vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - Quê nhà
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

Quê nhà
Chuyển đến trang 1, 2, 3  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 28.01.2008    Tiêu đề: Quê nhà Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

QUÊ NHÀ

Vừa "lục" được mất tấm ảnh của bạn Huỳnh Phúc Hậu về quê hương (hay quê nhà) đẹp quá.

Nhân thể "Tết, tết, tết, tết đến rồi" (với những ai không chơi chứng khoán, vulong nhỉ? :lol: ), mạn phép bạn Hậu post các ảnh đẹp lên đây, nhân thể gắn vài ba bài viết mang hương vị quê nhà cho ace cùng đọc.




Cắt lúa



Cất vó



Cây thốt nốt



Chăn bò



Dưới chân núi Sam



Chống xuồng


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 29.01.2008    Tiêu đề: Ảnh làng quê Nam Bộ Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

QUÊ NHÀ

(tiếp theo)




Ra đồng



Cò về



Đợi bố - Đợi bò - Đợi bố và bò - Đôi bò



Giếng nước giữa đồng



Ruộng rau



Thuyền hái rau



Lùa vịt về chuồng



Vớt bèo



Ngày mùa



Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 30.01.2008    Tiêu đề: Quê nhà Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

QUÊ NHÀ

(tiếp theo)




Hoa ô môi



Cánh đồng dưới chân Núi Sam



Phố làng ven núi



Tan trường



Trẻ em



Làm quen



Sau mùa thu hoạch



Cảnh quê



Thong dong



Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
sonhai
Quản trị
Quản trị


Ngày tham gia: Nov 16, 2005
Bài gửi: 1601
Đến từ: Hanoi, Vietnam

Bài gửigửi: 30.01.2008    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Đẹp, đẹp quá phanhong à.

QUÊ NHÀ
Sáng tác: Trần Tiến
Thể hiện: Ngọc Minh


Quê nhà tôi ơi, xứ Đoài xa vắng
Khói chiều mênh mông, sông đã buông nắng ....
Nhớ thương làng quê, lũy tre, bờ đê
Ước mơ trở về nghe mẹ hiền ru bên thềm đá cũ

Quê nhà tôi ơi con đường qua ngõ
Bóng Mẹ liêu xiêu trong chiều buông gió
Nhớ thương đàn con, biết phương trời nào
Áo nâu mùa đông thương mình lận đận
Đêm buồn Mẹ ru :

" à ơi ... hoa bay lên trời, cây chi ở lại,
à ơi ..... hoa cải lên trời,
Rau Răm ở lại chịu lời đắng cay"

Quê nhà tôi ơi, Ba Vì xanh tím
Nón chiều che ngang mắt chiều hoang vắng
Những đêm mùa đông, khói hương trầm bay
Bóng Cha ngồi đây ngọn đèn lung lay
Bức tường vôi trắng ....

Quê nhà tôi ơi, quê người con gái
Mắt buồn, da nâu, giấu tình yêu dấu
Mắt đen về đâu, mắt đen của tôi
Mắt đen chờ ai tháng ngày mỏi mệt
Mối tình long đong

"À ơi, em đi lấy chồng, anh vẫn một mình
à ơi, táo rụng sân đình thương anh một mình
một mình nhớ em ....

à ơi ... hoa bay lên trời, cây chi ở lại,
à ơi ..... hoa cải lên trời,
rau răm ở lại chịu đời đắng cây
à ơi .. hoa cải bay đi, rau răm thôi đành"

http://www.nhacso.net/Music/Song/Tuyen-Chon/2007/09/05F63BB8/




_________________
HƯỚNG DẪN CÁC VẤN ĐỀ VỀ ẢNH
Vẫn có thể gõ được chữ Việt có dấu nếu nhấn vào phím F8!
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 30.01.2008    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

sonhai đã viết:
Đẹp, đẹp quá phanhong à.

QUÊ NHÀ


Quê nhà tôi ơi, xứ Đoài xa vắng
Khói chiều mênh mông, sông đã buông nắng ....
Nhớ thương làng quê, lũy tre, bờ đê
Ước mơ trở về nghe mẹ hiền ru bên thềm đá cũ



@sonhai: Em xin mạn phép chỉnh lại thành:
Khói chiều mênh mông, sông Đà buông nắng ....

:lol: :lol: :lol:
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 30.01.2008    Tiêu đề: Bảy Núi Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Có bạn hỏi, những bức ảnh trên chụp ở đâu? Xin thưa, ở vùng Bảy Núi.

VÙNG ĐẤT BẢY NÚI - AN GIANG

Vùng đất Nam Bộ thường được những người miền Bắc biết đến như một vùng đồng bằng rộng lớn thẳng cánh cò bay. Ngoài hệ thống sông Cửu Long (tiếng Miên là sông Mê-kông) với hai nhánh lớn là sông Tiền, sông Hậu, Nam Bộ còn có hệ thống sông Đồng Nai-Sài Gòn bồi đắp nên cả một khoảnh rộng đầy ắp phù sa châu thổ.

Giữa vùng đồng bằng mênh mông mông ấy, nổi lên hai hệ thống núi đá ở hai đầu: đông Nam Bộ là núi Bà Đen (Tây Ninh), và tây Nam Bộ là vùng Bảy Núi (An Giang).

Núi Bà Đen thờ một nhân vật huyền thoại, thông qua truyền thuyết về một cô gái giữ gìn trinh tiết cho người yêu (là một tráng sĩ ra đi giúp dân cứu nước) bằng cách dũng cảm quyên sinh gieo mình xuống vực sâu, sau được một nhà sư tìm thấy xác, đưa đi an táng, rồi lập miếu thờ. Tương truyền, chúa Nguyễn Ánh vào thời kỳ phiêu dạt ở Gia Định một đêm được Bà báo mộng nên thoát chết, về sau lên ngôi vua, đã cho xây chùa, khắc tượng đồng đen để ghi ơn.

Còn Bảy Núi chỉ tên gọi vùng núi sót thấp ở tỉnh An Giang, bao gồm bảy ngọn núi không liên tục, đột khởi trên đồng bằng tây Nam Bộ, thành phần cấu tạo chủ yếu là đá granit, gồm: Thiên Cấm sơn, Ngọa Long sơn, Ngũ Hồ sơn, Anh Vũ sơn, Liên Hoa sơn, Phụng Hoàng sơn, và Thủy Đài sơn. Cũng vì thế mà nhiều người gọi vùng Bảy Núi bằng cái tên Hán-Việt là Thất sơn. Còn tên dân gian tiếng Việt là: núi Cấm (cao 710 m, từng là nơi lánh nạn của quan quân chúa Nguyễn khi bị quân Tây Sơn truy đuổi gắt gao, cấm tiệt người dân vào hái củi, lâu ngày thành tên riêng), núi Dài (cao 549 m, có lẽ trải dài), núi Dài năm giếng (có lẽ có 5 cái giếng), núi Két, núi Tượng (hay núi Voi, cao 145 m, giống hình con voi ?), núi Cô Tô (cao 614 m, hình dáng giống phượng hoàng ?), và núi Nước (chắc có nguồn nước ngọt dồi dào). Xung quanh vùng đất này còn có đồng bào Khơ-me sinh cơ lập nghiệp, do đó, các ngọn núi còn mang các cái tên Khơ-me: Vo Bo Hong (núi Cấm), Thnor Prao (núi Dài), Phnom Kto (núi Cô Tô)..v.v…

Vùng Bảy Núi giáp ranh với Căm-pu-chia, là nơi thường xuyên bị quân Xiêm (sách cổ ghi là quân Phiên) tràn sang xâm lấn, nên Châu Đốc - thủ phủ vùng này – ngày xưa gọi là Châu Đốc tân cương.

Trước đây, vùng này vắng bóng người, dân cư thưa thớt vì đến mùa lụt, nước sông Hậu tràn ngập, khiến nhiều đồng ruộng bị nhiễm phèn, không thuận lợi cho việc canh tác. Dân ở đây rất khổ, có thời kỳ, quân đội chúa Nguyễn tan tác phiêu dạt hết cả, thành thử, ra lệnh tuyển quân cực kỳ gắt gao: nam giới từ 16 đến 60 tuổi, nếu không ốm dau bệnh tật, buộc phải sung quân. Vì lẽ đó, nhiều gia đình đành gạt nước mắt cho con đi lên núi vào chùa đi tu.

Nguyễn Ánh có chủ trương xây dựng biên cương vững chắc, nên đã hình thành ý tưởng cải thiện đất đai vùng này, đưa dân lên khai phá ruộng vườn (binh lính lưu đày, lưu manh trộm cướp mãn hạn tù…), vừa mở mang kinh tế, vừa chống nạn ngoại xâm.

Năm Đinh Sửu (1817), nhà Nguyễn giao cho Thoại Ngọc hầu nhiệm vụ đốc suất đào con kinh dài 30 km rộng 50 m, đi qua núi Sập, nối Long Xuyên với Rạch Giá, trên cơ sở nạo vét con lạch cũ quanh năm bùn cỏ đọng lấp. Phần việc chuẩn bị ngót nửa năm, vì ngoài số binh lính triều đình, Thoại Ngọc hầu phải tập hợp thêm nhiều lưu dân từ hai tỉnh Quảng Nam - Quảng Ngãi về. Đến 1818 mới bắt đầu công việc, tiến hành trong 1 tháng thì xong. Đào đắp, nạo vét đến đâu, Thoại Ngọc hầu cho lập các làng ấp ven bờ kinh đến đó. Trong hai năm, hiệu quả của việc đào kinh thấy rõ rệt: mùa lũ, nước sông Hậu thoát nhanh ra vịnh Thái Lan (tên ngày xưa là vịnh Xiêm La), bà con nông dân lại đào các con kinh nhỏ hơn để thau chua, rửa phèn, cải thiện chất đất (gọi là “cựa gà”). Do hai bên bờ kinh Thoại Ngọc hầu cho trồng cây, cho nên những khi nước lụt to tràn qua mặt kinh, dân chúng và binh lính vẫn có thể xác định phương hướng để chèo thuyền ban đêm, không như trước kia, giữa đêm tối trời nước mênh mông, chẳng biết đâu là đâu.

Sau khi hoàn tất con kinh Đông Xuyên, Thoại Ngọc hầu cho vẽ bản đồ trình triều đình, được vua khen ngợi, ban sắc chỉ cho lấy tên người mà đặt cho tên kinh. Con kinh được mang tên Thoại hà, và núi Sập đổi tên thành Thoại sơn. (sông ông Thoạinúi ông Thoại).

Ngay triền núi Sập, Thoại Ngọc hầu cho xây một miếu sơn thần, lập đàn cúng tế lễ trời đất và các bậc thần linh, vua chúa đã phù hộ độ trì, và dựng một tấm bia đá chiều cao 3 mét, chiều ngang 1,2 mét, bề dày 2 tấc, khắc 629 chữ Hán sắc nét, ghi lại đầy đủ toàn bộ sự tích công trình.

Sau khi đắp xong thành Châu Đốc (năm Bính Tý -1816), vua Gia Long đã nghĩ đến việc đào một con kinh gọi là kinh Tuần (ngụ ý con kinh dùng vào việc tuần tra biên giới) để tạo hướng phát triển và phòng thủ cho đất này. Sau nhiều ngày đêm nghiền ngẫm, gặp lúc thiên thời, địa lợi, nhân hoà, tháng 9 năm 1819, vua truyền chỉ đào kênh. Thoại Ngọc hầu, bấy giờ là Trấn thủ Châu Đốc, nhận được chỉ truyền định ngày khởi công vào rằm tháng Chạp năm ấy. Ông trực tiếp đốc suất coi sóc công việc đào kinh, với sự trợ lực của Phó tổng trấn Gia Định Trần Văn Năng, các thống chế Nguyễn Văn Tuyên, Trần Công Lai, Nguyễn Văn Tồn... Đợt đào kinh đầu tiên này có 5.000 sưu dân người Việt và 5.000 suất nữa, gồm binh lính và nhân dân, làm ròng rã suốt 3 tháng, đến tháng 3 năm Canh Thìn (1820), thì bị trúng dịch thời khí lây lan qua đường nước uống, nên sưu dân và dân binh bỏ trốn hết, khiến công việc bị đình trệ, buộc phải bỏ dở. Thấy công việc đào kinh vắt kiệt sức dân, triều đình đành cho dừng lại để thư sức dân.

Tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1822), vua Minh Mạng lại cho đào kinh lần thứ hai. Ông nói: "Đường kênh Vĩnh Tế liền với Tân Cương, xe thuyền qua lại đều là thuận lợi... Nay ta theo chí tiên hoàng, cố nghĩ cách khó nhọc một lần mà được thong thả lâu dài về sau".

Việc khởi sự đào con kinh này thậm chí phải tiến hành đi tiến hành lại ba, bốn lần, vì giữa chừng thì vua Gia Long băng hà, vua Minh Mạng lên nối ngôi. Vua Minh Mạng thấu hiểu được sự quyết tâm sắt đá của vua cha, nên vẫn tin tưởng giao cho Thoại Ngọc hầu đốc suất việc đào kinh, mặc dù lần này khó khăn và tốn kém hơn lần trước rất nhiều, bởi phải bạt núi xẻ rừng, đi ngang qua vùng Bảy Núi.

Phải nói, Thoại Ngọc hầu mặc dù tuổi đã cao (hơn 60 tuổi), nhưng làm việc tận tuỵ, lại vẫn được sự giúp sức lo toan hết lòng của bà vợ là bà Châu Thị Vĩnh Tế (quê gần đó) như lần trước, nên công việc đã hoàn thành. Ông còn cho đắp 3 con lộ xung quanh chân các ngọn núi, trong đó có con lộ nối núi Sam với Châu Đốc dài 5 km với 4 chiếc cầu gỗ vững chắc, xe ngựa đi lại được, nên đặt tên là “Tân lộ kiều lương”. Nhờ thế nhân dân có thể vào sát chân núi mà khai khẩn đất đai, trồng trọt khoai lúa, gây dựng hoa trái (vùng đất xa chân núi trũng hơn, chất đất xấu hơn vì lắng phèn).

Con kinh thứ hai này dài 90 km, rộng 40 m, sâu 6 m, nối Châu Đốc với Hà Tiên (có lúc gọi là kinh Châu Đốc), đi dọc theo biên giới tây nam Việt Nam-Căm-pu-chia, Thoại Ngọc hầu đào mất 5 năm. Ngay trong lúc đào kinh, dân gian đã quen miệng gọi đây là kinh Vĩnh Tế, vì thế vua Minh Mạng chấp thuận cho con kinh mang tên vợ ông, là Vĩnh Tế hà (kinh Vĩnh Tế), sông bà Vĩnh Tế.

Thật buồn, sau khi công trình kinh Vĩnh Tế hoàn thành thì bà vợ Thoại Ngọc hầu mắc bệnh rồi mất. Ông cho xây dựng sẵn trên núi Sam khu lăng mộ của vợ chồng ông, ngụ ý cuộc đời ông gắn bó với mảnh đất thân thương này. Đặc biệt, ông phái nhiều toán người đi dọc hai bờ kênh, từ Châu Đốc đến Hà Tiên quy tập mồ mả của những thủ túc thân tín đã giúp đỡ vợ chồng ông trong việc đào con kinh và lập làng dựng ấp bị thiệt mạng, đồng thời lục tìm hài cốt những dân binh tử nạn đem về cải táng hai bên tả và hữu khuôn lăng.

Lăng được bao bọc bằng một bức tường thành vách đúc dày dặn. Cổng vào lăng có vòm cong hình bán nguyệt, hai bên trụ có chạm khắc câu đối. Muốn vào lăng phải bước lên chín bậc thềm bằng đá ong. Mộ Thoại Ngọc hầu nằm chính giữa, bên phải là mộ bà chính thất Châu Thị Vĩnh Tế, bên trái hơi lùi lại một chút, là mộ bà thứ thất Trương Thị Kiệt, biểu thị sự kính nhường và tôn ti thượng hạ trong nề nếp gia phong dòng họ. Bên phải khu mộ chính, là những ngôi mộ hình bầu dục, hình voi phục, hình trái đào…

Trong buổi lễ long trọng dựng bia kỷ niệm Thoại Ngọc Hầu đứng ra làm chủ lễ, đọc bài “Tế nghĩa trũng văn". Đây là bài thơ tế cô hồn tử sĩ, ghi khắc công lao và sự thương tiếc đối với binh sĩ, sưu dân đã bỏ mình trong công cuộc đào kinh.

+++

Núi Sam chỉ là một ngọn núi đá hoa cương trẻ cao 230 m, chiếm một diện tích chừng 280 héc-ta, không nằm trong bảy ngọn núi nổi tiếng kể trên, nhưng nhắc đến Bảy Núi, người ta vẫn thường liệt kê thêm gần chục ngọn núi, trong đó có núi Sam, núi Sập, núi Ba Thê (Tà Lê – nơi có di chỉ khảo cổ học Ốc Eo)… Xét về phong thủy, núi Sam ở địa thế nhìn xuống dòng kinh Vĩnh Tế, và gần Châu Đốc, lại đứng độc lập trên cánh đồng phì nhiêu, nên tiện đường dân chúng giao thông đi lại.

Với việc hoàn thành hai con kinh đào, một vùng đất đai bao la rộng lớn (hơn 100.000 héc-ta) đã dần trở thành một vựa lúa của Nam Bộ mang tên tứ giác Long Xuyên. Trải qua 3 đời vua (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị), nhà Nguyễn đã đánh dấu công cuộc trị thủy bằng việc đào được tổng cộng 8 con kinh lớn (sông đào) trên phạm vi cả nước, thì trong đó, riêng công lao của vợ chồng Thoại Ngọc hầu đã là 2 con kinh. Thật lớn lao!

+ + +

Năm 1984, lần đầu tiên tôi ghé chân Sài Gòn, đi dọc đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, chợt thấy một con phố nhỏ mang tên Thoại Ngọc hầu. Chả biết ông là ai, sau hỏi dò mới mang máng biết đó là một danh tướng triều Nguyễn. Còn bài địa lý phổ thông của chúng tôi năm nao vẫn không hề thay đổi, không thấy nói gì đến vùng đất chua phèn, giao thông khó khăn, dân cư thưa thớt, giặc giã liên miên, đầy thú dữ rắn rết, cướp đường thảo khấu lẩn khuất trên những quả núi âm u, cứ làm như tự dưng có ngay một đồng bằng châu thổ phì nhiêu màu mỡ, bốn mùa hoa trái bội thu như vùng “gạo trắng nước trong” Cần Thơ Sa Đéc, vùng “rừng tràm sân chim” U Minh Thượng, U Minh Hạ , hay miền Đông “gian lao và anh dũng” hiện ra tươi tắn qua nhạc phẩm “Nhạc rừng” của Hoàng Việt ?!.

Thông tin thêm 1:

Vùng Bảy Núi thuộc hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, tỉnh An Giang.

Thị xã biên giới Châu Đốc nằm trên bờ sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh 250 km về phía tây, chạy xe buýt mất khoảng 6 tiếng. Châu Đốc được coi như một địa điểm mua sắm phong phú tại Việt Nam, nơi có những sản phẩm với xuất xứ từ Thái Lan, Malaysia... Giá cả cạnh tranh một phần vì là hàng miễn thuế, hoặc trốn thuế. Từ Châu Đốc vượt khoảng 30 km qua xã Khánh Bình, bên kia biên giới chưa đầy 1 km, khách có thể đến các sòng bạc (ca-si-nô).

Thị xã Châu Đốc có chiều dài lịch sử gắn liền với những câu chuyện ly kỳ về Bà Chúa Xứ Núi Sam (có Lễ hội Bà Chúa Xứ vào tháng Tư âm lịch hằng năm), cũng như những sự kiện trong công cuộc gìn giữ đất nước như huy động sức dân đào kênh thủy lợi, quân sự Vĩnh Tế; chiến đấu trong các thời kỳ Pháp, Mỹ, chiến tranh biên giới Tây Nam.

Châu Đốc là nơi có thể tìm hiểu về văn hóa, dân tộc Chăm và Khmer. Ở Châu Đốc có các thánh đường Hồi giáo phục vụ cộng đồng dân cư người Chăm.

Đặc sản địa phương gồm các loại mắm lóc, trê, thái...; khô cá lóc, cá tra phồng, sặc bổi...; đường thốt nốt.

Thông tin thêm 2:

Thoại Ngọc hầu tên thật là Nguyễn Văn Thoại, sinh ngày 25 tháng Mười Một năm Tân Tỵ (1761) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 22, nhằm đời Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng đế - tức Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát năm thứ 23, tại Diên Phước, phủ Điện Bàn, trấn Quảng Nam. Thuở nhỏ, ông theo gia đình vào phương Nam lánh nạn, sinh sống ở cù lao Dài trên sông Cổ Chiên, thuộc Tiền Giang ngày nay. Thoại Ngọc hầu là con của ông Nguyễn Văn Lượng và bà Nguyễn Thị Tuyết. Ông là anh cả trong gia đình với hai người em. Ông tham gia quân đội triều Nguyễn năm 1777 tại Long Hồ. Năm 1784, ông được phong Khâm sai Cai cơ. Năm 1802, được phong Chưởng cơ Quản suất Biền binh Lưu thu Bắc thành (tức thủ đô Hà Nội ngày nay). Năm 1803, làm Trấn thủ Lạng Sơn. Năm 1808, làm Trấn thủ Định Tường. Năm 1817, làm Trấn thủ Vĩnh Thanh kiêm quyền Tổng trấn Gia Định thành. Từ năm 1821, ông đến án thủ ở đồn Châu Đốc.

Cuộc đời của ông có thể tóm tắt như bia ký đã ghi trên triền núi Sập: “Trộm nghĩ, lão thần vốn người Quảng Nam, thưở nhỏ lánh mình vào Nam, được vào nhung vụ, theo hầu sang Vọng các, may được ân tú ngộ, bôn tẩu trên miền thượng đạo, qua lại Xiêm, Lào, Cao Miên, được trấn giữ Lạng Sơn , Định Tường. Lại kính cẩn nhận vua ban ấn bảo hộ nước Phiên, rồi có lệnh giữ trấn Vĩnh Thanh, co tay mà tính, trong khoảng trên vài mươi năm, gặp gỡ hai triều…”

Nhắc đến vùng đất núi Sập, ta không sao quên được công sức của ông cùng biết bao người thuở trước. Tất cả đã dốc lòng khai phá, biến rừng rậm, đầm lầy thành ruộng nương, nạo vét kênh mương và mở mang thôn xóm. Cũng chính tại nơi đây, ông đã cho đào kinh Thoại hà để thông thương các miền Long Xuyên, Rạch Giá.

Bia ký ghi: “Mùa xuân năm Mậu Dần , vâng chỉ đốc suất đào kinh Đông Xuyên. Ngày thụ mệnh vua, sớm khuya kinh sợ, đốn cây rậm, bới bùn lầy, đào kinh dài một vạn hai ngàn bốn trăm mười tầm, trải qua một tháng thì xong việc, nghiễm nhiên trở thành một con sông to, ghe thuyền qua lại tiện lợi …”.

Đâu chỉ có vậy. Hai năm sau (1820), ông được lệnh vua Minh Mạng cho đào một con kinh nối Châu Đốc với Hà Tiên. Thoại Ngọc Hầu đã huy động dân, binh dốc sức vượt bao gian khó hoàn thành sứ mệnh.

Ông tự đánh giá về công việc của mình như sau: “Thần thụ mệnh vua, siêng năng kính cẩn, nhóm dân lập ấp, tuỳ xem địa thế: một đường ngang song song ra đến trường giang, một đường thẳng lên Sốc Vinh, một đường ngay đến Lò Gò. Vổ về dân sự, mở mang thôn ấp, khai khẩn ruộng vườn, tuy trong muôn phần chưa thoả mãn được một, nhưng đem nay mà sánh xưa, thì đã khác lạ lắm.”

Thế nhưng, sau khi ông mất tại Châu Đốc ngày 6 tháng Sáu năm Kỷ Sửu (1829), tấm lòng son sắt suốt 52 năm vì nước vì dân của ông gần như bị vua Minh Mạng phủi sạch. Sự việc bắt đầu khi một tên quan là Võ Du ở Toà Hình Bộ tố cáo ông đã nhũng nhiễu của dân nhiều khoản. Triều đình nghị án, ông bị truy giáng tước xuống hàm ngũ phẩm, con trai ông là Nguyễn Văn Tâm bị lột ấn hàm; tất cả điền sản để lại đều bị tịch thu phát mãi. Về sau, người ta không biết Tâm đi đâu làm gì. Riêng Nguyễn Văn Minh, con dòng thứ, cam phận sống cảnh dân dã, nghèo nàn.

Còn người nghĩa tế (con rể) tên Võ Vĩnh Lộc, cưới con gái nuôi của ông tên (thị) Nghĩa, về sau vào thành Phiên An (thành Quy ở Gia Định) theo Lê Văn Khôi (con nuôi Tả quân Lê Văn Duyệt) khởi nghĩa chống lại triều đình. Khi cuộc nổi dậy bị đàn áp, hai vợ chồng Lộc đều bị bắt, bị giết. Nhà vua chỉ dụ cho Bộ Hình điều tra mối quan hệ giữa Lộc và Thoại Ngọc hầu. Thời gian sau, mọi việc được phơi bày. Tên Du phạm tội tố cáo gian trá, bị cách chức, lãnh án lưu đày đi Cam Lộ (Quảng Trị). Về phần Thoại Ngọc hầu, triều đình kết luận ông không dính líu gì với con rể trong vụ loạn tại thành Phiên An. Cho dù năm Minh Mạng thứ 16 (1835), triều đình cho đúc Cửu Đỉnh để làm quốc bảo và tượng trưng cho sự miên viễn của hoàng gia, hình kinh Vĩnh Tế được chạm vào Cao Đỉnh, nhưng chẳng hiểu sao, nhà vua chẳng giải oan cho người có công đã khuất và phục hồi phẩm tước, quyền lợi cho con cháu ông.

Mãi đến ngày 25 tháng 7 năm Giáp Tý (1924), vua Khải Định mới xem xét và chính thức truy phong Thoại Ngọc Hầu thành “Đoan Tức Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần”. Tính đến ngày ấy , nỗi oan mà anh linh Thoại Ngọc Hầu và con cháu ông gánh chịu đã 95 năm !

………………………………………………………………Bùi Thụy Đào Nguyên



Kinh Vĩnh Tế



Kinh Vĩnh Tế




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 01.02.2008, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 31.01.2008    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

QUÊ NHÀ

(tiếp theo)




Người Khơ-me gieo mạ



Hồ nước Ta Pa



Khai thác đá



Lăng Thoại Ngọc hầu



Vườn tao ngộ



Làng bè



Chùa hang


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 31.01.2008    Tiêu đề: Đua bò Bảy Núi Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

LỄ HỘI ĐUA BÒ BẢY NÚI

Hằng năm, đồng bào Khơ-me ở An Giang tổ chức lễ cúng báo hiếu ông bà tổ tiên, những thân nhân đã qua đời gọi là Sen Dolta (tết Đôn-ta) kéo dài 3 ngày, từ 29 tháng 8 cho đến mồng 1 tháng 9 âm lịch (nếu tháng thiếu thì kéo sang mồng 2 tháng 9).

Ba ngày mang ba ý nghĩa khác nhau: ngày thứ nhất nghênh tiếp, ngày thứ hai lưu giữ và ngày thứ ba đưa tiễn ông bà. Trong không khí ấy, người Khơ-me dành trọn cả đêm để thưởng thức dàn nhạc ngũ âm biểu diễn, hoặc hào hứng uốn mình trong điệu múa lăm-vông đầy ấn tượng. Nhưng đặc biệt nhất của lễ Dolta hằng năm là đều có Lễ hội đua bò, tổ chức luân phiên ở hai địa điểm: nếu năm nay tổ chức ở huyện Tịnh Biên, thì năm sau tổ chức ở huyện Tri Tôn, thuộc vùng Bảy Núi, tỉnh An Giang. Theo các cụ già kể lại thì hội đua bò đã tồn tại hàng trăm năm nay.

Ở vùng đất này, từ lâu đời, bò vốn được nuôi để làm sức kéo chính phục vụ cho nghề nông. Sau những ngày lao động vất vả, người dân Khơ-me thường dong bò chạy trên thửa ruộng của mình, và lâu dần, trò chơi này đã trở thành một trò chơi dân gian.

Ngày nay, đua bò đã được nâng lên thành lễ hội – và được công nhận là lễ hội cấp quốc gia. Sân đua bò là một thửa ruộng có kích thước không quy định cứng nhắc cụ thể, chiều dài có thể đến 200m, chiều rộng khoảng 100m. Sân đua được bao bọc bởi những tán cây xanh mát và những bờ đất cao làm chỗ ngồi cho khán giả, ban tổ chức và trọng tài. Mặt ruộng sân đua được bơm nước xâm xấp, ngập khoảng 5-10 cm. (Trước kia, có hồi người ta đua bò trên mặt đường, nếu nài bò bị ngã rất nguy hiểm, nhưng nay đã cải tiến thể thức, vì vậy tính mạng của người nài bò an toàn hơn).

Đường chạy vòng quyết định dài gần 100m, rộng 4m, hai đầu đặt điểm xuất phát và đích đến, chừa một khoảng cách an toàn khá xa.

Trong cuộc thi, từng đôi bò phải đua tranh nhau quyết liệt theo thể lệ loại trực tiếp, chỉ cần thua đối thủ một vòng là bị loại ra khỏi cuộc chơi. Cứ thế, các đôi bò thắng cuộc lại tiếp tục loại nhau cho đến vòng cuối cùng. Luật thi đấu không giống bất kỳ luật của cuộc tranh tài nào khác. Mỗi đôi bò được ách vào cổ một chiếc bừa đặc biệt (gọng bừa là bàn đạp bao gồm một tấm gỗ rộng 30cm, dài 90cm, bên dưới là răng bừa), có người điều khiển (nài bò) đứng bên trên.

Trước khi thi đấu, hai nài bò rút thăm trực tiếp xem đôi bò của ai chạy trước, đôi của ai chạy sau, chứ hai đôi bò không chạy song song cùng nhau.

Các đôi bò đăng ký dự thi đã được chăm sóc kỹ từ mấy tháng trước, cho ăn những thức ăn bổ dưỡng và tập luyện gian khổ. Với những chiếc lục lạc vàng sáng loáng, chiếc ách sơn phết đẹp mắt cùng cặp sừng nhỏ nhắn nhưng chắc chắn, các đôi bò bắt cặp nhau, chờ vào vòng đua.

Cuộc đua bắt đầu. Trước tiên, cả hai đôi bò phải chạy chậm quanh sân hai vòng để làm quen đường đua và không khí cuộc đua, đồng thời mang tính chất diễu hành như để “hâm nóng” cuộc đua, gọi là “vòng hô” (tiếng vùng này phát âm là “vòng hu”). Ở vòng này, nếu đôi bò nào đạp vào bừa của đôi bò khác là bị loại. Sau hai “vòng hô” là tới điểm phất cờ để bước vào “vòng thả”. Đoạn “thả” quyết định phân thắng bại, nếu đôi chạy trước bị đôi sau đuổi kịp đạp lên bừa, “bay qua mặt” là đôi sau thắng. Ngược lại, nếu đôi bò chạy trước chạy nhanh hơn, không để đôi sau đuổi kịp, về đến đích trước là đôi bò đó thắng cuộc. Trên đường đua, đôi bò nào không chịu nổi sức ép cổ vũ hò reo cuồng nhiệt của khán giả, bỏ đường chạy cũng bị tính là thua.

Theo những khán giả sành điệu thì hấp dẫn nhất của cuộc đua bò là ở hai vòng hô. Khi đó, tuy hai đôi bò chạy chậm, nhưng đó là lúc người nài bò thể hiện hết tài năng điều khiển bò của mình. Chàng kỵ sĩ chiến thắng chung cuộc sẽ được mọi người tán tụng, xem như vị anh hùng cầm vàm bò can đảm nhất vùng.

Nài bò phải thuộc tay nhà nghề, có sức khoẻ, gan dạ, khôn khéo, mưu trí, hiểu ý đôi bò của mình mà thúc giục chúng vào thời điểm thích hợp, để đôi bò chạy đồng thời, không lệch đường đua. Nếu không may, người nài bò chạy trước đứng không vững trên thanh bừa, rơi xuống đất, có thể bị đôi bò chạy sau giẫm đạp lên vô cùng nguy hiểm.

Mỗi lần lễ hội được tổ chức, có khoảng trên 30 đôi bò tham gia. Huyện nào đăng cai tổ chức sẽ được ưu tiên một số lượng tham gia theo quy định. Hiện nay, những người có bò đăng ký tham gia lễ hội không chỉ khoanh vùng ở Tịnh Biên và Tri Tôn. Ban tổ chức còn mời gọi các tay đua từ nhiều địa phương khác để tạo thêm số lượng tham gia phóng phú, sôi nổi, lễ hội thêm tưng bừng, hào hứng.

Lễ hội đua bò là môn thể thao hấp dẫn nên lễ hội này ngày càng thu hút nhiều du khách, không những trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, mà còn từ thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông Nam bộ về tham dự.


Ngày 9.10.2007, tại sân đua chùa Thôm Mít, ấp Vĩnh Hạ, xã Vĩnh Trung, huyện Tịnh Biên, An Giang, 70 đôi bò tham dự lễ hội đua bò Bảy Núi lần thứ 16 nhân dịp tết Dolta của người Khơ-me. Hơn 40.000 người đứng quanh bờ đê, trèo lên cây, lên tháp chùa theo dõi đua bò từ sáng đến 6 giờ tối.

Sân đua là một thửa ruộng dài 160m ngang 60m. Thể thức thi mỗi lần 2 cặp (loại trực tiếp) với 2 vòng hô (để bò đi nước kiệu cho quen đường) đến vòng thứ 3 là vòng thả, ở đoạn 90 m cuối, nài bò điều khiển bò chạy tốc độ, bò nào về đích trước sẽ thắng. Đôi bò chạy sau, nếu giẫm được lên giàn bừa của đôi bò trước, thì đôi bò trước bị thua.

Bên ngoài trường đua có một thửa ruộng rộng để bò tập kết. Tại đây, chủ thường cho bò đua uống sô-đa hột gà với nước dừa, cháo...và dùng nước đá lao khắp mặt và lưng bò để làm mát, dùng nửa trái chanh áo đường cát đổ vào cổ bò để bò không bị chảy nước bọt.

Kết quả về nhất là đôi bò của ông Chao Thanh, xã Tân Lợi, huyện Tịnh Biên, đoạt cúp, tiền thưởng trị giá 7 triệu đồng, thêm một bình xịt thuốc, một xe honda. Giải nhì là đôi bò của ông Nguyễn Thanh Tài, xã Lê Trì, huyện Tri Tôn, phần thưởng 3 triệu đồng, một cái bình xịt thuốc và một ti vi 21 inch.









Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 01.02.2008    Tiêu đề: Đua bò Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Sau loạt ảnh tương đối tĩnh lặng của cuộc sống nơi miền quê yên ả của Huỳnh Phúc Hậu, là phóng sự ảnh sôi động của Trương Công Khả về lễ hội đua bò của đồng bào Khơ me.

Tiếc là trang web truongcongkha.com đang tạm ngừng hoạt động, nên "chỉ" lượm được có... ngót ngét hai chục bức ảnh đẹp. :lol:




Chờ đợi vào cuộc



Đặt ách vào cổ bò



Vắt chanh vào cổ họng bò



Nài bò



Đường đua



Gắng sức



Chạy nhanh lên, cưng !



Gian khó



Ngẩng cao đầu



Ngó nhìn đối thủ



Tung toé



Tăng tốc



Vượt lên



Về đích



Đoạt giải



Thất vọng



Nỗi buồn



Trượt ngã



Tháo ách cho bò



Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang 1, 2, 3  Trang kế
Trang 1 trong tổng số 3 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser