vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - 999 năm Thăng Long - Hà Nội
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

999 năm Thăng Long - Hà Nội
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 30, 31, 32, 33  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 07.03.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TẾT BÍNH THÂN 2016

TRIỂN LÃM TẾT VIỆT TRONG HOÀNG THÀNH THĂNG LONG




Những hình ảnh về Tết cổ truyền của người Việt



Xin mời vào !



Gian trưng bày chính



Giới thiệu về tục lệ ăn Tết cổ truyền của người Việt



Những bức ảnh chụp ngày Tết (thời Pháp thuộc) trên tường và những minh họa sống động ở ngay phía dưới



Thú chơi tranh Tết



Gian chính giữa là bàn thờ tổ tiên



Nơi tiếp khách



Phản gỗ



Bộ bàn ghế kiểu xưa



Tủ gỗ giả cổ



Xe đạp



Cây nêu ngày Tết



Quán xá đơn sơ



Cùng ghé vào một ngôi nhà ở làng quê



Chái bếp



Ngô dự trữ



Bu gà



Máy tuốt lúa bằng tay



Bó lúa đã tuốt



Cối giã gạo



Áo tơi lá



Hom bắt cá



Cách hứng nước mưa từ thân cây vào chum, vại



Nếu rỗi rãi, xin mời thưởng thức trò múa rối nước


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 07.03.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TẾT BÍNH THÂN 2016

CHÙA THẦY




Ruộng bắp cải



Ruộng su hào



Sông Đáy mùa nước cạn



Con mương nhỏ đưa nước vào ruộng rau



Vành đai xanh của thủ đô



Lối rẽ trên đường cao tốc



Chào mừng quý khách



Mương thủy lợi



Đương mùa làm nước gieo mạ



Cổng chào



Đường vào sạch sẽ, cờ hoa rực rỡ



Để tiết kiệm, tận dụng lại băng-rôn năm ngoái (2015)



Treo nhiều chiếc nón nhỏ đón chào du khách



Quán Tam xã (còn gọi là đền Tam xã) thờ sứ quân Đỗ Cảnh Thạc, một thời cát cứ ở Đỗ Động Giang (vùng Thanh Oai, Quốc Oai bây giờ).



Cổng phụ đền Tam xã.

Theo nhân gian truyền lại, trong trận giao chiến với sứ quân Đinh Bộ Lĩnh, Đỗ Cảnh Thạc bị trúng tên tẩm thuốc độc, phi ngựa đến chân núi Sài Sơn thì mất. Nhân dân 3 thôn quanh vùng góp công xây dựng đền thờ ông (3 thôn là Sài Sơn, Thụy Khê và Đa Phúc thuộc tổng Lật Sài, phủ Quốc Oai, huyện An Sơn ngày trước. Theo thời gian, Thụy Khê biến âm thành Thụy Khuê).

Đỗ Cảnh Thạc sau này được truy tôn là Độc Nhĩ vương Thượng đẳng thần. Khi tế lễ, không dùng sắc phục màu vàng, bởi ông chết trận, lại kiêng húy, cấm ngặt việc dùng chữ “Thạc”, nếu viết chữ thì phải bớt nét đi, nếu nói thì phải nói chệch đi, để tỏ lòng tôn kính.



Đã tới nơi



Vào đình làng trước để “trình”



Trụ biểu



Nhắc nhở du khách



Toàn cảnh ngôi đình làng Thụy Khuê



Nhà hữu vu



Bia công đức



Bia công đức



Giới thiệu sơ bộ về khu di tích chùa Thầy và thứ tự tham quan



Ngôi đình nhìn từ bên hông



Đầu đao cong vút



Tấm bia đá



Bậc đá



Bức cuốn thư



Bức cuốn thư




Gian đình phía sau



Mái ngói rêu phong cổ kính



Tấm ảnh người Pháp chụp nhân một buổi đi chơi chùa Thầy (đầu thế kỷ 20)



Tấm ảnh người Pháp chụp nhân một buổi đi chơi chùa Thầy (đầu thế kỷ 20)



Thứ tự tham quan.

Đầu tiên, em mời các bác vào thăm đình làng Thụy để trình báo với tiên Phật và các cụ.

Sau đó, em mời các bác đi thăm chùa chính (gọi là chùa Cả) ở kề bên đình làng.

Sau đó, em mời các bác qua cầu đi thăm chùa Cao ở trên núi, leo bộ lên khoảng 500-600 bậc (thực ra, chỉ có 251 bậc).

Bác nào đi chơi hang Cắc Cớ ở phía sau ngọn núi có thể thuê nguời cõng trẻ em và thuê đèn pin soi trong hang, giá rất hữu nghị, chỉ có 5.000 đồng.

Đi thêm 2 km là đến chùa Thượng, hang Gió, chùa Một Mái ở chân núi.

Gần đấy là Nhà lưu niệm Bác Hồ.

Cuối cùng, mời các bác đi bộ qua làng, vòng về chùa Cả (độ 2 km), vì quay lại đường cũ thì mệt hơn.





Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 09.03.2016, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 08.03.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TẾT BÍNH THÂN 2016

KHU CHÙA CHÍNH




Dãy nhà chạy dọc bên trong chùa chính



Rồng đá



Hồ Long Trì



Nhà thủy đình



Nếu khu chùa chính (gồm 3 ngôi chùa xếp song song với nhau và 2 dãy nhà chạy dọc) được ví như đầu một con rồng đang trườn từ trên núi xuống, thè lưỡi uống nước hồ Long Trì (Ao Rồng), còn nhà thủy đình ở giữa hồ như hòn ngọc quý, thì hai chiêc cầu Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều chính là hai chòm râu rồng. Hai chiêc cầu xây năm 1602, do Trạng Bùng-Phùng Khắc Khoan (người làng Phùng Xá, tức làng Bùng, huyện Thạch Thất) cung tiến.



Cầu Nhật Tiên Kiều nối khu chùa chính với bờ hồ



Cầu Nguyệt Tiên Kiều dẫn lên đảo nhỏ, trên đảo có đền thờ Tam phủ.



Đền thờ Tam phủ



Ngôi đền có 3 gian thờ



Gian giữa thờ Thiên Phủ



Bên phải thờ Địa phủ



Bên trái thờ Âm phủ



Lò thiêu hương



Đền xây bằng đá ong



Đầu đao



Cột gỗ lim kê chân trên đá tảng



Cây đại trên đảo nhỏ





Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 09.03.2016, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 08.03.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TẾT BÍNH THÂN 2016

KHU CHÙA CHÍNH (tiếp theo)




Chùa Hạ đóng vai trò như nhà Tiền tế, hay Tiền đường



Dải băng



Đèn hoa đăng bằng đá



Câu đối ở bức tường bên phải chùa Hạ



Câu đối ở bức tường bên trái chùa Hạ



Những nét chạm khắc cầu kỳ tinh xảo trên gỗ



Thiên vương



Thiên vương



Hộ pháp



Hộ pháp



Hình ảnh thập điện Diêm vương để răn dạy Phật tử tránh phạm vào điều ác trên cõi trần



Lan can gỗ



Đầu đao



Khánh và mõ



Ngựa bạch



Ngựa hồng và đồ chấp kích



Mái ngói mũi hài có tác dụng làm giảm tốc độ chảy của nước mưa



Hiên chùa Trung



Kết cấu gỗ trên mái chùa



Trong cả 3 ngôi chùa, đếm được tổng cộng chỉ có 36 lỗ mộng



Những hình chạm khắc tinh xảo trên gỗ lim



Bia đá



Bia đá



Lối lên chùa Thượng



Thắp hương



Trước bậc thềm lên chùa Thượng có rất nhiều non bộ



Chiếc khánh



Cuốn thư



Non nước chùa Thầy



Lò thiêu hương



Bệ hoa sen



Hình chạm khắc hoa lá và hoa sen



Hình chạm khắc rồng trên đá



Rùa đá



Chim phượng



Sư tử đá hùng dũng và oai nghiêm



Sư tử đá ở bên trái bị quay dọc lại để lấy chỗ cho vườn hoa phong lan



Vườn lan



Chậu hoa lan hồ điệp



Hòn non bộ



Lối đi ra khu vườn phía sau



Cửa bên hông thông ra ngoài



Gác trống



Gác chuông



Dãy nhà chạy dọc bên sườn 3 ngôi chùa chính



Tường đầu hồi bít đốc của dãy nhà dọc



Dãy nhà chạy dọc bên sườn 3 ngôi chùa chính (nhìn từ bên ngoài)



Sơ đồ khu di tích chùa Thầy



Bằng chứng nhận di tích quốc gia hạng đặc biệt



Nội quy



Thời gian biểu trong ngày



Quả chuông



Bảng phân công chức sự



Bảng đăng danh hạ lạp



Lời khai thị



Kinh Phật



Tượng các vị La hán ở hai dãy nhà dọc



Cây bàng già



Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 09.03.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TẾT BÍNH THÂN 2016

KHU CHÙA CAO TRÊN NÚI




Từ chùa chính, phải cúi đầu chui qua cổng này để leo 251 bậc đá lên khu chùa Cao, là nơi Thiền sư Từ Đạo Hạnh lập am tu hành thời xưa



Tạm biệt những bông hoa súng ở Ao Rồng



Bậc đá



Đoàn người đang đi xuống



Những nét chữ tạc trên lưng núi



Những nét chữ tạc trên lưng núi



Nơi nghỉ chân uống nước



Những nét chữ tạc trên lưng núi



Chỉ dẫn các điểm tham quan



Sơ đồ khu chùa Cao



Biểu tượng rồng



Biểu tượng phượng



Gác chuông đã xuống cấp



Cánh cửa hư hỏng



Dạn dày sương gió



Sân chùa



Tòa Tam bảo



Mái ngói chùa Tổ gần như sát với mái tòa Tam bảo



Đền Khải thánh (thờ cha và mẹ của Thiền sư Từ Đạo Hạnh)



Đền Mẫu



Đôi nghê khảm sành sứ trước đền Mẫu



Đôi nghê khảm sành sứ trước đền Mẫu



Lối vào động Thánh hóa



Động Thánh hóa



Rễ cây chằng chịt



Lối đi từ tòa Tam bảo chùa Cao thông ra động Thánh hóa (trước đây, muốn tới động Thánh hóa, phải vào tòa Tam bảo. Khi đó, động Thánh hóa chưa mở lối đi riêng)



Những dòng chữ tạc trên vách đá



Bia đá



Ngôi miếu



Mặt hổ phù



Tượng Thiền sư Từ Đạo Hạnh trong động



Tháp ở lối đi ra Vườn Đào



Xưa kia, có một vườn đào rất đẹp ở phía này



Phiến đá



Cây đại già



Chờ mùa xuân về để nẩy lộc



Những thân cây trải qua thời gian, bị gió xoắn thân lại trông như cuộn dây thừng



Quán Âm đài



Tượng Quan Âm Bồ tát



Một nén hương dâng lên Đức Bồ tát



Bể dâu thay đổi đã bao lần
Càng tỏ uy thần Đức Quán Âm
Vẩy giọt Dương chi trừ lửa độc
Lái thuyền Bát nhã độ mê tân

Viên thành mười sáu phương vô úy
Diệu dụng ba hai loại ứng thân
Lòng mẹ thương con còn có hạn
Kể sao cho xiết những hồng ân !




Cầu khấn



Bậc thềm lên đền Cậu



Cận cảnh



Cận cảnh



Đền Cậu



Ban thờ chính giữa



Ban thờ bên phải



Tháp ngoài sân



Các chữ Nho trên cửa tháp



Ngôi miếu nhỏ



Ngọn núi này không hẳn là núi đá vôi



Rừng đá



Thỉnh thoảng cũng có chỗ bằng phẳng để nghỉ chân. Tuy nhiên, những lúc lặng gió, vô cùng nóng nực.



Vách đá lởm chởm thử thách lòng thành của người leo



Leo mãi vẫn chưa tới đỉnh



Những tảng đá với hình thù khác nhau



Tùy theo trí tưởng tượng của mỗi người, các tảng đá được gọi tên theo đồ vật



Đừng nhìn xuống, mà hãy nhìn ra xung quanh !



Cần một chữ “Nhẫn”



Từ đỉnh núi cao này, có thể nhìn thấy những hòn núi đá vôi nhỏ, gò đồi lúp xúp xung quanh. Có người ví, đây là đàn trâu ra sông Tích giang uống nước.



Cây mọc xen vào đá



Rễ cây bám vào đá, hút chất dinh dưỡng mà tồn tại, phát triển



Những người đi chùa thường rất tin vào thuyết nhân quả của nhà Phật



Bể chứa nước mưa



Nhà thiêu hương



Cửa ra phía sau núi, hướng về phía hang Cắc Cớ



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 15.03.2016, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 10.03.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TẾT BÍNH THÂN 2016

HANG CẮC CỚ




Lối đi ven sườn núi



Mò mẫm vòng quanh các bãi đá



Một mỏm đá



Những gốc đại sần sùi cổ thụ



Phong cảnh



Quán nước nghỉ chân



Bà cụ vui chuyện



Những tảng đá to đùng chắn ngang lối đi



Các bậc thang đá nhân tạo



Quán nước nghỉ chân



Tảng đá to chắn trước cửa hang



Nội quy nhắc nhở du khách



Lối xuống hang hẹp, quanh co và trơn nhẫy



Trong hang chủ ý không lắp đặt hệ thống chiếu sáng. Du khách có thể dùng đèn pin, đèn chiếu sáng của điện thoại di động, hoặc dùng đuốc.



Tiếng gọi nhau í ới



Lời dặn của bà cụ ở quán nước: chú nhớ đặt gói bỏng lên bàn thờ, vái ba vái nhé, cốt ở lòng thành !



Từ xa, thấy thấp thoáng một vầng sáng mờ mờ



Đến gần mới thấy có người ngồi



Lỗ thông thiên



Quán nước chè bên trong hang



Những vết khắc trên hòn đá



Phía sâu bên trong còn nhiều điều bí ẩn


CÂU CHUYỆN CỦA BÀ CỤ BÁN HÀNG NƯỚC

Dọc đường đi, chúng tôi rẽ vào nghỉ chân ở quán nước của một bà cụ phúc hậu. Thấy chúng tôi hỏi thăm, bà cho biết, bà là người vùng này. Rồi bà vui vẻ kể cho tôi nghe những câu chuyện thú vị về chùa Thầy và hang Cắc Cớ.

Bà bảo, chùa Cả là chùa làm ra sau này để dân thờ Đức Thánh, còn chùa Cao mới là nơi Đức Thánh tu hành, đắc đạo và hóa. Trước khi hóa, Ngài cẩn thận dặn lại các đệ tử, nếu ta tu hành đắc đạo, thì sau một tháng, thi thể vẫn tỏa hương thơm, còn không thì không được như thế. Thế rồi mọi việc xảy ra đúng như lời Ngài nói. Thơm lắm nhé. Thơm đến nỗi sau này quân Minh nó sang, nó quật mộ lên, thấy nét mặt Ngài vẫn hồng hào vui tươi rạng rỡ, mùi hương vẫn lan tỏa ra xung quanh, nó khiếp quá, bèn vội an táng trở lại, rồi đưa tượng Ngài vào động Thánh Hóa ở trên kia để mà thờ, mong Ngài xá tội cho.

Trong tòa điện Thánh ở chùa Cả có khám thờ, bên trong có tượng Ngài làm bằng gỗ thơm. Chỉ dịp lễ hội, các cụ mới cho mở khám để làm lễ tắm cho tượng và thay quần áo mới. Mà các cụ quây màn điều xung quanh kỹ lắm nhé, không phải ai cũng được nhìn Thánh tắm đâu. Ngày còn bé, dăm sáu tuổi, tôi có theo hầu trà nước ông cụ nhà tôi, thế nên mới đôi ba lần được nhìn thấy Ngài. Nhìn trộm thôi. Ngày xưa, lâu rồi, tượng Ngài còn biết cử động, khi cửa khám mở là Ngài tự động ngồi dậy, y như người thật. Về sau, có ông quan trên tỉnh ông ấy bảo, Ngài là bậc Thánh, làm sao Ngài lại phải ngồi dậy chào người thường. Thế là các cụ mới tháo bỏ lò xo ở các khớp chân khớp tay ra. Sở dĩ ngày xưa các cụ chế tạo tượng Ngài như thế, là vì muốn quảng bá trò rối nước mà Ngài đã dày công dạy cho dân vùng này. Các cụ bảo, chả có chùa nào ở nước ta có tượng biết cử động như tượng Ngài ở chùa Cả cả.

Tôi hỏi thăm bà đường tới hang Cắc Cớ còn xa không, bà cười bảo, gần thôi, trăm mét thôi, nhưng ai đi không quen thì dễ ngã lắm đấy. Trẻ con, người già, người đau yếu phải thuê người cõng, chứ không thì phải đi đường vòng phía sau núi, xa hơn nhiều. Eo ôi, dưới hang có mấy chục cái bể đầy xương người. Ngày trước, các cụ nhà mình khởi nghĩa đánh giặc, rút vào trong đấy, lũ giặc không sao vào được, thế là nó bèn lấy đá lấp cửa hang lại, cho quân mình chết ngạt. Nhưng quân mình lập mưu buộc dây qua lỗ thông hơi, đến đêm trèo ra đánh lại nó. Về sau, nó hun khói, quân mình cũng chẳng làm sao, vì hang rộng rãi lắm, chứa được cả ngàn người ấy chứ. Nhưng khi nó vây hãm bên ngoài lâu quá, quân mình không còn lương thực, đành ôm nhau mà cùng chết đói chết khát, chứ chả bao giờ chịu hàng nó đâu.

Bà giảng giải thêm, vì sao gọi là hang Cắc Cớ. Sở dĩ hang có tên như vậy, là vì ngày xưa có một quãng đường trong hang, dài độ chục mét, hẹp lắm, hẹp đến nỗi hai người đi ngược chiều khó mà tránh nhau. Hang lại tối om om. Đâm ra, đến quãng ấy, người ta phải ép lưng vào vách hang, rồi từ từ di chuyển từng bước chân một, mất một lúc mới qua được quãng ấy. Nam thanh nữ tú lúc gặp lại nhau ở quán nước bên dưới, cứ đỏ dừ mặt, ngượng ngùng khó nói. Cắc cớ là vậy. Thế mà khối đôi thành vợ thành chồng từ cái đận đi lễ chùa Thầy. Rồi bà bỏm bẻm vừa nhai trầu, vừa ngâm nga đọc câu ca dao:

Gái chưa chồng trông hang Cắc Cớ
Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thấy


Bất chợt, bà trầm giọng bùi ngùi bảo, sau này có nhiều khách tham quan lên đây quá, ban quản lý họ cho mở rộng con đường, thành thử, không còn “cắc cớ” gì nữa.


VỊNH HANG CẮC CỚ

Trời đất sinh ra đá một chòm,
Nứt làm đôi mảnh hỏm hòm hom.
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn,
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm.

Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm,
Con đường vô ngạn (1) tối om om.
Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc (2)
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm!


...........Nữ sĩ Hồ Xuân Hương

Chú thích:
(1) Vô ngạn: Không có thành bờ tay vịn.
(2) Xuyên tạc: Soi và đục.


ĐI BẮT DƠI NGỰA Ở SÀI SƠN

Dơi ngựa, tên Hán - Việt là “biển bức” - ở xã Sài Sơn (huyện Quốc Oai) là một loài dơi đặc biệt có lông màu vàng, là hoàng dơi và rất hiếm gặp. Từ xa xưa, dơi ngựa đã là sản vật tiến vua tuy dân dã, nhưng cực kỳ quý hiếm và bổ dưỡng.

Theo như lời hẹn, anh Nguyễn Văn Ba - một thợ săn dơi có tiếng trong vùng đã đợi để đưa tôi lên hang Cắc Cớ (đằng sau chùa Cao) tìm loài dơi ngựa quý hiếm. Trước khi đến đây anh Ba đã căn dặn: “Chú muốn săn dơi, lẽ ra phải đến vào lúc trời bắt đầu trở lạnh, đi vào những ngày này, 5 ăn 5 thua lắm”, nhưng tôi vẫn không thắng được cái tính hiếu kỳ của mình, nên cứ đòi đi bằng được.

Lên hang Cắc Cớ săn “biển bức”

Chuẩn bị đầy đủ lưới, đèn pin, bao tải... , chúng tôi lên đường vào hang Cắc Cớ. Từ chân núi Sài Sơn leo hơn 200 bậc đến chùa Cao thắp hương, rồi đi vòng ra đằng sau những tảng núi lô nhô tự nhiên, tôi và anh Ba tìm đến cửa hang Cắc Cớ. Anh Ba bảo, dơi ngựa Sài Sơn chỉ có ở hang Bò và hang Thần (tên khác của hang Cắc Cớ). Muốn săn dơi, phải đi vào lúc trời nhập nhoạng, tranh tối tranh sáng.

Trong lúc ngồi đợi dơi bay ra, anh Ba kể cho tôi nhiều câu chuyện hấp dẫn về loài dơi quý hiếm này. Ở hang Cắc Cớ có rất nhiều loài dơi, trong đó chủ yếu là dơi đay. Loài dơi này chỉ nhỉnh hơn dơi muỗi một chút, nó thường ăn muỗi và động vật nên rất hôi và không ăn được. Còn dơi ngựa là loài ăn hoa quả, nên thịt thơm ngon, nhưng loài này thì hiếm lắm. Cả ngàn con dơi trong hang, may ra mới có một con.

Dơi ngựa núi Thầy rất to, có con to như con chim ngói, béo núc, thường có bộ lông mượt màu xám nhạt, dán lấy thân. Con nào con nấy có mặt giống hệt mặt ngựa, tai to vểnh lên giống tai ngựa, mắt to, thân dài. Đặc biệt, những con có bộ phận sinh dục to, lủng lẳng giống như của loài ngựa. Anh Ba nhớ lại, hồi còn bé, trong làng có nhiều vị bô lão nổi tiếng về săn dơi ngựa như cha con cụ Như Thư, cụ Bùi Tuấn, cụ Tấn Ngây, cụ Bếp Tám, cụ Ba Dậu…

Muốn đánh bắt được loại dơi quý hiếm này phải thật sự am hiểu về đặc tính của nó. Thời gian đánh bắt dơi ngựa thường vào mùa rét, từ tháng 9 đến tháng Chạp âm lịch, khi gió mùa đông bắc tràn về. Vào các mùa khác, dơi ít hơn, vì bận sinh sản, nuôi con, nên gầy, không béo, không thơm ngon.

Ban ngày, dơi ngựa trốn ở trong hang, sẩm tối mới bay khỏi hang kiếm ăn, đến gần sáng mới về. Dơi bay và đậu thường theo đàn, ít khi lẻ loi con một.

Dơi ngựa chùa Thầy đậu bám theo đàn, đầu chúc xuống đất. Con đầu tiên bám vào đá, các con khác, con nọ bấu vào con kia, treo ngược tựa như một tổ ong lớn hoang dã. Không thể giải thích nổi tại sao bấu vào nhau như thế, mà chúng, nhất là con đầu tiên bám vào đá, chịu đựng được sức nặng lớn và lâu đến vậy. Dơi bay về hang theo đàn có khi nhiều đến nỗi tối đen cả một khoảng không. Chúng vỗ cánh, tạo nên những âm thanh phàm phạp nghe rất kỳ dị.

Muốn đánh bắt dơi ngựa, phải đánh vào khoảng chập tối, lúc dơi đi kiếm ăn. Địa điểm căng lưới không phải là cửa ra vào hang, nơi du khách vẫn qua lại, mà là phần lộ thiên ở vòm hang, đỉnh hang, nằm ở lưng chừng núi. Lưới bắt dơi ngựa là loại lưới giống của phường vạn chài, mắt lưới thưa, đủ lọt đầu dơi, nhưng thân và cánh mắc lại trong lưới. Song nếu mắt lưới thưa quá, dơi có thể cắn rách.

Hang Cắc Cớ có phần lộ thiên trên đỉnh, đó là cửa ra vào của dơi ngựa. Từ trong lòng hang động thường có một luồng hơi bốc lên khoảng lộ thiên đó với một áp lực không nhỏ. Khi dơi ngựa bay về, chúng cụp cánh lao vào hang với vận tốc lớn để vượt qua lực đẩy của luồng hơi bốc từ dưới lên và sa vào lưới đã căng sẵn. Đầu dơi chui vào mắt lưới, mắc thân cánh ở trên, nhiều con lăn lông lốc trên mặt lưới, rơi vào chân lưới nơi người đánh bắt đang ngồi.

Người này liền kéo lưới bắt dơi ngựa. Bắt được con nào, đưa ngay con nấy lên miệng mà cắn vào đầu nó một cái kêu đánh "đốp" gọn ghẽ, rồi nhét ngay vào bao tải. Làm như vậy là để tránh dơi ngựa bay mất hoặc cắn người, cắn lưới rách. Máu dơi ngựa không tanh như máu dơi đay, mà còn có vị ngọt và bổ. Có người cho rằng, làm vậy để dơi hồi mỡ, ngấm ngọt máu, thịt sẽ ngon và bổ hơn. Răng dơi ngựa sắc lẹm, nó cắn rất đau, vì vậy người đánh bắt phải có kỹ năng cầm con dơi trên tay, lựa nhanh cho đầu dơi ngựa chui vào khoảng giữa hai ngón tay mà kẹp cổ để nó không cắn được.

Mải trò chuyện với anh Ba, thời gian đã trôi gần 2 tiếng đồng hồ, trời cũng bắt đầu tối hẳn rồi đen kịt ,không nhìn thấy gì nữa. Tôi thở dài ngao ngán vì không tận mắt được thấy những con dơi bay ra. Anh Ba liền vỗ vai an ủi: “Đi vào những ngày này thì phải chịu thôi, vì không phải lúc nào dơi cũng bay ra đâu, muốn bắt được dơi, có lần, anh phải săn cả tuần, may ra được mấy con”.

Bắt được dơi ngựa, tội gì mà bán !

Chúng tôi thu dọn đồ nghề xuống núi khi trời đã tối, tôi và anh Ba phải dùng đèn pin để soi đường. Tôi hỏi anh, dơi ngựa hiếm thế thì giá có đắt không. Anh Ba bảo, tính theo giá thị trường thì 1cân dơi ngựa có giá vào khoảng 2 - 3 triệu đồng, nhưng bắt được dơi, hiếm khi người ta bán. “Thịt dơi ngựa ngon lắm, tội gì mà bán, bắt được thì gọi anh em bạn bè đến uống rượu thôi”, anh Ba thật thà chia sẻ.

Anh Ba cho biết, theo các cụ trong làng kể lại, loại dơi này trước đây khi bắt được phải dùng để tiến vua. Nhưng loại dơi ngựa tiến vua cũng phải là loại dơi ngựa đặc biệt. Theo như các bô lão kể lại "Sài Sơn chi biển bức" là một loại dơi ngựa đặc biệt có lông màu vàng, đó là hoàng dơi, rất ít khi gặp.

Lần lại trong "Đại Nam nhất thống chí", tôi thấy ghi "Con dơi ở trong hang đá núi Sài Sơn, huyện An Sơn, đầu như đầu ngựa, mình to béo, sắc vàng nhợt, tục gọi là dơi ngựa. Người địa phương chăng lưới ở hang đá để bắt, bắt được thì đập chết, để ở chỗ đất sạch một đêm, mỡ sẽ sinh ra. Khi ăn, nên lột bỏ da, lông, lấy thịt nướng chả, vị rất thơm ngon".

Thịt dơi ngựa có thể chế biến bằng nhiều cách khác nhau. Trước khi làm thịt, nhiều người có thói quen hạ thổ qua đêm để thịt ngọt và béo hơn. Sau đó, dơi ngựa được lột da, nướng cho tiết mỡ, rồi mổ bụng, lựa bỏ một chút mật, một chút phân trắng, còn thì dùng tất. Ruột dơi ngựa rất ít, nhỏ, đặc thịt và mỡ.

Thịt dơi ngựa dùng nấu miến hoặc áp chảo vàng ngậy, chả cần gia vị vẫn ngon. Có khi, nêm gia vị lại làm át mất đi cái hương vị thơm ngon vốn có của thịt dơi. Thịt dơi có vị ngọt, không độc, lợi tiểu, tiêu phù, chữa bệnh hen suyễn cho trẻ con, giúp thông minh, mau lớn, người già tăng tuổi thọ, cải thiện tốt đời sống tình dục cho vợ chồng...

Người dân ở Sài Sơn còn cho rằng, dơi ngựa núi Thầy ở hang động vùng đất đầy linh khí này, được sinh ra làm phúc lộc cho con người, nên đây là một loài vật mang yếu tố tâm linh. Ai ăn được loại dơi này, sẽ có sức khỏe phi thường, làm ăn phát đạt.

........(Theo Lao Động)




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 11.03.2016, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 11.03.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TẾT BÍNH THÂN 2016

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN KIẾN TRÚC QUẦN THỂ DI TÍCH CHÙA THẦY

1. Tổng quan kiến trúc quần thể di tích chùa Thầy

Chùa Thầy là một ngôi chùa đặc biệt trong hệ thống chùa của nước Việt, bởi lẽ, chùa không có Nghi môn, Tam quan. Nằm trong vị thế đắc địa của cảnh quan thiên nhiên, kiến trúc chùa đã biết tận dụng địa thế đẹp hiếm có của một vùng núi đá vôi nổi lên giữa vùng đồng bằng để tạo dựng lên một không gian phật giáo linh thiêng mà vẫn gần gũi với làng xóm thôn quê. Biết tận dụng vị trí nằm gọn dưới chân núi, kết hợp với thế uốn cong ngang sang hai bên của hai nhà cầu cùng việc nâng độ cao của các lớp nhà tăng dần, vươn theo thế núi đã tạo cho kiến trúc một vẻ đồ sộ bề thế hơn thực tế. Các thế núi ôm vòng tự nhiên ấy cũng xác lập một không gian cho tổng thể chùa Cả cùng các di tích tôn giáo, tín ngưỡng hang động trên núi… cùng hệ thực vật đa dạng làm nên vẻ đẹp và giá trị vừa tôn kính linh thiêng vừa thăm quan vãn cảnh thiên nhiên cho quần thể di tích nơi đây.

Các công trình tổng thể bề mặt chùa Thầy được bố trí tuân thủ luật đăng đối cân xứng hai bên, từ trước đến sau, cao dần theo thế núi. Mặc dù lối vào chùa lại nằm bên cạnh sườn phía đông của chùa.

Xin được đi vào chi tiết từng công trình kiến trúc.

2. Chùa Cả (Thiên Phúc Tự)

2.1. Nhà Thủy đình

Đây là kiến trúc tạo nét riêng cho tổng thể kiến trúc chùa Thầy. Giữa một hồ nước rộng ôm trọn mặt trước toà tiền đường là nhà Thuỷ Đình, nơi biểu diễn rối nước trong ngày hội. Thuỷ đình chùa Thầy được xây dựng khoảng thời Hậu Lê, chia thành 2 cấp: giữa ngập trong nước còn hai bên cao bên trên mặt nước, là nơi để đồ diễn rối nước. Tầng trên có các con sơn nhỏ nhô ra đỡ mái, tạo dáng cho Thuỷ Đình như bông sen trên mặt nước, với những mái đao uốn cong, ngói mũi hài lô xô cùng hàng lan can gỗ, phần cổ diêm và các ô cửa đặc, rỗng quanh các bức tường bao làm cho cảnh sắc nơi đây thêm cổ kính, linh thiêng trong không gian tĩnh mịch của nhà Phật.

2.2. Cầu Nhật Tiên và cầu Nguyệt Tiên, Đền Tam Phủ

Hai bên, phía trước của toà chùa Hạ (Tiền đường) là hai cây cầu Nhật Tiên và Nguyệt Tiên. Cầu có mái (Thượng gia hạ kiều) là một hình ảnh đẹp với dáng cong cong, chia nhiều gian, trên lợp ngói bắc qua sông, ngòi hoặc một khoảng nước nào đó. Ở chùa Thầy hai cây cầu trở thành hình ảnh quen thuộc và hoàn toàn ăn nhập với cảnh quan kiến trúc chùa Cầu Nhật Tiên nằm về bên trái chùa để đi ra đảo có đền thờ Tam phủ như nép mình trong bóng mấy cây cổ thụ. Cầu Nguyệt Tiên ở bên phải chùa nối với bờ hồ có đường lên núi. Tương truyền hai cây cầu này do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528- 1613) xây dựng vào khoảng những năm đầu thế kỷ 17, sau khi ông đi sứ nhà Minh về. Đến nay cầu đã qua nhiều lần tu sửa. Kiểu thức hiện tại mang đặc trưng của những lần tu bổ cuối thế kỷ XIX đầu XX.

2.3. Toà Tiền đường (chùa Hạ)

Trong tổng thể kiến trúc chùa Thầy, hai dãy nhà chùa Hạ và chùa Trung được kết nối với nhau bởi một nhà cầu thành một không gian thống nhất, liên hoàn có mặt bằng chữ công làm nơi thờ phật. Vậy mọi kết cấu bộ vì kèo, hàng cột cùng nghệ thuật chạm khắc của ba dãy nhà này đều ăn nhập với nhau nhằm thể hiện rõ ràng không gian để chuyển tải ý tưởng vừa linh thiêng lại gần gũi, từ bi của Phật giáo.

Các mái toà tiền đường lợp ngói mũi hài kiểu tàu đao lá mái, toả ra bốn phía với bốn đầu đao cong vươn lên trời tạo nên sự bề thế. Bờ nóc, bờ dải được gắn gạch hộp hoa chanh rỗng. Hai đầu kìm là đôi thuỷ quái Makara hoá rồng ngậm bờ nóc, đuôi uốn cong vây xoắn tròn. Tổ hợp đầu đao kết cấu cầu kỳ với hình rồng uốn khúc, Makara ngậm bờ guột, giữa mái, nơi gấp khúc đắp con xô hình lân đang chạy xuống quay đầu về nóc mái. Các yếu tố trang trí làm cho bộ mái thêm vẻ đồ sộ, sinh động, hoành tráng và bay bổng. Hai đầu hồi tiền đường làm theo kiểu vỉ ruồi thông thoáng, trổ thủng hình mặt trời, hoa cúc, vân xoắn tròn xen lẫn với mây cụm hình đao mác.

2.4. Toà Nhà cầu (ống muống)

Nối toà chùa Hạ (Tiền đường) với chùa Trung (Thượng điện) là một gian ống muống hay còn gọi là nhà cầu. Toà nhà này có 2 mái chạy dọc dài 4,1m rộng 4,5m. Toà nhà có kết cấu 2 bộ vì bốn hàng chân cột và bốn kẻ góc đỡ đầu mái. Bộ vì kèo được làm theo kiểu kẻ chuyền giá chiêng với những trụ ngắn. Sự kết nối của nhà cầu với tiền đường và thượng điện bên trong nội thất khá đặc biệt. Đó là. Ở hai hàng lan can và vách ngăn gỗ với trang trí những chấn song con tiện đều đặn, bên dưới chia bốn tầng chạm trổ dày đặc với nhiều họa tiết trang trí điển hình như nghệ thuật điêu khắc gỗ thế kỷ XVII. Hai hàng lan can dài 4,1m, có chiều cao 1,35m. Nhà cầu không có tường kết hợp với khoảng sân hẹp có tác dụng đón ánh sáng thiên nhiên vào bên trong. Toà nhà có bộ mái lợp ngói mũi hài nối hai mái chùa Trung và chùa Hạ thành hình chữ công (I). Đồng thời toà nhà cũng mang nghĩa là chiếc cầu giác ngộ trên con đường phật pháp.

2.5. Toà Thượng điện (chùa Trung)

Toà nhà Thượng điện có kiến trúc tương tự như toà nhà Tiền đường phía trước, gồm 3 gian 2 chái với chiều dài 20m, rộng 9,5m và cao 5,5m. Nền nhà Thượng điện cao hơn nền nhà tiền đường 0,5m. Thượng điện có kết cấu khá thông thoáng nhờ vào hệ thống cửa bức bàn gỗ bao hai bên hồi và phía sau. Để tạo không gian riêng cho ban thờ Đức Ông và Thánh Tăng, ở hai đầu hồi Thượng điện, người ta đã tạo ra hai chiếc khám. Khám được liên kết bằng những thanh xà nhỏ giữa cột cái và cột quân, có lồng ván gỗ chia ô, chạm trổ và một cửa sổ con tiện. Hình thức chia ô, cửa chạm trổ xen lẫn với những hàng chấn song ở 3 toà nhà điện Phật chùa Thầy có tác dụng lấy ánh sáng và trang trí cho kiến trúc rất hiệu quả.

2.6. Toà Điện Thánh (chùa Thượng)

Phía sau chùa Trung (Thượng điện) là một dải sân hẹp mang tính chất thiên tỉnh (giếng trời) để lấy ánh sáng và đưa thiên nhiên cây cỏ vào bên trong kiến trúc. Tiếp theo là toà điện Thánh nằm trên một cấp nền cao hơn hẳn điện Phật 0,95m, lại được nhấn thêm 7 bậc đá hẹp. Quanh nền chùa người ta kè xếp đá nhấp nhô xen lẫn những cụm cây, chậu cảnh tạo cảm giác như toà nhà được xây dựng trên đỉnh núi cao giữa cỏ cây.

Theo nhà sử học Trần Lâm Biền, toà Điện Thánh ở chùa Thầy mang một ý nghĩa đặc biệt - là một hậu cung sớm nhất nước ta, bởi trước nó, chưa hề thấy một hậu cung nào ở các di tích khác. Như vậy xét về ý nghĩa tôn giáo, xã hội, toà điện thánh chùa Thầy mang tư cách như một mốc đánh dấu sự chuyển biến trong tâm thức về sự thay đổi trong cách ứng xử của người Việt đối với các thế lực siêu nhiên, thần linh được chú ý quan tâm để tạo sự thâm nghiêm chứ không còn gần gũi như những thời kỳ trước.

Trong tâm thức dân làng và phật tử, kiến trúc quan trọng nhất, linh thiêng nhất của chùa Thầy là Điện Thánh. Có thể coi vị trí nền của Điện thánh là dấu vết của ngôi chùa cổ truyền thời Lý với những chân tảng đá mài màu gan gà nằm rải rác trong Thượng điện. Cũng vì vậy nền Điện Thánh được đặt cao nhất trong chùa.

Phía sau toà Điện Thánh, từ cửa hậu xuống là hệ thống bậc đá mà thành bậc là đôi sấu đá đầu nghê mình sóc mang đậm phong cách điêu khắc thời Trần. Có thể đôi sấu này nguyên thủy được đặt ở phía trước, sau này khi tôn tạo lại chùa mới được đem đặt ra phía sau như hiện nay.

2.7. Hai dãy hành lang - gác Chuông, gác Trống và nhà Hậu đường, công trình phụ trợ

Từ cửa sau Thượng điện xuống gần 2m là sân chùa có vườn hoa cây cảnh và những cây đại, cây dao cổ thụ tạo nên một khoảng nghỉ cho du khách, phật tử sau các lớp kiến trúc chính dồn dập liên tục để tâm hồn con người trở lại tĩnh lặng thư thái.

Dọc hai bên sườn chùa về 2 phía là hai dãy hành lang. Mỗi dãy gồm 13 gian nhỏ ngang với khu tam bảo, tổng thể chiều dài 30 cm, rộng 2,8m, cao 3m. Dãy hành lang bên phải chùa phía trước bày tượng 9 vị La Hán. Các gian phía sau làm nhà kho, nơi học tập của các tăng ni, phật tử. Dãy hành lang bên trái phía trước bày 9 vị La Hán, đối xứng bên kia các gian phía sau đặt ban thờ hậu và cũng là nơi học tập của các tăng ni, phật tử. Các bộ vì của hành lang làm đơn giản, bào trơn đóng bén, vì kèo cầu cột trốn bẩy hiên với hai hàng chân cột gỗ. Cuối hai dãy hành lang là gác Chuông và gác Trống đối xứng nhau.

Ngoài các công trình trên, là nhà bia có kiến trúc muộn, một bên để bia, một bên ngăn ra làm bếp, phòng tăng cùng các công trình phụ trợ phía sau

3. Chùa Cao (Đỉnh Sơn tự)

Rời khu chùa Thầy (Thiên Phúc tự), qua cầu Nguyệt Tiên lên hệ thống chùa trên núi. Mở đầu là chiếc cổng xây “Bất nhị pháp môn” (Cửa phật không có hai). Men theo bậc đá qua một lần cổng nữa, tới lưng chừng núi là tới chùa Cao, tên chữ là Đỉnh Sơn tự, hoặc còn gọi Am Hiển Thuỵ với hang Thánh hoá (tên khác là động Phật Tích), là nơi Thiền sư Từ Đạo Hạnh giải thi (trút xác) để đầu thai làm con của Sùng Hiền Hầu, sau là vua Lý Nhân Tông.

4. Hang Cắc Cớ (hang Thần)

Đây là một hang núi ăn xuống sâu thẳm. Cửa hang nhỏ hẹp và tối, lại có nước rỉ thấm nên rất trơn. Du khách trẩy hội chùa muốn vào hang phải có đèn đuốc, vào sâu trong hang phải bám nhau cho khỏi ngã. Nhưng càng vào trong hang thì vòm hang càng mở rộng.Trong hang hiện còn lưu giữ một bể xương. Tương truyền, đây là nơi tuẫn tiết của nghĩa quân họ Lữ (Lã) sau cuộc chống ngoại xâm thất bại.

5. Đền Thượng (Đền thờ Văn Xương Đế Quân)

Đền ở bên phía kia sườn núi, bên trên chùa Bối Am. Đền được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVII- XVIII, thờ thánh Văn Xương Đế Quân (thánh văn học và thi cử của đạo Nho) và thánh Quan Đế (Quan Vũ). Ngoài ra còn phối thờ Đức Thánh Trần, Tướng quân Phạm Ngũ Lão, bố mẹ Thiền sư Từ Đạo Hạnh...

6. Chùa Một Mái (Bối Am tự)

Bao gồm hai đơn nguyên tiền đường và thượng điện. Toà tiền đường 3 gian chạy dọc phía ngoài với bốn bộ vì kèo 4 hàng chân. Hậu cung chùa Một Mái chỉ có một mái làm tựa vào vách núi kiểu chồng diêm, phần phía sau là vách núi. Hệ thống tượng Phật đặt trực tiếp ở các bệ trên sườn núi tạo một cảnh sắc riêng, yên tĩnh, vắng lặng, thanh tịnh.

7. Chùa Long Đẩu (Long Đẩu tự)

Từ chùa Một Mái đi vòng chân núi trở về phía trước chùa Thầy, ta gặp ngọn núi Long Đẩu Sơn ngay bên bờ hồ Long Trì. Ngọn núi có hình đầu rồng là tiền án của chùa Cả “Thiên Phúc Tự”. Dưới chân núi này là chùa Long Đẩu cổ kính. Chùa Long Đẩu được khởi dựng vào cuối thế kỷ XI và được trùng tu lớn vào thời Trần niên hiệu Hưng Long 2 (1294).

8. Chùa Sài Khê (Hoa Phát tự)

Trên đường từ chùa Thầy ra đền Quán Thánh, ngay sát bên trái đường đi là ngọn núi Hoa Sơn. Dưới chân núi Hoa Sơn là chùa Hoa Phát, cũng là ngôi chùa được khởi dựng sớm, qua nhiều lần trùng tu tôn tạo, đến thế kỷ XVII đã có quy mô và hệ thống tượng khá phong phú. Đến đầu thế kỷ XIX, chùa bị xuống cấp nặng, dân làng đã di chuyển chùa xuống dưới chân núi tôn tạo lại. Đến năm Ất Hợi (1935), chùa Hoa Phát được trùng tu lớn, để lại quy mô như hiện tại.

9. Đền Quán Thánh

Cách chùa Thầy về phía đông chếch nam khoảng hơn 1km là điểm di tích Quán Thánh, nằm dưới chân ngọn Hổ Sơn (còn gọi là Hương Sơn) chầu lên Sài Lĩnh. Tương truyền, nơi đây là chỗ quản thi hài của Thiền sư Từ Đạo Hạnh khi nhà Minh trao trả. Quán vốn được xây dựng từ thế kỷ XII, đến thế kỷ XV thì được xây dựng với quy mô như hiện nay.

..........Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội
......Tóm tắt lý lịch Di tích quốc gia đặc biệt chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách huyện Quốc Oai, Hà Nội; 2013; tr 16-21.



GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, VĂN HÓA, KHOA HỌC, THẨM MỸ CỦA KHU DI TÍCH - DANH THẮNG CHÙA THẦY

Chùa Thầy là một di sản văn hoá quý của đất nước, nơi lưu dấu tích của thiền sư Từ Đạo Hạnh. Chùa không chỉ là nơi danh lam thắng cảnh nổi tiếng, là địa chỉ đỏ trong cách mạng kháng chiến mà còn là di tích kiến trúc nghệ thuật với lối kiến trúc độc đáo, nghệ thuật chạm khắc và hệ thống tượng pháp tiêu biểu. Nơi đây còn lưu giữ được nhiều di vật quý như: Bệ tượng thời Lý, sấu đá thời Trần, lưng ghế (lưng ngai) thế kỷ XVI, hạc thờ, phỗng hầu, hương án thời Lê, chuông đồng thời Tây Sơn, và các tư liệu Hán Nôm… và đặc biệt ấn tượng là bệ đá hoa sen hình hộp nhị cấp được các nhà nghiên cứu xếp niên đại vào thời Lý Trần.

1. Về giá trị cảnh quan

Chùa Thầy xây dựng từ thời Đinh, từ một am nhỏ của dân. Sự phát triển gắn liền với sự tu luyện mang mầu sắc Mật giáo của thiền sư Từ Đạo Hạnh ở thế kỷ XI đã làm cho chùa dần trở nên nổi tiếng và có quy mô lớn. Dù không được xếp vào loại chùa đại danh lam nhưng chùa Thầy lại có sức hút lớn, quy tụ được mọi tầng lớp trong xã hội từ người dân thường địa phương cho đến vua, chúa, các nhà thơ, thiền sư… Điều này có được trước tiên là do chùa Thầy đã chọn được một cảnh quan thiên nhiên vốn xếp vào loại danh lam thắng cảnh nổi tiếng của vùng quê xứ Đoài, khi mọi công trình kiến trúc trong cảnh quan đó đều được tính toán chặt chẽ theo nguyên tắc hài hoà về phong thuỷ, được mở mang dần qua các thời kỳ để được hoàn thiện vào thế kỷ XVII.

Trong mặt bằng kết cấu chung của ngôi chùa Phật giáo Việt, chùa Thầy đã khai thác được những thành phần kiến trúc độc đáo, ăn nhập với tổng thể như nhà Thuỷ đình giữa hồ nước, hai cầu Nhật Tiên Kiều - Nguyệt Tiên Kiều, Điện thánh… Hơn nữa, chùa Thầy còn có sự liên kết chặt chẽ với quần thể chùa chiền, hang động trên núi cũng như xung quanh chùa để tạo thành một tổ hợp kiến trúc không thể tách rời, đẹp về kiến trúc, phong phú về loại hình, cảnh quan quần thể khu di tích chùa Thầy còn hoà quyện với nhiều huyền thoại phật giáo gắn với Từ Đạo Hạnh với tín ngưỡng dân gian như câu chuyện về hang Cắc Cớ, Bàn cờ tiên, chợ Trời…càng làm cho kiến trúc chùa Thầy trở lên linh thiêng, huyền bí.

2. Về giá trị lịch sử, kiến trúc

Với vai trò và sức ảnh hưởng lớn của Từ Đạo Hạnh với vùng phủ Quốc Oai và lan sang một số vùng khác của Thủ đô Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định, Hưng Yên… định hình lên dạng ngôi chùa phối thờ cả Phật và Thánh đã giúp các nhà nghiên cứu đặt vấn đề tìm hiểu về một thức chùa riêng có của phật giáo Việt Nam. Đó là chùa dạng “tiền Phật hậu Thánh” nơi tôn vinh các vị thiền sư có lối tu gắn với Mật giáo ở thời kỳ Lý - Trần.

Kiến trúc chùa Thầy đã đạt tới giá trị của nghệ thuật kiến trúc cảnh quan thiên nhiên. Trong nghệ thuật kiến trúc - cảnh quan ấy, chùa Thầy đã xây dựng được một biểu tượng phật giáo - hình tượng rồng đầy sáng tạo dựa trên vật liệu tận dụng vị trí đắc địa của tự nhiên. Qua đó cũng để như muốn chuyển tải nhiều ý nghĩa biểu tượng của phật giáo cũng như ước vọng của người dân.

Chùa Thầy được xây dựng vào thời Lý, triều đại mà Phật giáo được coi trọng và phát triển ở quốc gia Đại Việt.

Đây là một quần thể di tích và danh thắng nổi tiếng với nhiều điểm tham quan như: quán Tam Xã, đình Thuỵ Khuê, hang Cắc Cớ, vườn trúc Lữ Gia… nhưng giá trị kiến trúc nổi bật nhất của khu di tích chùa Thầy nằm ở ba toà của chùa Cả với những dấu ấn đặc trưng của kiến trúc thế kỷ XVII. Từ một am nhỏ thời Lý, đến thế kỷ XVII chùa Cả đã phát triển thành ngôi chùa đồ sộ với ba toà Tiền đường - Điện Phật - Điện Thánh xếp hình chữ Tam. Nhà cầu nối liền 2 tòa Tiền Đường - Điện Phật với nhau được các nhà nghiên cứu cho rằng: đó là một trong những biểu hiện chữ “Công” sớm nhất còn lại cho tới nay ở nước ta.

Đặc biệt, cả ba toà chùa chính đồ sộ với rất nhiều kèo, cột, trụ… nhưng chỉ có 36 lỗ đục, còn gỗ được xếp chồng khít lên nhau rất vững chắc không chỉ chứng tỏ sự khéo léo tuyệt vời của các nghệ nhân xưa mà còn gây bất ngờ thú vị cho đời sau. Tương truyền, ngói lợp chùa Thầy được lấy từ khu vực chùa Tây Phương về, cả một quãng đường gần 15km mà ngói được người dân, Phật tử truyền tay nhau theo kiểu nối dây, ấy thế mà chỉ trong 1 ngày vừa vận chuyển vừa lợp xong mái chùa Cả.

Bên cạnh những giá trị về kiến trúc, chùa Thầy còn có hệ thống tượng phong phú với nhiều chất liệu, tiêu biểu như bộ tượng Di Đà Tam Tôn được cho là bộ tượng gỗ có niên đại sớm nhất và nghệ thuật đẹp nhất thuộc thể loại này, đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2015; đặc biệt là tượng Thánh Từ Đạo Hạnh bằng gỗ chiên đàn đặt trong khám thờ gỗ chạm cao khoảng 1,6m. Khi xưa tương truyền, mỗi lần mở khám thì tượng từ từ đứng dậy, đóng cửa tượng lại từ từ ngồi xuống. Về sau Cao Xuân Dục - Tuần phủ Sơn Tây (1841 - 1923) có bàn với bô lão trong xã: Thánh thì không phải chào người phàm, để Ngài đứng dậy mỗi lần mở cửa thì chúng ta thất lễ. Từ đó, mới cắt dây máy và tượng ngồi luôn. Ngoài hệ thống tượng lung linh, huyền ảo, ở chùa Thầy còn lưu giữ nhiều hiện vật quý hiếm như: Ghế thờ gỗ chạm thời Mạc, bệ đá hoa sen thời Lý - Trần, Sấu đá thời Trần chân đèn gốm, khám thờ thời Mạc, chuông thời Tây Sơn, khánh thời Nguyễn…

Kiến trúc chùa Thầy là nghệ thuật kiến trúc tiêu biểu cho một hợp thể kiến trúc nhiều kiểu tượng đẹp và hình khối, kết cấu, thẩm mĩ đồng thời ẩn chứa trong đó nhiều ý nghĩa tư tưởng sâu sắc của Phật giáo cũng như cuộc sống. Biểu tượng hai chiếc cầu ngói gắn với vẻ đẹp phong cảnh làng quê Việt Nam, nhưng ở gian ống muống - nhà cầu lại trở thành biểu tượng mang triết lý Phật giáo về sự giải thoát. Ngoài ra, ta còn gặp nhiều biểu tượng khác trong kiến trúc thành phần như hoa sen, đá - núi. Tất đã làm nên giá trị thẩm mỹ, tinh thần cũng như vẻ đẹp riêng của nghệ thuật kiến trúc chùa Thầy và giá trị cao nhất mà nghệ thuật kiến trúc, cảnh quan chùa Thầy hướng đến và biểu hiện chính là sự hoà đồng giữa tự nhiên, con người và vũ trụ.

3. Giá trị nghệ thuật

Chùa Thầy là nơi lưu giữ được khá nhiều hiện vật, tượng và đồ thờ có giá trị cả về nghệ thuật tạo hình lẫn giá trị tư tưởng Phật giáo. Với đặc trưng của ngôi chùa “Tiền Phật hậu Thánh”, những hiện vật này ngoài giá trị biểu đạt tự thân của ngôn ngữ hình khối còn được bài trí làm nổi bật không gian kiến trúc, không gian thờ Phật ở phía trước chiếm trọn khu điện Phật, còn không gian thờ Thánh với tính chất đền đậm đặc trong điện Thánh.

Cách bài trí đồ thờ và tượng không gian kiến trúc điện Phật hoàn toàn ăn nhập trong việc tạo dựng một không gian Phật giáo. Sự giao hoà giữa ánh sáng tự nhiên và nhân tạo (đèn, nến) trong điện Phật tạo cho con người cảm nhận được sự đan xen giữa đời và đạo, lẽ vô thường quan niệm về nhân sinh tử, luân hồi, sắc không và ý nghĩa lớn lao của sự giải thoát qua các tầng không gian theo quan niệm nhà phật để tiến dần tới cõi Niết bàn. Trong không gian ấy, khu điện phật chùa Thầy có cách bài trí tượng riêng, tập trung ở Thượng điện, giữa thế giới trần tục với thế giới nhà Phật.

Ngược với Phật điện, điện Thánh là một không gian hẹp tối với cách bài trí tượng và đồ thờ mang đặc trưng của một gian đền. Hệ thống tượng bài trí kết hợp các đồ thờ mang đặc trưng của đền thờ nhỏ như nhang án, chấp kích, ngai thờ, bài vị, khám, phượng, hạc, phỗng… chiếm gần chọn không gian nội thất, với màu sắc tương phản đỏ, đen vàng, được trang trí cầu kỳ cùng ánh sáng từ đèn, nến làm tăng tính kỳ bí, linh thiêng của điện thánh. Trên cùng, nơi cao nhất của điện thánh là bộ tượng Di đà tam tôn có niên đại được đánh giá là sớm nhất nước ta. Bên dưới bộ tượng này là bộ tượng Từ Đạo Hạnh ở ba kiếp “vi Tiên, vi Phật, vi Quốc Vương”. Đan xen với tượng là hệ thống đồ thờ mang tính đền làm nên không gian linh thiêng cùng sự uy nghi của Thánh, mà thông qua đó người xưa muốn thể hiện quan niệm rằng Thánh là tổng hợp tất cả những quyền uy, sức mạnh, trí tuệ cùng phẩm chất thanh cao của bậc thánh nhân.

Trong Điện Thánh còn lưu giữ được một số hiện vật có giá trị đặc biệt như bệ đá hoa sen Phật có sư tử đội thời Lý, bệ đá hoa sen hai tầng “ Bách hoa đài” thời Trần, chiếc khám thời Mạc, bệ tượng Lý Thần Tông cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII, nhang án thế kỷ XVII cùng hạc gỗ, tượng phỗng thế kỷ XVIII… Chùa Thầy có nhiều tượng hậu dưới hình thức phù điêu nổi khối cao dân dã…

Bệ đá hoa sen (bàn thờ đá, nhang án đá, bách hoa đài) được đặt ở vị trí trong cùng của chùa Thượng, trên để hòm sắc lịch triều tôn phong của Thiền sư Từ Đạo Hạnh và cũng là nơi bài trí của bộ tượng Di Đà Tam Tôn. Phần mặt bệ tạo dáng hình hoa sen nở. Thân bệ chạm hoa văn dây, bốn góc có các chim thần Garuda trong tư thế quỳ. Mặt trước thân bệ chia các ô chạm rồng có mào hình ngọn lửa thoá dài, sừng hai nhánh, má dài, mang xoáy… Xen giữa là các hoa văn hoa cúc. Theo các nhà nghiên cứu, bệ đá hoa sen kiểu này xuất hiện xa nhất tận chùa Xuân Lũng (Phú Thọ) làm năm 1396, nhưng tập trung nhiều nhất, đẹp nhất tại khu vực ven sông Đáy trong các chùa: Thầy, Bối Khê, Ngọc Đình (huyện Thanh Oai), Dương Liễu, Đại Bi (huyện Hoài Đức), Chân Nguyên (huyện Ứng Hoà)… với niên đại sớm nhất năm 1370. Bệ đá hoa sen được cho là một hình thức của Bàn thờ Phật ở thời Trần, với nhiều yếu tố mỹ thuật đan xen của người Việt, người Chăm và thể hiện một trọng tâm liên quan đến nhà Phật bên cạnh đó ít nhiều có gắn với dân gian.

Hệ thống tượng của chùa Thầy không nhiều (trong Phật điện chỉ có 38 pho, trong Điện Thánh có 9 pho) nhưng lại tập trung được nhiều tượng đẹp về hình khối ngôn ngữ biểu hiện, nghệ thuật tạo tác và khả năng diễn tả được thần thái mà hiếm ngôi chùa nào khác có được. Tiêu biểu nổi trội nhất là bộ tượng Di Đà tam tôn và tượng Thánh ở ba kiếp tu.

Cùng hệ thống tượng là một số đồ thờ có giá trị về lịch sử, nghệ thuật, sự độc đáo cũng như giá trị tư tưởng. Trong hệ thống di vật này ngoài giá trị tự thân do hiệu quả của ngôn ngữ hình khối điêu khắc kết hợp với nghệ thuật trang trí giá trị điêu khắc chùa Thầy còn được phản ánh nhờ sự phối kết hợp với nghệ thuật bài trí đồ thờ trong từng không gian kiến trúc riêng.

Sự bồi tụ của nhiều lớp hiện vật, đồ thờ quý từ thời kỳ khởi dựng qua các giai đoạn từ Lý, Trần, Lê, Mạc Lê Trung Hưng đến Nguyễn đã tạo dựng cho chùa Thầy thành một bảo tàng nghệ thuật lưu giữ những di tích sống động về sự thăng trầm của Phật giáo Việt Nam. Trong đó sự tôn vinh vai trò uy thế của Từ Đạo Hạnh gắn với phật giáo luôn được nhấn mạnh không chỉ bằng nghệ thuật kiến trúc mà cụ thể ấn tượng trong cả tượng cũng như đồ thờ tự và nghệ thuật trang trí.

4. Về giá trị văn hóa lưu giữ trong lễ hội truyền thống

Lễ hội chùa Thầy là một lễ hội lớn diễn ra vào tháng 3 âm lịch đã tập hợp được một số lượng lớn quần chúng nhân dân tham dự nên mang đặc tính của một lễ hội vùng miền. Với tư cách là một “Ông Vua tinh thần” ở vùng tổng Sài, Đức Thánh Từ cùng lễ hội tưởng nhớ công lao của Thánh là sợi dây liên kết các cá nhân trong cộng đồng và là một cơ sở để duy trì sự cố kết cộng đồng cốt lõi của việc đoàn kết dân tộc. Đây chính là một trong các nguyên nhân khiến cho chùa Thầy nhận được sự quan tâm của mọi tầng lớp trong xã hội, cả đến vua chúa ở các triều đại trước.

Trong lễ hội, những nghi thức và trò diễn mang tính “đặc trưng” của chùa Thầy cho thấy tính bền vững tương đối của văn hoá. Mỗi nghi thức, trò diễn của lễ hội Thầy đều mang những ý nghĩa nhất định, đồng thời có thể thấy rõ sự tương đồng và khác biệt của văn hoá Xứ Đoài đối với các vùng khác trong nước và nhất là của văn hoá Việt khi so sánh với văn hoá quốc gia láng giềng.

Lễ hội chùa Thầy vẫn còn rất quan trọng đối với người dân trong vùng. Nó phản ánh sức sống mạnh mẽ của tín ngưỡng dân gian, khả năng liên kết con người và nhu cầu luôn cần sự bảo trợ về mặt tinh thần của một thế lực siêu nhiên đối với mỗi cộng đồng dân cư. Khai thác được sức mạnh của sợi dây vô hình nhưng bền chặt ấy, chúng ta sẽ có khối sức mạnh đoàn kết của nhân dân trong sự nghiệp bảo tồn các di sản văn hoá.

Chính vì vẫn giữ được những hơi thở sống động ở ngôi chùa nghìn năm tuổi cho nên chùa Thầy vẫn luôn là mối quan tâm ưa thích của giới khoa học, đặc biệt là các nhà nghiên cứu về tôn giáo, kiến trúc, điêu khắc… và là điểm du lịch tâm linh hàng năm của nhiều Phật tử cùng du khách thập phương mỗi dịp xuân về.

.......................Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội
........Tóm tắt lý lịch Di tích quốc gia đặc biệt chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách huyện Quốc Oai, Hà Nội - 2013, tr 24-29.



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 15.03.2016, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 11.03.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TẾT BÍNH THÂN 2016

CHÙA THẦY, NƠI LƯU GỮ BỘ TƯỢNG PHẬT DI ĐÀ TAM TÔN CÓ NIÊN ĐẠI SỚM NHẤT BẰNG GỖ Ở NƯỚC TA

Chùa Thầy không chỉ được nhiều người biết đến là di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nổi tiếng của nước ta, mà nơi đây còn được biết đến là nơi lưu giữ bộ tượng phật Di Đà Tam Tôn có niên đại sớm nhất bằng gỗ.

Bộ tượng Di Đà Tam Tôn trong các ngôi chùa ở Việt Nam còn lại đến nay đều có niên đại khá muộn. Từ thời Mạc (thế kỷ XVI) trở về trước, chúng ta chưa tìm thấy.

Theo tác giả Trần Lâm Biền trong sách “Hình tượng con người trong nghệ thuật tạo hình truyền thống Việt” thì đây là “Bộ Di Đà Tam Tôn có niên đại sớm nhất bằng gỗ được biết ở nước ta. Sở dĩ pho tượng Bồ tát Đại Thế Chí ở chùa Thầy có niên đại thế kỷ XVII, vì có hình thức gần với tượng Quán Âm thời Mạc”.

Trong sách “Chùa Việt Nam” (in lần thứ tư, Nhà xuất bản Thế giới, 2010), Giáo sư Hà Văn Tấn cũng khẳng định: “Bộ tượng Di Đà Tam Tôn ở chùa Thầy có niên đại 1607, hiện là bộ tượng Di Đà Tam Tôn sớm nhất ở nước ta”.

Vì vậy, bộ tượng Di Đà Tam Tôn, đặc biệt là tượng Quan Thế Âm và Đại Thế Chí ở chùa Thầy, là sự chuyển tiếp, tạo tiền đề cho một phong cách tượng mới, ổn định dần vào giữa thế kỷ XVII.



Cả ba pho Di Đà Tam Tôn đều được tạc bằng gỗ mít


1. Pho tượng A Di Đà (ở giữa):

Tượng ngồi dáng kiết già trên bệ sen, đặt trên đế hình chữ nhật cuốn góc, hai chân xếp bằng với bàn chân trái lộ trên lòng. Tượng được tạc theo một khối tam giác, hai khuỷu tay hơi khuỳnh ra rồi thu vào trong lòng kết ấn Tam muội, tạo cho toàn thân đăng đối. Các khối cơ thể, dáng ngồi, thế chân, tay tượng cũng cân đối, hài hòa. Đầu tượng (cao 60cm) chiếm hơn một phần ba chiều cao của tượng, thể hiện các quý tướng như tóc bụt ốc, đầu nở to, biểu hiện cho trí tuệ, không có nhục kháo mà chỉ có bạch ngọc hào. Đây là một cách tạo hình tượng Phật đặc trưng của thế kỷ XVII thay cho hình thức nhục kháo của các tượng Phật thế kỷ XVI. Tượng có khuôn mặt bầu bĩnh với má dưới nở hơn so với các tượng thời Mạc, mũi thanh, mắt khép hờ, miệng mỉm cười. Tai tượng chảy dài, thành tai rõ ràng, thuỳ tai chảy dài hóa đài sen rồi kết hạt tròn rủ xuống, là chi tiết trang trí mà tượng thời trước và thời sau không có, tạo nên đặc thù phong cách tượng thế kỷ XVII. Tượng mặc áo cà sa nhiều nếp chảy qua hai tay và chân, buông xuống bệ, phía trước để lộ dây lưng và thanh y. Chính giữa ngực đeo dây Anh Lạc hình hoa cúc mãn khai kết hợp những hạt nổi tròn ở dưới và hai bên.

Bệ tượng cao, gồm hai phần: bệ sen và đế. Ở đây, các cánh không chìa ra, khối ở dạng điêu khắc tượng tròn khắc trên một khối hình chữ nhật dài, tròn hai đầu theo lối phù điêu. Viền sát với tượng là một hàng hạt tròn, to, chạm nổi chạy liên tiếp. Phía trên bệ sen chia hai lớp, lớp trong chỉ nhô mũi cánh, lớp ngoài trang trí bằng một lớp cánh nhỏ nhắc lại phía bên trong, đường viền đậm màu làm cánh sen trở nên vững chãi hơn. Giữa mỗi cánh sen bên trong có chạm chi tiết như bông hoa với ba cánh, hai cánh dưới nở xòe lên, trên có cuống buông thõng xuống, cánh trên cùng khớp với hai cánh trên trở thành một chi tiết trang trí khá đặc biệt và khó nhận ra đặc điểm của loài hoa cụ thể nào. Phong cách cánh sen này tuy thuộc dạng phù điêu nhưng có cánh phồng, mũi cánh nhọn và hướng ra phía ngoài, đầu mũi cánh sen nhọn và có gờ cạnh nổi rõ là phong cách đài sen của phong cách tạo hình tượng Phật giáo thời Mạc.

Đế là khối chữ nhật có cuốn góc, trang trí bốn mặt, mặt trước và mặt sau trang trí ở chính giữa. Trong vòng lửa có ba hình lá đề đục kép, ở giữa chứa quả cầu tròn, mỗi quả có ba vòng khắc lõm, họa tiết cành cây khúc khuỷu với 13 nhánh tỏa từ trong ra, làm nền cho đồ án.

2. Pho tượng Đại Thế Chí (bên phải):

Tượng ngồi dáng Kiết già trên tòa sen, đầu đội mũ Thiên Quan gồm ba vành, hoa văn trang trí là hạt tròn, vòng lửa, các dạng hoa và vân mây chạm chìm. Tóc tượng xõa xuống vai, được tết theo hình dải thắt nút không đầu không cuối, mềm mại, có nhịp điệu của bàn trường trong tám biểu tượng cát tường của Mật tông, dân gian thường gọi là dải đồng tâm, coi đó là biểu tượng của hạnh phúc. Các dải tóc ôm lấy vai chảy xuông xuống dường như ít thấy ở các pho tượng cùng thời. Tai đeo hoa tai kiểu bông sen rủ xuống, ngực đeo dây Anh Lạc hình ba bông hoa, kết bằng những hạt nổi tròn. Mình mặc áo cà sa phủ kín đùi, vạt áo chảy xuống đài sen, đầu vạt áo cong đều, hai tay kết ấn mật phùng.

Khuôn mặt tượng Đại Thế Chí thống nhất phong cách với tượng Quan Thế Âm, nhưng không thanh thoát và gần gũi bằng. Các khối và nét có xu hướng nở to (hai cánh mũi, hai bên hàm trong tư thế hơi cúi xuống như muốn nhấn mạnh đến chất trí tuệ, sự chiếu rọi vào bên trong nội tâm). Đó là tính chất động không ngừng của ánh sáng trí tuệ nhằm cứu độ chúng sinh của Đại Thế Chí đã được khắc họa thành công qua nghệ thuật điêu khắc.

Tỷ lệ thân tượng với đầu tượng vượt quá tỷ lệ ba đầu, nhưng chưa đến bốn đầu. Thân đầy đặn, bụng dưới căng, không còn hai hõm ở cánh tay sát sườn, như đặc điểm tượng thời Mạc. Nhìn nghiêng và phía sau, thân của tượng cũng khá đầy và đều có trang trí, chứng tỏ người tạo tượng đã chủ động đón hướng nhìn từ các phía.

Trên thân tượng quấn những chuỗi hạt tròn và bầu dục (to nhỏ khác nhau) cùng với những bông cúc mãn khai (ba dải dọc, ba dải ngang) mang tính kỳ bí, chưa từng thấy ở tượng chùa nào.

Bệ sen chia ba lớp, cánh trang trí vân xoắn mũi hài, dạng nửa bông hoa như hoa mai với ba chuỗi hạt tròn, lớp dưới ôm tỏa lấy mặt bệ, hướng ngược chiều với ba lớp cánh sen trên.

3. Pho tượng Quan (Quán) Thế Âm (bên trái):

Tượng ngồi trên bệ vuông, thế ngồi khá thoải mái, không theo quy tắc xếp bằng trên đài sen và cũng ít gặp trong cách tạo hình tượng dạng này.

Chân trái chống thẳng, chân phải co, đặt dưới đùi trái một cách tự nhiên. Tay trái để ngửa, hai ngón tay giữa cong lại như đang đỡ vật gì, tay phải cầm phất trần. Nhờ đó, tượng có một dáng vẻ tự tại, vừa tĩnh lại vừa sống động. Đây là tượng Quan Thế Âm bồ tát trong mô típ cầm bình cam lồ, vẩy cành dương liễu để cứu độ chúng sinh.

Đầu tượng đội mũ Thiên Quan Bảo thường gặp ở các dạng tượng Quan Thế Âm, vành mũ lượn cao được trang trí khá chi tiết họa tiết hoa sen và hoa tròn nhiều cánh, tóc búi cao, phía trước có dải, tỏa sang hai bên. Ăn nhập với cách tạo hình kỹ lưỡng, nổi khối của tóc, mũ là một khuôn mặt trái xoan thanh thoát, đầy đặn và một đôi tai dài đeo một đài sen nhỏ. Ngực đeo trang sức ba chùm kết hoa, ngọc báu, phía cuối của chùm trang sức nổi hình giọt lệ.

Tượng có 2 lớp áo, lớp trong thắt yếm kéo sát ngực, áo choàng phủ ngoài, trang trí hạt tròn nối nhau thành các hàng lối. Các nếp vải ở y phục tượng theo lối sát thực, trùm xuống ôm tỏa lấy bệ tượng tạo thành vạt trước xòe khá rộng với nhiều lớp chồng lên nhau. Cách tạo hình chân dung này, mang phong cách tạo hình thế kỷ XVII, chỉ còn ít dáng vẻ thiếu nữ như tượng thế kỷ XVI, thay vào đó là vẻ đẹp tinh tế hơi chút kiêu sa trên khuôn mặt tượng Quan Thế Âm cũng như các tượng khác trong bộ Di Đà Tam Tôn.

Đế tượng hình hộp chữ nhật giật bốn cấp, trang trí nổi trên bốn mặt với các đồ án như: hoa dây, cây mệnh, thủy ba, cúc mãn khai, lá đề với ba hạt tròn bốc lửa mang ý nghĩa sinh thực khí trong tín ngưỡng nguyên sơ.

So với các bộ tượng Di Đà Tam Tôn ở giai đoạn sau, bộ tượng Di Đà Tam Tôn ở chùa Thầy đạt đến những chuẩn mực (quy chuẩn) về tạo hình, bố cục của tượng Phật thế kỷ XVII, là hình mẫu, gợi mẫu để các thế kỷ XVIII và XIX mô phỏng theo. Tuy nhiên, ở những giai đoạn sau, không một bộ tượng Di Đà Tam Tôn nào có được vẻ đẹp về hình khối, ngôn ngữ biểu hiện, nghệ thuật tạo tác và khả năng diễn tả được thần thái của tượng như bộ tượng Di Đà Tam Tôn ở chùa Thầy. Mặt khác, ở các giai đoạn sau, các họa tiết trang trí thường thô và mang tính ước lệ, không mang nhiều ý nghĩa Phật đạo như trên bộ tượng Di Đà Tam Tôn ở chùa Thầy.

Theo nhận định của một số nhà nghiên cứu thì bộ tượng Di Đà Tam Tôn chùa Thầy có nhiều đặc điểm độc đáo không chỉ ở ngôn ngữ biểu hiện của hình khối, bố cục mà nhất là phong cách tạo hình mới, chú trọng yếu tố trang trí bằng kiểu hạt tròn kết thành tràng chạy trên y phục, bao gồm các dạng hệ hạt tròn kết chuỗi (nằm theo bố cục hàng lối và xen kẽ chia thân tượng thành từng ô), hạt tròn kết hình bông hoa (nằm xen kẽ trong chuỗi hạt bảo châu), các biểu tượng "bát cát tường" của Phật giáo Mật tông và hoa nhiều cánh.

Với cách bài trí các hạt trên tượng Đại Thế Chí, ta thấy, chúng còn sắp xếp theo cặp hạt (mỗi cặp có hạt âm, hạt dương), tổng số có 427 cặp hạt được cho là trùng với số lượng 427 câu chú Phật đỉnh Thủ lăng nghiêm tuyên đọc như nói lên dấu tích của Phật giáo Mật tông còn lại ở chùa Thầy (Thiên Phúc tự). Kiểu trang trí đặc biệt độc đáo này không tìm thấy trong trang trí tượng Phật giáo trong chùa Việt các thế kỷ trước và sau này.

Tất cả những yếu tố nói trên đã đưa bộ tượng Di Đà Tam Tôn chùa Thầy đạt đến những chuẩn mực về tạo hình Phật giáo đầu thế kỷ XVII, cũng như giá trị chuyển tải tư tưởng Phật giáo trong văn hóa Việt Nam.

Với những giá trị đó, ngày 21/3/2014 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội đã ban hành Công văn số 798/VHTT&DL-QLDS gửi UBND huyện Quốc Oai lập hồ sơ đề nghị nhà nước công nhận Bảo vật Quốc gia năm 2014.

............Theo: Bản Thuyết minh về hiện vật đề nghị công nhận Bảo vật Quốc gia năm 2014.

==============================

Trong đợt công nhận lần thứ 3 của Thủ tướng Chính phủ, theo Quyết định số 53/QĐ-TTG ngày 14/01/2015, cùng với 11 bảo vật khác, bộ tượng Di Đà Tam Tôn tại chùa Thầy đã chính thức trở thành Bảo vật Quốc gia.

==============================



GIÁ TRỊ KHẢO CỔ, CẢNH QUAN VÀ SINH HỌC CỦA KHU NÚI ĐÁ SÀI SƠN, HOÀNG XÁ, PHƯỢNG CÁCH TRONG QUẦN THỂ DI TÍCH CHÙA THẦY

1. Giá trị khảo cổ

Chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách đã được khoa học xác định là một môi trường có giá trị khảo cổ. Năm 1968, Viện Khảo cổ học Việt Nam đã khai quật khu gò cao trước cửa động Hoàng Xá, sau đó công bố “Di chỉ tại xã Hoàng Ngô, đã thu được 185 di vật đồ đá, đồ đồng, thuộc thời đại kim khí, loại hình văn hoá niên đại Gò Mun”. Năm 1994, Khoa Sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội phối hợp với Sở Văn hoá Thông tin Hà Tây(cũ) tiến hành khai quật di chỉ khảo cổ Phượng Hoàng với diện tích 43,6m2. Hiện vật thu được gồm xương động vật các công cụ bằng đá, vòng trang sức, các chạc gốm và mảnh gốm vụn và một số đoạn dây đồng… Các hiện vật cho xác định di chỉ có thời đại đồng thau Phùng Nguyên.

2. Giá trị cảnh quan

Khu núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách hiện còn 11 ngọn núi sót, nổi lên rải rác trong một vùng rộng thuộc địa bàn 4 xã Sài Sơn, Phượng Cách, Yên Sơn và thị trấn Quốc Oai: gồm các ngọn núi: Sài Sơn, Long Đẩu, Hoa Sơn, Hương Sơn (Hổ Sơn) Phượng Hoàng thuộc xã Sài Sơn. Xã Phượng Cách có các ngọn Kỳ Lân, Sơn Tượng và một phần núi Phượng Hoàng chung với xã Sài Sơn. Xã Yên Sơn có các ngọn Âm Giang, Ông Minh và Đồng Hè (Mỏm Vọ) và ngọn Hoàng Xá thuộc thị trấn Quốc Oai.

Nổi tiếng nhất trong hệ thống núi là núi Sài Sơn, còn được gọi là núi Thầy, có hình vòng cung cao khoảng 100m từ Sài Sơn kéo xuống tận Hoàng Xá với bán kính trên 3km. Trên núi có nhiều hang động nổi tiếng như hang Cắc Cớ (hang Thần), hang Thánh Hoá, hang Bò, hang Gió; lại có Chợ Trời trên đỉnh, quả núi như một vườn thực vật lớn với nhiều loại cây cổ thụ có tuổi đến gần ngàn năm, một vườn thuốc quý mà tự nhiên ban tặng.

Dưới núi có chùa Thiên Phúc, có hồ Long Trì. Chùa Thiên Phúc cùng với các chùa Cao (Đỉnh Sơn tự), chùa Một Mái (Bối Am tự) và đền Thượng trên núi Sài tạo nên tuyến du lịch chính trong quần thể di tích chùa Thầy.

Theo thuyết phong thủy, ngọn núi Sài được xem như con rồng, lẻ đàn độc đáo (quái long), xung quanh các ngọn núi nhỏ chầu về là các con lân, phượng, Quy, Cóc, tượng…Nay nhiều ngọn đã không còn do thiên nhiên, giặc dã cùng sự xâm hại của con người tàn phá.

Núi Long Đẩu nằm ngay ven hồ Long Trì có hình đầu rồng. Núi nằm phía trước chùa Thiên phúc nên được coi là tiền án của chùa. Dưới chân núi có chùa Long Đẩu.

Núi Hoa Sơn nằm chếch hướng đông núi Sài, thuộc thôn Sài Khê, xã Sài Sơn. Núi Hoa Sơn có loại đá hoa rất quý từng được khai thác để cung cấp cho việc xây dựng Lăng Bác Hồ. Dưới chân núi Hoa Sơn là chùa Hoa Phát.

Núi Hương Sơn và Phượng Hoàng thuộc địa phận thôn Khánh Tân, xã Sài Sơn. Trước kia, trên núi đều có chùa. Đến trước cách mạng tháng 8 năm 1945, các chùa này được chuyển vào làng Khánh Tân. Ở chân núi Hương có đền Quán Thánh. Ở núi Phượng Hoàng có di chỉ khảo cổ học Phượng Hoàng thuộc giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên - sơ kỳ thời đại đồng thau Việt Nam, được khai quật đầu năm 1994.

Thuộc các xã Phượng Cách và Yên Sơn còn các ngọn núi Kỳ Lân, Sơn Tượng, Âm Giang, Ông Minh và Đồng Hè.

Ngọn núi đứng thứ hai trong hệ thống là núi Hoàng Xá (còn gọi là Tượng Linh hay núi Ba Ngai) nằm ở địa phận thôn Hoàng Xá của thị trấn Quốc Oai. Núi Hoàng Xá có động Xuyên Sơn hai cửa. Cửa chính ở hướng Đông Nam, đi ra chùa Một Mái (Hoàng Kim tự), cửa sau đi ra hướng Tây Bắc. Vòm động rộng, cao hơn 50m, có 3 lỗ thông thiên. Trong động có nhiều nhũ đá rủ với nhiều hình tượng đẹp.

Trong khu vực núi và động Hoàng Xá có đền Hạ (đã bị giặc Pháp đốt năm 1947), đền Văn Xương Đế Quân, chùa Một Mái (Hoàng Kim tự), chùa Cả (Hoa Vân tự) được xây dựng từ xưa tạo thành một quần thể đền chùa độc đáo, phù hợp với cảnh trí thiên nhiên mỹ lệ. Lưng chừng núi Hoàng Xá là đền Thượng. Trước cửa động, sát đường liên xã là giếng cả hình con cá chép khổng lồ, thả sen tỏa hương thơm mát.

3. Giá trị sinh học

Các nhà thực vật học ví núi Thầy (khu núi đá Sài Sơn) là một công viên tự nhiên với quần thể thực vật đa dạng. Ta có thể bắt gặp ở đây những loài cây cổ thụ quen thuộc của làng quê như: cây gạo, cây đa, cây đại… trồng trước sân chùa; cùng nhiều loại cây hoa và cây ăn quả được các thế hệ tăng ni vun trồng hàng trăm năm qua như vải, nhãn, bưởi, ổi, cam… Trên núi Thầy lại có cả một thảm thực vật tự nhiên của vùng núi đá vôi với gần 50 loại cây nhiệt đới khác nhau như: sưa, me, lim, lúc lắc, tre núi, chuối rừng, các loại dương xỉ, cây leo… Ngoài ra, núi Thầy còn có rất nhiều loại cây thuốc quý như: cây đại đỏ, gạo, mạch môn đông, ráy, ba chạc, đơn tướng quân, mặc quỷ, sử quân tử, cành giao, canh châu, mắc cỡ, rung rúc, gai núi, sa nhân hà thủ ô núi, thường sơn, củ bình vôi, cây huyết giác, bồ cu vẽ, uy linh tiên, dạ cẩm, thiên niên kiện... Hầu hết những cây thuốc Nam quý hiếm đều có mặt trong khu thắng tích chùa Thầy, núi Thầy. Điều này cũng phù hợp với truyền thuyết về Thiền sư Từ Đạo Hạnh vốn là người giỏi bốc thuốc cứu người.

Cùng với thảm thực vật là một số loài động vật quý hiếm, … Đặc biệt, có loài Dơi âm phủ. Người dân nơi đây cho biết, đây là loài dơi mặt ngựa sải cánh dài tới 1 thước, chuyên sống ở trong hang. Đây là đặc sản xưa kia dùng để tiến vua, thịt thơm, béo nhưng không ngấy. Khi người dân đi đánh bắt, chúng thường bay lượn trong hang và đâm đầu vào những vách đá, nhưng khi làm thịt, tuy lượng máu đọng lại nhiều, song không hề bị đỏ thịt, thường nướng lên rồi ăn. Phạm Xuân Độ đã viết trong Sơn Tây tỉnh chí và coi loài dơi này là một trong bốn sản vật của “Sơn Tây tứ dị”:

Cấn Xá chi lý ngư
Sài Sơn chi biển bức
Khánh Hiệp chi kỳ bành
Sen Chiểu ư úng thái


.......Nguồn:

.......1. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội; Tóm tắt lý lịch di tích quốc gia đặc biệt Chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách huyện Quốc Oai, Hà Nội; 2013, tr 9, 13-15, 23.

.......2. Nguyễn Văn Tiến, Chùa Thầy (Thiên Phúc Tự), NXB Khoa học xã hội, 2001; tr 64.



CHÙA THẦY VÀ THIỀN SƯ TỪ ĐẠO HẠNH

Chùa Thầy thờ “tiền Phật hậu Thánh”, tức là ngoài thờ Phật, còn thờ thêm Thánh.

Qua khảo sát thực tế cho thấy, không chỉ ở chùa Thầy, mà ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ còn có nhiều chùa thờ dạng này. Các Thánh thường được thờ ở dạng chùa “tiền Phật hậu Thánh” là các nhà sư có thật và “được nghĩ là có thật”, có nguồn gốc từ thời Lý -Trần (đa số là thời Lý), đã từng tu hành hay liên quan tới một ngôi chùa cụ thể. Họ được xem như những vị Tổ khai sáng bởi có công xây dựng nên ngôi chùa đó. Do có công với địa phương, dân làng, nên sau khi mất, họ đều được dân tôn vinh thành Thánh, thờ trong các chùa liên quan.

Cho tận đến hôm nay, vai trò của các Thánh trong đời sống tinh thần của dân địa phương vẫn hết sức quan trọng và chưa hề thay đổi. Việc thờ các Thánh trong chùa, theo thời gian, từ chỗ chưa có nơi thờ riêng, tiến dần đến việc có khu vực thờ riêng, được gọi là điện Thánh. Các điện Thánh thường là đơn nguyên kiến trúc đặt nằm phía sau Thượng điện chùa, hoặc có thể nằm ngay trong Thượng điện, vẫn được tạo thành một không gian riêng biệt. Các vị Thánh được bắt gặp thờ ở Bắc Bộ là Thánh Từ (Từ Đạo Hạnh), Thánh Nguyễn (Nguyễn Minh Không), Thánh Dương Không Lộ, Thánh Giác Hải, và Thánh Bối (Nguyễn Bình An). Địa bàn phân bố các chùa dạng này tập trung ở các tỉnh thành: Hà Nội, Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương - thuộc lưu vực sông Hồng.

Đức Thánh được thờ ở chùa Thầy là Thiền sư Từ Đạo Hạnh, một vị cao tăng đời Lý (thế kỷ XI). Cuộc đời và hành trạng của Ngài được ghi chép khá kỹ trong nhiều sách cổ như Thiền uyển tập anh, Lĩnh Nam chích quái hay Việt điện u linh, cùng truyền thuyết dân gian vùng Xứ Đoài. Có thể thấy, trong lịch sử văn hoá Việt Nam, nhân vật Từ Đạo Hạnh là một người đặc biệt mang nhiều nét trái chiều thú vị. Ngài vốn là người có tiểu sử rõ ràng minh bạch, có tên huý, tên cha, tên mẹ và quê hương bản quán rõ ràng, vậy mà lại được dân gian khoác cho lên mình những huyền tích bí ẩn như một vị Thánh Từ, người có nhiều phép thần thông, rồi thác sinh làm vua Lý Thần Tông (1128- 1138), sau còn là hậu thân vua Lê Thần Tông (1619- 1643), Ngài là tăng, là Phật, là vua và được nhân dân coi là Tổ sư của nghệ thuật múa rối nước truyền thống Việt Nam.

Theo quan niệm của Phật giáo Mật tông thì Thiền sư Từ Đạo Hạnh đã đầu thai ứng thân làm vua Lý Thần Tông. Ông đã dùng bùa chú để phá, không cho Giác Hoàng (hậu thân của sư Đại Điên) thác thai làm con Lý Nhân Tông. Việc bị phát giác, Từ Đạo Hạnh bị vua Lý Nhân Tông sai bắt trói, phải năn nỉ nhờ Sùng Hiền Hầu là em trai vua cứu giúp. Để trả ơn việc được Sùng Hiền Hầu cứu thoát khỏi tội chết, Từ Đạo Hạnh đã nguyện đầu thai làm con cho Sùng Hiền Hầu. Phu nhân Sùng Hiền Hầu vì thế có thai. Đến ngày tháng, Từ Đạo Hạnh được người báo tin, bèn tắm rửa thay quần áo, lên am trút xác. Khi Từ Đạo Hạnh hoá, cũng là lúc phu nhân Sùng Hiền Hầu sinh con trai, đặt tên là Lý Dương Hoán. Vì vua Lý Nhân Tông không có con nên năm lên 3 tuổi, Dương Hoán được đem vào cung nuôi dạy, rồi lập làm Hoàng Thái tử, và sau này là vua Lý Thần Tông.

Sau khi hoá, khí thiêng thường hiện lên ở chùa Thiên Phúc, thi thể để cả tháng vẫn có mùi thơm. Dân làng thấy làm lạ, bèn đưa vào trong khám để thờ. Vua Lý Anh Tông tôn phong làm “Thượng đẳng tối linh thần”. Đến thời Vĩnh Lạc nhà Minh (1403- 1424), quân Minh đến thấy mùi thơm, tìm trong khám thấy một đạo nhân, nét mặt tươi như lúc còn sống, bèn đem hoả táng. Sau 7 ngày đốt mà vẫn không cháy, sau phải làm theo lời báo mộng mới đốt được. Chỗ quân Minh đốt xác Ngài nay là Quán Thánh. Giặc Minh lấy tro đắp thành tượng, đem vào am thờ ở bên trái chùa Thiên Phúc…

Gạt bỏ đi những chuyện huyễn hoặc, kỳ bí như lớp sương mù bao quanh Từ Đạo Hạnh trong các truyền thuyết, ta thấy lộ ra một vị Thiền sư đa tài. Ngài đã từng dạy học, hái thuốc, chữa bệnh giúp dân và tổ chức truyền dạy các trò vui như đánh vật, đá cầu, hát chèo, rối nước… ở trong vùng, có những đóng góp nhất định cho chính trị, đạo đức, văn hoá dân tộc. Đó là cuộc đời và sự nghiệp của Thiền Sư Từ Đạo Hạnh gắn với chùa Thầy.

................Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội
.........Tóm tắt lý lịch Di tích quốc gia đặc biệt chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn,Hoàng Xá, Phượng Cách huyện Quốc Oai, Hà Nội - 2013, tr 6-8.



GIỮ GÌN KHÔNG GIAN VĂN HÓA TÔN NGHIÊM CHO DI TÍCH CHÙA THẦY

(HNM) - Nhiều năm qua, do chưa có quy hoạch tổng thể, tại Di tích quốc gia đặc biệt chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách (huyện Quốc Oai, Hà Nội) bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế trong công tác quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị. Để giữ gìn báu vật chùa Thầy và không gian văn hóa tôn nghiêm, các cơ quan chức năng đang khẩn trương tìm giải pháp, đề xuất phương án trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt.

Không gian di tích bị xâm lấn

Được xây dựng từ thời nhà Lý, đến nay di tích chùa Thầy vẫn bảo lưu hầu như nguyên vẹn hệ thống kiến trúc Phật giáo cùng lượng di vật đồ sộ, trong đó có nhiều di vật đã được công nhận là bảo vật quốc gia. Không chỉ tuyệt đẹp về cảnh quan, độc đáo về kiến trúc, cuốn hút về huyền tích dân gian, sắc màu lễ hội, chùa Thầy còn là di tích lịch sử cách mạng, nơi diễn ra nhiều sự kiện nổi bật trong giai đoạn chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Nhờ đó, chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách đã được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31-12-2014 của Thủ tướng Chính phủ.

Mặc dù được các cơ quan chức năng quan tâm bảo tồn, phát huy giá trị, song, do nhiều nguyên nhân, không gian, cảnh quan khu vực chùa Thầy đang bị xâm lấn. Đến di tích vào một ngày cuối tháng 5, phóng viên Báo Hànộimới nhận thấy, xung quanh hồ Long Trì dưới chân núi Thầy - thuộc khu vực cần được bảo tồn nguyên trạng vẫn còn 47 hộ dân sinh sống. Những ngôi nhà xây dựng kiên cố và cuộc sống sinh hoạt thường nhật diễn ra tại đây không phù hợp với không gian văn hóa tâm linh. Hệ thống hàng quán, dịch vụ, bãi đỗ xe… xung quanh di tích tạm bợ, nhếch nhác. Hệ thống giao thông giữa các thành phần di tích thiếu sự liên kết, gây khó khăn cho khách tham quan.

Quy hoạch để bảo tồn

Những bất cập nói trên chỉ có thể được khắc phục trên cơ sở xây dựng căn cứ pháp lý và quy hoạch tổng thể. Năm 2016, UBND huyện Quốc Oai đã đề nghị các cơ quan chức năng cho phép lập quy hoạch tổng thể đối với Di tích quốc gia đặc biệt chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách. Chủ trương này được UBND TP Hà Nội, Bộ VH-TT&DL và Chính phủ ủng hộ. Tại Văn bản số 817/VPCP-KGVX ngày 25-1-2017, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã đồng ý về chủ trương lập Quy hoạch tổng thể Di tích quốc gia đặc biệt chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách. Trên cơ sở đó, Phó Thủ tướng giao UBND TP Hà Nội là đơn vị chủ trì lập quy hoạch tổng thể đối với di tích; Bộ VH-TT&DL có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức thẩm định nhiệm vụ quy hoạch và đồ án quy hoạch tổng thể, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Đầu tháng 2-2017, UBND TP Hà Nội đã có Văn bản số 1194/VP-ĐT giao Sở Quy hoạch Kiến trúc, Sở VH-TT, UBND huyện Quốc Oai và các đơn vị liên quan nghiên cứu, triển khai các bước của quy hoạch tổng thể. Theo phân cấp, UBND huyện Quốc Oai là đơn vị trực tiếp quản lý di tích nên được giao làm chủ đầu tư lập quy hoạch tổng thể. Ranh giới nghiên cứu lập quy hoạch có tổng diện tích khoảng 100ha, trong đó diện tích vùng lõi là hơn 33ha.

Kiến trúc, cảnh quan của di tích được phân chia thành 3 không gian cơ bản, đó là không gian văn hóa lễ hội và tâm linh; không gian văn hóa, sinh thái và không gian phụ trợ. Theo định hướng quy hoạch, khu vực này sẽ mở thêm đường giao thông từ phía Bắc sang phía Nam Khu đô thị Quốc Oai, từ Đại lộ Thăng Long về chùa Thầy và đường dẫn từ đường vành đai du lịch về chùa Long Đẩu. “Những tuyến đường này mở ra sẽ giải quyết được vấn đề giao thông bức bách hiện nay”, Phó Chủ tịch UBND huyện Quốc Oai Đỗ Lai Luật khẳng định.

Vấn đề bức xúc khác là việc di chuyển 47 hộ dân ra khỏi vùng lõi di tích cũng đã được tính đến. Khu vực tái định cư được huyện Quốc Oai bố trí cạnh đường giao thông, cơ sở hạ tầng tốt. Việc di chuyển các hộ dân dự kiến sẽ hoàn tất trong năm 2018. Ngoài ra, huyện Quốc Oai cũng đã đưa ra định hướng tu bổ, tôn tạo các hạng mục di tích xuống cấp phù hợp với từng giai đoạn… Ông Đỗ Lai Luật cho biết, việc tiến hành quy hoạch tổng thể gồm nhiều khâu và dự thảo nhiệm vụ quy hoạch tổng thể đã cơ bản hoàn thành, chuẩn bị trình các cơ quan chức năng xem xét, phê duyệt.

Với những bước đi bài bản, chính quyền huyện Quốc Oai tin tưởng sẽ quảng bá được vẻ đẹp tiềm năng của Di tích quốc gia đặc biệt chùa Thầy, tạo ấn tượng tốt với du khách trong và ngoài nước, để chùa Thầy trở thành điểm đến văn hóa tâm linh hấp dẫn.

...............................Thu Hiền - Thanh Thủy
..........(Báo Văn Hóa, số ra Chủ Nhật ngày 28/05/2017)



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 31.05.2017, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 12.03.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TẾT BÍNH THÂN 2016

ĐỀN VĂN XƯƠNG - CHÙA BỐI AM (CHÙA MỘT MÁI)




Từ hang Cắc Cớ đi lên đền Văn Xương, bắt gặp một cái quán dã chiến, nhưng hôm nay nghỉ bán



Cây đại già



Đền Văn Xương



Đầu đao



Nhà tiền tế đền Văn Xương



Pin mặt trời



Chùm rễ



Cong mình chịu gió



Cảnh dưới chân núi



Ngôi miếu nhỏ



Nền gác chuông cũ



Nền gác chuông cũ



Nền gác chuông cũ



Nền gác chuông cũ. Gác chuông này đã bị giặc Pháp phá hủy năm 1947. Quả chuông hiện vẫn còn, đang được lưu giữ tại chùa Bối Am.



Điểm thu phí tham quan



Quyết định của thành phố về mức giá thu



Hang Nước



Hang Gió, hay hang Luồn



Gần cửa vào có hai tấm bia trên vách đá



Bia đá gắn trên vách đá



Những dòng chữ khắc vào vách đá



Ghế ngồi hóng gió



Phan Huy Chú từng viết bộ "Lịch triều hiến chương loại chí" tại nơi đây?



Một ngôi nhà dựa vào vách núi, chỉ có một mái



Cửa Phật



Nhà tăng



Tháp cổ



Cửa chùa Bối Am, tức chùa Một Mái



Ao sen



Cửa tò vò



Hệ thống tượng Phật



Cầu thang



Kè đá



Mái lợp ngói mũi hài



Rêu phong



Bám vào đá



Thềm rồng



Hậu cung chùa Bối Am, tức chùa Một Mái



Mái chùa Bối Am



Ngôi tháp cổ



Bia đá gắn trên thân tháp



Hai ngôi tháp và vườn rau nhà chùa



Tháp trong vườn





Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 15.03.2016, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 30, 31, 32, 33  Trang kế
Trang 31 trong tổng số 33 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser