôn luôn ghi nhớ những công lao của các đồng bào".

Tháng 2, ngày 26
Chủ tịch Hồ Chí Minh thảo bức điện mật gửi ông Đặng Việt Châu, yêu cầu:
"1- Gửi mau tờ trình việc lập Uỷ ban sáu châu thượng du, nói rõ vẫn thuộc quyền hành chính tỉnh Thanh và có phái viên của Chính phủ tham gia Uỷ ban đó. Làm khéo và mau. Không nên trễ. Chính phủ sẽ y ngay.
2- Nói cụ Lê Thước gửi chương trình thiết thực tăng gia sản xuất ra để Chính phủ duyệt y đặng thi hành ngay".

11 giờ, Người viết thư gửi ông Hoàng Hữu Nam nhắc gửi điện cho Chủ tịch tỉnh Thanh Hoá Đặng Thai Mai và ông Đặng Việt Châu đăng báo thư của Hồ Chủ tịch Gửi đồng bào thượng du và động viên các quan lang và dân chúng trả lời. Người còn hỏi về thời gian họp Hội đồng Chính phủ.

Tháng 2, ngày 27
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi các ông Hoàng Hữu Nam, Nguyễn Văn Lưu dặn những công việc cụ thể cho việc chuẩn bị địa điểm cuộc họp Hội đồng Chính phủ ngày 2-3-1947 ở Quốc Oai (Hà Tây), và hỏi về việc thả các cha cố bị tạm giữ.

Trong ngày, Người còn viết thư cho ông Hoàng Hữu Nam, đề nghị:
- Nhắc ông Vũ Đình Huỳnh báo cáo tình hình ở Ninh Bình.
- Trả lời về việc giúp Lào và Campuchia.
- Tổ chức sơ tán cho Hoa kiều ở Sơn Tây.
- Báo cáo về tình hình ở Lào Cai.

Tháng 2, ngày 28
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:
- Sắc lệnh số 26/SL, ấn định "trong niên khoá 1947, cho thu trong toàn quốc một số bách phân phụ thu là một phần trăm (1%) về thuế điền thổ".
- Sắc lệnh số 27/SL, ấn định thể thức và chế độ thuế trực thu áp dụng trong toàn quốc trong thời kỳ kháng chiến và cho đến khi có lệnh mới.

Tháng 2
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho ông Hoàng Hữu Nam, nhắc 4 việc:
- Xử lý ngay (bắt và làm án) những cán bộ ngành công an ăn tiền của dân.
- Làm rõ quan hệ và quyền hạn giữa Bộ Nội vụ với Uỷ ban hành chính.
- Báo cáo tình hình cụ thể ở tỉnh Lào Cai.
- Đề nghị các ông Vũ Đình Huỳnh và Cẩn trả lời về tình hình ở tỉnh Ninh Bình.

Tháng 2
Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của báo "Chiến đấu" về tình hình sức khoẻ của Người, về lý do Pháp chưa điều đình với ta, về cuộc kháng chiến của quân và dân miền biển.

Trả lời câu hỏi: "Nếu Pháp điều đình với một nhóm người khác, thì thái độ của Chính phủ ta sẽ thế nào?", Người nói: "Bất kỳ Pháp điều đình với ai, nếu Tổ quốc ta được thống nhất độc lập thật thà, đồng bào ta được tự do dân chủ thật thà, thì Chính phủ ta và quốc dân ta sẽ thoả thuận. Bất kỳ ai mà phản bội quyền lợi của Tổ quốc và của đồng bào, thì Chính phủ và nhân dân ta sẽ coi họ là những người phản quốc. Và cứ kháng chiến".

Tháng 3, ngày 1
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết "Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ". Người căn dặn đoàn thể cũng như mỗi đảng viên phải đem hết tinh thần, lực lượng nhằm vào một mục đích: đánh đuổi thực dân Pháp và làm cho nước nhà thống nhất, độc lập.

Người nêu những khuyết điểm cần sửa chữa ngay, như: địa phương chủ nghĩa, óc bè phái, óc quân phiệt quan liêu, óc hẹp hòi, ham chuộng hình thức, làm việc lối bàn giấy, vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm, ích kỷ, hủ hoá và nhấn mạnh phải "kiên quyết khắc phục những khuyết điểm vừa kể trên thì chúng ta mới chắc đi đến hoàn toàn thắng lợi" 20).

Tháng 3, ngày 2
20 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ toạ phiên họp Hội đồng Chính phủ để nghe báo cáo về tình hình quân sự, ngoại giao, kiểm điểm các mặt hoạt động. Quan trọng và cấp bách nhất là vấn đề nhanh chóng dời cơ quan Chính phủ lên Phú Thọ.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 27b/SL, về việc cấp đất công hoang ở những miền gọi là "vùng tiểu dinh điền" cho các công dân Việt Nam trên 18 tuổi.

Tháng 3, ngày 4
Mờ sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Sơn Tây, qua bến Trung Hà, sang đất Phú Thọ trên đường di chuyển lên căn cứ Việt Bắc. Người vào nghỉ chân ở nhà cụ Nguyễn Liên.

Tối, Người chuyển đến nhà ông Hoàng Văn Nguyên ở Xóm Đồi, xã Cổ Tiết, Tam Nông, Phú Thọ.

Thời gian ở Cổ Tiết (từ ngày 4-3-1947 đến ngày 18-3-1947), Người dùng bí danh Xuân trong các giấy tờ giao dịch. Hằng ngày, Người tranh thủ thời gian đọc các sách viết về lịch sử Việt Nam, dịch cuốn "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản", viết một loạt bài nói về lịch sử kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta, thảo các văn thư gửi Quốc hội và Chính phủ Pháp, thư kêu gọi đồng bào đẩy mạnh sản xuất, phục vụ kháng chiến.

...........Trích "Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử" (Tập 4)

Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 16.03.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TẾT BÍNH THÂN 2016

ĐƯỜNG VỀ CHÙA CHÍNH




Đường về chùa Cả đi tắt qua xóm nhỏ



Cổng xóm



Treo cờ ngày Tết



Nhà cấp 4



Đầu đao



Cổng chào



Hướng dẫn lối đi cho du khách



Cổng vào nhà bia tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ



Cầu đá dẫn vào nhà bia



Toàn cảnh nhà bia



Ngôi chùa vắng vẻ



Cây đa bến nước



Cột cây số



Giếng làng



Bán chổi



Tạm biệt chùa Thầy



Cảnh làng quê êm đềm



Rặng cây tỏa bóng mát



Cách đây 44 năm, nơi đây chưa bắc cầu, phải đạp xe qua con đập tràn


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 17.03.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TẾT BÍNH THÂN 2016

HẸN GẶP LẠI

Đến đây, coi như tạm kết thúc chuyến du xuân Tết Bính Thân 2016.

Điểm lại, chúng ta đã cùng nhau ghé thăm 4 cụm địa điểm chính: các đình chùa làng ven Hồ Tây, khu phố cổ, khu Hoàng thành Thăng Long, khu di tích thắng cảnh Chùa Thầy.

Cảm hứng để tôi thực hiện hơn 40 bài viết, đầu tiên, đó là cuốn sách “Phố phường Hà Nội xưa” của nhà văn hóa Hoàng Đạo Thúy. Tôi ở làng Đại Yên đã hai mươi năm, thế mà giờ mới biết, gia đình ông từng ở đó. Giọng văn của ông cũng rủ rỉ như giọng văn Tô Hoài trong “Chuyện cũ Hà Nội”, nhưng có phần sắc nét hơn, hàn lâm hơn, có lẽ vì ông có nghiên cứu về bản đồ. Còn giọng văn Nguyễn Vinh Phúc khi viết về Hà Nội dường như lý trí hơn, nghiêng về sử nhiều hơn, nên đôi lúc làm mệt óc những độc giả khó tính.

Tôi cũng thích loạt các bài viết của Tiến sĩ Bùi Xuân Đính (hình như nhà ông cũng ở làng Đại Yên ?) đăng trên báo “Hà Nội mới” về các làng nội đô và ven đô Hà Nội (cũ). Đúng là ông có lấy tư liệu từ một cuốn sách viết về 128 làng xã Hà Nội thời Pháp. Song phải công nhận, ông đã đi điền dã thật nhiều để hỏi thêm chuyện từ các bậc cao niên, và ghi chép thật nhiều. Tôi cũng nhận thấy, các bài báo của ông dựa vào tư liệu trích từ địa bạ cổ Hà Nội, nhưng thời dó, chưa in thành sách như bây giờ. Cách ông tham khảo kho tư liệu đó thật nhẹ nhàng, ôn hòa, dễ chịu.

Còn một ít ảnh, xin post lên cho ace cùng xem.



Đình Ngọc Hà



Đền Voi Phục (đền Thủ Lệ)



Cảnh tấp nập trước cổng đền Quán Thánh



Nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ



Vườn hoa



Đài phun nước



Hội chợ từ thiện



Đình Võng Thị



Phiên âm và giải nghĩa những cuốn thư, câu đối bên trong đình



Tấm bia đá cổ trong đình Võng Thị



Chùa làng Võng Thị



Chùa Thiên Niên (chùa làng Trích Sài)



Cổng sau chùa Thiên Niên



Trường mầm non Chu Văn An



Trường tiểu học Chu Văn An



Trường trung học cơ sở Chu Văn An



Trường trung học phổ thông Chu Văn An



Bến tàu thủy



Mùa đông đã qua



Đám cưới đầu xuân



Dàn nhạc sống chơi những bản nhạc trữ tình cổ điển



Lối vào phòng cưới



Lễ thành hôn



Nơi ngủ đêm của tàu điện ngày xưa



Lời chúc của ngân hàng


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 27.10.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

KÝ ỨC HÀ NỘI

Ký ức Hà Nội gồm 58 đoạn phim ngắn về mảnh đất Thăng Long Hà Nội, do Công ty Dolphin Media sản xuất. Những đoạn video clip có thể xem tại các đường link sau đây.

https://www.facebook.com/kyucvehanoi/

http://hanoikyuc.blogspot.com/

Tuy nhiên, tôi đã sắp xếp chúng lại theo trật tự của riêng mình.


---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=O68XjXvJjT4

Ký ức Hà Nội: Gốc tích An Dương Vương và thành Cổ Loa

Cổ Loa là kinh đô của nhà nước Âu Lạc, dưới thời An Dương Vương vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và của nhà nước phong kiến dưới thời Ngô Quyền thế kỷ 10 sau Công nguyên.

Vào thời Âu Lạc, Cổ Loa nằm vào vị trí đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng và là nơi giao lưu quan trọng của đường thủy và đường bộ. Từ đây có thể kiểm soát được cả vùng đồng bằng lẫn vùng sơn địa. Cổ Loa có một vị trí vô cùng thuận lợi hơn bất kỳ ở đâu tại đồng bằng Bắc Bộ vào thời ấy.

Kiến trúc thành có 3 vòng. Chu vi ngoài 8 km, vòng giữa 6,58 km, vòng trong 1,6 km...Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Lũy cao trung bình từ 4-5 m, có chỗ 8–12 m. Chân lũy rộng 20–30 m, mặt lũy rộng 6–12 m. Xung quanh Cổ Loa, một mạng lưới thủy văn dày đặc đã được tạo ra, thành một vùng khép kín, thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ thủy binh hùng mạnh.

Để lại một tòa thành “lộng lẫy”, hùng mạnh đến vậy, nhưng gốc tích về người dựng lên thành vẫn gây nhiêu tranh cãi. Vậy, chính xác thì An Dương Vương có xuất thân từ đâu?

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=Rvsr7Fs8dD0

Ký ức Hà Nội: Chức năng của thành Cổ Loa

Thành Cổ Loa theo tương truyền gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, nhưng hiện còn 3 vòng thành mang nhiều chức năng to lớn trong đời sống xã hội lúc bấy giờ.

Về mặt quân sự, thành Cổ Loa thể hiện sự sáng tạo độc đáo của người Việt cổ trong công cuộc giữ nước và chống ngoại xâm. Với các bức thành kiên cố, với hào sâu rộng cùng các ụ, lũy, Cổ Loa là một căn cứ phòng thủ vững chắc để bảo vệ nhà vua, triều đình và kinh đô. Đồng thời là một căn cứ kết hợp hài hòa thủy binh cùng bộ binh, khi tác chiến.

Về mặt xã hội, với sự phân bố từng khu cư trú cho vua, quan, binh lính, thành Cổ Loa là một chứng cứ về sự phân hóa của xã hội thời ấy. Thời kỳ này, vua quan không những đã tách khỏi dân chúng mà còn phải được bảo vệ chặt chẽ, xã hội đã có giai cấp rõ ràng hơn thời Vua Hùng.

Về mặt văn hóa, là một tòa thành cổ nhất còn để lại dấu tích, Cổ Loa trở thành một di sản văn hóa, một bằng chứng về sự sáng tạo, về trình độ kỹ thuật cũng như văn hóa của người Việt Cổ. Đá kè chân thành, gốm rải rìa thành, hào nước quanh co, ụ lũy phức tạp, hỏa mai chắc chắn và nhất là địa hình hiểm trở ngoằn ngoèo, tất cả làm nên nghệ thuật kiến trúc và văn hóa thời An Dương Vương.

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=oB_EwmudwbE

Ký ức Hà Nội: Thành Cổ Loa – từ truyền thuyết đến hiện thực

Thành Cổ Loa – kinh đô của nhà nước Âu Lạc xưa gắn liền với nhiều truyền thuyết như Thần Kim Quy bày cách xây thành, chiếc lẫy nỏ thần làm bằng móng chân rùa và mối tình bi thương Mỵ Châu – Trọng Thủy. Nhưng đã có những phát hiện bất ngờ góp phần hiện thực hóa những truyền thuyết trong dân gian, đó chính là việc tìm thấy kho đầu mũi tên bằng đồng và rất nhiều di tích khác xung quanh thành Cổ Loa.

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=DQhxUQ6YPG8

Ký ức Hà Nội: Chiếu dời đô từ Hoa Lư đến Thăng Long

Chiếu dời đô hay Thiên đô chiếu là một bài chiếu của vua được Ngô Sĩ Liên ghi lại sớm nhất ở thế kỷ XV trong sách “Đại Việt sử ký toàn thư”. Chiếu này được cho là do vua Lý Thái Tổ ban hành vào mùa xuân năm 1010 để chuyển dời kinh đô của nước Đại Cồ Việt từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (Hà Nội).

Hơn 1 năm sau khi lên ngôi Hoàng đế, tháng 7 năm Canh Tuất, Lý Thái Tổ bắt đầu dời đô từ Hoa Lư về Đại La. Việc tìm đất, nghị bàn đến việc chuẩn bị để dời đô diễn ra tương đối khẩn trương. Từ Hoa Lư về thành Đại La có thể đi theo đường bộ hoặc theo đường thuỷ. Sử cũ không ghi chép chi tiết nhà Lý dời đô bằng đường nào. Các nhà nghiên cứu đã kết luận: nhà Lý dời đô bằng đường thuỷ. Và chỉ có dời đô bằng đường thuỷ thì mới an toàn và tải được cả bộ máy triều đình đông đảo cùng vật chất bảo đảm đồ sộ đi kèm.

Như vậy, hành trình dời đô đi qua 6 con sông khác nhau, trong đó các hành trình trên sông Sào Khê, sông Hoàng Long, sông Châu Giang là đi xuôi dòng, trên sông Đáy, sông Hồng, sông Tô Lịch là đi ngược dòng.

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=MswLRtkxvC8

Ký ức Hà Nội: Đường phố Hà Nội bắt nguồn từ Hoa Lư

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=Xcdsxh46PuM

Ký ức Hà Nội: 8 vầng mây kỳ ảo tại Đền Đô - Bắc Ninh

8 vầng mây kỳ ảo tương ứng với 8 vị vua thời Lý xuất hiện trên nóc của đền Đô tại Bắc Ninh.

Bức ảnh được đặt tên là “Bát Đế vân du”, bức ảnh được chụp bởi nhiếp ảnh gia Tuấn Đại vào ngày 26/8/1998 (tức ngày 5/7 năm Mậu Dần) là ngày giỗ của vua Lý Anh Tông, vị vua thứ 6 nhà Lý. Vào lúc chuẩn bị làm lễ, ngay trên đỉnh Thọ Lăng Thiên Đức xuất hiện 11 áng mây, nhưng trong giây lát, 3 áng mây tự động tan biến, chỉ để lại 8 áng mây đứng song hành với nhau trên nền trời xanh thẫm. Và theo quan niệm tâm linh, thì đây là 8 vầng mây ứng với 8 vị vua nhà Lý đang được thờ trong Đền. Mặc dù đã có nhiều nghi vấn và là chủ đề bàn cãi trong một thời gian dài, nhưng bức ảnh đã được giám định là ảnh thật, không dùng phần mềm chỉnh sửa để tăng sự kỳ ảo tại chốn đền thờ này.

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=GGo8QrsDoaM

Ký ức Hà Nội: Chùa Một Cột - biểu tượng mênh mông trời đất

Chùa Một Cột chỉ có một gian nằm trên một cột đá ở giữa hồ Linh Chiểu nhỏ có thả sen. Truyền thuyết kể lại rằng, chùa được xây dựng theo giấc mơ của vua Lý Thái Tông (1028-1054) và theo gợi ý thiết kế của nhà sư Thiền Tuệ. Vào năm 1049, vua đã mơ thấy được Phật bà Quan Âm ngồi trên tòa sen dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy, nhà vua kể chuyện đó lại với bày tôi và được nhà sư Thiền Tuệ khuyên dựng chùa, dựng cột đá như trong chiêm bao, làm toà sen của Phật bà Quan Âm đặt trên cột như đã thấy trong mộng và cho các nhà sư đi vòng quanh tụng kinh cầu kéo dài sự phù hộ, vì thế chùa mang tên Diên Hựu.

Đối với người ngoại quốc, chùa Một Cột giống như một cái “tổ chim”, nhưng trong nó lại ẩn chứa nhiều ý nghĩa mênh mông của đất trời. Điều này đã được lý giải bởi ông Trần Lâm Biền – một nhà nghiên cứu lịch sử.

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=wLiGqgzvqDE

Ký ức Hà Nội: Pho tượng đồng Trấn Vũ chùa Cự Linh

Nhắc đến Trấn Vũ, người dân Hà Nội cũng như khắp nơi trong cả nước nghĩ đến đền Quán Thánh, nơi có pho tượng đồng thánh Huyền Thiên Trấn Vũ quý giá. Nhưng ít ai biết rằng, ở Ngọc Trì, Thạch Bàn, Gia Lâm, Hà Nội cũng có một pho tượng Trấn Vũ với quy mô và kiến trúc mang nhiều nét tương đồng với pho tượng ở đền Quán Thánh.

Những người dân trong thôn Ngọc Trì luôn coi bức tượng khổng lồ bằng đồng như một bảo vật. Dân trong làng thuộc làu câu chuyện vua Lê Thánh Tông (1460-1497) trên đường đem quân đi chinh phạt phương Nam có nghỉ chân tại Cự Linh (tên gọi xưa của vùng đất Ngọc Trì). Đêm ấy, thánh Trấn Vũ hiển linh báo mộng phù trợ nhà vua. Nhân cái tích ấy, sau khi chiến thắng, vua cho lập đền và tạc tượng thờ, gọi là Hiển linh Trấn Vũ quán. Đền được xây dựng trên thế đất linh với “quy xà hội tụ”. Trước mặt là cánh đồng rộng có gò đất như hình rùa đang phục trước đền. Ôm trọn phía sau ngôi đền là con đê sông Hồng cao uốn lượn.

Khi đền mới dựng, tượng Trấn Vũ tạc bằng gỗ. Nhưng để thờ suốt 292 năm thì hư hại quá nhiều. Đến thời Lê Hiển Tông thì đã không còn khả năng phục chế. Bấy giờ, Vua Lê Hiển Tông thấy pho tượng gỗ không tương xứng so với Đức thánh Huyền Thiên Trấn Vũ bèn hạ lệnh cho người khẩn trương quyên đồng của dân chúng gần xa về đúc tượng. Các nghệ nhân đúc đồng lúc bấy giờ phải mất hơn 14 năm miệt mài lao động.

Cứ mỗi lần đúc xong, lại thấy chưa xứng với sự uy nghi bề thế của thần Trấn Vũ, lại một lần nữa đắp đồng cho tượng cao dần lên, to dần lên và ngày càng uy nghiêm, mang hùng thái của một vị tướng canh giữ cõi Bắc. Trên tấm bia “Trấn Vũ điện bi ký” dựng năm 1820 cũng ghi lại: “Năm Đinh Sửu Cảnh Hưng (1757) đúc tượng đồng. Mỗi lần chiêm ngưỡng tượng thần lại muốn to lớn hơn, nên tiết Đông chí năm Mậu Thân 1788) đúc lại tượng... đến tháng Tám năm Nhâm Tuất (1802) thì hoàn thành”.

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=dxXI44Qecbk

Ký ức Hà Nội: Làng Nghi Tàm lưu giữ nét Thăng Long

Nghi Tàm là một trong ba làng cổ của phường Quảng An, quận Tây Hồ. Đây là địa danh mang đậm các dấu tích văn hóa, từ các di tích lịch sử đến nghề truyền thống.

Trải qua bao biến thiên cuộc sống, nhưng những dấu tích văn hóa-lịch sử vẫn được nâng niu, gìn giữ gần như nguyên vẹn tới ngày nay.

Nằm ngay mép nước Hồ Tây, làng Nghi Tàm có lịch sử gắn liền với lịch sử của hồ nước giàu chất huyền thoại này. Cũng bởi bao năm gắn bó với Hồ Tây nên người Nghi Tàm có tính tình cởi mở, dễ gần; có thể nói chuyện cả buổi khi được hỏi về văn hóa, truyền thống của làng.

Ông Nguyễn Ngọc Diệp, một người có gốc gác nhiều đời nay ở làng Nghi Tàm, vô cùng tự hào về truyền thống làng mình và ghi chép thật tỉ mỉ các giai đoạn phát triển của làng vào cuốn sổ tay cá nhân. Lời ông kể như đưa người ta trở lại với quá khứ xa xưa, từ một làng Nghi Tàm hoang sơ đầy lau lách đến một làng trồng dâu nuôi tằm dệt lụa, rồi chuyển sang nghề trồng cây, nuôi cá cảnh sôi động.

Làng Nghi Tàm được hình thành từ năm 1138, đời vua Lý Thần Tông với tên khai sinh là trại Tầm Tang. Cái tên trại do chính nhà vua đặt. Trại Tầm Tang gắn với tích công chúa Từ Hoa, con vua Lý Thần Tông dời cung về nơi này dạy dân trồng dâu, nuôi tằm tạo nên một vùng đất nổi tiếng của kinh thành Thăng Long về nghề tơ tằm.

Đến thời Trần, trại đổi tên là phường Tích Ma và khi đó cư dân lại phát triển nghề se gai, dệt lưới đánh cá. Sang đến thời Lê, phường Tích Ma đổi tên thành Nghi Tầm, nhưng do trùng với tích bà Từ Hoa công chúa dời cung về dạy nghề cho dân làng, nên đổi lại thành Nghi Tàm.

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=mG4AOKHD934

Ký ức Hà Nội: Cổng làng Hà Thành

Hà Nội ngày nay vẫn còn vô số cổng làng. Cái cổng làng là hiện diện của một nếp làng. Dù hoành tráng tam quan, có chạm khắc, rồng chầu, hổ phục hay đơn giản, khiêm nhường chỉ là hai cái cột gạch mộc, nhưng đó là một thái độ, một sự tự trọng của cả cộng đồng.

Cổng làng là một biểu tượng của cộng đồng về quyền uy của làng. Nhiều cổng làng không có cánh cổng, nhưng người ra kẻ vào vẫn có cái cảm giác bước qua cổng làng, tức là đi vào một thế giới của những người sống cùng nhau phía sau cổng ấy. Họ phải làm sao cho xứng đáng người ngôi làng. Và kẻ bên ngoài khi đi vào làng phải tôn trọng nếp làng, tập quán, phong tục…

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=UGg867im1Wo

Ký ức Hà Nội: Kho vũ khí dưới lòng hồ Ngọc Khánh

Gần 30 năm trước, nhà khảo cổ học Đỗ Văn Ninh (nguyên Viện phó Viện Sử học Việt Nam) - trong một lần khai quật, đã "choáng váng" khi vớt được hàng ngàn vũ khí chìm sâu dưới lòng hồ Ngọc Khánh (Hà Nội) và các ruộng rau muống.

Với GS-TS sử học Đỗ Văn Ninh, bộ sưu tập vũ khí hồ Ngọc Khánh có thể coi là một trong những bộ di vật quý vào bậc nhất so với tất cả những phát hiện nhiều năm nay dưới lòng đất Thăng Long - Đông Kinh - Hà Nội. Có thể khẳng định đây là một phát hiện chưa từng có trong lịch sử ngành khảo cổ. Nếu cứ đơn giản mà tính đếm, coi mỗi hiện vật là một di vật vũ khí, thì bộ sưu tập này lên tới con số hàng ngàn.

Mặt khác, cuộc trục vớt hàng ngàn hiện vật vũ khí ở khu vực phía tây kinh thành Thăng Long cùng với sự xuất lộ nền móng kiến trúc của một trường võ bị gồm các hòn đá tảng kê chân cột, những đầu gỗ thừa, những chân cột đang gia công, những đầm nén đất -lần đầu tiên - đã đem đến những cơ sở khoa học cho việc hình dung về một Giảng Võ đường được xây mới vào năm 1481 (trước đó, thời Lý, thời Trần đều có Giảng Võ đường), quanh năm sôi động tiếng gươm khua, trống đánh, quânreo, ngựa hí.

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=TNsVF3gwHmk

Ký ức Hà Nội: Lý triều Quốc sư là ai ?

Lý Quốc Sư (1065 – 1141) là tên gọi theo quốc tính họ Vua do nhà Lý ban cho ghép với chức danh pháp lý cao nhất của một vị thiền sư từng là dược sư, pháp sư, đại sư rồi quốc sư, tên hiệu Nguyễn Minh Không. Ông là một vị cao tăng đứng đầu tổ chức phật giáo của triều đại nhà Lý trong lịch sử, được xem là vị thiền sư sáng lập nên nhiều ngôi chùa nhất ở Việt Nam và được tôn vinh là ông tổ nghề đúc đồng.

Vì có nhiều công lớn chữa bệnh cho vua và nhân dân, mà ông cùng với Trần Hưng Đạo, là những nhân vật lịch sử có thật, sau này được người Việt tôn sùng là Đức thánh Nguyễn, Đức thánh Trần. Một số ghi chép xưa xếp ông là vị thánh trong Tứ bất tử. Trong truyền thuyết dân gian, Nguyễn Minh Không là một nhân vật huyền thoại, xuất hiện với nhiều tình tiết kỳ bí, thậm chí hoang đường, như khi tu thiền đắc đạo có thể đi mây về gió, niệm chú cho chim lạ rơi xuống đất, ngả nón làm thuyền vượt sông cả, cho cả kho đồng đen nước Tống vào túi đem về Đại Việt đúc Tứ đại khí, thò tay vào vạc dầu đang sôi, vớt hàng trăm chiếc kim chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông.

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=KDy9q7Nfi60

Ký ức Hà Nội: Nghi án Thái sư Lê Văn Thịnh "hóa hổ" giết vua

Lê Văn Thịnh đỗ thủ khoa (tương đương Trạng nguyên) của khoa thi Minh kinh bác học thời Lý (1075). Với nhiều công trạng, con đường quan lộ của ông đã lên đến tột đỉnh: Thái sư đầu triều. Nhưng đúng ở vào thời khắc đỉnh cao của sự nghiệp thì ông bị vu tội “hoá hổ giết vua” vào năm 1096 và phải đi đày ở Thao Giang (Phú Thọ ngày nay). Người đương thời và hậu thế đều đặt dấu hỏi về tính chân xác của sự kiện trên...

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=lB2MplIZHr

Ký ức Hà Nội: Truyền thuyết mẫu Liễu Hạnh phủ Tây Hồ

Phủ Tây Hồ thờ bà chúa Liễu Hạnh – một trong những đại diện đạo Mẫu ở Việt Nam là một trong Tứ bất tử của Việt Nam (Sơn Tinh, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh). Tục truyền rằng: bà vốn là công chúa Quỳnh Hoa – con gái thứ hai của Ngọc Hoàng, bị đày xuống trần gian vì tội làm vỡ cái ly ngọc quý. Xuống hạ giới, nàng chu du, khám phá khắp mọi miền, qua đảo Tây Hồ dừng lại, phát hiện ra đây là nơi địa linh sơn thủy hữu tình, bèn lưu lại mở quán nước làm cớ vui thú văn chương giữa thiên nhiên huyền diệu.

Cũng theo truyền thuyết, Phủ Tây Hồ là nơi hội ngộ lần thứ hai của công chúa Liễu Hạnh và Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Như tiền duyên xui khiến, Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan trong lần đi thuyền dạo chơi trên hồ, thấy cảnh đẹp, bèn ghé vào quán Tiên chúa. Tâm đầu ý hợp, họ cùng vịnh bài thơ “Tây Hồ ngự quán” mà nay vẫn còn lưu truyền mãi. Tiên chúa ở đây trong bao lâu không ai biết, chỉ biết khi Phùng Khắc Khoan trở lại tìm, thì không còn. Để nguôi ngoai nỗi nhớ, ông cho lập đền thờ người tri âm. Sự xuất xứ ly kỳ của phủ Tây Hồ là thế.

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=gFXZTgh17OQ

Ký ức Hà Nội: Nghĩa địa khổng lồ dưới làn nước Hồ Tây

Hồ Tây là một thắng cảnh đệ nhất của Thủ đô, nhưng ít ai biết rằng, dưới đáy Hồ Tây có rất nhiều nghĩa địa cổ. Nhưng tại sao, những ngôi mộ lại nằm ở giữa hồ?

Vùng Tây Hồ cũng là nơi yên nghỉ của 3 nữ sĩ nổi tiếng nhất Việt Nam ngày xưa là bà Huyện Thanh Quan, bà Đoàn Thị Điểm và bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương. Nhưng chỉ có mộ bà Đoàn Thị Điểm được chôn cất cùng chồng ở một ngôi làng ven hồ Tây là còn lại đến ngày nay. Còn mộ bà Huyện Thanh Quan và Hồ Xuân Hương hiện nay không còn dấu tích.
Những nghĩa địa khổng lồ dưới đáy Hồ Tây càng khiến cho nơi hội tụ linh khí trời đất này thêm phần linh thiêng, bí ẩn…

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=oQaCSN9Ki9A

Ký ức Hà Nội: Núi Nùng - danh sơn Hà Nội

Núi Nùng - Sông Tô, những địa danh nổi tiếng của kinh thành Thăng Long, nơi được tôn là "Nùng sơn chính khí", "Tô Lịch giang thần”. Tuy nhiên, “núi Nùng” nằm ở vùng đất nào trên kinh thành, là vấn đề có những cách lý giải khác nhau.

---------------------------------------------------------------------------------
https://www.youtube.com/watch?v=X8P-0GKTycs

Ký ức Hà Nội: Văn Miếu - Quốc Tử Giám - biểu tượng văn hóa Việt

Văn Miếu - Quốc Tử Giám là một quần thể kiến trúc di tích lịch sử văn hóa hàng đầu của Thủ đô và cả nước, được xây dựng năm Canh Tuất, tháng Tám, niên hiệu Thần Võ thứ hai (9-1970) đời vua Lý Thánh Tông, trên hòn đảo lớn của Đại hồ phía Nam Hoàng thành, thuộc đất của hai phường Cổ Giám và Văn Chương. Nay nằm trên phố Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, Hà Nội. Đây là một khu di tích lịch sử mang ý nghĩa biểu trưng cho tiến trình phát triển văn hóa - giáo dục của Việt Nam

Nơi đây, lúc đầu chỉ là ngôi miếu thờ Khổng Tử, Chu Công và bốn môn đồ của Khổng tử là Nhan Uyên, Tăng Sâm, Mạnh Tử và Tử Tư. Vua Lý Thánh Tông còn cho đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và tứ phối, vẽ hình “thất thập nhị hiền” (72 người hiền) của đạo Nho để thờ cúng, bốn mùa tế lễ.
Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám nằm trên diện tích rộng 54331m2 bao gồm: Hồ Văn, vườn Giám và Nội tự. Khu nội tự Văn Miếu - Quốc Tử Giám tôn nghiêm, được ngăn cách với vườn Giám và bên ngoài bằng tường gạch vồ, được chia làm 5 lớp không gian khác nhau, mỗi lớp được giới hạn bởi các tường gạch, có các cửa thông nhau: một cửa chính giữa và hai cửa phụ hai bên với các kiến trúc chủ thể là: cổng Văn Miếu môn, cổng Đại Trung môn, Khuê Văn Các, cổng Đại Thành môn, khu điện thờ, cổng Thái Học và kết thúc là khu Thái Học.

Trải qua biến cố của lịch sử Văn Miếu - Quốc Tử Giám được trùng tu, xây dựng thêm rất nhiều lần sau những cơn binh lửa chiến tranh tàn phá, bởi vậy kiến trúc thời Lý - Trần hầu như không còn gì, phần lớn đều mang dáng vóc và phong cách thời Lê Mạt. Các cổng và gác Khuê Văn Các là sản phẩm thời Nguyễn.

Từ những giá trị lịch sử, văn hóa - giáo dục to lớn đó mà ngày nay: Văn Miếu - Quốc Tử Giám luôn là một địa chỉ du lịch nổi tiếng của Thủ đô, hằng năm thu hút hàng triệu lượt du khách trong và ngoài nước đến tham quan. Đồng thời cũng là nơi khen tặng cho học sinh xuất sắc và còn là nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày Rằm tháng Giêng. Đặc biệt, đây còn là nơi các sĩ tử ngày nay đến "cầu may" trước mỗi kỳ thi.

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=RZY0zYJVLBw

Ký ức Hà Nội: Ý nghĩa sâu xa của Khuê Văn Các ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám

Khuê Văn Các là công trình nổi tiếng đề cao học vấn, văn chương thơ phú lại được xây dựng nhờ công của một vị quan võ - Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành vào năm 1805 dưới triều Nguyễn.

Khuê Văn Các có kiến trúc dạng cổ lầu, tầng gác bên trên là những kết cấu bằng gỗ, bốn góc có hàng lan can bằng gỗ tiện, mái ngói được nâng bởi những giá gỗ đơn giản, vững chắc mà thanh thoát. Bốn mặt bịt ván gỗ, mỗi mặt đều làm một cửa tròn có những thanh gỗ chống tỏa ra bốn phía. Cửa và thanh gỗ chống tượng trưng cho sao Khuê và những tia sáng của sao. Mé trên sát mái phía cửa ngoài vào treo một biển sơn son thiếp vàng 3 chữ “Khuê văn các”. Mỗi mặt tường gỗ đều chạm một đôi câu đối chữ Hán thiếp vàng rất có ý nghĩa.

Gác Khuê Văn vốn là nơi xưa kia dùng để họp bình những bài văn hay của các sĩ tử đã thi trúng khoa thi Hội. Gác nhỏ, kiến trúc giản dị nhưng tao nhã, đặc biệt lại được chọn dựng giữa những cây cổ thụ xanh tốt, cạnh giếng Thiên Quang đầy nước trong in bóng gác.

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=HKTqN6FCb1g

Ký ức Hà Nội: Giai thoại Ngô Thì Nhậm qua bia tiến sĩ

Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) còn có tên Ngô Thời Nhiệm, là một danh sĩ thời Hậu Lê – Tây Sơn, người có công lớn trong việc giúp Tây Sơn đánh tan 20 vạn quân Thanh qua cao kiến lui binh về giữ phòng tuyến Tam Điệp (Ninh Bình). Ông cũng được đánh giá là một nhà ngoại giao xuất sắc qua những văn thư trao đổi với nhà Thanh, khiến nước ta tránh được nạn binh đao khi Càn Long định điều 50 vạn quân sang báo thù cho Tôn Sĩ Nghị. Tiếc thay, Ngô Thì Nhậm đã giã từ cõi thế ở tuổi 57 sau trận đòn thù của Đặng Trần Thường ngay tại sân Văn Miếu.

Khi Quang Trung Nguyễn Huệ qua đời, Ngô Thì Nhậm không được tin dùng nữa, bèn về quê đóng cửa nghiên cứu Phật học. Đến năm 1802, khi Nguyễn Ánh thắng thế, lật đổ được nhà Tây Sơn, nhiều tướng lĩnh của Tây Sơn bị trả thù một cách thảm khốc. Hầu hết các võ tướng như Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Võ Văn Dũng... đều bị xử tử. Còn các quan văn như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích... thì bị giải về Hà Nội để phạt đánh roi ngay tại sân Văn Miếu, là nơi trước kia các ông đỗ tiến sĩ, được khắc tên vào bia tiến sĩ.

Người được Nguyễn Ánh giao cho nhiệm vụ chủ trì cuộc phạt đòn tại sân Văn Miếu là Đặng Trần Thường, vốn cùng học một thầy với Ngô Thì Nhậm khi còn bé. Vốn có mối hiềm thù từ trước, Đặng Trần Thường kiêu hãnh ra một vế đối cho Ngô Thì Nhậm: Ai công hầu ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai. Không hề chần chừ suy nghĩ, Ngô Thì Nhậm đáp ngay: Thế Chiến quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế thế thời phải thế. Đặng Trần Thường bắt Ngô phải sửa lại câu đối, nhưng Ngô không thèm đáp lại. Tức giận, Thường sai quân tẩm thuốc độc vào roi để đánh ông. Sau trận đòn, Phan Huy Ích không bị đánh bằng thuốc độc nên còn sống. Còn Ngô Thì Nhậm thì chỉ mấy hôm sau bị thuốc độc ngấm vào tạng phủ, hết phương cứu chữa.

Tên Ngô Thì Nhậm hiên nay được đặt cho nhiều con phố thuộc những thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh... Ở quận Hai Bà Trưng (Hà Nội), còn có một Phường mang tên ông.

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=_do7u1q4TQo

Ký ức Hà Nội: Văn Miếu từng có tên Chùa Quạ

Văn Miếu từng có lúc bị gọi là Chùa Quạ - bởi nơi đây luôn đầy rẫy sự u ám, chết chóc.

Vào năm 1884, chính phủ bảo hộ Pháp cho quân đội biến Văn Miếu thành khu vực quân sự, cấm người vào tế lễ, rồi cho dựng trường bắn ngay tại đây. Điều này đã gây nên sự căn phẫn của dân chúng Hà Thành. Do đó, 1895 Pháp buộc phải di chuyển quân đội đi nơi khác, 6 năm sau, trường bắn Bắc kỳ mới được chuyển đi. Nhưng chưa đầy hai năm sau, khi Hà Nội xảy ra dịch tả, Văn Miếu lại được trưng dụng làm nơi cách ly người bệnh. Đến tận tháng 3 năm 1904, Văn Miếu mới được phun thuốc khử trùng và trả lại cho người dân.

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=gdnPFV_H84g

Ký ức Hà Nội: Nét đẹp câu đối đất Thăng Long

Câu đối thuộc thê loại văn biền ngẫu, gồm hai vế đối nhau nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, sự vật, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội. Từ đối ở đây ý nghĩa được hiểu là ngang nhau, hợp thành một đôi. Câu đối là một trong các thể loại của văn học Trung Quốc và Việt Nam.

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=GAQZA-tV__c

Ký ức Hà Nội: Y học thời Thăng Long

Nhiều danh y đã xuất hiện và có nhiều cống hiến cho y học cổ truyền như Phan Phù Tiên người làng Đông Ngạc, Từ Liêm bây giờ, viết quyển “Bản thảo thực vật toàn yếu” gồm 392 vị thuốc Nam dùng làm thức ăn, tiết chế ăn uống phục vụ phòng chữa bệnh…

---------------------------------------------------------------------------------

[url]https://www.youtube.com/watch?v=jql9esncwJg

Ký ức Hà Nội: Văn hóa Thăng Long vùng cửa biển

Trong lịch sử đã ghi nhận nhiều đợt di cư của dân Thăng Long – Hà Nội. Một trong số đó là việc người Thăng Long đến khai phá lập nghiệp vào TK XV trên vùng đảo Hà Nam hoang sơ của trấn An Bang (thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh ngày nay).

Đến nay, các thuần phong mỹ tục trong lễ nghi, hội hè, tang ma, cưới xin, trong ứng xử với thiên nhiên và cộng đồng làng xóm thuở xa xưa ở Thăng Long thành giờ vẫn còn nguyên vẹn ở xã Phong Lưu xưa (nay là phường Cẩm La, Phong Cốc, Phong Hải và Yên Hải) nơi cửa biển đông bắc của tổ quốc.

Tuy là vùng quê làng đảo, nhưng Hà Nam còn lưu giữ được tới 130 di tích lịch sử và văn hóa như hệ thống đình chùa, đền miếu, nhà thờ tổ các dòng họ, trong đó đã có 30 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, cấp tỉnh; nhiều lễ hội, nhiều vốn văn hóa dân gian, phong tục tập quán của làng Việt cổ liên quan đến các trang sử quốc gia, thành Thăng Long xưa vẫn đang được kế thừa, phát huy. Phong tục tập quán, văn hóa cổ truyền của người Hà Nam mang đậm dấu ấn của dân kinh thành xưa.

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=9BQXbZTb7rs

Ký ức Hà Nội: Cụ rùa Hồ Gươm - những điều chưa biết

Rùa trong Hồ Gươm gắn liền với truyền thuyết Lê Lợi trả gươm thần Thuận Thiên cho rùa thần Kim Quy. Ngay địa danh của hồ cũng căn cứ trên truyền tích đó vào đầu thời nhà Hậu Lê. Truyền thuyết thần Kim Quy còn đi ngược dòng lịch sử của người Việt xa hơn nữa với chuyện thần Kim Quy giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa và tặng nhà vua cái móng để làm lẫy nỏ chống quân của Triệu Đà.

Người Việt Nam vẫn thường gọi rùa khổng lồ sống ở Hồ Gươm là "Cụ" với hàm ý tôn kính, và đây cũng là biểu tượng gắn liền với truyền thuyết Gươm thần và lịch sử giữ nước, là phần tâm linh đáng trân trọng.

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=2ME91bRApMI

Ký ức Hà Nội: Câu chuyện trên đỉnh Tháp Rùa

Có lẽ ít người biết rằng, ở Hà Nội đã từng có một tượng Nữ thần Tự Do giống hệt như tượng Nữ thần Tự Do ở New York (Mỹ), nhưng với kích thước nhỏ hơn.

Chuyện là, khi trao tặng tượng Nữ thần Tự Do khổng lồ cho nước Mỹ, người Pháp giữ lại cho mình một phiên bản nhỏ (cao 11 mét) cũng bằng đồng, đặt cạnh cây cầu bắc qua sông Seine. Đồng thời, một phiên bản khác nhỏ hơn nữa, (chiếm tỷ lệ 1/16 của pho tượng chính, tức khoảng 2,85m), được họ mang sang Hà Nội.

---------------------------------------------------------------------------------
https://www.youtube.com/watch?v=UNff7qhhcmQ

Ký ức Hà Nội: Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa lừng lẫy

Trận Ngọc Hồi - Đống Đa là trận mở màn trong Chiến thắng mùa xuân Kỷ Dậu, là tên gọi do các nhà sử học Việt Nam dành cho loạt trận đánh chống ngoại xâm thắng lợi của nước Đại Việt thời Tây Sơn do vua Quang Trung lãnh đạo vào đầu năm Kỷ Dậu 1789, đánh tan hàng vạn quân Mãn Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy - kéo sang do sự cầu viện của vua Lê Chiêu Thống nhà Lê Trung Hưng. Chiến thắng này đánh dấu việc nhà Tây Sơn chính thức thay nhà Hậu Lê trong việc cai quản đất Bắc Hà và trong quan hệ với nhà Thanh.

Chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa là chiến công vĩ đại, hiển hách mãi mãi đi vào lịch sử chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta, là bản hùng ca bất hủ trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

---------------------------------------------------------------------------------

https://www.youtube.com/watch?v=0u0GMH4QP0w

Ký ức Hà Nội: Giải mã gò Đống Đa

Kinh đô Thăng Long với 12 gò đống chôn vùi xác quân thù đã là một điều đi vào tâm thức người dân. Qua thời gian đến nay chỉ còn lại một gò là gò Đống Đa trên đường Tây Sơn. Trong cuốn “Cổ tích và thắng cảnh Hà Nội”, tác giả Doãn Kế Thiện đã ghi lại chi tiết câu chuyện về các gò đống này.
Sách cho biết: Sau khi chiến thắng quân Thanh, theo lời tâu của Ngô Thì Nhậm, vua Quang Trung cho thu nhặt xác chết quân lính Mãn Thanh từ trại Thịnh Quang đến trại Nam Đồng, dồn thành 12 cái gò. Đến năm Tự Đức thứ 4 (1851), người ta mở đường mở chợ vào cánh đồng giáp giới hai làng Thịnh Quang và Nam Đồng. Khi đào đất để xây dựng, thì chỗ nào cũng thấy hàng đống hài cốt chồng chất lên nhau. Biết đó là hài cốt quân Mãn Thanh còn sót lại, liền cho thu nhặt chôn vào một hố, rồi cũng đắp thành gò cùng một dãy với 12 gò kia, tạo thành 13 gò.

Gò thứ 13 này đắp ở ngay cạnh núi Ốc (Loa sơn) là chỗ tướng nhà Thanh Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử. Khi đắp đống, người ta đã đắp dính vào với núi Ốc, rồi qua năm tháng, lại đắp đất thêm vào, nên chẳng bao lâu sau, gò thứ 13 này trở nên to và cao hơn hẳn các gò kia. Lại thêm vùng này xưa kia sau một năm bị nạn vỡ đê nước lụt, giống cây đa mọc lên ở khắp nơi.

Đây là một quan điểm đã đi vào tâm thức của đông đảo nhân dân. Tuy nhiên, giới nghiên cứu thì cho biết, đó là những nhầm lẫn.

---------------------------------------------------------------------------------

(Còn nữa)



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 05.11.2016, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... , 31, 32, 33  Trang kế
Trang 32 trong tổng số 33 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser