vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - HUNGARY THÁNG 6/2015
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

HUNGARY THÁNG 6/2015
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5, 6 ... 10, 11, 12  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Những bài viết gợi về ký ức một thời
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 29.04.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÂU CHUYỆN VỀ NHỮNG HỌC VIÊN QUÂN SỰ TẠI HUNG-GA-RI

LẦN GIỞ LẠI LỊCH SỬ

Năm 1950, chiến dịch Biên giới thắng lợi, giúp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ mở toang cánh cửa thông ra quốc tế.

Năm 1951, mặc dù vẫn còn đang trong thời kỳ kháng chiến, Chính phủ bắt đầu gửi lứa học sinh đầu tiên sang Liên Xô, với kỳ vọng họ sẽ là những viên gạch hồng xây dựng Cách mạng trong tương lai. Đoàn gồm 21 người, trong đó chỉ có 4 người theo học đại học, là các ông: Phạm Đồng Điện (sau này là Hiệu trưởng Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội), Nguyễn Đức Thừa (sau này là Phó hiệu trưởng Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội), Hoàng Bình (sau này là Thứ trưởng Bộ Công nghiệp) và Lê Văn Chiểu (sau này là Phó Chủ nhiệm Tổng cục kỹ thuật, Bộ Quốc phòng). Trước khi lên đường, ngày 18-7-1951, đoàn học sinh được Hồ Chủ tịch đến thăm và trực tiếp dặn dò.

Ông Chiểu theo học ở Trường Đại học Tổng hợp Bau-man, khoa cơ khí quốc phòng, ngành vũ khí tự động trong 5 năm rưỡi (từ 9-1951 đến 3-1957). Ngành này đào tạo kỹ sư để có thể thiết kế các loại súng từ đại liên cho tới đại bác 30mm (gắn trên máy bay). Để bồi dưỡng kiến thức cơ bản, ông được gửi học từng thầy riêng, một thầy kèm một trò, học các môn khoa học cơ bản và kỹ thuật cơ sở chung. Có lẽ, đây là trường hợp đặc biệt nhất của các du học sinh ở Liên Xô lúc đó. Trong 3 năm cuối, ông Chiểu được học và thực tập cùng với sinh viên Liên Xô. Trong đoàn này còn có ông Phạm Như Vưu theo học tại Trường Cao đẳng quân khí Tu-la của Liên Xô. Về sau, ông Vưu được đề bạt chức vụ Cục trưởng Cục quân giới.

Tháng 10-1952, Hồ Chủ tịch gửi một bức thư cho Thống soái Xta-lin đề nghị Liên Xô giúp đỡ cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam. Bên cạnh lời đề nghị Liên Xô khẩn thiết viện trợ vũ khí (pháo cao xạ và đạn dược), thuốc men (đặc biệt là thuốc ký ninh chống căn bệnh sốt rét), Hồ Chủ tịch còn tỏ ý mong muốn gửi tiếp những thanh niên trẻ tuổi sang học tập tại Liên bang Xô-viết.

Nhờ đó mà năm 1953, ông Mai Kỷ mới được sang Liên Xô học lại bổ túc lớp 10, sau đó học chuyên ngành luyện kim, trở về làm giảng viên trường Đại học Bách khoa Hà Nội, và sau này là Thứ trưởng Bộ Luyện kim.

Từ năm 1953, Trung Quốc nhận đào tạo cho ta lớp trí thức đầu tiên. Ông Nguyễn Tài Thu, sau khi học năm thứ nhất trường Đại học Y khoa trong kháng chiến, được cử đi Trung Quốc học 6 năm chuyên về bác sĩ Đông y, đến năm 1958 tốt nghiệp về nước.

Ngày 1/4/1953, Đại tướng Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam Võ Nguyên Giáp ký quyết định số 06/QĐ thành lập Trung đoàn Pháo cao xạ 367. Lý do là vì lúc đó, Trung Quốc nhận đào tạo huấn luyện cho Việt Nam hẳn một trung đoàn pháo cao xạ nhằm tạo ra bất ngờ lớn cho không quân Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Khoảng 4.500 chiến sĩ của ta chia thành nhiều nhóm nhỏ hành quân sang đất bạn vào ban đêm, thay quần áo, cải trang thành người dân địa phương, rồi được ô tô chở về trung tâm huấn luyện. Sau khi “học thành tài”, cuối năm 1953, cả trung đoàn cùng ô tô Mô-lô-tốp-va kéo pháo và những khẩu pháo cao xạ 37 ly và súng máy phòng không 12 ly 7 lặng lẽ vượt qua biên giới, tập kết ở ngã ba Tuần Giáo, góp phần làm nên chiến thắng “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”.

Khi thấy quân ta chuẩn bị tấn công cứ điểm Him Lam, chiều 13/3/1954, Pháp điều máy bay tới ném bom vào đội hình của bộ binh, pháo binh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra lệnh cho Trung đoàn 367: "Cho nổ súng". Thế là lần đầu tiên, pháo cao xạ của quân đội nhân dân Việt Nam tung lưới lửa đánh tan tác đội hình của 24 chiếc máy bay khu trục F6-F, F-8E của không quân Pháp. Sáng hôm sau, 14/3, Đại đội 815 bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay đầu tiên Morane 500 của không quân Pháp. Năm ngày tiếp theo, Trung đoàn 367 bắn rơi 14 máy bay, bắn hỏng 25 chiếc khác. Khi chiếc thứ 49 bị hạ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kêu gọi: "Toàn mặt trận thi đua bắn rơi máy bay thứ 50". Lời kêu gọi được đáp ứng. Sáng 12/4, bằng 12 viên đạn pháo 37 mm, Đại đội 828 đã bắn rơi tại chỗ một chiếc B-24, loại máy bay oanh tạc cỡ lớn, ngay tại cánh đồng Bản Kéo.

Sau ngày ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, nắm rõ ý đồ chia cắt lâu dài nước ta của đế quốc Mỹ, quân đội ta khẩn trương tiến hành hiện đại hóa, xây dựng lực lượng, phục vụ cho nhiệm vụ chiến lược là giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Trong năm 1955, nhiều cán bộ chiến sĩ được tập trung về Trung tâm bồi dưỡng văn hóa của Bộ Tổng tư lệnh đặt tại Kiến An (Hải Phòng) để bồi dưỡng về ý thức chính trị, ý thức tổ chức kỷ luật, trình độ văn hóa, ngoại ngữ (chủ yếu học giao tiếp tiếng Nga và tiếng Trung) và nâng cao sức khỏe. (Năm 1960, Trung tâm được nâng cấp thành Trường bồi dưỡng văn hóa quân đội, đóng ở thị xã Lạng Sơn, nên hay gọi tắt là Trường văn hóa Lạng Sơn).

Trong khoảng thời gian 5 năm (1955-1960), lần lượt các đoàn được cử sang Liên Xô và Trung Quốc đào tạo. Kết quả là, quân đội nhân dân Việt Nam đã hình thành nên những hạt nhân để xây dựng những quân binh chủng của chiến tranh hiện đại như: không quân, hải quân, xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ, tên lửa, ra-đa, thông tin, công binh, vận tải, cơ giới, y học quân sự và tình báo. Bên cạnh đó, Liên Xô và Trung Quốc còn đào tạo cho ta sĩ quan chỉ huy tham mưu, chính trị, hậu cần ở cấp chiến lược và chiến thuật, và thậm chí, đào tạo cả phiên dịch, văn công, vận động viên thể thao quân sự.

Năm 1960, do có sự bất đồng về quan điểm “bài trừ sự tôn sùng cá nhân”, “chủ nghĩa xét lại” của Liên Xô, hầu hết các đoàn học viên quân sự của Việt Nam, dù đang học dở dang, vẫn phải lên tàu về nước.

Trong bối cảnh đó, tháng 5-1964, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Cục liên lạc đối ngoại để giúp Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quản lý, chỉ đạo các hoạt động đối ngoại. Một trong những nhiệm vụ Cục được trao là làm đầu mối tiếp nhận sự giúp đỡ của quân đội các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, ngoài Liên Xô và Trung Quốc.

Những năm 1965-1966, tại Bu-đa-pét chưa có Tùy viên quân sự, Bộ Quốc phòng chỉ cử đại diện là đồng chí Trung tá Kiên, nằm trong thành phần cán bộ Đại sứ quán.

TIẾP BƯỚC CHA ANH

Từ tháng 7-1964, Mỹ liên tục cho máy bay, tàu chiến xâm phạm bầu trời và vùng biển vịnh Bắc Bộ nước ta. Ngày 2-8-1964, tàu khu trục Ma-đốc của Mỹ ngang nhiên hoạt động ở khu vực giữa đảo Hòn Mê và cửa Lạch Trường (huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa), đụng độ với 3 tàu phóng ngư lôi của hải quân ta, bị ta bắn trúng. Hai ngày sau, tàu chiến Mỹ lại tiếp tục giở trò khiêu khích, nhưng do ta đã đoán được âm mưu của địch, nên không mắc mưu chúng. Dù vậy, lấy cớ tàu ta “hung hãn tấn công tàu Mỹ trên hải phận quốc tế”, ngày 5-8-1964, máy bay Mỹ hùng hổ thả bom phong tỏa cửa biển Lạch Trường, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại trong 9 năm bằng không quân và hải quân quy mô lớn đối với miền Bắc. Lần này, ta kiên quyết đánh trả, bắn rơi 8 máy bay, bắt sống giặc lái Mỹ.

Ngày 7-8-1964, Quốc hội Mỹ thông qua cái gọi là “Nghị quyết vịnh Đông Nam Á”, cho phép Tổng thống Giôn-xơn quyền can thiệp vào bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào mà chính phủ nước đó được xem là bị đe dọa bởi "sự hiếu chiến của cộng sản". Nghị quyết này đã trở thành sự biện minh hợp pháp cho việc đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh ở Việt Nam.

Với tầm nhìn xa, từ năm 1956, quân đội ta đã gửi người đi đào tạo phi công ở Trường Không quân số 3, trên cao nguyên Vân Quý, Trung Quốc. Hồi đầu, các học viên học lái máy bay cường kích (ném bom), về sau chuyển sang học lái máy bay tiêm kích (chiến đấu). Để việc đào tạo đội ngũ được hoàn chỉnh, trong năm 1961, ta cử 6 sĩ quan và 1 chiến sĩ sang Trung Quốc học về hoa tiêu dẫn đường. Đến năm 1963, các học viên học lái máy bay chiến đấu của ta ở căn cứ trên cao nguyên Mông Tự, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc đã hoàn thành xong phần bay cơ bản của máy bay Mig-17. Ngay lúc đó, Chính phủ Liên Xô quyết định viện trợ cho ta 36 máy bay tiêm kích, gồm 33 chiếc Mig-17 và 3 chiếc huấn luyện hai chỗ ngồi U-Mig-15. Các máy bay được đưa tới trung tâm huấn luyện của Trung Quốc.

Ngày 30-5-1963, Bộ Quốc phòng ký Quyết định thành lập Trung đoàn không quân tiêm kích đầu tiên mang phiên hiệu 921, thường gọi là Trung đoàn không quân Sao Đỏ. Ngày 6-8-1964, tốp máy bay Mig-17 (4 chiếc) đầu tiên của Trung đoàn cất cánh từ cao nguyên Mông Tự (Trung Quốc) đã về đến sân bay Nội Bài vừa mới được xây dựng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp vui mừng khôn xiết chứng kiến lễ đón các phi công Việt Nam trẻ tuổi tại sân bay, trong đó có Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện.

Ngày 3-4-1965, Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân quyết định cho Trung đoàn 921 xuất kích trận đầu. Nhiệm vụ chiến đấu được phổ biến đến từng chiến sĩ. Phương án tác chiến đã được cấp trên duyệt, được Trung đoàn tổ chức cho phi công thực hiện, luyện tập thuần thục. Hai biên đội tham gia trận đầu tiên, trong đó, biên đội trực tiếp chiến đấu gồm Phạm Ngọc Lan số 1 - biên đội trưởng, Phan Văn Túc số 2, Hồ Văn Quỳ số 3 và Trần Minh Phương số 4. Biên đội còn lại làm nhiệm vụ nghi binh kiềm chế các máy bay tiêm kích của địch.

Lúc 7 giờ sáng, các đài ra-đa của ta phát hiện một tốp máy bay địch vào trinh sát khí tượng và mục tiêu. Sở chỉ huy quân chủng nhận định: nhiều khả năng, địch sẽ huy động lực lượng lớn đánh phá cầu Hàm Rồng. Đúng như ta phán đoán, vào lúc 9 giờ 40 phút, 60 lần máy bay cường kích của hải quân Mỹ cùng lúc bay vào đánh phá cầu Tào, cầu Đò Lèn và cầu Hàm Rồng. Giờ phút xuất kích đã đến.

9 giờ 47 phút, biên đội làm nhiệm vụ nghi binh và yểm hộ được lệnh cất cánh, bay về hướng tây nam thuộc vùng trời Hàm Rồng, Thanh Hóa. Một phút sau, biên đội tiến công cất cánh hướng 210 độ, tiến về vùng trời Thanh Hóa theo đội hình sục sạo. Trong trận này, hai chiếc F-8 bị trúng đạn, nhưng không rơi tại chỗ, mà cố bay được ra biển. Ba chiếc Mig-17 hạ cánh trở về an toàn, riêng chiếc của biên đội trưởng Phạm Ngọc Lan hết dầu, phải hạ cánh xuống bãi sông Đuống.

Ngày hôm sau, 4-4-1965, hơn 50 máy bay địch lại ồ ạt kéo vào và có sự chuẩn bị đề phòng đối phó với không quân ta. Mục tiêu ném bom vẫn là cầu Hàm Rồng và nhà máy nhiệt điện Thanh Hóa. Lực lượng phòng không bảo vệ mục tiêu nổ súng đánh trả quyết liệt. Bộ tư lệnh quân chủng cho không quân xuất kích theo phương án tác chiến đã được duyệt.

Lúc 10 giờ 20 phút, biên đội nghi binh bay trước gồm: Lê Trọng Long số 1 - biên đội trưởng, Phan Văn Túc số 2, Hồ Văn Quỳ số 3 và Trần Minh Phương số 4. Sau khi cất cánh, toàn biên đội được dẫn về khu vực Vụ Bản, Phủ Lý (Nam Hà) làm nhiệm vụ thu hút tiêm kích địch, sẵn sàng yểm hộ biên đội công kích. Hai phút sau, biên đội tiến công gồm biên đội trưởng Trần Hanh số 1, Phạm Giấy số 2, Lê Minh Huân số 3 và Trần Nguyên Năm số 4, được lệnh cất cánh. Biên đội được bộ phận dẫn đường dẫn bay thấp ra hướng đông rồi bất ngờ vòng vào hướng đông - nam. Đến khu vực chiến đấu, toàn biên đội được lệnh kéo lên chiếm độ cao, lựa chọn thời cơ thích hợp công kích địch. Trận này, ta bắn rơi 2 máy bay “Thần sấm” (F-105), song cũng bị tổn thất. Trần Nguyên Năm anh dũng hy sinh, Trần Hanh phải nhảy dù, vì cạn nhiên liệu.

Hoa tiêu Lê Thành Chơn cho biết: "Trên thực tế, chúng tôi không thể sử dụng các chiến thuật đã được huấn luyện tại Trung Quốc để chống lại không quân Mỹ. Chương trình huấn luyện của Trung Quốc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm từ chiến tranh Triều Tiên (1953). Tuy nhiên, thời đó thì Mỹ đã làm gì có công nghệ máy bay tân tiến như khi tham chiến ở Việt Nam. Những tổn thất trong giai đoạn đầu là do phi công ta học theo cách đánh của Trung Quốc. Nhưng rồi, chúng tôi bắt đầu sử dụng chiến thuật của chính mình".

Tháng 8-1965, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Trung đoàn không quân tiêm kích thứ hai mang phiên hiệu 923, thường gọi là Trung đoàn không quân Yên Thế, đóng ở sân bay Kép (Bắc Giang). Các máy bay Mig-17 giờ đã được Liên Xô cải tiến thành Mig-17F, lắp thêm bộ phận tăng lực.

Cũng trong năm 1965, một số phi công giỏi của Việt Nam như Phạm Ngọc Lan, Nguyễn Ngọc Độ, Nguyễn Nhật Chiêu... được chọn đi học chuyển loại sang Mig-21 ở Liên Xô. Đây là loại máy bay hiện đại lúc bấy giờ. Ngoài súng máy 23 ly, trên máy bay còn được trang bị tên lửa không đối không. So với các loại máy bay mà không quân Mỹ dùng để đánh phá miền Bắc, Mig-21 được xem là ngang sức ngang tài. Vào thời điểm này, máy bay trinh sát điện tử không người lái của Mỹ hoạt động ở miền Bắc rất nhiều để chụp ảnh các trận địa của ta và các mục tiêu chúng định ném bom. Do chúng thường hoạt động ở độ cao trên 20km, nên pháo phòng không và máy bay Mig-17 chưa thể bắn hạ được.

Tháng 12-1965, đoàn đi bổ túc học lái máy bay tiêm kích đánh chặn Mig-21 tại Liên Xô tốt nghiệp về nước. Tuy nhiên, đến tháng 3-1966, những chiếc Mig-21 đầu tiên do Liên Xô viện trợ mới về đến Việt Nam. Tất cả các phi công của ta đều háo hức lập công. Trận đầu chiến thắng của Mig-21 là ngày 4-4-1966. Hôm ấy, máy bay trinh sát Mỹ lại quen mui hoạt động dọc tuyến quốc lộ từ Hà Nội đi Cao Bằng. Được lệnh cất cánh, biên đội của Nguyễn Hồng Nhị hạ quyết tâm: đã xuất kích là phải tiêu diệt máy bay địch để tạo khí thế cho đơn vị. Bay đến độ cao hơn 16 cây số, Nguyễn Hồng Nhị phải dùng mắt thường quan sát, vì ra-đa trên máy bay bị gây nhiễu dày đặc, bị tê liệt. Đến độ cao 18 cây số, Nguyễn Hồng Nhị phát hiện mục tiêu và xin công kích. Được mặt đất cho phép, anh cho chiếc Mig-21 của mình bám đuôi và dùng ra-đa trên máy bay đo cự ly. Khi máy bay địch lọt vào tầm ngắm, Nguyễn Hồng Nhị liền phóng một quả tên lửa, chiếc máy bay địch bốc cháy. Để chắc ăn, Nguyễn Hồng Nhị phóng thêm một quả tên lửa nữa, chiếc máy bay của Mỹ tan tành. Thời gian từ khi cất cánh đến khi trở về là hơn 20 phút.
*
* *
Ngày 7-1-1965, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên trực thuộc Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân (để giữ bí mật, trong quyết định ghi là Trung đoàn cao xạ 236, mật danh là Đoàn Sông Đà). Ngày 1-5-1965, lễ chính thức thành lập Trung đoàn được tổ chức tại trung tâm huấn luyện Mỏ Chén, khu vực gần thị xã Sơn Tây.

Đến cuối tháng 6-1965, quân chủng Phòng không - Không quân đã xây dựng xong phương án tổ chức đánh trận đầu tiên bằng tên lửa đất đối không SAM-2 do Liên Xô viện trợ. Theo đó, khu vực tác chiến được chọn là vùng Suối Hai - Trung Hà (huyện Bất Bạt, tỉnh Hà Tây), nằm bên hữu ngạn sông Đà. Để đảm bảo bí mật, các trận địa tên lửa không được xây dựng sẵn (sợ lộ bí mật), mà chỉ xây dựng cấp tốc trong vòng 36 giờ trước lúc đơn vị chiếm lĩnh trận địa. Hai tiểu đoàn 63, 64 của Trung đoàn 236 được phân công tham gia trận đánh này, riêng tiểu đoàn 61 làm dự bị. Để đảm bảo chắc thắng, kíp chiến đấu gồm các sĩ quan và quân nhân Liên Xô sẽ trực tiếp điều khiển tên lửa, còn kíp chiến đấu của Việt Nam luôn ở bên cạnh theo dõi, học tập rút kinh nghiệm. Tham gia phối hợp có đại đội ra-đa 26A cùng các đơn vị pháo cao xạ, súng máy của bộ đội và dân quân.

15 giờ 40 phút ngày 24-7-1965, đại đội ra-đa phát hiện tốp máy bay cường kích gồm 4 chiếc “Con ma” (F-4) của Không quân Mỹ ở độ cao 7 cây số, bay theo trục sông Đà. 15 giờ 53 phút, Tiểu đoàn 63 và 64, mỗi đơn vị phóng 2 quả tên lửa, bắn rơi 1 chiếc “Con ma”. Không quân Mỹ hoàn toàn bị bất ngờ, nên không kịp có phản ứng gì. Đây là chiếc máy bay Mỹ đầu tiên bị tên lửa của ta bắn rơi.
*
* *
Trung đoàn tăng thiết giáp đầu tiên của ta có quyết định thành lập từ năm 1959, là Trung đoàn 202 (mật danh H02), đào tạo ở Trung Quốc. Một năm sau, Trung đoàn mới bí mật về Việt Nam, đóng quân và luyện tập trong một căn cứ lấy mật danh là “Công trường 92”, ở khu vực núi Đanh, thuộc xã Kim Long, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phú (nay thuộc huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc). Trước đó, hơn 100 xe tăng T-34, pháo tự hành SU-76 và một số xe chuyên dụng đã được chuyên chở bằng tàu hỏa từ Trung Quốc về tới Việt Nam (thường đi buổi đêm). Trung đoàn thứ hai là Trung đoàn 203 (mật danh H03), thành lập năm 1965, gồm các học viên đi học lái tăng T-54 (năm cuối, chưa tốt nghiệp) ở Liên Xô về.

Sau khi chuẩn bị kỹ càng, phải đến cuối năm 1967, ta mới quyết định cho xe tăng xung trận, nhưng không phải T-34, cũng không phải T-54.

Từ tháng 10-1967, Tiểu đoàn 198 thuộc Trung đoàn 203 (gồm 2 đại đội với 22 xe tăng PT-76, do Liên Xô sản xuất, có thể lội nước) bắt đầu di chuyển vượt 1.000 km đường Trường Sơn từ Lương Sơn (Hòa Bình) vào Quảng Trị để phối hợp đánh căn cứ Mỹ ở Làng Vây trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh.

Đơn vị hành quân vào ban đêm, còn ban ngày thì để bộ đội nghỉ ngơi lấy sức và tranh thủ duy tu, bảo dưỡng xe. Cứ đi 3 ngày thì nghỉ 1 ngày.

Khi hành quân, để ngụy trang, bộ đội ta có sáng kiến làm một cái giàn như kiểu giàn mướp, lợp trên nóc xe tăng, với ba tác dụng: thứ nhất, nếu máy bay trinh sát của địch chụp ảnh từ trên xuống, thì hình hài chiếc xe tăng không còn nguyên vẹn, nên địch khó phát hiện ra xe tăng của ta; thứ hai, nếu như địch thả bom bi hoặc bắn loại đạn nổ, thì sẽ nổ trên giàn ngụy trang, chứ không ảnh hưởng đến thân xe, bảo đảm an toàn cho bộ đội trong xe; thứ ba, khi xe tăng nổ máy, sau một thời gian, nhiệt tỏa ra rất lớn, lúc này, giàn ngụy trang gồm nhiều ống tre rỗng, có tác dụng tản nhiệt của xe, do đó mà địch không thể chụp được ảnh nhiệt xe tăng một cách rõ ràng, chính xác.

Để xóa vết xích xe tăng, phương án đưa ra là, một trung đội nếu có 3 xe, thì buộc vào sau xe đi cuối cùng một vài cây to, đi đến đâu kéo đến đó, không phải huy động công sức của nhân dân và bộ đội bản địa.

Tiẻu đoàn phải nhờ những người dân Lào, Việt giúp sức khi vượt hai sông lớn là sông Sê- pôn và sông Sê-băng-hiêng. Mỗi lần như thế, phải vận động hàng trăm người dân ra làm đường ngầm cho xe vượt sông, chặt nứa kết bè vận chuyển, vất vả nhất là gùi các đoạn xích xe tăng (5 kg), bình điện ắc-quy (64 kg) từ kho trạm về bãi tập kết xe tăng để thay thế cho những bộ phận bị hư hỏng.

Cuối tháng 12-1967, Tiểu đoàn tăng thiết giáp 198 đã có mặt ở vị trí tập kết tại Na Bo, Nậm Khang (Lào) để hoàn tất mọi công tác chuẩn bị. Đầu năm 1968, toàn Tiểu đoàn hành quân từ Na Bo về Làng Vây chuẩn bị tham chiến. Phải nói rằng, thực ra, yếu tố bất ngờ trong trận này không còn nữa, vì trước đó, ta đã điều vài xe tăng yểm trợ bộ binh ở căn cứ Huội Sản. Tuy nhiên, ta vẫn tìm được cách gây bất ngờ lớn cho địch, vì biết trước, thể nào địch cũng chủ quan, nghĩ rằng, xe tăng và đường vận động của xe tăng không thể tách rời nhau. Công lao lớn nhất thuộc về công binh.

Đường hành quân của xe tăng được công binh làm phía dưới, cách mặt nước 40 - 50cm, nên ngay cả ban ngày, máy bay địch cũng không thể chụp ảnh, phát hiện. Để đưa xe tăng xuôi dòng Sê-pôn, bộ đội công binh đã mất rất nhiều công sức phá đá dọn dẹp lòng sông. Có những đoạn sông, do có quá nhiều khối đá ngầm lổn nhổn dưới đáy, không thể dùng thuốc nổ phá hết, anh em công binh đành cởi trần, ngâm mình dưới nước, làm cọc tiêu cho xe tăng khỏi bị chệch đường. Ở những chỗ đủ sâu, xe tăng được thả trôi và anh em dùng sào gậy để chống đẩy. Ở những đoạn nước cạn, xe vẫn nổ máy vượt qua, nhưng nhờ đặt chân ga rất nhỏ, rất êm, nên không gây tiếng động, vẫn giữ được bí mật.

Trong trận Làng Vây, tuy địch dùng súng chống tăng M-72 để kháng cự, song đa số hơn 100 quả đạn hoặc bắn trượt, hoặc văng ra, khi gặp vỏ giáp nghiêng của xe lội nước PT-76. Trong số 16 chiếc của ta tham chiến, có 4 chiếc bị địch bắn hư hỏng. Song, điều quan trọng là ta đã làm chủ hoàn toàn căn cứ Làng Vây.
*
* *
Đầu năm 1966, tướng Oét-mô-len thúc gịuc Oa-sinh-tơn tăng thêm 200.000 quân Mỹ tới Đông Dương, để trong trường hợp thuận lợi, sẽ dùng cả lực lượng bộ binh đánh ra miền Bắc Việt Nam.

Sáng ngày 17-7-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước”. Người khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song, nhân dân Việt Nam quyết không sợ ! Không có gì quý hơn độc lập tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.

Ngày 8-8-1966, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định thành lập Phân hiệu II Đại học Bách Khoa. Ngày 28-10-1966, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp cùng Bộ Quốc phòng tổ chức lễ công bố quyết định thành lập Phân hiệu II Đại học Bách Khoa, đồng thời khai giảng khóa đào tạo đầu tiên tại Hà Nội. Đây là tiền thân của Trường Đại học kỹ thuật quân sự (1968) và Học viện kỹ thuật quân sự (1981) sau này. Hai chuyên ngành quan trọng của Phân hiệu II là cơ khí (gia công và chế tạo) và thông tin (cả hữu tuyến và vô tuyến).

ĐOÀN CÔNG TÁC 518H

Trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng ấy, cuối năm 1967, những học viên quân sự Việt Nam đầu tiên đặt chân tới Hung-ga-ri.

Đoàn phải đi thành 2 đợt, giãn cách ra, do quân số quá đông, tổng cộng hơn 100 người, không làm sao mua đủ vé trên cùng một chuyến tàu liên vận. Đến Bắc Kinh, xuống nghỉ vài ngày, sau đó lên tàu đi tiếp. Đến Mát-xcơ-va, lại xuống nghỉ vài ngày, chờ mua vé sang Bu-đa-pét.

Do trục trặc về thông tin liên lạc, nên chỉ khi đoàn đầu tiên đến Mát-xcơ-va, đại diện của ta mới kịp thông báo tình hình với phía bạn Hung-ga-ri. Tuy vậy, chúng ta vẫn nhận được sự đón tiếp cực kỳ nhiệt tình và chu đáo từ phía bạn.

Theo lời kể lại, sự thể là, trong chuyến thăm Việt Nam vào tháng 5-1967 của Ủy viên dự khuyết Bộ chính trị, Bộ trưởng Bộ quốc phòng Hung-ga-ri khi đó là Thượng tướng Xinh-ne-ge Loi-ốt (Czinege Lajos), Bộ trưởng Bộ quốc phòng Việt Nam là Đại tướng Võ Nguyên Giáp có hỏi Bộ trưởng Xinh-ne-ge Loi-ốt về khả năng quân đội nhân dân Hung-ga-ri giúp đỡ hỗ trợ quân đội nhân dân Việt Nam đào tạo cán bộ trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, thì được biết, tại Hung-ga-ri, ngoài hệ thống học viện quân sự, cao đẳng quân sự chuyên đào tạo các sĩ quan, học viên quân sự, Bộ quốc phòng Hung-ga-ri vẫn thường xuyên gửi người ra các trường đại học, viện nghiên cứu của nhà nước Hung-ga-ri đào tạo thêm ở trình độ cao đẳng, đại học, thực tập sinh, nghiên cứu sinh, tiến sĩ khoa học thuộc những lĩnh vực mà quân đội chưa có chuyên ngành đào tạo. Sau thời gian học tập, các cán bộ chiến sĩ lại quay về phục vụ trong quân đội Hung-ga-ri.

Được lời như cởi tấm lòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp đề nghị với Bộ trưởng Xinh-ne-ge Loi-ốt giúp quân đội nhân dân Việt Nam đào tạo cán bộ theo phương thức ấy. Bộ trưởng Czinege Lajos đã vui vẻ nhận lời. Kế hoạch cụ thể sẽ do các cơ quan tham mưu cấp dưới bàn bạc thảo luận và đề xuất.

Hai đoàn học viên quân sự đầu tiên (về sau ghép thành một đoàn lớn, mang mật danh là Đoàn 518H, chữ H có lẽ ngụ ý là Hung-ga-ri) khi đến Bu-đa-pét, được chia thành những nhóm nhỏ hơn, gửi đi ăn nghỉ tại một số địa điểm trong thành phố, do ký túc xá Karikás Frigyes Kollégium (mang tên một nhà văn và là nhà hoạt động cách mạng) dành cho các sĩ quan, học viên quân sự Hung-ga-ri đi học ở trường bên ngoài không còn đủ chỗ. Phía bạn cử cán bộ y tế xuống từng nơi khám sức khỏe, tiến hành tẩy giun tập thể (liều lượng hơi cao theo tiêu chuẩn chấu Âu, làm anh em say đứ đừ, vì người Việt Nam vốn thấp bé nhẹ cân) và phát tiền cho anh em đi mua quần áo chống rét. Sau đó chừng một vài tháng, bạn mới kịp sửa sang một tòa nhà 4 tầng trong doanh trại Pe-tuê-phi (Petofi) để đón toàn bộ 120 học viên quân sự Việt Nam về ở chung. Tòa nhà này đặt dưới sự quản lý điều hành của Ban chỉ huy ký túc xá Karikás Frigyes Kollégium đóng ở chân núi Ghe-lê (Gellérthegy) gần Quảng trường Tròn (Mórisz Zsigmond Kortér).

Tết Mậu Thân năm đó (1968), bạn cấp cho đoàn 2 con lợn sống để mổ thịt liên hoan. Anh Hải “hentes” (đồ tể) được tín nhiệm giao nhiệm vụ thịt lợn. Với sự giúp sức của nhóm quân nhân khỏe mạnh và giàu kinh nghiệm, các anh trói chặt bốn chân lợn, treo lên chiếc xà, dùng dao găm mang theo từ Việt Nam đâm thẳng vào cổ lợn hứng tiết với mục đích đánh món tiết canh trứ danh. Các “bác” bảo vệ, thường trực người Hung trông thấy khiếp quá, cấp tốc điện thoại báo cáo các cấp chỉ huy. Cấp chỉ huy vội vã xuống ngay hiện trường. Sau khi hội ý với đội ngũ bác sĩ, lệnh ban ra là “không được phép ăn tiết canh, vì ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe”. Toàn bộ món tiết canh phải cử người đem đi đổ bỏ, dưới sự giám sát chặt chẽ của nhân viên y tế trong doanh trại. Thật phí của giời !

Đoàn học viên quân sự sang Hung-ga-ri năm 1967 (từ đây gọi tắt là Đoàn VK67) không hề biết, thời gian đó, theo đề nghị của các bác sĩ quân y, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang nghỉ dưỡng tại Hung-ga-ri. (từ tháng 11-1967 đến tháng 1-1968).



Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong thời gian nghỉ dưỡng tại Hung-ga-ri. Người thú 2 (từ phải qua trái) là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Hoàng Lương.

Đại sứ Hoàng Lương kể, đại ý: Năm 1956, với tư cách là Ủy viên Bộ chính trị, Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Đại hội Đảng cộng sản Ba Lan và thăm Ba Lan, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tranh thủ tiếp xúc các nhà lãnh đạo Đảng cộng sản Ba Lan và đại biểu các nước khác để vận động ủng hộ đường lối chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam. Lúc này, ông Hoàng Lương là người thứ 2 tại Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan.

Năm 1965, khi chuẩn bị sang Hung-ga-ri làm Đại sứ, ông đến gặp Đại tướng xin ý kiến về việc vận động nước bạn viện trợ phục vụ cho Tổng tiến công. Đại tướng gửi ông một tấm thiếp đề tặng Bộ trưởng quốc phòng Hung-ga-ri cùng những lời hỏi thăm chân thành. Bộ trưởng quốc phòng Hung-ga-ri lúc đó rất vui mừng khi nhận được tấm thiếp của Tướng Giáp và câu chuyện của vị Đại sứ Việt Nam và ngài Bộ trưởng trở nên cởi mở hơn. Sau khi hỏi thăm sức khỏe Đại tướng, ngài Bộ trưởng gợi ý: Ngoài Trung Quốc và Liên Xô, Việt Nam nên chú trọng xin viện trợ của các nước Đông Âu. Chúng tôi có đại bác bắn tự động, tiểu liên báng gấp cải tiến từ AK-47, súng trường bắn tia laser, máy thông tin cá nhân, nhiều lương thực, lương khô… Ngài Bộ trưởng Quốc phòng cũng gửi lời mời Đại tướng sang thăm Hung-ga-ri. Nhưng rồi, ngài Bộ trưởng lại là người chủ động sang Việt Nam thăm Đại tướng trước.

Theo anh Lãng kể lại, Đoàn VK67 là đoàn đầu tiên sang Hung có số lượng đông nhất so với các đoàn bộ đội Việt Nam sang Hung, cho đến những năm 80 của thế kỷ trước. Kỷ luật rất nghiêm ngặt. Các học viên quân sự Việt Nam khi đi ra ngoài phải đi thành nhóm có ít nhất 3 người (mãi về sau mới giảm xuống, còn 2 người).

Những buổi ban đầu học tiếng Hung vô cùng vất vả. Trong đoàn có một số anh em biết tiếng Trung, tiếng Nga, song chưa thật thành thạo để có thể làm phiên dịch. Duy có anh Hải “hentes” thạo tiếng Đức, được cử ra làm phiên dịch cho đoàn.

Thời gian đầu, mỗi khi đi học, anh em xếp hàng và cuốc bộ sang Trường dự bị ngoại ngữ quốc tế (NEI) gần đấy. Hồi đó, chưa có ai soạn từ điển Hung-Việt, nên khi học các từ Hung, anh em phải tra từ điển 2 lần: một lần dùng từ điển Hung-Nga, tiếp đó, dùng từ điển Nga-Việt.

Về sau, bên đấy cũng chật, không có nhiều phòng, phía bạn quyết định dựng tạm một dãy nhà cấp 4 ở đầu sân tập của tiêu binh làm lớp học.

Đoàn 67 kết thúc chương trình học dự bị vào tháng 6-1969.

Theo chủ trương và sự thỏa thuận của lãnh đạo hai quân đội, Đoàn 67 gồm 120 người chia tách thành hai đoàn nhỏ hơn, mỗi đoàn 60 người, theo mục đích đào tạo khác nhau. Đoàn thứ nhất gọi là đoàn “đào tạo cán bộ nòng cốt cho quân đội”. Đoàn thứ hai gọi là đoàn “đào tạo lưỡng dụng”.

Đoàn thứ nhất vào học tại Trường Cao đẳng kỹ thuật quân sự Zalka Máté (Zalka Máté Katonai Műszaki Főiskola - mang tên một vị tướng của Hung-ga-ri – viết tắt là ZMKMF). Đoàn thứ hai học ở Đại học Bách khoa Budapest (Budapesti Műszaki Egyetem – viết tắt là BME).

Tại ZMKMF, bạn tổ chức lớp riêng cho học viên Việt Nam (đối với các môn học bắn súng, nhảy dù, băng rừng, lái xe, điện đài, thông tin… thì học chung với các bạn Hung). Còn tại BME, sinh viên Việt Nam học chung hoàn toàn với sinh viên Hung. Do đó, yêu cầu về tiếng Hung có phần nào gắt gao hơn. Thực ra, trong đoàn được phân công vào học tại ZMKMF, cũng có nhiều người rất giỏi tiếng Hung, bởi lẽ, cấp trên muốn san đều những hạt nhân được các giáo viên đánh giá là “xuất sắc”, “giỏi” trong thời gian học dự bị vào cả hai đoàn nhỏ.

Hết năm thứ nhất, có 2 anh học ở BME được giáo viên đề nghị với cấp chỉ huy Hung-ga-ri và Việt Nam cho chuyển sang học ngành Toán ở Đại học Tổng hợp Bu-đa-pét (ELTE). Có 6 anh học tại BME hơi đuối sức, không theo kịp, cấp trên quyết định cho chuyển vào học tiếp tại ZMKMF. Đến năm 1973 thì các học viên quân sự học tại ZMKMF (hệ 4 năm) tốt nghiệp về nước. Đến năm 1974, nhóm sinh viên học tại BME (hệ 5 năm), cùng 2 người học tại ELTE (hệ 5 năm) tốt nghiệp về nước. Riêng 3 anh học BME, vì lý do sức khỏe, tụt lại năm sau.

Trong thời gian các sinh viên Đoàn 67 học tại BME, một sai sót hy hữu đã xảy ra. Có 5 anh được dự kiến đào tạo kỹ sư ngành điện tử (điện nhẹ - hiradás technikai szak) lại “bị” học nhầm ngành điện công nghiệp (điện nặng – eros-áramú szak). Nguyên nhân là vì, trước đây, trong quá trình đàm phán giữa Bộ quốc phòng Việt Nam và Bộ quốc phòng Hung-ga-ri (dùng tiếng Nga để đàm phán) đã có sự hiểu sai về các chuyên ngành đào tạo tại trường Đại học Bách khoa Bu-đa-pét (BME). Khi anh em ta học đến năm thứ ba, mới té ngửa, phát hiện ra chuyện này, báo cáo lãnh đạo, nhưng cấp trên bảo, thôi, cứ yên tâm học tiếp đi, không vấn đề gì.

Để quản lý các học viên quân sự, ta và bạn đã phải ngồi cùng nhau nhiều lần để thống nhất đề ra mô hình quản lý. Theo đó, ta có hệ thống tổ chức riêng, quản lý con người, quản lý bộ đội. Người thân và gia đình của các học viên quân sự khi viết thư sẽ gửi tới đại chỉ hòm thư mang tên: 1502 Budapest 112 PF 90K Hungary để giữ bí mật. Bạn quản lý công tác ăn ở, đời sống vật chất, công tác hậu cần, khám chữa bệnh, nghỉ hè, nghỉ đông, tham quan du lịch, giải trí, giao tiếp với bên ngoài, đặc biệt là với các đầu mối, cơ sở đào tạo như: trường dự bị dành cho sinh viên quốc tế, các trường đại học, viện nghiên cứu, cơ sở thực tập.

Mãi sau này, trước tình hình mới, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã thành lập Phòng Tùy viên quân sự tại Hung-ga-ri. Tùy viên quân sự đầu tiên là Trung tá Sanh. Giúp việc thủ trưởng Sanh có Đại úy Tỵ, chuyên xuống trường quân sự Zalka Máté và doanh trại Petofi để sâu sát, nắm tình hình học tập và tu dưỡng của anh em, đặc biệt là vào những kỳ thi học kỳ.

Theo thông lệ, ai có quân hàm cao nhất, thâm niên lâu nhất, trong đoàn sẽ được chỉ định làm Đoàn trưởng. Sau khi tách thành hai đoàn nhỏ, anh Nhân là Đoàn trưởng Đoàn học viên tại ZMKMF, anh Trần Cơ được cử làm Đoàn trưởng Đoàn 67 tại doanh trại Petofi. Cũng theo thông lệ, ai có tuổi Đảng cao nhất thì được chỉ định làm Bí thư chi bộ. Chỉ huy doanh trại Petofi (phía Việt Nam) tham gia Đảng ủy quân sự mà Tùy viên quân sự là lãnh đạo cao nhất về Đảng.

Hồi mới sang, Đoàn 67 được hưởng mọi chế độ giống với các sĩ quan Hung-ga-ri ra học bên ngoài, nghĩa là được phát quần áo lót, quần áo thể thao, quân phục bằng dạ, thắt lưng, giầy cao cổ và được phát tiền để mua quần áo xi-vin, dùng vào những ngày nghỉ cuối tuần, khi đi ra ngoài doanh trại. Cứ tưởng bạn không có sẵn quân phục và giày số bé, nhưng hóa ra bạn cũng may đủ các loại, nhờ thế, một số anh Việt Nam gầy yếu nhỏ con vẫn được phát quân trang đầy đủ. Riêng quân hàm đeo ở ve áo và cầu vai, bạn đề nghị ta vẽ hình theo tỷ lệ 1:1 và tô màu lên giấy để theo đó đặt làm.

Vào mùa hè, sinh viên bên ngoài đi lao động kiếm tiền ầm ầm, anh em muốn đi lắm, đề nghị trên xét duyệt. sau khi xin ý kiến ở “nhà”, Phòng Tùy viên quân sự quyết định phổ biến: Tiêu chuẩn đi mê-lô (mélo – lao động thêm mùa hè) lúc đó: mỗi kỳ nghỉ hè, được đi 8 ngày, nhưng phải nộp về cho Ban chỉ huy số tiền làm trong 3 ngày để góp quỹ ủng hộ đồng bào trong nước.

Đoàn 67 (đại học) lên tàu về nước vào tháng 11-1974. Trong bản nhận xét, đánh giá của bạn gửi cho Bộ Quốc phòng Việt Nam, bạn đề nghị ta phong quân hàm vượt cấp Thượng úy cho một số anh em trong Đoàn 67, trước khi sang Hungary đã được phong quân hàm Chuẩn úy, và đã đạt được thành tích đặc biệt xuất sắc trong học tập (Bằng đỏ). Tuy nhiên, sau khi cân nhắc, Cục Cán bộ (Tổng cục Chính trị) quyết định chỉ phong những đồng chí này... Thiếu úy.

Trước đó một năm, khi các học viên quân sự học tại ZMKMF (hệ 4 năm) tốt nghiệp về nước, đã nổ ra tranh cãi ở Cục Cán bộ về vấn đề phong quân hàm sĩ quan. Tuy nhiên, sau khi so sánh đối chiếu thời gian học, danh mục các môn học, số lượng tiết học trong từng môn học, cơ cấu các môn học cơ bản và chuyên ngành,..v..v.., của trường ZMKMF với trường Đại học Kỹ thuật quân sự ở Vĩnh Yên, Cục Cán bộ đã công nhận sự tương đương và quyết định phong quân hàm sĩ quan (Thiếu úy) cho các anh em.

...................(Ghi theo lời kể của anh Dương Thành Kông, và anh Hoàng Ngọc Lãng, và các anh Đoàn 67)

DANH SÁCH ĐOÀN VK67 HỌC ĐẠI HỌC BME VÀ ELTE



Hàng trên cùng (chính giữa): Ban Chỉ huy Magyar Néphadcsereg Karikás Frigyes Katonai Kollégium Vietnami tagozata, gồm 3 ông:
Szendro Zoltán – alerzedes – parancsnok - Chỉ huy trưởng (ở giữa)
Csiszár István – alerzedes – politikai helyettes - Phó chỉ huy phụ trách công tác chính trị (bên trái)
Bódi József – ornagy – tanulmányi tiszt - sĩ quan phụ trách việc học tập (bên phải)

Hàng thứ nhất (từ trái qua phải): Trần Cơ, Nguyễn Đình Long, Phạm Công Hiệt, Trần Công Viêm, Nguyễn Văn Quang, (Ban chỉ huy), Đặng Hồng Trọng, Đoàn Thông, Phan Tiến Tửu, Nguyễn Đức Úy, Vũ Văn Tuất.

Hàng thứ hai (từ trái qua phải): Trần Ngân, Nguyễn Tất Thắng, Phạm Văn Mục, Ngô Gia Điền, Đặng Công Nam, Đỗ Khắc Chiến, Thái Danh Hậu, Nguyễn Hữu Nhị (ELTE), Nguyễn Hữu Chiến (ELTE), Lương Văn Lưỡng, Đào Hữu Nghĩa, Phạm Văn Đệ, Bùi Gia Tợi.

Hàng thứ ba (từ trái qua phải): Phạm Ngọc Trường, Hoàng Ngọc Lãng, Nguyễn Văn Thuyết, Lưu Bá Cơ, Đồng Minh Huệ, Tô Bá Trường, Nguyễn Ngọc Hưu, Nguyễn Văn Bằng, Trần Văn Biêm, Nguyễn Cao Thoan.

Hàng thứ tư (từ trái qua phải): Nguyễn Đức Việt (Nguyễn Văn Việt), Lê Văn Cát, Phạm Văn Thủy, Cao Bá Huy, Nguyễn Hồng Toàn, Nguyễn Kiêm Cát, Dương Thành Công, Nguyễn Văn An, Nguyễn Minh Song, Nguyễn Bính, Nguyễn Xuân Yêm.

Hàng dưới cùng (từ trái qua phải): Hồ Văn Ngoãn, Trịnh Quang Quả, Nguyễn Văn Định, Lê Xuân Viên, Đặng Hạnh, Lê Kim, Lại Anh Tuấn.

Tổng cộng, 51 người tốt nghiệp về nước tháng 11-1974.

Còn 3 anh bị ốm chuyển sang năm sau: Phan Văn Xí, Nguyễn Duy Thủ, Nguyễn Trọng Hân.


LỄ TIỄN ĐOÀN VK67 VỀ NƯỚC THÁNG 11-1974



Ban chỉ huy Phân hiệu trong phòng làm việc



Ban chỉ huy Phân hiệu cùng các vị khách mời



Quà tặng của Ban chỉ huy phía Việt Nam cho Ban chỉ huy phía Bạn



Nhiệt liệt chào mừng các vị khách quý vào Hội trường



Lễ chào cờ



Chăm chú nghe diễn văn



Đoàn trưởng Trần Cơ trao tặng phẩm kỷ niệm cho Ban chỉ huy Phân hiệu Việt Nam của Ký túc xá quân sự Karikás Frigyes đặt tại Doanh trại Petofi.



Tình hữu nghị Hunga-ga-ri Việt Nam muôn năm !



Tiệc đứng



Các thầy cô giáo dạy học viên quân sự Việt Nam trong năm dự bị



Các cô lao công quét dọn vệ sinh cũng được mời dự tiệc



Cùng hát dân ca Hung



Chụp ảnh với thầy giáo dạy tiếng Hung năm dự bị



Mời các thầy cô giáo về tiếp ở phòng riêng


NHỮNG LẦN GẶP GỠ TẠI VIỆT NAM



Buổi gặp mặt năm 2005 tại 152 Thụy Khuê - Hà Nội



Buổi gặp mặt năm 2009



Buổi gặp mặt năm 2012



Buổi gặp mặt năm 2014



Anh Nguyễn Thiện Hải (Hải "hentes" - "đồ tể") sang Hung năm 1967, sau vào học ở trường Cao đẳng Kỹ thuật quân sự Zalka Máté.



Năm 2010, anh Nguyễn Văn Định (Đoàn VK67) vinh dự nhận Arany szintű Érdemkereszt (Huân chương Thập tự Vàng) do nước Cộng hòa Hungary trao tặng, ghi công vì sự nghiệp bang giao giữa hai nước.





Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 06.06.2016, sửa lần 17
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 01.05.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÂU CHUYỆN VỀ NHỮNG HỌC VIÊN QUÂN SỰ TẠI HUNG-GA-RI (tiếp theo)

Đầu xuôi đuôi lọt.

Năm 1968, Việt Nam tiếp tục gửi người sang đào tạo học viên sĩ quan chỉ huy kỹ thuật và sinh viên đại học. Bên cạnh đó, ta cũng gửi người sang đào tạo ngắn hạn (cao đẳng) về kỹ thuật điện- điện tử, là một thế mạnh của Hung-ga-ri.

Theo tài liệu của anh Nguyễn Văn Phú VK68, lớp đi học ở Zalka Máté (1968-1973) gồm 10 anh:

1. Lê Xuân Hội, năm sinh 1940, quê ở Thanh Hóa.
2. Trần Văn Chuyển 1947, Thái Bình.
3. Nguyễn Văn Học, 1945, Thanh Hóa.
4. Tạ Văn Hoan, 1948, Vĩnh Phúc.
5. Bùi Văn Lạc, 1949, Phú Thọ.
6. Dương Chí Thần, 1940, Cao Bằng.
7. Phạm Văn Thường, 1947, Ninh Bình.
8. Vũ Văn Linh, 1946, Nghệ An.
9. Phan Văn Dục, 1947, Thanh Hóa.
10. Và 1 anh quên tên? , , ,

Lớp đi học ở Kandó Kálmán (1968-1973) cũng gồm 10 anh:

11. Lương Kim Sơn, năm sinh 1945, quê ở Hà Nam.
12. Vũ Văn Ngọc, 1946, Nam Định.
13. Trần Đức Quảng, 1945, ?
14. Phan Văn Chính, 1945, Nghệ An.
15. Nguyễn Ngọc Hoàn, 1948, Quảng Bình.
16. Vũ Như Xuyến, 1946, Quảng Bình.
17. Bùi Văn Vinh, 1946, Cao Bằng.
18. Hoàng Danh Toàn, 1945, Nghệ An.
19. Vũ Đức Lượng, 1947, Hải Phòng.
20. Bùi Văn Được, 1945, Bắc Giang.

Lớp đi học ở Đại học Kỹ thuật Bu-đa-pét BME (1968-1975) cũng gồm 10 anh:

21. Dương Đức Vĩnh, sinh năm 1945, quê ở Hải Phòng.
22. Trần Đăng Khải, 1947, Ninh Bình.
23. Vũ Văn An, 1946, Ninh Bình.
24. Trần Việt Dũng, 1950, Hà Nội.
25. Lê Trọng Cự, 1949, Hưng Yên.
26. Nguyễn Văn Trương, 1940, Nghệ An.
27. Hoàng Văn Nhiên, 1946, Hà Tĩnh.
28. Lê Song Hào, 1946, Quảng Bình.
29. Lê Khiêm, 1948, Quảng Trị.
30. Nguyễn Văn Phú, 1949, Hải Dương.



Đoàn VK68 trong đợt đi nghỉ hè ở Miscolc chụp ảnh cùng cô giáo dạy tiếng Hung (bà Toldi Magda)



Anh Vũ Văn An VK68 trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Hội Hữu nghị Việt-Hung nhiệm kỳ 2014-2019.

Năm này cũng là năm đầu tiên, Bộ Quốc phòng Hungary đồng ý nhận đào tạo thực tập sinh (về y học hạt nhân) cho Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Đó là anh Nguyễn Anh Tuấn, người giữ kỷ lục về thời gian được bạn đào tạo ở Hung-ga-ri. Anh sang Hung-ga-ri lần 1 năm 1968-1970 thực tập sinh tại Bệnh viện László, thuộc Viện nghiên cứu sức khỏe cộng đồng quốc gia (Országos Kozegészségugyi Intézet - OKI) ở Budapest, và bệnh viện Pécsi Kórház, thành phố Pécs. Lần 2 anh sang 1976-1980 làm nghiên cứu sinh (Kandidátus, PhD) tại Országos Hématológiai és Vértranszfuziós Intézet (OHVI) và Viện Hàn lâm Khoa học Hung-ga-ri (MTA). Lần 3 vào năm 1981-1986, anh làm nghiên cứu sinh bậc 2 (Nagy Doktor, DSc) tại OHVI và MTA, Budapest. Và lần thứ 4, năm 1989-1990, anh sang với tư cách là cộng tác viên khoa học (Tudományos Fomunkatárs) tại OHVI, Budapest.



Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Hung-ga-ri kiêm Phó Tư lệnh lực lượng vũ trang Hung-ga-ri tại Khối liên minh quân sự Vác-sa-va Csémi Károly tại Hà Nội vào tháng 2-1970.

Đến năm 1970, Bộ Quốc phòng Hungary đồng ý nhận đào tạo sinh viên cao đẳng kỹ thuật điện công nghiệp Kandó Kálmán (Kandó Kálmán Villamosipari Műszaki Főiskola – viết tắt là KKVMF), bên cạnh đào tạo đại học và thực tập sinh cho Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Quân số đoàn này hơn 30 người. Năm này, tại BME, ngoài 5 anh học chuyên ngành điện nhẹ, có 5 anh học xây dựng. Trong số các anh học Đại học BME, có anh Vũ Minh Trực, đến năm 1977 thì chuyển xuống Đoàn VK72, do bị ốm. Xem ra, bệnh tật không chừa một ai, vì anh Trực từng học lái máy bay ở Trường hàng không Ki-ép (Ucraina), sau đó giữa chừng mới sang Hung-ga-ri. Anh nổi tiếng là người có sức khỏe phi thường.

Tôi không dám chắc, câu chuyện xảy ra hồi Tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968) có ảnh hưởng tới việc Bộ Quốc phòng cử người đi đào tạo ở KKVMF hay không.

Chuyện là thế này. Trong đợt Tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968), cấp trên có giao nhiệm vụ cho một nhóm biệt động Sài Gòn đột nhập lúc chập choạng tối vào sân bay Tân Sơn Nhất bí mật gài một gói thuốc nổ hẹn giờ C-4 vào chiếc máy bay vẫn thường xuyên chở cố vấn Mỹ trên tuyến bay Sài Gòn - Manila (Philipines). Theo tính toán, thời gian bay hơn 1 tiếng. Vì vậy, đồng giờ hẹn giờ để 30 phút, kể từ khi máy bay cất cánh, ngụ ý, cho máy bay nổ tan xác trên biển. Gài thuốc nổ xong, anh em ta rút lui an toàn. Tuy nhiên, sau 30 phút, rồi 40 phút,.. chờ đợi, chẳng có sự cố nào xảy ra. Tất cả mọi người đều ngán ngẩm, buồn chán, cho là... số đen, không may mắn.

Khi máy bay hạ cánh xuống đường băng, các cố vấn Mỹ đã ra khỏi sân bay, bỗng một tiếng nổ vang trời làm chiếc máy bay rách tan hoang. Sự kiện này khiến Bộ Quốc phòng Mỹ đau đầu một thời gian dài: làm sao Việt cộng có thể đột nhập vào căn cứ không quân Mỹ ở nước ngoài để gài thuốc nổ vào máy bay. Về phía ta, mãi về sau, qua tìm hiểu nghiên cứu, rà soát đi rà soát lại các khâu, mới phát hiện ra nguyên nhân. Do ít tiền, nên nhóm kỹ thuật đã đặt mua đồng hồ hẹn giờ thuộc loại... trung bình, không phải loại "xịn" nhất. Vì vậy, khi máy bay bay lên cao, khí áp giảm, đồng hồ ngừng hoạt động. Phải đến khi máy bay hạ cánh, đồng hồ hẹn giờ mới bắt đầu hoạt động trở lại ở chế độ bình thường.



Anh Nguyễn Đình Chỉ (Đoàn trưởng VK70) chụp ảnh với ông Csiszár István, Phó chỉ huy phụ trách công tác chính trị nhân dịp Tết cổ truyền.



Bức ảnh chụp ngày 15-10-2005 của đoàn học viên quân sự sang Hung-ga-ri tháng 6-1970. (gọi tắt là Đoàn VK70).

Danh sách hàng ngồi (trái sang phải): Nguyễn Đình Chỉ (Đoàn trưởng), Phạm Tiến Bàn, Phạm Văn Duyên, Trần Quốc Việt, Trần Đức Lanh, Hoàng Văn Thảnh, Nguyễn Hữu Tản, Nguyễn Phú Quốc, Đỗ Phú (BME), Nguyễn Văn Đề (BME).

Danh sách hàng đứng (trái sang phải): Đinh Xuân Thanh (BME), Nguyễn Văn Ái (BME), Ngô Thế Nam, Nguyễn Trọng Trung (BME), Đinh Văn Tuyên (BME, Bí thư Chi bộ), Phạm Duy Mận (BME), Nguyễn Đình Nhở, Phạm Hồng Vấn (BME), Hàn Ngọc Ích, Lư Đức Linh.


*****************

Trong số các anh học Cao đẳng kỹ thuật điện công nghiệp Kandó Kálmán, có anh Võ Hữu Ba sau này là Giám đốc nhà máy thông tin M3 thuộc Bộ Tư lệnh thông tin.

Năm 1972, Bộ Quốc phòng Hungary lần đầu tiên đồng ý nhận gửi đào tạo nghiên cứu sinh ra Viện Hàn lâm Khoa học Hung-ga-ri cho Bộ Quốc phòng Việt Nam. Bên cạnh đó, theo truyền thống, bạn vẫn nhận đào tạo cao đẳng quân sự và đào tạo đại học.

Hồi ức của anh Lương Văn Khánh có đoạn:

"Năm 1970, tôi từng tập trung kiểm tra văn hóa tại Đại học Bách khoa Hà Nội để đi Tây. Cánh tỉnh lẻ chúng mình trọ ở làng Húng Láng, ngày ngày đạp xe đến Đại học Bách hhoa làm các thủ tục nhập thi, nhưng tiếc thay cho cái số nhà quê của tôi. Ngày ấy, có lẽ do thói quen sính tên kêu của anh Nghĩa ở Ban tuyển sinh tỉnh Hà Bắc, mà tôi chết oan. Cũng không biết vì sao bố mẹ lại đặt tên "Khánh" phạm húy cho mình, nhưng chỉ là "Văn Khánh" thôi. Trong khi đó, đa phần các bạn đồng lứa tên Khánh đều là "Quốc Khánh" (máu cách mạng, con nhà nòi?).

Vì thế, khi lập danh sách gửi ra Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, anh Nghĩa ghi luôn tên tôi là Lương Quốc Khánh. Ngờ đâu, đến khi vào phòng thi, giám thị xướng danh, đối chiếu hồ sơ, thì mình bị "vênh" tên đệm. Giám thị hỏi một hồi, có vẻ tin mình không gian lận, nhưng không dám quyết, đành mời tạm nghỉ, chờ xét sau. Kết cục "chờ được vạ thì má đã sưng".

Khi các bạn đi rồi, mình lại phải tham gia vòng thi đầu vào Đại học. Năm 1970 tổ chức thi lần đầu, mà đề ra khó thế (đi nước ngoài chỉ là kiểm tra văn hóa thôi, vì đã có tuyển chọn từ các trường tỉnh rồi). Trong khi chờ kết quả thi Đại học, thì tôi cũng viết đơn xung phong đi bộ đội, dĩ nhiên là các bác ở xã ưu tiên đơn tình nguyện nhập ngũ rồi. Khi đi khỏi ở nhà, các bác mới thò cái giấy gọi nhập trường Đại học Bưu điện ra, làm bà mẹ tôi tiếc đứt ruột, khóc mấy ngày đêm, mang giấy lên tận đơn vị xin cho con về đi học (Nhưng đời nào có chuyện đó. Người ta đang học, còn bỏ đấy mà ra chiến trường cơ). Nghĩ cho cùng thì con người ta có số cả. Cuối cùng, tôi vẫn được đi du học, có điều phải đổi bằng máu và mồ hôi ở chiến trường trong gần 2 năm".

Trước khi đi Hung, anh Khánh trực tiếp cầm súng chiến đấu dọc đường 9 từ Bản Đông, Bản Na, Mường Phìn, Pha Lan, đến Đồng Hến thuộc tỉnh Xa-vẳn-na-khẹt (Lào). Thời gian tuy ngắn ngủi, nhưng không dễ dàng. Chỉ nhờ sự may mắn, anh thoát chết trong gang tấc.

Anh kể về chuyến đi Hung:

"Đoàn chúng tôi sang Hungary cuối tháng 8 năm 1972, do anh Phan Chỉ (lúc đó là Thượng uý, Kỹ sư cơ khí Khoá 1 Đại học Bách khoa Hà Nội sang Hung-ga-ri làm nghiên cứu sinh) làm Đoàn trưởng. Tàu từ Mát-xcơ-va tới Bu-đa-pét vào ban đêm, chúng tôi ai cũng hết sức ngạc nhiên, xuýt xoa trước những gì thấy được qua ô cửa sổ của con tàu liên vận lịch sự. Có anh còn hứng chí khẳng định “thiên đường là đây, chứ còn đâu nữa”. Của đáng tội, sau những gì mà chúng tôi đã từng được thấy trước đó, thì lúc ấy, thủ đô Bu-đa-pét quả là hoa lệ ngoài sức tưởng tượng của chúng tôi, những người lính đa phần xuất thân từ nông thôn, nhiều anh đã từng nếm trải toàn những gian khổ, thiếu thốn ở các chiến trường B hoặc C. Cho nên, không cứ gì khi thấy Bu-đa-pét như vậy, mà suốt cả chặng đường hành quân bằng tàu hỏa liên vận từ Trung Quốc qua Liên Xô, chúng tôi đã phải vật lộn với những cảm giác mới lạ, vĩ đại, rồi đến Bu-đa-pét thì long lanh, huyền ảo. Chúng tôi choáng ngợp là có lý do chính đáng đấy.

Một ấn tượng khó quên đối với những người lính mới tò te như chúng tôi nữa. Chả là, sau khi được đưa từ nhà ga Keleti về tới doanh trại Petöfi, chúng tôi được “ một đòn phủ đầu” ngay bằng bài phát biểu chào mừng của ngài Trung tá chỉ huy Raubinek (Chỉ huy trưởng , sau đó ít lâu thì ông nghỉ hưu và nhận chân thủ thư của chính đơn vị ). Nội dung thì đã có một anh ở đoàn anh Trần Cơ dịch, nhưng nghe ông sĩ quan Hungary nói, chúng tôi rất hoảng và bi quan, bời vì qua Liên Xô nghe tiếng Nga xì xồ, không hiểu hết, nhưng rất lọt tai, còn nghe tiếng Hung thì cứ như là có ai đó ném sỏi, ném sạn vào tai, nó cứ lục cục, lủng củng thế nào ấy. Tôi nghĩ, không hiểu sắp tới mình sẽ học hành thế nào đây với cái thứ ngôn ngữ kỳ lạ này".



Thẻ triệu tập đi tập trung kiểm tra văn hóa của anh Khánh.



Anh Khánh chụp ảnh cùng đại gia đình trước ngày lên đường nhập ngũ (1970).



Khung ảnh của gia đình.

Đoàn sang năm 1972 có 20 người, do anh Phan Chỉ làm Trưởng đoàn, anh Phạm Ngọc Điệp làm Phó đoàn. Trong năm đầu tiên học dự bị, 18 anh em học chung môn tiếng Hung và ôn luyện các môn Toán, Lý, Hóa tại doanh trại Petőfi, từ tháng 9/1972 đến tháng 8/1973. Riêng hai anh Phan Chỉ, Phạm Ngọc Điệp là nghiên cứu sinh, học tiếng Hung ở trường ngoài. Vào giữa tháng 8/1973, sau khi đi nghỉ hè về, Đoàn được tách ra thành 4 nhóm nhỏ cho các năm học tiếp theo:

Nhóm 1: Có 2 anh nghiên cứu sinh. Anh Phan Chỉ nghiên cứu vũ khí; anh Phạm Ngọc Điệp nghiên cứu về thông tin-liên lạc (információs-kommunikációs). Sau này, anh Phan Chỉ là Viện trưởng Viện Vũ khí, Tổng cục Kỹ thuật. Anh từng là Tùy viên Khoa học kỹ thuật Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp ; anh Phạm Ngọc Điệp là Tổng Giám đốc Tổng Công ty viễn thông quân đội Viettel.

Nhóm 2: gồm 10 người, học tại Trường Cao đẳng Kỹ thuật Quân sự Zalka Máté (Zalka Máté Katonai Műszaki Főiskola), đó là các anh Nguyễn Đức Viết, Nguyễn Văn Hồng, Nguyễn Tuấn Phong, Lê Văn Hà, Nguyễn Huy Bạo, Nguyễn Lương Duyên, Lương Văn Khánh, Hà Văn Diện, Nguyễn Hữu Cử, Nguyễn Văn Mẫn. Nhóm này không ở trong Doanh trại Petőfi nữa, mà chuyển về ở trong Ký túc xá của trường Cao đẳng kỹ thuật quân sự Zalka Máté.

Nhóm 3: Có 3 người học tại trường BME, ngành Truyền dữ liệu (Adat-átvitel ágazat), gồm anh Đinh Ích Bạch, Nguyễn Thế Thọ, Nguyễn Đình Thuận.

Nhóm 4: Có 5 người học tại trường BME, ngành Kỹ thuật số (Digitális ágazat), gồm Phạm Hồng Quang, Nguyễn Hữu Hữu, Lê Văn Dũng, Lưu Minh Sơn và Phan Văn Hải.

(Sau, Đoàn VK72 bổ sung thêm anh Vũ Minh Trực - VK70).

Mãi sau này, qua nhiều anh lớn tuổi, tôi mới biết là anh Lê Văn Dũng VK72 vốn là điện báo viên xuất sắc của Tổng Bí thư Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn. Không biết anh có nói được tiếng Lào không, vì tính anh trầm, ít khi nói chuyện với người xung quanh.

Cuối năm 1972, anh Khánh bị ốm phải nằm điều trị ở bệnh viện, anh kể lại: "Những ngày cuối năm 1972, tôi bị đưa vào Magyar Hadsereg Központi Korház (Bệnh viện trung ương quân đội Hunga-ga-ri) điều tri căn bệnh sốt rét mang từ bên Lào sang. Bạn Hung sợ căn bệnh này lắm, họ tỏ ra rất lo lắng cho tôi, biệt giam tôi vào phòng cách ly, cấm mọi hình thức thăm nom. Đến giờ chích thuốc, cô y tá đẩy xe ăn vào, kèm theo tờ báo “Népszabadság” (Tự do nhân dân) mặc tôi xử lý. Khi ấy, tiếng Hung của tôi đang còn rất ú ớ, nhưng cũng biết B-52 đang rải thảm Hà Nội, Hải Phòng và các nơi khác trên miền Bắc. Sốt ruột lắm. Vì vậy, lúc nào cắt cơn sốt là tôi lại nằm bò ra giường đánh vật với những dòng tít và các chú thích dưới các hình ảnh ít ỏi về Việt Nam để “nắm tình hình”.

Chả là năm 1971, dọc Đường 9 - Nam Lào, tôi đã từng được nếm mùi bom B-52 (khủng khiếp lắm), nên có lúc, cứ hình dung lại cái cảnh khói lửa, tan hoang ở chiến trường miền Nam, tôi đâm ra lo lắng: Thằng Mỹ nó tuyên bố có lý, phen này thì miền Bắc dễ trở về thời kỳ đồ đá thật. Nhưng kết cục sau đó như thế nào, thì mọi người đã rõ".

Đoàn này có nhiều anh mê chụp ảnh, nên còn giữ được nhiều ảnh chụp thời đó.



Đoàn VK72 chụp ảnh trên đỉnh núi Ghe-lê (Gellért-hegy) với ngài Chỉ huy phó, phụ trách về công tác chính trị ở Doanh trại Petofi.

Hàng trước, từ trái qua phải: Đinh Ích Bạch, Lương Văn Khánh, Nguyễn Đình Thuận, Phan Chỉ, Csiszár István, Chỉ huy phó, phụ trách công tác chính trị, Nguyễn Huy Bạo, Nguyễn Đức Hồng, Phan Văn Hải, Bùi Thế Thọ.

Hàng sau, từ trái qua phải: Lê Văn Hà, Lưu Minh Sơn, Nguyễn Hữu Hữu, Phạm Ngọc Điệp, Lê Văn Dũng, Hà Văn Diện, Nguyễn Tuấn Phong, Nguyễn Hữu Cử, Nguyễn Văn Mẫn, Nguyễn Văn Viết, Nguyễn Lương Duyên, Phạm Hồng Quang.



Ảnh chụp sau khi đi mua áo lông chống rét. Anh Chỉ đứng thứ 6, anh Điệp đứng thứ 3, tính từ trái sang.



Ảnh chụp tại Doanh trại Petofi thời gian học dự bị



Học tiếng Hung qua vô tuyến truyền hình



Ảnh chụp cùng thủ trưởng Kiên và các em thiếu nhi Việt Nam đi dự Trại hè thiếu nhi quốc tế tổ chức tại Budapest (1973)



Nghỉ hè ở Balaton



Với các em thiếu nhi Hungary



Một tiết học của các học viên quân sự Việt Nam tại Trường Cao đẳng Kỹ thuật Quân sự Zalka Máté



Lớp ra-đa trong phòng máy



Trên thao trường



Đùa nghịch cùng các bạn Hung



Hát ca. Ảnh của Breich Rudolf (báo Néphadsereg).



Làm báo tường "Dâng Đảng". Ảnh của Breich Rudolf (báo Néphadsereg).



Thủ trưởng Sanh, Tùy viên quân sự, tới thăm



Đại tướng Võ Nguyên Giáp tới thăm (1977)



Chụp ảnh kỷ niệm cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1977)



Ảnh đoàn VK72 (1972-1978), nhóm đào tạo đại học BME, treo trên tường Doanh trại Petofi.

Hàng thứ nhất (từ trái qua phải): Lê Văn Dũng, Nguyễn Đình Thuận, sĩ quan chỉ huy người Hung, Phạm Hồng Quang, Phan Văn Hải.
Hàng thứ hai (từ trái qua phải): Nguyễn Hữu Hữu, Đinh Ích Bạch, Bùi Thế Thọ, Lưu Minh Sơn, Vũ Minh Trực .



Ảnh khóa đào tạo đại học (1973-1978) tại trường BME, trong đó có các sinh viên Việt Nam thuộc đoàn VK72 (do Bộ Quốc phòng cử đi học) và các sinh viên Việt Nam (do Bộ Đại học cử đi học)



Lễ nhận bằng tốt nghiệp đại học BME. Người đứng giữa mặc áo vét màu trắng, tay cầm bó hoa là anh Lưu Minh Sơn. Anh hay bị anh em khác gọi "chại" đi là... Lưu Manh Sơn. Chuyện kể rằng, thủ trưởng Phòng Tùy viên quân sự là đ/c Sanh hay có thói quen chớt nhả, sờ tay lên đầu những học viên nào để tóc hơi dài, ra ý nhắc nhở quy định về đầu tóc. Một lần, anh Sơn đang đứng, thấy thủ trưởng Sanh rẽ đám đông tiến lại gần, anh vội từ từ quay lưng lại. Theo thói quen, đ/c Sanh vừa đưa tay vuốt tóc anh, anh quay phắt lại chửi tục ngay: "Đ.m. thằng nào sờ gáy ông !", rồi ngay lập tức giả vờ ớ ra, "Xin lỗi thủ trưởng, em nhầm, cứ tưởng thằng nào nó cố tình trêu em". Từ đó, thủ trưởng thôi, không vuốt tóc anh Sơn nữa.



Lễ nhận bằng tốt nghiệp đại học BME



Những ngày đầu tiên bước chân vào cổng trường đại học



Chụp cùng các bạn sinh viên Hungary



Nghỉ hè ở Miskolc



Các sinh viên BME (1973-1978) chụp cùng cô Maria, phụ trách công tác văn hóa và câu lạc bộ trong Doanh trại Petofi.

Hàng thứ nhất (trái sang phải): Phan Văn Hải, Bùi Thế Thọ, Lê Văn Dũng.
Hàng thứ hai (trái sang phải): Nguyễn Đình Thuận, Đinh Ích Bạch, Marika. Lưu Minh Sơn.
Hàng thứ ba (trái sang phải): Nguyễn Hữu Hữu, Phạm Hồng Quang, Vũ Minh Trực.



Anh Phan Chỉ tại Thành phố Hồ Chí Minh



Hàng đứng phía trước: Chị Võ Hoà Bình (con gái Đại tướng); Đại tá Nguyễn Công Ân, Phó Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ và Môi trường; Đại tướng Võ Nguyên Giáp; Bác Đặng Bích Hà, phu nhân Đại tướng; Đại tá Lã Văn Việt; Đại tá Phan Văn Hải VK72.



Lần gặp mặt nhân ngày Quốc khánh 2 nước tổ chức tại vườn Bách Thảo (Hà Nội) năm 2012



Lần gặp mặt tại Hà Nội năm 2012.
Từ phải sang trái, người thứ 4 là anh Phan Chỉ, người thứ 9 là anh Phạm Ngọc Điệp.



Lần gặp mặt tại Hải Dương năm 2012.



Lần gặp mặt tại Cửa Lò (Nghệ An) năm 2013.



-------- (Ảnh do các anh Lương Văn Khánh và Phan Văn Hải của đoàn VK72 cho phép công bố).

Anh Phạm Hồng Quang VK72 là người dí dỏm. Có lẽ vì thế mà anh bị người ta "dựng chuyện". Họ kể "giai thoại" về anh như sau.

"Anh Quang hay giãi bầy: "Anh nhớ Việt Nam quá. Anh sống ở Hung mà hồn để ở Việt Nam. Nhưng mỗi khi đặt chân xuống đất Việt Nam, thì anh lại nhớ Hung không chịu nổi."

Hễ nhắc tới chị em Khoa điện, là anh ấy khen hết lời. Tất cả các chị cùng năm SV72 Khoa điện, chị nào anh ấy cũng quý mến. Cả ba chị về nước năm 1978 đều được tổng động viên vào quân đội. Chị nào cũng xinh, ngoan, học giỏi,... đủ hết.

Nhưng phải rất coi chừng, vì đoạn sau thì anh ấy kể: "Tụi anh học gần chết, đứa giỏi nhất cũng thi môn đó, cũng chỉ 4 thôi, hai cô nữ thì 5 hết. Tức quá, khi đi thi, anh để ý thấy chị em toàn mặc mi-ni giúyp. Lúc thầy hỏi thì rơm rớm như sắp khóc. Thầy phải an ủi, không xoa đầu, mà xoa đùi, thì làm gì mà chả 5. Những năm cuối, thì labor nhiều gần chết. Tụi anh vào labor học cả ngày, vậy mà khi kiểm tra, chẳng ăn thua gì. Mấy đứa con gái thì nhơn nhơn, mà vào làm bài ngon lành. Ức quá, anh mới quyết chí ở lại muộn, xem chúng nó học hành ra sao. Phòng thí nghiệm lúc đó thường là một thầy một trò, đa số hướng đẫn thí nghiệm toàn các thầy trẻ, mới ra trường. Trò ngồi chỉnh máy trên ghế cao, thầy đứng sát sau lưng hướng dẫn tận tình, làm gì khi kiểm tra chả toàn điểm tốt".

Năm 2005, nhân dịp trở lại nước Hung, anh Lương Văn Khánh VK72 có làm bài thơ.

TRỞ LẠI THĂM HUNG

Đã lâu trở lại thăm Hung
Vừa quen vừa lạ rưng rưng bồi hồi
Người xưa lối cũ đâu rồi,
Nơi đây phơi phới một thời tuổi xuân.
Tàu xe tấp nập rầm rầm,
Đan nhau chồng chéo đường hầm đường cao.

Kìa dòng Đa-nuýp tóc ai,
Buông mềm trói chặt năm dài hồn tôi.
Thành Vár sừng sững sườn đồi
Lung linh nổi bật giữa trời Đông Âu.
Soi mình dáng những cây cầu
Cong cong gợi mối tình đầu khi xưa.
Cổng trường vẫn đó tuyết mưa,
Đi về mòn cửa, sớm trưa lạnh lùng.
Quảng trường những bậc anh hùng,
Mênh mang trầm mặc tồn cùng chứng nhân.
Khổng lồ siêu thị Westen
Trung tâm Châu Á, Thăng Long tiếng đồn.

Ai qua Tứ Hổ nhắn giùm:
Tôi yêu, tôi phục con người Á châu.
Chịu thương chịu khó ở đâu,
Cũng thành cũng đạt cũng giàu cũng sang.
Rùng mình hơi lạnh mơn man,
Lim dim hứng gió cho tràn men say.
Uống từng giọt nhớ tháng ngày
Bao năm biền biệt hôm nay mới về.
Xa quê càng thấm tình quê
Nồng nàn hơi ấm bạn bè anh em.
Gặp nhau trước lạ sau quen,
Chân tình mấy chốc trở lên tâm đầu.
Tiếc rằng không ở được lâu,
Để thăm được hết muôn màu sắc hoa.
Thăm người dân Việt tài ba,
Giữa nơi đất khách đạo nhà vẫn thiêng.
Tháng ngày đau đáu niềm riêng,
Hướng về Tổ quốc Mẹ hiền Việt Nam.

Chúc cho các bạn giỏi giang,
Làm giàu xứng đáng vẻ vang quê nhà.
Chia tay nhé, dẫu gần xa,
Từ nay mãi mãi mặn mà với nhau.
Ai ơi dù có ở đâu!
Đừng quên làm đẹp cây cầu Việt-Hung.

.....Hà Nội 30/11/2005



Gặp đồng đội cũ cùng Đoàn VK72



Gặp đồng đội cũ cùng công tác ở Viện Kỹ thuật quân sự

CUỘC HỘI NGỘ XUYÊN THẾ KỶ

Thân tặng các bạn đã một thời ở trong cái cổng này !



Đây rồi “Bu-đo-uê-xi”!
Và đây, cổng “Pê-tơ-phi” ngày nào !
Cảnh hưu quạnh, người vui sao ?
Tưởng rằng, sẽ chẳng ngày nào về đây.
Ba mươi năm, đã bao ngày,
Mà sao trời đất đổi thay quá nhiều !
Thăm lại nước Hung mến yêu
Ngắm Bu-đa-pét yêu kiều biết bao ...

Từ Ge-lê trên tầm cao,
Ngỡ mình có cánh, như bao thiên thần .
Đa-nuýp như giải sông Ngân
Kìa “Lan-xờ hit” sáng ngần trong đêm .
Bóng nhà Quốc hội im lìm
Nhà thờ “Mát-trát” tô thêm sắc mầu .

Bóng nước, phố cổ, nhịp cầu.
Êm đềm khúc nhạc, con tầu lướt qua ...
Đâu đây vang khúc dân ca,
Thoả lòng Bác-tốc- Bê-la (1) mong chờ !
Lít- Phe-ren lại mộng “mơ”(2) .
Át-ti-lo vẫn suy tư đêm ngày (3) ...

Sao đời liên tục đổi thay,
Chiều qua còn đúng, sáng nay sai rồi !
Đó là quy luật muôn đời ,
Ai biết “vật đổi sao dời” ra sao ?

Chỉ còn tình cảm ngày nào,
Trong ta, mãi nhớ biết bao tấm lòng,
Của bao nhiêu người bạn Hung.
Cho ta áo ấm, ngày đông tuyết dày .
Nuôi ta ăn học nơi này,
Trong khi Tổ quốc ta đầy đạn bom,..

Việt Nam ! Uống nước nhớ nguồn ,
Mối tình hữu nghị nhớ luôn vun trồng .

Chuyến đi thật thoả nỗi mong,
“Các em tôi” thật đã không phụ lòng.
Bởi dù đã rất “Quý Ông”
Vẫn quý tình cảm, mà không vì tiền .
Vẫn luôn trân trọng bạn hiền .
Xin chúc “Urok” nhiều tiền như “san”(4) !


............................................ Vũ Minh Trực
............................................ Hà Nội, một ngày thu 20/9/2007

--------------------------------------------------------------------------------
(1) Nhạc sỹ lớn của Hung đã có công khôi phục bản sắc dân ca trong âm nhạc Hung-ga-ri!
(2) Nhạc sỹ và là nghệ sỹ Piano vĩ đại của thế giới. Tác giả bản “Những giấc mơ tình yêu” .
(3) Tượng bên nhà Quốc hội.
(4) Âm tiếng Trung Quốc : Núi



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 05.05.2017, sửa lần 61
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
HUUAI
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 862

Bài gửigửi: 01.05.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Cái ảnh có ấm nc , bình thủy đc chú thích "... học tiếng Hung..." haha qua TV nezés ! rolling on the floor

Bài tổng hợp rất quý giá. Tks. PH !
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Yahoo Messenger
sonhai
Quản trị
Quản trị


Ngày tham gia: Nov 16, 2005
Bài gửi: 1601
Đến từ: Hanoi, Vietnam

Bài gửigửi: 02.05.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Cảm ơn PhanHong đã tập hợp thông tin giới thiệu. Chắc là không dễ dàng chút nào.

Sau đoàn VK67 thì là đoàn VK68 chứ. Đoàn này có anh An (hiện ở Hải Phòng), anh Phú (Bộ KHCN), anh Đề (Nam Định),... mấy anh học xây dựng... Có anh nhà ở ngay trong chợ trời, tôi đã gặp trong một lần khi đi tìm đồ linh kiện bán dẫn. Nhiều lần Hội Hữu nghị tổ chức gặp mặt, thường chỉ thấy anh Phú, anh An tham dự, anh Đề hình như có 1 lần.

Nhân đây đề nghị anh PhanHai tiếp tục bổ sung thông tin để cho cái mục Thành viên VNKATONAK ngày một đầy đủ.
_________________
HƯỚNG DẪN CÁC VẤN ĐỀ VỀ ẢNH
Vẫn có thể gõ được chữ Việt có dấu nếu nhấn vào phím F8!
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 04.05.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÂU CHUYỆN VỀ NHỮNG HỌC VIÊN QUÂN SỰ TẠI HUNG-GA-RI (tiếp theo 2)

Nhu cầu đào tạo về chuyên ngành thông tin liên lạc của Việt Nam là rất lớn, và trong số các nước xã hội chủ nghĩa anh em, thì Hung-ga-ri là một quốc gia có uy tín về kỹ thuật điện tử. Cứ xem cái đài Ô-ri-ông-tông hay cái vô tuyến Vi-đe-ông-tông thì rõ. Điều đó lý giải vì sao có nhiều học viên quân sự của Việt Nam theo học chuyên ngành thông tin-điện tử ở Hung-ga-ri.

THÔNG TIN LIÊN LẠC TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ

Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch lớn nhất trong kháng chiến chống Pháp. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: 3 Đại đoàn bộ binh 308, 312, 316; trung đoàn 57 (Đại đoàn 304); và Đại đoàn công pháo 351.

Đây là chiến dịch lớn có sự phối hợp, hợp đồng giữa các quân binh chủng cùng chiến đấu. Vì vậy, nhiệm vụ của bộ đội thông tin trong chiến dịch này rất quan trọng, đòi hỏi phải chính xác, chặt chẽ, bí mật, kịp thời. Việc liên lạc về hậu phương, với cự ly gần 400 km, đòi hỏi phải luôn thông suốt để đảm bảo đáp ứng kịp thời những yêu cầu về vật chất cho chiến dịch. Những mệnh lệnh chỉ đạo của cấp trên đến các đơn vị bộ đội, công binh, pháo binh làm và bảo vệ đường vận chuyển từ hậu phương ra mặt trận đến kịp thời chính xác giúp các đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ. Khi trận đánh diễn ra, đòi hỏi thông tin liên lạc luôn thông suốt để các đơn vị cùng hiệp đồng chiến đấu.

Cơ quan tham mưu thông tin chiến dịch Điện Biên Phủ do Cục trưởng cục thông tin Hoàng Đạo Thúy làm chủ nhiệm, ngoài ra còn có một phó chủ nhiệm và 4 cán bộ. Đơn vị thông tin trực thuộc Bộ tư lệnh chiến dịch là Tiểu đoàn 303, với quân số 400 đồng chí, biên chế thành 3 đại đội thông tin hữu tuyến và 1 đại đội thông tin vận động tín hiệu, 1 đại đội thông tin vô tuyến và 1 tổ cơ động. Được trang bị 2 tổng đài, 80 máy điện thoại, 120 km dây bọc dã chiến, 7 điện đài và máy thu, ngoài ra có một tổ sửa chữa thông tin.

Các Đại đoàn 308, 312, 316 và Đại đoàn công pháo 351, mỗi Đại đoàn được biên chế một đại đội thông tin gồm: hai trung đội điện thoại, một trung đội thông tin vận động tín hiệu, một đội điện thính. Phương tiện các loại gồm có: 2 tổng đài 10 số, 35 - 37 máy điện thoại, 40 km dây bọc, 2 đài 15W quay tay, 4 máy BC-1000 và 702.

Hệ thống thông tin liên lạc trong chiến dịch Điện Biên Phủ được tổ chức thành mạng lưới thông tin từ Bộ chỉ huy chiến dịch đến các Đại đoàn, Trung đoàn và các đơn vị trực tiếp chiến đấu tại trận địa. Đồng thời, thiết lập được một hệ thống thông tin hiệp đồng giữa các binh chủng, đặc biệt là giữa bộ binh và pháo binh. Ngoài ra, còn tổ chức được một hệ thống thông tin giữa Bộ chỉ huy chiến dịch với các cơ quan Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tư lệnh, giữa Đảng uỷ mặt trận với Trung ương Đảng và Bộ Chính trị. Tổ chức được hệ thống thông tin giữa mặt trận Điện Biên Phủ với các chiến trường phối hợp trong và ngoài nước. Tại Sở chỉ huy chiến dịch ở Mường Phăng được đặt tổng đài “Chiến thắng” do đồng chí Hoàng Tuấn Vượng, Phó trưởng ban trực tiếp chỉ đạo.

Để bảo đảm chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, đáp ứng phương châm “Đánh chắc, tiến chắc”, Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo công tác thông tin liên lạc phải lấy liên lạc hữu tuyến bằng điện thoại làm phương tiện chính, bảo đảm từ Sở chỉ huy mặt trận đến các Đại đoàn và từ các Đại đoàn đến các đơn vị mũi nhọn. Thực hiện chỉ đạo của cấp trên, lực lượng thông tin liên lạc chiến dịch đã tổ chức các tuyến liên lạc hữu tuyến điện sử dụng dây kép, một số trường hợp đã đặt được hai đường dây, một đường dây liên lạc trực tiếp, một đường dây liên lạc qua một tổng đài trung gian của một Đại đoàn khác. Các chiến sĩ thông tin liên lạc biết vận dụng nhiều biện pháp kỹ thuật để lắp đặt và bảo vệ đường dây trong giao thông hào như: đào rãnh chôn dây ở vách hào, đặt dây ở dưới lòng hào và dùng những bó trúc, bó tre phủ lên, nhằm phòng chống được đạn pháo địch và khi bộ đội ta vận động, di chuyển, đường dây không bị đứt.

Thông tin vô tuyến điện được xác định là một loại hình liên lạc quan trọng trong chiến dịch. Ngoài tổ chức liên lạc điện báo từ Bộ chỉ huy chiến dịch đến các Đại đoàn, Trung đoàn như các chiến dịch trước, thì trong chiến dịch Điện Biên Phủ, quân ta đã tổ chức mạng lưới liên lạc bằng máy bộ đàm. Trong rất nhiều trận đánh, khi hữu tuyến điện bị gián đoạn, đặc biệt là các trường hợp đường dây mắc qua cửa mở bị pháo địch bắn nát mà không thể khôi phục được, việc liên lạc giữa trong và ngoài cứ điểm chủ yếu bằng vô tuyến điện, đã đảm bảo cho việc chỉ huy từ Đại đoàn đến các trung đoàn, tiểu đoàn và các đại đội không bị gián đoạn. Thông tin liên lạc vô tuyến điện bằng bộ đàm đã phát huy được vai trò quan trọng của mình đúng nơi, đúng lúc, kịp thời, đảm bảo được liên lạc giữa các đơn vị trong và ngoài cứ điểm địch, trong những trận đánh công kiên hoặc cơ động lực lượng đánh địch phản kích. Vô tuyến điện sóng ngắn thường được sử dụng để chuyến các bức điện báo. Ta còn chú trọng phần khai thác liên lạc thoại để đánh lạc hướng quân địch.

Vừa chiến đấu vừa liên lạc, các chiến sĩ báo vụ kiên trì, nhẫn nại, chịu đựng gian khổ để vận chuyển hàng nghìn bức thư từ hậu phương ra mặt trận, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của các cán bộ và chiến sĩ đang làm nhiệm vụ. Đồng thời báo tin chiến thắng về hậu phương.

Trong các trận đánh của chiến dịch Điện Biên Phủ, có rất nhiều cán bộ chiến sĩ thông tin đã nêu cao gương chiến đấu dũng cảm không quản hy sinh “vì mạch máu thông tin luôn vững chắc”. Nhiều chiến sĩ hữu tuyến điện, thông tin vận động tín hiệu đã hy sinh anh dũng để giữ vững liên lạc qua của mở vào các cứ điểm, nhiều chiến sĩ bộ đàm đã bám sát các mũi xung kích dù phải chịu thương vong trong khi làm nhiệm vụ.

Tiêu biểu là đồng chí thông tin Chu Văn Mùi, Tiểu đội trưởng thông tin Đại đội 127 và đồng chí Đàm Minh Đức, tổ viên nhận lệnh từ mặt trận phía tây Điện Biên về A1 đảm bảo thông tin liên lạc với sở chỉ huy Trung đoàn bằng vô tuyến điện. Hai đồng chí này trên đường đi bị lạc, nên phải nhập vào trung đội bộ binh chiến đấu phòng ngự tại mỏm Thia Lia phía Đông Bắc đồi A1. Nằm giữa vòng vây của địch, suốt 2 ngày đêm, hai đồng chí phải nhịn đói, nhịn khát, nhưng vẫn kiên cường bám máy vô tuyến điện BC-1000 liên lạc với cấp trên, gọi pháo binh ta bắn chặn, đồng thời cùng bộ binh đánh bật nhiều đợt xung phong của bộ binh và xe tăng địch.

Trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến dịch, lực lượng thông tin liên lạc đã sáng tạo các biện pháp bảo đảm, bổ sung kịp thời về người và trang thiết bị, khí tài; đồng thời liên hệ với bưu điện, giao thông vận tải giúp đỡ thêm về dây trần, máy điện thoại phục vụ chiến dịch.

Các chiến sĩ thông tin liên lạc sử dụng khéo léo linh hoạt các phương tiện có trong tay, biết kết hợp giữa các loại phương tiện hữu tuyến điện, vô tuyến điện, thông tin vận động, thông tin tín hiệu một cách chặt chẽ, giữ được bí mật bảo đảm chỉ huy tác chiến trong một thời gian dài. Thông tin liên lạc hữu tuyến được ta sử dụng hết sức linh hoạt, kết hợp được giữa cấp trên với cấp dưới, giữa bộ binh với pháo binh, hình thành mạng lưới liên lạc rộng theo hướng vu hồi. Trong điều kiện có ít dây máy, khi dây điện thoại bị đứt, thiếu bộ đội thông tin có sáng kiến dùng dây thép gai của địch gỡ ra để làm đường dây cho tuyến sau, dành dây bọc cho phía trước, sử dụng các đoạn đường dây sắt của bưu điện Pháp làm trước đây để liên lạc về hậu phương, ngoài ra ta còn liên lạc với bưu điện địa phương để xin cung cấp thêm dây dẫn.

Trong các trận đánh, quân ta đã tổ chức được hiệp đồng chiến đánh nhanh diệt gọn các cụm cứ điểm địch như trận mở màn Him Lam, Độc Lập... Nhiều đại đoàn, trung đoàn đã đặt được đường dây với nhau. Nhờ có thêm các đường dây thông tin, việc liên lạc bằng đường dây vòng với các đơn vị đã thực hiện khá tốt trong những tình huống khó khăn, khi các đường dây mắc trực tiếp bị pháo địch bắn hỏng, đồng thời bộ đội thông tin đã liên kết được mạng lưới hữu tuyến điện của các đơn vị với nhau, đặc biệt là trong đợt tiến công thứ hai, khi quân ta đào giao thông hào vào sát các cứ điểm địch, cắt đứt được trận địa phòng ngự của chúng và thực hiện được những trận đánh lớn.

Ngoài nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc trong chiến dịch, cơ quan thông tin chiến dịch còn tổ chức được điện đài theo dõi liên lạc vô tuyến điện của địch để phát hiện những sơ hở của ta mà địch thu thập được qua việc liên lạc vô tuyến, đồng thời để nắm thêm tình hình địch cung cấp cho cơ quan tham mưu chiến dịch đưa ra những kế hoạch tác chiến trong từng trận đánh. Nhờ đó, mà quân ta chiến đấu giảm bớt được tổn thất về người và của.

Các chiến sĩ thông tin liên lạc đã nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, chủ động sáng tạo trong mọi tình huống, tổ chức mạng lưới thông tin liên lạc hợp lý và thông suốt trong cả quá trình chuẩn bị và thực hành chiến dịch. Đảm bảo được sự chỉ huy thống nhất từ Bộ chỉ huy chiến dịch đến các đơn vị trong toàn mặt trận và phối hợp với các chiến trường trong toàn quốc. Thông tin liên lạc đã báo các kịp thời tình hình địch, ta và bảo đảm chỉ huy chặt chẽ công tác hậu cần góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch.

Trên cơ sở kinh nghiệm thu thập được trong chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội thông tin liên lạc đã nhanh chóng xây dựng thành một binh chủng vững mạnh, đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và sau này là kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bộ đội thông tin liên lạc luôn xứng đáng với lời khen của Bác Hồ: “Dũng cảm, nhanh nhẹn, khắc phục khó khăn, giữ vững thông tin liên lạc, bảo đảm tốt cho chiến đấu và công tác chung”.

..........................Nguyễn Thị Thúy
.............(Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ)

NHỮNG CÁNH SÓNG VI-BA

Góp phần đáp ứng nhu cầu thông tin

Giai đoạn từ năm 1955 đến giữa năm 1964 là thời kỳ hoà bình trên miền Bắc, quân dân miền Bắc tiến hành công cuộc khôi phục kinh tế, tiến lên xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ này, thông tin liên lạc của ta chỉ có 2 phương thức là viễn thông hữu tuyến và vô tuyến sóng ngắn.

Mạng thông tin hữu tuyến chủ yếu được truyền dẫn trên đường dây trần. Với sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, mạng hữu tuyến của ta được trang bị một số thiết bị ghép kênh như: tải ba 1 kênh TFC của Cộng hoà Dân chủ Đức; thiết bị tải ba 2 kênh B-2 của Liên Xô; thiết bị tải ba 3 kênh BBO-3 của Hung-ga-ri; thiết bị tải ba 3 kênh ZM-202 và thiết bị tải ba 12 kênh ZM-312 của Trung Quốc.

Năm 1958, Đài thu tín và Đài phát tín do Trung Quốc giúp ta xây dựng đã đi vào hoạt động. Năm 1960, Tổng đài điện thoại tự động đầu tiên 3000 số do Cộng hoà Dân chủ Đức viện trợ cũng được vận hành.

Mặc dù vậy, dung lượng của mạng lưới hữu tuyến khi đó vô cùng eo hẹp, số lượng kênh báo và kênh thoại vẫn còn rất hạn chế. Đơn cử như, thông tin đường dài quốc tế bằng hữu tuyến khi đó chỉ gồm 3 tuyến điện thoại Hà Nội - Nam Ninh, Hà Nội - Bắc Kinh, Hà Nội - Mát-xcơ-va (thông qua đường trung gian Bắc Kinh) và 1 kênh điện báo Hà Nội - Nam Ninh. Còn hệ thống vô tuyến sóng ngắn chủ yếu để làm điện báo và theo phiên, liên lạc điện thoại vô cùng khó khăn.

Rõ ràng là, với hai phương thức thông tin kể trên, chưa thể đáp ứng được nhu cầu thông tin liên lạc. Đây chính là một trong những động lực để Tổng cục Bưu điện tính toán đến việc bổ sung thêm phương thức thông tin mới cho mạng lưới thông tin liên lạc nước nhà.

Cùng hữu tuyến đảm bảo liên lạc thời chiến

Ngày 5/8/1964, đế quốc Mỹ mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại trên miền Bắc. Trung ương Đảng nhận định “đế quốc Mỹ có thể mở rộng chiến tranh cục bộ ra miền Bắc”. Trước nhận định này, Tổng cục Bưu điện đã có những bước chuẩn bị để có thể đảm bảo thông tin liên lạc, nếu chiến tranh cục bộ mở rộng ra miền Bắc.

Ngày 29/6/1966, máy bay Mỹ điên cuồng trút bom xuống kho xăng Đức Giang (Gia Lâm, Hà Nội). Những cột khói đen ngút trời bay lên. Ngày hôm sau, giặc Mỹ lại tiếp tục dội bom xuống khu vực ga xe lửa và tổng kho Đông Anh, nhằm triệt hạ tận gốc hạ tầng kỹ thuật của ta phục vụ việc chi viện cho tiền tuyến. Qua những đợt oanh tạc này, hệ thống đường dây thông tin của ta bị phá hủy hoàn toàn.

Tổng cục Bưu điện lập tức chỉ đạo ở quy mô toàn quốc: chuyển tất cả các thiết bị thông tin vào các hầm, các hang đá hoặc đưa đến những nơi có địa hình vững chắc, an toàn, có công sự che chắn để tránh sự phát hiện, đánh phá của đế quốc Mỹ; đồng thời, tổ chức dịch chuyển các tuyến đường dây xa các trọng điểm đánh phá của địch như: Hải Phòng, Vinh…, xây dựng các đường vòng, đường tránh, đường dự phòng để hạn chế những thiệt hại do bom Mỹ, đảm bảo thông tin liên lạc.

Mặt khác, lãnh đạo Tổng cục Bưu điện cũng cân nhắc đến việc lựa chọn phương thức thông tin mới, cơ động, phù hợp hơn với điều kiện có chiến tranh ở miền Bắc. Bởi lẽ, ngay sau khi phát động chiến tranh phá hoại miền Bắc vào năm 1964, một trong những mục tiêu quan trọng mà địch nhắm tới là cắt đứt mạng lưới thông tin liên lạc để ta không thể chỉ đạo, điều hành vận chuyển gạo, xăng dầu, súng đạn viện trợ cho chiến trường miền Nam.

Một thực tế khách quan là không quân Mỹ đã khiến mạng thông tin hữu tuyến truyền dẫn trên đường dây trần của ta bị thiệt hại nghiêm trọng, đặc biệt là tuyến thông tin vào Khu 4 (Thanh Hoá, Nghệ An). Làng hữu tuyến ngày đó còn truyền nhau câu: “Đứt dây như đứt ruột, gẫy cột như gẫy xương” để khẳng định tinh thần quyết tâm bảo vệ nối thông các tuyến thông tin. Mỗi khi đường dây bị đánh phá, anh em đường dây đã không quản ngại hy sinh để nối dây. Mặc dù vậy, việc nối dây vẫn mất rất nhiều thời gian, mạng thông tin liên lạc vẫn bị gián đoạn, phần nào ảnh hưởng đến việc chỉ đạo, điều hành của Trung ương Đảng và Chính phủ tới các vùng trọng điểm, các tỉnh, huyện trong nước.

Trước tình hình mạng hữu tuyến khó đảm bảo thông tin thông suốt, lãnh đạo Tổng cục đã tính đến phương án kêu gọi các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho chúng ta một hệ thống vi-ba băng hẹp. Năm 1966, Tổng cục Bưu điện xin Chính phủ đề nghị Cộng hòa Dân chủ Đức giúp ta thiết lập một hệ thống thông tin vi-ba (vô tuyến chuyển tiếp) băng hẹp. Đề nghị này đã được phía bạn chấp thuận, dẫn tới sự ra đời của công trình K21-95.

Về khối lượng công trình, bạn viện trợ cho ta một hệ thống thiết bị mang tên RVG-950 cho phép ghép 5 kênh, được trang bị trên các xe rơ-bua. Công trình này có tổng cộng 72 xe ô tô rơ-bua trang bị thiết bị, rất cơ động và cho phép triển khai nhanh chóng. Trong đó, 68 xe trang bị thiết bị vi-ba RVG-950 gồm có: 11 trạm rẽ, 23 rơ-le để thực hiện chuyển tiếp thông tin, 34 trạm đầu cuối; 2 xe phục vụ công tác sửa chữa thiết bị và 2 xe trang bị thiết bị tải ba 12 kênh đi trong cáp để làm các đường trung kế, ví dụ các trạm vi-ba có thể dùng tải ba này đi trong cáp để dẫn hệ thống. Ngoài ra, các xe còn được trang bị máy nổ và ắc-quy để có thể dễ dàng cơ động.

Cuối năm 1968, hệ thống thiết bị vi-ba RVG-950 được chuyển từ Cộng hòa Dân chủ Đức sang Việt Nam, toàn bộ 72 ô tô rơ-bua thông tin được tập kết tại Đài thu Quế Dương (thuộc địa phận các xã Sơn Đồng, Dương Liễu, huyện Hoài Đức, Hà Nội ngày nay). Ngay từ khi phía bạn đang chế tạo sản xuất thiết bị viện trợ cho ta, Tổng cục Bưu điện đã cử 2 đoàn gồm 12 cán bộ sang học tập, bồi dưỡng tại nước bạn nhằm nắm bắt cách thức thiết kế, xây dựng và quản lý hệ thống thông tin vô tuyến chuyển tiếp RVG-950.

Ấm áp tình cảm quốc tế

Cùng với việc viện trợ cho ta hệ thống thiết bị vi-ba RVG-950, nước bạn còn giúp ta đào tạo các cán bộ thiết kế, xây dựng và quản lý công trình. Trong 2 năm 1967 và 1968, Tổng cục Bưu điện đã cử 2 đoàn cán bộ sang Cộng hòa Dân chủ Đức.

Đoàn thứ nhất gồm các cán bộ Cục Kiến thiết cơ bản, còn đoàn thứ hai gồm các cán bộ của Cục Điện chính.

Ông Nguyễn Quang Trung, thành viên Đoàn thứ nhất kể: “Ngày đó, Cục được giao nhiệm vụ chính là thiết kế và xây dựng công trình thông tin liên lạc. Cuối năm 1967, nhận lệnh của TCBĐ, chúng tôi lên đường sang Đức học tập nhằm nắm bắt được tính năng thiết bị, các yếu tố để triển khai thiết kế, xây dựng mạng viba RVG-950. Đoàn gồm có 1 phiên dịch là ông Nguyễn Văn Vĩ thuộc Vụ Hợp tác quốc tế và 6 cán bộ của Cục Kiến thiết cơ bản: ông Nguyễn Văn Tân, Cục phó Cục Kiến thiết cơ bản làm trưởng đoàn; ông Nguyễn Thái Hoà, kỹ sư vô tuyến làm phó đoàn; ông Phan Mạnh Lương, kỹ sư vô tuyến; ông Vũ Văn Minh, trung cấp vô tuyến; bà Nguyễn Thị Canh, trung cấp vô tuyến và tôi. Chúng tôi sang Đức học từ tháng 3 đến tháng 7/1967. Đến năm 1968, đoàn cán bộ của Cục Điện chính sang Đức học cách quản lý các công trình viba. Đoàn thứ hai này do anh Nguyễn Công Quang làm trưởng đoàn”.

Cảm nhận chung của những cán bộ sang Đức học tập ngày ấy là tình cảm đằm thắm của tình hữu nghị anh em giữa các nước trong phe xã hội chủ nghĩa.

Ông Nguyễn Quang Trung bộc bạch: “Trong giai đoạn Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước gian khổ, các nước xã hội chủ nghĩa đã giúp đỡ rất vô tư. Riêng các bạn Đức, mặc dù họ chưa thật hiểu về chúng ta, nhưng qua các phương tiện thông tin đại chúng, họ biết đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam cực kỳ ác liệt, nên họ vừa có tình cảm yêu mến, nhưng trong đó lồng cả tình thương đối với những người anh em đến từ đất nước đang bị chiến tranh tàn phá”.

Đồng cảm với ông Trung, bà Tạ Thị Quế, cán bộ Cục Điện chính tâm sự: “Vừa đặt chân đến Béc-linh, chúng tôi rất xúc động khi nhìn thấy hình ảnh đầu tiên đập vào mắt là những tấm ảnh người Việt Nam đội mũ rơm được phóng lớn treo trên đường để tuyên truyền, cổ động cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của VN”.

Bà Quế kể: “Người dân Đức đặc biệt quý mến người Việt. Tôi còn nhớ, có lần mấy anh chị em ra phố chơi, gặp một bà cụ người Đức, khi nghe phiên dịch giới thiệu đây là người Việt Nam, bà cụ đã dúi tiền vào tay chúng tôi nói là để ủng hộ, giúp đỡ người Việt. Hay như chuyện một thầy giáo của chúng tôi cũng là một kỹ sư của nhà máy thường mang cho đoàn cán bộ Việt Nam giỏ hoa quả hái ở vườn nhà và nói đùa: “Đây là hành động thiết thực để ủng hộ Việt Nam”.

Nắm bắt kiến thức mới

Đoàn cán bộ của ta được đưa đến học tập tại nhà máy thiết bị thông tin của Cộng hòa Dân chủ Đức ở thị trấn Ra-dơ-béc thuộc tỉnh Đrét-xđen. Các cán bộ được bố trí học ngay tại phân xưởng sản xuất thiết bị mà bạn viện trợ cho ta. Phía bạn cử các chuyên gia làm việc tại nhà máy trực tiếp hướng dẫn cán bộ Việt Nam tìm hiểu thiết bị, hướng dẫn cách thức khảo sát, thiết lập tuyến trên bản đồ và cách sử dụng, quản lý hệ thống thiết bị RVG-950.

Các kỹ sư Đức mở hết các ngăn, hộp của thiết bị để giới thiệu cho cán bộ ta từng mạch điện, hướng dẫn cách kiểm tra thiết bị. Bên cạnh đó, các chuyên gia Đức còn đưa các cán bộ Việt Nam đến xem một số công trình thông tin vi-ba nằm trên điểm cao và xem một số tuyến vi-ba họ xây dựng ở đồng bằng.

Đối với các cán bộ Cục Điện chính, mục đích của phía bạn là đào tạo cho Việt Nam những cán bộ sẽ đảm nhiệm việc quản lý những công trình vi-ba sau này. Do đó, ngoài việc được các kỹ sư bạn hướng dẫn cách điều chỉnh công suất, điều chỉnh máy thu tại nhà máy, các cán bộ Việt Nam còn được đưa lên núi thực tập dựng ăng-ten, chỉnh máy thu.

Ông Trung kể: “Mặc dù chúng tôi đều đã được đào tạo về thông tin liên lạc, như anh Lương học kỹ sư vô tuyến trong nước, anh Thái Hoà học ở Liên Xô, tôi học ở Trung Quốc… song kiến thức về thông tin vi-ba là hoàn toàn mới mẻ. Tuy nhiên, với nhiệt tình của tuổi trẻ, với nền tảng kiến thức nhất định, cùng với sự hướng dẫn tận tình của các kỹ sư Cộng hòa Dân chủ Đức, chúng tôi đã tiếp thu được kiến thức về thiết bị và nắm bắt được cách thức thiết kế, thi công các công trình vô tuyến chuyển tiếp”.

Hai đoàn cán bộ sau khi về nước đã đào tạo được một lớp quản lý vi-ba đầu tiên cho ngành; đồng thời khảo sát, xây dựng và quản lý được các tuyến vi-ba khác. Các tuyến vi-ba băng hẹp ít kênh lúc bấy giờ chính là nền tảng để những thế hệ sau này kế thừa triển khai xây dựng các tuyến vi-ba băng rộng.

Thế là, khởi đầu chỉ từ một đài vi-ba, tiếp đến là tuyến RVG-950 Hà Nội - Nghệ An, đã nhanh chóng phát triển thành hệ thống các tuyến vi-ba rải rác khắp miền Bắc đến tận Quảng Bình, Quảng Trị. Bên cạnh đó, từ chỗ chỉ gồm khoảng 200 người, chủ yếu là các anh chị em mới tốt nghiệp trường công nhân Bưu điện Nam Hà với tuổi đời từ 18 đến 24, trải qua 40 năm, các thế hệ "người vi-ba" đã lên đến hàng ngàn người

....................................Theo ICTnews
.......(Ghi theo lời kể của ông Hoàng Bạn, nguyên Cục phó Cục kiến thiết cơ bản và ông Nguyễn Quang Trung, cán bộ Cục kiến thiết cơ bản)

ĐẢM BẢO THÔNG TIN LIÊN LẠC TRÊN TUYẾN ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN

(QĐND) - Năm 1965, đế quốc Mỹ thay đổi chiến lược chiến tranh cục bộ. Bộ Chính trị quyết định tăng khối lượng chi viện chiến trường. Tuyến đường Trường Sơn được đổi mới phương thức vận tải cơ giới, từ nhỏ lẻ tiến lên tập trung từng cung đoạn.

Với kỹ thuật hiện đại, không quân Mỹ nhanh chóng phát hiện mục tiêu xe vận chuyển ban đêm liền huy động máy bay đánh quyết liệt, tạo thành các trọng điểm ngăn chặn. Năm 1965-1966, ta bị tổn thất 386 xe (47,3% tổng biên chế). Có đoàn xe hơn 100 chiếc từ hậu phương đi thẳng vào Binh trạm Ba biên giới, tới nơi chỉ còn 60 xe. Trước tình hình trên, Quân ủy Trung ương quyết định cử một phái đoàn thị sát Trường Sơn do Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Đinh Đức Thiện và Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Phạm Ngọc Mậu lãnh đạo, vào tuyến chi viện trước mùa khô. Phái đoàn trực tiếp đến các đơn vị tìm hiểu nguyên nhân không hoàn thành nhiệm vụ.

Thiếu tá Nguyễn Ngọc - người chỉ huy đoàn xe - được triệu tập, để làm rõ nguyên nhân. Thiếu tá Ngọc thẳng thắn báo cáo:

- Là người chỉ huy đoàn xe mà để bị đánh cháy 45 chiếc, hy sinh 40 cán bộ, chiến sĩ, tôi xin chịu tội. Nhưng vì sao? Trước hết là từ khi vượt núi rừng Trường Sơn, đoàn xe không nhận được một thông tin cụ thể nào về tình hình đường sá, nhiều lần đoàn xe đến khu vực quy định, nhưng đó lại là nơi địch đã thả bom các loại. Xe chúng tôi dò dẫm chạy, vướng bom nổ chậm, bom bi, cả trung đội xe bị xoá sổ... Đau xót cấp cứu nhau, rồi vẫn đi tới... Mấy lần đoàn xe chạy vào vùng địch đã trinh sát, liền bị bom toạ độ trúng đội hình... Dọc đường không có trạm thông báo tin, chúng tôi không biết thế nào để xử trí, nên liên tục bị địch đánh ngăn chặn... Anh em lái xe rất dũng cảm, mưu trí lắm mới giao xong hàng, quay về được đến đây...

Ngừng một lát, Thiếu tá Ngọc tiếp:

- Nghe nói các thủ trưởng sẽ kỷ luật, giáng cấp người chỉ huy đoàn xe. Tôi xin chấp nhận. Nói rồi, đồng chí Ngọc tự tháo quân hàm Thiếu tá đặt lên bàn, nhấn giọng:

- Tôi không sợ chết, song tình hình tổ chức chỉ huy trên đường vẫn thế này, thì lần sau, chắc tôi không còn đầu để về báo cáo các thủ trưởng.

Chủ nhiệm Đinh Đức Thiện nổi tiếng nghiêm khắc, nhưng lần này lại rất trầm tĩnh. Ông cầm cặp quân hàm đưa trả Thiếu tá Nguyễn Ngọc và nói:

- Anh nhận lấy! Chưa ai có ý kỷ luật anh. Hãy bình tĩnh kiểm tra lại sự việc, cùng cơ quan tham mưu rút kinh nghiệm lãnh đạo chỉ huy để thắng địch, chứ không phải để kỷ luật nhau.

Qua cuộc kiểm tra thế trận bố trí toàn tuyến và tinh thần công tác chiến đấu của bộ đội, phái đoàn công tác nhận thấy: "Trong tình hình địch đánh ác liệt thế, không một ai hoang mang lo sợ, đã thể hiện rõ bản chất anh hùng của quân đội ta. Còn về tổ chức chỉ huy, thì có vấn đề... Trên một chiến tuyến dài hơn nghìn cây số, hàng vạn người hoạt động, địch đánh như chém chả, mà không có thông tin liên lạc đến từng đơn vị, từng đoạn đường, thì làm sao không bị ách tắc. Lực lượng vận tải của ta cơ động trên đường Trường Sơn, tất nhiên kẻ địch sẽ ngăn chặn quyết liệt, ta lại tìm mọi cách chống ngăn chặn. Nếu không có thông tin chỉ huy, thì chẳng khác gì người mù lạc trong rừng rậm".

Phái đoàn đã báo cáo chính kiến của mình với Quân ủy Trung ương, đề nghị Bộ Quốc phòng khắc phục ngay khuyết điểm này. Phải cho Đoàn 559 thành lập binh chủng thông tin đa phương thức, triển khai ngay đường dây trần tải ba, kết hợp nhiều phương tiện thông tin, hình thành hệ thống liên lạc vững chắc, bảo đảm chỉ huy trực tiếp trong mọi tình huống đối với từng đơn vị trên toàn tuyến.

Cơ quan Bộ chấp hành khẩn trương quyết định của Quân ủy Trung ương. Sau 3 tháng, các đơn vị lao động cật lực, đến mùa khô 1967-1968, hệ thống đường dây trần đã nối thông từ Sở chỉ huy Đoàn 559 đến 15 binh trạm đi các hướng chiến trường. Nhờ có thông tin chỉ huy trực tiếp kịp thời xử lý khắc phục khó khăn, khối lượng vận tải chi viện chiến trường tăng 120%, phục vụ đắc lực cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Vào những ngày quân giải phóng làm chủ thành phố Huế, tổng đài 3000 ở Sở chỉ huy Bộ tư lệnh Đoàn 559 lên mạng tải ba vu hồi, bảo đảm tốt cuộc đàm thoại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ Tổng hành dinh Hà Nội vào chiến trường, chỉ đạo trực tiếp Bộ tư lệnh Quân khu Trị Thiên.

Các binh trạm Trường Sơn do đã có thông tin dọc tuyến, cho phép áp dụng chiến thuật vận tải tập trung quy mô tiểu đoàn, gọn theo hai chiều thuận tuyệt đối, tránh nhau ở giữa. Các tiểu đoàn vận tải được trang bị máy bộ đàm P105 để chỉ huy đội hình hành tiến. Các tiểu đoàn công binh, cao xạ, kho tàng, trạm điều chỉnh xe, chốt cảnh giới máy bay... đều có thông tin liên lạc hữu tuyến và vô tuyến sóng ngắn hỗ trợ, trực tiếp nhận lệnh hiệp đồng từ Sở chỉ huy binh trạm hoặc Bộ tư lệnh Đoàn 559.

Với hình thái tổ chức chỉ huy thích nghi hoàn cảnh, Binh đoàn Trường Sơn đã vượt qua mọi thủ đoạn ngăn chặn của giặc Mỹ, phục vụ đắc lực các chiến trường miền Nam và hai nước bạn kháng chiến thắng lợi ngày càng lớn. Đặc biệt mùa khô 1970, khi đường dây thông tin trực tuyến từ chiến trường yêu cầu chi viện khẩn cấp vũ khí hoả lực. Bộ tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn liền cho đoàn xe chở vũ khí tốc hành vào Nam Bộ và đông bắc Cam-pu-chia, kịp thời đập tan cuộc tấn công của Mỹ-ngụy sang Cam-pu-chia.

Những năm 1970-1971, tuyến vận tải Trường Sơn được tổ chức lại, cải tiến rõ rệt thế trận vận tải chiến lược. Ta tổ chức 5 sư đoàn khu vực gồm 32 binh trạm, xây dựng hệ thống "đường kín" từ các cửa khẩu hậu phương lên tây Trường Sơn, chạy dọc tuyến tới các hướng chiến trường. Mạng thông tin củng cố, hoàn chỉnh 950 km đường dây trần, 200 km đường dây cáp FFK60. Bố trí 11 trạm cơ vụ, 120 tổ canh dây duy trì liên lạc thường xuyên, kịp xử trí mọi sự cố. Tại các trạm cơ vụ đều lắp máy tăng âm, nhiều đường cao tần như: Cơ vụ B53 lắp máy 12 đường, cơ vụ AC-2 lắp máy truyền dẫn 10 đường. Ở Sở chỉ huy Đoàn 559, Tổng đài 3000 bảo đảm cùng lúc 30 kênh hoạt động không bị nhiễu. Để hỗ trợ chất lượng thông tin, các khu vực còn lắp đặt hàng chục máy tiếp sức P-401M, 10 xe điện đài vô tuyến cơ động, 100 máy vô tuyến 105, 109... Mạng thông tin đã trở thành "hệ thần kinh" của tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại, tiến hành thắng lợi các cuộc tổng huy động toàn tuyến vận tải, đạt khối lượng tăng gấp 6,5 lần so với năm 1967.

Sau khi bị thất bại trong cuộc tấn công Cam-pu-chia, đầu năm 1971 Mỹ-nguỵ Sài Gòn lại mở cuộc "Hành quân Lam Sơn 719" tấn công lên Đường 9-Nam Lào. Binh đoàn Trường Sơn sớm nhận được chủ trương của Bộ Tổng tư lệnh chuẩn bị cùng Binh đoàn 70 sẵn sàng cho chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào.

Trên địa bàn Đường 9-Nam Lào, hình thành 7 khu vực tác chiến có chính diện hơn 100 km với tung thâm sâu. Bộ đội thông tin Trường Sơn chịu trách nhiệm phục vụ chỉ huy trực tiếp liên tục từ Bộ tư lệnh chiến dịch xuống từng đơn vị, từng trận địa tác chiến. Cùng thời gian, mạng thông tin vẫn phải giữ vững liên lạc của tuyến chi viện chiến lược đến các chiến trường phía Nam.

Đúng dự đoán, ngày 30-1-1971 Mỹ-nguỵ mở cuộc hành binh lên Đường 9-Nam Lào. Lực lượng tăng, thiết giáp của địch vượt biên giới, cùng hàng đàn trực thăng đua nhau đổ quân xuống các cao điểm Nam-Bắc dọc Đường 9 lên Sê Pôn.... Tất cả những động thái của địch đều lọt vào tầm mắt các trạm quan sát của ta, kịp thời báo về sở chỉ huy chiến dịch. Bộ tư lệnh chỉ thị các trận địa hoả lực kiên trì đợi thời điểm quyết định.

Đúng "giờ G", Bộ chỉ huy phát lệnh tấn công: "Bẻ gãy cánh Phượng hoàng bay, đập tan xác thiết xa vận". Tổng đài 100 số với 30 kênh liên lạc tải ba dồn dập hoạt động, các đài tiếp sức đua nhau phát sóng. Ngay tức thời, hàng chục chiếc trực thăng địch bốc cháy. Đoàn tăng, thiết giáp đụng pháo binh, địa lôi bật tung, một số tháo chạy lao xuống sông cũng bị tiêu diệt.

Cánh quân Thái - Lào từ phía tây tiến xuống liền bị Sư 968, Sư 472 Bộ đội Trường Sơn phối hợp bộ đội Pa-thét Lào chặn đánh ngay khi mới chớm đến Thát Hài, Nậm Tiếng, Keng Coọc... khiến chúng phải tan tác tháo chạy... Chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào của ta đã làm tan vỡ hoàn toàn âm mưu "chiếm đóng ngăn chặn tận gốc Đường Hồ Chí Minh" của đế quốc Mỹ.

Tổng kết chiến thắng, Bộ tư lệnh chiến dịch đánh giá "Binh chủng thông tin Trường Sơn đã đóng góp công tích to lớn, thực hiện tốt bảo đảm hiệp đồng tác chiến các hướng ở phía trước và phía sau rất kịp thời".

Cuộc tấn công Nam Lào bị thảm bại, Tổng thống Mỹ căm uất, ra lệnh sử dụng không quân oanh tạc huỷ diệt Quốc lộ số 9, cắt ngang cuống họng hệ thống Đường Hồ Chí Minh xuyên Trường Sơn... Sư đoàn 472 phụ trách khu vực được chỉ thị phối hợp với Trung đoàn tên lửa chuẩn bị đập tan chiến dịch này của Mỹ. Bộ cũng thông báo: "Kẻ địch chưa biết ta có tên lửa SAM trên Trường Sơn". Tại cuộc họp hiệp đồng, các đại biểu nhất trí cần phải tạo bất ngờ để thắng địch. Máy bay B.52 đi thế nào cũng kèm theo EB-66 là loại được trang bị khí tài phát nhiễu công suất cường độ 3, có thể vô hiệu hoá các sóng ra-đa, phát hiện tên lửa và đẩy đạn tên lửa chệch khỏi mục tiêu. Ta cần phải giữ bí mật tuyệt đối, sư đoàn đặt các đài quan sát có kính viễn vọng nắm định từ xa. Tổng đài 4000 dùng máy tiếp sức P-401M bổ trợ mạng thông tin tải ba, tăng hiệu suất thông báo kịp thời khi phi cơ địch còn cách hơn trăm ki-lô-mét.

8 giờ một ngày đầu tháng 2-1971, bầu trời Nam Lào trong xanh. Trạm T25 trên đỉnh Phu Ka Tê thông báo: "Có tiếng rù rù nặng trịch hướng tây nam". Trên đỉnh Kopo, T26 báo: "Chín F4 bay qua dãy Phu Khốp tạt sang Phu Luổng đến Thác Hài...". Máy phát sóng ra-đa tên lửa vẫn ắng lặng. T26, T27 thông báo liên tục: "Đoàn F4 vượt Phu Luồng tách làm hai, vòng thượng nguồn Sê Xăng Xoi và vòng hướng đỉnh Voi Mẹp rồi lao xuống Đường 9"... T25 báo: "Sáu F-4 đảo lượn dọc Đường 9, cao xạ bắn dữ dội, F4 không bắn trả". Đài chỉ huy biết nó giở thủ thuật nhứ dử nhằm phát hiện SAM... T28 báo: "Kính viễn vọng nhìn rõ hai máy bay cao ngất ngưởng như toà nhà"...

Các trạm quan sát vùng trời báo tin tới tấp. Tổng đài cơ vụ 4000 mở cả 20 cửa hoạt động hết công suất bảo đảm thông tin liên lạc kịp thời về Sở chỉ huy và 7 trận địa tên lửa, cao xạ, chốt trọng điểm: "Đàn F-4 đến vùng trời Saravan, Mường Phìn...". "Hai con chồn hoang EB66B đang mở rộng vòng lượn"... "Đám F-4 bốc lên cao...". Đài chỉ huy tên lửa biết là nó không phát hiện dấu hiệu khả nghi có SAM. T28 báo cáo: "Tây Nam xuất hiện nhiều chấm đen to, như đàn nhặng"... Trung đoàn trưởng tên lửa vẫy tay: "Máy phát sóng sẵn sàng". T26 báo: "Tây Nam 35 độ có bốn chấm đen bằng 1cm". Trung đoàn trưởng lệnh: "Đài 1 kiểm tra!". Nhờ các trạm quan sát định hướng chính xác, ra-đa bắt nhanh cả tốp mục tiêu nổi rõ trên màn hiện hình rồi tắt, báo cáo: "Đúng B-52". Chỉ huy lệnh: "Đài 2 phát sóng!". Trắc thủ quả quyết: "Ba B-52, một EB-66C bay bên trái". Trung đoàn trưởng nín thở, đanh giọng: "Phóng!". Hai quả tên lửa lao vút, không bị vô hiệu hoá, bùng đỏ rực trời giữa "bầy nhặng". Vô vàn tiếng nổ chát chúa khắp dải núi. Tiếng hò reo vang lừng: "Cháy rồi! Chết cha B-52 rồi!"... "Tên lửa muôn năm!",... "Hoan hô thông tin Trường Sơn!".

Đàn F-4 tán loạn. Hai pháo đài bay thoát chết, vội trút ào bom rồi ngoặt về hướng xuất phát. Một tốp phản lực bay ngang Đường 9 bị dính lưới lửa cao xạ, hai chiếc bốc cháy, giặc lái không kịp nhảy dù. Đòn tiêu diệt chiến này, ghi dấu Thông tin Trường Sơn đã tham gia trận đánh kết thúc cuộc chiến tranh ngăn chặn của giặc Mỹ trên Đường Hồ Chí Minh huyền thoại!.

...................Nguyễn Việt Phương




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 09.06.2016, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 05.05.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÂU CHUYỆN VỀ NHỮNG HỌC VIÊN QUÂN SỰ TẠI HUNG-GA-RI (tiếp theo 3)



Năm 1973, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị sang thăm hữu nghị Hungary

Năm 1974, Bộ Quốc phòng Hung-ga-ri nhận đào tạo 7 nghiên cứu sinh (3 bác sĩ, 2 dược sĩ, 2 kỹ sư), 20 học viên cao đẳng quân sự, và 12 sinh viên đại học (về sau có 2 anh về giữa chừng). Sau năm học dự bị, có sự hoán đổi vị trí: anh Khoa và anh Quang chuyển qua đào tạo đại học, còn anh Máy và anh Khoản vào học ở Trường kỹ thuật quân sự Zalka Máté. (anh Toản VK74 nhớ là chỉ "thay một cầu thủ").

Danh sách chính thức của Đoàn VK74.

Các anh nghiên cứu sinh:
Anh Vũ Bằng Đình (Viện quân y 108), anh Lê Xuân Thục (Viện quân y 108), anh Bằng (Viện quân y 103), anh Đinh Huỳnh Kiệt (Tổng cục Dược), anh Lê Ngọc Phan (Tổng cục Dược), anh Võ Kim (Đại học kỹ thuật quân sự), anh Đinh Sơn Tú (Đại học kỹ thuật quân sự). Anh Vũ Bằng Đình sau này là Giám đốc Bệnh viện Trung ương quân đội 108 kiêm Phó chủ tịch Hội đồng Bảo vệ sức khỏe Trung ương, còn anh Lê Xuân Thục là Phó Giám đốc Bệnh viện Trung ương quân đội 108. Anh Đinh Huỳnh Kiệt sau này là Cục phó Cục quân y, Bộ Quốc phòng. Anh Lê Ngọc Phan thì là Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Dược phẩm Trung ương 2. Anh Võ Kim là Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật Viễn thông của Học viện Kỹ thuật quân sự.

Đoàn vào học tại Trường Cao đẳng kỹ thuật quân sự Zalka Máté:
Nguyễn Mạnh Hùng (Hùng Pi-tơ), Trần Văn Thái, Trần Anh Quân, Nguyễn Văn Mầm, Hoàng Kim Trọng, Lê Công Chủ, Ninh Văn Bật, Trịnh Quang Chính, Nguyễn Như Việt (Việt còi), Nguyễn Ngọc Thúy, Phạm Đình Điển, Nguyễn Tiến Dũng (Dũng miền), Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Hương Minh, anh Chung, Nguyễn Trung Bình, Huỳnh Dũng, Mai Lâm, Nguyễn Văn Khoản.

Đoàn đào tạo đại học:
* Đại học Bách khoa Budapest (BME):
- Các anh Vũ Văn Khoa (Đoàn trưởng), Trần Văn Học, Vũ Bình học ngành Hóa công nghiệp. Anh Khoa sau này chuyển ngành, làm Giám đốc Sở Công thương tỉnh Thanh Hóa.
- Các anh Nguyễn Văn Quang (Bí thư chi bộ), Nguyễn Quốc Toản, Hà Minh Sảng học ngành Điện nhẹ.
- Các anh Phạm Đức Vượng, Nguyễn Sơn Hải học Siêu cao tần.
* Đại học Tổng hợp Budapest (ELTE): Nguyễn Uyến (Vật lý), Phan Tự Lập (Toán), Đoàn Văn Mạc (Toán). (về sau anh Mạc chuyển vào học tại Zalka Máté).

Anh Vũ Bằng Đình đã ghi lại bước đường tu dưỡng và phấn đấu của những bác sĩ quân y trẻ dũng cảm quên mình qua những vần thơ.

VƯỢT DÒNG BẾN HẢI

Bến Hải đây! Ơi dòng sông mơ ước !
Lá ngụy trang rung theo nhịp bước quân hành
Lệnh trên truyền, cần bí mật vượt nhanh,
Ta múc vội một bình. Ta uống
Niềm mơ ước, niềm say mê, sung sướng,
Như được về quê mẹ bờ Nam kia.
Bến Hải hiền hòa, sao đất nước phân chia?

Ta vượt sông nối đôi bờ Nam- Bắc,
Mặc pháo bầy, B-52, bọn giặc
Từ Cồn Tiên, Dốc Miếu, Đông Hà,
Mặc bọn chiêu hồi, thần sấm, con ma,
Hòng hù dọa, thử tinh thần gan góc.

Ta tin tưởng, bước vào nơi chết chóc.
Dẫu hy sinh, vì dân tộc anh hùng
Cho Bến Hải huyền thoại, một dòng sông
Với đôi bờ rừng mượt mà, sâu hút.

Đường muôn ngả, núi chập chùng, cây cao vút
Tất cả thành trận địa của quân ta,
Bụng đói, vai dầm, đường trơn, gối mỏi
Vẫn thấy yêu đời, tinh thần hồ hởi,
Máu sục sôi căng mạch, trái tim ta.

Đêm nay nằm võng giữa rừng già
Nghe pháo nổ, bom rền quanh đường 9,
Nhớ quê hương, nhớ vợ con bịn rịn
Một thoáng mềm lòng, một thoáng nhớ nhung,
Đâu lay chuyển được tinh thần cách mạng.
Thật hiếm dịp nghỉ trọn đêm đến sáng,
Để ngày mai vượt đường 9, hướng A Sầu.

............Tháng 3/5/1966

BỊ BOM RẢI THẢM

Vượt rừng, lội suối, đang đi,
Bị bom rải thảm tưởng về cõi âm.
Chỉ nghe một tiếng đánh rầm,
Lịm đi giây lát. Quanh hầm ngổn ngang.
Cành cây đổ, đất đá văng,
Mùi bom khét lẹt, khói giăng mịt mù.
Đầu đau, giọng khản, tai ù
Vẫn nghe í ới 'tìm cho đủ người'.
Một vài đồng đội im hơi
Thì ra đất đá đã vùi mất tăm.
Tập trung đào bới nơi nằm,
Có người tỉnh dậy trong hầm chui ra,
Vài người vĩnh viễn đi xa,
Máu đào tuôn chẩy, thịt da đầm đìa.

Thương nhau giờ phút chia ly,
Mỗi người một nấm bên rìa suối sâu.
Rừng chiều rộn tiếng ve sầu,
Tiễn người liệt sĩ dãi dầu đạn bom.
Căm hờn chồng chất căm hờn,
Hễ còn giặc Mỹ ta còn gian nan.

Ba lô, bao gạo vắt ngang,
Sau lưng cuốc xẻng, súng quàng bên vai,
Lại thêm hai trái lựu gài,
Một bi-đông nước, bên cài nắm cơm.
Vai kia một túi cứu thương
Lặc lè chân bước, đường trơn lối mòn.

Miền Nam hai chữ sắt son,
Miền Nam kêu gọi, ta còn đi lên.
Mặc cho pháo nổ bom rền
Na-pan, lân cháy, đâu mềm chí trai.
Vượt qua rừng trúc, rừng mai,

Bữa nay là đúng ba hôm
Vượt dòng Bến Hải nếm bom quân thù.

..........Hà Nội, tháng 1 năm 2010

ĐÊM VĨNH LINH

Đêm Vĩnh Linh, được lệnh cứu thương binh,
Từ hầm sâu chúng tôi lên mặt đất,
Cùng cáng thương, y tá và chiến binh.
Trong đêm tối mò đường đi chật vật,

Tranh thủ hưởng chút không khí trong lành,
Và được ngắm màn đêm trong chiến tranh.
Bỗng pháo sáng như điện giăng dọc phố,
Nhìn mọi phía những hố bom lỗ chỗ,
Những nhà xiêu vách nát đổ đó đây.
Những xóm làng trơ trụi chẳng còn cây,
Đường đi lại bị bom cày bom xới.

Men theo dọc chiến hào đang đi tới.
Thấy bờ Nam những chớp giật liên hồi.
Bọn vua chiến trường nhả đạn tơi bời.
Bỗng tứ phía trời rung đất chuyển,
Đất đá rào rào khói giăng, bụi quyện,
Mắt, mũi, mồm khô đặc cay xè.

Cuối cùng cũng đến được những bờ tre,
Nơi thương binh đang chờ được cấp cứu.
Người đặt ga-rô, người buộc nẹp, băng chéo.
Thương binh nhẹ giữ lại C quân y,
Thương binh nặng được truyền dịch chuyển đi.
Nhanh chóng triển khai từ nửa đêm đến sáng

Dưới ánh đèn ngụy trang hay pháo sáng.
Mệt nhọc ư! Song rất đáng tự hào,
Vững niềm tin cho bộ đội, đồng bào.
Chiến sĩ quân y cùng chiến hào sát cánh,
Hễ địch đến chúng ta cùng quyết đánh

............(1967)

QUÂN Y TRONG CHIẾN DỊCH

........Tặng các bạn quân y Quảng Trị - Chiến dịch Cù Đinh-Ba De

Phòng mổ bán âm đào bên dòng suối.
Ba hôm rồi, kíp mổ không rời tay.
Đạn bom thù trút xuống khắp rừng cây.
Nước lõm bõm dưới chân thầy thuốc mổ.

Vách cài lá vây quanh che ánh lửa.
Thương binh nằm trên võng xếp hàng dài,
Những vết thương không thể đợi ngày mai
Nên kíp mổ mệt nhoài vẫn làm việc.

Thay đèn mổ đã có đèn xe đạp,
Pin chụp đèn khi L-19 lại gần.
Mặc bọn chiêu hồi, tâm lý chiến nắn gân,
Chiến sĩ quân y gan vàng, dạ sắt.

Chiến dịch tưng bừng, thương binh ồ ạt,
Không phải hàng chục, mà hàng trăm.
Lo nước uống đủ mệt, lo cái ăn,
Dịch truyền hết, tiếp tế nào cho đủ.

Nước cất thủ công, pha ngay tại chỗ,
Còn bông băng, phải giặt tận thu hồi,
Rồi khử trùng bằng chõ như đồ xôi.
Kháng sinh ư, Pê-nê-xi-lin thuốc quý,

Pha một lọ, tiêm mỗi người một tý.
Chỉ chuyển thương qua xử lý về sau,
Cuộc chiến giành sự sống, bớt nỗi đau,
Dẫu thầm lặng, không giản đơn, ngoài mặt trận.

....................GS Vũ Bằng Đình
.....Nguyên Giám đốc Bệnh viện TƯQĐ 108

TRÁI TIM NHÂN HẬU GIỮA ĐỜI THƯỜNG

Cả cuộc đời gắn bó với ngành quân y, ngay cả khi đã nghỉ hưu, ông vẫn tiếp tục cống hiến trí tuệ và sức lực cho công việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Trong trái tim ấm nóng của ông không chỉ cháy bỏng đam mê dành trọn đời cho khoa học mà còn luôn hướng tới những việc làm thiện nguyện. Ông chính là Thầy thuốc nhân dân – Đại tá GS.TS Vũ Bằng Đình, Chủ tịch Hội Gan mật Hà Nội.

Ấn tượng về vị giáo sư phúc hậu, nhẹ nhàng, cẩn trọng thăm khám và tận tình hướng dẫn bệnh nhân cách điều trị bệnh ở Phòng khám đa khoa Hòa Bình đã lưu lại trong tôi nhiều thiện cảm tốt đẹp. Càng bất ngờ hơn khi biết ông chính là tác giả của công trình khoa học “Chiết xuất thuốc điều trị sốt rét (Artemisinin) từ cây thanh hao hoa vàng”, công trình đã “gây xôn xao trong giới y học” những năm 1990, bởi thành công trong việc điều trị sốt rét và giảm mạnh tỷ lệ tử vong do sốt rét ác tính trong bộ đội và nhân dân, đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy nguồn dược liệu quý của nước ta trong chữa bệnh. Năm 2003, công trình nghiên cứu của ông và đồng nghiệp đã được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học .

Chọn nghề y như cái nghiệp trong đời

Là người thầy thuốc mặc áo lính, cả cuộc đời làm công tác nghiên cứu khoa học, GS Vũ Bằng Đình đã hội tụ đủ các yếu tố Tâm, Tài, Đức, những tiêu chí tối cần thiết cho một người làm nghề y. Vốn quý ấy được hình thành một phần từ quê hương Tiễn Lữ - Hưng Yên, vùng đất giàu truyền thống anh hùng và văn hiến, nổi tiếng với câu ca “Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến” nơi ông cất tiếng khóc chào đời. Sự vất vả tảo tần của cha mẹ nơi quê nghèo đã hun đúc nên trong con người ông một ý chí ham học và một tấm lòng nhân hậu, nền tảng để ông lựa chọn nghề y như chọn cái nghiệp cho cả cuộc đời.



Đại tá GS.TS Vũ Bằng Đình, Chủ tịch Hội Gan mật Hà Nội.

Tuổi trẻ của ông là những năm tháng đi khắp các chiến trường ác liệt từ B4, B5, chiến trường Lào, Campuchia…, mang những kiến thức về y học đã học được tại trường Đại học Y Hà Nội để chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bộ đội. Từ những hoạt động thực tiễn trong công tác khám chữa bệnh, ông đã đúc kết nên hàng chục công trình nghiên cứu về viêm gan. Công trình khoa học đầu tiên của GS Vũ Bằng Đình chính là bản luận án Tiến sĩ với đề tài “Kiểm tra rối loạn miễn dịch trong các bệnh nhân viêm gan B” được ông bảo vệ thành công tại Hungary năm 1978. Bản luận án được Hội đồng khoa học đánh giá cao.

Trở về nước, ông được phân công công tác tại khoa Truyền nhiễm, Viện Quân Y 108 (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108). Với tài năng và nhân cách của mình, ông lần lượt đảm nhận các vị trí Chủ nhiệm Bộ môn kiêm Chủ nhiệm khoa, Phó viện trưởng rồi Viện trưởng Viện Quân y 108 (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108). Dù ở cương vị nào, ông vẫn luôn giữ tác phong làm việc của một nhà khoa học - thầy thuốc hết lòng với bệnh nhân.

Nhà khoa học tận tụy

Trong cuộc đời làm khoa học của mình, ông đã là tác giả và đồng tác giả của hơn 80 công trình khoa học, trong đó chiếm hơn phân nửa là các công trình nghiên cứu các bệnh về gan mật, đồng thời là chủ biên của nhiều đầu sách y học. GS Vũ Bằng Đình cũng là người đầu tiên triển khai phương pháp sinh thiết gan và phương pháp nội soi ổ bụng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội108. Với ông, nghiên cứu khoa học là niềm đam mê suốt cuộc đời và những thành tựu ứng dụng trong thực tiễn chính là niềm vui của nhà khoa học – người bác sĩ quân y.

Bên cạnh đó, Giáo sư Đình còn tham gia công tác giảng dạy tại trường Đại học Y Hà Nội, Học viện Quân y. Nhiều thế hệ học trò của ông nay đã trưởng thành từ những bài giảng và sự hướng dẫn nhiệt tình của ông, trở thành những bác sĩ chuyên khoa I, II, Thạc sĩ, Tiến sĩ và cả Phó giáo sư, tiếp nối ông phát triển ngành gan mật trong lĩnh vực y học nước nhà.

Sống trên đời cần một tấm lòng

Đã ở vào cái tuổi “tri thiên mệnh”, màu thời gian đã lưu lại trên ánh mắt cương nghị của ông, song GS. Vũ Bằng Đình vẫn miệt mài với công việc khám chữa bệnh và nghiên cứu khoa học. Ông quan niệm “hạnh phúc lớn lao nhất đối với người làm nghề y là giúp con người chữa khỏi bệnh và mang lại cho họ niềm tin vào cuộc sống”. Với ông, còn sức lực là còn làm việc. Cùng với một số đồng nghiệp là bác sĩ – cựu chiến binh, sau khi nghỉ hưu, ông về làm công tác quản lý tại Phòng khám tư nhân Hòa Bình đồng thời trực tiếp thăm khám và điều trị cho nhân dân. Sau hơn 10 năm hoạt động, phòng khám đa khoa Hòa Bình trên phố Hoàng Văn Thái đã trở thành địa chỉ uy tín không chỉ với người dân quanh vùng, mà còn được nhiều bệnh nhân ở nơi xa tìm tới bởi chính chất lượng phục vụ tốt, chi phí hợp lý và đảm bảo an toàn trong điều trị.

Là một trong những thành viên đầu tiên tham gia xây dựng Hội gan mật Hà Nội cách đây hơn 30 năm – tiền thân của Hội gan mật Việt Nam, hiện ông đang giữ cương vị Chủ tịch Hội Gan mật Hà Nội, kiêm ủy viên thường vụ Hội Gan mật Việt Nam. Ngoài công tác chỉ đạo chuyên môn và tổ chức những hội nghị khoa học về phòng chống các bệnh viêm gan B, ông còn thường xuyên tổ chức và trực tiếp tham gia nhiều đoàn công tác đi khám chữa bệnh miễn phí ở nhiều tỉnh thành trên cả nước, từ những xã vùng cao phía Bắc như Hoàng Su Phì, Xín Mần (Hà Giang), Bảo Lâm, Bảo Lạc (Cao Bằng), Quảng Ninh, Thái Bình… đến các tỉnh phía Nam như Vũng Tàu, Quảng Ngãi, Cà Mau...Luôn kết hợp các hoạt động của Hội với phòng khám hướng đến mục tiêu cao đẹp là chăm sóc sức khỏe nhân dân, ông cùng các đồng nghiệp của mình trực tiếp đi các tuyến, đến tận cửa hầm lò, vào công trường, nhà máy, xí nghiệp thăm khám cho công nhân ngành than, ngành dệt may, công an…, đồng thời chỉ đạo các bệnh xá công tác phòng chống viêm gan B,C, HIV và các bệnh do rối loạn chức năng gan, đồng thời hướng dẫn các đơn vị công tác phòng và điều trị bệnh.

Ngoài công tác khám chữa bệnh, phòng khám Hòa Bình vẫn luôn kết hợp thực hiện các hoạt động nhân đạo ý nghĩa như tổ chức khám bệnh miễn phí cho những gia đình chính sách, quân nhân, Bà mẹ Việt Nam anh hùng và những trường hợp có hoàn cảnh khó khăn vào các dịp 27/7, 22/12 hàng năm; ủng hộ tiền cho các trường nuôi dưỡng trẻ em nghèo khuyết tật ở Quảng Ninh; tham gia cứu chữa nạn nhân những vụ tai nạn sập hầm lò hoặc nhiễm độc khí gas hầm lò. GS Đình tâm sự: “Dù đã nghỉ hưu, nhưng chúng tôi vẫn luôn giữ truyền thống anh bộ đội Cụ Hồ, luôn đặt cái tâm và y đức lên hàng đầu mà không lấy đồng tiền làm chính.” Nghe những lời tâm sự gan ruột và chứng kiến cường độ làm việc của một người đã ở độ tuổi xưa nay hiếm như ông, thế hệ trẻ như tôi càng khâm phục sức làm việc phi thường của vị giáo sư già giàu tâm huyết.

Không chỉ là nhà khoa học, GS. Vũ Bằng Đình còn là một nhà thơ. Thơ của ông giản dị và chân thành khi viết về gia đình, quê hương, về hình ảnh người chiến sĩ quân y nơi chiến trường ác liệt: “Phòng mổ bán âm đào bên dòng suối/ Ba hôm rồi kíp mổ chẳng rời tay”; Những công việc của người bác sĩ quân y cũng được ông khắc họa: “Nước cất thủ công pha ngay tại chỗ/ Còn bông băng phải giặt tận thu hồi…”. Mỗi bài thơ là sự thăng hoa trong tâm hồn người lính quân y có trái tim nhân hậu.

Hơn 50 năm làm việc và cống hiến trong ngành y tế nước nhà, dường như với ông tuổi tác không phải là rào cản, còn sức là còn cống hiến, còn mang hết kết tinh cuộc đời làm khoa học để chăm sóc sức khỏe nhân dân. Một trái tim nhân hậu trong cuộc sống đời thường!

...............................Hải Phong
...........(Báo Tri thức và phát triển, số ra ngày 14/12/2013)
*
* *
Nghiên cứu sinh về y còn có anh Lê Xuân Thục, sau khi bảo vệ luận án Phó tiến sĩ, cũng quay trở lại công tác tại Viện quân y 108. Sau này anh Thục là Chủ nhiệm khoa Hồi sức (B4), rồi Phó Giám đốc Bệnh viện Trung ương quân đội 108 (1995-1999). Anh cũng là ủy viên Hội đồng giáo sư thuộc Ban Chăm sóc bảo vệ sức khỏe Trung ương (1996-2009).



Anh Lê Xuân Thục (thứ 2 từ phải sang) chụp ảnh cùng các đồng nghiệp tại Viện Tim mạch quốc gia Hung-ga-ri (1974).

Anh Thục đúng là lứa "măng non lớn lên nhờ cách mạng". Anh sinh năm 1939, nên sau 1954, anh học tập dưới mái trường của chế độ mới. Năm 1960, thi vào Đại học y Hà Nội. 1965, tốt nghiệp xong, vào phục vụ luôn trong quân đội. Đã qua thử thách dưới chảo lửa cầu Hàm Rồng và đảo Hòn Mê (Thanh Hóa), nên 1967 được cử sang Lê-nin-grát (Liên Xô) thực tập 2 năm tại Viện Hàn lâm Quân y Ki-rốp. Sau đó, về Viện quân y 108 và 4 năm sau thì đi Hung-ga-ri làm nghiên cứu sinh. Luận văn của anh có tiêu đề là "Nghiên cứu về tổn thương cơ tim ở những bệnh nhân loạn nhịp tim được điều trị bằng sốc điện", thuộc chuyên ngành Gây mê hồi sức. Điều thú vị là anh bảo vệ luận văn tại Viện Tim mạch quốc gia Hung-ga-ri bằng tiếng Nga.

Tháng 4-1982, anh là thành viên nhóm bác sĩ đi theo chăm sóc sức khỏe cho Tổng Bí thư Lê Duẩn thời gian ở Mát-xcơ-va. Năm 1990, là thực tập sinh cao cấp chuyên ngành Hồi sức tim mạch tại Trung tâm Tim mạch khoa học toàn Liên bang Xô-viết. Đã công bố 76 bài viết nghiên cứu (tác giả và đồng tác giả). Đã hướng dẫn 6 nghiên cứu sinh và trên hai chục Thạc sĩ và Bác sĩ chuyên khoa cấp 2. Được phong hàm Giáo sư năm 2003. Được phong tặng danh hiệu Thầy thuốc nhân dân. Về hưu năm 2010.
*
* *
Trận Điện Biên Phủ trên không cuối năm 1972 ghi dấu ấn trong danh mục đào tạo của Đoàn VK74: nghiên cứu sinh và sinh viên hướng vào bộ môn siêu cao tần, nói theo ngôn ngữ quân sự là ra-đa. Thậm chí, một số sinh viên bên ngoài cũng được gửi đào tạo chuyên ngành này.

Bên cạnh đó, một số "tư tưởng", hay "triết lý đào tạo" của bác Tạ Quang Bửu (khi đó là Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp) cùng bác Đặng Quốc Bảo (Bí thư Đảng ủy kiêm Hiệu trưởng Đại học kỹ thuật quân sự) được triển khai.

Từ năm 1972, bác Bửu và bác Bảo chủ trương lựa chọn những học sinh phổ thông thi đạt điểm cao ở miền Bắc gửi đi đào tạo ở nước ngoài. Có một số học sinh bị vướng vào vấn nạn của "chủ nghĩa lý lịch" được bác Bửu ra tay bảo lãnh. Thực ra, chỉ là vấn đề gia đình dinh-tê vào thành (đang ở chiến khu, về các vùng đô thị do thực dân Pháp quản lý, để sinh sống). Bác Bảo thì thấy một thực tế là trong chiến dịch giải phóng Quảng Trị, ta đã hy sinh quá nhiều anh em trẻ, là học sinh năm cuối phổ thông (đủ 18 tuổi), hoặc sinh viên những năm đầu trên đại học. Đành rằng, không ai phủ nhận việc chiếm thị xã Quảng Trị sẽ có tác dụng to lớn trên bàn đàm phán ở Pa-ri. Nhưng bác Bảo vẫn muốn có sự chuẩn bị cho sự ra đời của một thế hệ quân đội được trang bị kiến thức khoa học kỹ thuật quân sự, bên cạnh lòng yêu nước và trái tim dũng cảm.

Nhóm các anh Phạm Đức Vượng, Hà Minh Sảng, Nguyễn Quốc Toản, Phan Tự Lập là nằm trong kế hoạch "thay máu" ấy. Tuy nhiên, năm 1972 mới chỉ là năm thử nghiệm đầu tiên, lại bị ảnh hưởng vì kế hoạch ném bom quyết liệt của Mỹ, nên các anh phải mất ròng rã hai năm trời học ôn văn hóa (Toán-Lý-Hóa), học tiếng Nga, và... nằm dài chờ kết quả đàm phán giữa ta và bạn.

Cũng cần nêu thêm một lý do nữa, là năm 1973 ký Hiệp định Pa-ri, sau đó thành lập Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát bốn bên (2 XHCN, 2 TBCN), trong đó có Hung-ga-ri. Hung-ga-ri đã phải huy động khoảng 600 sĩ quan để thực thi nhiệm vụ quan trọng này. Cho nên, việc đàm phán đào tạo học viên quân sự cho Việt Nam chắc chắn bị chậm lại.

Một lần, anh Nguyễn Sơn Hải tâm sự: "Hai bố con tôi tranh nhau cái TV (khổ, nhà nghèo, chỉ có mỗi một cái). Thằng con thì muốn nghe nhạc hip-hop, còn tôi lại muốn xem chương trình kỷ niệm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ trên không của Quân chủng mình. Nó thua, nhưng có đáy lại một câu: Bố thì đánh nhau cái gì mà cũng đòi kỷ niệm.

Thú thật, ngày ấy, tôi là chiến sĩ thông tin của đơn vị phòng không. Lúc đầu, thuộc đơn vị pháo 12 ly 7, sau chuyển sang đơn vị tên lửa. Vì là lính thông tin, nên quen biết nhiều lính cùng loại ở các đơn vị phòng không khác.

Kỷ niệm có vẻ ác liệt nhất là nhận nhiệm vụ đi rải dây thông tin hữu tuyến từ Sở chỉ huy qua Ngã tư Sở sang trận địa Cao xà lá, đúng lúc toàn thành phố đang báo động. Mọi người xuống tăng-xê trú ẩn hết, riêng bọn tôi vẫn chạy lăng xăng giữa phố, mà không bị chửi. Tự hào ghê.

Vào cái ngày khởi đầu của chiến dịch B-52, đơn vị tôi được lệnh rút từ Đông Anh lên Đa Phúc. Trên đường rút quân, nhìn về phía Hà Nội, bầu trời sáng rực đạn lửa. Gặp lính pháo quen cũ chuyển quân từ Hà Nội lên, mừng lắm. Bọn nó nói: sướng lắm mày ơi, ấn cò thả phanh, bắn đỏ nòng mới thôi...

Thế đấy, đám lính trẻ chúng tôi ngày ấy, chẳng hề biết đến sự ác liệt, sự mất còn, chỉ mong được nhả đạn. Chả là hằng ngày luyện tập, trực chiến, lâu lâu mới có một trận, lại phải bắn cầm chừng. Lý do thì là: phải bí mật trận địa, phải tiết kiệm đạn. Suốt mấy tháng trời, cứ phải di dời trận địa liên tục, đào hào, đắp lũy, rải dây, dò sóng. Giờ được chiến đấu thực, anh nào mà chả sướng.

Ngày ấy, đơn vị chúng tôi phải hành quân lên tận rừng sâu Lạng Sơn để cất giấu khí tài mới. Sau 12 ngày đêm mấy tháng, chúng tôi mới lại quay về Hà Nội.

Thực ra thì bác Liên Xô đã cấp cho mình SAM-3. Cái mà chúng tôi đem cất giấu trong rừng sâu Lạng Sơn chính là nó. Có điều, lúc bấy giờ chúng tôi không hiểu lý do (và bây giờ cũng chẳng hiểu nữa)".

Anh Nguyễn Sơn Hải kể về một kỷ niệm trong lần xem một bộ phim Việt Nam ở nhà ăn kiêm phòng chiếu phim trong Doanh trại Petồfi: "Lại nhớ hồi còn học bên Hung, được xem phim “anh Trỗi chị Quyên”. Tự nhiên mọi người cười ầm lên, bởi trên màn hình hiện chữ “köszönöm”, trong khi lời thoại trong phim làm gì có từ tương tự “cảm ơn”. Thì ra, trong lời thoại người Việt mình hồi đó, đâu có khái niệm cảm ơn. Nhưng với người Hung, trong hoàn cảnh đấy, không nói “köszönöm” là không hợp".

Anh Nguyễn Sơn Hải nhớ tới những ông thầy giỏi giang của mình, vừa giỏi về nghiên cứu khoa học, đào tạo sinh viên, vừa giỏi làm kinh tế.

"Lại nhớ, hồi còn học ở nhà V2, ngành Mikrohullámú, người ta nói, nếu muốn biết ngành nào kiếm tiền khá nhất, thì hãy nhìn xe đỗ dưới sân nhà. Quả thực, có vài xe tư bản đỗ dưới chân nhà V2. Nguyên nhân là một số thày cô cùng vài phòng thí nghiệm trong nhà V2 có tham gia vào các dự án không gian. Cụ thể, ở phòng thí nghiệm mà tôi làm là chế tạo bộ nguồn cung cấp điện cho vệ tinh. Chuyện thì cũng bình thường thôi, bộ nguồn thì có gì mà to tát. Bộ nguồn thì máy móc nào mà chả có: nguồn cho máy phát, máy thu, cho tàu lặn sâu dưới biển khơi, cho máy móc thiết bị bay trên trời... Nhưng nguồn cho vệ tinh đòi hỏi độ tin cậy cao hơn trong điều kiện làm việc tù mù hơn và chất lượng phải được đảm bảo hơn, các đặc tính kỹ thuật khắt khe hơn".

Hồi tưởng về những năm tháng "mài đũng quần" trên giảng đường, anh Nguyễn Sơn Hải cho biết, anh có tham gia một cuộc thi nho nhỏ của sinh viên và được nhận giải thưởng là cuốn sách nổi tiếng "A fizika kultúrtörténete" (tạm dịch là "Lịch sử Vật lý") của Giáo sư Viện sĩ Simonyi Károly (1916-2001), thuộc Bộ môn Lý thuyết Kỹ thuật điện (Elméleti Villamosságtan Tanszék), một trong bốn nhà bác học đầu tiên của châu Âu thời kỳ sau giải phóng. Qua cuốn sách này, anh nhận ra, mỗi một nhà bác học đều có một "triết học" riêng của mình, và từ đó xây dựng nên lý thuyết vật lý cho toàn nhân loại.



(Mở ngoặc nói thêm: Giáo sư Viện sĩ Simonyi Károly là người xây dựng máy gia tốc đầu tiên ở Hung-ga-ri và có nhiều đóng góp trong lĩnh vực vật lý hạt nhân. Do ông có đứng ra làm Chủ tịch ủy ban cách mạng của Viện vật lý trung ương Hung-ga-ri (thuộc Viện Hàn lâm khoa học Hung-ga-ri) trong cuộc cách mạng năm 1956, nên sau đó ông bị thất sủng. Cho tới lúc mất, ông vẫn buồn, vì lúc hoạn nạn không có ai lên tiếng nói đỡ cho ông cả, mà sau thay đổi chế độ, cũng không có một lời xin lỗi nào với ông được đưa ra chính thức).

Điều thú vị là các sinh viên trong Khoa Kỹ sư điện ngày đó rì rầm bàn tán về một người con trai của Thầy (cũng có tên giống hệt tên Thầy là Simonyi Károly) sinh năm 1948, thuộc loại thần đồng, mới chỉ học phổ thông trung học, nhưng đã có những hợp đồng giảng dạy môn toán cho một số trường đại học ở châu Âu. Cô giáo trợ giảng của Thầy thường phụ trách việc khai báo, nói rằng: cứ phải lờ đi tuổi tác và học hàm, học vị. Sau đó, anh này được bên Mỹ nhận đào tạo tài năng trẻ. Anh được sang Mỹ học và kết thúc chương trình đại học rất nhanh, rồi sau đó làm tiến sĩ... Hồi đó, thường cứ 2, 3 năm, cô giáo trợ giảng lại phải đi gia hạn visa (thị thực) cho con Thầy một lần. Đến lần 2 lần 3 gì đó, thì cô không gia hạn nữa, vì anh ấy ở lại bên đó luôn. Anh lấy quốc tịch Mỹ và có thêm tên Mỹ là Charles Simonyi.

Tìm hiểu trên Internet thì được biết, ông Charles Simonyi học Toán và Tin học tại Đại học Berkeley, rồi lấy bằng tiến sĩ tại Đại học Stanford. Bắt đầu nghiên cứu Tin học tại hãng Xerox PARC, ông là người phát triển chương trình soạn thảo văn bản đầu tiên mang tên Bravo (cho loại máy điện toán cá nhân Alto), cho phép người sử dụng có thể kiểm tra trước “hình dạng” của văn bản trước khi in (WYSIWYG - nhìn thấy thế nào thì khi in giấy, nó như thế). Năm 1981, ông gia nhập Tập đoàn Microsoft và tại đó, ông đứng đầu nhóm lập trình và thiết kế các chương trình Word và Excel. Năm 2002, ông đột ngột rời bỏ Microsoft và cùng một đồng nghiệp là ông Gregor Kiczales (Giáo sư Đại học British Columbia) thành lập công ty phần mềm ở Mỹ.

Tài sản của ông này hơn một tỷ USD, nên năm 2006, ông trả cho Cơ quan vũ trụ không gian Liên bang Nga gần 25 triệu USD, để đăng ký tham gia chương trình du lịch... trong vũ trụ. Sau 8 tháng luyện tập ở Trung tâm vũ trụ Ga-ga-rin, ông đủ tiêu chuẩn trở thành hành khách trên tàu vũ trụ. Ngày 7-4-2007, tàu Soyuz TMA-10 đưa ông cùng hai đồng sự người Nga lên Trạm quỹ đạo quốc tế (ISS), sau đó ông trở về Trái đất trên con tàu Sojuz TMA-9 cùng 2 phi công vũ trụ, 1 của Nga, 1 của Mỹ vào ngày 20-4-2007.



Anh Bằng, Chỉ huy trưởng đơn vị, đọc diễn văn nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập quân đội (22-12-1944 - 22-12-1974)



Năm 1976, cả hai đoàn VK72 và VK74 cùng về phép để học chính trị. Ảnh chụp tại thủ đô Bắc Kinh.

Từ phải sang trái: Phạm Hồng Quang (VK72), Hà Minh Sảng (VK74), Phạm Đức Vượng (VK74), Vũ Văn Khoa (VK74), Lưu Minh Sơn (VK72), Lê Văn Dũng (VK72), Nguyễn Hữu Hữu (VK72).



Anh Nguyễn Sơn Hải VK74 gặp lại những người bạn Hung-ga-ri là sinh viên lớp H4 BME tại Budapest (2009)



Anh Nguyễn Sơn Hải VK74 cũng gặp lại những cựu học viên quân sự các thế hệ VK72, VK75, VK76, VK77, VK78 đang học tập, công tác, làm ăn, sinh sống tại Budapest (2009)



Gặp mặt kỷ niệm 40 năm ngày Đoàn VK74 tới nước Hung (1974-2014)



Họp bàn kế hoạch kỷ niệm 40 năm ngày Đoàn VK74 tới nước Hung



Đoàn VK74 quyết định đi thăm lại Trường văn hóa Lạng Sơn



Bên cổng thành Lạng Sơn (nơi đóng quân xưa kia của Trường văn hóa Lạng Sơn)



Bên khẩu pháo ở cổng thành Lạng Sơn



Cầu Kỹ Lừa bắc qua sông Kỳ Cùng.



Anh Phạm Đức Vượng và vợ trong lần gặp gỡ các anh em đồng đội tại Sóc Sơn, Hà Nội.



Anh Hà Minh Sảng (biệt danh Muller) “chuyển nghề” làm trọng tài.




Đại đội 11 – Trường bồi dưỡng văn hóa quân đội Lạng Sơn (1973). Người cầm xẻng đứng ngoài cùng bên trái là anh Võ Ngọc Anh, sau này sang Hung năm 1976. Trong Đại đội 11 có 4 anh đi Hung, là các anh: Vượng, Toản, Sảng, Lập VK74. Có 2 anh đi Đức học về xe tăng và một số anh học về điện ảnh.



Đại diện hai đoàn VK74 và VK75 gặp mặt tại Balaton (6-2015).



Đại diện hai đoàn VK74 và VK75 gặp mặt tại Budapest.



Đại diện hai đoàn VK74 và VK75 gặp mặt tại Ê-ghe.



Gặp mặt VK74 và VK75 tại Hà Nội.

Hàng ngồi VK74 (từ trái sang phải): Nguyễn Sơn Hải, Nguyễn Uyến, Vũ Văn Khoa, Nguyễn Văn Quang, Vũ Bình, Nguyễn Quốc Toản, Phạm Đức Vượng.
Hàng đứng VK75 (từ trái sang phải): Bùi Hiếu Minh, Đỗ Văn Hòa, Phan Tô Giang, Võ Văn Mai, Nguyễn Quang Hùng, Phạm Hữu Ái, Phan Phan Hồng, Nguyễn Xuân Diễn.


Anh Phạm Đức Vượng chia sẻ về tấm giấy mời sang Hung dự cuộc họp mặt lớp đại học sau 37 năm.

"Đoàn VK74 chúng tôi có 5 người học ở Khoa Kỹ sư điện trường BME gồm a Quang, Hải, Sảng, Toản và Vượng. Hằng năm, các bạn bên Hung vẫn hẹn hò gặp nhau ít nhất một lần. Mặc dù chúng tôi không sang dự được, nhưng các bạn ấy vẫn nhớ đến và mời chúng tôi đến dự.

Lần này, trong thư thông báo thời gian và địa điểm cuộc gặp (Időpont: 2012. november 17, szombat 18 óra; Helyszín: Vakvarjú Étterem, Budapest, VI. kerület, Paulay Ede utca 7. ), các bạn ấy có gửi kèm một đoạn sau:

- Lesz-e pénz kommunizmusban?
- A jugoszláv revizionisták szerint lesz. A kínai dogmatikusok szerint nem lesz. Mi, igazi leninista szovjet kommunisták természetesen dialektikusan viszonyulunk ehhez a kérdéshez: van akinek lesz, van akinek nem lesz".

(Tạm dịch:
- Trong chủ nghĩa cộng sản có đồng tiền không?
- Theo những nhà chủ trương tu chỉnh Nam Tư thì sẽ có. Theo những nhà độc đoán tư tưởng Trung Quốc thì không. Còn chúng ta, những người cộng sản xô-viết với tư tưởng lê-nin-nít chân chính, bày tỏ thái độ biện chứng tự nhiên đối với vấn đề này là: sẽ có tiền cho một số người, còn đối với một số khác, sẽ không có).



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 01.05.2017, sửa lần 44
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 06.05.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÂU CHUYỆN VỀ NHỮNG HỌC VIÊN QUÂN SỰ TẠI HUNG-GA-RI (tiếp theo 4)



Bí thư thứ nhất Kádár János hội đàm với Tổng Bí thư Lê Duẩn (1975)



Tổng Bí thư Lê Duẩn thăm nhà máy điện tử Videoton (1975)

Năm 1975, Bộ Quốc phòng Hung-ga-ri tiếp tục nhận đào tạo nghiên cứu sinh, thực tập sinh, cao đẳng quân sự, và đại học cho Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Năm này, có một sự kiện lớn lao là giải phóng miền Nam. Chính vì thế, anh Lê Khôi (Đại học kỹ thuật quân sự, đi nghiên cứu sinh) ban đầu đã được cử đi học tiếng Hung 2 tháng dưới Đại học Ngoại ngữ Thanh Xuân, nhưng về sau, phải tạm gác lại, để nhận nhiệm vụ quan trọng hơn là vào tiếp quản các cơ sở của địch bỏ chạy để lại ở miền Nam. Anh Ngọc Anh "suýt" đi Hung vào năm 1974, cũng được huy động vào guồng quay khổng lồ này. (Cả hai anh Lê Khôi và Võ Ngọc Anh đến năm 1976 mới sang Hung-ga-ri).

Còn năm 1975, các anh Lê Mạnh Trụ (quân chủng Phòng không không quân) và anh Hồ Ngọc Bá (Đại học Kỹ thuật quân sự) sang nghiên cứu sinh về siêu cao tần (ra-đa), anh Vân (từng công tác tại bộ phận cơ yếu của Trung ương Cục miền Nam) sang nghiên cứu sinh về xử lý thông tin, anh Lê Văn Diêu sang nghiên cứu sinh về ngành y. Anh Trụ sau này là Viện phó Viện kỹ thuật Phòng không; anh Bá là Giám đốc Trung tâm quản lý bay miền Nam (Tổng Công ty hàng không Việt Nam). Anh Vân thì gặp chuyện không may, cả hai vợ chồng mất trong một tai nạn giao thông thương tâm gần thành phố Vũng Tàu. (Chị vợ anh Vân từng là diễn viên múa tài hoa của Đoàn văn công Trung ương Cục miền Nam, nổi tiếng với tiết mục múa "Ong vò vẽ"). Anh Diêu sau thời gian công tác tại Viện quân y 103, chuyển ngành làm Giám đốc Sở y tế tỉnh Thanh Hóa. Sau đó, anh còn là ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thanh Hoá. Anh từng trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XI và được bầu làm Phó chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội.



Anh Hồ Ngọc Bá (bên trái) giao lưu với anh em tại thành phố Hồ Chí Minh

Năm 1974, Tổng cục Kỹ thuật - Bộ Quốc phòng được thành lập. Cho nên, đợt đào tạo này có vẻ bài bản hơn trước. Dịp Tết Ất Mùi 2016 vừa qua, tôi theo chân một anh bạn đến chúc Tết "cụ" Phan Thái, nguyên Tham mưu trưởng Tổng cục Kỹ thuật, người được cử đi học tại Học viện Phòng không Bắc Kinh, Trung Quốc năm 1955. Chúng tôi được nghe bác kể vắn tắt về "nguồn gốc xuất xứ" của Tổng cục.

Chuyện kể rằng, ở vào thập niên 1960, khi quân đội ta hình thành các binh chủng mang nhiều yếu tố kỹ thuật như: máy bay, xe tăng, tên lửa... thì một vấn đề rất lớn đặt ra là đảm bảo kỹ thuật. Bác Phan Thái thường vinh dự được tháp tùng các "cụ" Ủy viên Bộ Chính trị "vác rá đi xin" viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Bác kể, vấn đề khá đau đầu khi đó là giúp "cụ" Lê Thanh Nghị phải trả lời câu hỏi: Các đồng chí xin cụ thể cái gì ?. Bởi vì, muốn xin được đúng cái cần xin, thì phải rất am hiểu về kỹ thuật: ưu điểm, nhược điểm của các khí tài quân sự; ở chiến trường nào, địa hình nào thì khí tài quân sự thích ứng tốt; bộ phận, linh kiện gì dùng được (lắp lẫn) cho những thiết bị gì; hoặc giả như không lắp được, thì sau khi cải tiến cải lùi vẫn sẽ lắp được.. vân vân. Những anh học về thiết bị, khí tài của máy bay chỉ biết có máy bay; những anh học về thiết bị, khí tài của xe tăng chỉ biết có xe tăng; những anh học về thiết bị, khí tài của tên lửa chỉ biết mỗi tên lửa...

Cho nên, đã từng xảy ra, có những thứ bạn viện trợ cho ta, chuyên chở về đến Việt Nam rồi, phải đắp chiếu nằm chờ một thời gian dài, vì không đồng bộ. Oái ăm hơn, có những thứ ta đang có sẵn trong kho, nếu biết đem ra mà cải tiến, chắc sẽ đáp ứng nhu cầu chiến trường, nhưng lại chịu bó tay ngửa cổ chờ kết quả đàm phán với nước ngoài, lỡ mất thời cơ. Sau trận Điện Biên Phủ trên không, lãnh đạo Bộ nhìn thấy hết những nhức nhối đó (cuối năm 1972, đầu năm 1973, trước khi ký Hiệp định Pa-ri, vét hết tất cả các kho, ta chỉ còn tổng cộng khoảng... gần 20 quả tên lửa SAM-2, không biết CIA nó có nắm được không?), nên đã đi đến quyết định thành lập Tổng cục kỹ thuật - như là con đẻ của Tổng cục hậu cần (thời gian đầu, ông Đinh Đức Thiện kiêm Chủ nhiệm cả hai Tổng cục một lúc). Có thế, mới đáp ứng nổi nhu cầu to lớn trong Tổng tiến công 1975.

Anh bạn đi cùng tôi đến thăm "cụ" Phan Thái trước khi nhập ngũ từng là sinh viên "cứng" ngành Toán. Anh kể, năm 1972, anh được cấp trên trưng dụng làm tiểu giáo viên bồi dưỡng kiến thức cho một số anh em . Chuyên gia Nga nói, đại ý trong tính toán đường bay của tên lửa SAM và máy bay địch theo mô hình khí động học, phải sử dụng một số công thức liên quan đến số phức, do đó, ai chưa làm quen với số phức thì sẽ gặp một số khó khăn.

Anh bạn kia bảo, thực ra, nếu coi số phức như một cặp số thực (gọi là phần thực và phần ảo) thì phép cộng và phép trừ số phức rất đơn giản: thay vì phải làm 1 phép tính, thì ta làm 2 phép tính. Thế là xong. Nhân 2 số phức với nhau, cũng không đến nỗi "xương" lắm. Cứ nhân đại 2 biểu thức với nhau đi, sau đó gom lại như kiểu lấy thừa số chung, để ý rằng "i" bình phương (mũ 2) thì bằng -1. Trường hợp đặc biệt là nhân một số thực với một số phức, thì dễ xử lý hơn nhiều. Cứ nhân tằng tằng phần thực và phần ảo của số phức với số thực đó. Ngon như óc chó.

Đối với phép chia, chú ý rằng, khi nhân 1 số phức bất kỳ với số (phức) liên hợp của nó, ta được kết quả là một số thực dương (trừ trường hợp đặc biệt: số đem nhân là số (phức) 0, tức là số phức có cả phần thực và phần ảo đều bằng 0, thì kết quả mới là 0). Từ đây, suy luận ra phép chia - chính là nhân với nghịch đảo của số thứ hai (số chia).

Để khai căn số phức, phải dùng đến mặt phẳng phức (mặt phẳng 2 chiều) và học thêm vài tính chất hình học sơ đẳng của số phức (biểu diễn 1 số phức trên mặt phẳng phức, lúc thì như một điểm, lúc thì như một véc-tơ, khi nối điểm ấy với gốc tọa độ), mô-đun (độ dài), ác-gu-men (nôm na là độ lớn góc của véc-tơ số phức). Có những cái này rồi, thì bắt đầu dùng công thức lượng giác (của số thực) mà áp vào số phức. Một mũi tên bắn trúng hai con thỏ, do phép tính lũy thừa số phức cũng trở nên dễ dàng hơn rất nhiều, khi dùng "vũ khí tối tân" là công thức Moa-vơ-rơ.

Anh bạn kể, anh đã dạy cho lớp bổ túc kiến thức đúng như thế. Hôm kiểm tra viết cuối kỳ, bài làm rất khá, cả lớp đều đạt điểm khá giỏi. Hôm sau, một đoàn các thủ trưởng cấp trên đến dự tiết học báo cáo, khoái chí khi thấy khí thế tưng bừng, học viên giơ tay xung phong ào ào lên bảng, tính toán "như thần" trước mặt các chuyên gia Nga hẳn hoi. Chuyên gia Nga cũng mãn nguyện lắm, gật gà gật gù. Phen này thì, B-52 cứ gọi là... rụng như sung !

Cuối cùng, giáo viên khích lệ: Qua 3 tháng học tập miệt mài, nếu các đồng chí ai còn thắc mắc gì, cứ mạnh dạn phát biểu, tôi sẽ giải đáp tận tình ngay tại đây! Cả lớp yên lặng, có mấy đôi mắt nhìn nhau thăm dò. Về sau, một cánh tay rụt rè giơ lên.

- Mời đồng chí !. Anh hào hứng chỉ định.

- Thưa thầy, những điều thầy dạy về số phức trên lớp, ngày nào chúng em cũng học thuộc và làm hết các bài tập về nhà thầy giao. Chúng em còn lập thành một nhóm để đố nhau và kiểm tra chéo lẫn nhau. (Thầy gật gù: tốt, tốt lắm). Đêm qua, em đã trăn trở suy nghĩ rất nhiều, rất nhiều, nhưng vẫn không sao hiểu được, tại vì sao mà bình phương của "i" lại bằng -1!.

Chán thật, bao nhiêu công sức của thầy đổ hết xuống sông xuống biển. Thực ra, "sư phụ" quên không dạy cho "học trò": từ các số tự nhiên (dễ hiểu) đến phân số (chính là các số hữu tỉ), không cần giải thích nhiều lắm về ý nghĩa của con số và phép tính, vì con người ta ai cũng có nhu cầu thực hiện 4 phép tính cơ bản là cộng trừ nhân chia trong đời sống thường ngày. Đến khi đo đạc độ dài (ví dụ, đường chéo hình vuông có cạnh bằng đơn vị), cũng là một việc thường ngày, thì bỗng dưng "đẻ" ra một số "mới lạ", không phải là phân số. Như vậy, trên thế gian này, đã mọc thêm một loài số "mới", đành phải ban cho nó một cái tên, các nhà toán học nhất trí gọi chúng là số vô tỉ. Gộp cả số hữu tỉ và số vô tỉ, chúng ta có số thực.

Từ số thực, các nhà toán học có thể "bịa" ra nhiều thứ số khác - có thể quái dị, bất bình thường - và "phịa" ra các cách tính toán rắc rối để "tiêu khiển" hay "tập thể dục trí não". Vấn đề cốt lõi là ở chỗ: chúng có ý nghĩa gì, tác động gì, ứng dụng gì tới cuộc sống con người ? Trả lời xong câu hỏi này là người đời sẽ tâm phục khảu phục chấp nhận.

Trong trường hợp của số phức, như các ông chuyên gia, cố vấn Nga đã cho biết, số phức có ứng dụng trong tính toán các mô hình khí động học của vật thể bay, mà trường hợp cụ thể là máy bay và tên lửa. Hay đơn cử, một ứng dụng nữa của số phức là việc chứng minh một định lý số học thoạt nhìn qua rất đơn giản, song thực ra vô cùng khó: Cho n là số tự nhiên. Hãy chứng minh rằng, trong khoảng từ n đến 2n luôn tồn tại ít nhất một số nguyên tố. (ví dụ, nhắm mắt cũng có thể nói, trong khoảng từ số 2 tỷ đến số 4 tỷ, chắc chắn có số nguyên tố). Còn nhiều ứng dụng "cao siêu" nữa, không bàn tới ở đây.

Cho nên: bình phương của "i" bằng -1 chỉ mang tính chất quy ước đặc trưng của số phức. (Con số - 1 ở đây là số phức có phần ảo bằng 0, không phải số thực - 1 như nhiều người vẫn lầm tưởng, nó không còn mang ý nghĩa tính toán khoảng cách hay độ dài - vì như thế, vô lý đùng đùng; mà thể hiện việc tính toán góc quay trong mặt phẳng - mỗi lần nhân một số phức với số phức "i" là quay véc-tơ thể hiện số phức đó đi một góc 90 độ, nhân hai lần liên tiếp với số phức "i" là quay véc-tơ đi một góc 180 độ ngược chiều kim đồng hồ).

******

Nhóm các anh VK75 đào tạo sĩ quan kỹ thuật quân sự ở Zalka Máté (1 lớp vũ khí, 1 lớp thông tin) được dự kiến sau khi tốt nghiệp trở về sẽ cùng công tác một đơn vị. Và đúng như vậy. Sau khi nhóm này tốt nghiệp, ngay lập tức trở thành nòng cốt để hình thành đội ngũ giáo viên của Trường cao đẳng kỹ thuật quân sự Vin-hem-pích. Sau nước Hung, các anh còn bôn ba sang Cộng hòa Dân chủ Đức bồi dưỡng thêm 2 năm nữa.

Có thể kể tên một số anh như: Nguyễn Văn Kơ, Trịnh Xuân Sơn, Hoàng Công Bình, Đỗ Văn Bé, Đinh Quang Nguyện, Trần Ngọc Lan, Trần Trung Phong, Hồ Hồng Minh, Nguyễn Văn Phơ, anh Luyện...

Anh Luyện từng là dũng sĩ diệt xe tăng. Trong một bài báo trên tờ "Quân đội nhân dân Hung-ga-ri" viết về những học viên quân sự Việt Nam có đoạn:

"A jó kedvű Luyen-ról a társai mondták el, hogy az édesapja iskolaigazgató, ö pedig a középiskola végzése után két évig vett részt a harcokban, többször megsebesült, és az ellenség tizenegy kocsiját pusztította el".

(Tạm dịch là: Bạn bè của chàng trai vui tính tên Luyện kể rằng, bố anh là Hiệu trưởng một ngôi trường trung học, bản thân anh đã tham gia chiến đấu 2 năm kể từ khi tốt nghiệp phổ thông, nhiều lần bị thương, và anh đã tiêu diệt được 11 xe tăng của địch".

Anh Nguyễn Văn Kơ (VK75, Zalka Máté) bồi hồi nhớ lại: "Tôi suýt chết tại Quảng Trị, bị B-52 đánh vào hậu cứ tại cao điểm 367 miền Tây Quảng trị, vào lúc khoảng 20 giờ ngày 22 tháng 7 năm 1972. Tôi bị sức ép của bom và hai mông dính hai mảnh nhỏ, vì địch đánh bom sát thương, chứ bom đào thì cũng lên bàn ăn chuối từ lâu rồi, và nếu là mảnh lớn, thì cũng làm bạn với xe lăn thôi. Thật là may mắn hơn đồng đội của chúng tôi nhiều lắm".

Anh Kơ kể về thời điểm đặt chân tới nước Hung: " Đoàn chúng tôi có 20 chiến sĩ, đến ga Phía Đông vào khoảng 6 giờ tối ngày 9 tháng 3 năm 1975, được bạn đón bằng xe tải chở hàng. Khi đó, mọi người đều mặc com-lê màu đen tuyền, ngồi trên xe tải, nhìn không giống ai cả. Đến Doanh trại Petofi, nhận phòng xong, bữa tối hôm đó bạn chiêu đãi món cháo thay vì cơm như ở nhà. Đó là ấn tượng mạnh mẽ mà Đoàn Zalka75 không bao giờ quên!".

Anh Kơ kể về những ngày sắp rời nước Hung: “Hồi chuẩn bị về nước, mua được chiếc xe đạp của Đức, tôi liền đi xe ra phố dạo chơi. Đến đầu cầu Erzsébed, suýt bị xe buýt tông, hoảng quá, tôi chuồn về luôn, không dám đi nữa. Về sau mới thấy, có ai ra đường đi bằng phương tiện đó đâu, mình điếc không sợ súng, suýt bỏ mạng lãng xẹt”.

Anh Kơ kể về những ngày nhận công tác: "Bọn này về 8/1980. Sau khi học tập chính trị tại đoàn 871 bên Đông Anh thì phải, được điều về Tông cục Kỹ thuật. Quân hàm phong, một nửa trung úy, một nửa thiếu úy, trong số phong thiếu úy, có cả anh học bằng đỏ, hoặc khi đi học, quân hàm chuẩn úy, về vẫn như cũ, vì thế, số ae đó thắc mắc ỳ xèo, nhưng cũng hòa cả làng, ai có gì dùng nấy. Bọn này không được vào thành, chỉ đươc tập trung ở Đặng Dung để nhận giấy tờ đi vào Trường Hạ sĩ quan Kỹ thuật đóng tại Gò Vấp tp Hồ Chí Minh. Người của phòng cán bộ Tổng cục Kỹ thuật ra làm việc là anh Long "râu", cũng nhiều ý kiến, như: sao không đeo thắt lưng, tóc dài..., thái độ không thiện cảm với anh em mình, ông ta đại úy, mình trung úy, mà cảm giác họ như bố mình không bằng, chân tay ngứa lắm, nhưng phải nhịn. Sau này, ông ấy vào Trường, thấy cũng thường thôi, trợ lý quèn, tha cho họ, bệnh nghề nghiệp ấy mà. Chúng nó không làm khó anh em, thì hỏi, có việc gì mà làm đâu? Thủ trưởng Phòng Cán bộ hồi ấy là Đại tá Hoàng Lương, phó là Khuất Duy Đạt, chẳng thấy họ bao giờ, chỉ nghe nói vậy. Làm gì có động viên, cứ thế mà lên đường vào Nam thôi, và ở cho đến giờ đấy".

Photobucket

Anh Nguyễn Văn Kơ (thứ 2 từ trái sang phải)



Từ trái sang phải: Anh Trịnh Xiuân Sơn (thứ 2) và Hồ Hồng Minh (thứ 3) trong buổi gặp mặt anh em cựu học viên quân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh (2011). Người thứ 4 đang cười cười là anh Phan Khắc Cường VK76.



Anh Hồ Hồng Minh ra Hà Nội dự lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập đội bóng đá Thể Công (lứa thứ hai) - (8-2015)

Nhóm đào tạo đại học VK75 phần lớn là học sinh phổ thông, theo đúng chỉ đạo của bác Đặng Quốc Bảo. Họ được tập trung lên Trường Đại học Kỹ thuật quân sự để ôn tập (ở Hà Nội không tập trung tư tưởng), hệ thống hóa kiến thức Toán-Lý-Hóa, được học tiếng Nga với cường độ cao (một tuần có 2 tiết do người Nga trực tiếp giảng dạy), được hội thoại tiếng Nga với những người tốt nghiệp ở Nga về, được thực tập trong phòng thí nghiệm vật lý, điện tử; được tham quan máy tính điện tử thế hệ mới nhất Min-xcơ 32..v..v... Về đãi ngộ, dù đeo quân hàm binh nhì, vẫn được ăn suất Trung táo "8 hào 2" (cá biệt, có đ/c Bùi Hiếu Minh cân nặng 39 kg được ăn tiêu chuẩn Tiểu táo "1 đồng mốt").

Bác Bảo mạnh dạn đưa ra những quyết định mang tính đột phá. Một tháng một lần, Hiệu trưởng hoặc Hiệu phó có lịch xuống Đại đội 196 lăng nghe ý kiến, tâm tư của anh em (trẻ măng, mặt búng ra sữa, đáng tuổi con các thủ trưởng!). Các bộ phận liên quan (nhà bếp, quản lý, quân trang, quân y, thư viện...) lăm lăm sổ và bút ghi chép lại đầy đủ mọi thắc mắc của anh em. Cái gì giải quyết được tại chỗ thì giải quyết luôn. Bởi vì, nếu rút ngắn thời gian học dự bị của các học viên xuống, thì Nhà nước ta tiết kiệm được, (bao nhiêu tiền, các đồng chí có biết không ?), 22 nghìn rúp cho mỗi đầu người !

Bác Bảo đề nghị Cục Cán bộ điều những sinh viên giỏi trước đây, nay đang ở trong quân đội, về Đại học kỹ thuật quân sự làm giáo viên. Cho phép giáo viên soạn giáo trình mang tính hiện đại, cập nhật. Bác còn chiêu mộ các giáo viên trẻ này vào ngạch sĩ quan. Tuy nhiên, khi giáo viên (đeo quân hàm binh nhất) chưa đồng ý nhận quân hàm sĩ quan, thì vẫn được hưởng một số chế độ y như sĩ quan, như được ở rộng rãi hơn, tiện nghi hơn, được ăn ở nhà ăn dành cho sĩ quan, cuối tuần được phát vé đi xe ô tô đi và về Hà Nội...v.v..

Ngay khi xuất hiện những tín hiệu đàm phán giữa bạn và ta đang có triển vọng tốt, nhóm 10 người được điều gấp về Đại học Ngoại ngữ Thanh Xuân học tiếng Hung (ở nhờ trong một doanh trại đóng gần đấy, để đỡ bị lây nhiễm những ý thức vô tổ chức, vô kỷ luật). Học phát âm tiếng Hung cực kỳ vất vả. Một thành viên VK75 quê ở Hà Nam bị lỗi phát âm lẫn lộn "n" (thấp) và "l" (cao), bị thầy giáo Cân sửa cho đến nơi đến chốn, bắt phải soi chiếc gương nhỏ để chữa tật nói ngọng mắc từ hồi còn bé. Một hôm chủ nhật rỗi rãi, anh Võ Văn Mai đi dạo phố phường Hà Nội về, kể với mọi người là đã thấy sân vận động Hàng Đẫy rồi, to cao hơn sân vận động ở Vinh. Về sau, cả nhóm mới ngã ngửa ra, vì đó là nhà tù Hỏa Lò!

Nhóm này cũng được "tổ chức phân công" sẵn thành 5 cặp, cố gắng sau khi tốt nghiệp sẽ cùng về một đơn vị công tác, để còn dìu dắt nhau. Theo như Hiệu trưởng Đặng Quốc Bảo nói, thủ đô của ta đang có xu hướng chuyển lên Vĩnh Yên, khi các đồng chí tốt nghiệp về, là bắt đầu công việc trọng đại này. Nơi đây sẽ có hệ thống tàu điện ngầm (Hà Nội gần sông Hồng, khó xây tàu điện ngầm lắm !), sẽ trang bị một máy gia tốc hạt nhân cỡ lớn (lớn nhất Đông Nam châu Á), vì thế rất cần đến những kỹ sư giỏi thuộc nhiều chuyên ngành đào tạo khác nhau. Những điều "bí mật quân sự" này, các đồng chí không được cho người thân biết.

Hồi ức của Phan Hồng có đoạn:

"Học dự bị ở Vĩnh Yên chừng hai tháng thì đại đội C196 tổ chức tham khảo ý kiến đánh giá của các thầy giáo dạy tiếng Nga để phân loại lại, đại ý, các học viên có sức học sàn sàn nhau sẽ bố trí vào cùng một lớp, như thế các thầy dễ dạy hơn. Toán, chúng tôi vẫn học chung lý thuyết, đích thân thầy My dạy. Chữa bài tập thì phân ra các lớp nhỏ hơn.

Nghe phong thanh là sẽ có một đoàn đi Hung, khoảng 10 người, nhưng đại đội chỉ công bố danh sách vào giờ chót, để mọi người đỡ bị ảnh hưởng tâm lý. Trước đó 1 tháng, có tin đồn râm ran sẽ chọn (phân công?) 2 người đi học ở Cộng hòa dân chủ Đức, học ngành Luật, anh em bán tín bán nghi, không đánh giá được là "có nên đi hay không nên đi?". Mà ai cho đi! Vài ngày sau, đã xác định được hai bạn là Hoàn và Phước lên gặp thủ trưởng lấy quyết định đeo ba-lô về Thanh Xuân nhận nhiệm vụ mới. Hai bạn cũng không mấy khi viết thư về đại đội, nên chúng tôi không theo dõi được tin tức dưới đó.

Đùng một cái, một hôm, đại đội C196 thông báo danh sách 10 người chuẩn bị đi học tiếng Hung ở Thanh Xuân. Thực ra, ngồi ngẫm nghĩ lại thì không hẳn "đùng một cái". Tôi nhớ là trước khi xảy ra sự kiện "trọng đại" này, tôi và vài ba bạn bị gọi lên bảng chữa bài tập về nhà, chủ yếu thầy My kiểm tra cách lập luận có chặt chẽ không, cách trình bày có sáng sủa không, cách nói năng có mạch lạc không. Môn tiếng Nga cũng vậy, tôi bị bắt đứng dậy đọc bài khóa xem có trơn tru không, phát âm một từ mới toanh xem trí nhớ có ổn không, và chia các động từ bất quy tắc để xem khả năng học thuộc lòng đến đâu.

Chúng tôi không biết nhiều về nước Hung, cho dù đã "dạo qua" môn địa lý thế giới hồi lớp 9. Nước Hung chìm ngập trong châu Âu, vả lại, cái tên Hung-ga-ri nhòa nhạt lẫn vào giữa những cái tên na ná khác: Bun-ga-ri, Ru-ma-ni. Thủ đô mấy nước này cũng dễ lẫn: Bu-ca-rét, Bu-đa-pét. Dân số, điều kiện kinh tế..., chưa nói đến ngôn ngữ, chúng tôi lại càng mù tịt. Tôi có ông anh họ học đạo diễn truyền hình ở Hungari. Đọc các lá thư của anh từ phương xa gửi về, chỉ nhận thức: đó là một nước châu Âu xa vời. Điều chúng tôi biết rõ nhất về Hung là: đó là một nước trong phe xã hội chủ nghĩa anh em.

Bản thân tôi không quá hoang mang khi "bị" chọn đi Hung. Ở đại đội C196, nhiều anh tài quá, mình làm sao "cạnh tranh" nổi suất này suất nọ, ngành này ngành nọ. Lơ ngơ, nhỡ tình hình thay đổi, có khi còn bị rớt lại. Nhưng cũng hơi xót bao công sức bỏ ra học tiếng Nga. An ủi, vì nghĩ rằng học tiếng Nga không bao giờ thừa, đó là "ngôn ngữ khoa học kỹ thuật của toàn thế giới", không bổ ngang cũng bổ dọc, bổ xiên.

Ô-tô đưa chúng tôi về cơ sở của nhà trường ở số 23 phố Phan Bội Châu, Hà Nội. Chúng tôi may mắn được về thăm nhà đôi ngày (thời gian gấp lắm, các bạn ở tỉnh xa không kịp về nhà), sau đó lên tập trung tại một doanh trại bộ đội tồi tàn, ngay sát nách Trường Đại học ngoại ngữ Thanh Xuân. Chúng tôi ăn ở tại đó, đi học ở bên kia hàng rào. Cuộc sống kham khổ nhiều so với trên Vĩnh Yên. Một phần do môi trường bên ngoài không phù hợp với tầng lớp quân nhân, phần khác là do quân ta tập kích xuống Thanh Xuân đột xuất quá, nhà trường làm sao bố trí chỗ ăn ở cho chúng tôi được. Cùng học với chúng tôi có anh Lê Khôi (giáo viên bên K3 - Vô tuyến điện tử) và anh Bảo. Các anh chuẩn bị đi nghiên cứu sinh. Hai bạn Hoàn và Phước cũng "bị triệu tập" về cùng doanh trại quân đội, nhưng cũng chỉ có mặt lấy lệ, vì thời khóa biểu của các bạn ấy khác hẳn chúng tôi. Phước quen với nhiều bạn gái xinh đẹp bên Thanh Xuân, hay chui hàng rào qua bên ấy dự sinh nhật, xem biểu diễn văn nghệ.

Những ngày đầu học tiếng Hung cực kỳ khó khăn. Nhìn các bạn bên dân sự nói tiếng Hung vanh vách mà thấy ớn, chứ cứ "cót ca cót két" suốt ngày liệu có nên cơm cháo gì không. Sợ nhất là xôi hỏng bỏng không, đi Nga không xong, mà đi Hung cũng lỡ làng. Tết đến, chúng tôi về nghỉ Tết, gặp gỡ lại các bạn trên đại đội 196, thấy các bạn "hùng hổ" bắt chuyện với chuyên gia Nga ngoài Bờ Hồ mà phát thèm. Tiếng Nga của mình chỉ ở dạng "bắn phát một", đuội quá. Tiếng Hung thì ở mức vỡ lòng, không ai thèm tính.

Đùng một cái, một hôm, anh Lê Khôi bảo thủ trưởng thông báo là phía bạn đã nhận, anh em gấp gáp chuẩn bị làm thủ tục sang Hung ngay đi. Chúng tôi mừng rỡ, chả thấy ai đặt vấn đề kiểm tra trình độ tiếng Hung gì cả. Chúng tôi kéo lên Đoàn 871 Cục Cán bộ nhận quân trang mùa đông (bộ comp-lê đen, sơ-mi, cà-vạt, áo khoác bằng dạ nặng chình chịch, giày da, găng tay...).

Tối 17-03-1975, bố mẹ và người thân tiễn chúng tôi lên tàu liên vận sang Hung ở ga Hàng Cỏ".




Ngày 17/3/1975, Đoàn đào tạo đại học VK75 chụp ảnh tại cơ sở 23 Phan Bội Châu cùng Thủ trưởng Thịnh - Hiệu phó Đại học kỹ thuât quân sự và Thủ trưởng Khải - Đại đội phó, phụ trách học tập, Đại đội 196 - trước khi lên đường sang Hung-ga-ri.

Hàng đứng (từ trái qua phải): Phan Phan Hồng, Võ Văn Mai, Thủ trưởng Thịnh, Bùi Hiếu Minh, Phạm Hữu Ái, Phan Tô Giang.
Hàng ngồi (từ trái qua phải): Thủ trưởng Khải, Trần Việt Trung, Nguyễn Xuân Diễn, Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Quang Hùng, Đỗ Văn Hòa.



Chụp ảnh cùng cô giáo dạy Toán và thầy giáo dạy Ngữ pháp ở năm dự bị.
Từ phải qua trái: Minh, Ái, Hòa, Hồng, Diễn, cô giáo, thầy giáo, Mai, Trung, Giang, Hùng.



Ngày Tết trong Doanh trại Petofi



Hàng đứng (từ trái sang phải): Nguyễn Quang Hùng, Trần Việt Trung, Võ Văn Mai, Đỗ Văn Hòa, Phan Tô Giang, Phan Phan Hồng.
Hàng ngồi (từ trái sang phải): Nguyễn Xuân Diễn, Phạm Hữu Ái, Nguyễn Hữu Chính, Bùi Hiếu Minh.



Mùa hoa anh đào nở đầu tiên trên đảo Margit-sziget (1975)



Bên lăng Lê-nin (Mát-xcơ-va) nhân dịp về phép hè 1977



Trên đảo Margit-sziget.
Từ phải qua trái: Diễn, Hòa, Hồng, anh Điệp, Giang, Hùng



Chèo thuyền ở Balaton-foldvár.
Từ phải qua trái: Hòa, Hồng, Hùng, Trung, Diễn, Mai



Balaton-foldvár.
Từ phải qua trái: Hồng, Sơn (em Giang), Hòa, Quang, Toản



Balaton-foldvár



Ảnh chụp ở vườn hoa hồng gần nhà thờ Tihany



Chụp ảnh với các thiếu niên Hung-ga-ri



Chụp ảnh với các thiếu nữ Hung-ga-ri



Xếp hàng mua cá rán ven hồ Balaton



Bên hồ Balaton



Nguyễn Hữu Chính, Phan Hồng, Phạm Hữu Ái



Ăn kem



Trên tàu thủy qua phà Siofók cùng với Khắc Cường (VK76) và bạn của Khắc Cường từ Ki-si-nhốp (Liên Xô) sang chơi (1980)



Đảo Margit-sziget (1980)



Đảo Margit-sziget (1980)



Một lần vượt rào đi chơi với bạn gái



Năm 1977, Đoàn đại biểu do Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đầu đi thăm 3 nước Xã hội chủ nghĩa anh em để cảm ơn sự giúp đỡ mà Việt Nam nhận được trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cảnh đón đoàn tại sân bay Ferihegyi.

Budapest, 1977. április 7.
Hivatalos barári látogatásra hazánkba látogatott Giap hadseregtábornok, akit Czinege Lajos vezérezredes fogadott a repülõtéren.
MTI Fotó: Friedmann Endre



Budapest, 1977. április 14.
Magyar-Vietnámi nagygyűlés az Egyesült Izzőban.
Czinege Lajos átveszi a Vietnámi Néphadsereg zászlaját Vo Nguyen Giaptól.
MTI Fotó: Friedmann Endre



Giấy mời: Kính gửi đồng chí binh nhì….



Giấy mời ra sân bay đón Đoàn đại biểu do Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đầu



Giấy mời



Giấy mời dự tiệc chiêu đãi do Bộ Quốc phòng Hung-ga-ri tổ chức để chào mừng Đoàn đại biểu do Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đầu.



Giấy mời xem biểu diễn văn nghệ



Giấy mời tới dự buổi biểu diễn văn nghệ chào mừng Đoàn đại biểu do Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đầu



Đoàn đại biểu Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam do Thượng tướng Chu Huy Mân dẫn đầu, đến đặt vòng hoa trước tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở thủ đô Budapest (1980). Người mặc áo trắng, thứ 2 (từ phải sang trái) là phiên dịch Trần Việt Trung VK75.



Đoàn đại biểu trước tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Zalaegerszeg



Xem tàu thủy và máy bay diễu hành trên sông Đa-nuýp trong ngày quốc khánh (20-8). Ảnh chụp tại khán đài phía sau Nhà quốc hội. Người cầm ống nhòm là Thượng tướng Chu Huy Mân. Người đeo kính ngồi cạnh ông tướng mặc lễ phục màu trắng là Thiếu tướng Đặng Vũ Hiệp.



Đoàn đại biểu Tổng cục chính trị của ta hội đàm với bạn (phiên dịch: Phan Hồng)



Đoàn đại biểu Tổng cục chính trị của ta hội đàm với bạn (phiên dịch: Đỗ Văn Hòa)



Trong Bảo tàng nghệ thuật quốc gia ở Quảng trường Anh hùng. Người cao lớn đứng giữa ảnh là anh phiên dịch có tên Việt Nam là Nguyễn Văn Liên (bố người Việt, mẹ người Hung). Năm 1972, khi đang học dở lớp 8, đã trở về Hung-ga-ri cùng mẹ.



Đi tàu thủy trên hồ Balaton



Đi máy bay trực thăng đến một sư đoàn xem diễn tập



Hai đoàn SV74 và SV75 chụp cùng nhau trong đợt tập quân sự tại Hung-ga-ri (theo sáng kiến của Thủ trưởng Vũ)

Hàng ngồi (từ trái sang phải): Chính, Diễn, Uyến, Mai, Sảng, Lập.
Hàng đứng (từ trái sang phải): Minh, Bình, Ái, Hải, Hùng, Khoa, Giang, Vượng.



Tấm bảng kỷ niệm (bìa)



Tấm bảng kỷ niệm (bên trong)
“Đào tạo và bồi dưỡng cho đời sau là một việc cực kỳ quan trọng và cần thiết” (Trích Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh)

“Lý tưởng chung của chúng ta là chủ nghĩa cộng sản, vì vậy, dù chúng ta xa cách nhau hàng nghìn ki-lô-mét, nhưng chúng ta vẫn đứng bên nhau” (Lời đồng chí Trường Chinh)



Tấm bảng kỷ niệm (bên trong)
Để nhớ về những ngày tháng đồng chí đã sống tại Phân hiệu Việt Nam, Ban chỉ huy Ký túc xá quân đội Karikás Frigyes của Quân đội nhân dân Hung-ga-ri xin chúc đồng chí X: đồng chí sẽ có cuộc sống yên bình, hạnh phúc tại Tổ quốc của mình và áp dụng thành công những tri thức đồng chí đã thu hoạch được trong thời gian học tập tại đất nước Hung-ga-ri.



Đoàn VK75 trong lần gặp mặt năm 2005 tại 152 Thụy Khuê, Hà Nội.



Sau 30 năm xa cách, Đoàn đào tạo đại học VK75 cùng với các Đoàn VK77, VK78 thăm lại Hung-ga-ri (8-2005). Ảnh chụp tại sân bay Ferihegyi.



Trước cổng Doanh trại Petofi (8-2005)



Thăm lại ngôi nhà 4 tầng cũ bên trong Doanh trại Petofi



Gặp mặt các cựu học viên quân sự đang sinh sống tại Budapest



Thăm nhà cô Havas Ágnes, một chuyên gia đã sang Việt Nam nhiều lần để dạy tiếng Hung cho các lưu học sinh, cũng như bồi dưỡng nghiệp vụ cho các thầy cô giảng dạy tiếng Hung tại Đại học Ngoại ngữ Thanh Xuân.



Gặp lại thầy giáo cũ, dạy môn Vật lý trong năm học dự bị



Cô giáo dạy tiếng Hung trong năm dự bị Somogyi Péterné (nay đã mang tên khác) mang tới buổi gặp gỡ tấm ảnh cô chụp với Đoàn đại học VK75 cách đây đã 30 năm. Phía sau tấm ảnh vẫn còn đủ chữ ký của 10 học sinh của cô.



Các cựu sinh viên thăm lại trường Đại học Kỹ thuật Bu-đa-pét (BME)



Các cựu sinh viên thăm lại Ký túc xá sinh viên Đại học Kỹ thuật Bu-đa-pét (BME)



Chụp ảnh kỷ niệm tại Tihany



Đi thuyền buồm trên hồ Balaton



Thăm lại khúc cong của sông Đa-nuýp (Duna-kanyar)



Gặp lại thầy giáo cũ trong thời gian Việt Nam đăng cai cuộc thi Ô-lem-pích Toán quốc tế tại Hà Nội (2007)



Doanh trại Petofi (2008)



Quảng trường Anh hùng (2008)



Thăm lại trường ELTE, gặp lại thầy giáo và các bạn học cũ (2008)



Thắng 6-2015, hai đoàn VK75 và VK74 cùng nhau thăm lại núi Ghe-lê.



Ảnh chụp ở bậc thềm Nhà thờ chánh tòa thành phố Ê-ghe (2015)



Tiệc chiêu đãi tại Hà Nội chia tay Ngài Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Hung-ga-ri tại Việt Nam. (Ngồi cạnh ngài Đại sứ là phiên dịch Bùi Hiếu Minh VK75).



Anh Võ Văn Mai đón tiếp những người bạn Hung cùng học một thời ở Bộ môn Đo lường (BME) đi du lịch ở Việt Nam (đoàn gồm 14 người, là bạn bè cùng lớp, đi cùng vợ, con và thày giáo).



Anh Trần Việt Trung VK75 nhận bằng khen của Hội Hữu nghị Việt-Hung năm 2015.





Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 24.07.2017, sửa lần 67
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 10.05.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÂU CHUYỆN VỀ NHỮNG HỌC VIÊN QUÂN SỰ TẠI HUNG-GA-RI (tiếp theo 5)

Năm 1976, Bộ Quốc phòng Hung-ga-ri tiếp tục nhận đào tạo nghiên cứu sinh và đại học. Về đào tạo nghiên cứu sinh, 2 chuyên ngành chủ chốt có mặt đều đặn là y học và kỹ thuật (ra-đa, thông tin...). Anh Lê Khôi vui mừng gặp lại nhóm anh em Đoàn VK75 (đã 3 tháng cùng nhau học tiếng Hung cơ bản ở Đại học Ngoại ngữ Thanh Xuân năm ngoái). Anh Võ Ngọc Anh thì vui mừng gặp lại một số anh em trong Đoàn VK74.

Anh Lê Khôi tốt nghiệp đại học ở Trung Quốc nên nói tiếng Tàu rất giỏi. Anh từng là phiên dịch của Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ trong những lần đi công cán Bắc Kinh. Bằng con mắt kỹ thuật lành nghề, anh không để các đ/c Trung Quốc qua mặt được anh. Đã hơn một lần, anh thì thầm vào tai thủ trưởng của mình: "Anh Tuệ ạ, anh phát biểu, nói năng cẩn thận. Hôm nay chúng nó đặt máy ghi âm đấy !". Anh bảo, mắt anh không thèm nhìn vào những bình hoa sặc sỡ trang trí, các bức tranh hoành tráng treo trên tường, bộ đèn chùm tỏa sáng rực rỡ,... mà chân anh chỉ cần đá khẽ vào tấm thảm ở những vị trí cần thiết, là cảm nhận được ngay đống dây rợ "hơi thô" chạy ngoằn ngoèo bên dưới. Thời đó chưa phổ biến thiết bị vô tuyến (không dây).



Anh Lê Khôi (giữa) trong một buổi gặp mặt các cựu học viên quân sự tại Hà Nội (2007). Bên trái là anh Lương Văn Khánh VK72, bên phải là anh Lê Công Chủ VK74, đều học ở Zalka Máté. Sau này, anh Lê Khôi được cử làm Tùy viên quân sự Đại sứ quán nước ta tại Trung Quốc.



Anh Đinh Nho Hồng (bên phải), nghiên cứu sinh sang Hung-ga-ri năm 1976, trong buổi đi thăm Việt phủ Thành Chương. Người bên trái là anh Phan Hồng VK75. Sau này, anh Đinh Nho Hồng được cử làm Tùy viên quân sự Đại sứ quán Việt Nam tại Ru-ma-ni.

Trong đội hình nghiên cứu sinh còn có anh Nguyễn Ngọc Lương (ra-đa) và anh Trần Văn Hanh (y). Anh Trần Văn Hanh sau này là Giám đốc Trung tâm Công nghệ phôi, thuộc Học viện Quân y, Bộ Quốc phòng. Nhóm nhiên cứu của anh đã thành công trong việc nuôi cấy tinh tử thành tinh trùng hoàn thiện, sau đó tiến hành bơm tinh trùng vào bào tương của trứng để hỗ trợ sinh sản, giúp cho các cặp vợ chồng hiếm muộn (mà lỗi nằm chủ yếu ở ông chồng) có thêm nhiều hy vọng.

Về đào tạo đại học, cũng giống như hai đoàn trước (VK74, VK75), đoàn VK76 có hai mảng đào tạo là kỹ thuật công nghệ (14 người học BME) và khoa học cơ bản (2 người học ELTE). Rõ ràng, ý đồ của bác Đặng Quốc Bảo là tăng cường lực lượng cho cả trường Đại học Kỹ thuật quân sự lẫn Viện nghiên cứu (Viện Kỹ thuật quân sự). Trong nhóm học sinh phổ thông của đoàn VK76, có nhiều anh đạt thành tích rất cao trong học tập. Năm đó, hai anh Đỗ Đắc Thoảng và Nguyễn Phúc Tường "lọt" vào đội dự tuyển thi Toán quốc tế của Việt Nam gồm 16 người, nên được miễn, không phải thi đại học.

Chứng tỏ các thủ trưởng ở nhà đã nhận được tin tức tốt từ Bu-đa-pét thông báo về việc “tuyển chọn học sinh phổ thông, rèn luyện và bồi dưỡng tại Việt Nam một năm, sau đó gửi đi nước ngoài đào tạo đại học, chắc chắn sẽ thu được kết quả mỹ mãn”. Một kinh nghiệm được nhanh chóng đúc rút là, học tiếng Hung đúng là rất khó, song, nếu ai học tốt tiếng Nga, thì cũng có thể học tốt tiếng Hung, chả việc gì phải sợ. Trong đoàn 16 người VK76 có nhiều anh học rất chăm tiếng Nga, hội thoại với các cô gái Ba Lan, Bun, Nga, Tiệp, cứ gọi là vun vút. Chỉ cần trông quyển Từ điển Nga-Việt của Nguyễn Năng An cắp nách của các anh ấy nhàu nát, gáy sách long sòng sọc, thì biết các anh ấy “cầy cã” cái món tiếng Nga như thế nào ! Các anh này đem lại một bầu không khí sôi động trong môi trường quân đội từ trước tới nay có phần hơi khắc khổ. Dù sao, đất nước ta đã thống nhất rồi !



Thiếu tướng Hiệu trưởng Đặng Quốc Bảo chụp ảnh cùng Đại đội con cưng C106 tại Vĩnh Yên (có 3 chuyên gia Liên Xô ngồi ở hàng ghế đầu)

Đoàn VK76 lên đường sang Hung-ga-ri vào ngày 16-09-1976.

Anh Trần Quang Minh VK76 kể lại: "Thế mới biết anh bạn Tàu khựa tốt thật. Ngày trước, khi mình đi qua thì cho ăn uống đầy đủ, dọn dẹp toa xe sạch hết chỗ nói, chả bù cho đi tàu Liên Xô thì cứ mặc kệ, ai có thân người ấy lo. Thú thật lúc ấy, lần đầu tiên được ra nước ngoài, thấy người Tàu sao tốt thế, suốt ngày cặm cụi làm việc. Nhưng phải nói là công tác giáo dục của ta lúc đó cũng khá sáng suốt. Khi ra khỏi Bắc Kinh, thấy tầu hỏa cứ lúc tiến lúc lùi, đã nghi ngờ ngay, hay bọn Tầu định giở bài gì đây? Phải cho đến lúc tới ga Nhị Liên, chuyển sang tàu Liên Xô, mới hết nghi ngờ. Lúc đó, không biết trục trặc ở đâu, nhưng phải chờ khá lâu ở Nhị Liên, đến bữa ăn không phải ăn trên tầu hỏa nữa, mà được vào ăn một nơi khá sang trọng. Tôi không nhớ lắm, nhưng vẫn nhớ rõ được ngồi bàn tròn, thức ăn thì ê hề các món, thật đúng là thiên đường xã hội chủ nghĩa. Để đáp lễ, các lưu học sinh còn bao nhiêu Nhân dân tệ đổ ra mua bằng hết, chủ yếu là dao nhíp, cắt móng tay...

Nhị Liên cũng là nơi đầu tiên mua được những quả táo đỏ thơm ngon, không có hạt to ở giữa. Tôi hồi đó cũng mua 2 con dao, 1 cắt móng tay. Được cái hồi đó chưa có đồ Tàu rởm, nên dao và cắt móng tay sang Hung dùng rất tốt. Bây giờ nhớ lại, thấy người Tàu ở Nhị Liên to lớn như người châu Âu, mỗi tội mặc toàn đồ xanh công nhân. Thế là xong chuyến đi xuyên Tầu. Bây giờ, chắc ít người có điều kiện thực hiện chuyến đi như vậy".

Đến 6 giờ sáng ngày 29-09-1976 thì tới ga Phía Đông. Sáng hôm ấy, Chỉ huy doanh trại là ông Bô-đi gặp mặt chúc mừng đoàn, phiên dịch là anh Dương Thành Công. Sau đó, mỗi người được phát 3.000 phô-rinh để mua quần áo.

Về tình hình giữ gìn vệ sinh trong phòng ngủ, anh Đặng Vũ Long VK76 tiết lộ: "Phòng 31 chúng tôi một lần dọn vệ sinh, khi mở cái va-li không biết của ai ra, có bọn gián được mang theo từ Việt Nam rồi sinh sôi nảy nở trong đó, tràn ra một đàn. Bạn trông thấy kính nể, vì nó to hơn hẳn con gián Tây".

Anh Long hứng khởi thuật lại một chuyện đặc sắc của đoàn này: "Năm đó, để đón Tết âm lịch, mọi người đều mê món giò thủ của Hoàng Sơn (thái nhỏ ra, xào lên, cho hạt tiêu và délikát vào, rồi cho vào túi ni-lon hình ống - đựng mỳ 2 trứng - gói chặt, để ra cửa sổ cho lạnh cứng lại, rẻ mà ngon cực), nhưng không ai đi mua vì...ngại. Sơn béo bèn trổ tài, đến hàng bán thủ lợn trong chợ Szabadság:
- Cho tôi mua 2 cái thủ lợn !
Ông bán hàng gói 2 cái lại, tính tiền, rồi hỏi:
- Maga mua gì nữa không?
Sơn nhà ta giơ 2 ngón tay lên:
- Cho 2 cái nữa !
Chán quá, bác này chỉ biết gói thêm 2 cái nữa, rồi vẫn lịch sự:
- Thêm gì khác nữa?
Lần này thì Sơn béo chỉ mới giơ 2 ngón tay lên, ông kia đã lẳng lặng biết điều, gói 6 cái thủ vào, rồi im lặng thu tiền, mà không dám hỏi thêm gì nữa.

Dù sao thì 6 cái thủ là cũng đủ cho anh em ăn liên hoan rồi. Chuyện nghe bây giờ thì bình thường, chẳng có gì là lạ, nhưng đối với anh em chúng tôi ngày đó, sinh viên sáng láng, lại trẻ nữa (mới 20-22, bằng Văn Quyến, Quốc Vượng bây giờ), thì quả là, chỉ có Hoàng Sơn mới hoàn thành được nhiệm vụ bất khả thi đó".

Anh Phan Khắc Cường VK76 cũng góp chuyện: "Sơn là người dạy tôi những bài học vỡ lòng về kiếm tiền và kinh doanh, thông qua những việc cụ thể như: bán mành mành, vỏ ốc, san hô.. Sơn còn dạy tôi làm sao đừng tỏ ra cảm động quá, nếu có một em bán thuốc ở ngoại thành nói năng nhẹ nhàng và bán ngay cho mình 05 hộp seripa (thuốc tiêm gan). Cảm ơn Sơn nhiều.

Thơ Sơn thì bình dân thôi (cốt vần ấy mà), nhưng đàn ghi-ta thì chắc là hay, chứ đâu phải như anh vulong nói là bình thường. Trình độ đàn hay hay không, có thể đo qua việc lúc người đó lấy đàn ra nhử, có bao nhiêu em gái nhỏ xúm quanh nghe (?). Theo tiêu chuẩn ấy thì Sơn nhất Doanh trại Petofi về đàn ghi-ta. Lần đi trại hè nào tôi cũng nhìn Sơn đàn mà thèm thuồng, rồi tự quyết tâm, phải học đàn cho được. Khi thấy mình không có năng khiếu ghi-ta, tôi chuyển qua học đàn ắc-coóc với An "tàu", nhưng kết quả là Tường "phốc" cùng phòng không chịu nổi, phải có ý kiến. Sơn còn đào tạo cho tôi nhiều lắm, nhưng tôi không có khiếu, nên hỏng cả: nấu ăn, cờ tướng, làm việc có kế hoạch, giờ giấc...

Có một việc Sơn đào tạo được cho tôi, là cách xúc đất không mỏi và cách bổ cuốc chim. Cái này, tôi tỏ ra có năng khiếu vượt bậc, đến mức Tuấn Anh VK77 lực sỹ xì-po như thế, mà sau một ngày cuốc đất cạnh tôi, bị đốc công cho nghỉ, vì kết quả so sánh quá chênh lệch:
- Mày nhìn Phan (là tôi) kia kìa, sao mày không cố gắng làm bằng một nửa nó thôi cũng được.
Nhờ việc cuốc đất ấy mà tôi khỏe lên nhiều, và chủ yếu là, kiếm được ít tiền mua đồ mang về.

Ôi, cảm ơn Sơn!".



Anh Hoàng Sơn (ngồi cạnh người đeo kính)

Bản thân anh Hoàng Sơn VK76 có làm bài thơ song thất lục bát đăng báo tường khi hai đoàn VK76 và VK77 ghép làm một đoàn lớn:

HOAN HÔ

Hoan hô đại học 1, 2
Sát nhập làm 1 từ 2 đoàn vừa.
Phong trào vuợt hẳn hơn xưa,
Tham gia đông đủ, chẳng chừa một ai.

Nếu như truớc, 1, 2 tơi tới,
Thì hôm nay phấp phới 4, 5.
Đồng chí trưởng đoàn khuyên răn,
Anh em phấn khởi càng hăng học nhiều.

Năm thứ nhất như diều gặp gió,
Dìu dắt nhau, rất khó vẫn qua
Các loại bài giảng, dê-ha (ZH)
Khó đầu, sau dễ, do là quyết tâm.

Những lúc rỗi, ngoài sân bóng đá,
Ngực nở nang, bóng phá càng nhiều.
Làm cho đội bạn liêu xiêu,
Làm cho doanh trại thêm nhiều ngôi sao.

Phong trào vượt hẳn lên cao
Cấp trên phấn khởi gửi vào lời khen!


.........(Hoàng Sơn, Budapest 1979)




Đội văn nghệ VK76 hoạt động sôi nổi với các nhạc phẩm của Boney M.



Chụp ảnh với thiếu nhi Bun-ga-ri ở Kilíán-telep hè năm 1979



Dạy thiếu niên nước ngoài hát bài “Đôi bờ” ở Balaton-foldvár hè năm 1978.



Tập đàn với thiếu niên nước ngoài ở Balaton-foldvár hè năm 1978.


Sau khi tốt nghiệp về nước, Đoàn VK76 được tập trung học quân sự 3 tháng ở thị trấn Gôi. Anh Trần Quang Minh kể:

"Trong thời gian tập huấn quân sự, những buổi tập hành quân, chúng tôi đã đi qua một quần thể chùa khá đẹp ở gần núi Gôi. Nhưng đúng là anh Vũ Long và anh Phan Hồng chưa từng được đi tập quân sự, nên mới hào hứng tranh luận xem các chùa có xuất xứ như thế nào, chứ chúng tôi lúc đó chỉ cảm nhận thấy một điều là, chùa là nơi nghỉ ngơi rất mát mẻ sau chặng đường hành quân mệt mỏi. Ngoài ra, tôi còn thắc mắc một điều là tại sao chùa chiền rất khang trang, mà cúng lễ lại khiêm tốn, tôi đã để ý tìm khắp, mà chả thấy một cái oản hay chút hoa quả nào tình cờ còn sót lại. Lúc đó đang là thời khó khăn, thực phẩm cung cấp còn hạn chế nên mọi suy nghĩ của chúng tôi lúc đó đều tập trung vào việc tìm kiếm các nguồn cải thiện bữa ăn.

Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài “Con cá, chột nưa” là:

Suy nghĩ chuyện bao đồng
Vẫn không ngoài chuyện đói


Rất may là vùng núi Gôi khi đó là vùng lúa và thời gian tập huấn quân sự ở đó đúng vào lúc lúa đang lên xanh tốt, đặc biệt, những thửa ruộng gần doanh trại do thường xuyên được bón phân bắc, do vậy châu chấu rất nhiều. Vấn đề là làm thế nào bắt sống được châu chấu cho đủ bữa ăn. Tôi dám chắc là các anh em không hình dung được cách người nông dân bắt châu chấu đâu.

Thường thì có hai đứa trẻ con đi thành một nhóm, một lớn một bé. Đứa lớn vác một cái vợt to, to cỡ ba cái thúng. Hai đứa trẻ sẽ chay nhanh trên bờ ruộng, đứa lớn đưa vợt rà sát ngọn lúa. Châu chấu thấy động sẽ bay lên khỏi ngọn lúa và lập tức bị hớt vào vợt. Chạy được một đoạn, đến chỗ rộng thằng lớn sẽ úp chụp cái vợt xuống đất, úp luôn cả thằng bé vào trong vợt. Lúc này ngồi trong vợt, thằng bé chỉ việc vồ lấy châu chấu cho vào giỏ. Chứng kiến cảnh đó tôi chỉ còn biết lắc đầu thán phục “tài thật, tài thật, tài đến thế là cùng…”

Đó là bắt châu chấu theo quy mô sản xuất lớn, còn các chiến sĩ nhà ta, đương nhiên phải du kích hơn. Vào buổi tối, các chiến sĩ chong đèn ra sân để đọc tài liệu học tập cho mát, nhưng thực chất là để rình chộp lũ châu chấu thấy ánh đèn từ ruộng bay vào. Châu châu bắt được khá nhiều, nhưng phải chờ đến hôm sau mới có thể xuống nhà bếp chế biến. Các chiến sĩ học trong nước đã có một sáng kiến là đem bỏ châu chấu vào tất vải đương dùng. Quan trọng là phải dùng tất vải và đi trong giầy vải bộ đội mới có tác dụng. Châu chấu bị bỏ vào trong tất, sẽ rơi ngay vào trạng thái koma (hôn mê), không còn bò hay nhảy bừa bãi nhưng vẫn đảm bảo còn tươi cho đến tận hôm sau, Nhờ vậy chúng tôi đã biến châu chấu thành món cải thiện đáng kể chất lượng bữa ăn hàng ngày".

Anh Quang Minh cũng không quên trích dẫn toàn bài bích báo làm ở thị trấn Gôi của “anh lính nhà thơ” Khắc Cường.

Ngày mai đến hạn nộp rồi,
Hôm nay khắp chốn lính ngồi rặn thơ.
Lim dim hai mắt như mơ,
Lắm anh đần mặt thẫn thờ đến hay.
Có anh phụt cái xong ngay,
Có anh cau mặt, nhíu mày đến thương.
Hiu hiu gió mát đưa hương,
Thơ hay anh đọc, bốn phương ngạt ngào.
Xong rồi, nhẹ nhõm làm sao,
Xé giấy đứng dậy, trên sao dưới đồng.




Đoàn đào tạo đại học VK76 gặp gỡ tại Hà Nội.

Hàng trên (từ trái sang phải): Cường “trố”, Sơn (bạn học ở Nga), Khánh “địa chủ”, Sinh “tầu”.
Hàng dưới (từ trái sang phải): Khánh “kều”, Long “bo-rét”, Bằng “ruồi”, An “tầu”, Sơn “béo” (VK78), Sơn “lì”, Chung “gù” (VK77), Sơn “già” (đoàn trưởng).




Đoàn VK76 gặp mặt kỷ niệm ngày nhập ngũ (26-10-1975 - 26-10-2008)

Từ trái sang phải: Khánh “kều”, Sơn “lì”, Khánh “địa chủ”, An “tầu”, Minh "mèo", Long “bo-rét”, Bằng “ruồi”, Sinh "tầu".
(Anh Nguyễn Mạnh Bằng sau này là Giám đốc Công ty Viễn thông điện lực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam).




Anh Hoàng Quốc Khánh (Khánh "địa chủ") VK76 (bên phải) là Giám đốc Công ty cổ phần dịch vụ truyền thông và công nghệ số Nacencomm thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ. Thành tích đáng nể nhất của Nacencomm là các chương trình truyền hình có bản quyền của 87% các khách sạn 3 đến 5 sao ở Việt Nam (trong số đó có khách sạn Hilton Hà Nội Opera danh tiếng) là do Nacencomm cung cấp.



Anh Hoàng Đình Giang VK76 (Giang "kều") (áo trắng, đeo kính) trong lần gặp gỡ các anh em đồng đội tại Thành phố Hồ Chí Minh.



Anh Nguyễn Lê Việt VK76 (phì phèo thuốc lá) cũng có mặt trong buổi gặp gỡ này. Ở ảnh ngay phía trên, anh Việt đang "tu" bia.



Anh Đặng Vũ Long VK76 (bên phải) gặp lại thủ trưởng cũ Lê Khôi (bên trái) trong một lần đi nghỉ mát



Anh Phan Khắc Cường VK76 trong một lần từ thành phố Hồ Chí Minh ra Bắc thăm Cột cờ Lũng Cú (Hà Giang)



Năm 2008, anh Phan Khắc Cường có chuyến đi thăm lại nước Hung

Anh Phan Khắc Cường VK76 vẫn hay nhắc tới những người bạn học cùng lớp đại học ở ELTE. Đó là cô gái người Hung (đúng hơn là Do Thái) tên là Fried Katalin "mặt thì xinh, nhưng hông phát triển hơi mập", con gái rượu thầy giáo dạy môn Đại số là Giáo sư Fried Ervin. Hay là một anh bạn có quê ở... chấu Phi. "Hồi tôi học ở ELTE có anh Kwami người Togo, nó hứa, nếu tôi về Việt Nam khó khăn thì sang Togo, nó nhận cho, nhưng phải biết tiếng Togo. Mình tìm mãi chả ai dạy tiếng Togo, nên thôi", anh Cường tiếc nuối.

Về đào tạo sĩ quan kỹ thuật, có lẽ, do quân số học viên quân sự trong trường Zalka Máté vẫn đang còn khá đông, nên Bộ Quốc phòng không gửi người đi đào tạo.

Thay vào đó, lần đầu tiên ta gửi một đoàn đi đào tạo tại Học viện quân sự cấp cao mang tên Zrinyi Miklós (Zrínyi Miklós Katonai Akadémia – viết tắt là ZMKA). Đoàn này do quân chủng Phòng không không quân gửi đi, gồm các anh: anh Nhân (trung úy), anh Vừng (trung úy), anh Lệ (trung úy), anh Huyên (trung úy), anh Dương Thành Công (thiếu úy) học bổ túc về thông tin binh chủng hợp thành (học bằng tiếng Hung). Đến năm 1978, đoàn này tốt nghiệp về nước.

Anh Dương Thành Công kể, khi về nước, các anh được bạn yêu cầu cứ để lại toàn bộ sách vở, tài liệu lại, Học viện sẽ có trách nhiệm gửi về Việt Nam cho anh em mình. Khoảng 3 tháng sau ngày về nước, các anh mới nhận được các thùng sách vở, tài liệu của mình. Mừng quá. Nhưng giở ra thì thấy, tất cả những chỗ có con số, đều bị bạn dùng bút dạ màu đen viết đè lên, không còn nhìn được cái gì. Chắc để đảm bảo bí mật !

Năm 1977, ta gửi hai đoàn, mỗi đoàn 5 người đi học tại ZMKA.

Đoàn thứ nhất gồm các anh: Đỗ Khắc Chiến (VK67), Nguyễn Hữu Nhị (VK67), Đặng Công Nam (VK67), Nguyễn Hữu Tuấn (học dân sự, sau chuyển vào bộ đội), Nguyễn Văn Phú (VK68) đi học về tự động hóa chỉ huy. Do các anh đã biết tiếng Hung, nên không phải học dự bị tại Doanh trại Petofi, mà vào học luôn trong Học viện. Anh Đỗ Khắc Chiến sau này chuyển ngành, sang Bộ Văn hóa thông tin làm Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả.

Đoàn thứ hai do Bộ Tư lệnh Thông tin gửi sang học bổ túc về thông tin lục quân. Đoàn gồm các anh: Trịnh Bá Kể, Nguyễn Chiến, Nguyễn Văn Thắng, Cao Minh Thái, Ngô Bình, tất cả đều đeo quân hàm trung úy. Sau một năm học tiếng Hung tại Doanh trại Petofi, các anh chuyển vào ZMKA. Anh Nguyễn Chiến (cựu học viên Khóa 4 Đại học Kỹ thuật quân sự) sau này được phong Trung tướng, từng giữ các chức vụ quan trọng: Cục trưởng Cục Nhà trường (Bộ Tổng tham mưu), Tư lệnh binh chủng Thông tin, Trưởng ban Cơ yếu Chính phủ.



Các anh nghiên cứu sinh NCS-76 chụp ảnh cùng đoàn Học viện ZMKA-77.
Từ trái sang phải: Nguyễn Văn Thắng, Cao Minh Thái, Lê Khôi, Nguyễn Chiến, người Hung, Trịnh Bá Kể, Ngô Bình, Võ Ngọc Anh, Nguyễn Ngọc Lương.



Đoàn học viên ZMKA-77 chụp ảnh bên tượng Zrinyi Miklós trong Học viện ZMKA.
Từ trái sang phải: Cao Minh Thái (2), Nguyễn Chiến (6), Ngô Bình (7), Nguyễn Văn Thắng (8).

Khóa 1978-1980, Học viện ZMKA đào tạo tổng cộng 236 học viên với 16 lớp chuyên ngành: sĩ quan chỉ huy trinh sát (felderítőtiszt) (mang phiên hiệu A–7); sĩ quan chỉ huy binh chủng hợp thành (összfegyvernemi tiszt) (A–16 và A-17); ra-đa (rádiófelderítő) (A–18); sĩ quan chỉ huy thông tin (híradó) (A–19); sĩ quan chỉ huy thông tin cho Việt Nam (A–19/V); sĩ quan chỉ huy phòng vệ hóa học (vegyivédelmi) (A–20); sĩ quan chỉ huy hậu cần (hadtáp) (A–21); sĩ quan kỹ thuật tăng thiết giáp (fegyverzeti, páncélos és gépjármű-technikus) (A–22); sĩ quan chỉ huy biên phòng (határőr) (A–23); sĩ quan chỉ huy không quân (repülő) (B–3); sĩ quan chỉ huy điện báo (rádiótechnikai) (B–4); sĩ quan chỉ huy bộ binh (szárazföldi összfegyvernemi) (C–1); sĩ quan chính trị phòng không (honi légvédelmi politikai munkás) (C–2); sĩ quan chỉ huy binh chủng hợp thành hệ tại chức (levelező összfegyvernemi) (L–1); sĩ quan chính trị hệ tại chức (levelező politikai munkás tiszt) (L–5).

Một vài con số thống kê: Trong số 236 học viên, có 11 người không phải Đảng viên; có 184 người ở độ tuổi 30 đến 40; 71 người đã từng chỉ huy cấp tiểu đội và trung đội; 47 người đã từng chỉ huy cấp đại đội và phân đội; 72 người đã từng chỉ huy cấp tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn; 36 người đã từng chỉ huy cấp quân đoàn và tập đoàn quân; 10 người đã từng chỉ huy cấp phương diện quân và ở các cơ quan Bộ Tổng tư lệnh.

Về nền tảng học vấn, trong số 236 học viên thì 124 người đã tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng quân sự, 97 người tốt nghiệp các trường đào tạo sĩ quan; 15 người hoàn thành các khóa học.

Sau thời gian học tập và rèn luyện, các học viên bước vào kỳ thi sát hạch cấp quốc gia để nhận bằng tốt nghiệp.

Các Chủ tịch Hội đồng kỳ thi quốc gia của các chuyên ngành đều là các vị tướng lĩnh đến từ Bộ Tổng Tư lệnh, Tổng cục Chính trị, Bộ Tư lệnh các quân khu, Bộ tư lệnh Biên phòng, và thủ trưởng các khoa chuyên ngành của Học viện ZMKA cũng như Học viện chính trị.

Chung cuộc, Hội đồng kỳ thi quốc gia đã trao 28 bằng đỏ và 208 bằng tốt nghiệp cho các học viên, theo những tiêu chí mà Hội đồng đã bàn bạc, thảo luận và quyết định đưa ra truớc kỳ thi.

Cả 5 học viên Việt Nam đều nhận bằng tốt nghiệp, không ai nhận bằng đỏ. Tuy nhiên, trong kỳ thi trước đó về những sáng kiến, kinh nghiệm đúc rút từ thực tiễn chiến đấu do Học viện phát động, có 1 học viên Việt Nam được nhận bằng khen và phần thưởng của Ban Giám đốc Học viện (trong tổng số 17 người).

Kết thúc khóa học, Giám đốc Học viện là Thượng tướng Lantódi József đã trao bằng khen và phần thưởng cho 20 cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc, với hai mức thưởng bằng tiền mặt là 5.000 phô-rinh và 3.500 phô-rinh. Những học viên Hung-ga-ri xuất sắc nhất được cử đi học tiếp ở Học viện quân sự cao cấp mang tên Frun-de của Liên Xô.

Học viện ZMKA là cơ sở đào tạo được Bộ Quốc phòng Hung-ga-ri đánh giá rất cao. Giữa năm 1979, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hung-ga-ri là Đại tướng Czinege Lajos đã cử Đại tá Kolozsvári Sándor, là Trưởng khoa Thông tin, sang Cộng hòa Ả-rập Xi-ri giữ chức vụ cố vấn kỹ thuật cho Ban Giám đốc Học viện kỹ thuật quân sự ở Aleppo (Haleb). Trước đó, từ tháng 2 đén tháng 6-1979, Học viện đã tổ chức khóa tập huấn cho 10 sĩ quan của Cộng hòa I-răc về công tác chỉ huy lưới lửa phòng không nhân dân. Kết quả học tập của nhóm sĩ quan này là: 2 xuất sắc, 5 giỏi, 3 khá. Năm 1980, theo sự điều động của Bộ Quốc phòng Hung-ga-ri, 2 giáo viên chính của Học viện lên đường sang I-răc làm công tác giảng dạy 1 năm. Năm 1987, học viện ZMKA lại đào tạo thêm cho I-răc 15 sĩ quan nữa, cũng về công tác chỉ huy lưới lửa phòng không nhân dân.



Kết quả học tập của 16 lớp chuyên ngành Khóa đào tạo 1978-1980.




Anh Dương Thành Công (người đeo kính), thành viên Đoàn VK67, quay lại Hung-ga-ri năm 1976, là học viên quân sự lớp bổ túc thông tin binh chủng hợp thành khóa 1976-1978 tại Học viện quân sự cấp cao ZMKA. Người bắt tay anh Công là anh Đõ Văn Hòa VK75.



Anh Cao Minh Thái, sang Hung năm 1977, học viên quân sự lớp sĩ quan thông tin lục quân khóa 1978-1980 tại Học viện quân sự cấp cao ZMKA. Người ngồi cạnh là anh Phạm Hữu Tuấn.


Đến năm 1978, ta lại cử tiếp một nhóm sang học ở ZMKA. Các anh này cũng có một năm học tiếng Hung tại Doanh trại Petofi.

Khóa 1979-1981, Học viện ZMKA đào tạo 191 học viên (trong đó, 179 người đã tốt nghiệp đại học hay cao đẳng quân sự) với 13 lớp chuyên ngành: sĩ quan chỉ huy binh chủng hợp thành (összfegyvernemi tiszt) (A–31 và A-32) có 24 học viên; sĩ quan chỉ huy binh chủng hợp thành cho Việt Nam (A–33/V) có 5 học viên; sĩ quan phân đội trinh sát (csapatfelderítő) (A–34) có 14 học viên; sĩ quan chỉ huy pháo binh và tên lửa (rakéta és tüzér) (A–35) có 13 học viên; sĩ quan chỉ huy kỹ thuật (műszaki) (A–36) có 14 học viên; sĩ quan chỉ huy kỹ thuật tăng thiết giáp (fegyverzeti, páncélos és gépjármű-technikus) (A–37) có 16 học viên; sĩ quan chỉ huy hậu cần (hadtáp) (A–38) có 14 học viên; sĩ quan chỉ huy biên phòng (határőr) (A–39) có 15 học viên; sĩ quan chỉ huy trinh sát (felderítő) (A–40) có 13 học viên; sĩ quan chính trị (politikai munkás tiszt) (C–4 và C-5); sĩ quan chỉ huy binh chủng hợp thành hệ tại chức (levelező összfegyvernemi) (L–6).

Hội đồng kỳ thi quốc gia đã trao 42 bằng đỏ cho các học viên, trong đó có 5 học viên Việt Nam. Tên của các học viên này được ghi lên Bảng vàng truyền thống của Học viện.

Xin trích dẫn nguyên văn trong Hồ sơ lưu trữ của Học viện:

"A honvédelmi miniszter a 41. számú parancsában dicséretben részesítette a ZMKA-n és a Szovjetunió katonai akadémiáin kitüntetéses (vörös) oklevéllel végzetteket, továbbá elrendelte az alábbi tisztek nevének a Kiválóak tábláján való megörökítését: Bene István, Jaczó Sándor, Nagy Sándor és Pettkó Gábor alezredes; Bán József, Csűrös János, Hollósi Nándor, Mátrai József, Seemann László és Simon Ákos mk. alezredes; Bátor Ferenc, Berek Lajos, Bóna Pál, Burján Jenő, Dombai Imre, Fűzi Endre, Gréczi Sándor, Iványosi Szabó István, Izsa Jenő, Karman Ferenc, Kiszel András, Kovács Dezső, Madarász Károly, Major Ottó, Molnár István, Németh István, Ronkovics József, Sinka József, Szilárd András, Utassy László, Vámos Sándor őrnagy, valamint Bajó József mk. őrnagy és Farkas János hőr. őrnagy; Demeter István, Jároscsák Miklós, Pászka Tibor, Rataj András, Simon Csaba, Sipos István, Tóth Béla, Tóth János, Újfalusi Csaba,
Pham Xuan Hung, Le Nguyen Hong, Pham Ngoc Quang, Pham Dinh Quoc Te és Le Tran százados".

Anh Phạm Xuân Hùng trong nhóm VK78 học ở ZMKA sau này được phong quân hàm cấp tướng: Thiếu tướng (2002), Trung tướng (2006), Thượng tướng (2014). Anh Phạm Xuân Hùng từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như: Tư lệnh Quân đoàn 3 (2002), Tư lệnh Quân khu 3 (2005), Giám đốc Học viện Quốc phòng (2007), Phó Tổng Tham mưu trưởng (2008). Đây là niềm tự hào của các học viên quân sự Việt Nam tại Hung-ga-ri.



Kết quả học tập của 13 lớp chuyên ngành Khóa đào tạo 1979-1981



Kết quả học tập của 13 lớp chuyên ngành Khóa đào tạo 1980-1982 (không có học viên Việt Nam)



Kết quả học tập của 15 lớp chuyên ngành Khóa đào tạo 1981-1983 (không có học viên Việt Nam)

Tại Học viện ZMKA còn có Khoa Ngoại ngữ, trong đó có 2 Bộ môn là Tiếng Nga và Tiếng Đức, chuyên đào tạo về ngoại ngữ cho các học viên chuẩn bị đi bổ túc thêm ở các Học viện quân sự cao cấp trong khối Vác-sa-va. Các học viên quân sự Việt Nam không phải học ngoại ngữ.

Tuy nhiên, có môn Thể dục, thì không biết các học viên quân sự Việt Nam có tham gia không. Yêu cầu của Học viện khá cao.

Học viên dưới 25 tuổi:
- Hành quân đường trường (10 km): Giỏi (1 giờ 05 phút); Khá (1 giờ 09 phút); Đạt yêu cầu (1 giờ 15 phút).
- Chạy cự ly dài (3000 m): Giỏi (13 phút); Khá (13 phút 50); Đạt yêu cầu (15 phút).
- Chạy cự ly ngắn (100 m): Giỏi (14 giây 50); Khá (15 giây 20); Đạt yêu cầu (16 giây).
- Nhảy xa : Giỏi (4,2 m); Khá (3,9 m); Đạt yêu cầu (3,6 m).
- Ném tạ : Giỏi (54 m); Khá (47 m); Đạt yêu cầu (40 m).
- Nâng tạ 1 tay : Giỏi (36 lần); Khá (30 lần); Đạt yêu cầu (20 lần).
- Bơi cự ly 100 m : Giỏi (2 phút); Khá (2 phút 20 giây); Đạt yêu cầu (2 phút 50 giây).

Từ 26 tuổi đến 35 tuổi:
- Chạy cự ly dài (1500 m): Giỏi (6 phút 15 giây); Khá (6 phút 30); Đạt yêu cầu (7 phút).
- Chạy cự ly ngắn (100 m): Giỏi (15 giây 20); Khá (16 giây); Đạt yêu cầu (16 giây 80).
- Nhảy xa : Giỏi (3,9 m); Khá (3,6 m); Đạt yêu cầu (3,3 m).
- Ném tạ : Giỏi (50 m); Khá (44 m); Đạt yêu cầu (38 m).
- Nâng tạ 1 tay : Giỏi (30 lần); Khá (24 lần); Đạt yêu cầu (16 lần).
- Bơi cự ly 100 m : Giỏi (2 phút 10 giây); Khá (2 phút 30 giây); Đạt yêu cầu (bơi đủ 100 m).

Từ 36 tuổi đến 45 tuổi:
- Chạy cự ly dài (1500 m): Giỏi (6 phút 20 giây); Khá (6 phút 50); Đạt yêu cầu (7 phút 30).
- Chạy cự ly ngắn (100 m): Giỏi (15 giây 20); Khá (16 giây); Đạt yêu cầu (16 giây 80).
- Nhảy xa : Giỏi (3,9 m); Khá (3,6 m); Đạt yêu cầu (3,3 m).
- Ném tạ : Giỏi (48 m); Khá (43 m); Đạt yêu cầu (37 m).
- Nâng tạ 1 tay : Giỏi (24 lần); Khá (16 lần); Đạt yêu cầu (12 lần).
- Bơi cự ly 100 m : Giỏi (2 phút 30 giây); Khá (bơi đủ 100 m); Đạt yêu cầu (bơi đủ 75 m).




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 25.09.2017, sửa lần 90
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 878
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 10.05.2016    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Bài viết (sưu tầm?) của Phan Hồng đã có lời khen của @HUUAI và @sonhai, tôi định không có ý kiến gì. Nhưng nay thấy @sonhai đưa vào “Cây nhà – Lá vườn” tôi thấy cần có một số ý kiến đính chính để bài viết được sát với thực tế hơn.

Tôi có ý kiến ở 2 đoạn mà Phan Hồng lấy từ bài viết khác về, sửa lại nhưng không chính xác:
Đoạn thứ nhất:


Trích dẫn:
PhanHong đã viết: CÂU CHUYỆN VỀ NHỮNG HỌC VIÊN QUÂN SỰ TẠI HUNG-GA-RI (tiếp theo)


…………………
…………………
Hồi ức của anh Lương Văn Khánh có đoạn:

"Đoàn chúng tôi sang Hungary cuối tháng 8 năm 1972, do anh Phan Chỉ (lúc đó là Thượng uý, Kỹ sư cơ khí Khoá 1 Đại học Bách khoa Hà Nội sang Hung-ga-ri làm nghiên cứu sinh) làm Đoàn trưởng.
……………………
……………………
Tôi nghĩ, không hiểu sắp tới mình sẽ học hành thế nào đây với cái thứ ngôn ngữ kỳ lạ này".

Đoàn sang năm 1972 có 20 người, do anh Phan Chỉ làm Trưởng đoàn, anh Phạm Ngọc Điệp làm Phó đoàn. Trong năm đầu tiên học dự bị, 18 anh em học chung môn tiếng Hung và ôn luyện các môn Toán, Lý, Hóa tại doanh trại Petőfi, từ tháng 9/1972 đến tháng 8/1973. Riêng hai anh Phan Chỉ, Phạm Ngọc Điệp là nghiên cứu sinh, học tiếng Hung ở trường ngoài. Vào giữa tháng 8/1973, sau khi đi nghỉ hè về, Đoàn được tách ra thành 4 nhóm nhỏ cho các năm học tiếp theo:

Nhóm 1: Có 2 anh nghiên cứu sinh. Anh Phan Chỉ nghiên cứu vũ khí; anh Phạm Ngọc Điệp nghiên cứu về thông tin-liên lạc (információs-kommunikációs). Sau này, anh Phan Chỉ là Viện trưởng Viện Vũ khí, Tổng cục Kỹ thuật.; anh Phạm Ngọc Điệp là Tổng Giám đốc Tổng Công ty viễn thông quân đội Viettel.

Nhóm 2: gồm 10 người, học tại Trường Cao đẳng Kỹ thuật Quân sự Zalka Máté (Zalka Máté Katonai Műszaki Főiskola), đó là các anh Nguyễn Đức Viết, Nguyễn Văn Hồng, Nguyễn Tuấn Phong, Lê Văn Hà, Nguyễn Huy Bạo, Nguyễn Lương Duyên, Lương Văn Khánh, Hà Văn Diện, Nguyễn Hữu Cử, Nguyễn Văn Mẫn. Nhóm này không ở trong Doanh trại Petőfi nữa, mà chuyển về ở trong Ký túc xá của trường Cao đẳng kỹ thuật quân sự Zalka Máté.

Nhóm 3: Có 3 người học tại trường BME, ngành Truyền dữ liệu (Adat-átvitel ágazat), gồm anh Đinh Ích Bạch, Nguyễn Thế Thọ, Nguyễn Đình Thuận.

Nhóm 4: Có 5 người học tại trường BME, ngành Kỹ thuật số (Digitális ágazat), gồm Phạm Hồng Quang, Nguyễn Hữu Hữu, Lê Văn Dũng, Lưu Minh Sơn và Phan Văn Hải (sau bổ sung thêm anh Vũ Minh Trực - VK70).



Phần đoạn trích “Hồi ký của anh Lương Văn Khánh” tôi không có ý kiến (vì “đúng luật”). Nhưng phần Phan Hồng trích từ bài viết của @Haidq ngày 16/8/2012 (Xem bài viết ở đây Read Read Read )và sửa lại một số chỗ không chính xác như:

- Ngày ấy chỉ có anh Phan Chỉ làm Trưởng đoàn, không có Phó đoàn;

- Anh Phạm Ngọc Điệp là Tổng Giám đốc Công ty Điện tử - Thiết bị Thông tin SIGNALCO tiền thân của Tổng Công ty viễn thông quân đội Viettel sau này. Tuy nhiên anh Điệp chính là “Cha đẻ” của Viettel!

- Anh Vũ Minh Trực – VK70 bổ sung vào nhóm 3: ngành Truyền dữ liệu (Adat-átvitel ágazat), chứ không phải thuộc nhóm 4 (Digitális ágazat). Sau khi về Việt Nam anh Trực cùng 3 anh Bạch, Thọ, Thuận vào dạy ở trường SQTT Nha Trang.

Đoạn thứ hai:

Trích dẫn:
PhanHong đã viết: CÂU CHUYỆN VỀ NHỮNG HỌC VIÊN QUÂN SỰ TẠI HUNG-GA-RI (tiếp theo)


…………………
………………….

Đoàn này có nhiều anh mê chụp ảnh, nên còn giữ được nhiều ảnh chụp thời đó.



Đoàn VK72 chụp ảnh trên đỉnh núi Ghe-lê (Gellért-hegy) với ngài Chỉ huy phó, phụ trách về công tác chính trị ở Doanh trại Petofi.

Hàng trước, từ trái qua phải:
1: Đinh Ích Bạch (sinh viên BME)
2: Lương Văn Khánh (học viên quân sự ZMKMF)
3: Nguyễn Đình Thuận (sinh viên BME)
4: Anh Phan Chỉ (nghiên cứu sinh)
5: Ông Csiszár István: Chỉ huy phó, phụ trách công tác chính trị
6: Nguyễn Huy Bạo (học viên quân sự ZMKMF)
7: Nguyễn Đức Hồng (học viên quân sự ZMKMF)
8: Phan Văn Hải (sinh viên BME)
9: Bùi Thế Thọ (sinh viên BME)

Hàng sau, từ trái qua phải:
10: Lê Văn Hà (học viên quân sự ZMKMF)
11: Lưu Minh Sơn (sinh viên BME)
12: Nguyễn Hữu Hữu (sinh viên BME)
13: Anh Phạm Ngọc Điệp (nghiên cứu sinh)
14: Lê Văn Dũng (sinh viên BME)
15: Hà Văn Diện (học viên quân sự ZMKMF)
16: Nguyễn Tuấn Phong (học viên quân sự ZMKMF)
17: Nguyễn Hữu Cử (sinh viên BME)
18: Nguyễn Văn Mẫn (sinh viên BME)
19: Nguyễn Văn Viết (học viên quân sự ZMKMF)
20: Nguyễn Lương Duyên (sinh viên BME)
12: Phạm Hồng Quang (sinh viên BME)

-------- (Ảnh do các anh Lương Văn Khánh và Phan Văn Hải của đoàn VK72 cho phép công bố)


Đoạn trích ở trên Phan Hồng lấy từ bài viết của anh @Khanhque viết ngày 7/8/2012 (xem tại đây Read Read Read ) rồi sửa lại. Tuy nhiên Phan Hồng đã chú thích sai 3 trường hợp:
17: Nguyễn Hữu Cử (sinh viên BME)
18: Nguyễn Văn Mẫn (sinh viên BME)
20: Nguyễn Lương Duyên (sinh viên BME)
Ba anh này học ở ZMKMF, chứ khong phải sinh viên BME! Nếu Phan Hồng chú ý một chút về đoạn trích từ bài viết của @Haidq ở trên thì không có sự nhầm lẫn này!

Nhân đây tôi xin có một số ý này với @PhanHong..

Phải công nhận @PhanHong rất chịu khó nghiên cứu, tìm đọc các tài liệu để phục vụ cho bài viết của mình. Ngoài ra tần suất viết bài cũng rất lớn, trong 10 năm có 3650 ngày thì @PhanHong viết tới 2777 bài! Khó ai đạt được kỷ lục này! Mong Phan Hồng tiếp tục phát huy để trang nhà sống mãi.

Để chất lượng bài viết cao hơn, @PhanHong nên để ý mấy điều này:

- Các trích dẫn chỉ nêu tên tác giả là chưa đủ, nên đưa thêm thông tin về nguồn trích dẫn như đường Link hay tài liệu tham khảo.
- Ghi chú dưới bức ảnh nên để sát phía trên hoặc phía dưới tấm ảnh đó, không để lửng lơ ở giữa, độc giả khó phân biệt là chú thích cho ảnh trên hay ảnh dưới. Điều này tôi đã góp ý một lần nhưng không thấy @PhanHong sửa và cũng không thấy phản hồi lại!
-
Chuyện “vác tù bà hàng tổng” chẳng được gì, nhưng bị “góp ý” cũng khó chịu phải không? Thôi đã “duyên nợ” rồi ta cố gắng tiếp tục vậy!…

He he... big grin big grin big grin
PVH.

at wits' end at wits' end at wits' end
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Những bài viết gợi về ký ức một thời Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5, 6 ... 10, 11, 12  Trang kế
Trang 5 trong tổng số 12 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser