vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - Cột mốc biên cương
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

Cột mốc biên cương
Chuyển đến trang 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 09.08.2011    Tiêu đề: Cột mốc biên cương Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Biên giới trên đất liền của Việt Nam

Đối với bất kỳ quốc gia nào, giải quyết vấn đề biên giới là vấn đề vô cùng thiêng liêng và nhạy cảm, đồng thời, luôn là công việc khó khăn phức tạp.

Bài viết dưới đây quan tâm chủ yếu đến các vấn đề lịch sử, địa lý, công nghệ thông tin, hơn là các vấn đề (rắc rối) liên quan đến chính trị và dân tộc.



..................................Đại Nam thống nhất toàn đồ (vẽ năm 1838, thời Minh Mạng)
..................................(Muốn đọc các chữ Hán, phải quay bản đồ đi 90 độ)



Kết thúc cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc năm 1975, non sông đất nước Việt Nam thu về một mối. Việc đầu tiên mà Đảng và Nhà nước quan tâm và coi trọng, đó là việc giải quyết đường biên giới trên đất liền và trên biển, dựa trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực.

Với nguyên tắc đó, Việt Nam với các nước láng giềng đã tiến hành ký kết một số Hiệp ước như: Hiệp ước hoạch định biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Lào (1977); Việt Nam và Campuchia (1985); Việt Nam và Trung Quốc (1999); Hiệp định phân định ranh giới trên biển với Thái Lan (1997)...


Biên giới Việt Nam- Lào

Biên giới Việt Nam– Lào dài khoảng 2.067 km, trong đó có 1.763 km đi trên đất liền và 304 km đi trên sống suối, đi qua địa bàn 10 tỉnh biên giới của Việt Nam, tiếp giáp với 10 tỉnh biên giới của Lào.

Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng gần gũi, có nhiều nét tương đồng về lịch sử, văn hóa, cùng chung biên giới. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, đặc biệt từ năm 1954 đến nay, mối quan hệ Việt- Lào ngày càng được vun đắp phát triển.

Ngay sau khi cả hai nước trên bán đảo Đông Dương giành được độc lập trọn vẹn, Việt Nam và Lào đã bắt tay ngay vào việc đàm phán giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ.

Năm 1977, hai nước ký "Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHDCND Lào".

Từ năm 1977 đến năm 1986, hai bên cơ bản hoàn thành công tác hoạch định phân giới cắm mốc trên thực địa và xác định được 199 vị trí cắm mốc của 214 cột mốc (bình quân trên 10 km có 1 mốc, có nơi gần 40 km mới có 1 mốc).

Năm 1986, hai nước ký "Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHDCND Lào".

Năm 2007, ba nước CHXHCN Việt Nam, CHDCND Lào và CHND Trung Hoa ký Hiệp định về ngã ba biên giới. Theo đó, cột mốc số không (trên thực tế không đánh số) được xây dựng, nằm ở giao điểm đường biên giới ba nước Việt Nam- Lào- Trung Quốc. Đây là mốc lớn (mốc đại), được làm bằng đá hoa cương, có ba mặt gắn quốc huy của ba nước, đặt trên đỉnh núi Khoan La San.

Năm 2008, tại điểm ngã ba biên giới Việt Nam-Lào-Campuchia đã diễn ra lễ khánh thành mốc ngã ba biên giới giữa ba nước. Các ông: Đào Việt Trung, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao CHXHCN Việt Nam, Phongsavat Buppha, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao, Trưởng Ban biên giới nước CHDCND Lào, Varkimhong, Bộ trưởng cao cấp phụ trách công tác biên giới của Chính phủ Hoàng gia Campuchia đồng chủ trì buổi lễ cùng đại diện lãnh đạo và nhân dân ba tỉnh: Kon Tum, Attôpư (Lào) và Rattanakiri (Campuchia).

Mốc ngã ba biên giới Việt Nam – Lào - Campuchia được đặt trên đỉnh núi có độ cao 1.086 mét so với mặt nước biển, là giao điểm của ba đường biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia. Cột mốc được làm bằng đá hoa cương, hình trụ tam giác, cao 2 mét.

Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia Việt Nam - Lào

Bản Hiệp ước gồm 64 trang (32 trang tiếng Việt, 32 trang tiếng Lào)
Nội dung của Hiệp ước ký ngày 18 tháng 7 năm 1977, bao gồm:
+ Nguyên tắc hoạch định đường biên giới;
+ Trình tự miêu tả đường biên giới chạy từ Bắc xuống Nam;
+ Nguyên tắc xác định đường biên giới theo sông suối và biên giới trên cầu bắc qua sông suối biên giới, hoặc qua cù lao bãi bồi;
+ Nguyên tắc liên quan đến việc thành lập và hoạt động của Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc trên thực địa.

Đường biên giới quốc gia giữa CHXHCN Việt Nam và CHDCND Lào được quy định bởi "Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào" ký ngày 18/07/1977 và "Hiệp ước bổ sung" ký ngày 24/01/1986 cùng các văn bản, phụ lục, tài liệu, bản đồ về phân giới trên thực địa và cắm mốc kèm theo các Hiệp ước nói trên bao gồm:

- Nghị định thư ký ngày 24/01/1986 và Nghị định thư bổ sung ký ngày 16/10/1987
- Các văn bản phân giới cắm mốc trên thực địa các đoạn biên giới đã miêu tả toàn bộ đường biên giới Việt Nam – Lào.
- Các văn bản cắm mốc trên thực địa đã miêu tả từng mốc quốc giới.
- Các mảnh bản đồ đường biên giới Việt Nam – Lào tỷ lệ 1/25.000 đã vẽ toàn bộ đường biên giới Việt Nam – Lào.
- Các sơ đồ vị trí mốc quốc giới tỷ lệ 1/5.000 và tỷ lệ 1/10.000, vẽ từng vị trí mốc quốc giới.

Đường biên giới kể trên cũng là đường dùng để phân ranh giới vùng trời và lòng đất giữa hai nước theo chiều thẳng đứng.

* Phụ lục kèm theo "Hiệp định về Quy chế biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Lào" ký ngày 01/03/1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận:
- Toàn tuyến biên giới Việt Nam – Lào gồm 214 cột mốc giới.
- Số đoạn: 19 đoạn (đánh mã hiệu theo ABC, từ đoạn A đến đoạn U)
- Mốc đơn: 190 mốc
- Mốc đôi: 03 mốc
- Mốc ba: 06 mốc (số mốc còn lại là mốc phụ, cắm giữa vạch biên giới)
- Bên Việt Nam chịu trách nhiệm quản lý đối với các mốc số chẵn. Bên Lào chịu trách nhiệm quản lý đối với các mốc số lẻ
- Các tỉnh của Việt Nam có chung biên giới với Lào là Điện Biên, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên -Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Kon Tum.
- Các tỉnh phía Lào: Phong Sa Lỳ, Luông Pra-băng, Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bô-ly Khăm-xay, Khăm Muộn, Sa-vẳn-na-khẹt, Sa-la-vẳn, Xê-kông, A-tô-pơ.

Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia Việt Nam - Lào

Ngày 24 tháng 1 năm 1986, lễ ký Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới Việt Nam - Lào được diễn ra tại thủ đô Viêng Chăn. Trên cơ sở kết quả khảo sát thực địa, hai bên đã đồng ý thoả thuận điều chỉnh một số chỗ khác với đường biên giới đã hoạch định trong Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia 1977 và đồng ý chỉnh sửa một số nguyên tắc hoạch định biên giới theo sông suối cho phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế.
Bản Hiệp ước bổ sung gồm 20 trang (10 trang tiếng Việt, 10 trang tiếng Lào).

Hiệp định về Quy chế biên giới quốc gia Việt Nam và Lào

Hiệp định về Quy chế biên giới quốc gia giữa nước Việt Nam và Lào là một văn bản pháp lý quốc tế chứa đựng đầy đủ các quy phạm pháp luật cơ bản cũng như các thủ tục cần thiết điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong các hoạt động của cả hai bên ở khu vực biên giới giữa hai nước, bao gồm các nội dung chính như sau:

- Tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; hợp tác quản lý bảo vệ biên giới, hệ thống mốc quốc giới; bảo vệ an ninh trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới; ngăn chặn và giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh trong quan hệ về biên giới lãnh thổ giữa chính quyền và nhân dân địa phương hai bên.

- Thống nhất nguyên tắc, thủ tục và địa điểm qua lại giữa hai quốc gia, giữa các địa phương và việc qua lại của các cư dân biên giới của hai bên; xử lý các vấn đề có liên quan đến biên giới trên cơ sở tôn trọng lợi ích chính đáng của các bên và quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội của mỗi bên cũng như cho nhân dân hai bên làm ăn sinh sống trong khu vực biên giới.

- Hợp tác phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, hợp tác khai thác và bảo vệ nguồn nước, tài nguyên và môi trường ở khu vực biên giới.

Nghị định thư sửa đổi và bổ sung Hiệp định về Quy chế biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Lào

Ngày 31/8/1997, tại thành phố Huế, Chính phủ hai nước kỹ "Nghị định thư sửa đổi và bổ sung Hiệp định về Quy chế biên giới quốc gia".

Nghị định thư có hiệu lực từ ngày 2/7/1998.

Bộ bản đồ đường biên giới

Để phân định đường biên giới giữa Việt Nam - Lào, Chính phủ hai bên thống nhất sử dụng bộ bản đồ Bonne tỷ lệ 1/100.000 của Sở địa dư Đông Dương thành lập vào những năm 1945 và gần năm 1945 nhất (bộ bản đồ gồm 48 mảnh, do Pháp thành lập); giao cho Cục đo đạc và Bản đồ Nhà nước Việt Nam in phóng bản đồ UTM tỷ lệ 1/50.000 thành Sơ đồ đường biên giới quốc gia Việt Nam - Lào, và cán bộ kỹ thuật hai bên chuyển vẽ đường biên giới từ bộ bản đồ Bonne sang sơ đồ 1/25.000 dùng cho công tác phân giới cắm mốc trên thực địa. Sau 8 năm phân giới cắm mốc, hai bên đã cắm được 214 mốc quốc giới, phân giới được hơn 2.000 km đường biên giới và ghi nhận kết quả phân giới cắm mốc bằng Nghị định thư phân giới cắm mốc trên thực địa vào năm 1984. Năm 2003, hai bên đã hoàn thành và ký kết bộ bản đồ đường biên giới quốc gia Việt Nam - Lào tỷ lệ 1/50.000 gồm 126 mảnh, được thành lập bằng phương pháp bay chụp.

KHÁI QUÁT VỀ NƯỚC LÀO

Lào là một quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không tiếp giáp với biển. Lào giáp Trung Quốc ở phía Bắc với đường biên giới dài 505 km; giáp Campuchia ở phía Nam với đường biên giới dài 535 km; giáp với Việt Nam ở phía Đông với đường biên giới dài 2.067 km; giáp với Burma ở phía Tây Bắc với đường biên giới dài 236 km; và giáp với Thái Lan ở phía Tây với đường biên giới dài 1.835 km.



Lịch sử của Lào trước thế kỷ 14 gắn liền với sự thống trị của vương quốc Nam Chiếu. Mãi đến thế kỷ 13, lãnh thổ nước Lào hiện nay vẫn thuộc về đế quốc Khơ-me, rồi đến vương quốc Su-khột-thai. Thế kỷ 14, vua Phà Ngừm lên ngôi, đổi tên nước thành Lạn Xạn. Trong các thế kỷ tiếp theo, Lào nhiều lần phải chống lại các cuộc xâm lược của Miến Điện (Burma) và đế quốc Xiêm (Thái Lan). Đến thế kỷ 18, Thái Lan giành quyền kiểm soát trên một số tiểu vương quốc còn lại. Các lãnh thổ này nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Pháp trong thế kỷ 19 và bị sáp nhập bổ sung vào Liên bang Đông Dương vào năm 1893, sau khi Pháp và Thái Lan giằng co nhau và đi đến ký Hiệp định thỏa thuận phân định đường biên giới. Trong Thế chiến thứ hai, Pháp bị Nhật thay chân ở bán đảo Đông Dương. Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, ngày 12 tháng 10 năm 1945, Lào tuyên bố độc lập. Đầu năm 1946, Pháp quay trở lại xâm lược Lào. Năm 1949, quốc gia này nằm dưới sự lãnh đạo của vua Sisavang Vong và mang tên Vương quốc Lào. Tháng 7 năm 1954, Pháp ký Hiệp ước Giơ-ne-vơ (Genève), công nhận nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Lào.

Từ 1955 đến 1975, nhân dân các bộ tộc Lào cùng sát cánh với nhân dân Việt Nam chống lại sự xâm lược của đế quốc Mỹ. Khi Mỹ phát động chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, phong trào giải phóng dân tộc lên cao, những người Pa-thét Lào lãnh đạo nhân dân Lào trong cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai. Từ năm 1968, quân tình nguyện Việt Nam sang tham chiến cùng quân Pa-thét Lào, chống lại quân đội Mỹ và những người Lào được Mỹ dựng lên. Năm 1975, phong trào cộng sản Pa-thét Lào do Hoàng thân Su-pha Nu-vông lãnh đạo đã xóa bỏ chính quyền bù nhìn do Mỹ dựng lên, xử tử hoàng thân Savang Vatthana và nắm quyền lãnh đạo đất nước này. Ngày 2 tháng 12 năm 1975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Lào quyết định xóa bỏ chế độ quân chủ, thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Ngày này cũng được lấy làm ngày quốc khánh của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Lào áp dụng một hệ thống hành chính bốn cấp, gồm cấp trung ương và ba cấp địa phương. Cấp địa phương cao nhất là tỉnh có 17 đơn vị và thủ đô Viêng Chăn. Cấp địa phương cấp hai là các quận, huyện, thị xã. Cấp địa phương thấp nhất là bản. Không có đơn vị hành chính cấp xã.



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 13.08.2011, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 10.08.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

HIỆP ƯỚC HOẠCH ĐỊNH BIÊN GIỚI VIỆT NAM - LÀO VÀ PHỤ LỤC KÈM THEO






















































































Phần tiếng Lào










































































Sợ bác nào mắt kém, nhìn văn bản tù mù, tôi bèn sơ lược lại như sau:

Điều I ghi rõ:
Trên cơ sở tôn trọng đường biên giới đã có vào lúc hai nước tuyên bố nền độc lập của mình (Việt Nam: ngày 2 tháng 9 năm 1945, Lào: ngày 12 tháng 10 năm 1945), hai bên nhất trí lấy đường biên giới vẽ trên bản đồ của Pháp tỷ lệ 1/100.000 của Sở địa dư Đông Dương (Service Géographique de l’Indochine) xuất bản năm 1945 làm căn cứ chính để hoạch định đường biên giới giữa hai nước. Nơi nào không có bản đồ Pháp xuất bản năm 1945, thì lấy bản đồ Pháp tỷ lệ 1/100.000 xuất bản vào năm gần năm 1945 nhất. Hai bên thống nhất sử dụng 48 mảnh bản đồ đã được đại diện của mỗi bên đối chiếu và ký xác nhận, theo bản kê kèm Hiệp ước này (Phụ lục I). Các mảnh bản đồ là bộ phận cấu thành của Hiệp ước này. (chủ yếu là “ô vuông UTM”, vài ba mảnh là “ô vuông Bonne”, một số ít đo đạc vào các năm 1905, 1909, 1922, 1936, có 29 mảnh đo đạc vào năm 1954)

Điều II mô tả kỹ càng đường biên giới thông qua các đoạn biên giới và liệt kê, ghi chú từng điểm mốc trên mỗi đoạn, bao gồm tên gọi địa phương, tọa độ địa lý chính xác, các địa danh gần kề, và nhất là mô tả hướng đi vào và ra của đường biên giới, khi nó bước chân qua điểm mốc đó.

Đoạn 1: từ điểm có tọa độ là 22 độ 55 phút 10 giây vĩ độ Bắc, 113 độ 64 phút 25 giây kinh độ Đông, lượn theo các sống núi… đến đỉnh đèo Tây Chang, tọa độ là 22 độ 55 phút 10 giây vĩ độ Bắc, 113 độ 64 phút 25 giây kinh độ Đông.
(đánh dấu bởi 35 vị trí mốc)

Đoạn 2: từ đỉnh đèo Tây Chang… đến cầu Na Mèo ở cửa sông Nậm Soi, có tọa độ là 22 độ 55 phút 10 giây vĩ độ Bắc, 113 độ 64 phút 25 giây kinh độ Đông.
(đánh dấu bởi 98 vị trí mốc)

Đoạn 3: từ cầu Na Mèo … đến đỉnh đèo Keo Heua, cắt đường số 8 tại tọa độ là 20 độ 43 phút 06 giây vĩ độ Bắc, 114 độ 23 phút 73 giây kinh độ Đông.
(đánh dấu bởi 99 vị trí mốc)

Đoạn 4: từ đỉnh đèo Keo Heua… đến đỉnh đèo Mụ Giạ, cắt đường số 12 tại tọa độ là 19 độ 63 phút 30 giây vĩ độ Bắc, 114 độ 91 phút 23 giây kinh độ Đông.
(đánh dấu bởi 21 vị trí mốc)

Đoạn 5: từ đỉnh đèo Mụ Giạ … đến điểm cao 743 (nhiều khả năng cao 743 mét, so với mực nước biển) cắt đường số 20 tại tọa độ là 19 độ 20 phút 70 giây vĩ độ Bắc, 115 độ 36 phút 26 giây kinh độ Đông.
(đánh dấu bởi 7 vị trí mốc)

Đoạn 6: từ đường số 20 … đến cầu Xà Ợt trên đường số 9, tọa độ là 18 độ 47 phút 02 giây vĩ độ Bắc, 115 độ 83 phút 15 giây kinh độ Đông.
(đánh dấu bởi 34 vị trí mốc)

Đoạn 7: từ cầu Xà Ợt, lượn theo suối Xà Ợt … đến điểm có tọa độ là 16 độ 31 phút 60 giây vĩ độ Bắc, 116 độ 90 phút 40 giây kinh độ Đông.
(đánh dấu bởi 72 vị trí mốc)

Tổng cộng 366 vị trí mốc = 52 điểm cao + 314 cột mốc.

Điều III quy định khi đi qua cầu bắc trên các sông, suối biên giới, đường biên giới được hiểu là ở chính giữa cầu, không kể đường biên giới đi dưới sông, suối thế nào. Trường hợp sông, suối đổi dòng, đường biên giới vẫn giữ nguyên không thay đổi, nếu hai bên không có thỏa thuận nào khác. Và một số quy định liên quan đến bãi bồi giữa sông (bãi đang tồn tại, có thể bị mất đi, hoặc sinh ra thêm).

Điều IV đề cập đến việc thành lập Ủy ban liên hợp phân giới trên thực địa (gọi tắt là Ủy ban liên hợp) gồm số đại biểu bằng nhau của mỗi bên, và giao nhiệm vụ cho Ủy ban này: căn cứ vào Điều II và III của Hiệp ước, tiến hành việc phân vạch trên thực địa toàn bộ đường biên giới; dự kiến vị trí các mốc quốc giới; lập bản đồ đường biên giới giữa hai nước, có ghi vị trí các mốc quốc giới; soạn thảo Nghị định thư phân giới trên thực địa để trình đại diện Chính phủ hai nước ký; tiến hành chính thức cắm mốc quốc giới. Nghị định thư phân giới trên thực địa sẽ là một Phụ lục của Hiệp ước này. Bản đồ đường biên giới (mới) sẽ thay thế cho bộ bản đồ 48 mảnh nói ở Điều I, và được lấy làm căn cứ chính thức để giải quyết mọi vấn đề liên quan đến biên giới giữa hai nước.

Điều V đề cập đến việc ký kết Quy chế biên giới giữa hai nước, bao gồm việc đi lại của nhân dân hai nước ở khu vực biên giới, việc mở các cửa khẩu biên giới,… nhằm đảm bảo chủ quyền của mỗi nước và tạo điều kiện thuận lợi cho việc làm ăn, sinh sống của nhân dân hai bên biên giới và việc hợp tác về mọi mặt giữa hai nước.

Điều VI là điều khoản cuối cùng.

Đôi dòng về Sở Địa dư Đông Dương

Sở Địa dư Đông Dương (viết tắt tiếng Pháp là SGI - Service Geographique de l'Indochine) được thành lập ngày 5-7-1899 để thực hiện các công tác địa hình, đồ bản từ đo đạc trên thực địa đến công tác nội nghiệp, ấn loát, thiết lập cho toàn lãnh thổ Đông Dương một bộ bản đồ căn bản có tỷ lệ 1/100.000 và những bản đồ có tỷ lệ 1/25.000 cho các vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long, một số vùng đồng bằng ven biển miền Trung Việt Nam.

Vào cuối năm 1944, Sở Địa dư Đông Dương được di chuyển đến cơ sở mới xây dựng tại Đà Lạt (trước đó, chuyển từ Hà Nội vào Sài Gòn và "tạm trú" ở Sài Gòn một thời gian ngắn). Sau Hiệp định Genève, ngày 29-12-1954 tại Paris đã ký kết thỏa hiệp giữa 4 nước: Pháp, Việt Nam, Cămpuchia và Lào về việc giải thể Sở Địa dư Đông Dương và phân chia tài sản, đồng thời, ấn định ngày chính thức giải thể là 31-3-1955.



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 17.09.2011, sửa lần 3
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 10.08.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

HIỆP ƯỚC BỔ SUNG HIỆP ƯỚC HOẠCH ĐỊNH BIÊN GIỚI VIỆT NAM - LÀO
































Hiệp ước bổ sung (do hai Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ký ngày 24 tháng 1 năm 1986 tại Viêng Chăn), cũng làm bằng hai thứ tiếng Việt và Lào.

Đường biên giới được sửa đổi, thể hiện trên 13 mảnh bản đồ tỷ lệ 1/25.000.

- Khu vực ba bản Na Luống, Na Ún, Na Son (được thể hiện trên 3 mảnh bản đồ mang số hiệu 5650 IV-A, 5650 IV-B, 5650 IV-D).

- Khu vực Na Cay, Na Hói (được thể hiện trên mảnh bản đồ mang số hiệu 5670 I-E).

- Khu vực Phu Ta Mê, bản Kẹo Muông (được thể hiện trên mảnh bản đồ mang số hiệu 5850 I-A).

- Khu vực Na Hàm (được thể hiện trên 4 mảnh bản đồ mang số hiệu 5949 IV-A, 5949 IV-B, 5949 IV-C, 5949 IV-D).

- Khu vực Văng Áng Ngước (được thể hiện trên 2 mảnh bản đồ mang số hiệu 5949 II-A, 5949 II-B).

- Khu vực Piêng Tần, bản Ruộng, bản Khẹo, bản Đục (được thể hiện trên 2 mảnh bản đồ mang số hiệu 5949 II-D, 5948 I-B).

Đường biên giới trên sông, suối được thống nhất lại theo nguyên tắc:

- Nếu sông suối đó tàu thuyền không đi lại được, thì đường biên giới đi giữa sông suối;

- Nếu sông suối đó tàu thuyền đi lại được, thì đường biên giới đi giữa lạch của sông suối, hoặc lạch chính của sông suối (nếu sông, suối có nhiều lạch), và được tính vào thời điểm mức nước hạ xuống thấp nhất.

Việc xử lý các mốc cắm cũ không cần thiết.

Việc xây các mốc mới theo tinh thần của Hiệp ước bổ sung này sẽ được ghi vào một Nghị định thư bổ sung.

Nghị định thư này là một Phụ lục của Hiệp ước hoạch định biên giới, cũng như Hiệp ước bổ sung.
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 10.08.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

HIỆP ĐỊNH VỀ QUY CHẾ BIÊN GIỚI QUỐC GIA VIỆT NAM - LÀO










































Hiệp định về Quy chế biên giới quốc gia Việt Nam - Lào (ký ngày 1 tháng 3 năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh), do hai Bộ trưởng Bộ Ngoại giao hai nước thay mặt nhà nước ký (các phụ lục do Trưởng ban Biên giới Chính phủ hai nước ký), gồm 5 chương.


Chương I: Việc bảo vệ biên giới và các mốc quốc giới (11 điều)

Điều 1 của chương này liệt kê các văn bản, phụ lục, tài liệu, bản đồ, sơ đồ về phân giới và cắm mốc trên thực địa kèm theo 2 Hiệp ước (Hiệp ước chính và Hiệp ước bổ sung) là:

- Nghị định thư ký ngày 24/01/1986 và Nghị định thư bổ sung ký ngày 16/10/1987.

- Các biên bản phân giới và cắm mốc trên thực địa các đoạn biên giới đã miêu tả toàn bộ đường biên giới Việt Nam - Lào.

- Các biên bản cắm mốc trên thực địa đã miêu tả từng mốc quốc giới.

- Các mảnh sơ đồ đường biên giới Việt Nam - Lào tỷ lệ 1/25.000 đã vẽ toàn bộ đường biên giới Việt Nam - Lào.

- Các sơ đồ vị trí mốc quốc giới tỷ lệ 1/5.000 và tỷ lệ 1/10.000 vẽ vị trí từng mốc quốc giới.

- Các ảnh của từng mốc quốc giới.

Chương II: Việc qua lại biên giới (10 điều)

Điều 18 trong chương này thỏa thuận mở 8 cửa khẩu chính trên đường bộ, cụ thể là:

Tây Chang (Việt Nam) - Xốp Hun (Lào) ................................. đường số 42

Pa Háng (Việt Nam) - Xốp Bau (Lào) ..................................... đường số 43

Na Mèo (Việt Nam) - Bản Lơi (Lào) ....................................... đường số 217

Nậm Cắn (Việt Nam) - Nậm Căn (Lào) ................................... đường số 7

Keo Nưa (Việt Nam) - Na Pe (Lào) ......................................... đường số 8

Cha Lo, đèo Mụ Giạ (Việt Nam) - Thông Khảm (Lào) ........... đường số 12

Lao Bảo (Việt Nam) - Huội Ka Ky, Bản A Lôn (Lào) ............. đường số 9

Bờ Y (Việt Nam) - Giang Giơn (Lào) ...................................... đường số 18

Chương III: Khai thác và sử dụng sông suối biên giới, bảo vệ rừng, săn bắn, khai khoáng, và giữ gìn an ninh trong khu vực biên giới (8 điều)

Chương IV: Tổ chức thực hiện Hiệp định về Quy chế biên giới (5 điều)

Chương V: Các điều khoản cuối cùng (3 điều).

Phụ lục kèm theo xác nhận:

- Toàn tuyến biên giới Việt Nam – Lào gồm 214 cột mốc giới.
- Số đoạn: 19 đoạn (đánh mã hiệu theo ABC, từ đoạn A đến đoạn U, không có đoạn F)
- Mốc đơn: 190 mốc
- Mốc đôi: 03 mốc
- Mốc ba: 06 mốc
- Số mốc còn lại là mốc phụ, cắm giữa vạch biên giới.
- Bên Việt Nam chịu trách nhiệm quản lý đối với các mốc số chẵn. Bên Lào chịu trách nhiệm quản lý đối với các mốc số lẻ
- Các tỉnh của Việt Nam có chung biên giới với Lào là: Lai Châu (về sau tách ra thành Lai Châu và Điện Biên), Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên -Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Kon Tum.
- Các tỉnh phía Lào: Phông Xa Lỳ, Luống Phra Bang, Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay, Khăm Muộn, Xa Văn Na Khệt, Xa Lả Van, Xê Kông, Ắt Ta Pư.

Phụ lục I liệt kê các mốc quốc giới nằm trên lãnh thổ Việt Nam và Lào.

Các mốc quốc giới nằm trên lãnh thổ Việt Nam gồm: tổng cộng 15 mốc

- Đoạn A: không có
- Đoạn B: B-13 (1) mốc ba
- Đoạn C: không có
- Đoạn D: không có
- Đoạn E: không có
- Đoạn G: G-7
- Đoạn H: H-1 mốc đôi, H-5
- Đoạn I: không có
- Đoạn K: K-1 (2) mốc ba, K-1 (3) mốc ba, K-2 (2) mốc ba
- Đoạn L: L-1 mốc đôi, L-5 (1) mốc ba
- Đoạn M: M-6
- Đoạn N: không có
- Đoạn O: không có
- Đoạn P: không có
- Đoạn Q: Q-7
- Đoạn R: R-1 mốc đôi, R-2 (1) mốc ba, R-7 (2) mốc ba,
- Đoạn S: không có
- Đoạn T: T-23
- Đoạn U: không có

Các mốc quốc giới nằm trên lãnh thổ Lào gồm: tổng cộng 21 mốc

- Đoạn A: không có
- Đoạn B: B-13 (2) mốc ba, B-13 (3) mốc ba
- Đoạn C: không có
- Đoạn D: không có
- Đoạn E: E-4
- Đoạn G: G-9
- Đoạn H: H-1 mốc đôi
- Đoạn I: không có
- Đoạn K: K-1 (1) mốc ba, K-2 (1) mốc ba, K-2 (3) mốc ba, K-4, K-5
- Đoạn L: L-1 mốc đôi, L-5 (2) mốc ba, L-5 (3) mốc ba
- Đoạn M: M-6
- Đoạn N: không có
- Đoạn O: không có
- Đoạn P: không có
- Đoạn Q: Q-8
- Đoạn R: R-1 mốc đôi, R-2 (2) mốc ba, R-2 (3) mốc ba, R-7 (1) mốc ba, R-7 (3) mốc ba
- Đoạn S: không có
- Đoạn T: T-13, T-22
- Đoạn U: không có

Phụ lục II liệt kê các mốc quốc giới mang số chẵn và số lẻ.

Các mốc quốc giới mang số chẵn gồm: tổng cộng 88 mốc.

- Đoạn A: A-2, A-4, A-6
- Đoạn B: B-2, B-4, B-6, B-8, B-10, B-12
- Đoạn C: C-2, C-4, C-6, C-8
- Đoạn D: D-2, D-4, D-6, D-8, D-10
- Đoạn E: E-2, E-4, E-6, E-8
- Đoạn G: G-2, G-4, G-6, G-8, G-10, G-12
- Đoạn H: H-2, H-4, H-6, H-8
- Đoạn I: I-2, I-4, I-6, I-8
- Đoạn K: K-6
- Đoạn L: L-2, L-6, L-8, L-10
- Đoạn M: M-2, M-4, M-6, M-8, M-10, M-12, M-14
- Đoạn N: N-2, N-4, N-6, N-8, N-10, N-12
- Đoạn O: O-2, O-4
- Đoạn P: P-2, P-4
- Đoạn Q: Q-2, Q-4, Q-6, Q-8, Q-10, Q-12, Q-14, Q-16
- Đoạn R: R-8, R-10, R-12, R-14, R-16
- Đoạn S: S-2, S-4, S-6, S-8, S-10
- Đoạn T: T-2, T-4, T-6, T-8, T-10, T-12, T-14, T-16, T-18, T-20, T-24, T-26
- Đoạn U: U-2, U-4, U-6

Các mốc quốc giới mang số lẻ gồm: tổng cộng 90 mốc.

- Đoạn A: A-3, A-5, A-7
- Đoạn B: B-1, B-3, B-5, B-7, B-9, B-11
- Đoạn C: C-1, C-3, C-5, C-7, C-9
- Đoạn D: D-1, D-3, D-5, D-7, D-9
- Đoạn E: E-1, E-3, E-5, E-7, E-9
- Đoạn G: G-1, G-3, G-5, G-11
- Đoạn H: H-3, H-7
- Đoạn I: I-1, I-3, I-5, I-7
- Đoạn K: K-3
- Đoạn L: L-3, L-7, L-9
- Đoạn M: M-1, M-3, M-5, M-7, M-9, M-11, M-13
- Đoạn N: N-1, N-3, N-5, N-7, N-9, N-11, N-13
- Đoạn O: O-1, O-3
- Đoạn P: P-1, P-3, P-5
- Đoạn Q: Q-1, Q-3, Q-5, Q-9, Q-11, Q-13, Q-15, Q-17
- Đoạn R: R-9, R-11, R-13, R-15
- Đoạn S: S-1, S-3, S-5, S-7, S-9, S-11
- Đoạn T: T-1, T-3, T-5, T-7, T-9, T-11, T-15, T-17, T-19, T-21, T-25, T-27
- Đoạn U: U-1, U-3, U-5




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 17.09.2011, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 10.08.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

NGHỊ ĐỊNH THƯ SỬA ĐỔI VÀ BỔ SUNG QUY CHẾ BIÊN GIỚI QUỐC GIA VIỆT NAM - LÀO






Nghị định thư sửa đổi và bổ sung Quy chế biên giới (do Trưởng ban Biên giới Chính phủ hai nước ký ngày 31 tháng 8 năm 1997 tại Huế), làm bằng hai thứ tiếng Việt và Lào, hai văn bản có giá trị pháp lý ngang nhau.

Hai bên thống nhất ngăn chặn mọi hành động làm thay đổi đường biên giới trên bộ: không cho phép bên nào xây dựng bất cứ công trình gì trong phạm vi cách đường biên giới 100 mét.

Việc thăm dò địa chất và khai khoáng của một bên chỉ được tiến hành trong phạm vi cách đường biên giới ít nhất là 500 mét, và cần thông báo, cũng như trao đổi ý kiến với phía bên kia trước. Việc mở các mỏ khai thác khoáng sản phải có sự cho phép của Chính phủ nước đó.

Bên nào nâng cấp cửa khẩu phụ thành cửa khẩu chính, cửa khẩu chính thành cửa khẩu quốc tế, cần có văn bản trao đổi qua đường ngoại giao với bên kia, và việc này phải được cả hai Chính phủ chấp thuận.

Cửa khẩu quốc tế:

(1) Tây Trang (Điện Biên) - Pang Hốc (Phong Sa Lỳ)
(2) Na Mèo (Thanh Hóa)- Nậm Xôi (Hủa Phăn)
(3) Nậm Cắn (Nghệ An) - Nặm Cắn (Xiêng Khoảng)
(4) Cầu Treo (Hà Tĩnh) - Nặm Phao (Bô-ly Khăm-xay)
(5) Cha Lo (Quảng Bình) - Na Phàu (Khăm Muộn)
(6) Lao Bảo (Quảng Trị) - Đen Sa Vẳn (Sa-vắn Nà-khẹt)
(7) Bờ Y (Kon Tum) - Phu Cưa (Ắt-ta-pư)

Cửa khẩu chính:

(1) Huổi Puốc (Điện Biên) - Na Son (Luông Pra-băng)
(2) Chiềng Khương (Sơn La) - Bán Đán (Hủa Phăn)
(3) Lóng Sập (Sơn La) - Pa Háng (Hủa Phăn)
(4) Khẹo (Thanh Hóa) - Ta Lấu (Hủa Phăn)
(5) Ta Đo (Nghệ An) - Tha Đo (Xiêng Khoảng)
(6) Tam Hợp (Nghệ An) - Nậm Xăng (Bô-ly Khăm-xay)
(7) Thanh Thủy (Nghệ An) - Nặm On (Bô-ly Khăm-xay)
(8) Sơn Hồng (Hà Tĩnh) -Nậm Xắc (Bô-ly Khăm-xay)
(9) Kim Quang (Hà Tĩnh) - Ma La Đốc (Khăm Muộn)
(10) Cà Ròng (Quảng Bình) - Noỏng Mạ (Khăm Muộn)
(11) Tà Rùng (Quảng Trị) - La Cồ (Sa-vẳn Nà-khẹt)
(12) Bản Cheng (Quảng Trị) - Bản May (Sa-vẳn Nà-khẹt)
(13) Thanh (Quảng Trị) - Đen Vi Lay (Sa-vẳn Nà-khẹt)
(14) Cóc (Quảng Trị) - A Xóc (Sa-la-vẳn)
(15) La Lay (Quảng Trị) - La Lay (Sa-la-vẳn)
(16) Hồng Vân (Thừa Thiên Huế) - Cu Tai (Sa-la-vẳn)
(17) A Đớt (Thừa Thiên Huế) -Tà Vàng (Sê-kông)
(18) Nam Giang (Quảng Nam) - Đắc Ta Oóc (Sê-kông)
(19) Đắk BLô (Kon Tum) - Đắk Bar (Sê-kông)
(20) Đắk Long (Kon Tum) - Văng Tắt (Sê-kông)

Cửa khẩu quốc tế
Được hiểu như là cửa ngõ để ra vào một quốc gia, một vùng hay một lãnh thổ, dành cho công dân (mang hộ chiếu) của nước mình và công dân của một nước khác bất kỳ được phép ra vào. Tên gọi cửa khẩu quốc tế trong trường hợp này chỉ đúng khi đó là cảng hàng không (sân bay quốc tế) và cảng biển. Vì ở đây, tính quốc tế được hiểu khi có sự xuất nhập cảnh cho công dân của một nước thứ 2 bất kỳ đến từ bên ngoài lãnh thổ và đi ra khỏi lãnh thổ đó.

Cửa khẩu quốc tế đường bộ, đường thủy và đường sắt là cửa khẩu được dành cho công dân mang hộ chiếu của một nước thứ 3 khác được phép đi và đến với nhau. Do vậy, trên đường bộ khi một cửa khẩu được gọi là cửa khẩu quốc tế là khi có sự xuất nhập cảnh cho công dân của một nước thứ 3.

Cửa khẩu quốc gia
Là cửa khẩu chỉ dành cho công dân 2 nước có chung đường biên giới có các cặp cửa khẩu đối diện nhau và có sự giao thương qua lại. Công dân của một nước thứ 3 (không mang hộ chiếu của 1 trong 2 nước này) không được phép xuất nhập cảnh tại các cửa khẩu này. Tại tất cả các cửa khẩu phụ, cửa khẩu quốc gia, cửa khẩu quốc tế, dĩ nhiên, công dân nước sở tại có cửa khẩu đó được phép xuất nhập cảnh.



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 26.08.2011, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 11.08.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

DỰ ÁN TÔN TẠO VÀ TĂNG DÀY MỐC QUỐC GIỚI GIỮA VIỆT NAM VÀ LÀO

So với hai nước láng giềng khác, Việt Nam có chung đường biên giới trên đất liền với Lào dài nhất, tổng cộng trên 2.000 km. Việc phân định, cắm mốc biên giới giữa hai bên đã được hoàn thành năm 1984 với 199 vị trí cắm mốc quốc giới và 214 mốc quốc giới.

Trải qua thời gian, khu vực biên giới Việt Nam - Lào đã có nhiều thay đổi, với nhiều khu dân cư hình thành, nhiều công trình giao thông, kinh tế được xây dựng. Thực tế này đòi hỏi hai bên cần phải tiến hành công tác tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới để tạo thuận lợi cho công tác quản lý biên giới và phát triển kinh tế.

Đã có ý kiến cho rằng, việc cắm mốc biên giới giữa hai nước Việt Nam - Lào đã hoàn thành, đường biên phần lớn đi qua những khu vực núi cao hiểm trở, suối sâu, nay nếu thực hiện tôn tạo sẽ rất tốn kém, vì thế có nhất thiết phải tăng dày và tôn tạo hay không? Thực tế hiện nay, với mật độ khoảng 10 km/1 mốc, cá biệt có khu vực trên 30 km/ 1 mốc, chủ yếu ở địa hình núi cao, rừng rậm, nên việc nhận biết đường biên trên thực địa là rất khó khăn.

Chính vì thế sẽ dễ diễn ra vi phạm, tranh chấp, gây khó khăn cho công tác quản lý của các cơ quan chức năng hai bên, đồng thời ảnh hưởng đến việc làm ăn, sinh sống của người dân khu vực biên giới. Sau 25 năm xây dựng, trong điều kiện khắc nghiệt, nhiều cột mốc bằng bê-tông đã bị nứt vỡ, xuống cấp, hư hại. Các mốc trước đây chủ yếu được dựng lên theo tài liệu, bản đồ cũ thời Pháp-Mỹ, chưa đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của quản lý biên giới, chưa kể, còn một số mốc cắm sai đường biên được hoạch định.

Hơn nữa, việc cắm mốc là một công việc nhạy cảm, liên quan đến chủ quyền lãnh thổ, lợi ích của quốc gia, là công việc không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt mà còn để lại cho thế hệ mai sau. Việc tăng dày và tôn tạo trên cơ sở chính xác, bền vững, thống nhất trên toàn tuyến biên giới sẽ góp phần tăng cường công tác quản lý biên giới, tạo điều kiện phát triển kinh tế và củng cố quan hệ truyền thống hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt – Lào anh em.

Trên toàn tuyến biên giới Việt Nam-Lào hiện có 7 cửa khẩu quốc tế, 20 cửa khẩu phụ phục vụ cho mua bán, trao đổi hàng hóa giữa hai nước. Năm 2008, kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 422,8 triệu USD, tăng 43,4% so với năm 2007; 5 tháng đầu năm 2009 đạt gần 162,5 triệu USD. Hai nước phấn đấu đưa kim ngạch xuất khẩu hai chiều đến năm 2010 lên 1 tỷ USD, 2 tỷ USD vào năm 2015, và 4 tỷ USD vào năm 2020.

Xác định sự quan trọng và cần thiết của việc cắm và tôn tạo mốc quốc giới, trên cơ sở các hiệp ước, nghị định, hiệp định đã được ký kết giữa hai nước từ năm 1977 đến nay. Dự án tăng dày và tôn tạo mốc quốc giới đã được hai bên chuẩn bị từ năm 2005, và chính thức khởi động từ tháng 9 năm 2008.

Theo kế hoạch, trong vòng khoảng 6 năm (2008 - 2014), sẽ cắm tổng cộng 792 mốc giới, phấn đấu đạt mật độ 2,5 km/ mốc. Trong đó, có 199 mốc cũ được tôn tạo và 593 mốc mới được tăng dày. Tổng kinh phí ước tính khoảng 950 tỷ đồng, trong đó, phía Việt Nam thực hiện 876 tỷ đồng, phần còn lại thuộc phía Lào. Các mốc sẽ được phân thành 3 loại: 16 mốc đại (cắm tại các cửa khẩu quốc tế và cửa khẩu quốc gia); 190 mốc trung (tại các vị trí cũ trong giai đoạn phân giới cắm mốc 1978-1986), và 586 mốc tiểu (cắm thêm làm rõ đường biên).

Từ khi khởi động dự án đến nay, ngoài việc tập trung làm tốt công tác tổ chức lực lượng, ban hành các văn bản hướng dẫn, tập huấn, mua sắm trang thiết bị, công tác khảo sát song phương vị trí các mốc ngoài thực địa đã và đang được triển khai trên toàn tuyến.

Đến nay, đã hoàn thành đa số các mốc đại tại các cửa khẩu quốc tế như: số 605 Lao Bảo (Quảng Trị), 528 Cha Lo (Quảng Bình), 405 Nậm Cắn (Nghệ An), 327 Na Mèo (Thanh Hóa), 790 Bờ Y (Kon Tum), 645 Hồng Vân (Quảng Nam)... Đến cuối năm 2010, hai bên đã xác định được 237 vị trí cắm mốc và xây mới 290 mốc, hoàn thành kế hoạch đề ra.

Cuộc họp của Ủy ban Liên hợp cắm mốc biên giới Việt Nam-Lào được tổ chức ở Đà Nẵng đã nhất trí xác định: năm 2011 là năm bản lề của công tác tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam-Lào, theo đó thỏa thuận sẽ xác định và xây dựng 258 vị trí mốc, tiến tới hoàn thành xác định vị trí mốc tại thực địa trên toàn tuyến biên giới Việt Nam-Lào trong năm 2012.

Vượt qua những khó khăn, hoàn thành việc cắm mốc đúng tiến độ đề ra sẽ là một thành công lớn không chỉ đem lại ý nghĩa về mặt ngoại giao, kinh tế. Nó còn góp phần to lớn trong việc giữ gìn trật tự xã hội, giúp các lực lượng chức năng có thể kiểm soát dễ dàng các hoạt động biên mậu qua lại giữa hai nước Việt - Lào, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác.

TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI DỰ ÁN

Từ năm 2004, được sự đồng ý của hai Chính phủ, hai bên đã tiến hành xây dựng kế hoạch tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới nhằm làm rõ hơn đường biên giới, đảm bảo mốc biên giới kiên cố, vững chắc và nhất là để hoàn thiện hồ sơ pháp lý về đường biên giới giữa 2 nước, phù hợp với bộ bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000 lập năm 2003.

Trên cơ sở tôn trọng kết quả vấn đề biên giới đã phân giới cắm mốc trên thực địa, hai bên cùng nhau phối hợp thực hiện "Dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới giữa hai nước Việt-Lào". Dự án được hai bên triển khai tích cực trên 10 cặp tỉnh biên giới Việt Nam- Lào, mục tiêu sẽ hoàn thành việc cắm mốc trên thực địa vào năm 2012, và kết thúc dự án vào năm 2014.

Chiếu dài tuyến biên giới Việt-Lào là 2.403,7 km đi qua 10 tỉnh của Việt Nam và 10 tỉnh của Lào.

Điện Biên có 360 km đường biên giới chung với hai tỉnh Phong Sa Lỳ và Luông Pra- băng của nước bạn Lào. Trước đây, trên đoạn biên giới này chỉ có 21 cột mốc. Dự án tôn tạo và tăng dày cột mốc trên tuyến biên giới Việt-Lào đi qua tỉnh Điện Biên phấn đấu tăng dày thêm 135 cột mốc (nhằm đạt tần suất trung bình cứ 2 km đường biên giới có 1 cột mốc), trong đó, đoạn tiếp giáp với tỉnh Phong Sa Lỳ có 131 cột mốc, và đoạn tiếp giáp với tỉnh Luông Pra-băng có 25 cột mốc.

Sơn La có 250 km đường biên giới chung với 2 tỉnh Luông-Prabăng và Hủa Phăn đã có từ trước 24 cột mốc giới. Dự án tôn tạo và tăng dày cột mốc biên giới giữa hai nước Việt-Lào, đoạn biên giới Sơn La với Lào, bổ sung thêm 101 mốc để nâng tổng số cột mốc giới lên 125 mốc, trong đó 7 mốc giới giáp với tỉnh Luông-Prabăng và 118 mốc giáp với tỉnh Hủa Phăn, trong đó, tôn tạo 2 mốc đại và 2 mốc trung, tăng dày (bổ sung thêm) 1 mốc trung và 100 mốc tiểu. Sau khi hoàn thành, trung bình cứ 2 km đường biên sẽ có một cột mốc (đoạn qua Sơn La). Các khu vực đường biên giới đi qua hầu hết ở xa khu dân cư, lại núi cao, khe sâu, không có đường ô tô, nên việc PGCM chỉ thực hiện được trong mấy tháng mùa khô.
Sau hơn một năm triển khai, đến 6/2010, đoạn biên giới giữa hai tỉnh Sơn La-Luông Pra-băng với chiều dài 32 km, đã hoàn thành xây dựng và bàn giao 7 mốc cho các cơ quan chức năng của hai tỉnh quản lý và bảo vệ. Như vậy, Sơn La và Luông Pra-băng là cặp tỉnh đầu tiên hoàn thành công tác tăng dày, tôn tạo mốc giới trên tuyến biên giới Việt Nam-Lào.
Tính đến 7/2011, trên đoạn biên giới tiếp giáp với tỉnh Hủa Phăn, đã hoàn thành 44 cột mốc cắm mới.

Thanh Hóa có 192 km đường biên giới giáp với tỉnh Hủa Phăn, chạy qua các huyện: Mường Lát, Quan Hóa, Quan Sơn, Lang Chánh và Thường Xuân. Trên đường biên giới này hiện có cửa khẩu quốc tế Na Mèo - Nậm Xôi (nằm trên địa bàn xã Na Mèo, huyện Quan Sơn) và cửa khẩu quốc gia Tén Tằn - Xôm Vẳng (nằm trên địa bàn xã Tén Tằn, huyện Mường Lát). Ngoài ra, còn có các cửa khẩu phụ tại hai huyện Thường Xuân và Lang Chánh. Sáng 15/5/2009, tại cửa khẩu Tén Tằn, xã Tén Tằn, huyện biên giới Mường Lát (Thanh Hóa), chính quyền hai tỉnh Thanh Hóa (Việt Nam) và Hủa Phăn (nước bạn Lào) - tỉnh kết nghĩa với Thanh Hóa - đã tổ chức lễ khởi công xây dựng cột mốc đầu tiên trên tuyến biên giới Việt - Lào đi qua hai tỉnh này. Đây là cột mốc mang mã số G-5 (mốc thứ 5 của đoạn G), nay theo cách mã số mới gọi là cột mốc đại 281, giáp với bản Xôm Vẳng, huyện Xốp Pâu (tỉnh Hủa Phăn).

Nghệ An có 419 km đường biên giới với 3 tỉnh của nước bạn Lào là Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, và Bô-ly Khăm-xay, dự kiến, sau khi tôn tạo và tăng dày sẽ có tổng cộng 237 cột mốc. Ngày 22/10/2009, tại cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn (huyện Kỳ Sơn, Nghệ An) đã diễn ra Lễ khánh thành cột mốc quốc giới Việt Nam - Lào mã số 405, là cột mốc đầu tiên được tôn tạo tại Nghệ An. Cột mốc được hoàn thành theo thiết kế mốc đôi được Bộ Xây dựng Việt Nam phê duyệt, đảm bảo kiên cố, vững chắc, có kiến trúc trang nghiêm, chính quy, thống nhất. Cột mốc được làm bằng đá hoa cương nguyên khối, nặng 950 kg, xung quanh có hệ thống tường bao trang trọng.

Tuyến biên giới giữa hai tỉnh Hà Tĩnh và Bô-ly Khăm-xay (Lào) dài 145 km, có tổng cộng 24 mốc giới (1 mốc đại, 3 mốc trung và 20 mốc tiểu), trong đó, mốc đại mang mã số 476 cao 1,6 mét, nặng 1 tấn, làm bằng đá hoa cương nguyên khối, trên mỗi mặt quay về phía Việt Nam và Lào có gắn quốc huy hai nước, số hiệu mốc và năm xây dựng. Mốc được đặt tại vị trí giữa cửa khẩu quốc tế Cầu Treo (thuộc xã Sơn Kim 1, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam) và Nậm Phào (bản Tơng, huyện Cam Cót, tỉnh Bô-ly Khăm-xay, Lào), nằm bên cạnh quốc lộ 8A - tuyến đường có vị trí chiến lược quan trọng về phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh hai nước Việt Nam-Lào.

Quảng Bình tiếp giáp với hai tỉnh Khăm Muộn và Sa-vẳn-nà-khẹt trên một chiều dài 201 km biên giới, phải đảm nhiệm việc tôn tạo, tăng dày 61 mốc trên tuyến biên giới Việt- Lào qua tỉnh. Đến tháng 5/2011, Quảng Bình đã hoàn thành đầy đủ 9 mốc giáp với Sa-vẳn-nà-khẹt, và hoàn thành 34 trên tổng số 52 mốc tiếp giáp với Khăm Muộn.

Quảng Trị đảm nhiệm xây dựng 35 mốc tiếp giáp với Sa-vẳn-nà-khẹt. Đây là tỉnh đầu tiên trong 10 tỉnh có chung đường biên giới với Lào được chọn triển khai thí điểm công tác cắm mốc quốc giới. Sau hơn 2 năm nỗ lực triển khai thực hiện, đến 5/2011, đã hoàn thành được 31 mốc.
Ngày 16/5/2011, lễ khánh thành mốc quốc giới - mốc đại 635 (nguyên là mốc R-16) được hai tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) và Sa-ra-vẳn (Lào) được tổ chức long trọng tại Cửa khẩu quốc gia La Lay (Quảng Trị) - La Lay (Sa-ra-vẳn). Mốc này được khởi công xây dựng ngày 3-9-2010. Trước đây, mốc được đúc bằng bê tông, là một trong 16 mốc đại trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Lào và là mốc đại duy nhất giữa hai tỉnh Quảng Trị và Sa-ra-vẳn.

Thừa Thiên - Huế có chung đường biên giới giữa tỉnh với hai tỉnh Sa-ra-vẳn và Sê-kông của nước bạn Lào là 84 km, với tổng số mốc tôn tạo và tăng dày dự kiến là 38 cột mốc, nằm trên địa bàn rừng núi có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, dân cư thưa thớt, dọc tuyến biên giới còn nhiều bom mìn, vật cản nổ do chiến tranh để lại. Đoạn biên giới giữa Thừa Thiên Huế với Sa-ra-vẳn có chiều dài 21 km, số mốc tôn tạo và tăng dày là 12. Đoạn biên giới tiếp giáp với tỉnh Sê-kông có chiều dài 63 km, số mốc tôn tạo và tăng dày là 26, trong đó, có 1 mốc đại, 7 mốc trung, 18 mốc tiểu, trung bình khoảng 2,15 km cắm 1 mốc.

Ngày 10/11/2009, lãnh đạo hai tỉnh Thừa Thiên-Huế và Sê-kông đã tổ chức lễ khởi công xây dựng cột mốc đại 666 tại cửa khẩu quốc tế A Đớt - Tà Vàng trên quốc lộ 74 từ Việt Nam qua Lào và đến các tỉnh vùng Đông bắc Thái Lan. Sau 6 tháng triển khai, trong điều kiện địa hình hiểm trở, thời tiết phức tạp, khắc nghiệt, đến ngày 18/5/2010, công trình đã hoàn thành đảm bảo về quy cách, chất lượng và mỹ thuật, tạo ra một không gian uy nghi và sinh động. Việc thiết kế, xây dựng mốc đại 666 tuân thủ theo quy định chung. Phần thân cột mốc được thiết kế thống nhất với hình dáng, kích thước, màu sắc, vật liệu bằng đá hoa cương nguyên khối do Bộ Xây dựng Việt Nam trực tiếp sản xuất, trọng lượng khoảng 950 kg. Phần nền, móng và bệ mốc bố trí trong khuôn viên cảnh quan đẹp, phù hợp với vị trí xây dựng cột mốc ở cửa khẩu chính cửa khẩu quốc tế, bảo đảm sau khi xây dựng xong sẽ tồn tại vĩnh cửu.

Đến cuối tháng 6/2011, tỉnh Thừa Thiên-Huế đã hoàn thành việc tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc giới Việt Nam - Lào đi qua địa bàn, vượt trước kế hoạch gần 2 năm. Riêng 6 tháng đầu năm 2011, trên tuyến biên giới Việt - Lào thuộc địa bàn Thừa Thiên-Huế vẫn còn tồn tại 5 cột mốc chưa xây dựng xong, bao gồm 2 cột mốc trung, 3 cột mốc tiểu và 3 cặp cọc dấu đôi. Đội cắm mốc tỉnh Thừa Thiên - Huế và Đội cắm mốc hai tỉnh Sa-ra-vẳn và Sê-kông đã phối hợp nhịp nhàng trong việc khảo sát thực địa và thống nhất vẽ sơ đồ các vị trí cắm mốc, kể cả bổ sung vị trí cọc dấu đôi dọc sông A Lin và khắc phục mọi khó khăn để thi công trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt dọc tuyến biên giới. Đến ngày 30/6/2011, toàn bộ 5 cột mốc 654, 655, 656, 664 và 675 đều được xây dựng hoàn chỉnh. Công việc tiếp theo là các đơn vị liên quan của hai bên sẽ triển khai xây dựng kè bảo vệ các cột mốc 639, 664 và 658; đẩy mạnh việc tuyên truyền về kết quả công tác cắm mốc phân giới; đồng thời hoàn chỉnh cơ sở pháp lý kết quả tôn tạo, tăng dày hệ thống mốc quốc giới, bàn giao cho lực lượng biên phòng hai bên quản lý.

Đoạn biên giới giữa hai tỉnh Quảng Nam và Sê-kông có chiều dài 142 km, được triển khai cắm 60 mốc (1 mốc đại, 17 mốc trung, 42 mốc tiểu). Sáng 16-12-2009, tỉnh Quảng Nam phối hợp với tỉnh Sê-kông tổ chức khánh thành cột mốc đại mang mã số 717 tại cửa khẩu Nam Giang (Quảng Nam) - Đắc Tà Oọc (Sê-kông). Cột mốc được làm bằng đá hoa cương nguyên khối, cao 2,1 mét.

Đội liên hợp cắm mốc Quảng Nam và Sê-kông đã khảo sát song phương xác định vị trí của 44 vị trí cắm mốc; tổ chức rà phá bom mìn tại 19 vị trí mốc (từ vị trí mốc 687 đến 693 và từ vị trí mốc 703 đến 714) và trên các tuyến đường công vụ dài 83 km đảm bảo an toàn cho việc triển khai thi công. Các đơn vị thi công đã khảo sát xác định được 180,97 km đường công vụ và mở được 134,769 km đến 24 cột mốc. Đến ngày 18/5/2011, Quảng Nam đã xây dựng xong 28 trong tổng số 60 cột mốc.

Kon Tum và Attapư có chung đường biên giới dài khoảng 58 km và xác định 28 vị trí mốc.

MỐC NGÃ BA BIÊN GIỚI

Đây là cột mốc cuối cùng trên đường biên giới giữa nước Việt Nam và Lào, đồng thời cũng là cột mốc đầu tiên trên đường biên giới giữa Việt Nam và Campuchia.

Cột mốc biên giới Việt Nam-Lào-Campuchia thiết kế theo hình tam giác, có khuôn viên rộng trên 700 m2, được xây dựng tại ngã ba Đông Dương với chất liệu đá hoa cương và có gắn hình Quốc huy của mỗi nước.

Ngày 18/01/2008, tại xã Bờ Y - huyện Ngọc Hồi - tỉnh Kon Tum đã diễn ra lễ khánh thành cột mốc ngã ba biên giới Việt Nam - Campuchia - Lào. Tham dự buổi lễ có Đại diện Chính phủ và các Bộ, ngành và địa phương của ba nước.



Lễ khánh thành cột mốc ở Ngã ba Đông Dương



Cột mốc nhìn từ phía Việt Nam



Cột mốc nhìn từ phía Lào



Cột mốc nhìn từ phía Căm-pu-chia


Việc cắm cột mốc ngã ba biên giới có ý nghĩa vô cùng to lớn thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Ta trong việc xây dựng đường biên giới giữa nước Ta với các nước láng giềng trở thành đường biên giới hoà bình, góp phần nâng cao tinh thần hiểu biết, củng cố sự tin cậy, tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc, tạo điều kiện xây dựng và phát triển kinh tế, củng cố an ninh quốc phòng vì sự phát triển thịnh vượng của mỗi nước. Việc cắm mốc ngã ba còn tạo điều kiện thúc đẩy xây dựng khu tam giác phát triển của cả ba nước và khu vực Tây Nguyên của nước ta.

Cột mốc ngã ba biên giới được đặt trên đỉnh núi có độ cao 1.086 m với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ của núi rừng Tây nguyên, từ nay nó sẽ trở thành biểu tượng của tình đoàn kết và sự hợp tác của ba dân tộc trên bán đảo Đông dương, là địa điểm tham quan du lịch hấp dẫn trong tương lai.

Để phục vụ cho việc cắm cột mốc lịch sử này, các cán bộ kỹ thuật đo đạc bản đồ Việt Nam cùng cán bộ kỹ thuật đo đạc bản đồ Campuchia và Lào tổ chức khảo sát, xác định chính xác vị trí mốc trên thực địa; tổ chức giám sát xây cột mốc, đo đạc xác định toạ độ, lập hồ sơ và biên bản ghi nhận vị trí mốc trên thực địa.


MỘT VÀI HÌNH ẢNH




Đón mừng mốc quốc giới



Bảo dưỡng mốc quốc giới



Chỉnh trang mốc quốc giới



Khảo sát mốc cũ, chuẩn bị cho công tác tôn tạo



Cuộc họp thường niên lần thứ 17 tại Huế



Hội đàm giữa lãnh đạo hai tỉnh biên giới



Lễ khánh thành cột mốc 645 ở cửa khẩu Hồng Vân (Quảng Nam)



Lễ khánh thành cột mốc 790 ở cửa khẩu Bờ Y (Kon Tum)



Lễ khánh thành cột mốc 476



Cửa khẩu quốc tế Tây Trang (Điện Biên)



Cọt mốc tại Cửa khẩu quốc tế Tây Trang trước khi tôn tạo (có hàng cọc bê tông để ngăn chặn trâu bò vào phá phách)



Cột mốc tại Cửa khẩu quốc tế Tây Trang (sau khi tôn tạo)



Cửa khẩu quốc tế Pa Háng (Sơn La)



Cửa khẩu quốc tế Na Mèo (Thanh Hóa)



Cột mốc tại Cửa khẩu quốc tế Na Mèo



Cột mốc tại Cửa khẩu quốc tế Na Mèo



Cầu Na Mèo



Cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn (Nghệ An)



Cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn



Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo (Hà Tĩnh)



Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo (Hà Tĩnh) - ban đêm



Cửa khẩu quốc tế Cha Lo (Quảng Bình)



Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo (Quảng Trị)



Ngày 5/9/2008, Phó Thủ tướng Việt Nam Phạm Gia Khiêm và Phó Thủ tướng Lào Xi-xu-lít đã dự lễ cắm cột mốc số 605 tại Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo- Đen-sa-vẳn, chính thức khởi động Dự án tôn tạo và tăng dày cột mốc biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Lào.



Tiếp đón khách đến dự Lễ khánh thành cột mốc 605



Cửa khẩu quốc tế Bờ Y (Kon Tum)



Đường lên Cửa khẩu quốc tế Bờ Y




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 13.08.2011, sửa lần 3
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 12.08.2011    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

VÀI NHẬN XÉT BÊN LỀ

- Thực ra, nếu kể cho đầy đủ, phải kể đến 6 văn kiện mà hai nước đã ký. Đó là:

....1. Thỏa thuận về việc hoạch định lại vùng biên giới ký ngày 10-2-1976
....2. Hiệp ước hoạch định biên giới giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHDCND Lào ký ngày 18-7-1977
....3. Hiệp ước bổ sung hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước ký ngày 24-1-1986 (ký buổi sáng)
....4. Hiệp định phân giới và cắm mốc giữa hai nước ký ngày 24-1-1986 (ký buổi chiều)
....5. Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia ký ngày 1-3-1990
....6. Nghị định thư sửa đổi và bổ sung Hiệp định về Quy chế biên giới quốc gia

- Bản đồ thời Minh Mạng cho thấy diện tích nước Đại Nam không hề nhỏ.

- Không ngờ, bản Hiệp ước được đánh máy trông "thô sơ" quá.

- Chữ ký nháy của bác Lưu Văn Lợi ở bản Hiệp ước "ngắn gọn" hơn so với chữ ký chính thức trên Phụ lục.

- Ngày xưa, thấy ghi là cửa khẩu Tây Chang (bây giờ là Tây Trang)

- Cửa khẩu Cầu Treo là tên bây giờ, tên ngày xưa là Keo Nưa.

- Nguyên tắc hoạch định biên giới quốc gia được hai bên nhất trí là dựa vào bộ bản đồ Đông Dương tỷ lệ 1/100.000, do Sở Địa Dư Đông Dương (Service Géographique de l’Indochine) của Pháp xuất bản năm 1945 gồm 48 mảnh, mô tả chi tiết từ tỉnh Lai Châu đến tỉnh Gia Lai-Kontum (phía Việt Nam) và từ tỉnh Phong Sa Ly đến tỉnh Attopeu (phía Lào). Nơi nào không có trong bản đồ thì hai bên thống nhất dùng bản đồ có cùng tỷ lệ 1/100.000, phát hành gần năm 1945 nhất để xem xét.

Trong số 48 mảnh bản đồ kể trên, do các đội đo đạc trắc địa của Pháp dày công thiết lập trong suốt thời gian từ 1905 đến 1945, Sở Địa Dư Đông Dương chỉ công bố 25 mảnh, 23 mảnh còn lại chưa được công bố, vì chưa hoàn tất. Để bổ túc sự thiếu sót này, cả hai bên sử dụng những họa đồ vẽ theo không ảnh của Sở Địa Dư Đông Dương chụp trong thập niên 1950. Việt Nam sử dụng những mảnh bản đồ đã được dịch ra tiếng Việt, có đối chiếu với những ấn bản khác do Sở Địa Dư Đông Dương (Pháp), chính quyền Việt Nam Cộng hòa (cũ), và Hoa Kỳ phát hành (ví dụ, các bản đồ phục vụ mục đích quân sự). Nguyên tắc làm việc là phải đạt được sự nhất trí 100%. Nơi nào thấy cần phải điều chỉnh lại đường biên giới, hay nơi nào đường biên giới chưa thực sự rõ ràng, hoặc chưa được vẽ trên bản đồ của Sở Địa Dư Đông Dương, thì phải có sự đồng thuận hoàn toàn của cả hai bên.

- Sự phân bổ các cột mốc quốc giới được tổ chức như sau :
+ Đoạn A dài 98 km, giữa Lai Châu và Phong Sa Ly, 7 mốc ;
+ Đoạn B dài 192 km, giữa Lai Châu và Phong Sa Ly, 12 mốc ;
+ Đoạn C dài 102 km giữa Lai Châu, Sơn La và Phong Sa Ly, Luông Pră-băng, 9 mốc ;
+ Đoạn D dài 95 km giữa Sơn La và Hủa Phăn, 10 mốc ;
+ Đoạn E dài 97 km giữa Sơn La và Hủa Phăn, 9 mốc ;
+ Đoạn G dài 131 km giữa Sơn La, Thanh Hóa và Hủa Phăn, 12 mốc ;
+ Đoạn H dài 87 km giữa Thanh Hóa và Hủa Phăn, 8 mốc ;
+ Đoạn I dài 110 km giữa Thanh Hóa và Hủa Phăn, 8 mốc ;
+ Đoạn K dài 74 km giữa Thanh Hóa và Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, 6 mốc ;
+ Đoạn L dài 90 km giữa Nghệ An, Hà Tĩnh và Xiêng Khoảng, 10 mốc ;
+ Đoạn M dài 180 km giữa Nghệ An, Hà Tĩnh và Boli Khamsay, 14 mốc ;
+ Đoạn N dài 155 km giữa Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Boli Khamsay, Kham Muon, 13 mốc;
+ Đoạn O dài 65 km giữa Quảng Bình và Khăm Muộn, 4 mốc ;
+ Đoạn P dài 56 km giữa Quảng Trị và Khăm Muộn, 5 mốc ;
+ Đoạn Q dài 64 km giữa Quảng Trị và Sa-vẳn-nà-khẹt, 17 mốc ;
+ Đoạn R dài 128 km giữa Quảng Trị và Sa-vẳn-nà-khẹt, 15 mốc ;
+ Đoạn S dài 78 km giữa Thừa Thiên-Huế và Sa-la-vẳn, Sê-kông, 11 mốc ;
+ Đoạn T dài 208 km giữa Quảng Nam, Kon Tum và Sê-kông, 27 mốc ;
+ Đoạn U dài 57 km giữa Kon Tum và Attopeu, 6 mốc.

- Tại địa điểm cắm mốc, mặt hướng về lãnh thổ Lào ghi chữ Lào và mặt hướng về lãnh thổ Việt Nam ghi chữ Việt Nam. Trên mỗi mặt còn ghi thêm số thứ tự của đoạn, số thứ tự của cột từ Bắc xuống Nam và năm cắm mốc. Đoạn R là đoạn khó khăn phức tạp nhất.

Quá trình đàm phán đường biên giới quốc gia không hề dễ dàng.

- Từ tháng 3/1976, Ủy ban hoạch định đường biên giới của hai nước đã so sánh và trao đổi với nhau về những sự khác biệt trên những bản đồ. Khi tìm thấy có những khác biệt, hai bên tiến hành đo đạc trên thực địa. Tiến trình đàm phán diễn ra như sau :
+ Trong 10 ngày, từ ngày 12 đến 21/7/1976, hai bên thảo luận về đường biên giới phía Bắc, từ vùng giáp ranh biên giới với Trung Quốc đến phía bắc Hương Lạp (gần Sê-pôn, phía tây sông Bến Hải, Quảng Trị).
+ Cuối tháng 8/1976, hai bên thảo luận về đường biên giới từ bắc Hương Lạp đến ngã ba Đông Dương (tức là điểm giáp ranh giữa ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia), trừ khu vực Đắc G'lây, thuộc tỉnh Kon Tum.
+ Trong 2 tháng, từ ngày 11/10 đến 11/12/1976, hai bên thảo luận về đường biên giới ở khu vực Đắc G'lây.

- Trong 2 tháng, từ tháng 1 đến tháng 3/1977, Ủy ban hoạch định đường biên giới hai nước soạn thảo nội dung bản dự thảo Hiệp ước hoạch định đường biên giới quốc gia. Tổng cộng, trên một tuyến đường biên giới với chiều dài 2.067 km, có 27 khu vực đất đai đã được điều chỉnh (tổng diện tích điều chỉnh là 4.122 km2), phần lớn ở khu vực giáp ranh giữa các tỉnh Thanh Hóa của Việt Nam và Hủa Phăn của Lào.

Những khu vực có điều chỉnh như sau: Na Luông : 52 km2, Pu Tông : 21 km2, Chiêng Khương : 2 km2, Pu Tamê : 3 km2, Pa Khamnoi : 14 km2, Piêng Kay : 3 km2, Pha Luông : 42 km2, Mường Lát : 68 km2, Nọng Tàu : 7 km2, Nậm Sim : 48 km2, Na Hàm : 53 km2, Na Mèo : 116 km2, Văng Ang Ngước : 86 km2, Pa Hốc : 2 km2, Piêng Tần : 3 km2, Sốp Pẻn : 60 km2, Huổi Pa : 3 km2, Keng Đu : 78 km2, Phasong Kaloc : 235 km2, Hương Lạp : 461 km2, Xa Mơi : 580 km2, Tà Ôi : 292 km2, Hương Sơn : 758 km2, Ba Lê : 75 km2, Dak Pre : 50 km2, Dak Lay : 725 km2 và Dak Tô : 285 km2.

- Tuy vậy, dựa theo 13 họa đồ điều chỉnh, tổ đo đạc trên thực địa đã làm việc từ tháng 3/1977 đến tháng 7/1977 và đề xuất phân chia lại 716 km2 cho hai bên.

- Ngày 18/7/1977, tại Viêng Chăn, hai nước chính thức ký Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia. Bản Hiệp ước có hiệu lực từ ngày 31/7/1977.



..............................Bản đồ Đông Dương năm 1885




VIDEO: HỢP TÁC BIÊN GIỚI VIỆT NAM VÀ LÀO

http://vtv.vn/video/nui-song-bo-coi-hop-tac-bien-gioi-viet-nam-va-lao-131809.htm


*****


Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 24.04.2017, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 15.08.2011    Tiêu đề: Re: Cột mốc biên cương Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Biên giới trên đất liền của Việt Nam

Biên giới Việt Nam- Cămpuchia

So với biên giới Việt Nam- Lào, đường biên giới trên đất liền Việt Nam– Cămpuchia có vẻ ngắn hơn, song giữa hai nước còn có đường biên giới trên biển. Mặc dầu, những đường biên giới này "đều cùng một mẹ đẻ ra", hình thành từ thời kỳ người Pháp thiết lập Liên bang Đông Dương, và họ gắng công ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến (thời đó) để vạch đường biên giới giữa Liên bang với các quốc gia xung quanh, cũng như vạch đường ranh giới giữa các quốc gia thành viên của Liên bang với nhau.

Song, không phải ai cũng dễ dãi bằng lòng với đường biên giới đó.

* * *

Tháng 4-1975. Khi những đoàn quân ào ạt tiến về giải phóng Sài Gòn, có một lực lượng đặc biệt được lệnh dừng lại ở Đà Nẵng để nhận nhiệm vụ trên mặt trận biển Đông.

Ấy là nhiệm vụ giải phóng quần đảo Trường Sa.

35 năm sau, những tư liệu lịch sử đã cho thấy tầm nhìn chiến lược về vị trí của Trường Sa đã được xác lập rõ ràng ngay trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Một tháng trước giải phóng, ngày 30-3-1975, Quân ủy Trung ương điện gửi các ông Chu Huy Mân, Võ Chí Công, nêu rõ: “Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Thường vụ giao Khu ủy và Bộ Tư lệnh B1 nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhất đánh chiếm các đảo hiện do quân chính quyền miền Nam đang chiếm đóng. Trong việc này, anh Nguyễn Bá Phát, phái viên của Bộ Tổng tham mưu, và các cán bộ hải quân đi cùng sẽ do Khu ủy và Quân khu ủy chỉ đạo để thực hiện kế hoạch”.

Mười ngày sau, một bức điện tối khẩn khác từ Quân ủy Trung ương điện cho Bí thư Khu ủy Khu 5 Võ Chí Công và Chính ủy chiến dịch Huế - Đà Nẵng Chu Huy Mân cùng Phó tư lệnh Hải quân Hoàng Hữu Thái: “Chỉ thị cho các lực lượng ta hành động kịp thời theo phương án đã định”.

Cùng ngày bức điện trên phát đi, từ Đồ Sơn (Hải Phòng), một biên đội gồm 3 tàu của đoàn tàu không số (Lữ đoàn 125) rời vùng biển Đông Bắc thẳng tiến vào cảng Tiên Sa, Đà Nẵng. Ấy là các tàu 673, 674, 675 mở hết tốc lực vượt biển để cập cảng Tiên Sa vào 21 giờ đêm 10-4-1975.

Vừa đến cảng Tiên Sa, ngay lập tức cả 3 tàu cấp tốc nhận nhiệm vụ chở quân đi giải phóng quần đảo Trường Sa, gồm: đội 1 của đoàn 126 đặc công nước, cùng một lực lượng đặc công cạn của sư đoàn 2 - Quân khu 5 phối thuộc. Chỉ huy cả hai lực lượng này là Lữ đoàn trưởng đặc công nước Mai Năng. Từ cảng Tiên Sa, trong đêm tối, cả ba tàu 673, 674 và 675 được ngụy trang thành tàu đánh cá mang cờ hiệu nước ngoài.

4 giờ sáng 11-4, ba con tàu “đánh cá” với mật danh “Biên đội C75” đè sóng thẳng hướng ra Trường Sa.

Đảo Song Tử Tây được xác định là đảo đầu tiên mở màn cho chiến dịch trên biển. Đây cũng là thời điểm các cánh quân của ta đang chuẩn bị nổ súng trên mặt trận Phan Rang - Xuân Lộc - Tây Ninh.

Tàu chở lực lượng đi đánh Trường Sa vốn là những chiếc tàu từng vận tải vũ khí cho chiến trường miền Nam. Tàu trang bị rất thô sơ. Ngày ấy, tàu không có các phương tiện khí tài dẫn đường hiện đại như rađa, máy định vị, đo sâu... như bây giờ. Trên tàu chỉ có một la bàn từ, một đồng hồ thiên văn và bộ “bầu trời sao” để định hướng theo sao trời. Dù cả ba thuyền trưởng của biên đội C75 từng có nhiều kinh nghiệm trong những chuyến vận chuyển vũ khí trên “tàu không số”, nhiều lần đi qua vùng biển này, nhìn thấy các đảo, nhưng ban đêm rất khó phát hiện mục tiêu.

Để đưa được toàn bộ lực lượng tiếp cận chính xác các đảo ở Trường Sa là chuyện không dễ dàng, dù với lực lượng đặc công nước tinh nhuệ của đoàn 126 và đặc công sư đoàn 2 lừng lẫy của Quân khu 5.

Khi các tàu của ta đang hành quân trên biển thì trên trời máy bay quần đảo. Dù bộ đội đặc công và vũ khí được giấu dưới khoang tàu, bên trên phủ lưới đánh cá, nhưng tình huống này không khỏi làm quân ta phải suy tính. Kế hoạch bị lộ rồi chăng ?.

Lúc này, các tàu được lệnh chuyển hướng di chuyển để đánh lạc hướng. Những người lính của biên đội C75 trong vai ngư dân vững vàng hướng tàu về vùng biển phía đảo Hải Nam (Trung Quốc) như lịch trình của một tàu đánh cá thông thường. Sau nhiều giờ ngó nghiêng, máy bay rút đi. Ngay lập tức, toàn biên đội tăng tốc hướng đến quần đảo Trường Sa.

Các tàu hành quân từ rạng sáng 11-4-1975 đến chiều 13-4-1975 thì ra tới vị trí triển khai tiếp cận đảo. Để giữ bí mật, tất cả đặc công có mặt trên tàu chỉ có thể giữ tư thế nằm ngửa suốt mấy ngày hành quân. Tuy đói, nhưng chẳng ai ăn uống được gì nhiều.

Khoảng 1 giờ sáng 14-4-1975, đội 1 đặc công chia làm ba mũi lặng lẽ rời tàu 673, dùng xuồng đổ bộ lên đảo. Các tàu 674 và 675 làm nhiệm vụ án ngữ phía bên ngoài. Lúc này, Song Tử Tây trong màn đêm là một khối thẫm màu, thỉnh thoảng có vài ánh đèn tuần tra trên đảo lúc tắt lúc sáng.
Có hai mũi đổ bộ an toàn. Mũi còn lại không thể tiếp cận đảo, do sóng quá to. Hơn một giờ sau, mũi tiến công gặp sự cố mới bám được vào đảo. Đến 5 giờ 30 sáng 14-4-1975, binh sĩ Sài Gòn trên đảo Song Tử Tây đồng loạt đầu hàng. Lá cờ Tổ quốc được kéo lên. Người có vinh dự treo cờ Tổ quốc trên đảo Song Tử Tây là hạ sĩ Lê Xuân Phát, thuộc đội 1, Lữ đoàn đặc công 126.

Ngay sau khi giải phóng đảo Song Tử Tây, hệ thống phòng thủ ở toàn bộ quần đảo Trường Sa bị đe dọa. Cùng lúc này các lực lượng của Lữ đoàn đặc công nước 126 tiếp tục theo tàu đi giải phóng các đảo còn lại: Sinh Tồn, Nam Yết, Sơn Ca, An Bang và Trường Sa Lớn. Ngay hôm đó (14-4), tàu 675 chở quân của sư đoàn 2 Quân khu 5 kịp thời ra tiếp quản, thiết lập hệ thống phòng thủ bảo vệ đảo Song Tử Tây, rồi tiếp tục chở quân của Lữ 126 tiếp tục hành trình giải phóng quần đảo Trường Sa.

Trong hai ngày 18 và 19-4, Sở chỉ huy tiền phương của Quân chủng hải quân ở Đà Nẵng tổ chức rút kinh nghiệm việc giải phóng Song Tử Tây, đã đúc kết lại là: lợi dụng thế hợp pháp làm ăn của ngư dân, tàu của ta giả dạng thành tàu cá, ban ngày tiếp cận mục tiêu quan sát nắm tình hình đối phương, thăm dò phản ứng, lợi dụng đêm tối, bất ngờ, nhanh chóng dùng xuồng đổ bộ lên đảo, chia thành nhiều mũi đồng loạt tiến công. Trong cách đánh này, một mặt dựa vào yếu tố thủy triều để tiếp cận mục tiêu, mặt khác, dựa vào ánh trăng để quan sát đảo.

Rạng sáng 21-4-1975, tàu 641 nhằm hướng mục tiêu đảo Sơn Ca thẳng tiến. Cũng như các con tàu trong biên đội C75 đi đánh đảo Song Tử Tây, tàu 641 được cải trang thành tàu đánh cá và liên tục thay đổi biển số tàu. Theo kế hoạch dự kiến, tàu 641 sẽ tấn công đảo vào đêm 21-4, nhưng trên đường gặp nhiều tàu ngầm, tàu khu trục và máy bay Mỹ, nên cấp trên đồng ý cho lùi thời điểm tấn công. Đúng 2 giờ sáng 25-4, quân ta đổ bộ lên đảo Sơn Ca. Đến 2 giờ 30 phút, toàn bộ các mũi tiến công đồng loạt. Chỉ sau nửa giờ, cờ giải phóng đã tung bay trên đảo Sơn Ca.

Đêm 26-4, chỉ huy trưởng Mai Năng nhận được bức điện từ cấp trên với nội dung: “Đối phương đã có lệnh rút khỏi đảo Nam Yết đêm nay. Các anh quan sát, nếu địch không phát hiện thì tổ chức đánh từ phía sau, nếu không thực hiện được thì ngụy trang ở khu vực lân cận, chờ địch rút ra, cho lực lượng lên chiếm đảo”.

Ngày 27-4, ta giải phóng đảo Nam Yết và đảo Sinh Tồn.

Ngày 28-4, ta giải phóng đảo Trường Sa, đảo An Bang.

Có một câu chuyện mà đến 35 năm sau, Thiếu tướng Mai Năng mới kể lại bên giường bệnh. Một lần, sau khi giải phóng một mục tiêu trong quần đảo Trường Sa, ông đã gặp và hỏi những binh sĩ Sài Gòn về lý do họ quyết định đầu hàng dù trước đó đã có sự chống trả. Câu trả lời thật sự khiến ông bất ngờ: “Sau khi đã nhận biết đối phương qua giọng nói, thì chúng tôi bình tĩnh hơn, vì lực lượng giải phóng đảo là quân đội miền Bắc, đều là đất nước Việt Nam cả!”. Câu nói đó, dù 35 năm đã trôi qua, vị tướng già vẫn không bao giờ quên được.

Cùng trong thời gian tiến hành đợt hoạt động chiến đấu giải phóng Trường Sa, lực lượng Hải quân đã phối hợp với các lực lượng chiến đấu khác giải phóng Cù lao Thu (Phú Quý), Cù lao Ré (Lý Sơn), Hòn Tre... và một đảo lớn thuộc tỉnh Ninh Thuận.

Vào ngày 27-4, trong lúc các cánh quân ta tiến vào giải phóng Bà Rịa, Vũng Tàu, ta đã điều lực lượng tàu chiến đấu vào làm chủ cảng Cam Ranh.

Ngày 29-4, phối hợp với các cánh quân đang xiết chặt đô thành Sài Gòn, các tàu chiến của ta cấp tốc hành quân vào làm chủ vùng biển Vũng Tàu.

Ngày 30-4, khi quân và dân ta tiến hành Tổng công kích và nổi dậy ở nội đô Sài Gòn, thì Hải quân được lệnh triển khai trên biển để ngăn chặn và truy bắt tàn quân địch chạy trốn.

Cũng trong ngày 30-4, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương điện cho Đảng ủy và Bộ tư lệnh Sài gòn chú trọng việc giải phóng và đưa anh em tù chính trị của ta ở Côn Đảo và Phú Quốc về đất liền.

Ngày 1-5, Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ cho lực lượng Hải quân tiến ra giải phóng Côn Đảo. Tuy nhiên, khi tàu của ta vẫn còn đang hành quân trên biển thì ở Côn Đảo, các chiến sĩ cách mạng đã nổi dậy diệt địch, giải phóng đảo. Hải quân và các lực lượng chiến đấu khác đã kịp thời chuyển sang làm nhiệm vụ truy bắt bọn tàn quân địch chạy trốn và phối hợp với các chiến sĩ cách mạng xây dựng chính quyền trên đảo.

Ở đảo Phú Quốc, khi nghe tin ngụy quân Sài Gòn đầu hàng cách mạng, nhân dân trong huyện đã kéo về thị trấn và hoàn toàn làm chủ huyện đảo trong ngày 30-4.

Ở các đảo khác thuộc vùng biển phía Nam, phối hợp với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên đất liền, nắm bắt thời cơ ngụy quyền Sài Gòn đầu hàng cách mạng, tổ chức Đảng các địa phương đã lãnh đạo nhân dân nổi dậy tiến công, giành quyền làm chủ đảo trong các ngày 30-4 và 1-5.

Tính đến ngày 1-5-1975, quân và dân ta đã giải phóng và làm chủ hầu hết các đảo và vùng biển phía Nam của Tổ quốc, trừ quần đảo Hoàng Sa do nước ngoài chiếm từ tay quân ngụy Sài Gòn trước đó, ngày 19-1-1974.

Một sự kiện làm ta bàng hoàng, không ngờ tới, là ngày 30-4 và 1-5, lực lượng vũ trang Cămpuchia tràn lên hai đảo Phú Quốc và Thổ Chu ra tay tàn sát dân lành.

Thời gian trôi đi. Năm 1977, khi quân đội Cămpuchia (cùng các cố vấn quân sự người Trung Quốc) xâm nhập sâu vào địa phận Việt Nam, nhiều người mới bắt đầu vỡ lẽ.

Năm 1979, sau khi giải quyết vấn đề ổn định biên giới tây nam, Việt Nam lập tức ký kết các Hiệp ước với Cămpuchia.

Tháng 5-1975, ta đã chủ động cử các phóng viên quân đội ra chụp ảnh ở quần đảo Trường Sa, tập trung vào những gì nêu bật chủ quyền của Việt Nam như cột mốc chủ quyền, cờ Việt Nam, bộ đội luyện tập. Nhờ vậy, chúng ta moíư có cơ hội chiêm ngưỡng các tấm ảnh dưới đây.




Ba con tàu trong Biên đội C75



Bên cột mốc chủ quyền ở đảo Song Tử Tây



Đảo Trường Sa Lớn



Niềm vui vô tận


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 16.08.2011    Tiêu đề: Re: Cột mốc biên cương Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Biên giới Việt Nam- Cămpuchia

Những người Cămpuchia tiếp nhận những thông tin lịch sử lệch lạc với trái tim hận thù dân tộc sẽ có những hành động đòi hỏi vô lý về lãnh thổ.

Sử cũ chép:


Năm 1671, một người Hoa tên Mạc Cửu (Mạc Kính Cửu), quê ở Lôi Châu tỉnh Quảng Đông, mang cả gia đình, binh sĩ và một số sĩ phu khoảng 400 người lên thuyền rời khỏi Phúc Kiến. Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển cả, phái đoàn Mạc Cửu đổ bộ lên một vùng đất hoang trong vịnh Thái Lan. Sau khi dò hỏi và biết vùng đất này thuộc ảnh hưởng Chân Lạp, phái đoàn liền tìm đường đến Oudong xin tị nạn, nhưng lúc đó, nội bộ Chân Lạp đang có loạn. Mạc Cửu gặp Nặc Ông Thu (Ang Sur, Jayajettha III) và ở lại hợp tác cho đến năm 1681.

1680, Mạc Cửu đã lập ấp rải rác từ Vũng Thơm, Trủng Kè, Cần Vọt, Rạch Giá, Cà Mau. Hà Tiên trở thành thương cảng quan trọng, thôn ấp định cư nằm sát mé biển, thuận tiện cho ghe thuyền tới lui, hoặc ở đất cao theo Giang Thành, sông Cái Lớn, sông Gành Hào, Ông Đốc để canh tác.

Ông lập ra 7 sòng bạc dọc bờ biển: Mán Khảm (hay Mang Khảm, Peam), Long Kỳ (Ream), Cần Bột (Kampot), Hương Úc (Kampong Som), Sài Mạt (Cheal Meas hay Banteay Meas), Linh Quỳnh (Kiri Vong) và Phú Quốc (Koh Tral). Thủ phủ đặt tại Mán Khảm, nghĩa là "cảng của người Mán", tức người Khơ-me, sau đổi thành Căn Khẩu (Căn Kháo hay Căn Cáo). Tiếng đồn vang xa, lưu dân gốc Hoa từ khắp nơi trong vịnh Thái Lan xin vào đây lập nghiệp, dần dần vùng đất này trở thành một lãnh địa phồn vinh với tên gọi mới: Căn Khẩu Quốc. Đảo Koh Tral cũng đổi tên thành Phú Quốc nghĩa là "vùng đất giàu có".

Năm 1708, Mạc Cửu liên lạc được với Chúa Nguyễn Phúc Chu.

Năm 1714, Mạc Cửu xin làm thuộc hạ của chúa Nguyễn và được phong chức Tổng binh cai trị đất Căn Khẩu.

Năm 1724, Mạc Cửu dâng luôn toàn bộ đất đai và được phong làm đô đốc cai trị lãnh thổ Căn Khẩu, đổi tên thành Long Hồ dinh.

Từ 1729, Long Hồ dinh nổi tiếng là vùng đất trù phú nhất vịnh Thái Lan.

Năm 1735, Mạc Cửu mất, con là Mạc Sĩ Lân, sau đổi thành Mạc Thiên Tứ (Mạc Thiên Tích), được phong làm Đô đốc, kế nghiệp cha cai trị Long Hồ dinh. Gia đình họ Mạc được Ninh vương Nguyễn Phúc Trú nâng lên hàng vương tôn. Long Hồ dinh đổi tên thành Hà Tiên trấn.

Năm 1739, Mạc Thiên Tứ lập thêm bốn huyện: Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (Cần Thơ) và Trấn Di (bắc Bạc Liêu).

Năm 1755, Nặc Nguyên nhờ Mạc Thiên Tứ dâng chúa Nguyễn lãnh thổ hai phủ Tầm Bôn (Cần Thơ) và Lôi Lập (Long Xuyên) để được về Nam Vang cai trị. Năm 1758, chúa Nguyễn đưa Nặc Tôn (Ang Ton II) lên làm vua, và được tặng thêm lãnh thổ Tầm Phong Long (Châu Đốc và Sa Đéc). Nặc Tôn tặng riêng Mạc Thiên Tứ lãnh thổ 5 phủ miền đông nam Chân Lạp là: Hương Úc (Kampong Som), Cần Bột (Kampot), Châu Sum (Chân Sum có thể là Trực Sâm), Chưng Rừm (Chhuk, nay thuộc tỉnh Kampot), Chân Sum cũng có thể là phủ Chân Sum (còn gọi là Chân Chiêm) nằm giữa Châu Đốc và Giang Thành, nay là vùng Bảy Núi - An Giang (nơi có núi Chân Sum), Sài Mạt (Cheal Meas hay Banteay Meas) và Linh Quỳnh (Kiri Vong). Năm phủ này là vùng duyên hải (ven bờ Vịnh Thái Lan) từ Srae Ambel tỉnh Koh Kong (tức Cổ Công, giáp với vùng người Thái (Xiêm La) kiểm soát) cho đến Mang Khảm (Peam), bờ đất liền đối diện phía đông bắc đảo Phú Quốc, đã được Mạc Thiên Tứ dâng hết cho Võ vương Nguyễn Phúc Khoát. Võ vương sát nhập tất cả các vùng đất mới vào trấn Hà Tiên, giao cho Mạc Thiên Tứ cai trị.


Nếu căn cứ vào đây để nói rằng, vùng đất Hà Tiên (và Nam Bộ sau này) là lãnh thổ Cămpuchia thì... vô lý đùng đùng.

Hãy tham khảo thêm một bài viết nhan đề "Chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ" của GS.TSKH Vũ Minh Giang, dẫu chưa đầy đủ hoàn toàn, song đã có phần "mở mang" hơn.


Từ lâu, Nam Bộ đã là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Vịêt Nam, nhưng do tính chất phức tạp của lịch sử, nên cho đến nay vấn đề chủ quyền lãnh thổ (territorial sovereignty) vẫn còn có những nhận thức chưa thật đầy đủ. Trên cơ sở trình bày một cách hệ thống diễn biến lịch sử và phân tích những yếu tố khẳng định tính chất chính đáng, phù hợp với thông lệ quốc tế của quá trình thụ đắc lãnh thổ phía nam của dân tộc ta, bài viết này hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học và nâng cao thêm hiểu biết về chủ quyền của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ.

Mặc dù những vướng mắc về biên giới giữa Việt Nam và Campuchia nhiều khi là những vấn đề cụ thể liên quan tới đường biên giới hiện tại, nhưng cội nguồn của những vướng mắc đó lại nảy sinh từ lịch sử, trong đó cơ bản nhất, sâu xa nhất là vấn đề lãnh thổ vùng Nam Bộ. Có một quan niệm cho rằng, vùng đất Nam Bộ từ xưa vốn là lãnh thổ của Campuchia. Lập luận chủ yếu (mà không chứng minh) của quan niệm này là đồng nhất nước Phù Nam ở trung tâm của vùng hạ lưu sông Mê Kông với nhà nước đầu tiên của người Khmer[1]. Trong một hội thảo về Bảo tồn di sản văn hoá tổ chức năm 1993 tại thành phố Nara (Nhật Bản), báo cáo chính thức của Campuchia do ông Vann Molivann, Bộ trưởng Quốc vụ khanh trình bày trước hội nghị cũng xếp văn minh Phù Nam vào nhóm “dạng thức đặc biệt của nhóm Khmer”[2]. Để giải quyết thoả đáng vấn đề này không thể không trở lại xem xét cụ thể nguồn gốc và diễn biến chủ quyền lãnh thổ đối với vùng đất này. Hiển nhiên, việc xem xét lịch sử chủ quyền phải bắt đầu từ nhà nước Phù Nam.

1. Vấn đề nước Phù Nam
Căn cứ vào những ghi chép trong các thư tịch cổ Trung Hoa, thì Phù Nam là một quốc gia nằm ở phía nam vương quốc Lâm Ấp (là tiền thân của vương quốc Chăm-pa) nghĩa là tương đương với đất Nam Bộ ngày nay[3]. Cũng dựa vào các thư tịch cổ, các nhà khoa học đã thống nhất nhận định rằng, vương quốc Phù Nam xuất hiện vào khoảng đầu Công nguyên và biến mất vào khoảng thế kỷ thứ VII [4]. Mùa xuân năm 1944, nhà khảo cổ học Pháp Louis Malleret đã tiến hành một cuộc khai quật có ý nghĩa lịch sử ở khu vực gần núi Ba Thê (nay thuộc địa phận xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang). Từ sau cuộc khai quật này, bắt đầu xuất hiện khái niệm văn hoá Ốc Eo, và một cách tự nhiên, các nhà khoa học dễ dàng đi tới nhận định rằng, vấn đề Phù Nam không thể tách rời vấn đề Ốc Eo. Hay nói cách khác, hoàn toàn có cơ sở khoa học, nếu đồng nhất những di vật thuộc văn hoá Ốc Eo là di tích văn hoá vật thể của nước Phù Nam. Vấn đề này đã được khắng định trong nhiều tác phẩm và hội thảo khoa học, đặc biệt là hội thảo về Văn hoá Ốc Eo - Phù Nam tổ chức năm 2004, nhân kỷ niệm 60 năm sự kiện phát hiện văn hoá ốc Eo. Các học giả cũng đã khẳng định, Ốc Eo là một nền văn hoá có nguồn gốc bản địa, ít ra là từ thời đại kim khí và trong thời kỳ cường thịnh nhất, Phù Nam đã phát triển thành một đế chế rộng lớn, bao gồm toàn bộ phần phía nam bán đảo Đông Dương (Nam Bộ của Việt Nam hiện nay, nước Campuchia, một phần Nam Lào), một phần Thái Lan và bán đảo Malắca, nhưng trung tâm vẫn là vùng đất Nam Bộ.

Một vấn đề có ý nghĩa quan trọng là xác định chủ nhân của văn hoá Ốc Eo. Trước đây, người ta thường nói mà không chứng minh rằng, chủ nhân nền văn hoá này là tổ tiên của người Khmer. Nhưng dưới ánh sáng của những nghiên cứu mới thì vấn đề không phải như vậy. Trước hết, tất cả những di tích thuộc văn hóa Ốc Eo có thể dễ dàng nhận thấy là khác biệt với văn hóa Khmer. Những dấu vết của Chân Lạp trên đất Nam Bộ không thể hiện là sự phát triển liên tục của văn hóa Phù Nam[5]. Về phong tục tập quán, sử liệu Trung Hoa cũng cho biết rằng, tang lễ và hôn nhân của Phù Nam gần giống với Lâm Ấp.

Về mặt lịch sử, các tư liệu trong thư tịch cổ Trung Hoa cũng phân biệt rất rõ Phù Nam với Chân Lạp (quốc gia của người Khơ-me). Sử ký của nhà Tùy chép rằng, nước Chân Lạp ở về phía tây nam Lâm Ấp, nguyên là một chư hầu của Phù Nam. Vua nước ấy là Ksatriya Citrasena đã đánh chiếm và tiêu diệt Phù Nam [6]. Sử ký nhà Đường cũng chép: “Trong nước [Phù Nam] bấy giờ có thay đổi lớn. Nhà vua đóng đô ở thành Đặc Mục, thình lình bị nước Chân Lạp đánh chiếm, phải chạy trốn về miền nam, trú ở Na Phất Na”[7]. Những sự kiện được chép trên đây diễn ra vào đầu thế kỷ VII. Căn cứ vào sự kiện năm 627 vương quốc Phù Nam còn sang tiến cống nhà Đường lần cuối cùng, các học giả cho rằng, đó có thể coi đó là năm sớm nhất nước Phù Nam bị tiêu diệt[8].

Như vậy, Chân Lạp là một quốc gia xuất hiện ở vùng trung lưu sông Mê Kông, khu vực gần Biển Hồ, lấy nông nghiệp là nghề sống chính. Còn Phù Nam là một quốc gia ven biển có truyền thống hàng hải và thương nghiệp khá phát triển. Trong thời kỳ đế chế Phù Nam cường thịnh, đã có nhiều nước nhỏ thần phục với tư cách là những thuộc quốc hoặc chư hầu, trong đó có Chân Lạp. Vào đầu thế kỷ VII, nhân lúc Phù Nam suy yếu, Chân Lạp đã tấn công và chiếm lấy. Lãnh thổ Phù Nam về tay Chân Lạp do kết quả của những cuộc chiến tranh.

2. Vùng đất Nam Bộ dưới thời Chân Lạp
Sau khi chiếm được Phù Nam, vùng đất này được gọi là Thuỷ Chân Lạp[9]. Việc cai quản vùng lãnh thổ mới đối với (Lục) Chân Lạp hết sức khó khăn. Trước hết, đây là một vùng đồng bằng mới bồi lấp còn ngập nước và sình lầy, người Khmer với dân số ít ỏi chưa thể tổ chức khai thác trên quy mô lớn. Hơn nữa, việc khai khẩn đất đai trên lãnh thổ của Lục Châu Lạp cũng còn đang đòi hỏi rất nhiều thời gian và sức lực. Vào nửa sau thế kỷ thứ VIII, quân đội Srivijaya của người Java đã liên tục tiến công vào các quốc gia trên bán đảo Đông Dương. Kết cục là Thuỷ Chân Lạp bị quân Java xâm chiếm. Cả vương quốc Chân Lạp gần như bị lệ thuộc vào Srivijaya. Cục diện này mãi đến năm 802 mới kết thúc. Tuy nhiên, người Khmer lúc này muốn dồn sức phát triển các vùng trung tâm truyền thống của họ ở khu vực Biển Hồ, trung lưu sông Mê Kông và hướng nỗ lực bành trướng sang phía tây, vùng lưu vực sông Chao Phaya. Trong khoảng thời gian từ thế kỷ IX đến cuối thế kỷ XI, Chân Lạp trở thành một quốc gia cường thịnh, tạo dựng nên nền văn minh Angkor rực rỡ, đồng thời mở rộng lãnh thổ lên tận Nam Lào và trùm lên cả lưu vực sông Chao Phaya. Trong khi đó, qua các di tích khảo cổ học, dấu tích của văn hoá Khmer và văn minh Angkor ở vùng Đồng Nai - Gia Định hết sức mờ nhạt[10].

Do chiến tranh và phải tập trung công sức phát triển các trung tâm ở vùng lục địa, sau mấy thế kỷ thuộc Chân Lạp, đến thế kỷ XIII, theo Chu Đạt Quan, vùng đất Nam Bộ vẫn còn là một vùng đất hoang vu với những “bụi rậm của khu rừng thấp... tiếng chim hót và thú vật kêu vang dội khắp nơi… những cánh đồng bị bỏ hoang phế, không có một gốc cây nào. Xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ kê đầy dẫy, hàng trăm hàng ngàn con trâu rừng tụ họp thành từng bầy trong vùng này, tiếp đó là nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm…”[11].

Bắt đầu từ thế kỷ XIV, Chân Lạp phải đối phó với sự bành trướng của các vương triều Xiêm (Siam - Thái Lan) từ phía tây, đặc biệt là từ sau khi vương quốc Ayuthaya hình thành. Trong gần một thế kỷ, Chân Lạp liên tiếp phải đối phó với những cuộc tiến công của người Xiêm. Có thời kỳ, kinh thành Angkor đã bị quân đội Ayuthaya chiếm đóng.

3. Công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ
Từ thế kỷ XVI, do sự can thiệp của Xiêm, triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc và dần bước vào thời kỳ suy vong, hầu như không có điều kiện quan tâm đến vùng đất còn ngập nước ở phía đông và trên thực tế đã không đủ sức quản lý vùng đất này. Trong bối cảnh đó, nhiều cư dân Việt từ đất Thuận Quảng đã vào vùng Mô Xoài, Đồng Nai (miền Đông Nam Bộ) khai khẩn đất hoang, lập làng sinh sống.

Năm 1620, vua Chân Lạp Chey chetta II cưới con gái chúa Nguyễn Phúc Nguyên làm vợ. Đối với Chân Lạp, việc kết thân với chúa Nguyễn là để dựa vào lực lượng quân sự của xứ Đàng Trong lúc này đang rất mạnh nhằm làm giảm sức ép từ phía Xiêm. Với chúa Nguyễn, quan hệ hữu hảo này tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt, vốn đã có mặt từ trước, được tự do khai khẩn đất hoang và làm ăn sinh sống trên đất Thuỷ Chân Lạp và tăng cường ảnh hưởng của họ Nguyễn với triều đình Oudong.

Năm 1623, chúa Nguyễn chính tức yêu cầu triều đình Chân Lạp để cho dân Việt mở rộng địa bàn khai phá trên những vùng đất thưa dân và để quản lý, chúa Nguyễn lập ở Pray Kor (vùng Sài Gòn ngày nay) một trạm thu thuế. Vua Chân Lạp đã chấp thuận đề nghị này[12] . Vào thời điểm đó, cư dân Việt đã có mặt ở hầu khắp miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn.
Sau cái chết của Chey Chetta II vào năm 1628, nội bộ giới cầm quyền Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc. Nhiều cuộc chiến giữa các phe phái đã diễn ra với sự trợ giúp quân sự của một bên là quân Xiêm, một bên là quân Nguyễn. Những cuộc chiến ấy chẳng những không ảnh hưởng đến việc người Việt tiến hành khai phá những vùng đất hoang hóa ở đồng bằng sông Cửu Long, mà trái lại, còn tạo điều kiện thuận lợi cho chúa Nguyễn thiết lập quyền kiểm soát chính thức của mình trên những vùng đất cư dân Việt đã dựng nghiệp. Trong thời kỳ này, sự thần phục của các nhóm di thần nhà Minh góp phần đã đẩy nhanh quá trình xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn trên lãnh thổ Nam Bộ. Từ năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần đã tạo điều kiện để nhóm Dương Ngạn Địch cùng nha môn, quân sĩ vùng Quảng Tây tổ chức việc khai phá và phát triển kinh tế vùng lưu vực sông Tiền Giang (Mỹ Tho), cho nhóm Trần Thượng Xuyên và những đồng hương Quảng Đông của ông chiêu dân tiếp tục mở mang vùng Biên Hòa - Đồng Nai. Trong vòng gần 20 năm, một vùng đất trải dài từ Bà Rịa đến sông Tiền Giang, vốn đã được cư dân Việt đến sinh cư lập nghiệp từ trước, nhanh chóng trở thành những trung tâm kinh tế quan trọng với nhiều làng mạc trù phú, phố phường sầm uất, hải cảng nhộn nhịp có thuyền buôn Trung Hoa, Nhật Bản, Tây Dương (châu Âu), Bồ Bà (Java) tới buôn bán.
Trên cơ sở những đơn vị tụ cư đã trù mật những trung tâm kinh tế đã phát triển, năm 1698, chúa Nguyễn cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý vùng đất này và cho lập ra ở đây một đơn vị hành chính lớn là phủ Gia Định. Như vậy, vào cuối thế kỷ XVII, chúa Nguyễn đã xác lập được quyền lực của mình tại vùng trung tâm của Nam Bộ, khẳng định chủ quyền của người Việt trên vùng đất mà trên thực tế, chính quyền Chân Lạp chưa khi nào thực thi một cách đầy đủ chủ quyền của mình.

Sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là vào năm 1708, Mạc Cửu ở Hà Tiên xin quy phục chúa Nguyễn. Là một thương nhân Hoa kiều ở Lôi Châu, thường xuyên tới buôn bán ở vùng biển Đông Nam Á, Mạc Cửu đã sớm nhận ra vị trí địa lý thuận lợi của vùng đất Mang Khảm (sau đổi là Hà Tiên) nên đã lưu ngụ lại, chiêu mộ dân sửa sang bến thuyền, mở mang chợ búa, khai phá đất đai, biến một vùng đất còn hoang vu thành một nơi buôn bán sầm uất. Lúc đầu (vào khoảng năm 1680), Mạc Cửu đã từng xây dựng quan hệ thần phục với vua Chân Lạp, nhưng sau này, thế lực Chân Lạp suy giảm, không đủ sức bảo vệ cho công việc làm ăn của cư dân vùng đất này khỏi sự tiến công cướp bóc của người Xiêm, nên Mạc Cửu đã tìm đến chúa Nguyễn xin nội thuộc vào năm 1708. Năm 1757, khi đất Tầm Phong Long (tương đương với vùng tứ giác Long Xuyên) được vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng cho chúa Nguyễn để đền ơn cứu giúp trong lúc hoạn nạn và giành lại ngôi vua, quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ của người Việt trên đất Nam Bộ về cơ bản đã hoàn thành.

Từ quá trình lịch sử trên đây, không thể quan niệm một cách đơn giản rằng, chủ quyền của người Việt trên vùng đất Nam Bộ là do chiếm của Chân Lạp. Chứng cứ lịch sử cho thấy, quốc gia đầu tiên trên đất này là Phù Nam mà cư dân chủ yếu là người protomalais, đến đầu thế kỷ thứ VII mới bị Chân Lạp tiến công tiêu diệt. Tuy nhiên, Chân Lạp đã không có điều kiện để quản lý và khai thác vùng đất này. Sự sầm uất, trù phú của Nam Bộ là công lao khai phá của các nhóm cư dân chủ yếu là người Việt từ thế kỷ XVII. Chúa Nguyễn là người bảo hộ cho quá trình khai phá này và việc khẳng định quyền quản lý lãnh thổ là một hệ quả tự nhiên.

Quá trình thụ đắc vùng đất Nam Bộ của chúa Nguyễn chủ yếu thông qua khai phá hoà bình kết hợp với đàm phán ngoại giao để khẳng định chủ quyền. Đó là phương thức được thừa nhận là phù hợp với thông lệ lịch sử và các văn bản quốc tế hiện hành.

4. Thực thi và bảo vệ chủ quyền
Cùng với quá trình khai thác những vùng đất còn hoang vu ở Nam Bộ của cộng đồng cư dân, các chính quyền Đàng Trong đã liên tục thực hiện các chính sách quản lý lãnh thổ với tư cách là chủ nhân vùng đất này. Từ thế kỷ XVII, để thực thi chủ quyền, các chúa Nguyễn đã tổ chức các đơn vị hành chính, sắp đặt quan cai trị, lập sổ sách quản lý dân đinh, ruộng đất và định ra các loại thuế. Phủ Gia Định thành lập năm 1698 gồm hai dinh Trấn Biên (Biên Hoà) và Phiên Trấn (Gia Định) quản lý hơn 4 vạn hộ. Sau năm 1774, vùng đất từ nam Hoành Sơn đến mũi Cà Mau được chia làm 12 dinh, trong đó vùng đất Nam Bộ chia thành 4 dinh (Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ và Hà Tiên). Trừ Hà Tiên lúc đầu còn là một dinh phụ thuộc, mỗi dinh quản hạt một phủ, dưới phủ có huyện, tổng hay xã. Từ đó, về cơ bản tổ chức hành chính trên vùng đất Nam Bộ đã được kiện toàn.

Triều Nguyễn thành lập vào năm 1802 tiếp tục sự nghiệp của các chúa Nguyễn đã hoàn thiện hệ thống hành chính và thống nhất quản lý trên quy mô cả nước. Năm 1836, vua Minh Mạng cho lập sổ địa bạ toàn bộ Lục tỉnh Nam Kỳ. Bên cạnh chính sách chính trị, quân sự, triều đình khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội, mở mang phát triển các dinh điền, đồn điền, xây dựng các công trình thuỷ lợi, phát triển giao thông thuỷ bộ. Năm 1817 vua Gia Long cho đào kênh Thoại Hà. Vào đầu những năm 20, vua Minh Mạng giao cho đào kênh Vĩnh Tế nối Châu Đốc với Hà Tiên dài trên 70km.

Ngay từ khi mới khẳng định quyền quản lý, các chính quyền người Việt đã ý thức sâu sắc về trách nhiệm đối với chủ quyền lãnh thổ. Chính quyền các chúa Nguyễn đã từng kiên quyết đánh bại các cuộc tiến công xâm phạm lãnh thổ của quân Xiêm vào các năm 1715,1771... Tiêu biểu cho ý chí bảo vệ chủ quyền là cuộc kháng chiến chống Xiêm với chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút vang dội của Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy vào năm 1785. Sang thế kỷ XIX, các vua nhà Nguyễn đã cho xây dựng hệ thống các trường luỹ và đồn bảo trấn thủ dọc theo biên giới để bảo vệ lãnh thổ. Trong suốt nửa đầu thế kỷ XIX, cùng với xây dựng nước Đại Nam hùng cường, các vua Nguyễn đã bảo vệ vững chắc chủ quyền Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ.

Khi thực dân Pháp tấn công xâm lược, triều Nguyễn đã tổ chức kháng chiến chống lại. Đến khi triều đình tỏ rõ sự bất lực thì nhân dân Việt Nam đã không tiệc máu xương liên tục đứng lên đấu tranh anh dũng bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước của mình. Thắng lợi vẻ vang năm 1975 là đỉnh cao của quá trình chiến đấu hy sinh bền bỉ lâu dài vì lý tưởng cao đẹp đó.

5. Cơ sở pháp lý
Cơ sở pháp lý về chủ quyền của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ thể hiện ngay trong quá trình thụ đắc lãnh thổ, bắt đầu từ thế kỷ XVII. Từ giữa thế kỷ XIX, chủ quyền này được chính thức ghi nhận trong văn bản các Hiệp ước quốc tế. Tháng 12 năm 1845, ba nước An Nam (Việt Nam), Xiêm (Thái Lan) và Miên (Cămpuchia) đã ký một Hiệp ước, trong đó thừa nhận 6 tỉnh Nam Kỳ thuộc Việt Nam. Năm sau, trriều Nguyễn và Xiêm lại ký một Hiệp ước có nhắc lại điều đó. Đây là Hiệp ước mà sau này Cao Miên cũng tham gia[13]. Như vậy, muộn nhất là đến năm 1845 các nước láng giềng với Việt Nam, trong đó có cả Cămphuchia, đã ký các văn bản pháp lý chính thức công nhận vùng đất Nam Bộ là của Việt Nam.

Pháp tấn công Nam Bộ rồi sau đó lần lượt chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ là các sự kiện thể hiện rõ sự xâm hại đến chủ quyền lãnh thổ trên vùng đất Nam Bộ, nhưng Cămpuchia không có bất cứ một phản ứng gì. Trái lại, triều Nguyễn đã điều động quân đội tiến hành kháng Pháp và khi kháng chiến thất bại, đã đứng ra ký các Hiệp định nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông (năm 1862) và 3 tỉnh miền Tây (năm 1874). Đây là những chứng cớ và cơ sở pháp lý quan trọng khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất này.

Sau khi lập ra Liên bang Đông Dương, trên cơ sở nghiên cứu lịch sử thực thi chủ quyền trên vùng đất Nam Bộ, Pháp đã tiến hành hoạch định biên giới giữa Nam Kỳ và Cămpuchia theo luật của nước Pháp. Việc khảo sát, đo đạc trên thực địa được tiến hành bởi các chuyên gia Pháp và Cămpuchia. Năm 1889, giữa Pháp và Cămpuchia đã ký một loạt các văn bản pháp lý về hoạch định, phân giới cắm mốc biên giới giữa Nam Kỳ và Cămpuchia. Tất cả các văn bản pháp lý này đều khẳng định vùng đất Nam Kỳ hoàn toàn thuộc về Việt Nam.

Trước những thắng lợi liên tiếp của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ngày 4 tháng 6 năm1949 tổng thống Vincent Aurol ký Bộ luật số 49 - 733 trả lại Nam Kỳ cho chính quyền Bảo Đại. Trong Bộ luật còn có chữ ký của Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp.
Giải thích những thắc mắc của vương quốc Cămpuchia về quyết định này, ngày 8 tháng 6 năm 1949, Chính phủ Pháp đã có thư chính thức gửi Quốc vương Sihanouk, trong đó có đoạn nói rõ: “Về pháp lý và lịch sử, không cho phép Chính phủ Pháp trù tính các cuộc đàm phán song phương với Cămpuchia để sửa lại các đường biên giới của Nam Kỳ” vì “Nam Kỳ đã được An Nam nhượng cho Pháp theo các Hiệp ước năm1862 và 1874…. chính từ triều đình Huế mà Pháp nhận được toàn bộ miền Nam Việt Nam… về pháp lý, Pháp có đủ cơ sở để thoả thuận với Hoàng đế Bảo Đại việc sửa đổi quy chế chính trị của Nam Kỳ”. Trong bức thư đó, Chính phủ Pháp còn khẳng định: “thực tế lịch sử ngược lại với luận thuyết cho rằng miền Tây Nam Kỳ vẫn còn phụ thuộc triều đình Khmer lúc Pháp tới ” và “Hà Tiên đã được đặt dưới quyền tôn chủ của Hoàng đế An Nam từ năm 1715 và kênh nối Hà Tiên với Châu Đốc được đào theo lệnh của các quan An Nam từ nửa thế kỷ trước khi chúng tôi đến” [14].

Vậy là đến năm 1949, vùng đất Nam Bộ vốn từng bị triều Nguyễn “bán” cho Pháp, đã được trả lại bằng một văn bản có giá trị pháp lý. Chính phủ Pháp còn khẳng định những cơ sở lịch sử và luật pháp của văn bản này với vương quốc Cămpuchia. Từ đó về sau, chủ quyền Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ liên tục được tất cả các Hiệp định có giá trị pháp lý quốc tế như Hiệp định Genève (1954), Hiệp định Paris (1973) công nhận.

Như vậy, chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ không chỉ được khẳng định bởi tính chính đáng trong quá trình thụ đắc lãnh thổ cũng như công lao của Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vùng lãnh thổ đó suốt từ thế kỷ XVII đến nay mà còn phù hợp với nguyên tắc uti possidetis (tôn trọng nguyên trạng), phù hợp thông lệ và các công ước quốc tế hiện hành.

Kết luận
Vùng đất Nam Bộ vốn là một địa bàn giao tiếp và đã từng có nhiều lớp cư dân đến khai phá. Vào khoảng đầu Công nguyên, cư dân vùng đất này đã xây dựng nên vương quốc Phù Nam. Trong thời kỳ phát triển nhất vào khoảng thé kỷ V-VI, Phù Nam đã mở rộng ảnh hưởng và trở thành một đế chế rộng lớn với nhiều thuộc quốc phân bố ở phía nam bán đảo Đông Dương và bán đảo Malaca. Vào đầu thế kỷ VII, vương quốc Phù Nam tan rã, nước Chân Lạp của người Khmer, vốn là một trong những thuộc quốc của Phù Nam ở vùng Tongle Sap đã tấn công đánh chiếm vùng hạ lưu sông Mêkông (tương đương với vùng đất Nam Bộ ngày nay).

Tuy nhiên, trong suốt thời gian gần 10 thế kỷ, vùng đất Nam Bộ không đựơc cai quản chặt chẽ và gần như bị bỏ hoang. Từ cuối thế kỷ XVI, và đặc biệt, từ đầu thế kỷ XVII, dưới sự bảo hộ của các chúa Nguyễn, người Việt đã từng bước khai phá vùng đất này. Người Việt đã nhanh chóng hoà đồng với các cộng đồng cư dân tại chỗ và những cư dân mới đến (người Hoa) cùng nhau mở mang, phát triển Nam Bộ thành một vùng đất trù phú. Cũng từ đây, người Việt là cư dân chủ thể và thực sự quản vùng đất này. Từ đó đến nay, chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đã được khẳng định không chỉ bằng thực tế lịch sử, mà còn trên các văn bản có giá trị pháp lý được cộng đồng quốc tế thừa nhận.

Trong suốt hơn ba thế kỷ với biết bao thăng trầm của lịch sử, nhiều thế hệ người Việt Nam (với ý nghĩa cộng đồng cư dân đa dân tộc) đã đổ biết bao công sức để dựng xây và bảo vệ vùng đất Nam Bộ. Mỗi tấc đất nơi đây đều thấm đẫm mồ hôi và máu. Chính vì thế mà đối với mỗi người dân Việt Nam, Nam Bộ không đơn thuần chỉ là vấn đề chủ quyền lãnh thổ mà cao hơn thế, còn là vùng đất của những giá trị thiêng liêng.

---------------------------------------------------------------------------------
[1] Bộ ngoại giao Campuchia: Sách đen. Phnom Penh, 1978
[2] Vann Molivann: Plan d’ urgence pour la réhabilitation des ressources culturelles, humaines et economiques des Sites d’Ankor, trong tập “Conservation of Cultural Heritage and International Assistance in Asian Countries”, Nara 1993, tr. 45.
[3] Lịch Đạo Nguyên: Thủy Kinh chú.
[4] Xem Lê Hương: Sử liệu Phù Nam, Sài Gòn 1974.
[5] Ý kiến của các chuyên gia Ramesh, Raman (Ấn Độ) và N. Karashima (Nhật Bản).
[6] Tùy thư.
[7] Tân Đường thư.
[8] Lê Hương, sđd, tr. 93.
[9] Mã Đoan Lâm: Văn Hiến thông khảo
[10] Võ Sỹ Khải: Nghiên cứu văn hoá khảo cổ Ốc Eo: mười năm nhìn lại, Khảo cổ học, số 4/1985.
[11] Chu Đạt Quan: Chân Lạp phong thổ ký (bản chữ Hán, mục Sơn xuyên)
[12] A. Dauphin Meunier: Le Cambodge, Paris 1965, tr.56.
[13] Raoul Marc Jennar, Les Frontières du Cambodge contemporain. INALCO, Paris 1998, tr. 89
[14] Dẫn theo Raoul Marc Jennar, sđd, tr. 97.





Bản đồ Căm-pu-chia thời kỳ 1979-1984

Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7  Trang kế
Trang 1 trong tổng số 7 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser