vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - VIẾT VỀ CÁC ANH, CÁC CHỊ...
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

VIẾT VỀ CÁC ANH, CÁC CHỊ...
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Những bài viết gợi về ký ức một thời
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 877
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 13.01.2015    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

SỰ KIỆN BINH BIẾN ĐÔ LƯƠNG NGÀY 13/1/1941

Binh Biến Rạng - Lường, Binh Biến Đô Lương, Khởi nghĩa Đô Lương, Khởi nghĩa Đội Cung. Dù cách gọi khác nhau nhưng sự kiện ngày 13/1/1941 mãi mãi là biểu hiện của tinh thần yêu nước cao độ của người Việt Nam, gắn liền với tên tuổi ông Đội Cung và địa danh Đô Lương anh hùng.

Đôi lời:
Sáng nay trong chương trình phát thanh QĐND, tôi nghe được bài viết về sự kiện “Khởi nghĩa Đô Lương” nhân kỷ niệm lần thứ 74 ngày xẩy ra sự kiện 13-01-1941. Đô Lương là quê hương tôi, nghe về sự kiện lịch sử này lòng tôi trào dâng cảm xúc và tự hào về quê hương tôi. Từ nhỏ tôi đã từng nghe bài hát về Đô Lương quê tôi, trong đó có các câu:

Đô Lương quê tôi dạt dào tình mến thương.
Sông Lam mùa lúa đôi bờ tưới mát.
Ai đã qua Đô Lương, ngược xuôi chợ Rạng còn nghe vang vọng bài hát năm xưa câu ví đò đưa.
Quê ta năm xưa đã từng chống Pháp,
Lớp lớp phá xiềng vùng lên, dao mác diệt đồn vẫn cao cờ khởi nghĩa Đô Lương...


Mời ace nghe bài hát dưới đây



Khởi nghĩa Bắc Sơn 1940 xẩy ra ngày 27 tháng 9 năm 1940; khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ đêm 22 rạng sáng 23 tháng 11 năm 1940 và cuộc Khởi nghĩa Đô Lương xẩy ra ngày 13/01/1941 là những cuộc khởi nghĩa tập dượt cho cuộc Tổng khởi nghĩa năm 1945.

Tối nay nhờ ông Gu Gờ tìm một bài viết về SỰ KIỆN BINH BIẾN ĐÔ LƯƠNG NGÀY 13/1/1941 của “Đô Lương Online” trên Facebook, xin chép lại đây:

Từ đầu năm 1940, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, phong trào cách mạng của quần chúng ngày càng lan rộng và có ảnh hưởng đến tinh thần các binh lính người Việt trong quân đội Pháp
Tại Nghệ An, binh lính rất bất bình vì bị bắt sang Lào làm bia đỡ đạn cho thực dân Pháp trong cuộc chiến với Thái Lan nên đã hình thành nên sự phản kháng trong hàng ngũ của một số tầng lớp binh lính, trong đó nổi bật nhất là binh lính đồn Chợ Rạng (Thanh Chương - Nghệ An), người đứng đầu nhóm binh lính đó là Nguyễn Văn Cung. Ông quê ở xã Đông Thọ, huyện Đông Xương (nay thuộc thành phố Thanh Hóa), ông giữ chức đội trưởng lính khố xanh nên thường gọi là Đội Cung.


Tượng đài BINH BIẾN ĐÔ LƯƠNG


Sau khi đã tìm được sự đồng thuận, ngày 13/1/1941, dưới sự chỉ huy của Đội Cung và được sự ủng hộ của hai ông cai là Hoàng Á và Lê Văn Vỹ, binh lính đồn Chợ Rạng đã binh biến nổi dậy. Ngay tối hôm đó, họ đánh chiếm đồn Đô Lương, giết đồn trưởng rồi lên ô tô kéo về Vinh định cùng anh em binh lính ở đây giết giặc chiếm tỉnh lỵ Nghệ An.

Do bị lộ, lực lượng nghĩa binh không chiếm được trại giám binh, quân Pháp đã kịp thời phản công, dồn quân đàn áp, nhanh chóng dập tắt cuộc binh biến. Sau khi binh biến kết thúc, sau một thời gian trốn tránh, ngày 14/3/1941 Đội Cung bị quân Pháp bắt. Ngày 20/2/1941, tại Hà Nội, thực dân Pháp đã mở Tòa án binh xét xử những binh lính tham gia cuộc binh biến Đô Lương. Đội Cung và 10 đồng chí của ông bị kết án tử hình, 12 người bị kết án chung thân, hai người bị xử 20 năm tù khổ sai, bảy án 15 năm tù, một án 12 năm tù… Ngày 25/4/1941, thực dân Pháp thi hành án tử hình Đội Cung và các nghĩa binh tại 3 địa điểm: Vinh, Chợ Rạng và Đô Lương.

Cuộc binh biến Đô Lương là hành động yêu nước của binh lính người Việt Nam trong quân đội Pháp. Tuy nhiên, cũng giống như cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, cuộc binh biến Đô Lương nổ ra vào lúc kẻ thù còn mạnh, lực lượng khởi nghĩa chưa được tổ chức và chuẩn bị kỹ lưỡng nên đều thất bại. Tuy vậy, các sự kiện oanh liệt đó đã “gây ảnh hưởng rộng lớn trong toàn quốc”, nêu cao tinh thần anh hùng bất khuất của nhân dân ta, giáng đòn chí tử vào thực dân Pháp, cảnh cáo phát xít Nhật vừa mới đặt chân vào nước ta. Đó là những tiếng súng báo hiệu cho một cuộc khởi nghĩa toàn quốc sau này, là bước đấu tranh bằng vũ trang của các dân tộc Đông Dương.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, cuộc binh biến Đông Dương, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã để lại cho Đảng Cộng sản Đông Dương những bài học bổ ích về khởi nghĩa vũ trang; xây dựng lực lượng vũ trang và chiến tranh du kích, làm tiền đề trực tiếp chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám về sau.[/color]

(Xem bài gốc ở đây)

Xin post một số bức ảnh về Đô Lương:



Lễ rước Bằng Di tích lịch sử cấp Quốc gia đền Phú Thọ, xã Lưu Sơn (xã quê tôi)


Nhân dân xã Lưu Sơn và du khách rước bằng về Đền Phú Thọ


Cổng đền Phú Thọ, Lưu Sơn

Đền Phú Thọ là nơi thờ phụng Thái Phó Tấn Quốc Công Nguyễn Cảnh Hoan, người có công với nước được nhân dân tôn là vị thần linh của làng, của xã Lưu Sơn


Trích dẫn:

Theo sử sách ghi lại, năm 1573 đến 1574 Ngài Thái Phó tấn Quốc công Nguyễn Cảnh Hoan đã chiêu tập binh tướng về Hồ Sơn -Nam Đàn và Phú Thọ xã Đại Truyền, Thanh Lưu thuở trước xã Lưu Sơn bây giờ để lập căn cứ địa, xây thành, đắp lũy chiêu tập binh sỹ, tập dượt voi, ngựa chuẩn bị ứng chiến, giúp dân cày cấy làm ăn, trồng mía ép mật, tích trữ lương thực và ngài còn giúp dân trồng cây thuốc để chữa bệnh. Thật là: “Một đoàn quân lính nghiêm đồn sở, Vạn lại giang sơn vẫn lắng yên”.
...
Di tích được xây dựng tại một vùng đát đã ghi dấu, chứng kiến nhiều công tích của Ngài, qua những tư liệu và những hiện vật còn lưu giữ tại đền giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự cống hiến to lớn của Ngài Thái Phó tấn Quốc công đối với sự nghiệp trung hưng đất nước trong lịch sử dân tộc. Ông là một danh thần thời Lê từng được nhiều sử sách ghi nhận như Đại việt sử ký toàn thư, Khâm định việt sử thông giám cương mục, Đại nam nhất thống chí. Đặc biệt, cuộc đời và những chiến công oanh liệt của Ngài được ghi cụ thể trong tác phẩm Hoan Châu Ký. Đền Phú Thọ là nơi thờ phụng Thái Phó Tấn Quốc Công Nguyễn Phủ Quân, Người có công với nước, được nhân dân tôn là những vị thần linh thiêng của làng, của xã. Bởi vậy, di tích chính là một điểm văn hóa tâm linh của một vùng đất, vùng quê, phục vụ nhu cầu thăm viếng, tưởng niệm người có công với dân, với nước gắn với tục thờ Thần của cộng động dân cư.
....
Đền Phú Thọ có nét độc đáo tiêu biểu là nghệ thuật chạm khắc, được sánh ngang với các mảng chạm khắc ở cung đình Huế. Kết cấu đền sử dụng toàn bộ hệ thống cột trụ và bẩy đỡ nên rất thuận lợi cho việc chạm trổ và điêu khắc trang trí. Bộ khung đình là một tác phẩm điêu khắc bằng gỗ đồ sộ và độc đáo, cuốn hút bởi các mảng chạm trổ mỹ thuật về các đề tài truyền thống. Từ hệ thống tàu đỡ mái, sòi mái, đến các vì kèo cổ nghế tam oai, bức ván nong và các bộ phận tiếp giáp, các xà hạ đều được hội tụ đầy đủ các tinh hoa của người xưa để lại. Vì vậy, đền Phú Thọ là một trong những công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của Nghệ An.
Buổi lễ đón Bằng công nhận di tích lịch sử cấp Quốc gia Đền Phú Thọ đó diễn ra trang nghiêm. Đây là niềm vinh dự không chỉ của Đảng bộ nhân dân xã Lưu Sơn, mà còn là niềm vinh dự tự hào của Đảng bộ và nhân dân huyện Đô Lương. Chắc chắn rằng Đền Phú Thọ sẽ ngày càng được các cấp các ngành, các cá nhân quan tâm, tôn tạo, xây dựng đền xứng đáng với một di tích kiến trúc nghệ thuật Quốc gia.
Theo Đài Đô Lương


Đô Lương quê tôi còn có nhiều đền đình, danh lam, thắng cảnh khác, đặc biệt một số đền được Nhà nước công nhận di tích lịch sử như đền Quả Sơn. Đây là ngôi đền linh thiêng thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, con trai thứ 8 của Lý Thái Tổ Lý Công Uẩn, người mở đầu vương nghiệp nhà Lý. Xin giới thiệu về ngôi đền này:


Lễ hội đền Quả Sơn ở Đô Lương

Trích dẫn:

Đền Quả Sơn nằm bên bờ Sông Lam thuộc xã Bồi Sơn - Đô Lương. Đây là ngôi đền linh thiêng thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, con trai thứ 8 của Lý Thái Tổ Lý Công Uẩn, người mở đầu vương nghiệp nhà Lý.


Tương truyền, thuở thiếu thời ngài được nhà vua và hoàng hậu kèm cặp để sớm trở thành rường cột của nước nhà. Từ năm 1039 ngài được triều đình phái vào Nghệ An trông coi việc tô thuế và sau đó được chính thức bổ nhiệm làm Tri Châu.

Trong thời gian 16 năm từ năm 1039 đến 1055, dưới hai triều Thái Tông và Thánh Tông, Uy Minh Vương Lý Nhật Quang đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp phục hưng. ông đã lập công lớn đối với triều đình và nhân dân Xứ Nghệ. Tri nhậm một miền viễn biên lại là địa đầu của phía Nam Đại Việt đầy thử thách, tuy nhiên Lý Nhật Quang vẫn giữ vững được bờ cõi, ban bố được chính lệnh, thu phục nhân tâm.

Phát triển mạnh mẽ sản xuất, biến vùng biên ải thành căn cứ địa vững chắc phồn vinh, hậu thuẫn đáng tin cậy cho nhiều triều đại về sau. Lý Nhật Quang mất năm 1058. Sau khi ông mất, nhân dân xứ Nghệ đã xây dựng hàng chục ngôi đền để hương khói. Đền Quả Sơn tại xã Bồi Sơn là đền chính. Tưởng nhớ đến công ơn của ông, quanh năm nhân dân thập phương thường đến thắp hương tại Đền Quả Sơn. ..


(Theo www.doluong.gov.vn


Một số đền đình khác:



Cây đa làng Phúc Hậu và đình cổ Phúc Hậu (xã Lam Sơn, Đô Lương)


Đền Đức Hoàng, xã Yên Sơn

Một số hình ảnh về phong cảnh


Một góc Thị trấn Đô Lương



Đập nước Ba Ra


Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường Cấp 3 Đô Lương (2009)


Quang cảnh lễ kỷ niệm 55 năm thành lập Trường THPT Đô Lương 1, mái trường nơi tôi học từ năm 1968-1970 (tôi thoát ly khi chưa học xong lớp 10)

Nhân ngày “Binh biến Đô Lương” xin tản mản đôi dòng về quê tôi...

Read Please batting eyelashes
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 877
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 21.07.2015    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Đôi lời:

Nhân dịp ngày Thương binh – Liệt sĩ 27/7 năm nay, tôi xin đăng tản văn tôi viết năm 2004, hơn 10 năm nay. Câu chuyện xẩy ra cách đây 50 năm. Các nhân vật trong chuyện là những nhân vật thực ngoài đời, như anh Hiểu, chú bộ đội nuôi quân của một đơn vị pháo cao xạ 57 li đóng tại làng tôi, mà Tổ anh nuôi của anh mượn nhà tôi để đun nấu trong những năm 1964, 1965 của thế kỷ trước. Chị Lan người hàng xóm nhà tôi, xinh đẹp, nhưng về sau đường tình duyên gặp nhiều trắc trở. Một số câu chuyện xung quanh nhân vật anh Hiểu là có thật, tôi chỉ chỉnh sửa chút ít để hấp dẫn hơn. Anh ấy trong con mắt của bọn trẻ chúng tôi ngày đó là một con người rất tốt. Anh luôn giúp đỡ mọi người, anh khoẻ mạnh, rất đàn ông, sống hiền lành chăm chỉ… Anh nhập ngũ năm 1964, để lại bố mẹ già ở hậu phương, vào QK4 làm lính cao xạ bảo vệ các trọng điểm quan trọng của huyện Đô lương quê tôi. Còn nhân vật “tôi” trong câu chuyện vừa là Tôi, vừa không phải là Tôi…

Năm 1967 đơn vị anh chuyển vào vùng tuyến lửa Vĩnh Linh, Quảng Bình và anh bị thượng nặng. Sự kiện anh bị thương cho tới mãi năm 2005, sau khi tôi viết tản văn này, được gặp lại chị Lan mới biết anh bị thương. Nhân dịp kỷ niệm ngày 27/7 năm nay, tỏ lòng biết ơn các anh thương binh, trong đó có anh Hiểu, người khách đáng quý của làng tôi năm xưa, tôi xin đăng câu chuyện này lên vnkatonak, như là một cách tri ân đối với những người đã bỏ một phần xương máu trên chiến trường, trong đó có anh để đất nước ta ngày nay có hoà bình, thống nhất.


KỶ NIỆM VỀ ANH…


Đã 40 năm trôi qua mỗi lần nghĩ về Anh, tôi lai nhớ như in những gì đã xẩy ra thời ấy, cái thời chiến tranh khói lửa, thời mà mọi người mọi nhà luôn tâm niệm “Tất cả cho tiền tiến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” cái thời mỗi con người nghĩ về nhau sao vô tư và tốt thế, cái thời Anh vào độ tuổi 20, tôi là đứa trẻ mới lên 10. Ngày ấy con nít chúng tôi gọi các Anh bằng Chú, nay nhớ về các chú cho phép tôi được gọi Anh cho gần gũi.

Chúng tôi vẫn thường gọi Anh là chú Hiểu khều, vì trong đơn vị đóng quân tại làng tôi Anh là người cao nhất. Có lẽ quê Anh ở Hà Bắc, tôi nhớ vậy do một lần Anh cho chúng tôi “rít” nhờ hơi thuốc Sông Cầu, Anh bảo Sông cầu là con sông đẹp nhất ở quê Anh. Thuở ấyTrẻ con chúng tôi đâu có phân biệt được các địa danh ở Miền Bắc, tất cả các chú bộ đội nói giọng bắc chúng tôi đều bảo các chú ở Quân khu 3! Trông bề ngoài Anh hiền và ít nói, nhưng Anh có một tấm lòng rộng lượng, chịu khó và yêu thương đồng đội. Đơn vị pháo cao xạ của Anh mượn nhà tôi làm bếp nuôi quân, vì ở trận địa trống trải và khó ngụy trang mỗi lần đun nấu. Anh làm anh nuôi nên tôi may mắn được gần Anh nhiều (ngày ấy trẻ con chúng tôi rất muốn được gần các chú bộ đội, được làm quen nhiều chú bộ đội đấy là niềm tự hào, niềm hạnh phúc của lớp trẻ chúng tôi).

Tôi có người em gái 8 tuổi, từ nhỏ em tôi mắc phải một căn bệnh lạ, khó chữa nên chậm lớn, trông quặt quẹo. Bằng lứa tuổi nó các bạn đã học lớp 2 rồi, nhưng nó không được đi học vì không đủ sức khỏe. Kể từ ngày các anh đến ở trong nhà tôi, em tôi tự nhiên vui hẳn lên. Có lẽ lần đầu tiên nó thấy mình tự tin, nó có thêm một người anh ngoài những người thân trong gia đình quan tâm đến nó, chữa bệnh cho nó. Anh đã mang đến cho bố mẹ tôi một niềm vui lớn nhờ những mẹo chữa bệnh gia truyền anh học từ người Bố của anh. Thấy em tôi ốm yếu lâu ngày, anh hướng dẫn cho bố mẹ tôi tìm những vị thuốc nam quen thuộc để chạy chữa. Như những vị thần dược, em tôi dùng thuốc của anh chưa đến một tháng mà căn bệnh giảm đi rõ rệt, bố mẹ tôi mừng lắm. Thế mà đã bao năm gia đình tôi tốn bao nhiêu tiền thuốc cho em tôi, nhưng căn bệnh không suy giảm, đúng là các cụ nói không sai : “gặp thầy gặp thuốc”! Mà anh đâu phải là thầy thuốc, chỉ là chú anh nuôi, là anh bộ đội Cụ Hồ hiền khô…

Câu chuyện nhỏ sau đây đã theo suốt tôi bao năm qua, đọng mãi trong tâm trí tôi hình ảnh của anh, một con người đức độ, chịu thương, chịu khó… Ngày ấy vào dịp hè, cái nóng vùng xứ Nghệ quê tôi thật khắc nghiệt, gió Lào hanh khô, con người như bị rang trong chảo lửa cả ngày lẫn đêm! Hôm đó đúng vào giữa trưa có bà Cụ trên 70 tuổi, lưng còng mang theo lồng gà đi thăm con cháu, trong lồng có gà mẹ và đàn gà con. Vừa lúc qua nhà tôi thì có báo động máy bay, bà cụ lúng túng tìm hầm trú ẩn và làm rơi lồng gà xuống đường. Không may nắp lồng bật ra, các chú gà thi nhau chạy toán loạn. Thấy gà sổ lồng, bà cụ càng luống cuống không còn biết đến sự nguy hiểm bởi những âm thanh gầm rít của máy bay Mỹ trên không, cụ quên cả việc tìm hầm trú ẩn! Anh Hiểu đang ở trong nhà thấy vậy không quản nguy hiểm ra dìu Cụ vào hầm tránh bom, rồi đuổi bắt những chú gà vừa được sổ lồng tản ra nhiều hướng. Phần lớn các chú gà đều được anh bắt trở lại lồng, riêng có 1 chú “tinh quái” chui vào chiếc cống nhỏ chạy ngang qua đường, anh Hiểu làm thế nào nó vẫn không chịu ra khỏi cống. Lúc này máy bay địch đã đi xa, tiếng kẻng báo tĩnh đã vang lên, nhịp sống trên đường trở lại bình thường… Nhiều người qua lại đều để ý tới anh bộ đội đang đầm đìa mồ hôi vì hành động giúp dân đáng kính. Bọn trẻ chúng tôi lúc này cũng tìm cách giúp anh để bắt gà. Chúng tôi tìm các cây nứa, nhưng không có cây nào đủ dài để xua gà ra khỏi cống. Nóng lắm và mệt lắm! Không chịu bỏ cuộc, anh quyết định chui vào cống chật hẹp, dài và hôi thối để bắt chú gà. Cuối cùng thì chú gà “lì” phải chịu thua, cả đàn gà của bà cụ được anh bắt trở lại vào lồng nguyên vẹn. Nhận lại lồng gà từ tay chú bộ đội, bà cụ mừng vui và cảm động lắm! Đêm đó, anh lên cơn sốt cao vì cảm nắng. Một việc làm nho nhỏ thế thôi nhưng đã 40 năm nay không khi nào tôi không nghĩ về anh, nghĩ về hành động thương người, chịu thương chịu khó ở nơi anh, anh xứng đáng là anh bộ đội Cụ Hồ trong lòng người dân.


Nhớ về anh còn có kỷ niệm này nữa, kỷ niệm về tình yêu của anh. Gần cạnh nhà tôi có chị Lan, chị xinh đẹp nên có rất nhiều chàng trai làng trên xóm dưới thích chị. Chị hơn tôi 8 tuổi, nhưng kém anh 2 tuổi. Đã bao lần anh muốn làm quen với chị nhưng không được, vì chị kín đáo và trông bề ngoài lạnh lùng khó gần. Bao lần chú cháu chúng tôi bàn cách mời chị Lan sang chơi nhà tôi, nhưng chịu thua, vì chị Lan “khôn lắm” chị biết tỏng mấy chú bộ đội nuôi quân muốn chị sang là có ý gì rồi. Cuối cùng mong ước được gần chị Lan của anh cũng thành sự thật, âu cũng do Trời xe duyên! Ngày ấy cả bố mẹ chị Lan đều ngược lên Cây Chanh, một địa danh gần biên giới Việt Lào thăm bà con, để chị Lan ở lại một mình. Bẵng đi mấy ngày bên nhà chị Lan thấy vắng lặng, không thấy chị đi làm, bố mẹ tôi bảo sang xem chị thế nào, thì ra chị đổ bệnh. Thấy tôi sang chị mừng lắm và nhờ đi lấy thuốc. Tôi đem câu chuyên chị Lan nhờ tôi kể cho anh Hiểu biết, mô tả lại chứng bệnh của chị, nghe xong Anh tranh thủ thời gian lẳng lặng đi hái một số cây thuốc nam, hướng dẫn tôi sắc cho chị Lan uống và căn dặn là không được kể gì hết, cứ bảo là lấy thuốc của ông thầy lang. Uống thuốc của anh được một ngày, bệnh của chị Lan giảm dần và thần sắc dần trở lại bình thường. Tôi trả lại chị toàn bộ số tiền chi đưa đi lấy thuốc, chị ngạc nhiên hỏi tại sao không dùng đến tiền chị đưa. Không từ chối được tôi đành thất hứa với anh và đem câu chuyện anh chữa bệnh cho em tôi và bài thuốc anh chữa bệnh cho chị kể cho chị nghe. Nét mặt chị có vẻ vui lên, nhưng chị vẫn lặng lẽ không nói gì. Từ ngày đó chị bắt đầu để ý tới anh. Việc chị biết biệt tài chữa bệnh của anh tôi vẫn không nói cho anh hay, song bằng linh cảm anh nhận thấy chị đã khám phá ở anh một bí mật nào đó. Giờ đây khi nhìn qua hàng dâm bụt sang nhà bên, mỗi lần bắt gặp ánh mắt của chị, tự dựng chị lúng túng… Trời phú cho anh nhiều đức tính tốt và nhiều tài vặt. Từ những cảm xúc vụn vặt, từ những lần bắt gặp đôi má ửng hồng của chị, hồn thơ anh xuất hiện:



Em là con gái Đô Lương
Má em không phấn không son vẫn hồng
Tháng ngày anh vẫn hằng mong
Ước gì anh được ngồi gần bên em!


Bài thơ anh không giám gửi, anh chỉ chép vội lên bao thuốc lá Sông Cầu và tình cờ khi anh hút thuốc chúng tôi phát hiện ra. Như bị bắt quả tang vụng trộm, trước mặt chúng tôi, anh tỏ ra luống cuống... Tôi tán anh cứ để tôi chuyển đến chị Lan, lưỡng lự một lúc và rồi anh đồng ý. Cứ tưởng chị Lan sẽ cho anh một “bài học” hoặc ít ra cũng tỏ thaí độ không vừa lòng. Ngoài dự đoán của chúng tôi, chị Lan cũng đáo để ra phết, hôm sau chi bảo tôi chuyển cho anh bài thơ phúc đáp:

Anh ơi anh nhớ đừng quên
Trận địa nắng cháy anh em đang chờ
Cơm ngon canh ngọt đúng giờ
Đừng để lửa tắt, đừng “mơ”chi nhiều!

Nhận được thư trả lời của chị Lan anh Hiểu sướng lắm. Lũ trẻ chúng tôi không hiểu nhiều về chuyện của người lớn, đặc biệt là chuyện tình yêu chỉ biết từ đó về sau hai anh chị nói chuyện tự nhiên và thân nhau hơn. Vai trò “liên lạc” của tôi dần dần cũng mất tác dụng.

Mùa hè qua đi, anh chị mới quen nhau gần 2 tháng mà đã phải xa nhau. Mùa thu năm ấy chị Lan phải xa quê hương ra Hà Nội học đại học. Cứ tưởng anh chị quen nhau sơ sơ vậy thôi, ai ngờ khi chia tay hai người bịn rin, trong lòng nhiều trắc ẩn. Một lần nữa tôi lại được làm liên lạc giữa 2 người. Có lẽ những vần thơ mang nhiều ẩn ý mà độ thân quen chưa đủ cho phép 2 người gửi trực tiếp cho nhau. Khác với lần trước, lần này bài thơ anh bỏ vào phong bì dán chặt và nhờ tôi chuyển cho chị Lan:




Em đi chẳng có gì đưa
Mong trời nắng ấm, đừng mưa trơn đường
Em đi sợi nhớ, sợi thương
Âm thầm níu kéo..., vấn vương trong lòng
Em đi chín nhớ mười mong
Mong em đừng trách những lần anh sang...
Bây giờ còn có chiến tranh
Hết giặc, hòa bình anh sẽ tìm em
Dẫu chưa một lượt tỏ tình
Nhưng Duyên đã gắn chúng mình với nhau..?



Nhận được thơ anh, chị suy nghĩ nhiều lắm, chi hiểu được tấm lòng của anh, nhưng chi không có một tín hiệu nào đáp lại. Những ngày tiếp theo là những ngày anh hồi hộp đợi chờ.... Nhà bên tổ chức nhiều bữa tiệc tùng, liên hoan để tiễn chị Lan đi học. Có hôm anh thấy nhà bên toàn các bạn trẻ nam nữ cùng lứa với chị ngồi giữa sân hàn huyên cả đêm vui lắm. Đứng bên này anh thấy chị tất bật vào ra mà lòng cứ xôn xang buồn buồn, tủi tủi. Tự dưng anh thấy xấu hổ và tự trách mình vì sự hồ đồ, vì bài thơ anh vừa mới gửi chi. Anh quyết định sẽ không gặp chị nữa cho đến ngày chi rời khỏi quê hương. Chúng tôi cũng lây với cái buồn của anh và thầm trách chị Lan chưa gì mà đã ra vẻ “ta đây”. Mãi đến sau này tôi mới hiểu về sự tinh tế của người phụ nữ, mới hiểu về chị...

Năm 1966 chiến tranh ngày càng ác liệt trên cả 2 miền của Tổ quốc. Không như trước đây mỗi lần đơn vị pháo cao xạ đóng lại làng tôi hàng tháng, nay do những đợt oanh tạc ác liệt, những chiến dịch “tìm diệt” các trận địa pháo của máy bay Mỹ, nên đơn vị anh luôn phải luân chuyển khắp nơi. Vào khoảng năm 1967, 1968 gì đó đơn vị anh chuyển hẳn vào tuyến lửa Vĩnh Linh và cũng từ đó làng tôi không còn được đón đơn vị anh về đóng quân nữa.

Đầu năm 1972 tôi lên đường nhập ngũ, duyên phận thế nào trên đường hành quân vào Nam tôi được gặp lại anh. Cũng tình cơ thôi, đêm đó đơn vị tôi nghỉ lại trong vườn một nhà dân ven đường, nơi Tổ anh nuôi của anh đang đồn trú. Anh em gặp lại nhau sung sướng quá, vì đã 4 năm rồi còn gì nữa. Đêm đó anh em hàn huyên gần thâu đêm. Vào đầu câu chuyện anh hỏi tôi về bố mẹ, về em tôi, nhưng thông tin anh cần biết nhất lại là chị Lan. Tôi kể cho anh nghe tất cả những gì tôi biết về chị trong 4 kỳ nghỉ hè chị về nhà thăm bố mẹ. Tôi thật thơ ngây khi phát hiện ra những gì tôi biết về chị chỉ là một phần nhỏ so với những gì anh biết! Hóa ra từ ngày chị lên đường đi học cũng bắt đầu chuỗi ngày hai người luôn quan tâm đến nhau qua những trang thư. Anh kể về cái buổi sáng lên đường ra Hà Nội, Chị Lan đưa cho anh lá thư và chỉ hỏi có một câu: “sau này em có thể gửi thư cho anh?” Tất nhiên là anh chỉ chờ có thế. Kể đến đây anh lục trong ba lô đưa cho tôi xem lá thư chị Lan gửi cho anh trước lúc chia tay bên hàng dâm bụt nhà tôi ngày ấy. Lá thư chị Lan gửi cho anh chỉ có 6 câu thơ:




Cũng như anh- phải xa vòng tay mẹ,
Đến góc trời mới lạ chưa quen.
Và với anh chưa một lần hò hẹn
Sao xa nhau bịn rịn khó quên....

Đừng hờn dỗi khi nghĩ về em
Đừng trách em lạnh lùng ít nói
Anh đâu biết sóng ngầm, gió nổi
Khi mỗi lần anh đứng gần bên!


Sau đêm đó tôi tiếp tục hành quân vào Nam, đơn vị anh ở lại bảo vệ Miền Bắc XHXN.

Sau ngày giải phóng Miền Nam 1975, tôi vẫn còn sống sót trở về và được đơn vị cử đi học văn hóa và thi vào Đại học KTQS. Gia đình chị Lan chuyển hẳn lên vùng Cây Chanh nên tôi cũng không hay biết gì về chị. Ở Hà Nội đã nhiều năm tôi cố liên lạc với bạn bè cũ để hỏi về anh chị, nhưng không ai biết. Tôi luôn cầu mong cho anh chị thành vợ thành chồng, cầu mong những người tốt như anh trong cuộc đời luôn gặp nhiều may mắn, xứng đáng được hưởng hạnh phúc vẹn tròn.

Hà Nội, tháng 8/2004


Please day dreaming batting eyelashes
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 877
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 14.03.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Cụ ông 88 tuổi làm giỗ chung 64 liệt sỹ Gạc Ma

Chủ nhật, 12:00, 13/03/2016

VOV: Ba năm nay, năm nào cũng vậy, cụ Hoàng Dỏ (88 tuổi) luôn bày một mâm cỗ để làm giỗ cho con trai cùng 63 đồng đội của con đã hy sinh trong trận chiến Gạc Ma

Ba năm nay, năm nào cũng vậy, cụ Hoàng Dỏ (88 tuổi) ở thôn Tân Định, xã Hải Ninh, huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) lại bày một mâm cỗ tươm tất lên chiếc bàn vuông đặt hướng ra biển để làm giỗ cho con trai cùng 63 đồng đội của con đã hy sinh trong trận chiến Gạc Ma ngày 14/3/1988.

Mâm giỗ đặc biệt

Con trai cụ Dỏ là liệt sỹ Hoàng Văn Túy, hy sinh trong trận hải chiến Gạc Ma năm 1988. Làm giỗ cho con, cụ Dỏ cũng làm giỗ cả 63 liệt sỹ còn lại. “Mấy anh em nó sống cùng nhau, chết cùng nhau nên mâm cơm giỗ đứa mô cũng phải về ngồi ăn chung với nhau”, cụ Dỏ tâm niệm.



Mâm giỗ đặc biệt được bày đủ 64 bộ bát đũa và các lễ vật theo phong tục.


Tấm ảnh thờ liệt sỹ Túy được đặt ở bàn thờ trong gian giữa của ngôi nhà. Nhưng mâm cúng giỗ theo phong tục truyền thống ở địa phương được đặt ra giữa sân. Mâm cơm giỗ 64 liệt sỹ bao giờ cũng có đủ 64 cái bát và 64 đôi đũa.

Khi các con đang bày mâm cúng theo nghi lễ, cụ Dỏ kể, cuối năm 2012, cụ được Tập đoàn Dầu khí Việt Nam về thăm và tặng 20 triệu đồng, rồi Tập đoàn Cao su Việt Nam tặng cụ 10 triệu đồng.

“Cầm ba chục triệu, trong bụng tui cứ thấy lấn cấn răng răng. Người ta cho vì con mình hy sinh để bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc. Nhưng không phải chỉ có con mình hy sinh mà còn có 63 người khác nữa. Không biết những gia đình đó có được quan tâm như mình không?”, cụ Dỏ băn khoăn.

Cuối tháng giêng năm 2013, như mọi năm gia đình cụ lại chuẩn bị cho ngày giỗ của liệt sỹ Hoàng Văn Túy. Và sau nhiều đêm suy nghĩ, cụ đi đến quyết định dùng số tiền của các tổ chức từ thiện tặng để làm một ngày giỗ chung cho tất cả 64 liệt sỹ. “Ba năm ni, năm mô cũng rứa, tui đều đặt đủ 64 bộ bát đũa lên bàn cúng mỗi khi làm giỗ cho con và 63 liệt sỹ khác”, cụ Dỏ nghẹn giọng nói.

Liệt sỹ Hoàng Văn Túy là con thứ tư của cụ Dỏ. Hiện tại cụ sống cùng với gia đình người con trai út là anh Hoàng Văn Vũ. Anh Vũ làm nghề đi biển nên cuộc sống gia đình rất bấp bênh. “Mình nghèo thì làm mâm giỗ theo kiểu nghèo, có cái gì thì mình mời cái đó. Chỉ cần các liệt sỹ biết cái tình của gia đình tui rứa là được”, anh Vũ tâm sự.

Hướng về phía biển

Sau khi bày tươm tất các lễ vật, cụ Dỏ ra bàn cúng giữa sân thắp hương. Mắt cụ đã mờ, chân cụ đã yếu và lưng đã còng nên cụ bước đi khá khó nhọc. Cụ múc từng thìa cháo trắng đổ lần lượt vào 64 cái bát, mắt rơm rớm nhìn về phía biển và đọc lời khấn: “Hôm nay là tròn 28 năm các con nằm lại giữa biển khơi. Các con đã anh dũng hy sinh để bảo Tổ quốc. Ba không có chi hơn, chỉ có ba chén rượu lạt cùng ít lễ vật, thắp nén hương thơm lên đây mời các con cùng về dự...”.


“Mấy anh em nó sống cùng nhau, chết cùng nhau nên mâm cơm giỗ đứa mô cũng phải về ngồi ăn chung với nhau”, cụ Dỏ tâm niệm.


Vừa dứt lời khấn, cụ Dỏ bật khóc. Cụ như muốn ngã khụy giữa sân. Mọi người vội chạy lại đỡ cụ vào nhà. “Dù sức khỏe đã yếu lắm, nhưng năm nào cụ cũng muốn được tự tay thắp cho con và 63 liệt sỹ nén hương. Mỗi lần như thế, cụ đều bật khóc”, anh Vũ mủi lòng.

Ngôi nhà của cụ Dỏ nằm cách bờ biển chỉ khoảng vài chục mét. Mâm cúng giữa sân cũng được cụ Dỏ bảo con cháu đặt xoay về hướng biển. Dù theo tục lệ người ta thường đặt bàn cúng theo hướng Tây Nam. “Chỉ khi đặt bàn giỗ cho anh Túy và những liệt sỹ Gạc Ma cụ mới bắt con cháu đặt bàn theo hướng Đông như thế. Những ngày giỗ khác trong nhà, kể cả giỗ của mẹ anh, cụ Dỏ đều đặt lại hướng Tây Nam. Nhiều người trong nhà thắc mắc thì được cụ nói rằng, đặt bàn cúng như thế là để hướng về nơi các con đang nằm lại giữ biển khơi”, anh Vũ kể.

Anh Vũ cho biết thêm, người anh trai của mình là Hoàng Văn Túy nhập ngũ năm 1985. Trước khi hy sinh, anh Túy được về ăn tết với gia đình hai ngày. Anh Túy nói với cụ Dỏ rằng chỉ khoảng ba tháng nữa là sẽ được ra quân nhưng chưa đầy một tháng sau, anh đã hy sinh tại Gạc Ma.

Sau ngày anh Hoàng Văn Túy hy sinh, cứ chiều chiều người ta lại thấy hình ảnh cụ Dỏ đi ra bờ biển đầu làng, đôi mắt ngấn lệ nhìn thẳng ra hướng Trường Sa…/.

Theo Đài tiếng nói Việt Nam, VOV.VN


Read Read Read
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 877
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 27.07.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

THĂM NGHĨA TRANG LIỆT SĨ HÀ NỘI – 27/7/2016





Nén hương trầm Thiện Tâm
xin dâng Hồn Tử sĩ
Ơn các Anh, các Chị
Vì Tổ Quốc hy sinh
Cho Đất nước Thanh bình
Cho Dân mình Hạnh phúc!




Đã hơn 10 năm nay, đến ngày 27/7 tôi thường đến Nghĩa trang Liệt sĩ Hà Nội (tại Xuân phương, Từ Liêm) để thắp nén hương tưởng nhớ các anh hung liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc qua 3 cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ và chống Trung Quốc xâm lược. Chỉ trừ năm ngoái vào ngày này tôi còn ở Sapa, nên không ra nghĩa trang dâng hương được.



Năm nay đến Nghĩa trang liệt sĩ Hà Nội có một số cái mới. Tối hôm qua, 20h ngày 26/7/2016 Đoàn Thanh niên CS Thành phố Hà Nội đã tổ chức Lễ thắp nến tri ân các anh hung liệt sĩ tại đây. Do vậy trên tất cả các ngôi mộ đều có một lọ hoa màu đỏ bằng nhựa (hoa cánh đỏ, nhụy vàng không biết là hoa gì?). Cái mới thứ hai là Tổ chức phật giáo in các tờ Văn khấn cầu siêu cho các anh hung liệt sĩ và cầu Quốc thái dân an phát cho mọi người đến dâng hương và đọc trước tượng đài.


Trang trước: Văn khấn cầu siêu cho các anh hung liệt sĩ và cầu Quốc thái dân an.


Trang sau.


Năm nào đến đây cũng gặp các người em của chị Đặng Thùy Trâm, đó là chị Đặng Phương Trâm, chị Đặng Kim Châm, chị Đặng Hiền Trâm. Năm 2010 còn được gặp mẹ chị Thùy Trâm, bà Doãn Ngọc Trâm. Năm nay đi muộn chỉ gặp được hai chị Phương Trâm và Kim Trâm. Không chụp ảnh chung với các chị, chỉ nhờ chị Phương Trâm chụp một cái ảnh làm kỷ niệm.

Chị Phương Trâm có nói là vừa mới kết nối, tìm lại được ngôi mộ của bạn trai chị Thùy Trâm, cũng nằm trong nghĩa trang này. Tôi định sau khi thắp hương cho chị Thùy Trâm, rồi sang mộ anh Nguyễn Văn Thạc gần đó để viếng, xong sẽ quay lại nhờ hai chị dẫn đến mộ bạn trai chị Thùy Trâm. Nhưng khi quay lại không thấy hai chị đâu cả, thôi đành hẹn đến sang năm…

Các tỉnh vùng Đông bắc đang có bão, nhưng Hà Nội vẫn nắng nóng, gần 12h trưa, rời khỏi nghĩa trang đội nắng trở về nhà thấy lòng mình thanh thản...

Xin đăng một số hình ảnh của ngày hôm na:y




TỔ QUỐC GHI CÔNG!


Một góc nghĩa trang




Trên các ngôi mộ đều có một lọ hoa nhựa màu đỏ…



Các vòng hoa đỏ đặt hai hang ở hai bên tượng đài.


Ban tổ chức nghi lễ


Một góc khác của Nghĩa trang


Bên mộ chị Đặng Thùy Trâm


Trước mộ chị Thùy Trâm, gia đình ghi lại đoạn trích dẫn trong Nhật ký Đặng Thùy Trâm: ”Hãy Yêu thương nhau khi còn sống!



Trước mộ anh Nguyễn Văn Thạc


Tạm biệt các anh chị, hẹn sang năm tôi trở lại…


ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN CÁC ANH HÙNG LIỆT SĨ!

wave wave wave
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 877
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 05.07.2017    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

GIAN NAN ĐÒI LẠI QUYỀN LỢI TRỢ CẤP BỆNH BINH
BỊ CẮT OAN SAI 16 NĂM


Đôi lời:

Năm nay cả nước kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (TBLS) tôi muốn kể câu chuyện về một người bệnh binh từng là chiến sĩ trên nhiều mặt trận: Bộ đội xăng dầu QK4; tham gia chiến trường C (Cămpuchia); Tham gia nhiều trận đánh ở chiến trường biên giới phía Bắc – chốt giữ bảo vệ Thị xã Lạng Sơn (nay là TP Lạng Sơn) trước quân xâm lược dã man Trung Quốc… Khi xuất ngũ tháng 10/1982 mang trong mình thương tật, được Hội đồng Y Khoa giám định mất sức 41% và được hưởng chế độ trợ cấp bệnh binh hàng tháng. Đến năm 1998 ông Lục (đương sự) bị Sở LĐTB&XH nơi ông cư trú ra Quyết định thôi hưởng chế độ trợ cấp bệnh binh với một số lý do không đúng sự thật.

Tôi là người được ông Lục ủy quyền kêu oan tới một số cơ quan chính sách Trung Ương. Câu chuyện tương đối dài, chia thành nhiều bài, nội dung có thể khô khan, có nhiều sự kiện phải suy ngẫm mới kết nối được toàn cục… Nếu thấy không hấp dẫn ACE cho ý kiến, tôi sẽ dừng không viết tiếp nữa.


Bài một: Bắt đầu từ một lá đơn

Cuối tháng 10/2015 ông Lục gọi cho tôi, bảo:

- Tôi nhờ chú Hải một việc này. Ngoài đó chú có biết địa chỉ Cục Người có công (CNCC) không? Tôi nhờ chú chuyển giúp cái đơn kêu oan tới đó.

Tôi nghĩ CNCC chắc là một Cục trược thuộc TCCT Quân đội NDVN. Lại nghĩ bây giờ về hưu rồi ra vào thành cũng hơi khó, nhưng chẳng mấy khi ông anh nhờ chẳng nhẽ từ chối. Nghĩ vậy, tôi trả lời:

- Anh cứ gửi ra đây bằng bưu điện, em sẽ cầm tay gửi tận cơ quan cho anh.

Mấy hôm sau có anh Phúc, người giúp đỡ tích cực các thủ tục kêu oan cho anh Lục ở trong đó gọi cho tôi. Anh em chào hỏi, giới thiệu một hồi rồi đi vào v/đ chính của ông Lục. Anh Phúc bảo:

- Anh cầm đơn đưa thẳng vào Phòng Chính sách 2/ Cục NCC.

Tôi hỏi:

- Có phải CNCC của Tổng cục CT không?

- Không phải, Cục NCC trực thuộc Bộ LĐTB&XH, chứ không phải của Quân đội. Anh Phúc trả lời.

Thế là rõ. Sự việc lại đi theo hướng khác.

Khoảng 20/10/2015 tôi nhận được Đơn khiếu nại của ông Lục như sau:

Trích dẫn:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Phan Thiết, ngày 19 tháng 10 năm 2015
ĐƠN KHIẾU NẠI
“V/v Cục người có công không công nhận
việc tiếp tục hưởng chế độ bệnh binh đối với Ông Phan Ngọc Lục”
Kính gửi: Cục trưởng Cục người có công

Họ và tên: Phan Ngọc Lục;
Sinh ngày 19/06/1954;
Thường trú: Thôn Dân Trí, Thuận Hòa, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận;
Điện thoại: 0966697125, 0937549253.
Tôi có quá trình công tác như sau:
Từ tháng 10/1972 đến tháng 06/1973: Công tác tại cơ quan Hạt giao thông Yên Thành, tỉnh Nghệ Tĩnh (nay là tỉnh Nghệ Tĩnh An).
Từ tháng 08/73 đến tháng10/82: Tham gia Quân đội; trong đó có thời gian tham gia Biên giới phía Bắc là 03 năm 8 tháng.
Từ tháng 10/1982 xuất ngũ về địa phương.
Tôi được hưởng chế độ bệnh binh đến năm 1998 thì “bị” cắt; sau nhiều lần đề nghị Sở Lao động Thương binh & XH Bình Thuận phục hồi chế độ bệnh binh nhưng đều bất thành. Đến ngày 10/06/2014 Tôi tiếp tục có đơn gửi tới Sở Lao động Thương binh & XH; bởi vì, căn cứ vào điểm b. điểm e - Mục I: Thông tư số: 18-LĐTBXH/TT, ngày 27 tháng 6 năm 1997 của Bộ Lao động Thương binh & XH hưởng dẫn thực hiện chế độ trợ cấp đối với Quân nhân, Công an nhân dân bị bệnh nghề nghiệp theo Nghị định số 28/CP ngày 29 tháng 04 năm 1995 của Chính phủ.
Quân nhân, công an nhân dân xuất ngũ hưởng chế độ bệnh binh hạng ba (mất xức lao động từ 41 - 60%) từ 31 tháng 12 năm 1994 trở về trước theo Nghị định số 236/HĐBT ngày 18 tháng 9 năm 1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã chuyển sang hưởng trợ cấp hàng tháng đối với quân nhân bị bệnh nghề nghiệp theo Điều 52 - Nghị định số 28/CP ngày 29 tháng 4 năm 1995 của Chính phủ.
Điều kiện: Các đối tượng nói tại điểm 1 nói trên có một trong những điều kiện sau đây thì được tiếp tục hướng trợ cấp hàng tháng, cụ thể:
b. Người đã có thời gian công tác thoát ly đủ 10 năm trở lên đối với nam, đủ 5 năm trở lên đối với nữ;
e. Người đã có thời gian đủ 3 năm trở lên đối với nam và 1 năm trở lên đối với nữ đã hoạt động ở chiến trường B, C, K trong kháng chiến chống Mỹ; địa bàn từ Thanh Hoá đến Vĩnh Linh từ ngày 05 tháng 8 năm 1964 đến 27 tháng 01 năm 1973; biên giới phía Bắc từ tháng 7 năm 1978 đến ngày 22 tháng 12 năm 1988; biên giới Tây Nam hoặc làm nhiệm vụ quốc tế từ tháng 1 năm 1977 đến ngày 30 tháng 9 nam 1989; ở quần đảo Trường Sa, ở đơn vị bảo vệ dầu khí I.
Tôi đủ điều kiện để tiếp tục hưởng chế độ bệnh binh; nhưng Tôi “bị” Sở Lao động Thương binh & XH Bình Thuận cắt chế độ trợ cấp là trái với qui định của nhà nước vì vậy đã được Sở Lao động Thương binh & XH Bình Thuận gửi công văn xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Lao động Thương binh & XH.
Lần thứ nhất: Công văn số1332/SLĐTBXH-CS, ngày 15/08/2014 của Sở Lao động Thương binh & XH xin ý kiến gửi Cục người có công giải quyết chế độ bệnh binh cho Ông Lục.
Lần thứ hai: Công văn số 657/SLĐTBXH-CS, ngày 23/04/2015 của Sở Lao động Thương binh & XH gửi Cục người có công xin ý kiến giải quyết chế độ bệnh binh cho Ông Lục;
Nay Cục người có công trả lời nhưng không đúng qui định vì vậy Tôi khiếu nại Công văn số 1885, ngày 07/10/2015 của Cục người có công về việc hướng dẫn giải quyết chế độ bệnh binh đối với Ông Phan Ngọc Lục như sau.
1. Không công nhận thời gian thoát ly của Ông Lục từ tháng 10/1972 - 6/1973 do Ông Lục ghi: Hạt giao thông Yên Thành không rõ tên và không gi địa chỉ cụ thể; trong khi đó cả huyện Yên Thành chỉ có một hạt giao thông và thời đó Hạt giao thông làm gì ghi địa chỉ ở xã nào, số nhà, đường gì (vì chiến tranh).
2. Không công nhận thời gian thoát ly của Ông Lục trước tháng 08/1975 và trước 08/1977 với lý do trong hồ sơ không thể hiện là do Cục người có công không đọc hồ sơ; bởi vì, trong hồ sơ ghi rất rõ:
Từ tháng 11/1974 đến tháng 01/1975: Đoàn 22 – QK 4;
Từ tháng 02/1975 đến tháng 12/1977: Sư đoàn 314 – QK 4;
Từ tháng 01/1978 đến tháng 01/1979: Sư đoàn 442 – QK 4;....
3. Trả lời không đủ điều kiện tiếp tục hưởng theo Thông tư số: 18-LĐTBXH/TT, ngày 27 tháng 6 năm 1997 của Bộ Lao động Thương binh & XH, nhưng không nói rõ căn cứ vào điểm, khoán, Điều nào?
Như vậy Công văn số 1885, ngày 07/10/2015 của Cục người có công về việc hướng dẫn giải quyết chế độ bệnh binh đối với Ông Phan Ngọc Lục là có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
Đề nghị Cục người có công xem xét và giải quyết chế độ bệnh binh cho Tôi theo qui định.
Xin chân thành cảm ơn./.

Kèm theo:

1. Lý lịch Đảng viên Phan Ngọc Lục (có xác nhận của Huyện ủy Hàm Thuận Bắc:



2. Công văn số 1332/SLĐTBXH-CS, ngày 15/08/2014 của Sở Lao động Thương binh & XH xin ý kiến gửi Cục người có công giải quyết chế độ bệnh binh cho Ông Lục:




3. Công văn số 657/SLĐTBXH-CS, ngày 23/04/2015 của Sở Lao động Thương binh & XH gửi Cục người có công xin ý kiến giải quyết chế độ bệnh binh cho Ông Lục:




4. Công văn số 1885, ngày 07/10/2015 của Cục người có công về việc hướng dẫn giải quyết chế độ bệnh binh đối với Ông Phan Ngọc Lục:


Người làm đơn


Phan Ngọc Lục







Nhận được đơn ông Lục gửi ra, thấy đơn viết không được mạch lạc, trình bày liên tục, xuống dòng không cách quãng, từ ngữ dùng hơi nặng, dễ gây căng thẳng, hỏng việc, tôi đề nghị sửa lại.


(Còn nữa)

Xem tiếp Bài hai: Làm việc với Cục Người Có Công/Bộ LĐTB&XH

Read Read Read
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Những bài viết gợi về ký ức một thời Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2
Trang 2 trong tổng số 2 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser