vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - Kornai János: A GONDOLAT EREJÉVEL (Quang A)
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

Kornai János: A GONDOLAT EREJÉVEL (Quang A)

 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
sonhai
Quản trị
Quản trị


Ngày tham gia: Nov 16, 2005
Bài gửi: 1601
Đến từ: Hanoi, Vietnam

Bài gửigửi: 15.08.2006    Tiêu đề: Kornai János: A GONDOLAT EREJÉVEL (Quang A) Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

LỜI GIỚI THIỆU


Bạn đọc cầm trên tay cuốn thứ mười lăm+ của tủ sách SOS2, cuốn Bằng Sức mạnh Tư duy - tiểu sử tự thuật đặc biệt của Kornai János. Đây là cuốn sách thứ tư của Kornai trong tủ sách này và là cuốn thứ năm của Kornai bằng tiếng Việt. Hồi kí của Kornai đặc biệt theo nhiều nghĩa: nó nói về bản thân tác giả, như mọi hồi kí khác, song chỉ nói về các công trình chính của ông; về quá trình chuyển biến tư duy qua từng thời kì, qua từng tác phẩm của ông; về cảm nhận của ông với thời cuộc liên quan đến các vấn đề mà ông nghiên cứu, đến những sự kiện mà ông đã trải qua, đến những nơi mà ông đã đến; về việc nghiên cứu chính nội tâm của ông, đánh giá lại các công trình của ông một cách phê phán.

Những ai đã đọc Kornai, có thể được nhiều thông tin bổ ích khác liên quan đến các công trình của ông, mà khi viết các công trình đó ông không thể trình bày (vì tự kiểm duyệt, vì không hợp với thể loại, và vì các lí do khác). Những người chưa đọc Kornai có thể có được bức tranh khái quát về toàn bộ sự nghiệp nghiên cứu khoa học và hoạt động xã hội của ông, về con người ông, và sau đó có thể có hứng thú để tìm đọc các tác phẩm chuyên môn sâu hơn của ông.

Là người suốt đời nghiên cứu hệ thống xã hội chủ nghĩa và kinh tế học so sánh, ông hiểu rất kĩ hệ thống này. Hơn 15 năm qua ông nghiên cứu về chuyển đổi hậu xã hội chủ nghĩa. Ông đã từng làm báo của đảng cộng sản 6 năm, sau đó ông chuyển hẳn làm khoa học, làm nhà giáo. Ông là người trong cuộc, chính vì thế các tác phẩm của ông rất gần gũi với những người đã từng sống trong các nước xã hội chủ nghĩa trước kia, hay đang còn sống trong các nước xã hội chủ nghĩa chuyển đổi. Và như thế đối với cả người Việt Nam chúng ta nữa. Qua hồi kí của ông nhiều trí thức Việt Nam có thể cũng nhìn thấy mặt nào đó của tình cảnh trái ngược của chính mình nữa. Đấy là những cái làm cho cuốn sách hấp dẫn, là cái khiến tôi dịch cuốn hồi kí này để nó có thể đến tay bạn đọc Việt Nam. Nguyên bản tiếng Hungary, mà bản tiếng Việt dựa vào, được xuất bản năm 2005, bản tiếng Anh với nhan đề By Force of Thought. Irregular Memoirs of an Intellectual Journey. Cambridge: The MIT Press, sẽ ra trong năm nay, 2006.

Tôi nghĩ cuốn sách rất bổ ích cho các nhà chính trị, các nhà kinh tế học, các nhà nghiên cứu khoa học xã hội nói chung, các nhà giáo, các nhà báo, các sinh viên và tất cả những ai quan tâm đến hệ thống xã hội chủ nghĩa và chuyển đổi hậu xã hội chủ nghĩa, đến nghiên cứu khoa học, đến giáo dục đào tạo, đến nghề báo, những người đã đọc hay chưa đọc các công trình khác của Kornai.

Người dịch đã cố hết sức để làm cho bản dịch được chính xác và dễ đọc, song do hiểu biết có hạn nên khó thể tránh khỏi sai sót.

Mọi chú thích cuối sách của tác giả được đánh bằng số. Các chú thích cuối trang được tác giả đánh dấu *. Vì thế ngược với truyền thống của tủ sách SOS2, người dịch không còn thể dùng dấu * để chỉ các chú thích của mình trong cuốn sách này. Tất cả các chú thích đánh cộng (+) ở cuối trang là của người dịch. Bản dịch chắc còn nhiều thiếu sót mong bạn đọc thông cảm, lượng thứ, và chỉ bảo; xin liên hệ theo địa chỉ Tạp chí Tin học và Đời sống, 66 Kim Mã Thượng Hà Nội, hoặc qua điện thư thds@hn.vnn.vn hay nqa@netnam.vn


07-2006
Nguyễn Quang A


+ Các quyển trước gồm:
1. J. Kornai: Con đường dẫn tới nền kinh tế thị trường, Hội Tin học Việt Nam 2001, Nhà Xuất bản Văn hoá Thông tin (NXB VHTT) 2002.
2. J. Kornai: Hệ thống Xã hội chủ nghĩa, NXB Văn hoá Thông tin 2002
3. J. Kornai- K. Eggleston: Chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, NXB VHTT 2002
4. G. Soros: Giả kim thuật tài chính, sắp xuất bản
5. H. de Soto: Sự bí ẩn của tư bản, NXB Chính trị Quốc gia, 2006 [Sự bí ẩn của Vốn]
6. J. E. Stiglitz: Chủ nghĩa xã hội đi về đâu? sắp xuất bản
7. F.A. Hayek: Con đường dẫn tới chế độ nông nô, sắp xuất bản
8. G. Soros: Xã hội Mở, sắp xuất bản
9. K. Popper: Sự Khốn cùng của Chủ nghĩa lịch sử, sắp xuất bản.
10. K. Popper: Xã hội mở và những kẻ thù của nó, I, Plato
11. K. Popper: Xã hội mở và những kẻ thù của nó, II, Hegel và Marx
12. Thomas S. Kuhn: Cấu trúc của các cuộc Cách mạng Khoa học, NXB Trí thức 2006
13. Thomas L. Friedman: Thế giới phẳng, Nhà xuất bản Trẻ, 2006
14. Một năm Hội nghị Diên Hồng Hungary do Nguyễn Quang A tuyển, dịch, biên soạn
_________________
HƯỚNG DẪN CÁC VẤN ĐỀ VỀ ẢNH
Vẫn có thể gõ được chữ Việt có dấu nếu nhấn vào phím F8!
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
sonhai
Quản trị
Quản trị


Ngày tham gia: Nov 16, 2005
Bài gửi: 1601
Đến từ: Hanoi, Vietnam

Bài gửigửi: 15.08.2006    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

LỜI NÓI ĐẦU


Trong khi đã viết hồi kí của mình được khá nhiều, hết lần này đến lần khác tôi tự hỏi: thực ra vì sao tôi lại làm việc này? Cái gì khiến tôi hồi tưởng lại? Cuốn sách này dành cho những ai?

Tôi là người e thẹn và khá lầm lì, đến nay tôi hiếm khi và ít nói về cuộc đời tư của mình. Trong những ngày thay đổi hệ thống hồi hộp nhất, một nhà báo quen đã thúc giục tôi cho một phỏng vấn dài về cuộc đời. Anh ta lập luận rằng, muộn hơn sẽ chẳng ai quan tâm đến. Tôi đã đợi mười lăm năm, hi vọng tôi không bị trễ.

Từ nhiều năm vợ tôi đã gợi ý, đã bảo tôi viết hồi kí, còn tôi thì trì hoãn hết năm này đến năm khác. Cuối cùng bây giờ tôi đã quyết; đến mức từ khi bắt đầu viết, từ giữa năm 2003, tôi tập trung mọi sức lực và thời gian còn lại cho việc này sau khi thực hiện những công việc khác không thể tránh được.

Việc vợ tôi cứ nhất quyết với ý tưởng này, bản thân nó là một động cơ khá mạnh. Nếu cần phải kể tên một độc giả, mà cuốn sách này được viết cho, và tôi muốn làm cho người ấy vừa lòng, thì đó là Zsuzsa.

Tôi hi vọng nhiều trong số những người tôi có quan hệ với trong đời cũng quan tâm đến hồi kí của tôi: các con tôi, các cháu tôi, các thành viên khác trong gia đình tôi, bạn bè tôi, các cộng sự một thời và hiện nay của tôi, các học trò của tôi, các bạn đọc những cuốn sách và bài báo của tôi. Đấy là một giới không nhỏ. Nhà xuất bản cuốn sách này có thể hài lòng rằng, nếu tất cả những người đã từng đọc một bài viết hay đã từng nghe một bài giảng duy nhất của tôi, bây giờ có thể cầm cuốn sách trên tay.

Tất cả những người có quan hệ với tôi, trực tiếp hay qua các công trình của tôi, đều có cảm tưởng nào đó về tôi. Tôi muốn, nếu có thể để - bên cạnh hình ảnh chủ quan đã hình thành trong họ- một hình ảnh khác (cũng chủ quan) mà tôi hình thành về chính mình. Số bài phê bình các cuốn sách của tôi lên đến hàng trăm. Bây giờ có thể đối sánh chúng với đánh giá của riêng tôi. Tôi kể lại tôi thấy công trình của mình thế nào, ngay sau khi tôi hoàn tất, và bây giờ nhìn lại tôi thấy chúng ra sao khi tôi viết hồi kí của mình. Tôi chưa bao giờ phản ứng công khai đối với các bài phê bình. Nếu tôi vấp phải ý kiến phản đối, tương đối hiếm khi tôi sa vào tranh luận. Tuy nhiên giờ đây, một lần và một cách ngoại lệ, trong khuôn khổ những hồi tưởng, bản thân tôi cũng muốn viết “các bài phê bình” về các công trình của riêng mình.

Về cơ bản hồi kí của tôi theo trình tự thời gian, nhưng không theo thứ tự các sự kiện một cách nghiêm ngặt. Nó không phải là nhật kí. Mỗi chương xoay quanh một chủ đề nào đó, dù là một sự kiện trước kia, một công trình nào đó của tôi hay một địa điểm trong đời tôi. Trong đầu đề các chương tôi cũng chỉ rõ chúng là các thời kì nào. Các giai đoạn này - lật qua các chương- có thể chờm lên nhau, giữa chúng có thể có những chồng chéo, nếu thảo luận các chủ đề đòi hỏi vậy.

Có thể, có những người chưa đọc các tác phẩm trước đây của tôi, cũng chưa từng gặp tôi cũng sẽ cầm cuốn sách này lên và quan tâm hơn đến thời mà tôi đã sống là thời đại thế nào. Tôi không muốn họ bị thất vọng. Những người muốn tìm hiểu thời kì Rákosi, cách mạng Hungary 1956 hay chế độ Kádár phải tìm tòi trong những tài liệu phong phú về các đề tài này. Cuốn sách của tôi không đảm nhiệm công việc của một nhà sử học. Phù hợp với điều đó tôi cũng chẳng biết bảo bạn đọc hãy nghiên cứu các tác phẩm nào. Tôi đã là một nhân vật của các thời kì đó, và tôi không thuộc vào các nhân vật chính. Tuy nhiên, do tính chất của thể loại hồi kí, tôi là nhân vật trung tâm trong hồi kí của mình. Về thời đại tôi chỉ có thể và muốn giới thiệu ở mức độ gắn với đời sống riêng của tôi. Môi trường xã hội-lịch sử, trong đó các sự kiện của riêng đời tôi xảy ra.

Tuy nhiên, đối với những người quan tâm đến Đông Âu, đến hệ thống cộng sản và sự sụp đổ của nó, đến những lầm đường lạc lối và sự tìm đường của trí thức Đông Âu, đến các quá trình nhận thức của nghiên cứu kinh tế và đến nhiều đề tài bao quát khác, thì hồi kí của tôi có thể là một phần bổ sung cho các nguồn khác của tri thức. Những lời chứng khác nhau, mà những người đã sống qua các thời kì đã thổ lộ một cách chân thực về đời họ và những trải nghiệm của họ, sẽ mang lại nguồn quan trọng không thể thay thế được cho các nhà nghiên cứu tương lai. Những người khác cũng đã hoàn thành lời chứng của họ; với hồi kí này của mình tôi cũng trình diện làm nhân chứng. Thực ra các công trình trước của tôi, được viết với đòi hỏi khoa học, cũng được tôi dành làm bằng chứng, làm sự báo tin về các thời đại đang biến mất. Trong các công trình đó tôi đã cố gắng khách quan càng đầy đủ càng tốt. Bây giờ tôi hoàn tất với việc bổ sung chủ quan cho chúng. Cái bị bỏ ra khỏi Sự Thiếu hụt và Hệ thống Xã hội Chủ nghĩa, bởi vì mang tính quá riêng tư, hay cái gì đó đã cản trở tôi phát biểu đầy đủ hơn ý kiến của mình, thì bây giờ tôi cố gắng đưa vào cuốn sách này. Thể loại hồi kí cho phép tôi trình bày niềm tin cá nhân của tôi về nhiều vấn đề- trong đó có các vấn đề đạo đức, chính trị hay khoa học. Những lập trường và tín điều chung này không thể được nhồi vào các công trình khoa học, bị giới hạn về chủ đề.

Tôi đã nghĩ nhiều về đầu đề của cuốn sách. Đầu tiên tôi thiên cho đầu đề: Hiểu biết… Trước hết tôi cố thử hiểu bản thân mình. Tôi muốn giải thích, khi nào tôi nghĩ gì và vì sao, cái gì đã tác động đến tư duy và hành động của tôi, do cái gì mà tôi đã thay đổi. Tôi muốn hiểu cả những người, mà tôi đồng ý với lẫn những người tôi không đồng ý, những người đứng cạnh tôi và những người quay mặt lại với tôi.

Trong tiếng Hung, và cả trong nhiều ngôn ngữ khác, gắn với từ “hiểu” là một loại tán thành hay chí ít sự miễn thứ đạo đức. Hãy thử nói từ này với các luyến âm khác nhau. Mọi người dễ dàng thấy sự nhấn mạnh miễn thứ của từ “tôi hiểu”. Đây không phải là ý định của tôi. Tôi không hề có ý định miễn thứ, và cả sự phán xử tự tin nữa. Trong cuốn sách này tôi không cố làm việc khác với các công trình thông báo các kết quả nghiên cứu khoa học trước đây: tôi muốn hiểu cái mà tôi khảo sát. Đôi khi khá khó để lần ra những động lực thúc đẩy các hành động, các bẫy của tư duy, các lực ẩn sâu thúc đẩy những con người, các nguyên nhân được thú nhận công khai hay được giữ kín. Đây không phải là một nhiệm vụ dễ khi khảo sát quá khứ của bản thân tôi, và hiển nhiên còn khó hơn khi tôi phân tích quá khứ của những người khác.

Cuối cùng tuy vậy tôi đã chọn đầu đề khác: Bằng sức mạnh tư duy. Tôi cảm thấy rằng, vài từ này đúc kết khéo nhất một trong những thông điệp quan trọng nhất của những hồi ức của tôi. Tôi không nỗ lực đạt quyền lực, cũng chẳng đến sự giàu sang. Nếu đây đó có lẽ tôi đã có thể có ảnh hưởng đến diễn tiến của các sự kiện, điều đó đã xảy ra không phải vì tôi đã có thể ra lệnh cho nhân viên của tôi từ địa vị cao hay vì tôi có thể mua sự hợp tác của họ bằng nhiều tiền. Nói chung nếu tôi có ảnh hưởng đến bất kì ai hay đến bất cứ gì, thì tôi đạt được tác động đó bằng những suy ngẫm được nói ra hay được in ra của tôi.

Một trong những người đọc bản thảo đã bày tỏ những ngờ vực của mình. “Ngây thơ đi tin vào ảnh hưởng của lập luận, niềm tin, tư duy. Động lực thực sự của các sự kiện lịch sử là các lợi ích.” Với tư cách nhà quan sát và nhà phân tích chuyên nghiệp về những thay đổi xã hội, tôi không có các ảo tưởng, và tôi cố gắng lưu ý và xử lí các tác động nhân quả theo trọng lượng của chúng. Tuy vậy, các ông chủ mọi thời của quyền lực và của cải là những người hành động, họ lựa chọn giữa những chọn lựa khả dĩ. Có nhiều loại nhân tố tác động lên họ, và giữa các nhân tố đó các giá trị, các lí tưởng, các suy nghĩ không bị dồn vào vị trí cuối cùng. Ngoài ra tất nhiên cái mà hàng triệu, hàng trăm triệu người ít hùng mạnh hơn, ít giàu có hơn nghĩ và tin vào, cũng có ảnh hưởng lên tiến trình của các sự kiện. Toàn bộ sự nghiệp của đời tôi sẽ mất hết ý nghĩa, nếu giả như tôi không tin rằng, tư duy có sức mạnh của nó.

Tất nhiên, sức mạnh này vấp phải các giới hạn, các trở ngại. Một trong những đề tài chính của những hồi ức chính là: khi nào và vì sao tư duy của riêng tôi lại rối mù lên và được sắp xếp lại ra sao; tư tưởng của những người khác ảnh hưởng đến tôi thế nào; và những suy nghĩ, phân tích và kiến nghị của tôi xung đột với của những người khác thế nào. Tư duy liên tục phải đọ sức. Mỗi chương sẽ tường thuật về các cuộc đọ sức mới và mới hơn, thành công hay thất bại.

Tôi cho cuốn sách đầu đề phụ là tự sự đặc biệt. Nguyên nhân của việc này là, trong hai khía cạnh cuốn sách trệch khỏi tập tục của các hồi kí. Trong quá trình thuật lại các sự kiện của đời mình, đôi khi tôi dừng lại và trình bày những suy nghĩ của mình gắn với mỗi tình tiết. Khi đó trọng tâm không phải là ở tường thuật câu chuyện, mà là ở sự phân tích tình hình và vấn đề. Những giãi bày như vậy, liên quan đến vấn đề nào đó của khoa học xã hội, đạo đức học, quá trình nghiên cứu-sáng tạo hay của đề tài khác, cũng có thể coi là các “tiểu luận”. Tác phẩm của tôi là một hỗn hợp của một hồi kí và một loạt tiểu luận.

Phần lớn các hồi kí nói về cuộc sống riêng của tác giả. Tuy hồi kí của tôi là tường thuật mang giọng cá nhân, có quan điểm chủ quan, xét về cơ bản tôi đã viết một hồi kí tự sự trí tuệ. Tính ngữ trí tuệ này phải được hiểu theo nghĩa rất rộng; nó bao hàm các khía cạnh chính trị, đời sống xã hội và xã hội khác của đời tôi, bao hàm tình bạn và các quan hệ cá nhân khác gắn với hình thái tồn tại của giới trí thức. Ở nhiều chỗ cuốn sách sẽ nói về những người thân thích của tôi hay về các sự kiện gia đình, trong bản viết nó hoàn toàn không chiếm dung lượng, không có trọng lượng tương đối, như nó thực có trong đời tôi. Các bức ảnh được công bố trong cuốn sách có lẽ có thể giới thiệu đôi nét về lĩnh vực cuộc sống của tôi, mà văn bản hồi kí không thể diễn đạt bằng lời. Cuốn sách là hồi kí đặc biệt cũng theo nghĩa rằng, tôi rất ít nói về cái tôi gọi là việc riêng theo nghĩa hẹp. Đến cuối cuốn sách sẽ trở nên sáng tỏ, tôi đã thử vạch đường ranh giới ở đâu.

Tôi cần nói vài lời về thể loại và văn phong của cuốn sách. Suốt năm mươi năm tôi đã viết những phân tích, nỗ lực để trình bày cái tôi hiểu, lập luận nó, theo dòng suy nghĩ có thể theo dõi được và mạch lạc. Tôi không muốn đột nhiên trở thành nhà văn. Đừng ai mong đợi ở tôi những mô tả hay về phong cảnh, các đối thoại sinh động, mô tả sống động dáng vẻ của các bạn tôi hay gợi không khí của thời điểm căng thẳng. Cảm tưởng tồi nhất mà bạn đọc có thể có là giả như một gã nhà văn quèn nói với họ- thế thì tốt hơn tôi cứ dùng thể loại quen thuộc của tôi, cùng với từ vựng và văn phong quen thuộc của tôi. Nhà văn bỏ ngỏ hay chủ đích che mờ các vấn đề một cách chủ ý hay tự phát, để những suy nghĩ “lơ lửng” – và như thế là phải. Nhà nghiên cứu khoa học không thể làm như vậy. Tôi không thể chối từ nhà nghiên cứu trong tôi, ngay cả khi viết hồi kí. Trong văn phong, cấu trúc, và cách thức diễn đạt, tôi cố tránh sự mơ hồ.

Khi viết các tác phẩm trước tôi đã tương đối dễ xác định, tôi nói cho những ai. Điều này ít nhiều xác định, tôi cần giải thích cái gì và cái gì tôi có thể giả sử bạn đọc đã biết. Lần này tình hình là khác. Tôi hi vọng, các nhà kinh tế và các nhà chuyên môn khác, những người già và các bạn trẻ, những người Hung và người nước ngoài, “những người phương đông” và “những người phương tây” sẽ cầm hồi kí của tôi. Tôi cố gắng để tất cả mọi người có thể theo dõi điều tôi muốn nói. Với những người chưa đọc các tác phẩm trước kia của tôi, hồi kí cho họ nếm một chút thông điệp của các cuốn sách và bài báo của tôi; với những người đã đọc, có lẽ nó giúp làm tươi kí ức. Tôi xin lỗi trước và mong sự thông cảm của độc giả cảm thấy rằng, tôi nói cái gì đó với dư chi tiết – có lẽ có một bạn đọc khác lại cần chính đến sự chỉ dẫn này.

Hiển nhiên là, nguồn quan trọng nhất của cuốn sách là kí ức riêng của tôi. Nhưng tôi phải dè chừng để chỉ dựa vào nguồn này. Tôi không coi việc viết cuốn sách là việc sát hạch trí nhớ, mà ở chừng mực có thể, tôi đã cố làm tươi lại các kí ức. Tôi không chỉ hồi tưởng lại các suy nghĩ và cảm giác của mình, mà cả các sự kiện đã xảy ra, các tác phẩm đã công bố. Tôi cảm thấy có nghĩa vụ để kiểm tra các thông báo sự thực một cách thận trọng nhất có thể. Nếu ngược với nỗ lực tốt nhất của tôi mà vẫn có những thông tin không chính xác lọt vào văn bản, thì tôi sẽ chỉnh lại các thông tin đó vào dịp phù hợp đầu tiên.

Tôi có nhiều loại nguồn. Như đã nhắc tới, trong cuốn sách tôi quay lại các tác phẩm được cho là quan trọng nhất của mình.* Nếu một tác phẩm của tôi được công bố ở dạng ấn phẩm, thường tôi không xem lại. Nhưng bây giờ tôi lần lượt đọc lại chúng, và cùng với chúng đọc cả các bài phê bình ban đầu và tiếng vang muộn hơn.

Tôi chẳng bao giờ viết nhật kí. Nhưng từ khi tôi trở thành nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, tôi cất nhiều sổ ghi chép, mà tôi diễn đạt trong lúc nghiên cứu, tôi lưu trữ nhiều loại tư liệu. Tôi lưu trữ chúng ở dạng dễ theo dõi, trong hàng trăm hồ sơ được đánh số, phân thành hạng mục. Tôi lưu trữ phần lớn thư từ gửi đến cho tôi, cũng như bản sao thư tôi gửi đi. Bây giờ tôi cố đào sâu đống tư liệu phong phú này.

Bổ sung cho sưu tập tư liệu của riêng tôi là việc tìm kiếm ở các kho lưu trữ khác nhau, nơi cùng các cộng sự của mình chúng tôi chợt thấy nhiều thông tin lí thú. Việc nghiên cứu các hồ sơ của các cơ quan mật vụ cũ đặc biệt hồi hộp. Các luật mới của Hungary cho phép công dân tiếp cận đến các tư liệu liên quan đến mình. Đọc các báo cáo của những kẻ chỉ điểm ngầm, các biên bản của công an điều tra chuẩn bị cho các vụ án chính trị, những ghi chép của các sĩ quan an ninh quốc gia và tình báo gây cảm xúc nghẹt thở, đôi khi choáng váng. Cuốn sách giới thiệu nhiều tư liệu liên quan đến tôi của cảnh sát chính trị và cơ quan tình báo.

Tôi thấy quan trọng để làm yên lòng các bạn đọc của tôi ngay lúc mở đầu rằng, cuốn sách không chỉ dựa trên kí ức của tác giả, mà cả trên nghiên cứu các tư liệu nữa. Nhưng tôi không muốn, nếu thay cho việc làm yên lòng tôi lại làm giới độc giả rộng hơn lo sợ. Trọng tâm của cuốn sách sẽ không phải là ở việc giới thiệu khô khan những nghiên cứu lưu trữ, mà là ở sự xử lí cá nhân các kí ức. Kế tiếp là tường thuật về một cuộc chu du trí tuệ dài và li kì, trong đó ánh sáng và bóng tối, những kinh nghiệm sống hào hứng và cay đắng luân phiên nhau. Tôi hi vọng rằng, đến cuối cuốn sách các độc giả của tôi sẽ hiểu kĩ hơn đời tôi, các công trình của tôi và thời đại mà tôi đã sống.

Bõ đưa ra vài chỉ dẫn thực tiễn để giúp việc đọc dễ dàng. Cuối cuốn sách có thể tìm thấy danh mục tài liệu tham khảo. Danh mục này chỉ chứa các công trình đã công bố mà cuốn sách này nhắc đến. Như thế không thể coi là thư mục tham khảo toàn diện của các đề tài được nhắc đến trong cuốn sách. Nếu tác phẩm nào đó được công bố bằng tiếng Hungary, thì dữ liệu của phiên bản tiếng Hung xuất hiện trong Danh mục tài liệu tham khảo. Nếu một công trình được xuất bản nhiều lần, nếu có thể chúng tôi đưa lần xuất bản cuối cùng vào danh mục, nhưng chúng tôi cũng đưa ra năm xuất bản đầu tiên [trong ngoặc vuông].

Hai loại chú thích bổ sung cho văn bản chính của cuốn sách, bên dưới các trang có thể thấy chú thích cuối trang [footnote] và sau văn bản là các chú thích cuối [endnote]. Chú thích cuối trang được đánh dấu sao. Các chú thích cuối được đánh số ả rập.

Lạ là có hai loại chú thích trong một cuốn sách. Tôi chọn giải pháp này là vì, tôi hi vọng việc này làm cho bạn đọc thoải mái nhất. Cuốn sách của tôi không phải là sách văn học, nhưng cũng không là tác phẩm khoa học. Chính “thể loại lửng lơ” này lí giải cho giải pháp khác thường.

Trong các chú thích cuối trang có thể thấy loại nội dung, mà – xét về mặt thể loại và văn phong- thực ra tôi đã có thể đưa vào văn bản chính. Tuy vậy tôi vẫn đưa vào chú thích cuối trang, bởi vì mỗi chú thích là một đoạn rẽ khỏi hướng suy nghĩ của văn bản chính. Trong các chú thích cuối trang có thể thấy các thí dụ hay dữ liệu minh hoạ, các tình tiết, đôi khi các giai thoại hay các chuyện cười. Tôi hi vọng, những người quyết định đọc văn bản chính cũng sẽ đọc các chú thích cuối trang.

Các chú thích cuối [sách] có thể tìm thấy dưới đầu đề Dẫn chiếu, chứa các thông tin mà các nhà nghiên cứu gọi là “công cụ chú thích”.* Trong phần trên của Lời nói đầu, tôi đã nhấn mạnh rằng, việc viết hồi kí của tôi dựa vào việc thu thập dữ liệu rộng rãi. Nếu nguồn của một thông tin nào đó là một tư liệu lưu trữ, thì chú thích cuối sẽ cho các thông số của nguồn lưu trữ một cách quen thuộc.

Trong các nguồn có các tác phẩm đã được công bố; số liệu tham khảo của chúng có thể thấy ở Danh mục Tài liệu Tham khảo. Nếu từ văn bản chính, bạn đọc có thể xác định rõ ràng tác phẩm nào được nói đến, và quan tâm đến các số liệu tham khảo, thì đơn giản có thể có thể mở các trang cuối, và tìm thấy thông tin liên quan đến công trình đó. Nhưng nếu mối quan hệ giữa dẫn chiếu tài liệu tham khảo trong văn bản chính và Danh mục Tài liệu Tham khảo không rõ ràng, thì chú thích cuối sẽ giúp định hướng. Từ chú thích cuối có thể biết cả số trang của các lời dẫn nữa.

Theo giả thiết của tôi, phần lớn bạn đọc không muốn theo dõi từng tiết mục một xem nguồn của mỗi thông tin là gì. Tôi muốn làm cho công việc của họ được dễ bằng để các chú thích cuối công bố các nguồn ra cuối cuốn sách. Nội dung cuốn sách có thể theo dõi được mà chẳng cần để mắt đến các chú thích cuối.

Tuy nhiên, đối với các bạn đọc (trong số họ có các nhà nghiên cứu các đề tài được đề cập trong cuốn sách), những người tự mình muốn theo đuổi một vấn đề nào đấy, họ có thể tìm thấy mọi thông tin cần thiết trong các chú thích cuối.

Tôi biết ơn những người đã giúp tôi viết hồi kí của mình. Szabó Katalin, cộng sự thường xuyên của tôi đã tổ chức công việc và tư liệu liên quan đến cuốn sách một cách vui vẻ và rất chu đáo, đã lo các phiên bản tiếp nhau của bản thảo. Các nghiên cứu sinh sử học Molnár János và kinh tế học Iván Gábor đã hợp tác nhiệt tình và tháo vát trong sưu tầm dữ liệu và tài liệu, trong làm rõ các nguồn và kiểm tra thông tin, trong biên soạn bản thảo.

Tôi muốn cám ơn sự giúp đỡ của tất cả những người đã đọc các phiên bản ban đầu hay một số phần và đã bình luận, đã giúp sưu tầm các tư liệu lưu trữ, các bài báo, làm rõ một số vấn đề chuyên môn và đã giúp bằng nhiều cách khác nhau trong chuẩn bị cho cuốn sách này. Tôi liệt kê theo thứ tự abc những người mà tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ nhất: Csankovszki Kata, Karen Eggleston, Erdős Hédi, Fazekas Ica, Jerry Green, Gyurgyák János, Karinthy Márton, Kende Péter, Kenedi János, Kovács Mária, Laki Mihály, Lőcsel Pál, Majtényi László, Brian McLean, Négyesi Judit, Parti Julia, Richard Quandt, Rainer M. János, Révész Sándor, Gérard Roland, Henry Rosovsky, Sarnyai Éva, Schönner Ágnes, Simonovits András, Susan Suleiman, Sz. Kovács Éva và Varga László. Tôi cảm ơn cả những người không được nêu tên ở đây, và những người đã thúc đẩy việc viết cuốn sách bằng trả lời một số câu hỏi và làm rõ một số thông tin.

Chương trình Nghiên cứu Khoa học Cơ bản Toàn quốc [OTKA] (số đề tài: T 046976) đã góp phần chi phí nghiên cứu. Viện Nghiên cứu Kinh tế học của Viện Hàn lâm Khoa học Hungary đã giúp đỡ bằng cách đảm nhận xử lí hành chính sự hỗ trợ của OTKA.

Cũng như với tất cả các công trình trước đây trong một thập kỉ rưỡi vừa qua, công trình này cũng có được môi trường truyền cảm hứng và nhiều hỗ trợ thực tiễn từ nơi làm việc của tôi, Collegium Budapest.

Tôi đã làm việc với nhiều biên tập viên nhà xuất bản, nhưng hiếm khi tôi gặp được người hiểu kĩ, xây dựng và chu đáo đến vậy như Gábor Luca. Környei Anikó đã thiết kế hình dáng cuốn sách rất đẹp mắt. Tôi mang ơn họ và các cộng sự khác của Nhà xuất bản Osiris đã giúp đỡ công việc xuất bản cuốn sách này.

Budapest 10-2-2005
Kornai János

* Sự lựa chọn có thể dễ thấy từ mục lục. Chương nào thảo luận kĩ hơn một tác phẩm nào đó của tôi, ở đó tên của tác phẩm hay các tác phẩm ấy xuất hiện trong tiêu đề phụ của chương.

** Các chú thích không thể có chú thích của chúng, vì thế các chú thích cuối trang chứa cả các dẫn chiếu liên quan đến chúng nữa.
_________________
HƯỚNG DẪN CÁC VẤN ĐỀ VỀ ẢNH
Vẫn có thể gõ được chữ Việt có dấu nếu nhấn vào phím F8!
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
sonhai
Quản trị
Quản trị


Ngày tham gia: Nov 16, 2005
Bài gửi: 1601
Đến từ: Hanoi, Vietnam

Bài gửigửi: 15.08.2006    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Gửi anh chị em:

Được phép của anh Quang A, VNKATONÁK xin được đăng tải toàn văn tác phẩm “A GONDOLAT EREJÉVEL” của tác giả Kornai János do GS. TSKH Nguyễn Quang A dịch sang tiếng Việt và xuất bản.

Để đảm bảo tính nguyên bản của tài liệu mà tôi đã nhận được (dài 375 trang), tôi xin chia thành các phần, chuyển sang dạng Adobe Reader (xxx.pdf) và gửi lên.

Sau đây là các phần liên tiếp của tác phẩm với tiêu đề tiếng Việt: BẰNG SỨC MẠNH
TƯ DUY (tiêu đề của các phần sau này đồng thời là tên của chương trong tác phẩm).

1. GIA ĐÌNH, TUỔI NIÊN THIẾU/1928-1944 (16..32)

2. TÔI TRỞ THÀNH NGƯỜI CỘNG SẢN NHƯ THẾ NÀO?/1945-1947 (33..47)

3. TRONG BAN BIÊN TẬP TỜ SZABADNÉP/1947-1955 (48..60)

4. BẮT ĐẦU THỨC TỈNH/1953-1955 (61..73)

5. BẮT ĐẦU CON ĐƯỜNG NGHIÊN CỨU/1955-10/1956 (74..96)

6. CÁCH MẠNG VÀ CÁI XẢY RA SAU ĐÓ/23/10/1956-1959 (97..116)

7. CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI/ 1957-1959 (117..126)

8. ỨNG DỤNG KINH TẾ CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP TOÁN HỌC/ 1957-1968 (127..148)

9. HÀNH TRÌNH SANG PHƯƠNG TÂY/ 1963- (149..164)

10. BƠI NGƯỢC DÒNG/ 1967-1970 (165..183)

11. VIỆN, ĐẠI HỌC, VIỆN HÀN LÂM/ 1967- (184..198)

12. TÌM ĐƯỜNG VÀ CHUẨN BỊ/ 1071-1976 (199..215)

13. BỨC TRANH HÌNH THÀNH/ 1976-1980 (216..232)

14. SỰ ĐỘT PHÁ/ 1979- (233..246)

15. VỚI SỰ PHÊ PHÁN THÂN THIỆN, GIỮ KHOẢNG CÁCH/ 1968-1989 (247..262)

16. HAVARD/ 1984-2002 (263..277)

17. Ở TRONG NƯỚC TẠI HUNGARY, Ở NHÀ KHẮP THIÊN HẠ/ 1985- (278..295)

18. TỔNG HỢP/ 1988-1993 (296..308)

19. BƯỚC NGOẶT ĐỔI ĐỜI/ 1989-1992 (309..325)

20. TRÊN RANH GIỚI CỦA KHOA HỌC VÀ CHÍNH TRỊ/ 1990- (326..342)

21. TIẾP TỤC, CÁI TÔI ĐÃ LÀM ĐẾN NAY/ 1990- (343..373)
_________________
HƯỚNG DẪN CÁC VẤN ĐỀ VỀ ẢNH
Vẫn có thể gõ được chữ Việt có dấu nếu nhấn vào phím F8!


Được sửa chữa bởi sonhai ngày 02.12.2010, sửa lần 3
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
sonhai
Quản trị
Quản trị


Ngày tham gia: Nov 16, 2005
Bài gửi: 1601
Đến từ: Hanoi, Vietnam

Bài gửigửi: 16.08.2006    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


_________________
HƯỚNG DẪN CÁC VẤN ĐỀ VỀ ẢNH
Vẫn có thể gõ được chữ Việt có dấu nếu nhấn vào phím F8!
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
abcabc
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Dec 11, 2005
Bài gửi: 227

Bài gửigửi: 21.08.2006    Tiêu đề: Một vài ý kiến Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Những cảm nhận nho nhỏ khi đọc "Bằng sức mạnh tư duy".

Trước hết, xin cảm ơn vnkatonak.com và đặc biệt là dịch giả Nguyễn Quang A đã tạo điều kiện cho chúng tôi được tiếp xúc với cuốn hồi ký (theo như tác giả tự nhận, thuộc thể loại rendhagyó, không giống với các cuốn hồi ký thông thường khác, vì hồi ký có xen lẫn những tiểu luận khoa học). Quả thực, trước đây anh Quang A đã dịch một số tác phẩm khác (cùng một tác giả) ra tiếng Việt, song tôi chưa đọc hết, phần vì mình lười, phần vì tác giả viết về vấn đề lớn quá, phông kiến thức của mình hạn hẹp, đọc cực kỳ vất vả (đọc bằng tiếng Hung hay tiếng Anh, chắc còn đau đầu hơn nữa). :roll: . Sau khi đọc cuốn Hồi ký, thấy một vài ý sáng ra: thấy rõ hơn trình tự thai nghén và xuất xứ của loạt tác phẩm của Kornai, thấy một số quan hệ hữu cơ giữa các tác phẩm với nhau.

Qua Hồi ký, tôi nhận thấy tác giả đã vẽ lại, phác họa một số quang cảnh của lịch sử đất nước Hung-ga-ri những năm 1945-1956, một thời kỳ đau thương bi tráng mà các sách giáo khoa của Hung cũng như Việt Nam mô tả rất khác. (Thiết nghĩ, các bạn đang đọc "Nhân chứng" của AK_63 nên tham khảo thêm Hồi ký). Nếu Kornai cũng có năng khiếu văn học như nhà thơ Pa-xtéc-nắc (cũng là gốc Do thái) thì tôi tin là Hung sẽ có một giải Nô-ben văn học, vì sẽ phải có một "Bác sĩ Zi-va-gô" theo kiểu Hung. Hoặc, hy vọng một cách thực tế hơn, tôi chờ đợi một ngày nào đó, một đạo diễn (Hung, Việt nam !?) sẽ làm một bộ phim tuyệt vời, dựa trên 5 chương đầu của Hồi ký.

Cùng với Thao thức của Alekxandr Kron, Những đứa con phố Ác-bát, của Liên Xô, Thời xa vắng (VN),... tôi nghĩ Hồi ký đã ghi nhận những dấu ấn sinh động về công cuộc xây dựng CNXH ở các nước XHCN.

Tôi thú vị về cách phân loại đảng viên theo 5 mức:
..............+ Mức 1: cảm tình đảng
..............+ Mức 2: đảng viên bình thường
..............+ Mức 3: đảng viên tích cực và có niềm tin cộng sản
..............+ Mức 4: đảng viên chân chính
..............+ Mức 5: người lính của đảng, cán bộ đảng chuyên nghiệp
và ngạc nhiên, khi tác giả tự đánh giá "đã trải qua đủ cả 5 mức".

Tôi cũng thú vị về cách phân loại quan hệ của nhà nước và các xí nghiệp quốc doanh trong nền kinh tế XHCN:
..............+ Mức 1: bố mẹ trợ cấp 100% cho trẻ sơ sinh ("con ơi, dù con không muốn, con vẫn phải nhận")
..............+ Mức 2: bố mẹ và trẻ con đi học mẫu giáo (thỉnh thoảng hỏi ý kiến xem "thích đồ chơi gì, thích ăn gì")
..............+ Mức 3: bố mẹ và học sinh tiểu học (đôi lúc thí cho con vài đồng tiền lẻ, "mày muốn mua gì thì mua")
..............+ Mức 4: bố mẹ và học sinh đại học ("tao chu cấp tiền, mày tự lo mua lấy đồ ăn, con nhé")
..............+ Mức 5: con đã tốt nghiệp đại học, đi làm ("nghỉ cho khỏe", bố mẹ không đủ sức chu cấp nữa)

Cái đuôi -val, -vel của tiếng Hung rất hay. Tiêu đề "Bằng sức mạnh tư duy" có thể hiểu là: (Với) sức mạnh tư duy, và (Nhờ) sức mạnh tư duy, (Dùng) sức mạnh tư duy. Còn một vài nghĩa nữa: sát cánh cùng, cùng, trợ giúp bởi, chắp cánh cùng... Không dám lạm bàn thêm.

Xin mạo muội đưa ra một số tóm tắt ngắn gọn chủ quan cho những ai còn đang e ngại "phung phí thời gian đọc sách".

1. GIA ĐÌNH, TUỔI NIÊN THIẾU/1928-1944 (từ trang 16 đến trang 32)
- Nguồn gốc gia đình:
..............+ Ông nội, người gốc Do thái, làm thợ nguội cả, từng làm cầu.
..............+ Bố học trường dòng, đại học luật, rồi làm luật sư. Cố vấn pháp lý của Đại sứ quán Đức tại Budapest. Không nhận vụ án li dị, vụ án hình sự. Không đại diện cho bất cứ hãng nào của Hung. Không muốn tham gia tích cực vào bất cứ đảng hay phong trào chính trị nào. Không từ chối nguồn gốc Do thái, song không do dự, luôn tự nhận mình là người Hung.
..............+ Mẹ - ở nhà nội trợ.
..............+ Có hai anh trai và một chị gái.
..............+ Nhà ở nội thành (phố Akadémia), có biệt thự riêng trên đồi Hoa Hồng.
..............+ Gia đình có truyền thống coi trọng văn học.
- Tuổi niên thiếu: học tại trường Đế chế Đức, giảng dạy chủ yếu bằng tiếng Đức, trừ môn tiếng Hung, lịch sử Hung và văn học Hung.
- Giỏi môn Toán và Vật lý.

Xem chi tiết tại:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-01.pdf

2. TÔI TRỞ THÀNH NGƯỜI CỘNG SẢN NHƯ THẾ NÀO?/1945-1947 (33..47)
- Chế độ phát xít nổi lên ở Đức và lan sang Hung đã ảnh hưởng tới gia đình ông (gốc Do thái).
- Năm 1944, bố bị bắt đi tập trung, anh cả bị bắt đi phục vụ ở Nga, anh thứ hai phục vụ ở Nam Tư. Mẹ và chị gái bị bắt đi làm ở nhà máy gạch.
- Bản thân bị "bắt lính", sống khổ sở, đói rét và suýt chết.
- Năm 1945, Liên Xô giải phóng Budapest, chính quyền mới được thiết lập.
- Hăng hái tham gia phong trào của Liên đoàn Dân chủ Thanh niên Hung-ga-ri, trở thành đối tượng Đảng, rồi mau chóng trở thành Đảng viên tích cực.
- Khâm phục Stalin, tìm đọc sách triết học của Stalin.
- Đã đọc nguyên bản Tư bản luận của Marx theo cách "uống từng dòng chữ" và cố gắng hiểu thật kỹ tác phẩm kinh điển này.

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-02.pdf

3. TRONG BAN BIÊN TẬP TỜ SZABADNÉP/1947-1955 (48..60)
- Về công tác ở tòa soạn báo Szabad Nép, cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản. Khởi đầu là phóng viên "bất đắc dĩ", viết phóng sự về gặt lúa. Năm 21 tuổi, lãnh đạo chuyên mục về kinh tế. Hăng hái phát biểu khi đi học khóa bồi dưỡng ở trường Đảng cao cấp.
- Được hưởng chế độ ưu đãi cao cấp "3K": khu nghỉ mát trên núi Kékestető, bệnh viện ưu đãi ở phố Kútvölgyi, và nhà tang lễ cao cấp ở đường Kerepesi.
- Tháp tùng các "sếp" cao cấp của Đảng và Chính phủ đi nước ngoài (Đức) năm 1952.
- 6 năm đầu hiến dâng toàn bộ sức lực và tinh thần cho tờ báo (vợ đẻ vẫn tích cực đi trực ở cơ quan). love struck
- 2 năm sau bị thất sủng nghiêm trọng (xem chương tiếp theo).

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-03.pdf

4. BẮT ĐẦU THỨC TỈNH/1953-1955 (61..73)
- 1953, Stalin qua đời, tình hình chính trị ở Hung có biến động lớn. Điều này đã ảnh hưởng tới nhận thức về Đảng của một thanh niên trẻ tuổi.
- Niềm tin mãnh liệt bị lung lay mạnh khi chứng kiến những việc "người thật việc thật" của một số elvtárs.
- Không tuân theo mệnh lệnh cấp trên khi viết bài báo giải thích, phân tích nguyên nhân tại sao người ta cắt điện vô tội vạ.
- Viết bài điểm sách của Nagy Imre. Quyết định đi theo đường lối của Nagy Imre, đối thủ chính trị của Rákosi Mátyás.

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-04.pdf

5. BẮT ĐẦU CON ĐƯỜNG NGHIÊN CỨU/1955-10/1956 (74..96)
- Tòa báo Szabad Nép bị giải tán, "trôi dạt" về Viện khoa học kinh tế.
- Trước đó, năm 1952 đã đi học đại học, nhưng bỏ dở.
- Năm 1956, hoàn thành luận án phó tiến sĩ ở Đại học Khoa học Kinh tế Karl Marx, mặc dù chưa tốt nghiệp đại học. Thầy hướng dẫn là người dịch Tư bản luận ra tiếng Hung (và học trò Kornai János là người viết bài điểm sách, vì hồi đó rất ít người dám nhận là "đã đọc kỹ Tư bản luận" để có thể làm được việc này).
- Bắt đầu xa rời các nguyên lý cơ bản của Tư bản luận. love struck . Tuy nhiên, trong một thời gian dài, vẫn vững tin là hệ thống XHCN có thể cải cách.
- Nội dung Luận án phó tiến sĩ Sự tập trung quá mức của chỉ đạo kinh tế. Ở đây, đã manh nha những ý kiến bàn về mối quan hệ giữa sự tập trung quá mức và sự thiếu hụt. Tác giả đã dùng các số đo thực tế để "cân đong đo đếm" chứ không dùng những mỹ từ chung chung khi bàn về kinh tế.
- Sau đó, luận văn được đem đến một nhà xuất bản để in thành sách, nhưng bị ngâm lại.
- Lãnh đạo nhóm biên soạn tài liệu cải cách kinh tế cho Đảng và Chính phủ, làm tiền đề cho đợt cải cách kinh tế 1968.
- Suy nghĩ về ranh giới giữa khoa học và chính trị.
- Quyết tâm đi theo con đường nghiên cứu khoa học (kinh tế).

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-05.pdf

6. CÁCH MẠNG VÀ CÁI XẢY RA SAU ĐÓ/23/10/1956-1959 (97..116)
- Cách mạng 1956. Xe tăng xô-viết trên đường phố Budapest.
- Nhà xuất bản Đại học Oxford (vương quốc Anh) đề nghị in cuốn sách Sự tập trung quá mức của chỉ đạo kinh tế.
- Nhà xuất bản Hung đồng ý in cuốn sách Sự tập trung quá mức của chỉ đạo kinh tế. Tác giả bị buộc tội "xét lại" (người phê phán lại chính là người đã khen ngợi hết lời một năm trước đây).
- Năm 1959, bị đuổi khỏi Viện khoa học kinh tế vì cuốn sách, và vì không chịu gia nhập đảng trở lại.
- Bị hỏi cung nhiều lần, vì đã tham gia giúp chuyển một ấn phẩm "phản cách mạng" sang phương Tây.
- Quyết định không di tản. :roll:

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-06.pdf

7. CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA TÔI/ 1957-1959 (117..126)
- Quá trình tự đào tạo theo chuyên ngành kinh tế phương Tây.
- Nghiền ngẫm các bài viết về cuộc tranh luận nảy lửa của các nhà kinh tế học phương Tây.
- Tiếp tục nghiên cứu về công nghiệp nhẹ với cường độ cao.
- Viết bài báo "Có cần chỉnh sửa phần hưởng lợi nhuận hay không?".

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-07.pdf

8. ỨNG DỤNG KINH TẾ CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP TOÁN HỌC/ 1957-1968 (127..148)
- Tự học các chương trình toán học cao cấp (đại số tuyến tính, quy hoạch tuyến tính) vì thấy cần cho kinh tế. 8O
- Cộng tác với một nhà toán học ở Viện Toán viết bài gửi đăng ở tạp chí nước ngoài (phương Tây), không qua các khâu kiểm duyệt truyền thống. Bài viết được nhận lời đăng, không phải chỉnh sửa một từ nào (rất hiếm!).
- Tham gia giải bài toán quy hoạch ngành sợi bông (công nghiệp dệt) bằng máy tính điện tử ở Trung tâm tính toán thuộc Viện Hàn lâm khoa học Hung-ga-ri.
- Cuộc thi đua (ganh đua !?) giữa 2 trường phái: áp dụng quy hoạch tuyến tính và áp dụng mô hình input-output. Tưởng chừng như đây thuần túy là vấn đề chuyên môn, song nó cũng phản ánh những nhận thức khác nhau cơ bản, xét về mặt chính trị kinh tế học.
- Áp dụng quy hoạch tuyến tính cho việc lập kế hoạch cho nền kinh tế quốc dân: kích cỡ của bài toán tăng lên gấp 20-50 lần. Khó khăn hồi đó về mặt thực hiện các tính toán. Tuy nhiên, trong cái khó đã ló cái khôn. Nảy sinh ý tưởng thuật toán Kế hoạch hóa 2 mức.

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-08.pdf

9. HÀNH TRÌNH SANG PHƯƠNG TÂY/ 1963- (149..164)
- Sau nhiều lần xin xuất cảnh không thành công, cuối cùng, năm 1963 đã đặt chân được tới nước Anh. Những cảm xúc ban đầu về "chế độ tư bản chủ nghĩa giãy chết". :lol:
- Năm 1964, đến Trường Kinh tế học London để giảng dạy. 40 năm sau mới phát hiện ra bị "cớm" Hung theo dõi trong thời kỳ này.
- Tiếp tục bị bí mật theo dõi chặt chẽ khi trở về nước Hung. 8)

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-09.pdf

10. BƠI NGƯỢC DÒNG/ 1967-1970 (165..183)
- Suy nghĩ, trăn trở, đào sâu trong nghiên cứu. Viết Tiểu luận phản bác lại công trình nổi tiếng của những "cây đa cây đề". Thì ra, 2 mô hình toán học cực đoan đều không phản ánh đúng thực tế của kinh tế: tập trung quá cũng không được, mà phân tán quá cũng không được.
- Rất may, nhận được sự khích lệ của chính những người bị phê phán. Đó chính là bài học đạo đức trong khoa học.
- Phát triển tiểu luận này thành công trình Chống cân bằng, phê phán lý thuyết kinh tế học tân cổ điển nói chung, và lý thuyết cân bằng chung, chính là cái lõi của nó. Tác giả tự phê bình đối với công trình của mình (quan hệ giữa mô hình lý thuyết và các suy diễn của người áp dụng mô hình).
- Dám phê phán cả trường phái Kantorovich (giải thưởng Nô-ben về kinh tế học)
- Mô tả trạng thái "hối hận" và "sung sướng" khi viết công trình này.

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-10.pdf

11. VIỆN, ĐẠI HỌC, VIỆN HÀN LÂM/ 1967- (184..198)
- Được gọi trở lại công tác ở Viện khoa học kinh tế.
- Được mời đi báo cáo hội nghị, tham gia xê-mi-na, giảng dạy ở nước ngoài.
- Dự định cải cách Viện bằng cách đánh giá thang điểm cho các cán bộ theo số lượng và chất lượng công trình khoa học công bố. Không thành công. :cry:
- Là giáo sư danh dự ở Đại học Khoa học Kinh tế Karl Marx, nhưng không được mời tham gia giảng dạy.
- Trở thành thành viên được bầu của Viện Hàn lâm khoa học Mỹ, sau đó là Viện sĩ của Viện Hàn lâm khoa học Hung-ga-ri (nhờ có ý kiến "duyệt" của Kádár). Tuy nhiên, căn hộ không được mắc điện thoại. love struck

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-11.pdf

12. TÌM ĐƯỜNG VÀ CHUẨN BỊ/ 1071-1976 (199..215)
- Viết cuốn sách Tăng trưởng cưỡng ép hay hài hòa? phê phán nền kinh tế công nghiệp hóa XHCN.
- Giảng dạy tại Đại học Princeton 6 tháng.
- Cùng nhóm nghiên cứu viết bài báo Sự hoạt động thực vật của các hệ thống kinh tế (so sánh việc điều tiết kinh tế với hoạt động của hệ thống thần kinh điều tiết các hoạt động trong cơ thể cơn người). Sau đó phát triển, in thành sách Điều tiết mà không có báo hiệu giá.
- Viết bài báo Bộ máy thích nghi cọc cạch, bị đồng nghiệp "rỉa rói" mạnh mẽ, nhưng đó là liều thuốc tốt, vì nhờ thế, tác giả đã phát triển nâng cao thêm để sau này trở thành cuốn sách Sự thiếu hụt chín muồi hơn.

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-12.pdf

13. BỨC TRANH HÌNH THÀNH/ 1976-1980 (216..232)
- Năm 1976, được mời đi Thụy Điển 12 tháng "muốn làm gì thì làm". Sau đó tác giả yêu cầu thêm 3 tháng, họ lại "lập tức đồng ý". Trong một môi trường đầy cảm hứng như vậy, tác giả đã viết cuốn sách Sự thiếu hụt. (In ở Hung 3 lần, in bằng tiếng Anh ở Hà Lan, dịch ra tiếng Pháp, Ba Lan, và Trung Quốc). Tác giả thừa nhận bộ Tư bản luận của Marx đã truyền cảm hứng cho mình.
- Trong nền kinh tế thiếu hụt thì sự thiếu hụt sản phẩm, dịch vụ là kinh niên và sâu rộng. Thậm chí, mỉa mai thay, một lúc nào đó, nó trở thành "hiện tượng quá bình thường". Không ai muốn điều này, song, đây là lỗi hệ thống. :evil:
- Nhờ khôn khéo, tác giả đã vượt qua sự kiểm duyệt (một phản biện là người bạn, còn một phản biện là một quan chức, nhưng thực ra, ông ta đã giao nhiệm vụ này cho thư ký. Kết quả là tác giả đưa bài viết sẵn của mình cho thư ký, thư ký đưa cho quan chức, quan chức "xem" và ký). Nhờ nắm rõ quy trình phản biện, tác giả đã "nghiến răng" cắt bớt đi Chương 23 của cuốn sách. Chỉ những bạn đọc nào tinh ý mới hiểu cuốn sách có thêm Chương này, song đã bị tác giả "tự kiểm duyệt", cắt bớt đi.
- Tranh luận với một nhà kinh tế học Liên Xô hàng đầu về cuốn sách này.
- Bàn về "chiến lược sống".

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-13.pdf

14. SỰ ĐỘT PHÁ/ 1979- (233..246)
- Nhờ các dữ liệu lưu trữ nhiều năm, công bố bài báo Tái phân chia lợi nhuận của các doanh nghiệp một cách quan liêu .
- Viết tiểu luận Ràng buộc ngân sách mềm. Đại ý, nền kinh tế XHCN cũng bó buộc các doanh nghiệp phải thế này, phải thế kia, ngân sách chỉ có bằng này thôi. Tuy nhiên, ở giai đoạn chót, lại xuất hiện "thuốc chữa". Vì vậy, nó không khuyến khích sản xuất mà khuyến khích các doanh nghiệp "quan hệ". tongue

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-14.pdf

15. VỚI SỰ PHÊ PHÁN THÂN THIỆN, GIỮ KHOẢNG CÁCH/ 1968-1989 (247..262)
- Cải cách kinh tế 1968.
- Tính hiệu quả và đạo đức XHCN.
- Vẫn bị công an mật theo dõi thường xuyên. :wink:

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-15.pdf

16. HAVARD/ 1984-2002 (263..277)
- Những ấn tượng đẹp về những ngày làm giáo sư ở Đại học Ha-vớt.
- Hợp đồng với những điều khoản bất đối xứng: Đại học không được phép "bỏ rơi" giáo sư (trừ trường hợp đương sự vi phạm pháp luật, tất nhiên!). Tuy nhiên, giáo sư lại được quyền bỏ rơi đại học bất kỳ lúc nào, vì bất cứ lý do gì. :roll:
- Cách bổ nhiệm giáo sư ở đây thật chặt chẽ và độc đáo.

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-16.pdf

17. Ở TRONG NƯỚC TẠI HUNGARY, Ở NHÀ KHẮP THIÊN HẠ/ 1985- (278..295)
- Từ chối quốc tịch Mỹ. sad . Đi đi về về giữa Đại Tây dương.
- So sánh cuộc sống "vương giả" bên đó với cuộc sống "tỉnh lẻ" ở Hung-ga-ri.

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-17.pdf

18. TỔNG HỢP/ 1988-1993 (296..308)
- Tổng kết 32 năm nghiên cứu của mình, viết ra tác phẩm "Hệ thống xã hội chủ nghĩa" đưa ra luận điểm: các cuộc cải cách nội bộ không có khả năng cứu hệ thống, mà ngược lại, làm xói mòn các nền tảng của nó.
- Từ chối huân chương "Vì nước Hung-ga-ri XHCN".

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-18.pdf

19. BƯỚC NGOẶT ĐỔI ĐỜI/ 1989-1992 (309..325)
- Viết cuốn sách Đề cương cuồng nhiệt vì quá độ kinh tế (gần như song song với cuốn sách Hệ thống XHCN) với ý thức "mình phải đóng góp vực đất nước dậy".
- Cuốn này sau này được dịch ra tiếng Anh với nhan đề "Con đường dẫn tới chế độ nông nô" (The Road to Serfdom). Tổng cộng, đã xuất bản bằng 17 thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt (Nguyễn Quang A dịch).

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-19.pdf

20. TRÊN RANH GIỚI CỦA KHOA HỌC VÀ CHÍNH TRỊ/ 1990- (326..342)
- Đi Trung Quốc và Việt Nam. Đưa ra nhận xét: Việt Nam giống nước Hung thời những năm 1980. big grin

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-20.pdf

21. TIẾP TỤC, CÁI TÔI ĐÃ LÀM ĐẾN NAY/ 1990- (343..373)
- Buổi lễ mừng sinh nhật lần thứ 70 tổ chức tại Budapest có đầy đủ bạn bè, đồng nghiệp, con cháu tham gia. Đến phút chót, đương sự mới biết! :lol:
- Năm 2002, quyết định chuyển hẳn về Budapest, không ở Đại học Ha-vớt nữa. (tự nguyện về hưu, không ai bắt buộc).
- Dọn nhà về Óbuda.
- Nhắc lại câu chuyện vicc: Đoàn đại biểu Hung đi thăm Trung Quốc. Mao Trạch Đông hỏi: dân số nước các đồng chí là bao nhiêu? Sau khi nghe câu trả lời, Mao Trạch Đông bảo: thật tuyệt vời, dân số ít như thế, chắc là ai cũng quen nhau! big grin big grin .

Xem thêm chi tiết:
http://vnkatonak.com/images/powered/Kornai/Kornai-21.pdf


Một lần nữa, xin cảm ơn vnkatonak.com và dịch giả Nguyễn Quang A.

Một bạn đọc.

===================================

Một vài tấm ảnh sưu tầm về tác giả:









=========================================


Được sửa chữa bởi abcabc ngày 25.08.2006, sửa lần 3
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
AK_63
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Apr 19, 2006
Bài gửi: 1082

Bài gửigửi: 21.08.2006    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Szép volt abc. Giới thiệu, tóm tắt súc tích, mạch lạc như vậy chắc là sẽ có nhiều người sẽ (trong đó có cả AK nữa hehehe :mrgreen: ) có hứng đọc tác phẩm của Kornai. Abc không nghĩ là đã đến lúc phải kiếm tên mới à?
Đúng như Abc đã nhận xét, hồi ký của Kornai giúp người đọc nắm được phông Hung. Tuy nhiên có thể đây mới chỉ là một phần phông được thể hiện qua một góc nhìn nhất định vì hồi ký là thể loại trong đó tác giả bao giờ cũng thiên về chủ quan mặc dù nhiều khi thực lòng vẫn cố gắng khách quan. Thế nên nếu ai biết phông (társadalmi háttér ismeret) của hồi ký Kornai thì đọc sẽ thú vị, khách quan hơn (tất nhiên là không phải ai cũng may mắn có điều kiện tận mắt làm quen khách quan với môi trường xã hội của câu chuyện. Xin lỗi, chỗ này AK viết hơi theo kiểu gà mắc tóc Happy ) và tránh được hội chứng quáng mắt "Đấy, ông ấy đã nói rồi, đúng quá" mà cùng thì cũng chỉ cho đấy là một ý kiến thú vị đáng quan tâm để rồi xem có ai cãi lại không, cãi lại như thế nào để đem ra so sánh :roll: . AK góp chuyện vì nghe nói bản thân nước Hung trong những năm đầu thập kỷ 90 cũng vì ngưỡng mộ các chuyên gia một chiều nên bây giờ gặp nhiều khó khăn trong kinh tế chính trị.
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
abcabc
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Dec 11, 2005
Bài gửi: 227

Bài gửigửi: 25.08.2006    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Dưới đây là tóm tắt của 2 bài báo gửi đăng ở Tạp chí Econometrica:

January 1962 - Volume 30 Issue 1 Page 140 - 161

p.140

A Mathematical Investigation of Some Economic Effects of Profit Sharing in Socialist Firms

J. Kornai
T. Liptak
Abstract
This article examines some economic problems concerned with profit sharing in a Socialist economy. Two alternative systems of incentives have been made the subject of parallel investigations, comparing the effects which each of these systems have on the firm's behavior. We also examine some problems of price regulation. In the investigation both linear and nonlinear programming methods have been used.

================
January 1965 - Volume 33 Issue 1 Page 141 - 169

p.141

Two-Level Planning

J. Kornai
Th. Liptak
Abstract
The planning task may originally be formulated as a single linear programming problem of the maximizing type. This overall central information (OCI) problem may be decomposed into subproblems that can be solved by mutually independent "sectors," coordinated by the "centre" through having the latter allocate the resources to the various sectors. The original OCI problem is then transformed into a two-level problem, in which the "central problem" is to evolve an allocation pattern where the sum of the maximal yields of the "sector problems" will be the greatest. The solution of the two-level problem is achieved by setting up a game-theoretical model. The players are on the one hand the centre, on the other the team of sectors. The strategies of the centre are the feasible allocation patterns, those of the sectors are the high feasible shadow price systems in the duals of the sector problems. The payoff function is the sum of the dual sector objective functions. It is shown that if certain regularity conditions are satisfied, then the value of the polyhedral game which has thus been defined is the maximal yield of the OCI problem. In place of a direct solution of the polyhedral game, a fictitious play of the game is undertaken. The first part of the paper discusses a general model, within whose scope the symbols and definitions are presented and the mathematical theorems are proved. In the second part, the results of the first part are applied to a long-term macroeconomic planning model.
====================
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
AK_63
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Apr 19, 2006
Bài gửi: 1082

Bài gửigửi: 06.09.2006    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Mới đọc được ít phần đầu. Nội dung thì khỏi bàn nhưng câu cú thì thấy ngồ ngộ :lol: (aranyos). Không biết bác Quang A có dịch bằng máy hay không :roll: . Ví dụ từ hung "később" (sau đó, tiếp đó, sau này...) luôn được dịch là muộn hơn, hoặc câu "Nửa năm vẫn chưa trôi qua, và tháng mười hai năm 1947 tôi đã viết xã luận, mà người ta công bố với các chữ đầu của tên tôi." (Még félév se telt el, 1947 decemberében már írtam szerkesztőségi cikket, amelyet monogramommal közöltek - Đấy là AK đoán mò thế theo câu tiếng việt hehehe :mrgreen: ) theo AK nên dịch là "Chưa đầy nửa năm, người ta đã đăng bài xã luận ký tên tắt của tôi vào tháng mười hai năm 1947".
Đấy là tán luyên thuyên tí thôi chứ dịch mấy trăm trang như bác Quang A thì hơi bị công phu rồi hehehe :mrgreen:
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
NguyenHoangSon
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Jan 19, 2006
Bài gửi: 249

Bài gửigửi: 24.09.2006    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Em rất phục bác Quang A, một mình làm cả tủ sách, toàn sách xịn, đọc chả hiểu gì mấy, ko nhằm mục đích thương mại, chỉ nhằm "khai sáng"...

L.

AK_63 đã viết:
Mới đọc được ít phần đầu. Nội dung thì khỏi bàn nhưng câu cú thì thấy ngồ ngộ :lol: (aranyos). Không biết bác Quang A có dịch bằng máy hay không :roll: . Ví dụ từ hung "később" (sau đó, tiếp đó, sau này...) luôn được dịch là muộn hơn, hoặc câu "Nửa năm vẫn chưa trôi qua, và tháng mười hai năm 1947 tôi đã viết xã luận, mà người ta công bố với các chữ đầu của tên tôi." (Még félév se telt el, 1947 decemberében már írtam szerkesztőségi cikket, amelyet monogramommal közöltek - Đấy là AK đoán mò thế theo câu tiếng việt hehehe :mrgreen: ) theo AK nên dịch là "Chưa đầy nửa năm, người ta đã đăng bài xã luận ký tên tắt của tôi vào tháng mười hai năm 1947".
Đấy là tán luyên thuyên tí thôi chứ dịch mấy trăm trang như bác Quang A thì hơi bị công phu rồi hehehe :mrgreen:
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser