vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - Vài cảm nghĩ về các nhà văn
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

Vài cảm nghĩ về các nhà văn
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 38, 39, 40 ... 44, 45, 46  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 22.11.2014    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


VỆ Ý VÀ CHIM HẠC

Thời Chiến quốc, nước Tàu có Vệ Ý Công, vua nước Vệ, lên ngôi đã 9 năm, mà tính rất lười, không để mắt đến việc nước, chỉ thích chơi một giống chim gọi là chim hạc. Giống chim hạc, tính ưa sạch sẽ, hình dáng thanh nhã, tiếng kêu đã hay, dáng múa cũng khéo. Thấy Vệ Ý Công thích chim hạc, người nước Vệ thường hay đem hạc đến tiến, ai tiến hạc cũng được nhà vua trọng thưởng. Thành ra, trong cung nuôi đầy những hạc, kể hàng mấy trăm con. Vệ Ý Công lại thưởng phẩm hàm và cấp lương bổng cho hạc, con nào đẹp thì được ăn lộc quan đại phu. Mỗi khi Vệ Ý Công đi chơi đâu, lại cho mấy cỗ xe lớn chở chim hạc đi dàn ở phía trước mặt, gọi là Hạc tướng quân. Những người nuôi hạc đều được ăn lương. Triều đình phải thu thuế của dân thật nặng, để có đủ tiền cấp lương cho hạc.

Bấy giờ, có nước Bắc Địch rất cường thịnh, nhân nước Vệ suy yếu, đem quân chinh phục. Vệ Ý Công đang sai người xe hạc đi chơi, nghe báo có quân Bắc Địch đến đánh, giật mình kinh sợ, tức khắc hạ lệnh gọi quân để đi đánh giặc. Dân nước Vệ bỏ trốn cả, không ai chịu ra lính.

Vệ Ý Công sai quan đi bắt, được hơn trăm người, đem về tra hỏi. Dân nước Vệ nói: Chúa công dùng một giống vật cũng đủ để đánh giặc, cần gì đến chúng tôi. Ý nói, giống vật đó là chim hạc, đã được phong là tướng quân. Vệ Ý Công nói: Nay ta đã biết tội, ta xin theo ý dân mà đuổi hết chim hạc đi. Nhưng đuổi chim rất khó, chim quen chỗ ở rồi, cứ quanh quẩn mãi, không chịu đi đâu cả. Dân oán trách, làm bài ca rằng: “Hạc được ăn lương, dân phải cày ruộng, hạc được ngồi xe, dân phải vác giá. Nay hạc đi đâu, để ta khổ sở”. Vệ Ý Công không còn cách nào khác, quyết dẫn đầu hàng quân. Nhưng khi biết hối hận thì đã muộn, không chống cự nổi quân giặc, bị giặc giết chết.

Kinh Dịch có quẻ Địa Phong Thăng ứng nghiệm với câu chuyện này.

Thăng là Lên, có tượng là mầm cây sinh ra từ đất, theo ánh sáng trời mà mọc lên. Quẻ rất hanh thông nhưng Kinh Dịch dạy rằng được quẻ này phải góp nhặt từng cái tốt mà lên, làm nguyên thủ phải dựa vào người có tài đức. Quẻ này có hào 3 cực kỳ lợi hại. Hào 3 quẻ Thăng có câu: Lên, dễ dàng như vào cái ấp không người. Lại có câu: Số xấu thành quẻ Sư: Xe chở thây về. Ý nói rằng, hào 3 quẻ Thăng ở vào vị trí rất tốt, người nào đứng hào này có thuận lợi đi lên phía trước dễ dàng như vào chỗ không người.

Nhưng hào 3 quẻ Thăng là hào dương, nều gặp hoàn cảnh xấu, biến thành hào âm, thì quẻ Địa Phong Thăng sẽ biến thành quẻ Địa Thủy Sư. Hào 3 quẻ Thăng sẽ biến thành hào 3 quẻ Sư.

Địa Thủy Sư là quẻ nói về người đứng đầu đám đông, hoặc làm tướng lĩnh đứng đầu hàng quân. Quẻ này có hào 3 nói về vấn nạn người quẻ Sư, khi gặp hào này thì rơi vào hoàn cảnh tài sơ, đức mỏng, dân chúng không phục. Ra quân thì thất bại là cái chắc, xác chết chở đầy xe.

Câu chuyện Vệ Ý Công nuôi chim hạc, dân tiến chim hạc, đi đâu thì cho xe hạc đi trước, coi hạc là tướng quân chính ứng với hào 3 quẻ Thăng: Lên, dễ dàng như vào cái ấp không người. Rủi đến khi quân Bắc Địch đến, chẳng khác nào hào 3 dương quẻ Thăng biến thành hào 3 âm quẻ Sư, dân chúng không phục, xe chở thây về. Bài học hào 3 quẻ Thăng quả thực rất rõ ràng, khi gặp thời thế cho ta tiến lên dễ dàng như vào chỗ không người, hãy nhớ rằng, có lúc thất thế, khiến ta rơi vào thảm cảnh.

Vệ Ý Công coi hạc là tướng quân, đến nỗi bao nhiêu người tài đức trong dân rơi rụng hết. Đến khi biết lỗi mình, tiến lên hàng đầu, thì chỉ còn cách phơi thây trên chiến trường. Dân không bằng lòng Vệ Ý Công, nhưng biết lỗi mà xông lên, thì dù thất bại, dân vẫn rủ lòng thương ghi nhận, “ mở lòng” mà đón. Sau sự kiện ấy, nước Vệ được nước Tề đem quân đến cứu, còn giúp cho xây thành cao để bảo vệ nước.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 9 năm 2013)

BÀN VỀ CHỮ THUẬN

Thuận nghĩa là theo. Nếu tôi không nhầm thì Kinh Dịch có 4 quẻ bàn về chữ thuận.

Thứ nhất là quẻ Thuần Tốn. Quẻ có tượng “hai làn gió”. Gió theo gió thì chỗ nào cũng nhập vào được. Cho nên, tốn thuận là để nhập vào. Chữ thuận ở quẻ Tốn đi với chữ vào.

Văn học Việt Nam thời này có nhà văn Y Ban có mệnh Thuần Tốn. Chị được cha mẹ cho theo ngành y, nhưng chị bỏ ngành y, thuận nhập rất nhanh vào văn chương và nổi danh về văn chương, chị nhập nhanh vào làng báo rồi làng văn, nhập vào đủ các đề tài văn chương, có trường hợp, chị từ chối cả giải thưởng để đi theo ý mình.

Thứ hai là quẻ Thuần Khôn. Quẻ Khôn đi sau quẻ Càn. Càn có tượng là Trời. Khôn có tượng là Đất. Càn có bốn đức Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Các đức Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh quẻ Khôn có đủ như quẻ Càn, chỉ riêng về đức Trinh (chính và bền) thì Khôn hơi khác: Tuy chính và bền, nhưng phải Thuận. Cũng vì Khôn có đức thuận, cho nên, khởi xướng phải là Càn, Khôn chỉ tiếp tục công việc của Càn. Tính thuận là đặc trưng của Khôn.

Lịch sử Việt Nam có sự tích Bà Triệu, tức Triệu Trinh Nương (225 - 248), là người con gái có sức mạnh, giỏi võ nghệ, lại có chí lớn, đã phò tá ông anh là Triệu Quốc Đạt, nổi dậy đánh chiếm quận lỵ Tư Phố của quân nhà Ngô trên đất Cửu Chân. Khi Triệu Quốc Đạt lâm bệnh qua đời, bà được nghĩa binh tôn làm tướng cầm quân. Sau do chênh lệch về lực lượng nên nghĩa quân thua trận, bà Triệu đã tuẫn tiết trên núi Tùng, Thanh Hóa, năm 23 tuổi. Ca dao ta có câu: “ Muốn coi lên núi mà coi / Coi bà Triệu Ẩu cưỡi voi đánh cồng”. Đức Thuận (theo) của Bà Triệu thể hiện ở việc bà đã thuyết phục ông anh đứng lên khởi nghĩa, phù trợ ông đến khi ông qua đời mới nhận làm Nhụy Kiều tướng quân.

Thứ ba là quẻ Thủy Thiên Nhu bàn về Đợi Thời, đợi thời cơ đến mà hành động. Rồi thứ tư đến quẻ Trạch Lôi Tùy bàn về Tùy Thời, chọn thời mà theo. Hai quẻ Nhu và Tùy đều có nghĩa là Thuận.

Nhưng Nhu là “thuận chờ”, mà Tùy là “thuận theo”.

Người quẻ Tùy thường tỉnh táo xem xét thời cơ, chọn lựa thời cơ, biết lúc nào, theo ai thì thuận, đặt mình vào đúng thời, tiến lui kịp thời, trên bàn cờ cuộc đời đi nước cờ nào trúng nước cờ ấy nên họ thường giành thắng lợi trong những tình huống biến động phức tạp.

Người quẻ Nhu thì khác. Người quẻ Nhu thường sắc bén trong nhận định cái giờ điểm thời cơ. Nếu người quẻ Tùy có tính cách mềm dẻo, linh hoạt thì người quẻ Nhu thường có tính cứng rắn, thận trọng, do cứng rắn muốn tiến lên, nhưng vì trước mặt còn hiểm trở, nên phải thận trọng. Sự thận trọng thể hiện ở chỗ biết chờ đợi, nên Nhu có nghĩa chờ đợi. Người quẻ Nhu rất thuận cho những khi phải “vượt sông lớn”.

Nếu trong lịch sử Việt Nam, có Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm hành động tiêu biểu cho quẻ Trạch Lôi Tùy (sau này còn có Ngô Thời Nhậm), thì đến thế kỷ 18 có Nguyễn Ánh tiêu biểu cho tinh thần Thủy Thiên Nhu.

Trước mặt Nguyễn Ánh bao giờ cũng là con sông hiểm trở đầy thử thách, nhiều lần phải trốn tránh ra đảo khơi, ba lần ẩn tránh bên Xiêm, lần thứ ba kéo dài đến ba năm. Nhưng chính lần thứ ba này trông thấy cái thời thuận cho việc trở về nước, chiếm lấy căn cứ Gia Định, tìm mọi cách về bằng được, kể cả phải đi trốn vua Xiêm. Mấy câu trên là tôi nhắc lại trong bài "Góc nhìn Bát quái": Người hùng Thủy Thiên Nhu. Đọc bình luận quẻ Thủy Thiên Nhu của Phan Bội Châu có câu “Thời chưa đến, ai dắt mấy, ta cũng không đi, thời đến rồi, ai kéo lại, ta cũng cố tới”.

Như vậy, một chữ thuận trong Kinh Dịch có 4 âm sắc minh triết: thuận nhập (Tốn), thuận hành (Khôn), thuận theo (Tùy), thuận chờ (Nhu). Phải chăng là như vậy?

Tôi lại nhớ anh bạn, nhà thơ Chim Trắng, người quẻ Nhu thời bây giờ. Trên kia, tôi chưa kể một câu chuyện, khi Chim Trắng biết là cái thời cuối cùng của mình đã đến, anh viết bài thơ di cảo: “Ngắt bông hồng sắp tàn thả xuống nước/ Từng cánh từng cánh thi nhau rã/ Tôi yêu cách rã của hoa trước lúc lụi tàn/ Không thể nụ hai lần hoa hai lần/ Hương còn gì cho ai/ Nến lụi bấc không sáng nổi mình/ Sáng gì cho ai/ Gửi lời chào hai ngón tay ta/ Gửi lời chào ngọn gió”. Nghe nói, khi vào bệnh viện cấp cứu, Chim Trắng đã tự bứt dây truyền dịch và hét lên: “Tôi là người tự do. Nên nhớ: Tôi là người tự do”.

Nhà văn Toan Ánh trong cuốn sách “Nếp cũ” có kể nhiều chuyện người Việt nhu thuận đợi thời, khi đất nước rơi vào tay thống trị của thực dân Pháp. Thời niên thiếu của Toan Ánh, thấy ông ngoại của mình còn giữ trong rương một thanh kiếm đã gỉ, nhưng lưỡi còn sắc và kể cho cháu nghe: Thanh kiếm này là của ông Bang Tốn, tặng ông. Ông Bang Tốn cùng ông Đề Thường là nghĩa quân Cần Vương nổi dậy chống Pháp, những vết hoen gỉ này là vết máu. Nghĩa quân tuy thất bại, nhưng ông còn giữ thanh kiếm này và chỉ trao nó cho những người có chí, có gan chống lại kẻ đã giày xéo lên núi sông mình. Thanh kiếm này là bảo vật của gia tộc bên ngoại cháu. Ông sẽ truyền lại cho cậu (cha) cháu. Nhưng cậu cháu bị chúng nó bắt đi, không biết có còn sống mà về không. Nếu cậu cháu không về, ông vẫn phải lựa người mới dám giao kiếm. Một thanh kiếm quý, không phải ai cũng giữ nổi. Chẳng có người xứng đáng, ông đành đào sâu chôn chặt, để lưu lại cho mai sau. Thanh kiếm này tốt, bọc kỹ, chôn xuống đất dù mấy trăm năm cũng không hư. [43, 27].

Thanh kiếm ấy chính là biểu tượng quẻ Thủy Thiên Nhu, thuộc hào 4: Nhu vu huyết, chờ ở nơi máu. Vết máu thời nghĩa quân còn đó. Lưỡi kiếm không còn được dính máu quân thù, thời cơ chưa đến, nhưng chính Toan Ánh đã thấy thời cơ của dân tộc đã đến vào Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Lại kể chuyện chiếc cần câu của cụ Ngân làng Xuân Mỹ, cụ muốn mượn chiếc cần câu để “quên nỗi bực dọc do thế sự gây ra”. Vốn là một nhà nho, cụ những muốn đem tài chữ nghĩa ra giúp vua trị nước, nhưng vận nước éo le, quân Tây kéo sang chiếm đất cướp thành, cụ đành ẩn dật ở quê nhà, bạn cùng cây cỏ, sách đèn, chiếc cần câu tiêu dao ngày tháng. Với những kẻ chê cụ sao lại đi câu để chôn vùi chí khí, cụ hằng nói: “Tôi đi câu đây cũng như Khương Thượng câu ở sông Vị Thủy, tôi đi câu để nghiền ngẫm về thế sự, để ngắm cuộc đời đổi thay, để xem đám thiêu thân lao mình vào lửa, cũng như để hiểu đàn cá ham mồi mắc phải lưỡi câu!”. Cụ nói vậy, chứ cụ có câu được cá bao giờ đâu.

Lưỡi câu cụ cũng giống như lưỡi câu của Tử Nha đời nhà Chu, nghĩa là không có móc và cũng không có ngạnh để cho cá mắc mồi. Mồi cụ mắc bao nhiêu là cá ăn hết bấy nhiêu. Mấy ông bạn già bảo: “Cụ đi câu như vậy chỉ làm hư cá thôi. Cá được ăn, quen mui thấy mùi bén mãi, sau đây có người nào câu thật, chúng sẽ mắc mồi rất nhiều”. Câu nói trên chừng như hợp ý cụ lắm, nên cụ cười ha hả đáp: “Thì chính vậy, cái giống cá tham mồi, cho chúng chết. Nay chúng ăn của tôi một mồi, mai một mồi, dần dà chúng quen rồi, tôi mới câu bằng lưỡi câu thật. Lúc ấy, chúng chạy đâu cho thoát?”. Ẩn kín trong đó là cái triết lý Tùy thời: Hãy sống xứng đáng là con người trong cái thời của mình.

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao.

.............(Nguyễn Bỉnh Khiêm).

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 48 năm 2013)

TRƯỚC SÂN ĐỀN TRÌNH

Mùa xuân năm nay, tôi may mắn có dịp cùng các bạn thân đến thăm đền thờ đức trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm tại thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Dân gian vẫn gọi đây là đền Trình, lấy tước vua phong là Trình Quốc Công làm tên đền, để tôn vinh cụ Trạng, lâu ngày thành quen, nhiều người vẫn tưởng tên cụ là Trình, nên gọi là Trạng Trình, và tên đền là đền Trình.

Sau khi vào lễ cụ trước bàn thờ, thăm khu vườn tượng rất đẹp tả cảnh cụ Trạng sống giữa lòng nhân dân, tôi đứng lặng hồi lâu trước sân đền. Đây có thể là nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử nghiên cứu Kinh Dịch ở Việt Nam, và biến Dịch học vào nền tảng Minh triết Việt. Trước Nguyễn Bỉnh Khiêm hàng trăm năm, sau Nguyễn Bỉnh Khiêm hàng trăm năm, và cho đến nay, dù đã có những viên ngọc sáng trong Dịch học Việt Nam, tất cả vẫn chỉ tự nhận mình là học trò của cụ, và Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn là ngôi sao sáng nhất trên bầu trời Dịch học Việt Nam.

Cụ là tác giả bộ “Thái Ất thần kinh” (Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc - 1999), soi sáng vận hội cho cộng đồng. Theo truyền thuyết, cụ là tác giả của bộ Sấm Ký truyền miệng, trong đó có rất nhiều dự đoán chính xác cho hàng trăm năm sau.

Theo cảm nhận Dịch học của chúng tôi, căn cứ vào những hành xử của Trạng, quẻ Dịch ứng với mệnh Nguyễn Bỉnh Khiêm là quẻ Trạch Lôi Tùy, chủ mệnh thuộc hào 4.

Tùy là Thuận theo. Trạch là Đầm. Lôi là Sấm. Tượng quẻ là trong đầm có sấm.
Sấm động ở trong đầm, nước đầm theo tiếng sấm mà động, nên gọi là Tùy (theo). Trong Dịch học, Tùy Thời là quan trọng nhất. Người có mệnh Trạch Lôi Tùy là người nhậy bén với thời thế, luôn biết lắng nghe tiếng động của thời thế mà quyết định hành động của mình, khi xuất khi xử, khi tĩnh khi động, khi tiến lên, khi lui về ẩn tránh.

Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là một người như thế. Thông minh, học đâu biết đấy, có mẹ là bà Nhữ Thị Thục - người có linh cảm về vận mệnh, lại được thầy học là Lương Đắc Bằng truyền cho Lý số học theo nguyên tác “Thái Ất thần kinh”, nên nắm vững hai chữ “tùy thời” hơn ai hết.

Giữa thời buổi loạn ly, vua không ra vua, quân tướng hỗn chiến, chàng trai Nguyễn Văn Đạt (tên khai sinh) quyết định chưa tranh tài cùng thiên hạ. Đợi khi Mạc Đăng Dung lên cầm quyền, Mạc Đăng Doanh thành ông vua đảm lược, mới đổi tên là Bỉnh Khiêm, khi ấy đã 44 tuổi, mới ra thi Hương, liền đỗ đầu, vào thi Đình chiếm giải Trạng nguyên, sung vào chức vụ quan trọng trong triều đình. Đến khi khảng khái dâng sớ lên vua đòi trị tội 18 tên gian thần, không được vua chấp nhận, liền xin về trí sĩ, nghỉ hưu, lấy việc dạy học làm kế sách nuôi dân.

Lúc này, vận mệnh đã sang thời Lôi Thủy Giải.

Giải là giải quyết, giải tán, giải hoà, giải toả, là cởi mở, khoan dung. Tượng quẻ: Sấm và Mưa tác động với nhau. Người quẻ Giải là người có khí chất mạnh mẽ, có tính quyết đoán cao. Người quẻ Giải sẵn sàng khoan dung, bỏ lỗi, thứ tội cho kẻ khác, nhưng cũng là người quyết tâm giải quyết những việc quan trọng, như “bắn con chim dữ đậu trên bức tường cao”.

Chính trong thời gian này, cụ đã có những mưu lược quyết đoán giúp các nguyên thủ, biến loạn thành trị, ổn định triều đại. Như câu “Vào chùa, muốn ăn oản phải thờ Bụt” khuyên chúa Trịnh hãy duy trì ngôi vua nhà Lê, câu “Hoành Sơn nhất đái, khả dĩ dung thân” (chứ không phải “vạn đại dung thân”) đối với Nguyễn Hoàng, lời khuyên cố thủ đất Cao Bằng đối với vua Mạc Mậu Hợp. Tất cả đều có nguồn gốc từ việc nghiên cứu Kinh Dịch sáng suốt và khôn ngoan, từ đây mà tìm ra những ưu thế chiến lược, những lối thoát cho nhân dân trong một thời kỳ đầy biến động.

Tuy là nghỉ hưu, nhưng khi nhà vua huy động, cụ vẫn tham gia các chiến dịch dẹp loạn, trừ gian, với tư cách tham mưu, không phải chỉ nơi màn trướng mà cả nơi lam sơn chướng khí. Không phải chỉ có thắng mà có cả thua. Đọc hàng trăm bài thơ chữ Hán và thơ Nôm, không bài nào không có dấu ấn của Dịch học. Ẩn kín trong đó là cái triết lý “Tùy thời”: Hãy sống xứng đáng là con người trong cái Thời của mình.

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao.


Vắng vẻ như trước sân đền Trình trong mùa xuân này.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 10 năm 2013)

BÍ QUYẾT TRUNG PHU

Kinh Dịch có một quẻ nói về niềm tin, đó là quẻ số 61 mang tên Phong Trạch Trung Phu. Quẻ chỉ có 6 vạch âm dương (6 hào), nhưng có thể đọc thành cả một chuyên luận về lòng tin, đức tin của con người.
Phong là Gió, Trạch là đầm hồ. Tượng quẻ là Trên Đầm có Gió. Gió ở trên, đầm ở dưới, là gió (làm) động được nước, như lòng thành thực cảm động được người. Trung Phu là Tin, là Chí thành.

Lời quẻ giảng nghĩa quẻ rất ngắn gọn, nhưng bàn rộng thì vô cùng: Trong lòng có đức tin tới mức cảm được heo và cá, tốt như vậy thì lội qua sông lớn được, giữ đạo chính thì lợi. Ý nói lòng tin, đức tin của con người có thể làm giống vật là heo và cá có thể cảm được. Phải là một lòng tin trong trẻo đến mức nào mới làm cho những giống vật vô cảm như heo và cá cũng “cảm” được.

Chuyện xưa nước Tàu có ông Hàn Xương Lê làm bài hịch tế cá sấu, thắp hương đọc lên, cá sấu phải bỏ đi. Lại có ông Hồ Ba đánh đàn sắt mà cá bơi chung quanh nghe đàn. Đời nay có chuyện, ao cá Bác Hồ trước nhà sàn, Bác vỗ tay gọi cá nổi lên cho cá ăn, sau thành phong trào “Ao cá Bác Hồ” lan ra cả nước. Lòng tin trong trẻo nói trên được hiểu là tin mà thành thực, tin tưởng với lòng chí thành.

Trong hai chữ Trung Phu, thì phu nghĩa là tin, trung là ngay ngắn ở giữa, là chí thành. Tin gồm có lòng tin trong trẻo và lòng tin thành thực. Tin có trong trẻo (người xưa gọi là trung hư) thì mới có sự chí thành, tin có thực (người xưa gọi là trung thực) thì cái giả dối mới không lọt vào được. Nói tắt lại, thì lòng tin phải dựa trên cơ sở chính đáng. Bởi vì, trong loài người có một hạng người trung tín, mà không phải chính.

Như bọn đạo tặc vì tư lợi mà tin nhau, nam nữ vì tà dâm mà tin nhau, họ có phải là không trung tín đâu. Nhưng cách trung tín đó là lầm đường lạc lối, hậu quả là không có đầu đuôi (hữu thủy vô chung), cái nhân đã ác, cái quả lại ác nữa. Đó là tin mà bất chính, cũng không gọi bằng Tin thành, trung phu được (Phỏng ý Phan Bội Châu). Ở đây nói lên cái bí quyết của lòng tin, đức tin. Bí quyết đó là chữ Chính. Tin nhau, nhưng phải chính đáng.

Lịch sử Việt Nam - chính sử và dã sử - có vô số chuyện nói lên cái bí quyết đó. Như chuyện sau đây.

Thời nhà Mạc (1527) dựng được một triều chính vững mạnh thay thế cho nhà Lê suy sụp và đổ nát. Nhưng trong triều đình Mạc có bọn gian thần gây bất mãn cho những người trung chính, một số người bỏ đi gây dựng những thế lực mới, trong đó có danh tướng Nguyễn Quyện vốn là học trò yêu của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nguyễn Quyện đánh đâu được đấy, làm cho quân Mạc nhiều trận thua to. Chính trong lúc ấy một đêm kia, Nguyễn Quyện được tin nhắn Trạng Trình mời gặp riêng trong một chiếc thuyền trên sông Vị Hoàng (Nam Định ngày nay). Ông thầy giáo cũ đầy uy tín đã trò chuyện về thời thế và cái lẽ chính đáng nên theo. Chính trong lòng thuyền ấy, vị danh tướng hiểu ra nên đặt lòng tin vào thế lực nào. Nguyễn Quyện đã dựng lại ngọn cờ nhà Mạc, đi theo Trạng Trình. Hành động của viên danh tướng đã góp phần củng cố vương triều Mạc một thời, nhân dân cũng nhờ đó mà được bình yên. Câu chuyện trên do Giáo sư Vũ Ngọc Khánh kể trong sách "Tiên học lễ" (NXB Trẻ - 1994, trang 180). Ông cho đó là do cái “nghĩa thầy trò” đã giúp viên tướng có niềm tin mới, chúng tôi, từ cái nhìn của Kinh Dịch, cho là cái “chính” đã trở lại trong niềm tin của ông. Bí quyết Trung Phu của Trạng Trình là ở đây.

Hào 6 quẻ Trung Phu có câu rằng: Nghe tiếng chim bay trên trời (mà không thấy hình), giữ bền (không biến thông) thì xấu. Ý nói hết thời tin rồi mà cứ tin thì hỏng. Như người chỉ nghe tiếng chim trên trời cao, không trông thấy nó, mà đoán định thì sai.

Giảng hào này, Phan Bội Châu kể chuyện: Thời Xuân Thu (bên Tàu) có anh chàng Vị Sinh, có tiếng là một người có niềm tin, hẹn ước với người tình, chờ nhau ở dưới chân cầu. Đến giờ, người con gái không tới, anh ta cứ ôm chân cầu chờ mãi, nước lũ về, chết. Người Tàu có câu: Vị Sinh chi tín. Tin theo kiểu anh chàng họ Vị, không biết biến thông, gọi là ngu tín. Phải như Nguyễn Quyện tin theo Trạng Trình, mới thực là nắm bí quyết Trung Phu.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 24 năm 2013)

THỜI TRANH CHẤP

Đã một lần, trên mục báo này tôi chuyện trò về quẻ Thiên Thủy Tụng. Tụng là quẻ bàn về việc bàn cãi, tranh chấp, kiện tụng.

Tượng quẻ có chữ Thiên và Thủy. Thiên là Trời. Thủy là Nước. Trời thì hướng phát triển đi lên, Nước thì chảy xuôi. Trời với Nước tính chất ngược nhau, đi ngược nhau, nên luôn xảy tranh chấp, hễ tranh chấp thì có bàn cãi, kiện tụng, nên tên quẻ là Tụng.

Quẻ này, về mặt chữ chỉ nói chữ Tụng, nhưng thâm ý thánh nhân chẳng phải chỉ nói việc Tụng mà thôi. Hễ những họa hoạn ở trong thiên hạ, gia đình sở dĩ đến nỗi tan nát, vợ chồng sở dĩ đến nỗi lìa tan, bạn bầu sở dĩ đến nỗi thù nhau, lớn như chiến tranh giữa các nước, nhỏ nữa như viết một hàng chữ, nhả một lời nói, thường đến nỗi gây ra họa văn tự (Phan Bội Châu), thảy đều bắt nguồn từ hai chữ tranh chấp, thắng thua. Nên thời Tụng còn có thể khái quát là thời tranh chấp. Quẻ Thiên Thủy Tụng dịch ra tiếng nước ta có thể dịch là Trời Nước Tranh Chấp.

Trong lịch sử nước ta, thời Trịnh Nguyễn phân tranh có thể được coi là mẫu hình của một thời Thiên Thủy Tụng.

Câu chuyện bắt đầu từ thời Nguyễn Kim nổi lên với danh nghĩa “phù Lê diệt Mạc”, dựng lên các triều Lê trung hưng. Khi Nguyễn Kim chết vì bị phản bội, quyền uy rơi vào tay người con rể là Trịnh Kiểm, từ đây hình thành một cơ chế trị nước là vua Lê, chúa Trịnh, vua là danh nghĩa, chúa là thực quyền. Khi chúa Trịnh nắm quyền thì trong nội bộ xảy ra xung đột Trịnh Nguyễn, bắt đầu từ Nguyễn Hoàng, con trai Nguyễn Kim.

Nguyễn Hoàng - theo truyền thuyết là nghe lời mách bảo của Trạng Trình - đã xin vào trấn thủ vùng biên ải xa xôi là Thuận Hóa. Từ đây Nguyễn Hoàng đã rộng tay mở mang đất đai về phía Nam, mở đầu một thời kỳ 9 đời chúa Nguyễn hùng mạnh một phương đối đầu với các chúa Trịnh ở Bắc Hà. Cuộc tranh chấp Trịnh Nguyễn tất yếu phải xảy ra đã nảy mầm từ năm 1558 (Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa), trải qua 7 cuộc chinh phạt lẫn nhau từ 1627 đến 1672, nhân dân bị huy động tài lực và xương máu vào các cuộc chiến, đau thương không kể xiết. Di sản của một thời tranh chấp còn lại đến ngày nay là dấu vết của Lũy Trường Dục (còn gọi là Lũy Thầy) do danh tướng Đào Duy Từ chỉ huy xây đắp, bắt đầu từ thôn Trường Dục chạy dài về phía đông theo dọc sông Nhật Lệ. Lũy Thầy cùng với thành Đồng Hới đã trở thành các công trình phòng ngự kiên cố và hiểm trở trong các cuộc tranh hùng. Sau cuộc chiến năm 1672, cả hai bên biết không thể có hơn thua bèn dừng lại, nhân dân trở lại bình yên.

Tượng thời tranh chấp là Trên và Dưới. Trên lấy thế dương cương mà áp chế người dưới (thiên), Dưới lấy cái hiểm (khảm, thủy) mà đối đãi với người trên, hai bên không thể chiều nhau được, sinh ra tranh chấp, kiện tụng. Hễ người nào tin là mình thực, bị oan ức, sinh ra lo sợ, đã lo sợ mà chưa bày tỏ được cái oan ức, tất phải kiện tụng, tranh chấp. Cái lợi nhất trong thời tranh chấp là xuất hiện một đại nhân, một nhân vật xuất chúng (Lợi kiến đại nhân) có đủ tài đức giải quyết vấn đề xung đột (như Bao Công). Cuộc tranh chấp Trịnh Nguyễn đã hiển hiện đúng như thế.

Nhân vật đại nhân ở thời này chính là quân Tây Sơn với người anh hùng Nguyễn Huệ. Về sau, chính Nguyễn Huệ đã kéo quân ra Bắc kết thúc nhà Trịnh. Sau Nguyễn Huệ thì đến Nguyễn Ánh, trong một số báo tới, tôi sẽ lấy Kinh Dịch bàn về nhân vật lịch sử này.

Trong các tác giả tiểu thuyết lịch sử ở nước ta, thời tôi còn trẻ, rất khâm phục nhà văn Nguyễn Triệu Luật. Ông dùng ngòi bút của mình mô tả những thời tranh chấp trong lịch sử, đặc biệt là thời vua Lê chúa Trịnh. Nhưng ông không dựng lên những bức tranh xung đột, mà soi cái nhìn vào nguồn gốc xảy ra xung đột. Tiểu thuyết “Bà Chúa Chè” của ông chỉ rõ cô gái hái chè xinh đẹp và thông mình Đặng Thị Huệ chính là người “khởi mào vận suy của nhà Trịnh”, là người “đào hố” chôn cả cơ đồ họ Trịnh đầy quyền uy. Đúng như tượng quẻ Thiên Thủy Tụng đã chỉ rõ: Mọi việc tranh chấp bao giờ cũng xuất phát từ cái mưu tính ban đầu (Khổng Tử). Ở đây, ta hiểu là cái cơ sự ban đầu, chúa Trịnh Sâm vì đam mê Đặng Thị Huệ mà dẫn đến loạn Kiêu binh, mở đầu cho cái đổ sụp của cả cơ nghiệp.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 12 năm 2013)

NGƯỜI HÙNG THỦY THIÊN NHU

Kinh Dịch có quẻ Trạch Lôi Tùy bàn về Tùy Thời, chọn thời mà theo, lại có quẻ Thủy Thiên Nhu bàn về Đợi Thời, đợi thời cơ đến mà hành động. Hai quẻ Tùy và Nhu đều có nghĩa là Thuận. Nhưng Tùy là thuận theo mà Nhu là thuận chờ. Trong Theo và Chờ, thì quan trọng nhất là Theo Thời và Chờ Thời.

Nếu người quẻ Tùy có tính cách mềm dẻo, linh hoạt thì người quẻ Nhu thường có tính cứng rắn, thận trọng, do cứng rắn muốn tiến, lên nhưng vì trước mặt còn hiểm trở, nên phải thận trọng. Sự thận trọng thể hiện ở chỗ, biết chờ đợi, nên Nhu có nghĩa chờ đợi. Người quẻ Nhu rất thuận cho những khi phải vượt sông lớn.

Nếu trong lịch sử Việt Nam có Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm hành động tiêu biểu cho quẻ Trạch Lôi Tùy (sau này còn có Ngô Thời Nhậm), thì đến thế kỷ 18, có Nguyễn Ánh tiêu biểu cho tinh thần Thủy Thiên Nhu.

Bắt đầu từ Nguyễn Hoàng nghe lời Trạng Trình, tách khỏi quyền uy của Trịnh Kiểm xin đi trấn thủ vùng đất phía Nam (năm 1558) trải qua chín đời chúa, nối nhau mở cơ nghiệp, bờ cõi ngày càng lớn rộng, dân chúng thuận theo về, thế lực ngày càng mạnh. Nhưng đến năm 1771, ở phương Nam xuất hiện nghĩa quân Tây Sơn, cùng lúc, chúa Trịnh đem quân vào chiếm Phú Xuân (1774), đến đời chúa Nguyễn thứ chín là Định vương Nguyễn Phước Thuần, thì bắt đầu suy sụp.

Phước Thuần bị quân Tây Sơn giết năm 1777, khi ấy Nguyễn Phước Ánh mới 14 tuổi, may thoát được, theo tàn quân chạy ra trú ẩn ở đảo Thổ Chu. Từ đây, sự nghiệp nhà Nguyễn trông vào một Phước Ánh (xin gọi tắt là Nguyễn Ánh). Nhân vật này đã trải qua 26 năm nằm gai nếm mật, không những có vai trò khôi phục cơ nghiệp các chúa Nguyễn ở xứ Đàng Trong, mà còn thống nhất đất nước, từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau.

Bây giờ nhìn lại bằng cái nhìn Kinh Dịch, thì thấy nghệ thuật Thủy Thiên Nhu đã chi phối mọi hành động lịch sử của ông.

Trước hết Nguyễn Ánh đã nhu thuận đi theo số phận mình, ra đảo Thổ Chu ở ẩn một thời gian rồi nhờ tướng sĩ thu thập tàn quân, bắt đầu khởi sự trên đất liền Long Xuyên, Sa Đéc. Từ đây, ông đã từng hai lần phải chạy ra trú ẩn ở đảo Phú Quốc, hai lần ra đảo Thổ Chu, một lần ra Côn Đảo, ba lần sang Xiêm trú ẩn và cầu viện.

Lần thứ nhất, vua Xiêm cho hai tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương, dẫn ba vạn thủy binh và ba trăm chiến thuyền hộ tống Nguyễn Ánh về nước. Nguyễn Huệ cho quân thiện chiến mai phục ở Xoài Mút, đánh cho quân Xiêm đại bại. Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn bắt trên thuyền, may được một sĩ quan Tây Sơn nhớ ơn cũ, thả lên bờ. Lần này lại trôi dạt ra Thổ Chu, rồi sang Xiêm lần thứ hai. Vua Xiêm hỏi tội Chiêu Tăng, Chiêu Sương, hạ lệnh chém đầu. Nguyễn Ánh phải lựa lời khuyên giải, có câu rằng: Hai tướng cố nhiên là đắc tội. Nhưng có lẽ, ý trời bắt phải chờ thời. Xin quý quốc vương hãy tạm tha tội chết cho hai tướng.

Lần thứ ba chờ thời ở đất Long Khâu (Xiêm) hẳn 3 năm. Nhưng chính lần thứ ba này trông thấy cái thời thuận cho việc trở về nước chiếm lấy căn cứ Gia Định, tìm mọi cách về bằng được, kể cả phải bí mật đi trốn vua Xiêm.

Chiến dịch tiến chiếm thành Quy Nhơn, một địa điểm chiến lược, phải chờ đúng thời cơ. Khi ấy, quân Nguyễn Ánh bao vây các mặt, viện binh do Trần Quang Diệu, một tướng giỏi của Tây Sơn chỉ huy, thì lại rút lui để bảo toàn lực lượng, trong khi tướng lĩnh trong thành dao động, mở cửa thành quy hàng. Nguyễn Ánh vào được thành Quy Nhơn sau 26 năm chinh chiến là do thời cơ, chứ không hoàn toàn do binh hùng tướng mạnh. Nhờ thu phục được thành Quy Nhơn, mà tạo được thế mạnh tiến ra Phú Xuân. Về sau, lại chính Trần Quang Diệu tiến chiếm lấy lại thành Quy Nhơn (tướng giữ thành của Nguyễn Ánh là Võ Tánh phải tự thiêu để bảo toàn danh tiết). Tuy nhiên, khi ấy thành Quy Nhơn không còn là vị thế trong thời Nhu của Nguyễn Ánh nữa. Chính trong khi thành Quy Nhơn bị quân Tây Sơn bao vây, thì thời cơ của Nguyễn Ánh đã chờ đợi từ lâu, lúc này là Phú Xuân (Huế). Đại quân của Nguyễn Ánh hành tiến về Phú Xuân rất nhanh.

Như vậy, trước mặt Nguyễn Ánh bao giờ cũng là con sông hiểm trở đầy thử thách (tượng quẻ Thủy Thiên Nhu). Trong rất nhiều cuộc tiến quân, việc xem xét đầu tiên của Nguyễn Ánh là thăm dò thế cuộc, thời cơ. Khi thời cơ chưa đến, thì biết chờ đợi.

Đúng như Kinh Dịch đã mách bảo: Thời chưa đến, ai dắt mấy, ta cũng không đi; thời đến rồi, ai kéo lại, ta cũng cố tới. (Phan Bội Châu).

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 13 năm 2013)

BAN SIÊU NÉM BÚT

Gần đến Tết ta, mọi năm, nếu lên chơi Hội Văn nghệ Hà Nội ở phố Hàng Buồm, tôi không thể không bâng khuâng nhớ cái Tết thuở thiếu thời, cũng đi qua những dãy phố này, thấy hình ảnh các ông đồ ngồi viết chữ thuê, và bỗng nhớ bài thơ “Ông đồ” của Vũ Đình Liên:

Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?


Năm nay, Tết Quý Tỵ, tôi lại có dịp đi qua Hàng Buồm, nhưng tôi không nhớ bài “Ông đồ” nữa, mà nhớ bài “Ban Siêu ném bút” của nhà thơ Cao Bá Quát.
Chả là, tôi cùng một anh bạn trẻ viết một ký sự chân dung về Cao Bá Quát dưới ánh sáng Kinh Dịch, đến đúng đoạn kể ông Cao không lâm nạn chết sau khởi nghĩa Mỹ Lương. Ông sống ẩn tránh ở vùng núi phía Bắc, sau đó cùng bạn bè ra biển Quảng Ninh, xuống thuyền, vượt sóng gió cập bến Trung Hoa.

Có một bài thơ cho biết, nơi ông đến đầu tiên là thành phố Quảng Tây. Lại có một bài thơ cho biết, ông ở chợ Quảng Tây làm nghề viết chữ thuê kiếm sống. Ông vốn có tiếng là tay viết chữ đẹp nổi tiếng trong nước. Tại đây, có lúc ông sầu đời và tự hỏi, sao mình lại dấn thân vào cái nghề này.

Và bài thơ “Ban Siêu ném bút” ra đời.

Sá gì ngọn bút lông
Anh hùng thường nghĩ thế.


Ban Siêu là một nho tướng đời Hán. Thuở nhỏ, văn hay chữ tốt nhưng nhà nghèo, phải làm nghề viết thuê để kiếm ăn. Vốn là người có chí lớn, đã từng ném bút xuống đất, nói: “Đại trượng phu phải học Trương Khiên, Phi Giới Tử, lập công ở nơi đất xa lạ, giành tước phong hầu, sao chịu miệt mài theo nghề nghiên bút”. Ông bỏ nghề viết thuê, rèn luyện thành tài. Vua sai đi sứ Tây Vực hơn 30 năm, có công phát triển giao thương. Về già, cùng những người giỏi trong nhà soạn bộ “Hán thư” 120 cuốn nức tiếng thiên hạ.

Có thể, ở chợ Quảng Tây ông Cao nghĩ đến tấm gương Ban Siêu, đã từng có lúc muốn ném bút.

Bao năm nghiên mài sắt
Ngày nào thấy ân huệ?
Hàm én sức dồi dào
Đầu ruồi mải miết vẽ
Giấu gươm sắc xin chừa
Mài thuẫn thật sáng chóe
Kiếm Long Tuyền luyện tinh
Chốn hang hùm chẳng nể.


Vậy, Cao Bá Quát đã “ném bút” như thế nào? Quả thật, không phải dễ. Thời thế và hoàn cảnh ông Cao lúc ấy không cho ông ném bút. Ông đang trong vận hạn quẻ Thuần Khảm. Khảm, có tượng là nước. Không gì hiểm bằng nước sâu, nên Khảm là hiểm. Thuần Khảm là hai lần hiểm. Người gặp vận Khảm, phải lấy lòng trung chính mà tìm cách thoát hiểm. Có Thời hiểm lại có Dụng hiểm, gặp thời hiểm mà biết vận dụng thời cơ, tìm ra cách vượt qua gian nan, khó khăn, không để mình chìm đắm giữa dòng nước cuồn cuộn trôi, đó là người anh hùng thời Khảm hiểm. Tóm lại, Hiểm thuộc về thời, là cảnh ngộ không bình thường; Hiểm thuộc về Dụng, là công việc thường làm. Thời hiểm chắc không bao giờ không,

Dụng hiểm chắc lúc nào cũng phải có (Phan Bội Châu). Vào thời kỳ phiêu dạt xứ người, chính nhờ ngọn bút tài hoa này mà ông Cao có đất sống. Nhờ có chữ đẹp, lại có tài xướng họa thơ, qua việc viết chữ thuê mà ông Cao bắt đầu làm quen với các văn nhân tài tử trong vùng, trong đó có những người có thanh thế, chức tước. Xướng họa thơ với họ, được họ chu cấp.

Đến đây, hào 4 quẻ Thuần Khảm mách người quân tử thời Khảm một phương thuốc thật hay. Hào 4 nói rằng: Dâng một chén rượu, một bát thức ăn, một vò nhỏ, đưa lời giao ước qua cửa sổ, cuối cùng không lỗi. Nghĩa là chỉ cần chén rượu, hay vò rượu nhỏ, không cần nhiều, chỉ cần lòng chí thành là đủ. Lời ước hẹn làm tin đáng nhẽ phải nộp qua cửa lớn, cho đàng hoàng, nhưng lại đưa qua cửa sổ, như vậy là không chính đại, quang minh, nhưng gặp thời hiểm, phải quyền biến, miễn là giữ được lòng chí thành. Ông Cao đã làm đúng như thế.
Bài thơ tặng Cử nhân Nghê Tâm Canh chức Quan sát của tỉnh Quảng Tây cho thấy, ông Cao đã thực sự “đưa lời giao ước qua cửa sổ”, tìm được con đường thoát hiểm nơi xứ lạ quê người (Trần Văn Nhĩ dịch thơ):

Muôn dặm tung mây điểm cánh hồng
Đẩu, Ngưu xa tiễn lá buồm dong
Non sông thắng tuyệt thu Tây Việt
Văn tự tinh hoa chính Sở Hùng
Lượng cả sông dài muôn khoảnh biếc
Tình sâu đêm lạnh nửa đèn hồng…
Tán tụng như thế lòng nào chẳng xiêu?


Cao Bá Quát quê tôi ở chợ Quảng Tây đã “ném bút” như thế.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 3 năm 2013)




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 28.11.2014, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 24.11.2014    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


TÔI ĐI TÌM TÔI

Đã 5 năm nay, tôi có một hành trình đi tìm mình. Tôi đi tìm tôi.

Từ xưa đến nay, trên trái đất này, con người vẫn là một bí ẩn. Không ai có thể nói, mình biết rõ mình, bởi vì có một phần tiềm ẩn, vô hình trong con người, lại chính là cái chi phối con người quan trọng nhất. Bởi vậy, bất cứ ai nếu có nhu cầu tìm cái phần vô hình đó trong con người mình, tôi nghĩ, cũng là việc bình thường. Tôi không mất quá nhiều thời giờ vào việc này, mỗi ngày chỉ mất khoảng mười lăm phút. Đơn giản là ghi nhật ký, ghi lại những gì đã diễn ra trong một ngày bằng những câu chữ tóm tắt, gọn gàng, rõ ràng. Chỉ có khác với nhật ký mọi người một chút, tôi bao giờ cũng ghi dòng mở đầu: hôm nay giời cho được hào mấy, quẻ gì (quẻ Dịch) và lời phán đoán của nó, sau mới ghi những gì diễn ra trong thực tế, sau đó có vài phút so sánh đối chiếu xem có đúng, khớp với nhau không. Xong. Kết luận của tôi sau nhiều năm là: Dịch bảo ta gì, mọi hành động của ta giống y như thế. Dịch đã nắm chắc cái phần vô hình ấy của ta từ ngàn xưa rồi.

Tôi xin kể một câu chuyện vui “Tôi đi tìm tôi” vào năm Mậu Thìn (1988).

Năm này, tôi chưa biết gì về Dịch, về môn toán Hà Lạc, mọi việc xảy ra đều do giời xui đất khiến, mà bây giờ tôi mới tìm ra và thấy rõ. Năm Mậu Thìn (1988) này, tôi được quẻ giời cho là Lôi Trạch Quy Muội, chủ mệnh hào 1.

Quy Muội là em gái về nhà chồng. Ngày xưa, cha mẹ gả chồng cho con gái thì kén chọn lắm, xem tuổi, xem ngày giờ, ăn hỏi, cưới gả chặt chẽ theo nghi lễ. Còn như nhà chẳng may không còn bố mẹ, anh chị gả chồng cho em gái, thì theo thói thường, không bao giờ chu đáo bằng. Vì vậy, hai chữ Quy Muội còn có nghĩa là đại khái, qua loa, xong thì thôi, thậm chí thiếu thành tín, thiếu cẩn trọng từ ban đầu. Quẻ Quy Muội có 6 hào, có mỗi hào 5 là tốt nhất, hào này lấy ông vua Đế Ất làm biểu tượng, gả em gái vua cho một người thường dân tử tế, cốt cái bên trong, không coi trọng hình thức bên ngoài, đến nỗi dân chúng chê cười cô dâu em gái vua mà cái tay áo không đẹp bằng tay áo những người phù dâu. Tôi năm đó được quẻ Quy Muội hào 1: Gả em gái mà cho làm phận lẽ mọn. Thọt mà hay đi. Cứ đi, tốt. Toán Hà Lạc giải: Có đức mà thiếu ứng viện. Cam phận vậy.

Đối chiếu với thực tế cuộc đời tôi như sau. Năm 1988 ấy, tôi đang làm Tổng Biên tập Báo Lao Động có nhiệm vụ tuyên truyền chuẩn bị cho Đại hội Công đoàn sẽ diễn ra vào cuối năm. Báo Lao Động đã phát huy vai trò báo chí của mình bằng cách lấy ý kiến bạn đọc, đề xướng việc đổi mới, thay tên Tổng Công đoàn Việt Nam bằng tên mới Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, lại đề xướng đổi mới về chức năng Công đoàn, lấy chức năng Bảo vệ lợi ích chính đáng người lao động làm chức năng trung tâm, thay vì đứng hàng thứ ba và hơi bị chìm so với các chức năng khác. Thành một cuộc thảo luận đình đám trên mặt báo, trong các cuộc hội thảo, trong dư luận, và được các đại biểu đại hội quan tâm đưa vào nội dung đại hội. Đùng một cái, trước giờ khai mạc đại hội, tôi và nhà văn Vũ Bão được Hội Nhà văn Việt Nam cử đi Liên Xô dự một cuộc hội thảo nhà văn quốc tế, cũng rất là đình đám.

Sang đến nơi, mới té ra, ở nhà dịch sai tên cuộc hội thảo. Nguyên hội thảo là Văn học và Chính trị. Lại hóa ra Văn học chính luận. Thành ra bài “Văn học chính luận ở Việt Nam” tôi mang từ nhà đi phải bỏ. Tôi đã thức suốt đêm ở khách sạn viết lại bài mới tên là “Văn học và Chính trị ở Việt Nam” (vì tôi là Trưởng đoàn), để hôm sau đọc. Mọi việc rồi cũng xong. Tôi và Vũ Bão về đến Hà Nội vừa đúng ngày áp chót của Đại hội Công đoàn và tôi là người cuối cùng bỏ phiếu bầu Ban Chấp hành mới. Cũng trở thành ủy viên Ban Chấp hành với số phiếu trúng cử thấp nhất. Tưởng thế là yên phận. Ai ngờ ngay đêm ấy, Ban Chấp hành bầu tôi vào Ban Thư ký Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (ngày nay là Đoàn Chủ tịch). Và ngay sau đó, Ban Thư ký cử tôi làm Trưởng ban Tuyên giáo TLĐ, thay cho đồng chí Trưởng ban đương nhiệm đến tuổi nghỉ hưu. Có nghĩa, tôi phải thôi làm Tổng Biên tập báo đang vào một thời kỳ sung mãn. Vừa sững sờ vừa buồn, vì đối với tôi, phải thôi nghiệp báo, không khác nào người lính buông tay súng. Dư luận bạn đọc ngày ấy bảo là tôi được/ bị “đá hất lên”.

Bây giờ xem Hà Lạc, hóa ra cái số mình năm ấy thuộc hào 1 quẻ Quy Muội. Chỉ mấy việc kể trên (đi hội thảo quốc tế, phải làm lại bài, được bầu lên cao, phải thôi làm báo) có khác nào Gả em gái mà cho làm phận lẽ mọn. Thọt mà hay đi. Cứ đi, tốt. Lại khác nào như lời giải của Toán Hà Lạc: Có đức mà thiếu ứng viện. Cam phận vậy. Tính ra, giời đất cũng công bằng, cũng phải “ cam phận vậy”, tôi mới có dịp giao nhiệm vụ Tổng Biên tập cho nhà báo Tống Văn Công, sau đó đến Phạm Huy Hoàn, những người giỏi hơn tôi rất nhiều trong việc điều hành báo thời kỳ đầy những cam go mới.

Tôi đi tìm tôi là như vậy!

(Một đêm trăng sáng đầy trời. Đêm siêu trăng. Nhân kỷ niệm 85 năm ngày Báo Lao Động ra số đầu).

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 33 năm 2014)

CHUYỆN QUẺ TÙY

Tùy nghĩa là theo. Kinh Dịch có 64 quẻ, có một quẻ bàn về nghĩa lý của sự theo, tên đầy đủ là Trạch Lôi Tùy.

Trạch là đầm (hồ), lôi là sấm. Tượng quẻ là trong Đầm có Sấm. Sấm động ở trong đầm, nước đầm theo tiếng sấm mà cũng động, cho nên gọi là Tùy ( theo). “ Góc nhìn bát quái” đã hai lần nói chuyện quẻ Tùy. Từ xưa đến nay, bàn về sự theo (theo nhau, theo ai, theo như thế nào, theo đến bao giờ) là bàn về công việc của trời đất, của muôn loài, trong mọi thời thế, là việc lớn lắm, bàn mãi chưa hết lý sự. Lớn như vũ trụ, đất phải theo trời, nhỏ như con ong, cái kiến, ong có đàn theo ong chúa, kiến cũng có đàn ( bầy) theo con đầu đàn. Ngay như thân thể con người, năm giác quan, bốn tay chân, nhất cử nhất động đều theo sự điều khiển của trí óc và tình cảm, người ta lại thấy ra trí óc còn theo sự xui khiến của tâm linh, và tâm linh theo quy luật của đất trời.

Phan Bội Châu bàn về quẻ Tùy, nhấn mạnh rằng, cái chân lý của “theo” là ở chỗ “theo như thế nào”, vì sự nghiệp lớn mà theo, chứ không phải cái tôi nhỏ bé, vì ích chung mà theo, chứ không phải vì lợi riêng. Trước khi chưa theo, phải chọn cho tinh cái để mà theo, sau khi đã theo rồi, phải giữ gìn cho trong sạch, ngay thẳng ( tiết tháo), phải coi trọng sự ngay thẳng, mới đầu theo được cái tốt, nhưng về sau, không ngay thẳng, thì cũng hỏng.

Cứ lấy chuyện bản thân tôi đi theo Kinh Dịch để tâm sự với bạn đọc.

Mãi đến năm 1993, nhờ sự đổi mới của Đảng về nghiên cứu khoa học, tôi mới lần đầu cầm trong tay cuốn Kinh Dịch (trọn bộ) của Ngô Tất Tố (dịch và chú giải). Sách lần này do Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh tái bản. Từ trước đó, chỉ nghe tiếng tăm học thuyết, mà chưa biết nó là thế nào. Hôm đó, tôi đi công tác ở Sông Bé (nay là Bình Dương), tình cờ bắt gặp cuốn sách, mua ngay. Tôi cảm động ghi ở đầu sách: “Sông Bé, một ngày nên ghi nhớ: 22.5.1993”. Phải chăng đó là dấu hiệu của chữ Tùy?

Từ đó đến nay, tôi kiên trì đọc theo sách của Ngô Tất Tố, mặc dù văn của Dịch học từ thời xưa vốn đã “ chủng chẳng rời rã, ngớ ngẩn, đột ngột” ( chữ dùng của Ngô Tất Tố), nhưng càng đọc càng thấy ham mê. Nhất là sau khi, nhờ một cái duyên nào đó, tôi dọn đến ở cùng chung cư với Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương, nhờ ông giảng giải thêm và cung cấp thêm tài liệu, thì tôi biết, bên cạnh học thuyết Mác Lê-nin, tôi có thêm một học thuyết nữa, có sức thuyết phục về vũ trụ quan và nhân sinh quan, một học thuyết của phương Đông, bị che lấp mấy trăm đời, nay được bày tỏ một cách sáng suốt, đáng được bảo tồn và phát triển các giá trị quý báu của nó ( Phan Bội Châu).

Tôi đã dành hầu như những năm cuối của đời mình cho Kinh Dịch. Lại được đọc thêm sách Hà Lạc của Học Năng, sách biên soạn của Nguyễn Hiến Lê và nhiều học giả khác. Đọc và học đến mức tự mình có thể biên soạn sách, sau này qua mấy lần in giới thiệu, soạn thành sách “Khám phá một tia sáng văn hóa phương Đông” (NXB Văn học, 2009), vừa trình bày môn toán Hà Lạc ( dựa vào Học Năng và có sự bổ sung từ rất nhiều nguồn), vừa ứng dụng vào việc khám phá mệnh đời và văn chương của 32 nhà văn (trong đó có 2 nhà văn nước ngoài). Đó là theo lời khuyên của cụ Nguyễn Hiến Lê, muốn học cái gì cho đến nơi đến chốn, thì tốt nhất là viết sách về cái ấy (tôi nhớ đại ý). Lại hàng tuần viết chuyên mục “Góc nhìn bát quái” cho Lao Động Cuối tuần, đến nay đã được 277 bài.

Ai bảo tôi là “nhà”, tôi chỉ dám nhận là “cái lều”, và trên đường đi, chỉ mới mon men đến chân trời Kinh Dịch. Đối chiếu với lời dạy của quẻ Trạch Lôi Tùy, phải chăng tôi đã làm được hai việc. Một là đã chọn đúng cái để theo trong những năm cuối đời. Hai là đã cố gắng noi theo cái chân lý quẻ Tùy bao hàm trong 7 chữ: Tùy, nguyên hanh, lợi trinh, vô cựu (Thuận theo: Rất hanh thông, nhưng phải chính đáng thì mới có lợi, không lỗi). Phan Bội Châu bảo rằng “Quan hệ nhất là chữ Chính (chữ Hán là Trinh). Trước khi chưa Tùy, phải kén chọn cho tinh, sau khi đã Tùy, phải tiết tháo cho chính. Có được vậy thì mới không tội lỗi (vô cựu)”. Lại nhấn thêm rằng: “Nếu không giữ chính, dù cho có chọn cái theo tốt lành (nguyên hanh), cuối cùng cũng chắc có tội lỗi”.

Câu đó ứng nghiệm với rất nhiều trường hợp thời nay. Còn với trường hợp tôi, xin bạn đọc phán xét.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 9 năm 2014)

CẢM XẠ DỊCH HỌC

Có những hiện tượng tưởng như không thể nào giải thích nổi, như hiện tượng cảm xạ.

Khi chúng tôi cắt dán những ảnh của một đội bóng đá lên một trang giấy, ví dụ đội Brazil, hoàn toàn không lựa chọn, chỉ là những ảnh trên báo thời sự bóng đá, khi dùng con lắc cảm xạ rà soi lên những gương mặt, sau đó đặt lên bản đồ Dịch học (có đủ 8 quẻ, gọi là bát quái), con lắc bỗng chỉ cho ta rất đúng một quẻ Dịch phản ánh toàn bộ năng lượng bên trong của đội bóng, còn chỉ cho ta biết động thái khi ra trận, thắng thua ra sao. (xin xem bài trong số báo trước: "Dịch học và bóng đá"). Tại sao?

Tại sao? Hóa ra, tất cả năng lượng tiềm ẩn bên trong của cả một tập thể nó hiện lên những gương mặt, những cử chỉ, hành động mà nhìn bằng con mắt thường ta không thể nhận biết. Nhưng con lắc cảm xạ thì lại cảm nhận được. Từ lâu, do sự chỉ bảo của giáo sư Nguyễn Hoàng Phương, tôi đã làm quen với con lắc cảm xạ. Con lắc đã giúp tôi khám phá rất nhiều bí ẩn không giải thích được. Thậm chí như có lần, một bạn viết trẻ cầm bản thảo tiểu thuyết viết tay đến nhờ tôi đọc, tôi đọc trước hết bằng cảm xạ, ngay trước mắt tác giả, con lắc đã chỉ ra cho tôi và tác giả biết, chương sách nào viết hay, chương sách nào cần thay đổi, sửa chữa. Về sau đọc bằng mắt, thấy đúng y xì!

Vậy, cảm xạ là gì? Đó là một mũi nhọn, hoặc bằng kim loại quý, hoặc bằng đá quý ( cũng có thể là vật liệu thường), treo dưới một sợi dây mảnh khoảng 10 - 20cm. Vậy mà thôi. Với cái tâm trong sáng, với niềm tin ở vũ trụ, trời đất, âm dương, trong đầu đặt ra những câu hỏi. Hai ngón tay cái và trỏ, giữ đầu sợi dây và buông xuống, bằng cách tự nó lắc theo các chiều thẳng, hoặc quay tròn theo hai chiều thuận và nghịch (theo chiều kim đồng hồ hoặc ngược lại) mũi nhọn giản dị ấy sẽ trả lời cho ta biết những thông tin ta cần biết. Ta sẽ biết những thông tin bất ngờ:

Vật đang mất (ví dụ cái chìa khóa) đang ở hướng nào, có ở dưới đống lộn xộn này không; dưới nấm mộ này có hài cốt của người mà ta đang tìm hay không, nếu không thì nó đang ở hướng nào, ở vị trí nào; tổng hòa năng lượng của đội bóng có ảnh dưới đây đang ở trạng thái nào; trên mảnh đất, hay trong ngôi nhà này có tập hợp một năng lượng vũ trụ đem lại cái tốt trong cuộc sống hay không v.v... Tôi không dám nói trăm phần trăm, nhưng có thể nói, hầu hết các tín hiệu đều sáng rõ và cho ta biết cái sự thật ẩn giấu bên trong. Tất nhiên, không phải dễ mà có những câu trả lời ấy. Cũng phải có bí quyết và “công nghệ”.

Bí quyết là thực hành trong vô thức, tuyệt đối không điều khiển con lắc bằng ý nghĩ hoặc ngón tay. Cái này thì phải tập, cách tập là học thiền. Không phải ai cũng học thiền được. Còn công nghệ thì gồm cách đặt những câu hỏi để con lắc có thể trả lời, việc sử dụng bản đồ Dịch học, việc chăm sóc các “luân xa” ẩn kín trong cơ thể, việc thực hành “vô thức”, một thứ công nghệ niềm tin mà các nhà duy lý đơn thuần không thể tạo ra được.

Trong thực hành cảm xạ, những câu hỏi “tại sao” trên kia sẽ dần dần được trả lời.

Nhưng thú vị nhất với tôi là gần đây giáo sư Đoàn Xuân Mượu, một người thân của tôi, có gửi cho tôi một tài liệu cho biết, một nhà khoa học Nga, Tiến sĩ Putsko, từ năm 1983 đã khám phá ra một phương pháp gọi là Định vị sinh học, liên quan đến việc sử dụng con lắc.

Theo tài liệu giới thiệu, có những thông tin vũ trụ dưới dạng năng lượng sóng và hạt mịn. Thông tin ấy tiềm ẩn trong tất cả sự vật. Trong con người, với tư cách là một tiểu vũ trụ, có ý thức lại có tiềm thức. Ý thức hiện ra thành ý tưởng, biểu hiện bằng ngôn ngữ và hình ảnh. Tiềm thức nằm trong một cấu trúc dưới sọ vỏ não chứa đựng những biến động của bộ nhớ như hồ sơ bệnh tật, các cảm giác đã trải nghiệm, niềm vui, tội lỗi, cắn rứt lương tâm. Tiềm thức có một trường thông tin dưới dạng sóng với tần số, biên độ nhất định, mang dấu ấn riêng của chủ thể… ta cảm nhận được dưới hình thức những linh tính, mách bảo cho ý thức biết những sự thật. Kinh nghiệm dân gian: người ta có thể giấu những người khác, nhưng không thể giấu chính mình. Thông tin vũ trụ và tiềm thức đi vào các “luân xa” của con người và hiện ra trên ngón tay cầm con lắc. Tiến sĩ Putsko đã vẽ được một sơ đồ phương pháp như thế và gọi tên là Định vị sinh học. Chúng tôi ở Việt Nam đã thực hành phương pháp ấy từ lâu và gọi tên là Cảm xạ. (Cảm là nhận biết qua một giác quan vô hình, linh tính. Xạ là bắn, soi). Chỉ có khác là, ngày nay phương pháp ấy được soi sáng bằng khoa học có tích hợp Đông Tây, và đầy sức thuyết phục.

Xin cảm ơn GS. Đoàn Xuân Mượu.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 30 năm 2014)

THIÊN NHIÊN MÁCH BẢO

Có bạn đọc hỏi tôi: Tại sao trong sách xuất bản năm 2009 không dùng cái tên sách quen thuộc “Tám chữ Hà Lạc và quỹ đạo đời người”, thay cho cái tên chung chung và xa lạ: “Khám phá một tia sáng văn hóa phương Đông”? Làm cho nhiều bạn đọc đi tìm sách Hà Lạc đứng trước chính cuốn sách ấy mà không biết. Xin trả lời: Cái ưu thế môn toán Hà Lạc không chỉ riêng dành cho “quỹ đạo đời người”. Nên cái tên ấy chưa có tầm khái quát. Vì vậy phải đổi. Tôi xin lỗi bạn đọc.

Ưu thế môn Hà Lạc không riêng phản ánh những bước đi thăng trầm, vinh nhục, sống chết, những vận hạn, thời cơ, tóm lại là về hành trình số mệnh con người, về chữ Thời trong Kinh Dịch và trong cuộc sống. Nó còn làm hiện lên một lĩnh vực thiết yếu thuộc về khí chất, tính cách, cảm xúc của con người, xu hướng nghề nghiệp con người. Nó thuộc về hành lang, biên độ số phận con người. Đây cũng là một ưu thế nổi bật của Hà lạc. Nó là chữ Tượng.

Thật vậy, làm xong bài toán Hà Lạc cho một em bé, ta biết ngay em bé này sẽ có những cảm xúc gì, tính cách gì, xu hướng gì trong tương lai, nó hiện lên ở cái tượng quẻ Dịch dành riêng cho mỗi con người. Tôi lấy quẻ cho một nhà thơ, thấy ông được quẻ Thủy Sơn Kiển. Quẻ có tượng Thủy là nước, Sơn là núi. Kiển là gian nan, vất vả. Tượng quẻ: Trước mặt là sông, sau lưng là núi. Xem thế đoán ngay rằng, người này gặp phải thời gian nan, vất vả, lắm lúc như trước mặt là sông, sau lưng là núi, tiến thoái lưỡng nan, chỉ có cách rèn luyện bản lĩnh mà tiến lên. Người này có cảm xúc mạnh với núi non, sông nước, có tính cách của núi, không sợ đèo cao dốc đứng, lại có tính cách của nước, không sợ hiểm trở nguy nan nơi đầu sông ngọn sóng. Đoán rằng người quẻ Kiển thích ứng nhanh với những ngành nghề vất vả liên quan tới sông nước, núi non, sẵn sàng đi làm việc vùng núi, sông, biển, đảo. Sẽ là người giỏi về vận dụng thời thế, tận dụng các cơ hội. Người quẻ Kiển giỏi chữ Dụng thì trở thành anh hùng xuất chúng. Kém chữ Dụng thì thất thế bần hàn.

Quả nhiên, đây là một nhân vật quê ở đồng bằng Bắc bộ, xung phong lên vùng đông bắc dạy học cho con em người dân tộc, thuộc vùng đất biển đảo Quảng Ninh. Ông cắm rễ ở đây và trở thành một nhà thơ lớn. Chữ Thời làm nên hành trình đầy than bụi của ông, chữ Tượng làm nên hành lang sóng gió của ông. Gieo tính cách gặt số phận, câu nói của bạn trẻ thời nay, ứng nghiệm với cuộc đời ông trên từng hành động, từng bài thơ.

Cái năm tôi học Hà Lạc, thử làm bài toán về ông, tôi cứ ngẩn ngơ cả người. Các bạn trẻ thời nay đang đứng trước sự chuyên chế của lựa chọn, chữ của một nhà khoa học phương Tây. Họ đi học, đi thi và lựa chọn đường đi nước bước cho mình. Họ đứng trước lựa chọn hàng trăm nẻo đường đời. Họ không biết đặt mình vào đâu. Họ hoang mang, ngơ ngác, có người trở thành trầm cảm trước những cám dỗ, bày đặt, chào mời, lừa lọc.

Thực ra, luôn có một tiếng nói từ trên cao, xui khiến, mách bảo mỗi người. Tiếng nói ấy bắt nguồn từ cái tượng thiên nhiên (trời cao, đất dày, núi non, sông nước, đầm hồ, lửa, sấm, gió) trong mệnh người, thể hiện trong khí chất, trong cảm xúc, tính cách, trong sự yêu thích, ghét bỏ, xa gần của mỗi người. Những cái ấy tạo nên những lựa chọn xu thế, những ngả đường, nẻo đường, tên chữ là “hành lang, biên độ cuộc đời”. Biết lắng nghe thì thấy.

Nhưng trong cái thời lý tính này, có phải ai cũng nghe được đâu. Có người trở thành nô lệ cho sự lựa chọn. Hàng triệu người phải thay đổi lựa chọn giữa dòng đời. Thương thay. Nhân vật nhà thơ tôi nói trên kia, chỉ khi gặp tôi, ông mới biết mình có mệnh Thủy Sơn Kiển, trước mặt là núi, sau lưng là sông, gian nan là cái chắc. Nhưng ông vốn là người tinh tế, lắng nghe được cảm xúc của mình, cảm được cái khí chất của mình, ông sớm biết mình không phải là người của lúa má chân quê, ông đã dấn thân ra vùng biển đảo và thành công. Ông cười bảo tôi: Anh đừng mách cánh trẻ theo tôi, đường quang không đi, đâm quàng vào bụi rậm. Tôi cười bảo ông, đối với anh, biển đảo là “đường quang”, đồng quê là “bụi rậm”.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 29 năm 2013)

SÁNG SOI VÀ NƯƠNG TỰA

Kinh Dịch có hai phần Thượng và Hạ. Phần Thượng có 30 quẻ, mở đầu bằng quẻ Càn, tượng là Trời, kết thúc bằng quẻ Ly, tượng là Lửa. Đó là một kết cấu mang tính Vũ trụ, có tính khái quát rất cao.

"Góc nhìn bát quái" đã nói nhiều về quẻ Càn, nay xin nói chuyện quẻ Ly.

Tên quẻ là Thuần Ly, quẻ thứ 30. Tượng quẻ là hai lần lửa sáng. Riêng chữ Ly có nhiều nghĩa, có hai nghĩa dùng cho Thuần Ly: Sáng soi và dính bám (Từ điển Đào Duy Anh không ghi nghĩa dính bám. Chỉ từ điển Thiều Chửu mới có). Nghĩa sáng soi bắt nguồn từ tượng quẻ (lửa). Nghĩa dính bám bắt nguồn từ cuộc sống. Có dính bám thì có rời lìa. Dính bám là nghĩa chính của chữ Ly, rời lìa là nghĩa phản của Ly. Trong đời thường chúng ta thường dùng nghĩa phản (ly biệt, ly cách, ly gián, chia ly) mà ít dùng nghĩa dính bám (còn được hiểu là nương dựa). Nhưng trong Kinh Dịch nghĩa Sáng soi và Nương dựa gắn liền với nhau.

Nó ở ngay lời quẻ, dịch sang tiếng Việt là: Ly, Lệ thuộc: chính đáng thì lợi, hanh thông. Nuôi bò cái thì tốt. (Ly, lợi trinh, hanh. Súc tẩn ngưu, cát). Đây cũng chính là bí quyết quẻ Thuần Ly, người nào được quẻ này nên thuộc làm lòng. Vạn vật không vật gì là không chốn nương dựa. Tỉ như: Loài chim nương dựa vào rừng, cá nương dựa vào nước, mà đến loài người cũng thế, hoặc bạn hữu nương dựa nhau mà nên đức nghiệp, hoặc cha con, vợ chồng, anh em nương dựa nhau mà nên gia đình, hoặc loài người nương dựa nhau mà nên dân tộc, hay xã hội.

Nhưng mà, hễ có nương dựa nhau, thời có hai phương diện: một, thời nương dựa theo lối chính, hai, thời nương dựa theo lối tà. Cho nên lời quẻ nói rằng: Người tất phải có chốn nương dựa, mà cốt nhất là nương dựa cho được chính thời mới hanh (lợi trinh, hanh).

Lời quẻ còn một nghĩa nữa, lấy thí dụ việc nuôi bò cái (súc tẩn ngưu) để nói về sự sáng soi. Sáng soi ở đây bắt nguồn từ tượng hai lần lửa sáng. Hai lần lửa thì cái sáng cực kỳ. Sáng cực kỳ trên dưới đều sáng, sáng quá, lúc nào cũng tỏ ra hơn người, thời ít người ưa. Nên phải giấu bớt cái sáng đi, trau dồi đức thuận của con bò cái, thì mới được lành. Câu “nuôi bò cái” có nghĩa tinh thần là “nuôi cái đức thuận” để giảm bớt cái đức sáng đi, cái sáng ấy mới thực “tốt” (cát), quả thực không gì sáng rõ hơn, thánh thiện hơn (Theo Phan Bội Châu). Người nước ta có câu “Sáng quá hóa tối”. Trinh và Thuận là bí quyết của mệnh Thuần Ly vậy.

Người viết bài này năm nay cũng được quẻ Thuần Ly, chủ mệnh hào 5, nên tự thấy phải nghiên cứu thực sâu quẻ hai lần sáng, thấm thía bốn chữ soi sáng, nương dựa, để cố đạt lấy hai chữ Trinh, Thuận, không biết từ đây đến hết năm Quý Tỵ đạt được đến đâu.

Hai lần sáng thì rõ rồi. Năm nay cùng một tác giả nữa, đồng hương, vừa hoàn thành công trình biên khảo “Người làng Sủi kể chuyện Cao Bá Quát”. 740 trang in khổ rộng. Lần đầu tiên kể chuyện đời một nhà thơ thuộc hàng thi bá, người cùng quê Sủi, dưới ánh sáng Kinh Dịch, sắp xếp thơ theo hành trình số phận, một nhật ký thơ trong đêm dài thế kỷ. Lần đầu tiên, báo tin bằng số mệnh và bằng thơ, rằng ông Cao không hy sinh trong khởi nghĩa Mỹ Lương (1854). Thơ trôi dạt theo số phận sang đất nước Trung Hoa. Một cuộc khám phá. Soi sáng và Nương dựa đều có mặt trong khám phá này. Đức Trinh thì đã rõ. Đức Thuận sẽ ra sao đây? Phải đọc hào 5 quẻ Thuần Ly mới biết.

Hào 5 có lời rằng: Nước mắt ròng ròng, nhưng biết buồn lo, than thở, nên tốt. Ý nói hào 5 ở vị trí cực sáng, như con mắt người, nhưng cái cực sáng ấy chỉ được ở vị trí trung tâm, vẫn còn có cảnh báo ở chỗ con mắt thường bị đe dọa, nên bí quyết người thuần ly là phải bảo vệ mắt, nước mắt ròng ròng là cách tốt nhất, biết buồn lo than thở thì mới tốt. Hà Lạc giải cụ thể rằng: Mềm dẻo, khiêm tốn, biết lo xa, thì kẻ cường bạo mới không chen được vào khe hở, mới bảo vệ được phúc trạch, an toàn. Quả là như vậy. Bản thảo thực 840 trang, ban biên tập đề nghị cắt bớt 100 trang, vừa cho “kín kẽ”, lại vừa túi tiền bạn đọc. Tác phẩm ruột của hai người mà cắt 100 trang thì xót ruột quá, làm sao tránh khỏi “nước mắt ròng ròng”?

Nhưng lời Kinh đã dặn dò thì phải biết nghe, biết “cắt” nhưng chớ cắt vào những trang ruột.

Sáng soi và nương dựa, vừa trinh vừa thuận, là như thế chăng?

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 26 năm 2013)

GIÓ DỌC ĐẦM SEN

Lâu nay, trong các cuộc đi thăm các làng xóm Việt, trò chuyện với bà con dân quê, với cánh văn chương, báo chí, tôi để ý một hiện tượng lạ, nó biến thành một đam mê của tôi. Nhìn thấy một sự thật: Kinh Dịch không đâu xa lạ, nó ở ngay trong lời ăn tiếng nói, trong ứng xử hàng ngày, đời thường của bà con mình.

Nói chuyện với một cụ bà về chuyện cô cháu gái xinh đẹp rất thông minh mà không đỗ đại học. Cụ thốt ngay một câu: Thì đấy, “Em như con hạc đầu đình/ Muốn bay không cất nổi mình mà bay!”. Tôi nghĩ ngay đến hào 1 quẻ Địa Hỏa Minh Di, có câu: Như con chim muốn bay mà cánh rũ xuống!

Một hôm, tôi nói chuyện với bà về một anh chàng có tính đại khái qua loa, gả nhầm em gái vào một anh đã có vợ ở quê khác. Trong đầu tôi nghĩ đến quẻ Lôi Trạch Quy Muội (anh chị gả em gái không chu đáo), bà đánh ngay một câu: “Người khôn chưa đắn đã đo/ Chưa đi đến bể, đã dò nông sâu”. Lại nói như hát: “Từ rày buộc chỉ cổ tay/ Chim đậu thì bắn, chim bay thì đừng”. Bà than thở cho cô gái: “Tiếc thay cái sợi chỉ đào/ Áo rách chẳng vá, vá vào áo tơi”. Lại nói: Thằng anh nó đã chẳng ra gì, lại gặp phải mụ mối. “Giận người làm mối vẩn vơ/ Duyên tôi đã lỗi, ông tơ lại lầm”.

Tôi tặng một thày giáo vốn là bạn đọc thân thiết của tôi cuốn sách “Khám phá một tia sáng văn hóa phương Đông”, trong có chép 64 quẻ Dịch làm tín hiệu phán đoán Hà Lạc. Tôi ngỏ ý với anh, trong khi lân la trò chuyện với bà con trong làng, thấy chuyện gì hay, câu tục ngữ ca dao nào ứng với các quẻ Dịch thì chép giúp tôi vào sổ tay. Chỉ một thời gian ngắn, anh chép cho tôi bao nhiêu là chuyện kể, bao nhiêu là tục ngữ, ca dao giống như những dấu ấn của Kinh Dịch. Ví như, quẻ Thiên Lôi Vô Vọng một triết lý về cái thời vô tư, trong sáng của con người, sống theo lẽ tự nhiên của trời đất, không làm gì càn bậy (“vô vọng” là không càn bậy), cày ruộng không nghĩ đến ngày gặt hái, cuối cùng, lộc trời sẽ đến.

Ông giáo chép cho tôi bài đồng dao lý thú sau đây:

Tháng giêng tháng hai
Tháng ba tháng bốn
Tháng khốn tháng nạn
Đi vay đi tạm
Được một quan tiền
Ra chợ làm duyên
Mua một con gà mái

Về nuôi
Hắn đẻ ra mười trứng
Một cái trứng ung
Hai cái trứng ung
Ba cái trứng ung
Bốn cái trứng ung
Năm cái trứng ung
Sáu cái trứng ung
Bẩy cái trứng ung

Còn ba cái trứng
Đẻ ra ba con
Con diều tha
Con quạ bắt
Con cắt lôi

Chớ than phận khó, ai ơi
Còn da – lông mọc, còn chồi – nẩy cây.


Thế là hình thành trong tôi ý định biên khảo về một cuốn Dịch học không thành văn mang dấu ấn Việt Nam.

Cuốn sách này làm một công việc đơn giản, nhưng thú vị: Đi tìm những dấu ấn của Kinh Dịch trong nền Minh triết Việt Nam.

Nói cách khác, là theo dấu chân người Việt trên hành trình biến hóa của Dịch học, quan sát và suy ngẫm về minh triết của người Việt trong cảm nhận, hòa đồng, vận dụng, sáng tạo Dịch học, biến Dịch học thành của mình, hoặc có thể nói hơn nữa, là giành lại về mình những tinh hoa Dịch học mà chính mình đã sáng tạo ra, biến thành của chung. Khởi đầu, bằng cách tìm dấu ấn Kinh Dịch trong Minh Triết Việt, kết thúc bằng khát vọng phác thảo bức tranh Việt Dịch bằng tâm thư, huyết thư.

Mới là phác thảo thôi, còn có dựng được thành bức tranh lộng lẫy và hoành tráng hay không, thì còn trông đợi ở các bạn đọc tâm đắc và các thế hệ sau.

Trong một phút ngẫu hứng, tôi nảy ý định mượn quẻ Thiên Trạch Lý làm biểu tượng cho công việc này. Thiên là trời, Trạch là đầm (hồ), Lý là lễ, là trên dưới, phải trái phân minh, là trật tự, thứ tự như thiên nhiên: trời uy nghiêm ở trên, đầm hồ vui tươi trinh trắng ở dưới. Trời là Dương, Đầm là Âm, dương trên âm dưới, âm vui vẻ nhu thuận theo dương, âm dương giao hòa, tạo thành sức mạnh siêu đẳng. Lý còn là Dẫm. Lời quẻ chỉ có 7 chữ Hán, dịch ra tiếng Việt là “Dẫm lên đuôi cọp mà cọp không cắn, hanh thông”. Nghe hoang sơ, đơn giản thế, nhưng là cả một triết lý cao sâu, khái quát một Minh triết: Lấy nhu thắng cương, lấy yếu thắng mạnh. Đó là tính cách Việt, bản lĩnh Việt, sức sống Việt. Người Việt ta đã mô tả cái thần của quẻ Thiên Trạch Lý bằng câu ca dao sau đây:

Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn


Thế là cái tên sách “Gió dọc đầm sen” ra đời.

Tôi hình dung, mình như một làn gió, một kẻ dong thuyền đi trong một đầm sen Việt Dịch bao la, dừng lại trong từng ánh gương sen giống như câu ca của bà cụ nhà quê, như câu đồng dao thầy giáo làng chép cho tôi, suy ngẫm bằng cái đời thường của mình. Hóa ra, Kinh Dịch đã đi vào đời sống con người từ xa xưa, từ cội nguồn, và biến thành lối sống hàng ngày của con người Việt. Trong tâm hồn chúng ta, trong hơi thở của chúng ta đã có Kinh Dịch mà ta không biết. Sách đã in và vừa mới phát hành cuối năm nay, 2013.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 49 năm 2013)


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 25.11.2014    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


DIỄN BIẾN NHÂN QUẢ

Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương (1927 - 2004) vào năm 2003 có bàn giao cho tôi một công thức thuộc phép toán Hà Lạc và cho phép tôi ứng dụng thí nghiệm, nếu thấy tốt thì cho công bố. Sau 5 năm thực nghiệm thấy đạt kết quả tuyệt vời, tôi đã giới thiệu với bạn đọc trong bộ sách hai tập “Khám phá một tia sáng văn hóa phương Đông” (NXB Văn học 2009). Đó là công thức tạm gọi tên là Diễn biến Nhân Quả.

Nhờ công thức này mà ta có thể biết, đằng sau cái mệnh trời cho ta là quẻ gì, vậy cái Nhân Quả ẩn tàng trong đó sẽ diễn biến ra sao, ta có thể biết trước được để mà định liệu.

Ví dụ, tôi xem Hà Lạc cho anh bạn tôi được quẻ Tiên thiên - tiền vận là Địa Thiên Thái (thịnh vượng), Hậu thiên - hậu vận là Thiên Thủy Tụng ( tranh chấp, kiện tụng). Áp dụng công thức diễn biến nhân quả do Nguyễn Hoàng Phương phát kiến, tôi bảo anh bạn tôi, cái quả ẩn nấp đằng sau là quẻ Địa Thủy Sư (làm tướng). Quả nhiên trong cuộc đời, anh nhiều năm thực sự “làm tướng” trên trận địa khoa học thông tin, chỉ huy nhiều công trình sáng tạo được người đời thừa nhận.

Lại lấy bản thân tôi làm ví dụ (mà đây là thí nghiệm đầu tiên của tôi, bởi vì cái gì thuộc về phép “tiên tri” thì tốt nhất là xem thử cho chính mình).

Với quẻ trời cho là Sơn Thiên Đại Súc (chứa lớn, ngăn cản lớn), hậu vận là Thiên Hỏa Đồng Nhân (cùng người), tôi được biết diễn biến nhân quả của đời tôi là Sơn Hỏa Bí (trang sức, làm đẹp). Quả nhiên, như có trời xui đất khiến, tôi đi vào cái nghiệp văn chương, góp phần làm đẹp cho cuộc đời, phần sau này đi vào nghiên cứu Kinh Dịch với chuyên môn Hà Lạc giúp cho nhiều người biết được quỹ đạo đời mình, cũng là một cách “làm đẹp” cho cuộc đời, gần đây lại ra sách “Gió dọc đầm sen” hái lượm giữa bát ngát hương hoa những dấu ấn Dịch học tiềm ẩn ngay trong tâm hồn Việt, trong tục ngữ ca dao Việt, trong ứng xử đời thường và hành trang lịch sử của người Việt ta. Chẳng phải cũng chính là dấu ấn nhân quả Sơn Hỏa Bí hay sao, tôi tự bảo mình như thế.

Theo phép toán Hà Lạc, mỗi con người có thể biết được đời mình có cái mệnh trời cho là gì, lại biết, trời cho mình từng chặng đường đời ra sao, từng năm, từng tháng ra sao. Lại nhờ phép Nhân Quả mà biết trước cái quả (kết quả, hậu quả) ẩn tàng trong cả đời (như hai ví dụ trên), trong từng năm, từng tháng, từng tuần (tuần ở đây là tuần 6 ngày ứng với 6 hào của quẻ Dịch) ra sao. Lợi hại vô cùng.

Tại sao Nguyễn Hoàng Phương lại sáng tạo ra công thức Nhân Quả kỳ diệu ấy? Đó là vì ông đã tích hợp đa văn hóa Đông Tây, khám phá ra Kinh Dịch bắt nguồn từ đạo Phật. Bụt nói về lửa: Này các vị khất sĩ, đừng để tự bốc cháy theo ngọn lửa của lòng tham, của hận thù và của ảo vọng! Đó là quẻ Ly.

Bụt nói về khúc gỗ đang trôi giữa hai bờ sông, bảo rằng: Đừng như khúc gỗ kia “chìm đắm nửa chừng” bị những sợi dây dục vọng và mê đắm buộc lại, không còn đủ sức để đi tới; đừng để “cuốn theo dòng nước xoáy” của những hư danh và lười biếng. Đó là quẻ Khảm.

Một hôm, Bụt đứng trên một ngọn đồi, chỉ những thửa ruộng nối nhau chạy dài đến chân trời, nói: Tại sao ta không may áo cà sa cho các vị tu hành theo kiểu mẫu này? Từ đấy, các áo cà sa đều may theo hình dáng những thửa ruộng. Đó là quẻ Khôn.

Nhân Quả là nguyên lý của đạo Phật, khuyên con người chớ tạo ra “nghiệp chướng” để mà chịu lấy hậu họa về sau, làm việc thiện, không động đến sinh mạng, từ con kiến trở đi. Ngày nay, ta thấy những kẻ giết người đến hàng chục năm sau vẫn phải ra đầu thú. Đó là luật trời.

Giáo sư vật lý học thời nay (tức Nguyễn Hoàng Phương) đọc chuyện cuộc đời Bụt trong sách “Đường xưa mây trắng” (tác giả Thích Nhất Hạnh) tìm ra đủ dấu ấn kinh Dịch, bỗng từ trong vô thức, tìm ra phép nhân đơn giản giữa hai quẻ Trời cho (tiền vận) và quẻ Trời Đất Người (hậu vận), thành quẻ diễn biến Nhân Quả. Lại đem nhân quẻ ấy với bất cứ quẻ năm, quẻ tháng nào của đời mình, cũng đều tìm ra cái dấu ấn Nhân Quả ẩn tàng trong ấy.

Trong sách “Khám phá…” của tôi, chỉ dám nói rằng Nhân Quả ấy bắt nguồn từ thiện ác trong hiện thực đời mình. Nhưng hôm nay, đọc lại những bản thảo chưa kịp xuất bản của Nguyễn Hoàng Phương, mới biết rằng, Diễn biến Nhân Quả ông khám phá ra chính từ cuộc đời của Bụt, từ quy luật của vũ trụ, từ tích hợp đa văn hóa Đông Tây của loài người. Tất cả chỉ bắt đầu từ một phép nhân âm dương rất đơn giản. Đơn giản như là chân lý vậy.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 50 năm 2013)

VẬN HỘI BÁO LAO ĐỘNG

Trước ngày sang xuân, anh em báo Lao Động đến chơi nhà, bảo tôi thử “gieo quẻ” xem vận hội báo Lao Động năm nay ra sao.

Tôi nói, việc làm báo là công việc của trí tuệ, mà trí tuệ thì vô cùng biến động, nên tôi quả thực không dám động đến công việc này, mặc dù chính tôi đã từng làm báo Lao Động.

Khi tôi ngỏ ý này với một bạn để từ chối việc gieo quẻ, thì bạn đó bảo tôi: Anh nhầm rồi, làm báo trước hết là công việc của tâm hồn. Tờ báo nào cũng có số phận, có vận hội của nó. Anh đã coi tờ Lao Động Tết năm nay chưa, tờ báo nói về “nguyên khí đất nước”, không có tâm hồn không làm nổi tờ báo đó quy tụ những linh hồn của những người bạn bốn phương bàn về nhân tài của đất nước. Tôi đã nghe ra và xin lỗi bạn.

Tôi chọn đúng ngày mồng một Tết năm nay, ngày Đinh Mùi, tháng Giáp Dần, để xin quẻ. Giời đất cho ngay hai quẻ, mà chỉ mới nghe tên quẻ đã khiến tôi vô cùng kinh ngạc. Đó là quẻ Hỏa Sơn Lữ, động ba hào (hào 1, hào 2 và hào 4), biến thành quẻ Sơn Thiên Đại Súc.

Hỏa Sơn Lữ là quẻ nói số phận người lữ hành, ứng ngay vào số Tết Lao Động Cuối tuần với chủ đề “Đi”. Còn Sơn Thiên Đại Súc (Núi-Trời-Chứa-Lớn) thì ứng với chủ đề “ Nguyên khí đất nước” như trên nói. Quẻ Lữ phải động đến 3 hào mới thành quẻ Đại Súc. Điều đó nói lên rằng, năm nay báo Lao Động có “động” lớn. Nghĩa là có chuyển biến lớn, có thay đổi lớn. Tôi không nói cái “động” về nhân sự.

Trước hết, nó là cái động của một cuộc lữ hành, phiêu du, phiêu dạt, “đi về”, “trở về” với cái “nguyên khí” của cuộc sống. Lữ hành đối với một người là cuộc phiêu lưu, du hành, đối với một tòa báo là một cuộc đi tìm, một cuộc khám phá.

Quả thật, báo ta đang mở ra những khám phá mới đối với bản thân mình, với hành trình báo chí của mình, và đối với bạn đọc. Báo ta đang đi tìm một cách nói lên những sự thật, những “nguyên khí” trong cuộc sống. Động hào 1 quẻ Lữ là động về tư cách người lữ hành. Động hào 2 quẻ Lữ là về nghệ thuật người lữ hành. Động hào 4 quẻ Lữ là về cái cơ hội người lữ hành. Năm nay, báo sẽ có chuyển động về tư cách người làm báo, về nghệ thuật làm báo và về cơ hội người làm báo.

Chuyển động được ba cái đó thì sẽ đạt tới quẻ Sơn Thiên Đại Súc. Đại Súc là Chứa lớn. Đối với một tờ báo, thì chứa lớn ở đây là chứa lớn về thông tin, chứa lớn về cơ hội thông tin, ý nói thông tin kịp thời, thông tin đúng với nhu cầu thông tin của bạn đọc. Quẻ Đại Súc có một câu châm ngôn rất thiết thực với người làm báo: “Đốc thực huy quang”, chứa chất cho đầy đặn thì tỏa sáng.
Phan Bội Châu bình luận: Người trong thiên hạ, nhiều hạng người thấy có “huy quang” mà không phải “đốc thực”, chứ không hạng người nào đã “đốc thực” mà không “huy quang”. “Huy quang” mà không “đốc thực”, thời chỉ là loè loẹt ở bề ngoài, trau chuốt những văn minh vỏ. Thế chẳng phải là chân chính “huy quang”... “Huy quang” mà không “đốc thực”, thời là huy quang giả.

Đến như “đốc thực” mà nẩy ra “huy quang”, thời đạo đức ở trong, mà văn thái hiện ở ngoài... Vậy nên, muốn thấy được chân chính “huy quang”, thời trước phải căn cứ ở nơi “đốc thực”.

Ý giời đã rõ, tôi xin không nói thêm.

Trở về với quẻ Hỏa Sơn Lữ, toán Bốc Dịch cho biết thêm, quẻ này là quẻ Lục Hợp. Nghĩa là, quẻ có 6 hào thì cả 6 hào đều hợp với nhau, từng đôi một. Hào 1 hợp với hào 4, Thổ sinh Kim. Hào 2 hợp với hào 5, Hỏa sinh Thổ. Hào 3 Thân Kim hợp với Tị Hỏa, trong hợp có khắc (Hỏa khắc Kim). Đầu năm gieo được quẻ Lục Hợp là thông tin may mắn.

Tôi chúc mừng báo Lao Động. Quẻ Hỏa Sơn Lữ cũng là linh hồn của tờ Lao Động Cuối tuần số Tết và tờ Lao Động Miền Trung & Tây Nguyên số Tết xuất bản ở Đà Nẵng. Những tâm trạng Đi, những tính cách Đi, những tâm hồn khách lữ hành tràn ngập hai tờ báo Tết, ai biết đâu rằng, chính hai tờ này là báo hiệu của một năm vận hội tờ báo, một năm “động” nhiều mặt để trở thành “nguyên khí” của đất nước.

Việc gieo ba đồng xu để tìm quẻ là một việc hoàn toàn ngẫu nhiên. Không ai biết trước nó sẽ như thế nào. Mà sao lại ứng nghiệm như vậy, cho đến bây giờ, nhiều nhà “ tâm linh học” cũng chưa cắt nghĩa nổi.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 8 năm 2013)

THỬ XEM VẬN HỘI HÀ NỘI NĂM NHÂM THÌN

Tôi vừa gieo quẻ xong thì họa sĩ Lê Trí Dũng, tác giả Những hòn cuội nhặt dọc đường (NXB Trí thức 2008) đến chơi.

Lâu nay, chúng tôi chả là bạn “Kinh Dịch” với nhau. Trong không gian còn thoảng mùi hương tôi vừa thắp khi gieo quẻ, tôi tâm sự với anh:

- Mình vừa được một quẻ về Hà Nội, thấy “linh” lắm, nhưng khó nói lắm, Dũng ạ. Năm mới, mình rất mong nhận được một tín hiệu vui vẻ nhẹ nhàng, để các bạn bè Hà Nội, khi nâng chén trà bàn luận với nhau, trên môi nở một nụ cười. Nhưng Thánh nhân lại cho một quẻ mà nói thẳng ra, thì sợ có người không bằng lòng.

Lê Trí Dũng cười xòa:

- Em là một người Hà Nội. Em rất muốn nghe những tiếng nói chỉ dẫn đến sự thật, nhất là anh vừa xin được của “Thánh nhân”. Anh phải nhớ, năm Bốn Nhăm, Hà Nội kéo cờ khởi nghĩa trước khi nhận mệnh lệnh khởi nghĩa của Trung ương. Anh thử nói cho nghe.

- Thế này nhé. Có hai quẻ Dịch. Quẻ thứ nhất nói chung cho cả năm, kể cả tình hình đầu năm. Quẻ thứ hai nói đến diễn biến sẽ có, nhất là cho cuối năm. Khi quẻ thứ nhất hiện ra, mình băn khoăn không biết nói thế nào với Hà Nội. Đó là quẻ Sơn Thủy Mông. Nghe hai chữ “sơn thủy”, ta nghĩ ngay đến “sơn thủy hữu tình”, đến truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh, đến câu thơ Nước non nặng một lời thề / Nươc đi đi mãi không về cùng non... Nhưng với Kinh Dịch, “sơn thủy” đây là Sơn Thủy Mông. Mông là mông lung, mờ mịt. Mông còn là mông muội, cái thuở thơ ấu của loài người, của con người, khi còn là đứa trẻ con. Dù thế nào, được quẻ Mông, ta nghĩ ngay đến một tình hình còn “mông”, nghĩa là còn “muội”, tình hình còn chưa rõ ràng, nhiều cái còn ẩn khuất, nhiều cái còn đang vỡ vạc.

Dũng lại cười, cái cười của tác giả Những hòn cuội nhặt dọc đường, một tập tản văn tôi vừa đọc, thấy lạ như vừa cầm trong tay hòn cuội rơi từ hành tinh khác xuống.

- Em thấy hình như đúng với những gì sẽ diễn ra. Mọi cái tưởng như đã rõ ràng, nhưng với cái nhìn của Thánh nhân, nó khác. Anh nói rõ hơn cho em nghe cái tượng quẻ.

Tôi nói liền một mạch:

- Thế này nhé. Truyện cổ Sơn Tinh – Thủy Tinh nhìn tượng Sơn Thủy trong cái nhìn tương phản. Thơ Tản Đà non nước nước non nhìn tượng Sơn Thủy trong quan hệ tương giao. Còn Kinh Dịch xem tượng Sơn Thủy trong quan hệ tương tác âm dương. Núi ở trên, suối nước ở dưới. Con suối mới hình thành, còn chưa rõ dòng chảy. Chúng ta hãy quan sát con suối từ khi nó còn là dòng nước bắt đầu dưới chân núi. Tuy cái hướng của nó đã rõ ràng là xuôi xuống, nó sẽ hòa vào nhiều dòng chảy khác, sẽ thành suối, suối sẽ thành sông, sông ra biển lớn. Nhưng trong cái thời “mông” này, vừa hình thành dòng chảy, nó còn ngơ ngác, nó chưa biết sẽ rẽ theo ngách nào, len lách ra sao, có khi rẽ vào một kè đá, và cạn khô ở đó, chưa biết chừng.

Thánh nhân bảo: Mông, hanh ! Mông là sẽ hanh thông. Hanh thông, vì sẽ thành sông. Nhưng trước mắt, còn mù mờ, chưa sáng tỏ. Còn vấp váp, còn len lách. Quả thật, Hà Nội ta đang đứng trước một tình hình như thế. Một mặt, có Đại hội Đảng đã chỉ ra con đường suối sẽ thành sông, Hà Nội đã có sơ đồ quy hoạch, nhưng trong năm mới này, Hà Nội chúng ta đang đứng trước biết bao câu hỏi, trước bao nhiêu lối rẽ, vừa chào mời, vừa thách thức.

Quẻ Mông còn mách bảo ta một vấn đề sẽ trở thành một trọng tâm, trọng điểm, thu hút trí lực tâm sức của Hà Nội ta. Đó là yêu cầu đổi mới giáo dục, một yêu cầu bức xúc trong những năm qua và nóng bỏng trong năm Tân Mão ta đã đi qua. Bởi Mông là tượng con suối hình thành dưới núi, còn là tượng em bé ngây thơ, mờ tối, còn cần phải được chỉ bảo, dạy dỗ.

Quẻ Mông rất chú trọng hào 5 và hào 2. Hào 5 tượng cho em bé, tượng cho người học trò sẵn sàng được khai mở. Hào 2 tượng cho người thầy. Quẻ Mông đặc biệt ứng dụng vào sự nghiệp giáo dục.

Gieo quẻ năm mới được quẻ Mông, có nghĩa là giời đất đã chỉ cho chúng ta một con đường ta sẽ phải đi, không tránh được, đó là tiếp tục đổi mới trong giáo dục. Đổi mới thế nào, bản thân quẻ Mông đã vạch ra một cách vô cùng đúng đắn. Nhưng bài này chỉ mới dự đoán. Chưa phải là lúc tôi trình bày.

- Vậy, cái chỗ anh bảo “khó nói” là ở chỗ nào?

- Là ở chỗ, quẻ Sơn Thủy Mông động hào 5 và hào 6 thì sẽ biến thành quẻ Thuần Khảm. Tượng quẻ Khảm là Nước. Nước thì hiểm. Người xưa nhận định, không gì hiểm bằng nước sâu, nên nói đến nước là nói đến cái hiểm trở, cái nguy nan. Quẻ Thuần Khảm gồm hai quẻ Khảm gộp lại, nên thuần khảm là hai lần nước, có nghĩa hai lần hiểm. Ý của Thánh nhân nói rằng, phần sau của năm mới, người được quẻ sẽ rơi vào cảnh như ngập chìm trong nước. Sẽ qua hai lần hiểm. Mà cái hiểm ở đây sẽ xảy ra vào tháng Nhâm Tý, tức tháng 11 âm lịch. Năm mới năm me mà nói ra những tín hiệu ấy, quả là không tế nhị.

- Anh đang nói những tín hiệu ấy với một người Hà Nội đấy nhé. “Hà Nội” là gì? Là “thành phố trong sông”. Người Hà Nội chúng ta đâu có sợ sông nước.

Khi nói chuyện với Lê Trí Dũng, tôi luôn nhớ, người này là tác giả của hàng nghìn bức tranh vẽ ngựa, tôi đã ngắm những con ngựa của anh như xuyên trong mây, như bay dưới ánh trăng.

Tôi nói tiếp:

- Quẻ Thuần Khảm “hai lần nước” không phải quẻ xấu. Người có bản lĩnh, ý chí coi đó là thời thế tiến lên giải nguy cho thiên hạ. Phan Bội Châu giảng: Người xử vào thời hiểm chồng chất là hoàn cảnh rất nguy, nhưng xem tượng quẻ mà tìm ra cách xử hiểm, thì vẫn không sợ gì hiểm. Vì tượng Khảm có một hào dương ở giữa (010), dương là Thực, là thành tín, là chí thành. Tuy hoàn cảnh hiểm, thời hiểm mà tâm vẫn hanh thông, lòng chí thành đến đâu tác động mạnh đến đó, nên hành động được trọng, tai nạn qua khỏi, mà còn có công nữa.

Người Nhật vừa trải qua một trận động đất đầy thử thách. Họ có câu thơ: Những chốn lòng thành thấu tới / Đá vàng cũng phải nứt. Chính là dùng đạo tín thành cho cái tâm sáng, mà bước qua thời hiểm vậy.

Phải chăng, Hà Nội của chúng ta sang năm cũng sẽ là như vậy ?

...............................Xuân Cang
..........................(Hà Nội ngày nay – Số Tết Nhâm Thìn 2012)

CHỮ KHỐN BỎ DẤU SẮC

Nhiều bạn đọc bảo tôi, năm nay, năm Quý Tỵ, xin trời đất cho một quẻ Dịch coi vận hội nước ta ra sao.

Tôi thắp hương gieo quẻ, xin hai lần, rồi ngại ngần không muốn nói ra. Nhưng rồi nghĩ ngợi thế nào, tôi thấy không thể giấu. Bèn thử nói với một bạn thân.

Câu chuyện thế này.

Tôi thắp hương gieo quẻ, được quẻ Trạch Thủy Khốn. Chính chữ Khốn làm cho tôi ngại (năm mới). Trạch Thủy Khốn, tượng quẻ là Đầm (hồ, chằm) ở trên, Nước ( thủy) ở dưới, nước mà ở dưới lòng đầm, thì đầm khô kiệt. Đầm không có nước, thì nguy khốn hiện ra, nên tên quẻ là Khốn. Tượng quẻ không đẹp, tên quẻ có tính báo động, nguy khốn thì còn gì là vui nữa.

Quả thật vậy, chúng ta vừa đi qua một năm Nhâm Thìn không bình thường:
Vốn bất động sản đọng lại ở con số rất cao, nhà cửa sang trọng bỏ hoang, nợ nần không trả được, tai nạn giao thông tuy có giảm, nhưng vẫn còn nhiều, nạn tham nhũng vẫn hoành hành, đạo đức con người xuống cấp đến mức thảm hại. Đảng tự phê bình và xin lỗi nhân dân. Bởi vậy, năm Quý Tỵ là năm phải gánh chịu nhiều cái nguy khốn đang còn hiện ra trước mắt. Ba chữ Trạch Thủy Khốn, tránh làm sao được?

Tuy vậy, nhưng khi người học Dịch mở quẻ Khốn ra, thì giật mình, thấy lời phán bảo của thánh nhân rất đẹp, mở đầu bằng hai chữ: Khốn Hanh. Khốn mà hanh thông! Sao lại lạ thế?

Lời quẻ như sau: Khốn, hanh thông. Chính đính như bậc đại nhân ( ý nói có đức) thì tốt, không lỗi. Dù nói gì, cũng không bày tỏ được lòng mình ( ý nói không ai nghe mình). Có nghĩa rằng, gieo được quẻ này, phải biết rằng trước mắt mình là cảnh nguy khốn, thời nguy khốn, nhiều cái đe dọa sẽ xảy ra. Nhưng ngay sau cái khốn ấy, là sự hanh thông.

Là vì, con người trong trời đất này, có những người có chí, lại có trí khôn, thấy khốn khó đấy, nhưng biết vượt qua. Đối với những người ấy thì thời Khốn là cơ hội để vượt nguy nan, trở thành anh hùng. Phan Bội Châu bình luận rằng: Thật có thế, người bình thường khốn ở hoàn cảnh, thì khốn đến cả tâm. Khốn ở Thời, thì khốn đến cả đạo lý. Chỉ duy quân tử, cảnh tuy khốn mà tâm vẫn hanh, thời tuy khốn, mà đạo vẫn hanh. Kìa như: đức Khổng Tử tuyệt lương ở Trần Thái bảy ngày mà đánh đờn, đọc sách không ngớt; vua Văn Vương bị tù ở Dữu Lý chín năm, mà cắm đầu làm Kinh Dịch không ngừng bút, chẳng phải là Khốn mà Hanh hay sao?

Vậy thì, năm Trạch Thủy Khốn này, hai chữ Khốn Hanh là thuộc về những người Việt đã vượt qua thử thách năm Nhâm Thìn, những người đã sản xuất và xuất khẩu gạo, cà phê vào hạng nhất nhì thế giới, những người vừa khánh thành thủy điện Sơn La trước ba năm, tiết kiệm cho đất nước hàng nghìn tỉ đồng... Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gần đây cũng nhấn mạnh, năm nay phải “Kiên quyết khắc phục yếu kém, vượt qua khó khăn, tiếp tục kiềm chế lạm phát, bảo đảm tăng trưởng, đưa đất nước phát triển bền vững”. Kiên quyết khắc phục yếu kém, vượt qua khó khăn, nói cách khác là vượt qua nguy khốn, đó là ý trời. Thiết tưởng, vậy là đã rõ.

Dự đoán rằng: Năm Quý Tỵ là năm mà đất nước sẽ gặp gian nan, khó khăn nhiều mặt. Một số nạn họa sẽ tiếp tục xảy ra. Năm Quý Tỵ là năm của các đình, đền, chùa, miếu. Bởi trong Kinh Dịch, hướng Tỵ, hướng Đông Nam là hướng chùa. Là năm của những người trí thức, năm của những người tử tế (còn gọi là người quân tử), năm của các nhà khoa học, khoa học duy lý và khoa học tâm linh. Hai chữ Khốn Hanh chính là dành cho họ.

Năm Quý Tỵ với tư cách là năm Trạch Thủy Khốn (đầm bị cạn nước), cũng là năm của những kẻ lộng hành phép nước, đi trái chiều với phẩm chất, đạo đức con người, chúng sẽ gây những nạn họa cho đất nước và con người với những kịch bản không tưởng tượng trước được. Nhưng trong cuộc đụng độ với những “hiệp sĩ của nhân dân”, cuối cùng, chúng sẽ thua. Là bởi quẻ Trạch Thủy Khốn, hai chữ khốn hanh không dành cho chúng. Đây cũng là luật, một thứ luật trời, luật không thành văn nhưng rất có uy, rất hiệu nghiệm.

Chữ Khốn bỏ dấu sắc đi thì thành chữ Khôn. Năm Trạch Thủy Khốn trước hết là năm của những người khôn ngoan.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 2 năm 2013)

VẬN NƯỚC SƠN PHONG CỔ

Chúng ta đều biết, đất nước ta năm Quý Tỵ (2013) là một năm đầy biến động. Biến động trên tất cả các mặt, từ cơ chế quản lý, vận hành đến các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa. Đặc biệt là về đạo đức con người. Chúng ta chứng kiến sự xuống cấp nghiêm trọng, sự đổ vỡ trên rất nhiều nền nếp, nguyên tắc sống, truyền thống tốt đẹp, đã từng là nguyên nhân của những thời kỳ thăng hoa của dân tộc.

Chúng ta cũng sống trong một không khí khác thường, khi cả nước làm lễ tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp biểu thị một ý chí, một tâm nguyện hướng về cái thiện, cái mong muốn thật sự làm người tử tế. Cùng lúc là Quốc hội thông qua Hiến pháp mới (sửa đổi). Nên sang năm mới, rất nhiều người chúng ta rất muốn được biết ý giời cho, để biết vận nước năm nay, Giáp Ngọ (2014).

Tôi trong số những người đó.

Tôi đã thành tâm thắp hương xin giời Phật cho gieo quẻ (nén hương chính là cái ăng-ten giữa con người với tư cách là một tiểu vũ trụ). Chúng ta đều biết phương pháp gieo quẻ xin âm dương bằng sấp ngửa đồng tiền, bao giờ cũng được một quẻ Dịch hiện ra một cách khách quan nhất, hoàn toàn không lệ thuộc vào sự chi phối cá nhân, hoặc những ước muốn riêng. Vậy chúng tôi đã gieo được quẻ gì?

Có thể nói, đã diễn ra một sự bất ngờ kỳ diệu.

Chúng tôi thấy dưới lòng đĩa hiện ra quẻ Sơn Phong Cổ, không hào động. Có nghĩa, giời đất cho quẻ Cổ, không nhấn mạnh một điểm gì, tất cả sẽ diễn ra trong quá trình thực hành theo quẻ Cổ.

Cổ là Công việc, lại có nghĩa là Đổ nát (bê bối). Tượng quẻ: Sơn là núi, Phong là gió. Núi ở trên, gió ở dưới, gió đụng núi, quặt lại, lồng lên, gây ra đổ cây gẫy cành, mọi vật đổ nát, đó là tượng không yên, tất phải làm lại, gây dựng lại. Đổ nát mà làm lại thì rất nên, rất tốt; phải xông pha nguy hiểm, nhưng rồi sẽ có lợi. Lời quẻ nói rằng: Đổ nát mà làm lại mới thì rất tốt (cổ nguyên hanh), vượt qua sông lớn thì lợi. Ba ngày trước ngày Giáp, ba ngày sau ngày Giáp. Được quẻ này, Lời Kinh dạy sửa sang đổ nát phải suy nghĩ, có kế hoạch trước sau, tính trước ngày Giáp ba ngày, sau ngày Giáp ba ngày.

Ví dụ, ngày Giáp bắt tay vào công việc, thì phải nghĩ tới trước ba ngày (tức ngày Tân, đồng âm với Tân là đổi mới) coi nguyên nhân gì gây đổ nát, lại nghĩ sau ba ngày (tức ngày Đinh, đồng âm với Đinh là đinh ninh - tin chắc) để mà đón trước cho tương lai. Làm lại mới mà được như vậy thì rất tốt. Phan Bội Châu giảng thêm: “Thời Cổ là thời Đổ nát, rất xấu mà Lời Kinh lại cho hai chữ Nguyên Hanh là vì sao? Xưa nay, người đời không lo việc đại loạn mà lo không người dẹp loạn, không lo cảnh hiểm mà chỉ lo không có tài vượt hiểm.

Nếu những người sửa sang sự đổ nát đó có gan lớn, có tài cao lại có tấm lòng, có trí lo liệu, thì thời loạn chính là đường mở ra cuộc sửa đổi, cảnh hiểm chính là lối đưa đến bình yên. Nếu chỉ có tài qua sông lớn, mà không có kế hoạch lo trước lo sau, hoặc có kế hoạch lo trước lo sau mà không có gan vượt sông, thì đều không phải là tài sửa sang đổ nát. Cổ làm gì mà nguyên hanh được”. (Góc nhìn bát quái trước đây đã từng đề cập đến Sơn Phong Cổ, nhưng đó là quẻ cho vận mệnh cá nhân, ở đây là quẻ dành cho cả một cộng đồng, cái tầm cao hơn rất nhiều so với vận mệnh cá nhân).

Như vậy, quẻ Sơn Phong Cổ ứng nghiệm vô cùng với vận nước ta trong năm Giáp Ngọ này.

Quả thực là toàn dân ta đang ra sức sửa chữa những sai lầm đã phạm trong những năm đổi mới. Những sai lầm đã diễn ra trên rất nhiều mặt do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, gây nên một hiện trạng không thể nào gọi tên khác hơn là sự đổ nát. Những đổ nát ấy bắt nguồn từ đâu? Người xưa đã khái quát một câu là do thế hệ trước để lại.

Quẻ Cổ có 6 hào thì có đến 5 hào nói đến sửa sang sự đổ nát, khi thì của cha, khi thì của mẹ, nói chung là của thế hệ trước, của người trên. Việc sửa sang đổ nát là công việc của toàn dân, người xưa ví như một cuộc "vượt sông lớn".

Nói tóm lại, với quẻ Sơn Phong Cổ, chúng ta đang bước vào một thời kỳ đầy thử thách. Giời đất mách bảo chúng ta, quẻ Cổ mà không cho ta hào động, có nghĩa, không thể cho biết cái viễn cảnh, cái tương lai, chính vì có sự thử thách đó. Mọi việc còn tùy ở sự tỉnh táo đầy trí tuệ của cả cộng đồng, tùy cái can đảm và dũng cảm, tùy sự mưu trí, sáng tạo, tùy ở quyết tâm của nhân dân. Có thể là “ nguyên hanh”, có thể là ngổn ngang, bê bối, có thể là mắc kẹt và sa vào đổ nát suy sụp hơn. Không loại trừ những hậu quả thê thảm.

Đó là tiếng nói của giời đất.

Được quẻ Cổ không hào động, chúng ta vừa mừng lại vừa lo. Mà cái lo ở đây nhiều hơn. Kinh nghiệm của những năm đổi mới trước đây là nhìn thẳng vào sự thật. Có nhìn thẳng vào sự thật, thì mới "qua sông lớn" được.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 2 năm 2014)

ĐẰNG SAU CÂU CHUYỆN VẬN NƯỚC

Bài “Vận nước Sơn Phong Cổ” của chúng tôi đăng trong số 2 LĐCT vừa qua được nhiều bạn gọi điện nói lời tâm đắc. Tôi xin cảm ơn.

Nay cần nói thêm chi tiết ẩn giấu đằng sau cấu trúc quẻ Dịch.

Có một cấu trúc hào cho biết: Một quẻ Dịch dành cho cộng đồng có 6 hào, mỗi hào phản ánh một đường nét thời cuộc, một tầng lớp người.

Hào 1, thuộc tầng lớp nhân dân; hào 2 thuộc lớp trí thức, nhân sĩ; hào 3 thuộc tầng lớp quan chức cấp thấp (huyện hoặc xã), hào 4 thuộc tầng lớp tương đương bộ trưởng, (ngày xưa là các đại thần, hàm thượng thư); hào 5 thuộc các nguyên thủ, (ngày xưa là vua). Hào 6 thuộc lớp thánh thần, hào này nếu gặp, không được động tới, chỉ có nguyên thủ làm lễ tế trời xin hóa giải.

Hào nào động, có nghĩa, giời đất nhấn mạnh cái đường nét biến động, tầng lớp người chịu sự biến động, cũng có nghĩa, giời đất khuyến cáo vận hành xung quanh cái biến động đó, thì sẽ hóa giải được tình hình. Trường hợp không có hào động, có nghĩa, khuyến cáo ta tình hình biến động, lúc thế này lúc thế khác, giời đất dành cho con người chúng ta cảm nhận và quyết định.

Người không biết Dịch thì chỉ biết chung chung, có khi hoang mang. Người biết Dịch, nhìn vào quẻ Dịch có thể đọc ra ít nhất 5 tình huống cơ bản, 5 tầng lớp người là đối tượng vận hành. Biết được thế, suy ngẫm đối chiếu với thực tế, thấy sáng sủa vô cùng, thấy ra ngay hành động phải có của mình.

Dịch không bao giờ nói chung chung và mơ hồ đâu.

Xin lấy ngay vận nước Sơn Phong Cổ (011001) làm ví dụ. Cổ là Công việc (đầy ắp, bề bộn). Cổ cũng là Đổ nát, đồng thời là Sửa sang đổ nát.

Lời hào 1 quẻ Cổ: Sửa sang sự đổ nát của cha, nhờ con mà cha không lỗi, nhưng cũng có thể nguy đấy, phải biết răn sợ, sau mới tốt. Tầng lớp người thuộc hào này như trên nói, thuộc nhân dân, tầng lớp xã hội dưới cùng, đông đảo nhất, phức hợp nhất và có tính quyết định nhất. Lời hào bảo rằng: Hãy sửa sang những gì đổ nát trong nhân dân. Đổ nát trong nhân dân là (ví dụ) sự xuống cấp về văn hóa, đạo đức, sự đổ vỡ về truyền thống tốt đẹp, sự đòi hỏi đổi mới đường lối và phương pháp giáo dục. Sửa sang sự đổ nát đối với nhân dân là sửa sang sự lãng phí tiền của, sự tham nhũng, sự vung phí ngân sách của nhân dân, khắc phục sự áp chế đối với nhân dân dưới nhiều hình thức biến tướng. Phương pháp là sửa sang sự đổ nát “của cha” nghĩa là từ trên xuống, dựa vào nhân dân, bắt đầu từ nhân dân mà sửa sang, chỉ có cách như thế, “nhờ con mà cha không lỗi”. Mặt khác của vấn đề là trong quá trình vận hành ấy, vẫn không tránh được sự nguy hiểm (có thể nguy đấy, phải biết răn sợ, sau mới tốt). Tưởng không còn gì rõ hơn.

Lời hào 2 quẻ Cổ: Sửa sang sự đổ nát của mẹ, không nên cố chấp. Tầng lớp người thuộc hào này là giới trí thức, nhân sĩ, lớp người quyết định sự phát triển trung chính trong xã hội, hiền tài của xã hội, nguyên khí của đất nước. Chính sách xã hội đối với lớp người này khác nào như lời mẹ dạy con. Sửa sang sự đổ nát ở đây là gì? Là phải sửa những chính sách đào tạo nhân tài, tuyển dụng nhân tài. Nạn học “giả”, bằng thật hiện đang làm nhức nhối lương tâm xã hội, tạo ra những kẻ phá hoại đất nước. Nạn chảy máu trí tuệ đang khoét rỗng nguồn lực ưu tú nhất của đất nước. Toàn bộ công cuộc đổi mới ngành giáo dục có tính chiến lược hiện nay là gì nếu không phải là “sửa sang sự đổ nát của mẹ”, để tạo ra một tầng lớp hiền sĩ trong đó có những “người thày của muôn đời” ? Về phương pháp, người xưa chỉ nói gọn một câu: “không nên cố chấp”. Đó là lời dạy cốt yếu nhất. Sửa sang những bê bối với giới trí thức, nhân sĩ đúng là không nên cố chấp có nghĩa phải linh hoạt, mềm dẻo, không nên cứng nhắc. Lời hào này khuyên cáng đáng việc sửa sang đổ nát của mẹ, mà hoàn toàn dùng cách cương, e có khi đến nỗi “mẹ con không tương đắc”, công việc sửa sang sẽ hỏng (Phan Bội Châu).

Tôi chỉ xin đề cập mấy nội dung “sửa sang” thuộc hào 1, hào 2. Còn các hào 3, 4, 5 thì xin không nói.

Còn hào 6 thì sao? Đó là những việc sửa sang thuộc giới linh thiêng, thuộc các cấp bậc thánh thần trở lên. Tất cả những gì thuộc hào 6 này không phải về phần con người chúng ta, không nói chuyện “sửa sang” gì hết, có thể tìm hiểu, nhưng không được động đến.

Ta hãy đọc lời 6 quẻ Sơn Phong Cổ: Không xu phụ bậc vương hầu, mà nêu cao tư cách của mình. Một cách bất ngờ: Hào trên cùng không nói gì về sự sửa sang đổ nát cả, mà chỉ khen bậc hiền nhân treo gương danh tiết cho thiên hạ coi. Hầu hết các hào 6 đều kết thúc như thế, trong “cấu trúc hào” của một quẻ Dịch, hào 6 là hào “trên vua”.

Một quẻ Dịch có nhiều cấu trúc: cấu trúc quẻ, cấu trúc hào, cấu trúc lý luận, cấu trúc dự đoán, cấu trúc nhân quả, cấu trúc di truyền học, cấu trúc phong thủy v.v…

Trên đây chỉ mới nói một vài nét ẩn giấu trong cấu trúc hào, thật là thú vị.

(Viết sau cuộc trò chuyện mừng xuân Giáp Ngọ với Nguyễn Văn Hoạt, tác giả sách “Nhân mệnh trong Kinh Dịch”).

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 7 năm 2014)

VẬN NƯỚC

Đầu năm, tôi gieo quẻ dự đoán năm nay vận nước ta thuộc quẻ Sơn Phong Cổ. Nhiều bạn đọc cho là đúng với thực tế tình hình nước ta. Cổ là Đổ nát. Cổ cũng là Sửa sang sự đổ nát. Tên quẻ thì xấu. Nhưng nghĩa quẻ thì đẹp: Cổ, nguyên hanh, lợi thiệp đại xuyên, tiên giáp tam nhật, hậu giáp tam nhật (Đổ nát, hanh thông, lợi qua sông lớn, ba ngày trước ngày giáp, ba ngày sau ngày giáp). Đẹp chính là ở chỗ cả nước ta cùng nhau sửa sang, vượt qua sông lớn.

Tôi mới đọc sách của học giả Nguyễn Duy Cần, khi bàn về tượng quẻ Cổ, ông liên tưởng tới hoa sen (gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn), cái sinh nằm trong cái tử, cái thiện nằm trong cái ác, cái vinh nằm trong cái nhục, cái nên nằm trong cái hư, cái thanh nằm trong cái trọc. Lúc bình thường, mà lo trước phòng nguy thì khi gặp họa, ta thừa sức đối phó, còn xem thường xem khinh thì khi gặp họa không sao chống đỡ cho kịp, tránh sao cho khỏi đổ vỡ. Quẻ Cổ dạy ta thế. Họa là chỗ dựa của Phúc, Phúc là chỗ núp của Họa.

Quốc khánh năm nay, suy vận nước, từ quẻ Cổ, tôi nghĩ đến quẻ Thiên Hỏa Đồng Nhân. Đồng Nhân là Cùng Người, là cùng với mọi người, nhưng không phải cùng người trong một nhà, trong một gia tộc, thậm chí trong một nước, còn nhỏ hẹp quá, vì vẫn xoay quanh cái bản thân mình (bản ngã). Đồng nhân đây là “đồng nhân vu dã”, cùng người trên cánh đồng (dã là cánh đồng), có cái ẩn nghĩa “đồng” với mọi người trong cả thiên hạ, tức “đại đồng”. Được đến chỗ đại đồng như thế rồi, thì có gặp hiểm trở gì, cũng đều vượt qua (lợi thiệp đại xuyên - giống như quẻ Cổ). “Đồng nhân” đây là hội hợp được với bậc người chân chính (quân tử), lo việc chính đáng, lợi cho muôn người. Đám tiểu nhân cũng hội hợp được với nhau, nhưng chỉ vì tư lợi, sớm muộn gì khi chia chác lợi lộc, sẽ có sự ăn cánh, chia chác, chia rẽ nhau và thanh toán lẫn nhau. Cho nên, quẻ Đồng Nhân không có lợi cho kẻ tiểu nhân, chỉ lợi cho người quân tử thôi. Quẻ Đồng Nhân chỉ cho ta cách lập nên một lý tưởng “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”, như đã ghi lên tiêu đề chung của mọi văn bản, từ ngày 2.9.1945.

Xã hội đại đồng lý tưởng này, theo Dịch lý, phải lần lượt qua 6 thời, cũng gọi là 6 giai đoạn thuộc 6 hào sau đây:

1 - “Đồng nhân với người ngoài cửa: không hối” (hào 1). Đồng nhân với người trong nhà, chẳng qua là xung quanh cái tôi! Năm 1986 ta có hai chữ “mở cửa” chính hợp với hào này.

2 - “Tập hợp với những người cùng tộc họ, có lỗi” (hào 2). Đồng nhân vu tông (họ hàng), là lẽ thường, nhưng nếu chỉ biết quyền lợi của người cùng tộc hệ, cùng mối lợi, thì sẽ đi đến chia rẽ, ích kỷ, nguồn gốc của chiến tranh, nguy hiểm, phải biết tránh.

3 - “Giấu khí giới vào bụi gai, leo lên đỉnh đồi. Ba năm liền không ngóc đầu dậy” (hào 3). Ý nói muốn “đồng nhân” nhưng còn lo sợ, còn giấu khí giới. Phải leo lên đỉnh đồi theo rõi. Lo về sự thù địch của các quốc gia, nên phải lo khí giới, lo việc quốc phòng. Việc này làm cho 3 năm không phát triển được. Con số 3 đây nói về thời gian dài, chứ không phải chỉ có 3 năm. Hào 3 này còn muốn nói một bọn tiểu nhân muốn phá hoại phong trào đại đồng, nhưng tự lo không đủ sức địch nổi, nên phải nằm trong bóng tối đợi chờ.

4 - “Cưỡi lên tường đất rồi mà không dám đánh, thế là tốt” (hào 4). Sang giai đoạn mới đồng nhân, có nhu cầu hòa hợp, nhưng còn bị ngăn cách bởi một bức tường, cưỡi lên tường rồi, mà không hành động, chỉ để cảnh giới, tốt. Đứng trên tường còn có nghĩa bảo toàn được sự tự do độc lập của nước mình, ở ngoài vòng cạnh tranh với những xã hội quốc gia khác.

5 - “Cùng với người, trước thì kêu ca, sau thì cười, cũng phải dùng đến sức mạnh, rồi sẽ gặp nhau” (hào 5). Đây đã sang một thời kỳ thực sự có đại đồng, ở vị trí đứng đầu, nhưng vẫn còn kẻ cường bạo, tham lam, anh em đấy mà vẫn lăm le thù địch nhau, nên vẫn là trước kêu ca, sau mới cười được, có lúc phải dùng đại quân đánh dẹp, rồi mới “gặp nhau”.

6 - “Chung sống với người trên đồng cỏ. Không hối” (hào 6). Giai đoạn cuối cùng. Trên đồng cỏ, giữa thanh thiên bạch nhật, cái gì cũng được xét đoán vô tư. Một cộng đồng tự do.

Quả thật, từ ngày Quốc khánh đầu tiên năm 1945, nước Việt ta đã trải qua các thời của Thời Đồng Nhân, khi với đối tượng này, khi với đối tượng khác. Tôi xin không liên hệ với thực tế một cách khiên cưỡng, xin để bạn đọc cùng xem xét.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 36 năm 2014)

NGUYÊN CHỦ TỊCH XÃ

Một hiện tượng lạ và hiếm hoi trong cuộc sống. Ông nguyên là Chủ tịch UBND một xã giàu có, người ta bảo là giàu vào loại nhất nước. Cũng là xã có truyền thống cách mạng, năm 1940 đã từng là ATK (an toàn khu) ở ngay vùng ven ngoại thành Hà Nội của Trung ương Đảng Cộng sản. Cái thời ông làm Chủ tịch xã cũng là thời thịnh vượng nhất trong lịch sử xã, và là thời bận rộn nhất trong cuộc đời ông. Có ngày vài chục lần tiếp dân đến gặp, chuyện va chạm về đất đai, chuyện mở mang cửa hàng, chuyện phát hiện di sản trong lòng đất, khai trương sân bóng đá, trang bị máy tính cho trường học, sửa chữa đình đền… Ngày này sang ngày khác, cứ như vậy hàng trăm việc lớn nhỏ phải qua tay Chủ tịch.

Thế rồi, việc phải đến đã đến. Ông bàn giao công việc cho một chủ tịch khác trẻ hơn, xốc vác hơn. Còn ông đã đến tuổi nghỉ hưu. Và chuyện lạ đã xảy ra.

Không biết ông chuẩn bị từ bao giờ, các bạn bè đồng nghiệp, bà con lối xóm, bạn gần bạn xa bỗng thấy ông trở thành một nhà dự đoán học. Đấy là nói cho sang trọng, nói theo cách dân dã, thì phải gọi là thầy bói. Thay đổi rất nhanh, chỉ trong vòng một năm. Đối với một người khác, có trình độ học thức hẳn hoi, đó là công việc của hàng chục năm.

Cái gọi hiện tượng lạ, là thế này. Nếu trước kia, bà con dân chúng đến gặp Chủ tịch xã ở trụ sở xã chất vấn, bàn bạc việc đất đai, vườn ruộng, nghề nghiệp, làm ăn, kiện tụng, vay trả, thuê mướn, xây cất… thì giờ đây, vẫn những bà con ấy, nườm nượp kéo đến nhà nguyên chủ tịch xã, họ xin “chú”, “bác” “cho ý kiến” về số phận cuộc đời, cưới xin, ma chay, mồ mả, ngày lành tháng tốt, nghệ nghiệp tương lai, vợ chồng tương khắc tương sinh, ngoại tình, trộm cắp, con cái nghiện ngập, vong hồn nhập, cây khế có ma…

Hoá ra, có hàng trăm nghìn thắc mắc, lo lắng trong đời sống tâm linh của nhân dân mà trong thời làm Chủ tịch, ông chưa từng giải quyết (nhiều lắm là việc chọn ngày khởi công sửa chữa đền chùa). Bây giờ, là một ông nguyên chủ tịch xã, công việc bận rộn còn gấp trăm lần thời nắm chính quyền. Trước đây, chỉ riêng việc “đi họp” để “tiếp thu, phổ biến” đã coi như mất một phần đời vào đấy. Còn bây giờ, không đi họp nữa (nhiều lắm là những hội hè đình đám giỗ chạp có mặt cho vừa đủ bổn phận và hoàn toàn chủ động về thời gian), nhưng mỗi việc ông phán xét nói ra, liên quan ít nhất đến số phận một đời người.

Tôi nhiều lần dự những cuộc “tiếp dân” của ông, thấy từ đôi mắt, nụ cười của người dân, lấp lánh một niềm tin âu yếm. Trong khi đó, ông cứ vanh vách nói ra, rằng là cô này “tứ trụ thuần âm” khó tránh khỏi “hai lần đò”, cặp vợ chồng này “Đinh Nhâm hoá Mộc ở giờ Dần”, cố gắng cho thằng bé ăn học, mai sau vương tướng chưa biết chừng. Rằng là, cậu này Hồng, Đào xung chiếu cung Thiên Di, thể nào cũng có chuyện chồng Nam vợ Bắc, nhưng cứ yên tâm, dù có ngàn dặm xa nhau, mà vẫn gặp nhau. Rằng là, cô này gặp phải vận hào hai quẻ Truân “cưỡi ngựa dùng dằng”, có đứa tình tang, nếu nó bạo liệt chút đừng sợ “không phải kẻ cướp đâu, mà nó thành thật muốn làm chồng” đấy. Tôi nghe thấy trong phán đoán của ông có cả toán Tứ trụ của Thiệu Vĩ Hoa, Tử vi, Hà Lạc, Bốc phệ, đặc biệt vẫn âm vang tiếng nói thời chủ tịch xã phải dúng tay vào hàng nghìn việc của nhân dân.

Không biết anh học từ bao giờ những môn đó. Hỏi ra mới biết, những ngày làm chính quyền, ông vẫn âm thầm nghiên cứu những môn học tinh hoa của phương Đông mình. Hỏi ngày giờ sinh, hoá ra ông được quẻ Hà Lạc tên là Sơn Thủy Mông, chủ mệnh nằm hào 2.

Mông còn là mù mờ, mênh mông, chưa rõ ràng. Tượng quẻ là dưới núi, suối mới chảy ra, chưa có hướng nhất định. Người quẻ Mông như đi trong sương mù, nên có rất nhiều điều muốn biết, muốn hỏi, muốn bói. Sương mù sẽ tan và thế giới sẽ hiện ra. Suối sẽ thành sông. Chủ mệnh hào 2 bảo rằng, người quân tử xem quẻ này mà quyết tâm nuôi dưỡng tính tình, đức độ để định hướng cho đời mình, rồi sẽ “làm thầy” người ta.

Ông không hề biết mình có quẻ Mông. Chỉ biết hành động theo sự xui khiến của số phận. Phải đợi đến khi trở thành “nguyên chủ tịch xã”, ông mới đi theo con đường, theo tiếng nói của trời đất. Ông là Nguyễn Thạc Vinh, nguyên Chủ tịch UBND xã Đình Bảng (nay là phường), thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Kinh Bắc xưa.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 34 năm 2013)




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 27.11.2014, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 26.11.2014    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


TẢN MẠN CUỐI NĂM

Thế là đến số báo này, “Góc nhìn Bát quái” đã ra mắt bạn đọc được 223 bài, khoảng 223 nghìn chữ, nói 223 chuyện trên trời dưới đất.

Từ chuyện "mổ" để sinh con vào giờ tốt đến chuyện "không có gì bằng mãi mà không nghiêng", rồi chuyện "Đảng tự phê bình xin lỗi trước nhân dân". Quả thật, đối với Kinh Dịch, không sót chuyện gì không thể nói đến. Cho nên, có bạn đọc ở Phú Yên viết thư báo tin, không sót số báo nào ông không đọc bài của tôi. Có bạn đọc ở Thanh Hóa không thấy bài ở trang quen thuộc, vội gọi điện hỏi tôi xem có chuyện gì không. Tôi vội trả lời là mở trang 8 sẽ thấy bài. Các bạn đó gọi tôi là nhà Dịch học. Tôi cảm ơn và bảo, tôi chỉ là chú bé mon men đến chân trời Dịch học. Bạn đọc ở Thanh Hóa cười: Nhưng mà "chú bé" ấy đã hơn 80 tuổi rồi đấy.

Quả thật, suốt đời ta chỉ đọc Dịch cũng không bỏ phí chút nào. (Chỉ có điều nếu chỉ đọc Dịch thôi, thì chữ nghĩa đầy bồ, nhưng không kiếm ăn được). Có bạn đọc bảo tôi: Tôi "chịu khó" đọc anh, thấy hay, nhưng tôi chẳng hiểu gì. Một bạn nhà văn nghe câu ấy trả lời: Chẳng hiểu gì thì mới là hay chứ, đọc Dịch mà cứ vanh vách hai cộng hai là bốn thì còn gì là Dịch nữa. Đọc đến câu " không có gì bằng mãi mà không nghiêng" (hào 3 quẻ Thái) thì đến Tổng thống Nga Putin, Tổng thống Mỹ Obama cũng phải chịu.

Năm 2012, tôi chọn 127 bài in thành tập sách mang tên “Góc nhìn bát quái” (NXB Văn hóa Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh). In thành sách rồi mới thấy ra một điều. Khi viết từng bài, chỉ thấy vui vui, trò chuyện với bạn đọc một đề tài còn lạ với nhiều người. Bây giờ, ngồi trước một cuốn sách, đọc lại một mạch, bỗng thấy hiện lên một cái gì khác lạ đối với chính mình. Cái khác lạ ấy là qua những dòng chữ ngắn, thấy hiện lên cả một thế giới âm dương hòa nhập trong vũ trụ, trong cuộc sống nhân loại, trong cơ thể con người, trong mọi vật trước mắt ta. Trong mối quan hệ Trời-Đất-Người ấy còn rất nhiều bí ẩn. Cuốn sách không chỉ phát hiện những bí ẩn, mà còn giải mã những bí ẩn ấy theo một cách riêng của tác giả. Cầm một đôi đũa bằng bặn, tôi đố bạn biết chiếc nào là âm chiếc nào là dương? Thế mà có âm dương đấy, chiếc nào vót trước là dương, vót sau là âm.

Lại đọc câu ca dao này:

Mình nói với ta mình hãy còn son
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò
Con mình những đất cùng gio
Ta đi gánh nước tắm cho con mình.


Đố biết người đàn ông đã "giải mã" tình huống nói dối ấy bằng quẻ gì?

Trả lời: Bằng quẻ Trạch Lôi Tùy. Tùy là Thuận theo. Người quẻ Tuỳ là người biết thuận theo dòng, nhạy cảm với việc theo ai, theo cái gì, theo như thế nào, theo vào lúc nào, tuỳ hoàn cảnh, tuỳ thời mà theo. Lại biết làm cho người theo mình. Hào 6 quẻ Tùy có câu rằng: Ràng buộc lấy, theo mà thắt chặt lấy. Thái vương nhà Chu được lòng người như vậy, mới lập được nghiệp vương hanh thịnh ở Tây Sơn (Kỳ Sơn). Lời hào trên vừa nói với vua nhà Chu lấy nước ở Kỳ Sơn, vừa nói với người đàn ông gánh nước tắm cho "con mình".

Bạn đọc lại hỏi: Vậy, năm nay tác giả có "khám phá" thêm cái gì mới không? Hay chỉ là ứng dụng? Quả thực, nếu chỉ ứng dụng Dịch vào cuộc sống, đã coi là một thành công rồi.

Nhưng Dịch cũng dành cho ta những chân trời khám phá, bởi Dịch là biến đổi, Dịch là chữ Thời, thời nào cũng có cái mới của nó, Dịch không bao giờ đứng im. Ngay trên "Góc nhìn Bát quái" này, với điều kiện biết không rành mạch về ngày giờ sinh, chúng tôi cũng đã "đi ngược chiều" khám phá ra số phận của Thanh Châu (Địa Sơn Khiêm), Vũ Trọng Phụng (Lôi Thủy Giải), hai người của hàng trăm năm trước, lại tìm ra số phận người của hôm nay là Ma Văn Kháng (Sơn Phong Cổ).

Bởi, văn chương là bản sao của hành trình số phận.

Thấy ra một nguyên lý, đối với nhà văn, nghệ sĩ, hoàn toàn có thể căn cứ vào hành trang nghệ thuật của họ mà tìm ra số phận họ. Chúng tôi đã tìm được số mệnh Nguyễn Du căn cứ vào Truyện Kiều, tác phẩm Mệnh của nhà thơ (LĐCT số 38, 27.9.2012). Thân phận Kiều là Thiên Địa Bĩ, Kiều xinh đẹp và tài hoa, nhưng Kiều lâm vào phận bĩ, bĩ cả thời lẫn thế. Kiều là tiêu biểu cho hai chữ Thể và Dụng. 15 năm lưu lạc trong Truyện Kiều là 15 năm thoát bĩ, đánh đổ cái bĩ. Cuộc đời Nguyễn Du cũng là một thân phận bĩ, Nguyển Du cũng có từng ấy thời gian đánh đổ cái bĩ. Nguyễn Du đã gặp Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, và thành Truyện Kiều của Nguyễn Du. Tìm ra những ý tưởng ấy dưới ánh sáng Kinh Dịch, chúng tôi như tìm thấy một chân trời mới để khám phá Nguyễn Du.

Hạnh phúc nào bằng!

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 1 năm 2013)

MÔ HÌNH BẠN ĐỌC

Đến bài viết này, tôi đã trò chuyện với bạn đọc được 305 bài trong chuyên mục “Góc nhìn Bát quái”. Có bạn nhắn bảo tôi: “Số báo nào, tôi cũng đọc bài của anh. Tôi chẳng hiểu gì cả, nhưng tôi vẫn đọc, không biết vì sao”. Tôi cũng không hỏi lại, vì sao như thế, vì sao bảo là "không hiểu gì mà vẫn đọc". Tôi đã làm bạn mất thời giờ chăng?

Tôi kể lại với một nhà văn bạn tôi cảm tưởng trên.

Bạn tôi cười bảo: “Đấy chính là cái hay của Kinh Dịch. Nếu những gì cậu viết ra mà đọc đâu biết đấy, như đang ngồi nói chuyện với nhau trên quán nước vỉa hè, thì ai thèm xem?”. Lại bảo: “Người bạn đọc không hiểu gì mà vẫn đọc đều "Góc nhìn bát quái" của cậu ấy mà, đã được khái quát thành một mô hình minh triết trong ca dao Việt đấy. “Người ta đi cấy lấy công/ Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề”.

Chúng tôi cả cười, khoác vai nhau và cùng nhau đọc tiếp:

Trông trời trông đất trông mây
Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm…
.

Bạn tôi bảo: “Có phải “trông” đâu? Người Việt ta học đấy. Đọc Dịch đấy. Trời, Đất, Người. Tam tài trong Kinh Dịch. Tìm hiểu cái bộ ba Trời - Đất - Người. Có hiểu được hết đâu, Trời là gì, Đất là gì, Mây, Gió thế nào, nhưng vẫn trông, vẫn tìm hiểu, đó là cả một vũ trụ, là âm dương, ngũ hành, bát quái.

Đến “Người”, tìm hiểu chính mình, mới cực khó.

Chữ “trông” ở đây còn là cầu mong, nhưng cái sự cầu mong này thật là vĩ đại: “Trông cho chân cứng đá mềm”. Cái anh bạn đọc của cậu không hiểu gì, mà vẫn đọc đều ấy, là một con người đáng kính, một con người cao cả, anh ta có cái học (người xưa gọi là) “hình nhi thượng”, ésotérisme! (tiếng Pháp, tính bí hiểm)”.

Thưa các bạn, đúng như thế đấy.

Tôi không bao giờ cố tình viết để bạn đọc khó hiểu, nhưng Dịch là như thế. Dịch là biến. Nhưng trong cái biến này có cái bất biến, và chính cái bất biến chỉ huy cái biến.

Dịch là một bộ kinh vô tự (không có chữ), chỉ có Tượng và Số thôi. Sự quan trọng của Dịch không phải ở “Lời” mà ở “ Tượng” và “Số”. Từ Tượng và Số, ta sẽ tìm ra Ý. Ý tại ngôn ngoại. Có một học giả uyên thâm nói rằng: Phục Hy vạch ra 8 quẻ (bát quái), tuy chỉ có mấy nét, mà bao quát được hết mọi lẽ huyền vi trong trời đất. Kẻ học hiểu được Lời, thì chỉ hiểu được phần thiển cận; mà khi nào hiểu được phần Tượng, mới mong đạt đến phần tinh thâm diệu nghĩa của nó mà thôi. Lại có một học giả nói: Có Lời là vì Ý, được Ý hãy quên Lời. Ta tìm đâu được kẻ biết quên Lời, để cùng nhau đàm luận!

Trước sau, tôi chỉ dám làm một kẻ mon men đến chân trời Kinh Dịch. Viết là để chính mình tìm hiểu, khám phá cho chính mình và chia sẻ với bạn đọc. Tôi không dám nói, những cái viết ra đã đúng với Dịch. Chẳng qua “nhất hồi niêm xuất nhất hồi xuân” (mỗi lần nói ra là mỗi lần mới), vậy mà thôi. Cho nên, tôi với người bạn đọc thú nhận rằng, chẳng hiểu gì mà vẫn đọc đều “Góc nhìn Bát quái”, có lẽ cùng một mô hình bạn đọc của Dịch.

Mô hình ấy đã được nhà bác học thiên tài của thế kỷ XX Albert Einstein tổng kết trong một câu rất hay rằng: Người mà không quen cảm thông với sự huyền bí, là đã đánh mất đi cái khả năng biết ngạc nhiên, biết say đắm trong niềm tôn kính trước những điều huyền bí. Con người ấy, kể như một kẻ đã chết rồi.

Tôi bắt đầu viết “Góc nhìn Bát quái” từ năm 2008, mỗi tuần một bài, từ đó đến nay không bỏ tuần nào. Song song với “Góc nhìn bát quái”, tôi viết thêm 3 quyển sách về Kinh Dịch, tổng cộng hơn 2.000 trang. Những bài báo nhỏ (khoảng 1.000 chữ/ bài) và những trang sách đi với nhau như những đôi bạn, đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Chúng bổ sung cho nhau, đối đáp với nhau, và để lại dấu ấn trong nhau. Thế nhưng ai hỏi, tôi đã biết gì về Dịch, tôi cũng chỉ có thể trả lời giống người bạn đọc của tôi, càng đọc, càng tìm hiểu khám phá, càng thấy rằng mình chẳng hiểu gì cả, nhưng mình không vì thế mà bỏ Dịch.

Bởi vì, Dịch không bao giờ cũ,

Dịch trả lời cho ta, chỉ vẽ cho ta biết bao công việc trông thấy trước mắt, từ việc của người cầm quyền trị nước, lo cho sự tồn vong của dân tộc, đến việc làm cha mẹ, làm vợ chồng, anh em, hàng xóm của người bình thường trong xã hội. Đối với Dịch, nói như Nguyễn Duy Cần, người mà hay thắc mắc đặt nhiều câu hỏi quá, có thể giống như người đần độn; nhưng mà kẻ suốt đời không bao giờ biết ngạc nhiên và đặt câu hỏi, kẻ ấy đành chịu làm kẻ đần độn suốt đời.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 37 năm 2014)

CHÂN CỨNG ĐÁ MỀM

Thế là đến bài này, tôi đã trò chuyện với bạn đọc trên “Góc nhìn Bát Quái” được 291 bài, đủ chuyện trên đời, bắt nguồn từ Kinh Dịch.

Người Việt ta đã thể hiện sự hiểu biết của mình về Kinh Dịch trên trống đồng, trong ca dao tục ngữ, cả trên chữ nghĩa, nhất là trong hành động xử sự việc đời, trong lịch sử dựng nước và giữ nước.

Theo tôi, người Việt ta mô tả hay nhất về Dịch, là câu ca dao:

Trông trời trông đất trông mây
Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên biển lặng mới êm tấm lòng
.

Cả thẩy, có 8 chữ "trông".

"Trông" ở đây là quan sát, xem xét, gồm cả quyết định hành động, hy vọng, mong đợi.

"Trông trời, trông đất" là quan sát vũ trụ từ khoảng không “Thái cực sinh lưỡng nghi” âm dương, từ vận động âm dương mà sinh ra vạn vật, thiên nhiên.

"Trông mây, trông mưa, trông nắng" là quan sát thiên nhiên, có đầy đủ trong bát quái, tám quẻ: Càn (trời), Khôn (đất), Cấn (núi), Chấn (sấm), Tốn (gió), Ly (lửa), Khảm (nước), Đoài (đầm). Con người gắn với thiên nhiên, nên vận động của thiên nhiên cũng chính là vận động của con người.

"Trông ngày, trông đêm", là xem xét thời thế.

Cả Kinh Dịch, nói gọn một chữ, là chữ Thời.

Cuối cùng, là "Trông cho chân cứng đá mềm" xác định thái độ con người trước biến động của thiên nhiên và thời cuộc.

"Trời yên biển lặng" là mong ước muôn đời của người dân Việt.

Ca dao tục ngữ là kho tàng minh triết Dịch học của người Việt.

Cái duyên may của tôi là trong cuộc đổi mới tư duy của nước ta, tôi bắt gặp Kinh Dịch bằng chữ quốc ngữ vào tuổi trên 50, vừa đủ trải nghiệm để thâm nhập vào triết học phương Đông, vào kho tàng minh triết Dịch học của người Việt ta. Lại nhờ thầy Nguyễn Hoàng Phương mà khai thác được môn toán Hà Lạc (bắt nguồn từ sách dạy Hà Lạc của Học Năng tiên sinh và các ẩn sĩ khác), từ đây khám phá ra một phép phê bình văn học, trong đó “văn chương là bản sao hành trình số mệnh”, xem xét văn chương dưới ánh sáng Kinh Dịch. Trước hết là tự phê bình, biết cái gì hay, cái gì dở, biết đến từng ngày.

Ví dụ như, bài viết tâm sự với bạn đọc hôm nay, nhằm vào ngày hào 3 quẻ Phong Thiên Tiểu Súc.

Lời hào bảo rằng “như chiếc xe rớt mất trục, vợ chồng hục hặc với nhau”. Hào này là hào dương lại ở vị trí dương, nên quá cương, muốn tiến lên lắm, nhưng ở sát trên nó là hào 4 âm, dương ở gần âm chẳng khác nào vợ chồng. Trong quẻ Tiểu Súc, hào 4 âm quan trọng lắm, vì nó là hào âm duy nhất trong quẻ, nó có vai trò ngăn cản các hào dương còn lại trong quẻ (111011), mà ở sát ngay nó, ngay phía dưới nó là hào 3, nên sức ngăn cản của nó đối với hào 3 rất mạnh, chẳng khác nào người vợ có đủ sức ngăn cản chồng.

Từ lời và tượng như thế, cụ Học Năng dịch lời phán đoán của phép toán Hà Lạc như sau: “Vì cương quá, nên bị có kẻ ghìm lại”. Một câu như thế ứng với tôi như sau. Xem thời sự, thấy tình hình căng thẳng trên Biển Đông diễn biến phức tạp, muốn viết ngay một bài “Góc nhìn bát quái” vạch rõ cái sai lầm của đối phương (vốn tự hào là giỏi Kinh Dịch).

Nhưng quả thực, trong tâm bỗng nảy lời khuyên đừng vội, hãy đọc thêm sách Dịch, đọc thêm cuốn sách “Bí ẩn bát quái” của các nhà Dịch học Trung Hoa đang bày trên giá sách của mình, rồi hãy lên tiếng. Lời khuyên can đó đủ sức khiến tôi chuyển sang bài viết bạn đang cầm trong tay. Thế chẳng phải là “Vì cương quá, nên bị có kẻ ghìm lại” hay chăng?

Kinh Dịch rất kỳ diệu. Một hào trong quẻ (một vạch âm hoặc dương, một con số 1 hoặc 0 trong dãy số nhị phân) đủ sức khái quát một chặng đường đời (đại vận 9 năm hoặc 6 năm), lại đủ sức chỉ rõ chủ mệnh chi phối trong một năm, một tuần, cũng chính hào ấy có thể chỉ rõ những việc của đời người trong một ngày. Như cái hào 3 dương quẻ Tiểu Súc tôi vừa kể trên.

Biết nghe lời hào 3, phải chăng là để cho “chân cứng đá mềm”?

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 32 năm 2014)

ĐI TÌM MỘ TỔ KINH DƯƠNG VƯƠNG

Rất nhiều người không biết rằng, ngay trên đất nước ta, có ngôi mộ Kinh Dương Vương, thủy tổ nước ta. Ngôi mộ đó hiện nay nằm bên bờ sông Đuống, thuộc địa phận thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Mộ giản dị, đắp trên một gò đất nhìn ra bờ sông, xung quanh là những cây cổ thụ quanh năm xanh tốt. Nhân dân không xây thành lăng, mà chỉ xây cao lên bằng gạch cổ, có mái nhỏ che mưa nắng. Rêu xanh màu thời gian. Các nhà nghiên cứu cho rằng đây là ngôi mộ cổ do nhân dân chọn địa thế đẹp, có tụ khí phong thủy, dựng lên như một biểu tượng.

Điều quan trọng là ngôi mộ nằm ở đúng một trung tâm thời dựng nước đã từng là một thánh địa do chính Kinh Dương Vương chọn, trên đường đi kinh lý, qua trang Phúc Khang, bộ Vũ Ninh (nay là thôn Á Lữ), nhận ra thế đất quý, có Tứ linh long, ly, quy, phượng, có sông núi bao quanh, rồng chầu, hổ phục. Ngài đã đem những cư dân Việt cổ quy tụ về lập nên những xóm làng đầu tiên.

Vùng đất Phúc Khang bắt đầu trỗi dậy sức sống Việt, và trở thành vùng đất mang tinh hoa Việt, sau là vùng Luy Lâu nổi tiếng cho đến ngày nay. Ngài còn cho xây nhiều hành cung ở chốn này để quy tụ những hiền tài khắp vùng luận bàn việc non sông xã tắc (theo tác giả Nguyễn Thế Bình).

Theo truyền thuyết, Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ Lĩnh (Hồ Nam, Trung Quốc), đóng tại đó rồi lấy con gái bà Vụ Tiên, sau đó sinh được một người con trai tư chất thông minh đặt tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi, làm vua phương Bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương.

Theo sử sách nước Việt thì Kinh Dương Vương làm vua và cai trị từ khoảng năm 2879 trước Công nguyên, cách đây 4892 năm. Địa bàn quốc gia dưới thời Kinh Dương Vương rộng lớn, phía Bắc là miền đồng bằng thuộc lưu vực sông Dương Tử giáp hồ Động Đình, phía Nam giáp Lâm Ấp (Chiêm Thành cũ), Tây giáp Ba Thục (vùng Tứ Xuyên của Trung Quốc), Đông giáp biển Đông. Ngay cái tên Kinh Dương Vương đã phản ánh vùng miền nói trên: Kinh là châu Kinh, Dương là châu Dương (nay thuộc Trung Quốc).

Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm. Về sau, Sùng Lãm kế vị, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai (con của Đế Nghi), tên là Âu Cơ.

Huyền thoại Âu Cơ sinh trăm con trai, bắt nguồn từ một sự thật là vùng đất sinh ra người con gái xinh đẹp hiền hòa làm vợ Lạc Long Quân thuộc địa phận quận Ích Dương thời xưa, có nhánh sông Âu Giang, nơi sinh sản giống chim Âu, có hàng đàn chim Âu bay lượn trên trời. Nhân dân lấy tên chim Âu đặt tên cho nàng.

Chim Âu đẻ trứng. Người đời sau lấy việc đẻ trứng của chim Âu làm hình ảnh triết học để tả vị quốc mẫu Âu Cơ đã sinh ra các thế hệ “trăm họ” về sau mang tên “Bách Việt”. Cứ theo truyền thuyết trên thì vua Hùng đầu tiên là cháu nội của Kinh Dương Vương. (theo các tác giả Lê Quang Châu, Hoàng Tuấn, Nguyễn Thế Bình).

Giáo sư Lê Quang Châu, biệt hiệu Hồng Nguyên Tử, ngồi chơi bên bờ sông Đuống, dưới chân mộ tổ, kể rằng: Trẻ con nước ta có trò chơi, bắt đầu từ bài đồng dao:

Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa chết trương
Ba vương ngũ đế
Chấp chế đi tìm
Ú tim tìm được
Ù à ù ập!
Ngồi thụp xuống đây


Xin giải mã bài đồng dao như sau:

“Chi chi” là chi nọ (trong một tộc họ) nối chi kia.

“Chành chành” là nếu không có chi kế tiếp, thì “chành” sang họ trực hệ, hoặc đồng tông.

“Cái đanh thổi lửa” là biểu hiện thời cổ xưa có ông Toại Nhân dùng dùi đá lấy lửa.

“Con ngựa chết trương” là hình ảnh chuyện nhân vật Hiên Viên phản vua Thần Nông, giết vua và mười bốn người, cướp ngôi, tự xưng chính mình là hậu duệ, phạm vào lời nguyền “Bắc Nam không xâm phạm nhau”, gây nên cảnh “người và ngựa chết trương đầy đồng nội”.

“Ba vương Ngũ đế”. Nói trước về “Ngũ đế”, là năm vị tổ của Kinh Dương Vương gồm Đế Thiên (Phục Hy), Đế Thích (Thần Nông), Đế Khôi (Viêm Đế, viêm là lửa), Đế Tiết (Hoàng Đế, vị vua đã phạm lời nguyền. Chữ “Hoàng Đế” là tên riêng, không mang nghĩa “vua”), Đế Thức (Thần Đế). “Ba vương” là ba vua anh em ruột dòng dõi Đế Thức: Vua Minh, vua Lai và vua Long Cảnh. Vua cả tên Minh đã đặt tên nước ta thời ấy là Xích Quỷ, xích là đỏ, màu lửa để chỉ rằng, đây là dòng dõi của Viêm Đế, quỷ là một trong 28 ngôi sao (thập nhị bát tú), tượng trưng phương Nam (không phải quỷ là ma quái).

“Chấp chế đi tìm”. Kể từ “Ba vương Ngũ đế” đã chấp nhận đi tìm một thể chế để có thể xây dựng cơ đồ bền vững.

“Ú tim tìm được”, tìm được chế độ liên hiệp trăm họ lại, tạo dựng nên nhà nước Văn Lang.

“Ù à ù ập” là tán thán từ, tỏ dấu hiệu vui mừng.

Đây là trò trẻ con chơi đã mấy nghìn năm, nó là cách người Việt ta ghi nhớ chuyện cổ sử. “Uống nước nhớ nguồn” là như thế.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 39 năm 2013)

ĐỌC DỊCH

Sau một thời kỳ dài vắng bóng, bắt đầu từ năm 1990, trên các giá sách, cửa hàng sách lần lượt xuất hiện những sách nghiên cứu về Kinh Dịch, “Kinh Dịch” của Ngô Tất Tố, “Kinh Dịch đạo của người quân tử” của Nguyễn Hiến Lê, “Chu Dịch” của Phan Bội Châu, “Dịch học tinh hoa” của Nguyễn Duy Cần, “Tích hợp đa văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai” của Nguyễn Hoàng Phương, cùng với sách bàn về Dịch học của nhiều học giả khác.

Một hiện tượng xuất thần, bắt đầu từ công cuộc đổi mới đất nước mang dấu ấn năm 1986. Một học thuyết của phương Đông bàn về Trời đất và Con người, những gì là âm dương, ngũ hành, bát quái, đã từng nuôi dưỡng đời sống tinh thần con người hàng nghìn năm qua. Hóa ra, học thuyết ấy đã biến vào trong lối sống, trong truyền thuyết nằm lòng, trong tục ngữ ca dao, trên cửa miệng, trên hoa văn nơi thờ cúng của người Việt ta.

Tôi đã ngắm nhìn và làm quen với nhiều bạn đọc dừng chân trước quầy sách Dịch. Và cũng được nhiều bạn đọc thú nhận: Đọc thì vẫn đọc, nhưng đọc không vào. Tìm hiểu thì biết, có nhiều lý do, ở đây, tôi chỉ xin đề cập một lý do gần gũi nhất, là do cách đọc Dịch.

Kinh nghiệm thiết thân của các tiền nhân cho rằng, muốn đọc Dịch cho thấu, cho “đã”, thì phải bắt nguồn từ nhu cầu của bản thân, muốn biết Dịch để giải quyết những vướng mắc trong kiến thức, trong thời cuộc, trong số mệnh của mình, để xử lý việc chọn ngành nghề, việc giải tỏa những khó khăn vấp váp, giải tỏa những vấn đề nhân duyên, thời cơ, vượng suy, nhân tình thế thái. Có những nhu cầu cao hơn, như Sào Nam Phan Bội Châu, cần tổng kết cuộc đời hoạt động cách mạng, cần để lại di sản còn quý hơn vàng ngọc cho con cháu. Như Nguyễn Duy Cần, nhờ học Dịch mà thanh thoát được môn khoa học Y thuật Đông phương đầy bí ẩn. Nhiều thầy thuốc Đông y cổ truyền theo lời khuyên của Hải Thượng Lãn Ông “không học Dịch, không làm thầy thuốc được”. Còn nhiều người bình thường chúng ta cũng nhận ra rằng, không biết Dịch, có thể khó vượt qua được những thử thách cuộc sống ngày càng đầy biến động.

Thoạt tiên, tôi cũng tưởng nhiều bạn đọc khó hiểu Dịch là do vấp phải những thuật ngữ, thành ngữ xưa cũ, xa lạ. Nhưng hóa ra, không phải vậy. Người đọc ngày nay còn đứng trước những thuật ngữ trong khoa học, trong công nghệ hiện đại, khó gấp vạn lần, nhưng họ vẫn hiểu được. Vậy, vấn đề còn lại, bạn chưa học được Dịch là do bạn chưa có nhu cầu thiết thân, vậy mà thôi.

Kinh nghiệm nhiều bạn đọc là, khi con người có nhiều trải nghiệm trong cuộc đời, mà còn quá nhiều vướng mắc chưa giải tỏa được, thì xuất hiện nhu cầu học và đọc Dịch. Khổng Tử xưa tổng kết rằng, con người từ năm mươi tuổi trở lên, học Dịch mới thành công. Có nghĩa, khi con người có nhiều trải nghiệm trên đường đời, thì mới học nổi Dịch học. Con số năm mươi chẳng qua là ước lệ.

Nguyễn Duy Cần thì tổng kết rằng, đến khi ấy, trong cuộc đời mới xuất hiện nhiều thắc mắc và đặt ra nhiều câu hỏi, và hầu hết các câu hỏi ấy được giải đáp trong Dịch học. Ông nói rằng: “Người mà hay thắc mắc đặt nhiều câu hỏi quá, có thể giống như người đần độn; nhưng mà có kẻ suốt đời không bao giờ biết ngạc nhiên và đặt câu hỏi, kẻ ấy đành chịu làm kẻ đần độn suốt đời. Phải có kinh nghiệm sống nhiều, đọc Dịch mới thú”.

Các bạn đọc trẻ bây giờ - hình như có khác - có những bạn đọc Dịch, khám phá ra những liên tưởng kỳ diệu. Bạn Hà Hưng Quốc đọc quẻ Tốn, có tượng là Gió, viết rằng:

Trong phạm trù năng lượng vật lý, Tốn có nghĩa là “không khí, từ trường, hòa âm, làm cho phát ra âm thanh, làm cho nghe tiếng”. Trong Dịch học, nó còn giúp mô tả một thế giới vi diệu trong cuộc sống.

Do đó, Tốn không những là vật chất vô hình vật lý, mà còn là vật chất vô hình theo quy ước xã hội, là tài sản vô hình, là bản quyền, là thương hiệu, là giá trị của thương hiệu;

không những là từ trường, mà còn là sức hút của Trái đất, là trọng lực, là nam châm, là từ hóa, là làm cho có từ trường, là từ trường của vật thể;

không những là từ trường của vật lý, mà còn là từ trường của con người, là sức thu hút, sức hấp dẫn (không do nhan sắc, như ở quẻ Ly);

không những là không khí, mà còn là gió, là nhập vào, là len vào, là thâm nhập, là len lén, là nhè nhẹ, là rụt rè, là thập thò, là e lệ, là nhún nhường, là bâng khuâng, là lãng đãng, là dìu dịu, là bềnh bồng, là quấn quýt, là ngây ngất, là choáng váng, là vấn vương, là nhớ nhung;

không những là không khí, là gió, mà còn là hơi thở, là mây trời, là phiêu bồng, là lan tỏa, là bay, là lay động, là mềm mại, là mỏng manh;

không những là không khí, là hơi thở, là nhập vào, mà còn là hơi thở đầu đời nhập vào dòng sống, là chào đời, là nứt mộng, là đâm chồi, là nhú ra, là ló ra, là giai đoạn sơ sinh, là vô tư, là ngây thơ, là nhân hậu;

không những là âm thanh, là làm phát ra âm thanh, mà còn là tiếng nói, là nhạc, là dư luận, là truyền thông, là phát sóng, là truyền tải thông tin, là tuyên truyền;

không những là làm cho nghe tiếng, mà còn là làm cho nghe thấy ước muốn, làm cho nghe thấy ý kiến, là đề đạt nguyện vọng, là đề nghị yêu sách, là trình bày ý kiến, là đưa ra quan điểm, là thổ lộ ý nghĩ, là tiết lộ nội tâm, là tâm sự với người khác;

không những là làm cho nghe tiếng mà còn là làm cho nghe thấy sự thật, là bàn bạc, là hội thảo, là nghiên cứu, là điều tra, là tường trình, là báo cáo, là phản hồi tin tức…

Quả thật là:

Dù ai cho bạc cho vàng
Không bằng chỉ lối đưa đàng cho ta

………………(Ca dao Việt).

(Viết nhân Ngày sách Việt Nam 21.4.2014)

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 17 năm 2014)

NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG NHÀ

Xuất phát từ luật trời đất, người xưa vạch ra quẻ Dịch tên là Phong Hỏa Gia Nhân để bàn về cách sống của những người sống chung trong một gia đình, gọi là Đạo Nhà.

Bàn về đạo nhà, Chu Văn Vương chỉ vạch lên thẻ tre một câu ngắn gọn như sau: Người trong nhà: Hễ đàn bà mà chính đáng thì có lợi (Gia nhân, lợi nữ trinh). Ý nói: Việc quản lý gia đình muốn cho tốt đẹp phải trông vào người đàn bà. Hễ người đàn bà mà chính đáng thì có lợi.

Người Việt ta đã khái quát (và lưu giữ) ý tứ đó bằng câu ca dao: Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Câu đó thâm thúy lắm. Nước trong nguồn không phải bao giờ cũng trong. Nước trong nguồn có khi trong khi đục. Nước nguồn mà đục thì dù núi Thái Sơn vẫn sừng sững đó (Công cha như núi Thái Sơn), con cái đâu có được nhờ.

Cho nên chân lý đã vạch ra: Gia đình có tốt hay không, trước tiên là ở người mẹ, tức người đàn bà, đó là nghĩa lớn của trời đất. Nói như thế, không phải việc quản lý gia đình chỉ trông vào độc có người đàn bà. Nói đàn bà giữ chính, có nghĩa là nói nam, đàn ông, cũng phải giữ chính. Nam không chính, thì nữ có chính được không?

Nam nữ nói chung, gồm cả cha mẹ, con cái, anh chị em, vợ chồng... ai nấy đều phải giữ đạo chính hết, chứ không phải chỉ có người dưới phải chính đáng, chỉ có vợ phải chính đáng, còn người trên, người chồng không phải giữ đạo mà được. Kinh Dịch có cái hay là ở chỗ đó, nhiều ý tứ ẩn bên trong, không cần hiện ra chữ.

Một quẻ Dịch có 6 hào. Quẻ Gia Nhân dành riêng hào 2 cho đàn bà. Lời hào nói rằng: Không cầu toại ý ở xa, ngay trong bếp núc. Giữ chính thì tốt. Chưa nói việc xa xôi (ví dụ việc quản lý đất nước, việc nghiên cứu khoa học, việc vận động dành riêng cho giới nữ …) hãy nói trước hết là việc bếp núc trong nhà, đã là người đàn bà phải “giữ chính” ngay trong việc nội trợ, việc bếp núc.

Nói “bếp núc” không phải chỉ nói mua bán, nấu nướng, nữ công gia chánh, mà nói toàn bộ công việc sắp xếp trật tự nhà cửa, vườn tược, lối sống có văn hóa trong gia đình, tất thảy trông vào người đàn bà, người mẹ, người vợ, người con gái. Tiếc thay, trong gia đình chúng ta hiện nay, người đàn bà không còn giữ được cái chức năng thiêng liêng giời đất dành cho. Nhiều người mẹ không biết ru con, không biết nấu ăn, không biết khâu vá, giặt giũ… Họ tưởng rằng họ bình đẳng với đàn ông. Nhưng nên nhớ rằng, không làm được chức năng bản thân, thì lấy đâu ra bình đẳng với người khác?

Chức năng “bếp núc” nên hiểu là chức năng tổ chức, quản lý trong nội bộ một gia đình. Người đàn bà Việt nước ta rất hiểu chức năng thiêng liêng đó. Gần đây, nước ta có soạn một đạo luật chống bạo lực trong gia đình. Nhiều trang báo đăng các phóng sự tố cáo hiện tượng những “người đàn ông” áp bức, đối xử tàn bạo với phụ nữ trong gia đình. Thảy đều tỏ lòng thương xót với nạn nhân. Và chỉ có thương xót.

Và không hiểu sao, con người lại cam chịu sự ăn hiếp bất công đó. Cần thấy rằng, từ góc nhìn Dịch học, đó không phải là “cam chịu”, đó là xuất phát từ chức năng thiêng liêng trong gia đình, những người đàn bà “nạn nhân” ấy đã dũng cảm chịu đựng, kiên cường chịu đựng để giữ gìn “đạo nhà”, họ là một kiểu người anh hùng. Đối với họ, bên cạnh lòng thương xót, phải có lòng kính trọng. (Thời nay thiếu gì cách trả thù người bức hại mình).

Kinh Dịch có quẻ bàn về đạo Nhà, nhưng không có quẻ bàn đạo Nước. Bởi vì, đạo Nhà chính là đạo Nước. Vì Kinh Dịch quan niệm “người trong nước lấy nước làm nhà” nên quẻ nói về việc nhà, nhưng cũng là để nói về việc Nước. Người Việt ta có chữ Nước Nhà, Nhà Nước chính là vậy. Trong bài “Từ việc nhà ra việc nước” (Góc nhìn bát quái số 28, năm 2009) tôi đã đề cập đến chuyện này. Đây chỉ nói về hào 2 quẻ Gia Nhân bảo rằng, ngay trong bếp núc, chính là để đào tạo người quản lý đất nước đấy.

Ngay cả người đàn ông cũng phải học hào 2 quẻ Gia Nhân giữ “đạo đàn bà” đẹp nhà đẹp cửa. Bởi vì, không biết đến việc bếp núc như thế, thì khi quản lý đất nước làm sao quan tâm đến nguồn cung cấp thực phẩm lành mạnh, nguồn nước sạch cho nhân dân? Trong nhà có việc quét nhà, lau bàn ghế, quét mạng nhện. Trong nước, đó là công việc của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Hào 2 quẻ Phong Hỏa Gia Nhân cũng có tiếng nói âm thầm của nó đối với công việc của Bộ Nội vụ.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 36 năm 2013)

LÀNG NƯỚC

Hai chữ “làng nước” lưu hành trong tiếng Việt từ bao giờ, có ai biết chăng. Theo tôi hiểu, thì nó bắt đầu có từ những năm Bắc thuộc hàng nghìn năm trước.

Chỉ có hai chữ thôi, nó có thể cắt nghĩa tại sao suốt nghìn năm bị đô hộ, bị “đồng hóa” mà không đồng hóa, người Việt vẫn là người Việt, một dòng giống Việt đa sắc tộc bất khuất, kiên cường, để đến năm 905 họ Khúc nổi lên, chấm dứt cái nghìn năm đó, cho đến nay.

Bởi vì, Làng nghĩa là Nước. Còn Làng thì còn Nước.

Thật vậy, các nhà sử học đã cho thấy: suốt nghìn năm đó, chính quyền đô hộ tìm trăm phương nghìn kế lấy người Việt trị người Việt (“dĩ Di công Di”, lấy người Di trị người Di), nhưng chính quyền đô hộ chỉ thực sự cầm quyền đến cấp huyện, còn dưới huyện là hương, kẻ, chạ (ngày nay là làng, xã), thực sự vẫn thuộc người Việt. Không có một triều đại nào thiết lập được nền đô hộ của chúng lên các làng xã người Việt. Đó là kết luận của các nhà sử học trong bộ Đại cương lịch sử Việt Nam (Trương Hữu Quýnh chủ biên. NXB Giáo dục Việt Nam 2009 - tr. 69).

Các làng Việt trên danh nghĩa là thuộc các triều đình Tàu, nhưng trong cuộc sống, trong kinh tế, lối làm ăn, trong tư tưởng, văn hóa, lối sống, cách sống, phong tục, luật tục, thói quen, vẫn là cái làng ấy từ thuở dựng nước Văn Lang. Làm ruộng lúa nước. Nhà ở hình thuyền. Ăn cơm bằng đũa. Thờ cúng tổ tiên. Trống đồng. Bánh chưng, bánh dày. Tất cả những cái ấy ở dưới đồng bằng được bao bọc trong một lũy tre. (Ở miền núi là rừng núi khe suối). Tất cả những gì từ ngoài đến, phải lọt qua lũy tre ấy.

“Tre xanh xanh tự bao giờ / chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh / Thân gày guộc, lá mong manh/ Mà sao nên lũy, nên thành tre ơi?” (Nguyễn Duy). Nhưng bên trong lũy tre ấy còn một lũy tre khác: lũy tre văn hóa, lũy tre tinh thần, lũy tre tâm linh, theo tôi, mới là thành lũy bền chắc.

Từ đầu Công nguyên, các Thái thú Nhâm Diên, Tích Quang, đến cuối thế kỷ II, Thái thú Sĩ Nhiếp là những người đã có công “dựng học hiệu để dạy lễ nghĩa” cho dân Giao Chỉ, Cửu Chân, hàng trăm sĩ phu Trung Quốc có tài năng theo Sĩ Nhiếp sang ta để truyền bá Nho giáo, họ mở trường dạy học ở Luy Lâu, Long Biên (vùng Bắc Ninh, Hà Nội bây giờ). Nho giáo cố nhiên lọt qua lũy tre, thâm nhập vào làng xóm. Nhưng một lũy tre tinh thần đã được dựng lên. Nhân dân ta đã tiếp thu Nho giáo, Hán học một cách có chọn lọc. Dấu ấn của sự chọn lọc ấy còn đến ngày nay.

Trong "Ngũ kinh" của Khổng Tử truyền vào nước ta (Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu), thì Kinh Dịch được nhân dân ta thấm nhuần hơn cả. Kinh Dịch không để lại văn bản do người Việt ta thời ấy biên soạn, vì nếu có thì cũng bị tước đoạt hết. Nhưng Kinh Dịch để lại dấu ấn sâu sắc trong các truyền thuyết, trong các chuyện cổ tích, chuyện kể dân gian, trong hàng nghìn (con số ước lệ) câu tục ngữ (thời đó chưa có ca dao lục bát) dạy cách sống, lối sống, dạy làm người, dạy con người cách ứng xử trong ngàn muôn biến động. Chuyện cổ tích Lạc Long Quân và Âu Cơ (50 người con theo mẹ lên núi, 50 người con theo cha xuống biển), chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh là dấu ấn của quẻ Sơn Thủy Mông. Chuyện Sự tích bánh dày, bánh chưng thể hiện quan điểm âm dương ngũ hành.

Nguyên lý Thiên-Địa-Nhân được biểu diễn bằng các câu thành ngữ, tục ngữ:

Trời có mắt / Trời xui đất khiến / Trời chẳng phụ ai/ Trời đánh còn tránh miếng ăn / Trời đất hương hoa người ta cơm rượu / Trời chẳng chịu đất, đất chẳng chịu trời / Trời không dung đất không tha / Trời đang nắng cỏ gà trắng thì mưa / Chân cứng đá mềm.

Quẻ Thuần Khảm biến thành vô số câu nằm lòng:

Ở bầu thì tròn ở ống thì dài / Tức nước vỡ bờ / Sông rộng sóng cả / Chớp bể mưa nguồn / Sông nào sào ấy / Tay chèo tay lái / Nước chảy đá mòn.

Thời Bắc thuộc, kẻ bên trên có sức mạnh, có quyền lực, thế mà “phép vua thua lệ làng”. Câu ấy từ hào 2 quẻ Trạch Lôi Tùy, ứng với hào 5 là hào vua, nhưng không theo hào 5, vì còn hệ lụy ràng buộc với hào 1 dương cương ở dưới.

Nhiều lắm, trên đây chẳng qua gặp đâu nhớ đấy.

Đấy là chưa kể trống đồng. Ngày nay, chúng ta đọc thấy Kinh Dịch ẩn trên trống đồng. Mà trống đồng ở nước ta xuất hiện trước thời kỳ Bắc thuộc. "Làng nước" phải chăng là như thế, bài học muôn đời cho người Việt ta, mà chính chúng ta có khi quên.

Bây giờ, lũy tre xanh hầu như đã biến khỏi phong cảnh làng quê. Tin tức người nông dân bỏ ruộng khiến ta đau nhói trong lòng. Nhiều làng đã thành phố phường. Nhưng hai chữ “làng nước” không mất đi. Hàng ngàn câu tục ngữ xưa đã biến thành kho tàng tục ngữ ca dao hàng ngày vẫn hiện ra trên cửa miệng người, trên báo chí. Cái lũy tre văn hóa, lũy tre tâm linh ấy ta đừng để mất. Bài học thời Bắc thuộc vẫn còn nguyên.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 35 năm 2013)

CHUYỆN HÀO 6 QUẺ SƯ

Kinh Dịch có quẻ Địa Thủy Sư bàn chuyện điều khiển đám đông, chỉ huy binh sĩ, gọi tắt là quẻ Sư. Tôi đã nhiều lần trò chuyện về quẻ Sư, nhưng riêng hào 6 chưa động mấy.

Quẻ Dịch có 6 hào, hào 6 này là hào cuối cùng, ở trên cao, nên nó nói chuyện đoạn cuối của cuộc điều khiển đám đông, chỉ huy chiến trận. Nghĩa là chuyện sau khi chiến thắng, ca khúc khải hoàn, chuyển giai đoạn từ chiến tranh sang thời bình trị nước. Một giai đoạn vô cùng quan trọng của những số mệnh cầm quân.

Hào 6 chỉ có mấy chữ (người xưa chưa có giấy, viết trên những thẻ tre, nên không nói được nhiều): (dịch ra tiếng Việt) Khi đã khải hoàn, thành công, làm người nguyên thủ, hễ việc gì quan hệ đến việc mở nước, trị nhà thì chớ dùng kẻ tiểu nhân, dù họ có chiến công (Thượng lục: Đại quân hữu mệnh, khai quốc thừa gia, tiểu nhân vật dụng).

Kinh Dịch có ở Việt Nam tự bao giờ không biết, nhưng ý tứ hào 6 hiện nguyên hình trong truyện cổ Thạch Sanh và nhiều tục ngữ, ca dao, truyện cổ khác.

Truyện Thạch Sanh kể rằng (tóm tắt):

Thạch Sanh con nhà nghèo, ăn hiền ở lành, được trời thương truyền cho phép tiên và dạy cho giỏi võ. Anh hàng rượu Lý Thông kết nghĩa làm anh em. Lý Thông đến lượt gác đền trăn tinh, lừa Thạch Sanh đi gác đền thay mình, để khỏi chết. Thạch Sanh đánh chết trăn tinh. Lý Thông đem xác trăn tinh tâu vua được thưởng công, làm quan to. Công chúa, con gái vua bị thần chim đại bàng cướp, cõng trên lưng. Vua kêu gọi, ai cứu được công chúa thì gả con cho. Thạch Sanh dùng cung tên bắn đại bàng bị thương, đại bàng giam công chúa dưới hang. Thạch Sanh theo vết máu lần tìm thấy hang. Lý Thông biết chuyện, lại lừa Thạch Sanh xuống hang cứu công chúa. Thạch Sanh đưa công chúa lên khỏi hang, thì Lý Thông sai quân lấp cửa hang, tâu vua lấy làm công của mình. Công chúa bèn giả câm và không kết hôn với Lý Thông. Thạch Sanh ở dưới hang lại cứu được con trai vua Thủy tề, được vua trả ơn ban cho cây đàn thần. Thạch Sanh đem đàn về kinh đô, công chúa một hôm nghe tiếng đàn bỗng hết câm, nói lên sự thật. Lý Thông bị vua trị tội, trên đường về quê bị sét đánh chết. Thạch Sanh trở thành phò mã, lại có công đánh đàn thần đuổi giặc. Chỉ có một niêu cơm mà đủ ăn cho lũ giặc hàng của 18 nước xâm lăng. Câu chuyện Thạch Sanh rõ ràng là khuyên việc trị nước chớ dùng kẻ tiểu nhân như Lý Thông.

Trong lịch sử nước ta có chuyện vua Lý Thái Tổ, cũng chính là bài học hào 6 quẻ Địa Thủy Sư.

Sau 10 năm khởi nghĩa đánh giặc Minh xâm lăng, vua đã có công an dân trị nước, “định luật lệnh, chế lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, dựng quan chức, lập phủ huyện, thu sách vở, mở học hiệu. Có thể gọi là mưu lớn sáng nghiệp”. Nhưng trong những công trình đó, ông đã dùng phải một bọn gian thần, tuy có công lao chinh chiến, nhưng không có đức tài trị nước, lấy việc nịnh hót làm vui lòng vua. Sử sách đã ghi tên những người đó. Vua đã nghe lời họ, nghi ngờ một số tướng lĩnh công thần, hiền thần như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Nguyễn Trãi v. v... Trần Nguyên Hãn bị triệu về cung hỏi tội, đã tự tử giữa đường. Phạm Văn Xảo bị ban cho tội chết. Nhân dân đều biết công đức hai ông này, đã tỏ lòng thương tiếc. Cả Nguyễn Trãi cũng bị hạ ngục một thời gian ngay dưới thời Lê Thái Tổ.

Về sau, chính Lê Lợi đã sớm phát hiện ra những sai lầm của mình, hối hận thương hại người bị oan, lại xuống chiếu, vạch mặt chỉ tên những kẻ gian thần, nhưng lúc bấy giờ đã muộn. Trong sự thật lịch sử, dư đảng của đám gian thần còn hoành hành trong triều đình cho đến đời vua Lê Thái Tông (nối nghiệp Lê Thái Tổ), khi vua đi duyệt binh ở Chí Linh về nghỉ ở Lệ Chi Viên (thuộc Gia Bình, Bắc Ninh ngày nay) bị mất đột ngột ở đây. Bọn gian trong triều đã nhân vụ này, vu oan cho gia đình Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ giết vua, khiến ba họ chết cùng. Vụ án Lệ Chi Viên phải đến dưới thời ta, sau 560 năm, mới chính thức được nhân dân và các nhà sử học chiêu tuyết minh oan trong một cuộc hội thảo ngày 19.12.2002 tại quê hương Nguyễn Thị Lộ.

Đủ biết, những lời tiên đoán trong hào 6 quẻ Địa Thủy Sư là sáng suốt và ứng nghiệm đến chừng nào.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 22 năm 2013)

BỜ ĐẦM VÀ ĐỐT TRE

Bài bình luận của nhà báo Lê Thanh Phong “Sản xuất luật kém chất lượng là lãng phí lớn” (Báo Lao Động số 129 ngày 8.6.2013) gợi cho tôi nhớ đến quẻ Thủy Trạch Tiết trong Kinh Dịch. Quẻ này nói to tát là triết lý về việc điều tiết quy luật trong vũ trụ, nhưng nói nhỏ là bàn về việc xây dựng pháp luật, cụ thể là làm luật, “sản xuất” luật.

Tượng quẻ Thủy Trạch Tiết là Nước ở trên, Đầm (hồ, chằm) ở dưới, đầm có giữ được nước thì mới thành con đầm, cho nên bờ đầm, lòng đầm phải luôn điều tiết nước sao cho có chừng mực, người xưa xem tượng thiên nhiên ấy mà lấy làm quẻ Tiết. Tiết là kiềm chế, tiết giảm sao cho mọi cái có chừng mực, không thái quá, cũng không bất cập, tiếng Việt ta có ba chữ “giữ chừng mực” tả thật hay khái niệm Tiết của Dịch học. Lời quẻ có mấy chữ, nói lên đầy đủ khái niệm ấy: Tiết chế thì hanh thông, nhưng tiết chế đến mức cực khổ, thì không ai chịu được lâu. (Tiết hanh. Khổ tiết bất khả trinh).

Đây chính là một quy luật của trời đất và cuộc sống. Tiết chế giữ chừng mực là cần thiết, tạo thuận lợi và thông suốt (hanh thông), nhưng tiết chế đến mức quá đáng, gây cực khổ cho sự vật, (khổ đây là đắng, như khổ qua là mướp đắng, khổ còn có nghĩa là quá giới hạn chịu đựng) thì không thể giữ bền được (Bất khả trinh. Trinh ở đây là giữ bền).

Tôi không biết Lê Thanh Phong (đồng nghiệp trẻ của tôi) có nghiên cứu Kinh Dịch không, nhưng trong bài báo nhỏ của mình, anh đã nói đúng luật trời đất.

Việc “sản xuất” luật, (hai chữ “làm luật” nay đã có một biến nghĩa xấu) quả thật đang là một nhu cầu của đất nước và nhân dân. Nhờ nó mà khắc phục được muôn ngàn sự quá trớn, giả dối, lừa lọc, trộm cắp, đâm chém, tham nhũng, lãng phí, gây biết bao hiểm họa cho nhân dân. Nhưng cái thế giới luật của chúng ta đang có vấn đề.

Anh viết: “Người dân đang sống trong một xã hội nghị định và thông tư, trong đó có quá nhiều quy định nên không thể nhớ hết. Có những quy định vô lý đến mức nó chết yểu ngay từ khi được sinh ra, và xa lạ với đời sống đến mức người dân không biết đến sự tồn tại của nó”. “Với nhiều loại quy định, ban hành xong không biết lấy ai để kiểm soát, thực thi”.

Bài báo đưa một vài ví dụ. “Quy định hành vi mua dâm có tính chất đồi trụy, mức phạt từ 5-10 triệu đồng. Người có lời lẽ, cử chỉ thô thiển, tục tĩu thiếu văn hóa ở nơi công cộng cũng sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền. Mua dâm thì quá rõ, và chuyện này chắc chắn là đồi trụy. Vậy việc xác định thêm “hành vi mua dâm có tính đồi trụy” thì quả thật khó hiểu. Còn nữa, “lời lẽ, cử chỉ thô thiển, tục tĩu, thiếu văn hóa” dễ cảm nhận bằng cảm tính, nhưng cụ thể bằng lý tính, thế nào là cử chỉ thô thiển hay tục tĩu thì còn cãi nhau chán”.

Những gì Lê Thanh Phong vừa bàn, quả thật đã nằm gọn trong 5 chữ: Khổ tiết, bất khả trinh.

Toàn bộ Kinh Dịch nói gọn lại là một chữ Thời.

Nước ta đúng là đang ở cái thời của quẻ Tiết, cái thời của “giữ chừng mực”. Hàng triệu người đổ ra đường, do không có chừng mực mà xảy ra cái chết còn hơn cả chiến tranh. Nhưng trong việc xây dựng cái chừng mực và giữ chừng mực trong giao thông vận tải còn quá nhiều chuyện thuộc về sự “khổ tiết”. Trên báo chí hằng ngày, đầy rẫy những thông tin đau khổ, đắng đót, quá giới hạn chịu đựng của con người, không chỉ trong giao thông.

Chữ Tiết còn có một nghĩa nữa (theo từ điển Thiều Chửu, từ điển Đào Duy Anh) là cái đốt tre, cái mắt tre. Quả thực, cây tre là hình ảnh của quẻ Thủy Trạch Tiết: Mỗi đốt tre là một biểu tượng của sự phát triển, cái đốt tre nói lên sự chừng mực giữa trời đất. Cái đốt tre khuyên con người rằng, đến lúc nào đó phải biết dừng lại, biết kiềm chế, biết tiết giảm, biết giữ chừng mực. Chớ có định làm cây tre trăm đốt như trong truyện cổ tích nước ta. Cái đốt tre đanh chắc, khắc khổ, đắng đót, ghìm nén, chứa chất, hứa hẹn chính là bài học quẻ Tiết ở ngay trước mắt ta.

Đến thăm vườn lăng Bác Hồ, bạn chớ quên ngắm những bụi tre, dừng mắt ở các đốt tre để mà nhớ đức tính “chừng mực” của Hồ Chí Minh. Trở về với bài báo của Lê Thanh Phong, chưa đến nghìn chữ, anh đã nói lên một sự thật. Đấy chính là phẩm chất của nhà báo chúng ta. Sự thật đó là bài học “khổ tiết”, bài học cái bờ đầm, cái đốt tre. "Khổ tiết, bất khả trinh" cũng chính là bí quyết của quẻ Thủy Trạch Tiết.

(Nhân ngày Nhà báo Việt Nam 21.6.2013)

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 25 năm 2013)

TẢN MẠN HỒ TRÊN NÚI

Phần Hạ của Kinh Dịch gồm 34 quẻ, mở đầu bằng quẻ Trạch Sơn Hàm, gọi tắt là quẻ Hàm. Hàm là Cảm. Quẻ nói về mối quan hệ đầu tiên của con người, mối giao cảm giữa người với người.

Thật là khéo, nếu phần Thượng gồm 30 quẻ mở đầu bằng hai quẻ Thuần Càn (còn đọc là Kiền) và Thuần Khôn, thì phần Hạ 34 quẻ mở đầu bằng quẻ Hàm. Càn là Trời, Khôn là Đất. Phần Thượng khái quát những quy luật Trời, Đất. Phần Hạ gồm những quy luật Người trong trời đất ấy. Thành một bộ ba Trời-Đất-Người (còn gọi là Tam Tài).

Tại sao người xưa lấy quẻ Hàm mở đầu cho các mối quan hệ Người trong trời đất? Có lẽ, do con người đứng được trong trời đất này trước hết bằng một mối giao cảm. Bắt đầu từ mối giao cảm đó, mà con người gần gũi nhau, đồng cảm với nhau, liên kết với nhau, làm nên loài người.

Quẻ Hàm lấy mối giao cảm giữa nam và nữ làm biểu tượng, nhưng không phải chỉ nói về tình duyên nam nữ. Trạch là đầm (hồ), Sơn là núi. Tượng quẻ là hồ trên núi. Hồ trên núi bao giờ cũng là cảnh tượng sinh tình, là biểu tượng của sự hòa hợp hữu tình, hòa hợp âm dương, nên cũng là tượng cho mối giao cảm giữa con người. Trong mối giao cảm đó thì giao cảm nam nữ là sinh động nhất, nhạy bén nhất, tiêu biểu nhất. Quẻ có 6 hào âm dương phản ánh 6 bước, 6 biểu tượng giao cảm của con người. Người xưa dùng các bộ phận trên thân thể người để tả 6 bước giao cảm đó.

Hào 1: Cảm ở ngón chân (ý nói cảm bước đầu, còn mới mẻ, sơ sài).

Hào 2: Cảm ở bắp chân (ý nói cái bắp chân động, mối cảm này chưa gặp thời, tĩnh vẫn hơn).

Hào 3: Cảm được tới đùi. (cao hơn bắp chân nhưng cũng vẫn là chỉ muốn theo người, cứ như vậy mà tiến thì xấu).

Hào 4: Không nói cảm ở đâu, chỉ nhấn mạnh rằng hễ chính đáng thì tốt. Mà mất hết những điều đáng ăn năn (có lẽ ở tim chăng?).

Hào 5: Cảm tới bắp thịt ở trên lưng. Không hối hận (bắp thịt ở trên lưng, trên tim và trái với tim, nên cảm mà vô cảm).

Hào 6: Cảm bằng mép, má, lưỡi (toàn bộ phận ăn nói, ý nói nhờ tài ăn nói mà cảm được người, nhưng vẫn có ý chê).

Tóm lại, Hàm mở đầu cho mọi mối quan hệ, Hàm là tốt đẹp (hanh thông), nhưng đi vào cụ thể thì khó lắm, chỉ có Hàm một cách chính đáng thì mới được là “mất hết những điều đáng ăn năn”, cao hơn nữa là “không hối hận”. Đọc quẻ Hàm, tôi dừng lại rất lâu ở hào 5 “không hối hận” này, nói tới hiện tượng không cảm mà cảm, chính cái cảm ấy mới thực là cảm. Đó là từ tượng quẻ: Núi thì ở dưới, đầm hồ thì ở trên.

Thì ra, trên núi có chỗ trũng sâu xuống, (như ở Đà Lạt có hồ Xuân Hương, ở Bắc Kạn có hồ Ba Bể) nhờ vậy mà đựng được nước, nghĩa là trong lòng núi có rỗng không, mới chứa được nước. Từ cái tượng ấy mà suy ra, con người có trống không trong lòng mình, thì mới thực dung nạp được người khác.

Trống không trong lòng là không có cái tôi, không có gì riêng tư (vô ngã, vô tư). Nếu trong lòng mà trước sẵn có ý riêng tư, ham muốn riêng, thì té ra là đầy đặc trong lòng rồi, còn thu dung được gì nữa (như lòng núi đầy đặc thì làm sao chứa nước), nên những người tử tế trên đời này phải lấy cái rỗng không để thu dung người.

Triết lý quẻ Hàm và cách dùng thân thể người để hình dung ra cái cảm vô hình của con người, quả là sâu sắc.

Lại xem chữ Hán, nguyên chữ “Hàm” nghĩa là cảm, còn có chữ “Cảm” nữa, cũng nghĩa là cảm. Sao không đặt tên quẻ là Trạch Sơn Cảm, mà đặt tên là Trạch Sơn Hàm? Chữ “Cảm” khác chữ “Hàm” ở chỗ, gồm chữ “Hàm” có thêm chữ Tâm dưới, còn chữ “Hàm” thì không. Nên hai chữ cùng có nghĩa là cảm, nhưng “Hàm” là cảm mà vô tâm, còn “Cảm” là cảm mà có tâm. Cảm vô tâm là Cảm của Trời Đất, là cảm một cách chân thành, là thực cảm (chân cảm). Vì vậy, thánh nhân dùng chữ Hàm để diễn tả cái cảm mà vô tâm, cảm mà vô tâm mới đi đến đằm thắm lâu dài. Xem như thế tình yêu trai gái thời nay theo được đạo Hàm khó lắm. Đọc trên báo thì biết. Mà trong các mối giao cảm của con người (để đồng cảm, liên kết, liên hợp) cũng khó lắm thay. Khó, nhưng không phải là không có. Vì vẫn có Bá Nha, Tử Kỳ, có tranh, có thơ, như Cao Bá Quát “ngày trăm lần nhớ bạn”. Qua tất cả các cuộc chiến tranh, loài người vẫn đứng vững trên trái đất này. Là vì trên đất này, dưới bầu trời này vẫn có “hồ trên núi”. Chúng ta vẫn có thể sống với nhau mà “không hối hận”!

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 27 năm 2013)




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 28.11.2014, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 27.11.2014    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


TƯƠNG ỨNG VÀ TIỆM TIẾN

Trong cơ cấu biến đổi theo Dịch học (còn gọi là lẽ Biến Dịch), theo Thu Giang Nguyễn Duy Cần, có mấy quy luật: 1. Luật tương ứng tương cầu, 2. Luật tiệm tiến, 3. Luật phản phục.

Trong một bài báo ở chuyên mục “Góc nhìn Bát quái”, tôi đã nói đến Luật phản phục (Lao Động Cuối tuần số 52, ngày 27.12.2013), nay xin nói về hai luật còn lại.

Luật Tương Ứng Tương Cầu. Vì hai khí âm dương có giao cảm nhau thì vạn vật mới hóa sinh, sinh rồi lại sinh nữa, cuộc biến hóa mới trở thành vô cùng vô tận. Hai chữ giao cảm này là then chốt của câu văn trên đây. Nói “giao” và “cảm” là nói đến sự “tương ứng”, “tương cầu”. Nghĩa là, có “cầu” mà không có “ứng” thì không có sự “giao cảm”, cũng như có “ứng” mà không có “cầu”, thì cũng không có sự giao cảm. Chữ “tương” trong Dịch cũng rất quan trọng, nói lên rằng, giữa nội và ngoại, giữa ta và vật, có sự liên lạc mật thiết. Nên lưu ý sự tương ứng trong quẻ Dịch: Phải một Âm một Dương mới có tương ứng. Nếu toàn âm hay toàn dương thì dù tương sinh cũng không sinh được, tương khắc cũng không khắc được. Đó là “vô ứng”, chứ không phải là “tương ứng”.

Những phần tử trong vũ trụ vạn vật bao giờ cũng tìm bạn “đồng thanh” để mà “tương ứng”, “đồng khí” để mà “tương cầu”. Và cũng phải “tùy thời”. Chưa phải lúc, chưa đúng lúc, không hợp tình, không hợp lý, đều không thể có sự giao cảm, sự biến hóa. Luật tương ứng, tương cầu để lại dấu ấn trong rất nhiều câu ca dao hay với nhiều biến thái khác nhau.

Truyện Kiều có câu này đã thành ca dao:

Lạ gì thanh khí nhẽ hằng
Một dây một buộc ai giằng cho ra


Ca dao còn có câu:

Bao giờ cho gạo bén sàng
Cho anh bén gió thì nàng lấy anh.

Nhớ ai như bút nhớ nghiên
Như mực nhớ giấy, như thuyền nhớ sông.

Ai sang đò ấy bây giờ
Ta còn ở lại ta chờ bạn ta.


Luật Tích Tiệm. Tích tiệm nghĩa là tiến dần. Trong cụm từ “biến hóa”, tuy hai từ “biến” và “hóa” có cùng một nghĩa là “chuyển biến thay đổi”, nhưng mỗi từ có khác nhau. “Biến” là biến lần lần, từ từ, khó nhận thấy một cách rõ ràng. Còn “hóa” là cuộc chuyển biến đã hoàn thành, đã hiển nhiên. Nói cách khác, “biến” là “tiệm biến”, còn “hóa” là “đột biến”.

Mọi sự vật, xét bên ngoài đều thấy như im lìm bất biến, kỳ thực bên trong không giây phút nào mà không có sự thay cũ đổi mới. Những thay đổi đó cứ chất chứa (tích tụ) lâu dài trong sự vật, và thay đổi dần dần. Người xưa tổng kết, bầy tôi giết vua, con giết cha, cái cớ đâu phải một sớm một chiều mà như vậy được, nó phải dần dần (lần lần). Cũng như việc thiện mà không chấp chứa lâu, thì không đủ để thành việc thiện, điều ác mà không chấp chứa lâu, không đủ để làm hại thân.

Lại nói, “động” và “tịnh” là hai việc khác nhau, kỳ thực chỉ có một, không có cái “động” nào mà không có cái “tịnh” làm điều kiện tất yếu. Như chơi thả diều, diều mà lên cao được là nhờ sợi dây buộc chặt ở bên dưới. Diều mà không có sức trì kéo xuống, không thể lên cao được. Nên còn có câu: Cao lấy thấp làm nền, dương lấy âm làm gốc, động lấy tịnh làm căn cứ.

Luật Tích Tiệm được người nước ta lưu giữ trong phần đầu truyện cổ tích Tấm Cám.

Chuyện kể rằng (tóm tắt): Ngày xưa có cô Tấm ở với bà dì ghẻ, mẹ của Cám. Trong hai chị em, Tấm thì xinh đẹp và chăm chỉ, Cám thì xấu xí và lười biếng. Một hôm, hai chị em ra đồng bắt tôm tép. Tấm bắt được một giỏ đầy. Cám mải chơi, nên giỏ rỗng không. Cám lừa Tấm xuống sông gội đầu, trút giỏ của Tấm sang giỏ của mình, rồi chạy về nhà khoe mẹ. Tấm thấy giỏ rỗng không, ngồi khóc. Bụt hiện lên hỏi: Vì sao con khóc? Tấm kể rõ sự tình, Bụt bảo: Trong giỏ còn một con cá bống đấy. Con mang cá bống về thả xuống giếng, mỗi bữa ăn con mang cơm đến gọi: Bống bống bang bang / Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta / Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người. Xong, Bụt biến mất. Tấm nghe lời Bụt, thả con bống xuống giếng và làm theo lời dặn. Ngày lại ngày, Bống lớn lên trông thấy. Mẹ con Cám rình biết, bèn lừa Tấm đi chăn trâu đồng xa, ở nhà mẹ con cho Bống ăn rồi bắt Bống lên ăn thịt.

Tấm thấy mất Bống, ngồi khóc. Bụt hiện lên hỏi: Vì sao con khóc? Rồi bày cho Tấm tìm xương bống bỏ vào bốn lọ nhỏ chôn ở bốn chân giường. Tấm phải nhờ một con gà mái bới xương trong bếp tro, rồi bỏ lọ đem chôn. Đến ngày hội vua ra, cả làng sắm sửa đi đón vua. Mẹ Cám trộn thóc vào gạo, bắt Tấm nhặt hết thóc mới được đi xem hội. Tấm ngồi khóc. Bụt lại hiện lên. Bụt gọi đàn chim sẻ xuống nhặt thóc cho. Đàn chim nhặt một lúc xong. Đến khi Tấm ngồi khóc, vì quần áo rách rưới không đi hội được, Bụt lại hiện lên bảo Tấm đào lọ xương Bống ở bốn chân giường. Tấm đào lên thì lần lượt được nào là quần áo đẹp, đôi giày xinh xắn, nào là ngựa có yên cương. Tấm đi hội như một cô công chúa. Phải chăng Luật Tích Tiệm hiện lên trong câu chuyện này?

Tấm đã tích cho mình từ một con Bống, tiệm tiến từng bước lên thành Bống lớn dưới giếng, xương Bống được tích lại dưới bốn chân giường, thành quần áo đi hội. Xen vào đấy là con gà mái bới xương, đàn chim sẻ nhặt thóc. Tích ở đây là tích những điều lành, nên hễ Tấm ngồi khóc, là Bụt lại hiện lên hỏi: Vì sao con khóc?

(Trích dẫn trong sách “Gió dọc đầm sen” của tác giả).

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 3 năm 2014)

THUẬN THEO TỰ NHIÊN

Tôi rất xúc động đọc bài phóng sự của bạn Trần Lưu “Vua bưởi da xanh không hạt” (Báo Lao Động ngày thứ Hai 31.3.2014).

Lý do xúc động của tôi: Bài báo đã trở thành một ví dụ đẹp và đầy đủ cho quẻ Thiên Lôi Vô Vọng mà lâu nay tôi đi tìm trong thực tế không thấy. Thì bỗng nhiên lại thấy ở người lão nông Bến Tre Lê Văn Hoa, nhân vật trong phóng sự của Trần Lưu.

Kinh Dịch có quẻ Thiên Lôi Vô Vọng để nói về một thời trong trời đất, cái thời sự vật trở về với nguồn gốc, trở về với lẽ tự nhiên, hành động theo tự nhiên. Mà hành động theo tự nhiên là hành động theo luật trời, theo đạo trời. Cái gì động theo luật trời thì bao giờ cũng tốt lành, bao giờ cũng chính đáng, lợi vô cùng. Cho nên tên quẻ là Vô Vọng.

Vô là không. Vọng là càn bậy. Vô vọng là không càn bậy. Không càn bậy đây là “không càn bậy với luật Trời” (chứ không phải với luật đời của con người). Theo từ điển Hán - Việt của Thiều Chửu, bên cạnh chữ vọng là trông xa, có chữ vọng là càn bậy. Các sách của Ngô Tất Tố, Phan Bội Châu và Nguyễn Duy Cần đều dùng chữ vọng này của Thiều Chửu. Riêng Từ điển Hán - Việt Đào Duy Anh ngoài chữ vọng là trông xa (hy vọng, kỳ vọng, hoài vọng), còn có chữ vọng là càn bậy (cùng mẫu chữ, đọc khác âm).

Quẻ Vô Vọng phát minh ra chân lý là hành động theo lẽ tự nhiên mà trời đất đã thu xếp, như người nông dân cày cấy gieo tỉa, làm là làm, không đợi gặt hái, thì sẽ được mùa như trời cho. Con người không biết luật ấy, luôn hành động theo lối “làm gì được gì”, thì không tránh khỏi cái vạ mà hào 3 quẻ Vô Vọng đã cảnh giới là “tai bay vạ gió”, tai họa tự nhiên rơi xuống đầu.

Phương pháp tạo ra giống bưởi da xanh không hạt của nhân vật “hai lúa” mang tên Hai Hoa, xin được gọi tên là phương pháp Thiên Lôi Vô Vọng.

Thứ nhất: Ông trồng cây bưởi trên mô đất, chứ không trong hố đất như mọi người. Thường người ta đào một hố đất to, cho phân hữu cơ xuống rồi trồng cây bưởi giống lên. Nay ông đắp một mô đất cao lên, trồng bưởi trên mô đất.

“Bưởi là loại cây khó tính - ông nói với phóng viên, nếu trồng theo kiểu cũ, đào hố sâu 5 - 6 tấc, làm sao rễ cây thở được. Còn trồng trên mô đất, đến 3 năm tuổi, đất trôi đi, rễ cây lồi lên, cây phát triển giống như cây thiên nhiên hoang dã, luôn xanh tốt. Từ xưa đến giờ, hàng ngàn loại cây ở trong rừng có ai đào hố để trồng đâu, nhưng chúng vẫn sống khỏe. Mọi thứ phải thuận theo tự nhiên, chú à…” (bốn chữ “thuận theo tự nhiên” do tôi tô đậm).

Thứ hai: Khi hoa bưởi sắp nở, ông “chế” những chiếc khung hình thoi bằng dây kẽm, chụp quanh chùm hoa, dùng lưới nhựa bọc lại. Những lồng lưới này ngăn gió khuyếch tán phấn hoa, đồng thời không cho côn trùng hút mật tiếp xúc bầu nhụy, gây ra hiện tượng thụ phấn chéo. Thế rồi đến mùa thu hoạch, ông Hoa nhận được thành quả “ngọt ngào” khi bổ trái bưởi ra – trái bưởi không có hạt.

“Thật ra, bưởi da xanh tự bản chất nó là không có hạt, ông nói, nhưng vì nhiều lý do, có thể do nhà vườn sử dụng tạp chất, hoặc do thụ phấn chéo, đã làm cho trái bưởi có hạt. Cách làm của tui là giữ cho trái bưởi trở lại không có hạt như nguyên thủy của nó, chứ không phải tạo ra một loại bưởi mới không có hạt.” (Năm chữ “trở lại như nguyên thủy” do tôi tô đậm).

Không biết “giời xui đất khiến” thế nào, chín chữ “thuận theo tự nhiên” và “trở lại như nguyên thủy” mà người nông dân Việt Lê Văn Hoa thuyết minh về phương pháp trồng bưởi của mình đã cô đọng cái triết lý Thiên Lôi Vô Vọng của khoa học phương Đông.

Thu Giang Nguyễn Duy Cần giảng quẻ Thiên Lôi Vô Vọng rằng: Trên là quẻ Kiền (tượng là Trời - XC), là Thiên lý ; dưới là quẻ Chấn (tượng là Sấm - XC) tức là sự động của lòng ta. Động theo thiên lý, đó là Thiên Nhân tương ứng.

“Thánh nhân, nhân theo “tượng tự nhiên động” của cái sống tự nhiên của mỗi loài… mà để cho mỗi vật đều được sống theo cái bản tính của mình, chứ không sống theo các vật khác, sống theo những khuôn thức do xã hội tạo nên và bắt buộc”.

“Bậc quân tử nhân đó mà biết rõ Đạo Trời, lo nuôi dưỡng đức tự nhiên của vạn vật, không để cho “nhân vị” làm mất “thiên chân” gây đau khổ cho vạn vật.”

"Nhân vị", tôi hiểu, đây là những gì con người muốn cho mình, vì mình. "Thiên chân" là những gì gốc ở trời, bản tính từ thiên nhiên.

Lão nông Lê Văn Hoa đã khám phá ra cái “thiên chân” của giống bưởi da xanh là bộ rễ cần được thở. Đào hố lót phân trồng bưởi, là không cho rễ bưởi được thở. Lại nghĩ ra cách làm cho hoa bưởi không bị gió và côn trùng gây hiện tượng thụ phấn chéo, làm cho trái bưởi “trở về” với trạng thái nguyên thủy của loài.

Thiên Lôi Vô Vọng chính là đây.

Tôi cảm ơn ông hai lúa Lê Văn Hoa, cảm ơn bạn Trần Lưu (tác giả bài báo) bạn Huỳnh Dũng Nhân (viết lời bình) đã cho tôi tìm thấy một dấu ấn Kinh Dịch trong minh triết Việt tuyệt vời của chúng ta.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 15 năm 2014)

THỜI VÔ VỌNG

Anh đã khám phá và đặt tên cho phương pháp “trồng bưởi da xanh không hạt” của “Hai lúa” Lê Văn Hoa (Bến Tre) là phương pháp Thiên Lôi Vô Vọng (xem "Góc nhìn bát quái" LĐCT số trước 11.4.2014).

Kinh Dịch khái quát bằng một chữ Thời. 64 quẻ Dịch là 64 thời.

Vậy trong lịch sử Việt Nam có Thời Vô Vọng không? Có đấy. Nhưng cái thời Vô Vọng này đã thuộc về truyền thuyết, và chỉ còn trong huyền sử. Đó là thời Hùng Vương dựng nước, mà chúng ta vừa nhớ đến trong ngày giỗ Tổ vừa qua (10.3 âm lịch).

Từ những năm thuộc thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, trên dải đất này đã hình thành một quốc gia Văn Lang - Âu Lạc, sinh sống và tồn tại bằng kinh tế lúa nước và kết cấu xóm làng bền chặt, khai hoang, làm thủy lợi, chống ngoại xâm, xây dựng một đất nước suốt 18 đời Hùng Vương (mỗi đời có thể gồm nhiều tộc trưởng, tù trưởng).

Hình ảnh đất nước còn để lại đến ngày nay là trên các trống đồng thời Đông Sơn, trên các truyện cổ tích Lạc Long - Âu Cơ, bánh chưng, bánh dày, phong tục và lễ hội mang bản sắc văn minh Việt.

Đặc trưng văn minh đó là khai thác thiên nhiên, hòa nhập với thiên nhiên, theo luật “thiên nhân tương hợp” mà quẻ Thiên Lôi Vô Vọng đã chỉ ra. Hãy để cho mọi vật đều được sống tự do, phát triển tự do theo cái bản tính tự nhiên của mình, đừng theo một khuôn thức nào khác với thiên lý, lẽ trời đã định.

Lẽ trời ấy đã thể hiện trong việc sinh sôi nảy nở trên trái đất này, hãy “vô vọng”, “đừng càn bậy”, đừng làm gì trái với lẽ trời, được như thế thì cái hanh thông, thịnh vượng sẽ đến với con người với vạn vật trong vũ trụ này. Thời Hùng Vương dựng nước người Việt chúng ta đã “động” đúng như sấm động dưới trời, theo “thiên lý”, nên đất nước đã được như ngày nay.

Chiếc bánh chưng, bánh dày qua hàng ngàn năm lịch sử hiển hiện hình ảnh một thời Thiên Lôi Vô Vọng. Lá dong, gạo nếp, đỗ xanh, các màu của “ngũ hành”, hình vuông tượng cho trái đất, đặt bên bánh dày tròn tượng cho trời. Câu chuyện Mai An Tiêm bị đày ra đảo ngoài cửa biển đã khám phá ra loài dưa hấu, còn lại đến hôm nay.

Về sau này trong lịch sử, chúng tôi nhận thấy, không còn thời nào xứng đáng mang tên thời Vô Vọng.

Cùng với nền văn minh vật chất và triết lý “vị nhân” không đi cùng “thiên lý”, thời Vô Vọng đã lùi dần mãi vào quá khứ, và đó là thiệt thòi của chúng ta. Hãy xem những hiện tượng hôm nay. Chúng ta đã bới đất tìm vàng, khoét sâu vào ruột đất, “ngậm ngải tìm trầm”, ngăn sông lấy điện, biến rừng thành đất hoang, thủy lợi thành thủy hại.

Gần đây nhất, báo đưa tin hàng loạt dự án can thiệp thô bạo vào các thắng cảnh thiên nhiên, như lắp thang máy để “leo” núi Ngũ Hành (Đà Nẵng), xây dựng cáp treo trên đỉnh Phanxipăng. Dưới chân đèo Mã Pì Lèng (Đồng Văn - Hà Giang) có một mỏm đá nhô ra trên vách núi, đây là vị trí lý tưởng để ngắm dòng sông Nho Quế thuộc đệ nhất hùng quan và hẻm vực Tu Sản, hẻm vực sâu nhất Việt Nam, giờ đây trên mỏm đá ấy đã xuất hiện một mảng sân bê tông nhằm tạo thuận lợi cho du khách ngắm nhìn phong cảnh. Nhiều du khách đã bình luận rằng, cái sân bê tông ấy đã phá hoại một cảnh quan từng đi vào huyền thoại (Tuổi Trẻ -13.4.2014).

Gần đây nhất, Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức cho chúng tôi thăm thành phố Điện Biên Phủ bằng đường núi Hòa Bình - Sơn La - Điện Biên để mọi người nhớ lại những vách núi, vực sâu mang tên Cò Nòi, Pha Đin đã đi vào lịch sử. Lên đến Điện Biên, chúng tôi chứng kiến một thành phố đã mọc lên giữa cánh đồng Mường Thanh.

Dòng sông Nậm Rốm lịch sử bây giờ là con suối cạn giữa lòng thành phố. Di sản trận địa đồi A1, hầm bại tướng De Castries, giống như “thắng cảnh” của một công viên. Tôi nhìn thấy ánh mắt thất vọng của các chiến sĩ Điện Biên năm xưa đi trong đoàn. Một thành phố với những siêu thị, nhà hàng, khách sạn đã thay thế cho phong cảnh chiến trường, đè lên những di sản chiến trường.

Trong con mắt chúng tôi, thú thật, chỉ còn thấy bầu trời với những làn mây mùa xuân là còn vẹn nguyên. Ngay cả đến cái tự nhiên của lịch sử cũng đã biến đi, thay vào đó là những lợi ích trước mắt của con người. Còn nói gì đến một thời Vô Vọng.

Thu Giang Nguyễn Duy Cần bình luận: “Nếu lấy hai chữ Vô Vọng này mà giải thích cho đến nơi đến chốn, thì có lẽ chỉ có “thánh nhân” mới hành nổi “thiên đạo” này mà thôi. Vì phải “diệt ngã” (diệt cái tôi, cái ta), đâu phải việc dễ làm!”

Thời Vô Vọng không còn, nhưng hiện tượng Vô Vọng thì vẫn còn.

Như trái bưởi da xanh không hạt của người nông dân Bến Tre.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 16 năm 2014)

MẤY SẤM TRUÂN CHIÊN

Thảm họa chìm phà Sewol ở Hàn Quốc những ngày cuối tháng Tư vừa qua là một thử thách đem lại một bài học về quan hệ giữa Trời và Người, về quản lý đất nước, về cách thức vượt qua những hiểm họa, về ứng xử của con người trong nguy khốn. Người xưa đã khái quát bài học đó trong một quẻ của Kinh Dịch.

Hàn Quốc là nước có quốc kỳ in hình bát quái của Dịch học, hẳn là thấm thía hơn ai hết những gì tiền nhân đã truyền lại trong quẻ Dịch mang tên Thủy Lôi Truân. Thấm thía đến mức, Thủ tướng Chính phủ phải từ chức. Vậy, Thủy Lôi Truân là gì?

Thủy là nước, lôi là sấm, truân là gian nan, khó khăn. Vì liên quan đến sấm, nên nước đây là nước ở trên trời, tức là mây. Chúng tôi dịch nôm na là Mây Sấm Truân chiên.

Chữ đệm “chiên” dịch từ chữ Hán: Chiên là bước đi khó khăn. “Truân chiên” là khó khăn trong từng bước đi. Thủy Lôi Truân là thời khó khăn gian truân lúc ban đầu, khi vạn vật mới sinh sôi, nảy nở, giống như trên trời có mây có sấm mà chưa có mưa. Khi này, trời đất còn đang vận động, âm dương chưa hòa hợp, nên còn gian truân, nhưng đây là gian truân trong thuở ban đầu. Con người cảm nhận thời truân như thế, phải biết hành động cho phù hợp.

Hành động ấy là Gặp lúc gian truân, có thể rất hanh thông (nguyên hanh), nếu giữ vững điều chính (trái với tà) và đừng tiến vội, mà tìm bậc hiền tài giúp mình. Tin là chưa mưa, mà có sấm động thì sẽ mưa, chỉ cốt là vận động cho chính đáng, và đừng tiến nhanh gấp (vì phải chờ thời), và tìm bậc hiền tài giúp mình. Đừng nhanh vội và tìm hiền tài là bí quyết của con người thời Truân. Vụ chìm phà ở Hàn Quốc đã xảy ra đúng với hình tượng quẻ Thủy Lôi Truân. Thủy (nước, ở đây là mây) là tượng quẻ Khảm. Khảm là hiểm. Đi biển bao giờ cũng là một cuộc hiểm. Lôi (sấm) là tượng quẻ Chấn. Chấn là động. Vận động biển khơi bao giờ cũng là thời ban đầu của trời đất, cái thời mây sấm đang chuyển động, âm dương chưa giao hòa, luôn luôn ẩn chứa sự biến. Đến đây thì chấn động lớn đã xảy ra. Con người đã phạm lỗi với trời. Dịch đã dạy rằng, trong hoàn cảnh ấy chớ nóng vội.

Cơn biến động gây chìm phà chỉ trong giây lát. Còn có những biến động diễn ra trong thời gian dài, như trận bão sắp đến, như cuộc chiến tranh sắp xảy ra. Hoàn cảnh khác nhau, nhưng cả hai đều cùng một yêu cầu: Con người đừng nóng vội. Bởi vì, trong thời cuộc đang chuyển động bão táp, bao giờ cũng có sự lo lắng, bực bội, nóng nảy. Chớ vội vã, bồn chồn, vì bất cứ chuyện gì hành động quá vội vàng sẽ đưa đến thất bại ngay. Một việc thành mà trăm việc hỏng, là cái thời Truân.

Câu “tìm bậc hiền tài giúp mình” dịch ở ba chữ “lợi kiến hầu”. Đi trên một con thuyền mà gặp cơn bão, phải có một người đứng ra chỉ huy, vừa lo trấn an các người “cùng hội cùng thuyền” (chữ của Nguyễn Duy Cần). Chữ “hầu” đây, không phải bậc vương hầu, mà là kẻ cầm đầu. Người này phải có tài chỉ huy vừa phòng bão, vừa trị bão. Lời bàn của Nguyễn Duy Cần: Đang lúc hiểm nguy ( thời Truân) mà biết hành động thích nghi, bao giờ cũng điềm tĩnh phi thường, mới xứng đáng là người của thời Truân. Dịch học bàn, thẳng thiên lý (lẽ trời), nên như Trình Minh Đạo, một tổ sư Dịch học thời Tống, đã bảo: Thiện ác giai thiên lý (thiện và ác đều là lẽ trời cả). Đó là nghĩa sâu kín của câu: “Lôi Vũ chi động, mãn doanh” (sấm mưa động, đầy tràn). Bão tố, tuy là điều đáng lo đáng sợ, nhưng nó lại đầy hứa hẹn. Bão to gió lớn là những hành động tự nhiên của âm dương, nóng lạnh bất điều hòa, là một cần thiết của Tự nhiên để lập lại quân bình đã mất.

Cho nên, xem tượng Vân Lôi Truân, “người quân tử theo đó mà lo việc kinh luân”. Kinh luân là sắp xếp các đường chỉ dọc ngang để dệt nên tấm vải trên khung dệt. Ám chỉ lo điều hòa âm dương cho đâu đó có hệ thống, mới làm nên mọi sự vật. Chữ kinh luân đứng về cương vị chính trị, là đem tài trị nước mà sắp đặt lại kỷ cương trong xã hội. Ta thường dùng chữ kinh luân để chỉ người có tài trị nước. Chữ kinh luân, thánh nhân chỉ dùng một lần trong quẻ Thủy Lôi Truân, để chỉ việc “lợi kiến hầu”, “tìm người hiền tài giúp mình”.

Việc chìm phà Sewol xảy ra ở một vùng biển, nhưng nó động đến một việc lớn của người cầm quyền trị nước, đòi hỏi có tài kinh luân, nên Thủ tướng Chính phủ phải xin từ chức. Phải chăng đó là do lẽ trời đã vạch ra trong thời mây sấm truân chiên? Nó không còn là một tai nạn riêng lẻ ở một vùng biển phương Đông, mà trở thành một bài học cho cả loài người.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 18 năm 2014)

GIÓ MẤY TAN

Thời sự lâu nay sôi nổi những chuyện hết Syria, Thái Lan, lại đến Ukraine đầy biến động giữa các lực lượng xã hội - biểu tình, công kích nhau, xung đột, bao vây, gây sức ép đòi thay đổi theo những chiều hướng khác nhau.

Có khi căng thẳng dẫn đến bạo lực, đổ máu. Tôi theo dõi, lắng nghe các bình luận, dự báo, bất giác tự hỏi: Kinh Dịch có bàn những chuyện này không nhỉ? Hóa ra có đấy. Trong 64 quẻ Dịch có một quẻ nói chuyện này, quẻ Phong Thủy Hoán. Phong là gió, thủy là nước.

Quẻ có tượng: Gió đi trên Nước. Trên là gió, dưới là nước; gió thổi trên nước (hay mây) làm nước tung toé ra (hay mây tan rã ra), cho nên đặt tên quẻ là Hoán. Hoán là Tán, Tiêu tan, không tụ một chỗ. Trong một cuốn sách, tôi đã từng gọi tên quẻ là Gió Mây Tan.

Tình hình biến động giữa các lực lượng xã hội, khác nào những cơn gió xoáy trong thiên nhiên thổi trên mặt nước, làm cho mặt nước không bình yên nữa. Kinh Dịch đã khái quát những hiện tượng này ra sao nhỉ? Người xưa đặt lời quẻ có câu: Lìa tan, hanh thông.

Vua tới nhà Thái miếu, vượt qua sông lớn thì lợi, giữ đạo chính thì lợi. Thường thì nhóm họp mới hanh thông, nhưng ly tán cũng có khi hanh thông, chẳng hạn mấy hôm nay sương mù tụ lại nhiều quá, nắng lên, nó tan đi thì tốt. Hễ hợp thời thì tốt, trái lại thì xấu.

Muốn cho công việc giải tán hanh thông thì nhà cầm quyền phải có lòng chí thành, như một ông vua đến nhà Thái miếu (Lấy mình làm gương cho dân, khiến dân đừng quên tổ tiên, người xưa cho đó là phương pháp tốt nhất để quy tụ lòng người); lại phải biết mạo hiểm như có gan vượt qua sông lớn; sau cùng phải giữ đạo chính, đừng làm những việc bất chính.

Phan Bội Châu bình luận: Dịch học vẫn có Tượng, nhưng gốc cốt ở Lý. Vì lý là vô hình, tượng là hữu hình, nên phải mượn tượng là hữu hình mà tỏ rõ lý vô hình. Lời Quẻ Hoán nói rằng Lợi qua sông lớn, đến Thoán truyện (của Khổng tử) lại giải thích rằng: Dùng thuyền gỗ mà qua sông. Thuyền đó chính là nhân tài. Thuyền gỗ qua sông là ý nói nương dựa vào nhân tài mà vượt hiểm.

Cứ cái nguyên lý thời Hoán ấy mà xem xét tình hình cụ thể dù hiện tượng xã hội rối ren đến đâu, ta cũng thấy con đường mà những người cầm quyền phải đi, phải giải quyết. Thế nào là hoán tán mà lại hanh thông? Hanh thông ở đâu? Thế nào là “vua tới nhà Thái miếu”?

Con sông lớn phải vượt qua là vấn đề gì? Phải mạo hiểm ra sao? Con thuyền gỗ “nhân tài” kiếm ở đâu ra? Đạo chính trong những biến động lìa tan là gì đây? Đấy là tất cả then chốt, muốn hay không nó cũng diễn ra theo lẽ trời đất là như thế. Không thể nào khác.

Từng hào quẻ Hoán gỡ ra cho ta xem xét những vấn đề cụ thể hơn. Tôi không nói hào 1 (nhân dân), hào 2 (trí thức, nhân sĩ), hào 3 (quan chức và những nòng cốt cấp cơ sở). Tất cả những hào này có vai trò của nó, biết “động” vào nó thì sẽ làm chuyển động tình hình.

Tôi nói hào 4 và hào 5, hai hào này cũng là cái “bí quyết” để cứu thời Gió Mây Tan. Hào 4 bảo rằng: Tan cái đàn nhỏ, tốt nhất, tan mà có đàn lớn (thay vào) không phải kẻ tầm thường nghĩ ra được.

Hào này âm nhu, thuận giúp đỡ hào 5 vừa cương vừa đắc trung, (như ngày xưa một vị đại thần giúp một minh quân, bây giờ là các cấp tương đương bộ trưởng, các trưởng đảng phái trong xã hội) mà biết giải tán bè phái của mình đi, để đoàn kết tập hợp cả quốc dân mà cùng lo cứu nước, như vậy là giải tán cái nhỏ để gom cái lớn lại thành gò đống, rất tốt.

Người thường không hiểu được lẽ đó mà chê sao lại giải tán đảng của mình. Phan Bội Châu giảng giải: Ba hào ở dưới chỉ là ở thời Hoán, mà lo cho khỏi hoán (tán), đến hào 4 này, lại lấy một cách Hoán mà làm cho mất Hoán. Người ta chỉ biết là tan, mà không biết cách tan của 4 âm này.

Tan cái rất ít mà nhóm (hợp) được cái rất nhiều, tan bầy của mình mà hợp được bầy cả thiên hạ. Công việc to lớn như thế, thủ đoạn lạ lùng như thế, há người thường mà nghĩ được hay sao? Ta lại xem hào 5 quẻ Hoán: Ban bố hiệu lệnh lớn khắp nước như mồ hôi tán phát ra khắp người; tán phát kho của vua để chu cấp cho dân, không có lỗi.

Tán phát kho vua ngày xưa là việc lớn lắm, gọi là “tán tài để tụ dân”, cũng như hào 4, giải tán bè phái để tụ dân, đều là cách “hóa giải” tốt ở thời ly tán cả. Ta hãy xem tình tình Thái Lan, chính phủ của bà Yingluk Shinawatra đã giải tán quốc hội, tổ chức bầu cử mới, trợ giá gạo cho nông dân, bán gạo cho Trung Quốc xoay tiền trả nợ cho nông dân. Nhờ thế quả nhiên biểu tình đòi “đóng cửa Bangkok” lắng dịu.

Chúng tôi cho rằng, nếu biết cách lắng nghe tiếng nói thời Gió Mây Tan của phương Đông, tình hình Ukraine cũng sẽ giải tỏa căng thẳng theo cách như thế. Kỳ sau xin nói tiếp cái thời Gió Mây Tan này.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 10 năm 2014)

GIÓ MẤY TAN (2)

Mở quẻ Dịch với những lời phán của thánh nhân từ mấy ngàn năm trước để xem xét những biến động thời hiện đại hôm nay, có vẻ như ngớ ngẩn, hoang hoải thế nào. Ấy vậy mà đối chiếu từng câu, từng ý thấy như ứng dụng được, soi sáng được, và vỡ vàng ra đường đi nước bước.

Bởi vì, Dịch có phải là một mớ quẻ, hào quơ quýu lấy được đâu.

Dịch là tổng kết của vũ trụ và loài người, tinh túy của trí tuệ và tâm linh. Người ta có thể đọc từ cấu trúc Dịch, từ ghi chú của thánh nhân cho 64 quẻ và 384 hào của Dịch, từ chữ Thời và chữ Tượng, từ chữ Thể và chữ Dụng của Dịch, vô số những điều có thể suy ngẫm và ứng dụng cho muôn ngàn tình huống, hoàn cảnh của thế sự, từ to đến nhỏ, từ toàn cảnh xã hội cho đến từng cá nhân.

Trở về với quẻ Gió Mây Tan (Phong Thủy Hoán), tôi đã nói cái thần tình của quẻ trong thời cuộc hoán tán và phương pháp giải cứu thời chia lìa tan vỡ.

Có nói rằng, hào 4, hào 5 là bí quyết của các bậc “đại thần” và nguyên thủ để cứu thời Hoán. Nhưng thực ra, mỗi hào trong số 6 hào, đều trở thành bí quyết trong một tình huống nào đó. Đối với một cộng đồng, trong cấu trúc quẻ, hào 1 là nhân dân, hào 2 là trí thức và nhân sĩ, hào 3 là nòng cốt của cơ sở cấp dưới (tương đương cấp huyện và xã).

Hào 1 quẻ Hoán bảo rằng: Dùng con ngựa mạnh để cứu vớt (thời lìa tan), tốt.

Ta hãy xem tình hình biến động ở Ukraine, trong tình huống trở thành cuộc chiến của truyền thông, cuộc chiến của ngoại giao, thì đâu là sự thật?

Bí quyết cứu thời Hoán ở đây phải tìm thấy ở hào 1 quẻ Hoán, có nghĩa là phải tìm thấy ở sức mạnh của nhân dân. Sức mạnh nhân dân ở đây được ví như con ngựa mạnh để cứu vớt thời lìa tan. Quả thực là triết lý phương Đông bắt nguồn từ hào 1 quẻ Hoán này mà tìm ra chân lý trong mọi thời cuộc “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Trong tình huống các bên đối lập đều cho rằng mình là dân, dân là thuộc về mình, vậy thực ra dân ở phía bên nào? Lời quẻ Hoán nói rằng: “giữ đạo chính thì lợi”. Một chữ chính sẽ cho ta biết dân ở đâu.
Rất đơn giản và dễ hiểu: Nhân dân mong muốn một cuộc sống công bằng và bình an.

Một Khúc Hạo ở Việt Nam xưa tìm thấy trong chính sách “khoan dân” một sức mạnh to lớn của nhân dân. Thời nào cũng vậy, nhân dân chính là “con ngựa mạnh” cứu thời Hoán.

Hào 2 quẻ Hoán nói gì? Thời lìa tan, chạy đến chỗ ghế dựa (hào 1) thì khỏi ăn năn gì. Đây là nói với các lực lượng của trí tuệ (tiêu biểu là giới trí thức) cũng là nói với các nguyên thủ. “Ghế dựa” đây tức là đất căn cứ. Hãy tìm đến đất căn cứ thì cứu được sự lìa tan. Hào 1 chính là ghế dựa của hào 2. Đất căn cứ ở đây là nhân dân với sức “con ngựa mạnh” của mình. Tưởng không còn gì rõ hơn.

Trong Kinh Dịch đối chiếu với quẻ Phong Thủy Hoán có quẻ Trạch Địa Tụy. Tụy là Tụ. Quẻ nói về sự tụ họp của con người. Cũng như quẻ Hoán, hoán tán có khi xấu cũng có khi tốt, tụ họp cũng thế, không hẳn là chỉ có tốt, tụ họp làm giặc cướp thì còn tốt nỗi gì. Trong cuộc sống (cũng như trong vũ trụ) có Hoán thì còn có Tụ. Lời quẻ Tụy cũng có câu “ Vua tới nhà Thái miếu”, nhưng không có câu “Lợi qua sông lớn” như quẻ Hoán, mà có câu “Lợi gặp đại nhân”.

Phan Bội Châu có lời bình giảng hai quẻ Hoán và Tụ (Tụy) rất hay như sau:

Hoán với Tụy là hai quẻ đối lập nhau, mà cũng là hai quẻ tương ứng nhau. Hai quẻ chung một chữ hanh, đó là lý trong thiên hạ, Tụy vẫn hanh, mà Hoán cũng hanh được. Nhưng lại vốn chung nhau một câu: Vua tới nhà Thái miếu, là cớ vì sao? Bởi vì, làm việc thiên hạ, không kể lúc thường hay lúc biến, cảnh thuận hay cảnh nghịch, nhưng căn bản không lúc nào không cốt ở chí thành, chí thành là tinh thần thuộc về vô hình, nên phải mướn việc tế tự mà hình dung tinh thần của chí thành. Vua tới nhà thái miếu nghĩa là, gặp thời Tụy cũng như gặp thời Hoán, phải căn bản ở chí thành, giống như một người vào chủ tế, mà tinh thần mình đối chất với thần minh, có căn bản như thế, thì việc Tụy vẫn hay, mà việc Hoán vẫn tốt. Duy đến thủ đoạn (nên hiểu là phương pháp) thì tùy Thời mà khác nhau. Vậy nên, quẻ Tụy thì có câu: Lợi gặp đại nhân.

Đến quẻ Hoán thì có câu: Lợi qua sông lớn, mà không có câu Lợi gặp đại nhân. Bởi vì, thời Tụy là việc thường, cảnh thuận, đoàn thể có sẵn, mà cơ sở vẫn không động dao (không biến động), chỉ cốt có người đại đức, đại tài, để làm lãnh tụ cho quần chúng, là xong nổi việc, kỳ thực không gì là nguy hiểm, nên chỉ nói: Lợi gặp đại nhân, mà không nói lợi qua sông lớn. Đến như thời Hoán, việc Hoán, thì khác hẳn. Cảnh đã nghịch, việc đã biến…

Ngoài xã hội cũng như trong nội tình, những việc nên đánh tan đã nhiều, chẳng có cách nào khác. Ở vào thời ấy, mà muốn thổi gió quét mây, thì nguy hiểm biết là bao nhiêu, tất phải vững tay cầm lái, cùng bạn chèo chống. Làm nổi công việc Hoán, đâu phải một người đại tài đại đức mà xong đâu? Nên lời quẻ không có câu lợi gặp đại nhân, mà có câu lợi qua sông lớn. Vì thủ đoạn thời Hoán với thủ đoạn thời Tụy khác nhau, chỉ có cái căn bản (lòng chí thành như vua tới Thái miếu) thì giống nhau mà thôi.

Mới biết, thánh nhân khi làm Dịch thâm diệu biết bao. Chỉ xin lựa ngần ấy ý tứ, soi vào thời cuộc để cùng nhau biết

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 11 năm 2014)

SAU TÁN TÁC ĐẾN ĐIỀU TIẾT

Kinh Dịch dạy rằng, sau thời Gió Mây Tan (Phong Thủy Hoán) ắt đến thời Nước Đầm Tiết chế. Tên chữ là Thủy Trạch Tiết. Thủy là nước, trạch là đầm hồ (phía nam gọi là chằm). Nước ở trên, đầm hồ ở dưới, đầm hồ phải tiết chế cho nước khỏi tràn đầy, đó là lẽ trời, cũng gọi là luật trời.

Người Việt ta có ba chữ “giữ chừng mực”. Phan Bội Châu bình luận rằng: Quẻ Tiết ở sau quẻ Hoán (tán) là Dịch lý rất hay, quốc gia xã hội đã trải qua một cuộc hoán tán rồi. Phong tục đồi bại quá nhiều, công nghệ hoang phế quá lắm, trật tự đã biết bao nhiễu loạn, kinh tế đã biết bao cùng quẫn, sức sinh sản kém sút, đạo đức mới toan đánh đổ cái cũ. Nếu khi ấy mà không dùng đạo tiết, sống xa xỉ ngày càng lung tung, thế vật chất ngày càng bành trướng, làm nguy hiểm cho thế đạo biết đến chừng nào (Chu Dịch. NXB Văn hóa Thông tin 1996, tr. 815) . Thu Giang Nguyễn Duy Cần cũng nhận xét như thế, cái đầm (hay cái hồ) nước có mực, nếu chứa thêm nước nữa, thì nước sẽ tràn bờ.

Rộng ra, là tiết điệu (điều tiết). Mà tiết điệu là lẽ sống còn của mọi sự mọi vật. Trong thiên hạ, quý nhất là đạo trung, nghĩa là không cho cái gì bất cập, cũng không cho cái gì thái quá. Đây là luật căn bản của Dịch. (Dịch kinh tường giải. NXB Trẻ 2014, tr. 379).

Tuy nhiên, điều tiết như thế nào là cả một vấn đề. Thu Giang bảo rằng: Học đạo tiết là học đạo trời vậy, biết chỗ nào bớt mà bớt, chỗ nào thêm mà thêm, đâu phải là việc tầm thường, phi là bậc thánh nhân, chắc gì làm nổi việc rất tầm thường dễ hiểu này.

Cứ xem sau thời “gió mây tan” ở Ukraina, sang thời “nước đầm tiết”, khi xứ Crưm đã thuộc về Liên bang Nga, giời xui đất khiến ông Putin và các nhà lãnh đạo đã điều tiết thế nào. Tôi xin phép không liên hệ thẳng đến từng hành động trong thực tế, chỉ kê ra đây những gì thuộc quẻ Thủy Trạch Tiết.

Hào 1 quẻ Tiết bảo rằng: Không ra khỏi cửa sân, không lỗi. Ý nói phải xem thời, thời đáng hành động thì hành động, đáng dừng thì dừng. Không ra khỏi cửa sân! Cẩn thận từng lời nói. Cái gì đáng nói hãy nói, đáng lặng im thì lặng im. Việc này không dễ dàng tí nào. Vào thời điểm này, một lời nói có thể dựng nước, một lời nói cũng có thể làm mất nước (nhất ngôn khả dĩ hưng bang, nhất ngôn khả dĩ táng bang).

Hào 2: Chẳng ra khỏi cửa sân, thì xấu, dữ. Ý nói đã đến lúc hành động, mà “không ra khỏi cửa sân”, không nắm thời cơ, chỉ cần do dự chút thôi, là hỏng việc.

Hào 3: Chẳng giữ chừng mực, rước vạ vào thân, còn đổ lỗi cho ai. Ý nói thấy nguy hiểm phía trước, không biết giữ mình, đến nỗi phải than thở, lỗi ở mình đó thôi.

Hào 4: An vui về việc giữ chừng mực, hanh thông (An tiết). Ý nói đã đến lúc được cả thời lẫn thế, cứ an nhiên, tự nhiên mà tiết chế, mà giữ chừng mực, không cần kiểu cách, giả dối làm gì.

Hào 5: Thời cực tốt đã đến rồi, ngọt ngào mà tiết chế! (Cam tiết). Thời này tốt hơn cả, tiết chế bản thân mình, còn tiết chế được cả thiên hạ, đó chính là ngọt ngào mà điều tiết.

Hào 6: Khổ sở về việc giữ chừng mực, (chừng mực thái quá. Khổ còn nghĩa là đắng), cứ cố giữ thì xấu, biết hối mà bớt thái quá đi thì khỏi xấu. Tiết mà đắng! Càng khổ tiết thì càng khổ tâm. Đạo tiết đến đây là đến chỗ cùng rồi.

Xem thời mà điều tiết, đó là nghệ thuật. Hai chữ “thời tiết” không phải chỉ nói việc xem tiết nóng lạnh trong trời đất, mà bảo ta phải suy ngẫm từ những biến đổi trong trời đất, để mà quyết định làm gì sau cái tán tác của Gió Mây Tan.

Quyển Dịch kinh tường giải của Thu Giang để cả 18 trang cuối quyển Hạ để bàn về Luật tuần hoàn theo quẻ Thủy Trạch Tiết. Lại dành hẳn 48 trang tiếp theo để bàn về sự điều tiết của địa cầu và sự xoay vòng của đời sống nhân sinh.

Quẻ Thủy Trạch Tiết dạy ta 6 thời tiết để điều tiết sự vật. Lúc nào tĩnh, lúc nào động, lúc nào nhu nhược mà tiết, lúc nào “an tiết”, lúc nào “cam tiết”, lúc nào “khổ tiết”. Đối chiếu với thời sự khắp nơi trên trái đất, thấy y chang. Dịch cũng dạy ta, khi đọc Dịch, đừng chết theo văn tự.

Nếu chết theo văn tự, thì Dịch đã chết rồi, đối với các bạn! (Thu Giang Nguyễn Duy Cần). Phải đọc Dịch theo cách “Có Lời là vì Ý. Được Ý hãy quên Lời”. Trang Tử, một thần tượng của Thu Giang, đã thốt lên câu này: “Ta tìm đâu được kẻ biết quên Lời, hầu cùng nhau đàm luận?”.

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 14 năm 2014)

TÁN ĐỂ TỤ

Đó là triết lý của quẻ Phong Thủy Hoán, quẻ mệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào năm Giáp Ngọ (1954), năm ông đi lên chiến trường Điện Biên Phủ, trực tiếp làm Tư lệnh chiến trường. Chúng tôi đã từng có bài báo khám phá ra giờ sinh của ông là giờ Hợi (từ 21 giờ đến 23 giờ) ngày 25.11.1911 (tức 2.7 năm Tân Hợi), do đó quẻ Hà Lạc của ông tiền vận là Thuần Khảm chủ mệnh hào 5, hậu vận từ năm 1953 là Địa Thủy Sư, hào 5 (Lao Động số Tết Kỷ Sửu - 2009). Nhờ bài Hà Lạc này mà tôi tìm ra quẻ Dịch năm Giáp Ngọ của Đại tướng là quẻ Phong Thủy Hoán.

Phong là gió, Thủy là nước, Hoán là tán, là tan. Nước ở trên trời là mây, nên tên quẻ Dịch có thể dịch nôm là Gió Mây Tan, tượng hình làn gió trên trời cao thổi mạnh vào mây làm cho mây tan ra. Mây tan thì không có mưa, nói cách khác là chưa có mưa. Muốn có mưa thì phải biết “cứu thời Tán” làm cho mây tụ lại.

Triết lý “cứu thời Tán” gồm mấy điểm:

1. Không phải chỉ tụ mới là hanh thông, tán mà đúng thời của nó cũng là hanh thông. Như sương mù tụ dày đặc, cần nắng lên cho sương tan, thì tan (tán) ấy là hanh thông.

2. Có lòng chí thành. Chí thành như nguyên thủ trước bàn thờ quốc tổ (vương cách hữu miếu).

3. Có gan có mưu chí vượt sông lớn (lợi thiệp đại xuyên).

4. Lấy chính trung làm lợi (lợi trinh).

Phương thức “cứu thời Tán” gồm 6 bước ứng với 6 hào quẻ Hoán.

1. Dựa vào sức mạnh dương cương như dựa vào con ngựa khỏe.

2. Dựa vào đồng tâm đồng chí như dựa vào căn cứ vững vàng.

3. Quên cái mình riêng (bản ngã) mà gánh lấy việc đời, chí để nơi thiên hạ.

4. Tan cái đàn nhỏ mà nhóm lấy cái đàn lớn, tan cái rất ít mà nhóm lấy cái nhiều. Phải là bậc phi thường mới làm được vậy.

5. Dám ban hiệu lệnh lớn (có tính quyết định). Dám tán kho vua. Không lỗi.

6. Trừ cái họa huyết đau, tống cái sợ hãi đi, không lỗi.

Hành trạng của một con người bao giờ cũng là bản sao của hành trình số phận, không kể người ấy có biết hay không. Gọi là “giời xui đất khiến”.

Năm ấy, Võ Đại tướng lên Điện Biên Phủ đã mang trong mình cái sứ mệnh to lớn của hậu vận: Địa Thủy Sư. Sư là đứng đầu đám đông, trong quân đội là vị trí cầm quân. Đúng năm Giáp Ngọ, cái mệnh ông là hào 6 quẻ Phong Thủy Hoán: Trừ cái họa huyết đau, tống cái sợ hãi đi, không lỗi (hoán kỳ huyết, dịch xuất, vô cựu). Nói nôm na là chủ thể sẽ đứng trước cái họa máu, phải trừ bằng được cái họa máu đó, phải dũng cảm, can đảm (tống cái sợ hãi đi), được như thế thì “không lỗi”. Ra chiến trường, cầm binh sĩ trong tay, làm được hai việc lớn đó, thánh nhân chỉ khen “không lỗi” mà thôi.

Chúng ta đều biết, trong Chỉ huy sở Mường Phăng, Đại tướng đứng trước tình huống mệnh lệnh tốc chiến tốc thắng đã ban ra, toàn quân đang sẵn sàng. Nhưng tình hình thực tế không cho phép như thế. Cái họa máu đang ở trước mắt. Phải làm lại. Chuyển đổi từ phương châm đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc thắng chắc. Muốn chuyển đổi được, phải lấy tâm chí thành dựa vào nguyên tắc mà nguyên thủ Hồ Chí Minh đã chỉ đạo: “Tổng tư lệnh ra mặt trận, “tướng quân tại ngoại”. Trao cho chú toàn quyền”. Lại dặn thêm: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng, không đánh”. Dựa chắc vào nguyên thủ, đó chính là “vương cách hữu miếu”. Ra lệnh kéo pháo ra, tin tưởng toàn quân chấp hành, đó chính là “dựa vào sức mạnh dương cương” như dựa vào con ngựa khỏe. Ban hành chủ trương xây dựng trận địa chiến hào bao vây tập đoàn cứ điểm, đó chính là “lấy sự đồng tâm đồng chí làm căn cứ vững vàng”.

Bạn chịu khó đọc quẻ Phong Thủy Hoán trong sách Dịch, rồi lại đọc sách “Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử của Võ Nguyên Giáp” (Hữu Mai thể hiện), sẽ nhận ra đâu là “tan cái đàn nhỏ, nhóm lấy cái đàn lớn, quyết định của bậc phi thường”, đâu là “ban hiệu lệnh lớn”, “tán phát kho vua”, và cuối cùng là cái chủ mệnh chi phối xuyên suốt “trừ cái họa huyết đau” (nhằm giữ cái vốn quý tinh hoa toàn quân), “tống cái sợ hãi đi” (quyết chiến quyết thắng).

Tán để tụ, phải chăng là cái bí quyết dịch học, âm thầm xui khiến bên trong suốt chiến dịch Điện Biên Phủ của vị đại tướng tài ba? Cái bí quyết ấy đã diễn ra trong ngày 26.1.1954, trong cuộc họp Đảng ủy mặt trận, khi Đại tướng đề nghị từng đồng chí Đảng ủy viên trả lời câu hỏi: “Nếu đánh, có chắc thắng trăm phần trăm không?”. Và sau đó là mệnh lệnh cho pháo binh: “Kéo pháo ra khỏi trận địa, lui về địa điểm tập kết, chuẩn bị lại. Triệt để chấp hành mệnh lệnh. Không giải thích”.

Dựa vào dương cương như con ngựa khỏe là như thế.

Tán để tụ là như thế!

..................................Xuân Cang
.................(Lao động cuối tuần – Số 19 năm 2014)

HÃY LÀM ANH HÙNG THỜI HOÁN !

Năm 1982, vào một ngày hè, tôi cưỡi con La-đa đỏ chóe hay dở chứng dọc đường của báo Lao Động lên Thái Nguyên dự hội nghị Công đoàn.

Chú Tuấn, lái xe (nay người mất, xe đã thanh lý từ lâu) nói với Xuân Cang, cán bộ tuyên giáo Công đoàn Gang thép:
- Này, kiếm cho cân chè Thái ngon nhé !

Quay sang tôi:
- Tay này khá, hô chè là có ngay.

Họp xong, lúc quay về, tôi bảo:
- Cho Xuân Cang đi cùng nhé.

Tuấn hỏi:
- Về công tác, sao mang lắm quần áo thế?

Tôi nói:
- Lần này về hẳn.
- Làm gì?

Tôi cười:
- Làm sếp báo ta.

Tuấn lườm tôi, nặng cả tấn:
- Sao không báo trước? Mình vừa quát chè lão…

Tìm lại tuổi cho Lao Động

Về đến Hà Nội, tôi “bàn giao” Xuân Cang cho Ban biên tập. Đây là Tổng Biên tập thứ 10 của báo Lao Động. Một nhà văn công nhân, một Tổng Biên tập, ủy viên Ban thư ký Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Ban Thư ký Hội nhà báo Việt Nam, người đã làm một “cuộc cách mạng” (cùng với lãnh đạo Công đoàn Việt Nam và tập thể báo Lao Động) đổi tên Tổng Công đoàn thành Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, “kéo lùi” lịch sử Công đoàn Việt Nam và báo Lao Động 14 năm, từ 1943 về năm 1929, với tên tuổi lãnh tụ Nguyễn Đức Cảnh, thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Công đoàn Việt Nam, Tổng Biên tập đầu tiên của Lao Động. Tổng Biên tập Xuân Cang là người đầu tiên đưa Báo Lao Động vào thời kỳ đổi mới. Từ tờ tuần báo in đen sang báo hàng ngày in màu khổ lớn như ngày nay. Tiếc là, sau đó ông lại chuyển lên làm Trưởng Ban Tuyên giáo Tổng Liên đoàn và Ban Thư ký Hội nhà văn.

Ông người tầm thước, mặt đầy đặn, theo nét ký họa của Vu Gia là người dễ nhận dạng. Theo thuật toán Hà Lạc, mệnh ông thuộc quẻ Sơn Thiên Đại Súc (Núi giời chưa lớn), 13 tuổi bỏ học, theo Cách mạng tháng 8 lên chiến khu làm liên lạc, thợ cơ khí quân giới, thợ lò cao trong rừng, đi bộ đội, hòa bình về đi phá đồi làm Khu gang thép, làm cán bộ công đoàn, làm báo, làm văn, cả văn lẫn báo đều đã có thời “lên đỉnh”.

Ông là một người thành đạt bằng con đường tự học. Thành đạt ở ba nghề: công đoàn, báo, văn, vốn chẳng nhẹ nhàng thênh thang gì, lại càng không giàu có. Tôi vừa khoe với ông, mình có 50 năm ở nhà tập thể, giờ mới có căn nhà nhỏ ở “mặt đất”. Ông bảo: “Ăn nhằm gì, tớ năm nay 80, vẫn ở “trên giời” (tầng 2 khu tập thể Kim Liên xây từ thập kỷ 60, thế kỷ trước).

Năm 1987, tiểu thuyết “Những ngày thường đã cháy lên” của Xuân Cang được Nhà xuất bản Tác phẩm mới in số lượng “khủng”15.000 bản và bán hết veo. Đó là chuyện kể về nghề báo và người làm báo (ở báo Lao Động do ông làm Tổng Biên tập) đã tự thoát thai ra khỏi cái bọc bao cấp, mà ông gọi là “cuộc cách mạng 1986” để bước vào thời kỳ mới, chống quan liêu, tiêu cực, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người lao động, thúc đẩy vai trò công đoàn trong việc đại diện và bảo vệ quyền lợi người lao động. Đó cũng là thời Đảng ta khởi xướng “đổi mới”, báo Lao Động thay da đổi thịt từ đó để bước sang thập kỷ 90 được công nhận là một trong 200 tờ báo hiện đại của thế giới, hai lần được vinh danh tại Paris, thủ đô Pháp. Phía Nam có tờ Tuổi trẻ.

Năm 1983, tôi và họa sĩ Chu Thảo được Tổng Biên tập Trần Nhật Dụ phân công lo nội dung và hình thức số báo kỷ niệm 40 năm báo Lao Động. Năm 1999, lại chủ biên cuốn “70 năm báo Lao Động”. Về việc này, anh Xuân Cang cho biết: Lịch sử Công đoàn Việt Nam và báo Lao Động đều có ghi trong lịch sử Đảng.
Số báo Lao Động đầu tiên (14.8.1929) còn lưu ở Paris, Pháp, có bản chụp ở Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Nhưng thực ra, chỉ có mấy dòng ngắn ngủi: Nguyễn Đức Cảnh hy sinh ở Hải Phòng (1932), Trần Học Hải đi tù Côn Đảo 15 năm, Cách mạng tháng 8 mới được về. Vì vậy, báo Lao Động lấy lịch sử từ 1943 của các đồng chí Nguyễn Văn Trân, Văn Tiến Dũng, Lê Quốc Thân… do Tổng Biên tập Trường Chinh trực tiếp chỉ đạo, duyệt bài. Đó là thời báo Lao Động chuần bị tinh thần và tổ chức cho giai cấp công nhân Việt Nam tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945.

May mắn là Nhà cách mạng lão thành Trần Học Hải, nhân chứng sống duy nhất, vẫn còn khỏe ở Hà Nội. Cụ vẫn chống ba toong đến thăm báo. Đó là cơ hội để Xuân Cang và chúng tôi cùng các nhà sử học (GS, TS Đỗ Quang Hưng, TS Hồ Thức Hòa…) phục dựng lại lịch sử Công đoàn Việt Nam và báo Lao Động. Đó là tổ chức chính trị xã hội của giai cấp công nhân và tờ báo của mình do ĐCSVN trực tiếp lập ra. Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam…

Lao Động, nhờ thế tìm lại tuổi thật của mình, sinh ngày 14.8.1929, nửa tháng sau khi thành lập Công hội Đỏ Bắc Kỳ, tức Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam hiện nay.

Không làm việc thì chết

Nếu tôi không nhầm, Xuân Cang là nhà báo, nhà văn đầu tiên sử dụng thành thạo vi tính. Gia tài báo chí, văn chương của ông đều nằm trong ổ cứng. Cầu cho không có con vi-rút nào “đục thủng”. Mình kém lão gia một giáp, mà thua “ông già”. Đi công tác, lúc ngủ cùng phòng, 3 giờ sang Xuân Cang đã dậy ngồi vào bàn, viết đến lúc tôi dậy, mời sếp đi điểm tâm.

Vẫn nghĩ, việc quái gì mà lão làm việc vào lúc ngon giấc như thế? Nay tôi cũng thành thói quen, hai ba giờ đã dậy, ngồi bên bàn. Mình cũng già rồi. Lão gia bảo: tớ chuyển sang 4 giờ dậy, để ngủ thêm chút nữa cho cái tuổi. Trừ phi hôm nào có bóng đá thì xem hết. Chỗ này (bóng đá) mình lại thua. Ông ấy còn gieo quẻ cho các đội bóng nữa!

Phỏng vấn “thầy” Xuân Cang:

– Vì sao chuyển sang Kinh Dịch Hà Lạc?
– Năm 1992, mới nghiên cứu Hà Lạc. Đây là cách đoán thời vận, số và mệnh theo kiểu Phương Đông.
– Sao bác còn gieo quẻ cho các nhà văn, đội bóng…?
– Từ góc nhìn Bát quái thì tất cả đều ở trong đó, đấy là Minh Triết của người Việt ta bắt nguồn từ Dịch học.
– Văn chương, báo chí bây giờ ông có “xem” không?
– Nói theo góc nhìn Bát quái thì báo chí đang ở trong thời Phong Thủy Hoán (gió mây tan). Báo chí đang phát triển đến mức tung tóe, phân tán, không quy tụ, mỗi tờ một phách. Sự quản lý bên trên chỉ là hình thức. Lượng thông tin rất lớn, nhưng chưa đáp ứng nhu cầu đầy đủ của bạn đọc. Bây giờ, cần những anh hùng thời Hoán (thời tán, tiêu tán), những tờ báo có uy tín lớn, dám vượt sông lớn để quy tụ lòng dân. Báo chí có thể xuống cấp, nhưng người đọc không bao giờ xuống cấp.
– Còn báo Lao Động?
– Tôi chưa gieo quẻ, vì lẽ thông thường, Bụt chùa nhà không thiêng (!). Nhưng Lao Động ta đã có danh hiệu anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, đang phấn đấu trong một thời kỳ “gió mây tan” hãy cố gắng vượt lên để làm anh hùng thời Hoán. Theo Kinh Dịch, Hoán Tán không có nghĩa là tốt hay xấu. Khi cần, Hoán Tán để sự vật trở nên lành mạnh, hanh thông thì Hoán Tán là tốt, nhưng phải “cạo gió”, ra mồ hôi, giải cảm. Bí quyết để cứu thời Hoán người xưa bảo là vua (hay nay là người đứng đầu quốc gia ) hãy làm gương cho dân, hướng về tổ tiên để quy tụ lòng người, vượt qua sóng lớn thì lợi, giữ đạo chính thì lợi.
– Ông đang viết gì?
– Vẫn viết tiểu thuyết đấy. Nhưng xin được giữ bí mật về những cái đang làm. Chương trình làm việc cũng còn nhiều, nhưng bây giờ cũng tự bảo mình, phải biết dừng lại. Làm đến đâu biết đến đấy. Nhưng có một câu này: Không làm việc thì chết!

Năm 1960, Xuân Cang ra cuốn sách đầu tay “Suối gang”. Đến nay, tôi có cảm giác ông viết có phần khỏe hơn thời say mê giấc mộng văn chương, cái khỏe hiểu theo nghĩa tư duy khỏe khoắn, sâu sắc và bản lĩnh, cái khỏe của trí tuệ người đã có cái nhìn âm dương biến ảo mà vẫn theo những quy luật từ nghìn xưa, mãi đúng tới nghìn sau…

(Hà Nội , chuẩn bị đón thu về)

Nhà văn, nhà báo Nguyễn Xuân Cang, sinh năm 1932, quê Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật 2012. Đã xuất bản 14 tiểu thuyết, truyện vừa, hồi ký, biên khảo bộ sách “Tám chữ Hà Lạc và quỹ đạo đời người”, “Khám phá một tia sáng văn hóa phương Đông” (2 tập). Hiện ông vẫn giữ chuyên mục “Góc nhìn bát quái” của Lao Động cuối tuần.

..................................Trần Chinh Đức
.................(Lao Động – Số 186 - Thứ bảy 11/08/2012)


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 28.11.2014    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


CHIẾC LÁ BỒ ĐỀ

“Ngồi dưới gốc cây pippala, sa môn (thầy tu) Gotama tập trung hết định lực và quán chiếu vào nội thân. Ông khám phá ra dòng sông tri giác đang trôi chảy len lỏi giữa các dòng sông cơ thể và dòng sông cảm giác. Thế giới là thế giới của tri giác, tri giác chính xác thì thực tại hiển lộ, tri giác sai lầm thì thực tại chìm lặn. Ông tìm ra nguồn gốc mọi sự khổ đau của người đời, bao gồm những tâm lý sợ hãi, giận dữ, căm thù, kiêu mạn, ganh ghét, tham đắm và u mê. Ông thấy rằng, bản chất của chúng đều là sự u mê. Tên của nó là vô minh, tên nó là mờ ám, tên nó là sự thiếu sáng suốt. Chìa khóa của giải thoát, vì vậy là, sự đập tan u mê, đi sâu vào lòng của thực tại để có một cái biết trực tiếp và chân thực về thực tại. Cái biết này không phải là cái biết của tri thức suy luận. Cái biết này phải là cái biết trực tiếp của kinh nghiệm, của thực chứng. Giải tỏa u mê và đi tới sự hiểu biết, tức làm cho chúng tự tan rã, như khi mặt trời lên thì tự khắc bóng tối tan biến.

Sa môn Gotama mỉm cười. Ông thấy một chiếc lá pippala in trên nền trời xanh, đuôi lá hướng về đất và phe phẩy như đang gọi ông. Chiếc lá này là một thực tại màu nhiệm. Nhìn chiếc lá, ông thấy mặt trời và trăng sao. Nếu không có mặt trời, nếu không có ánh sáng và sức nóng, chiếc lá không thể nào có mặt. Có cái này, vì có cái kia. Ông lại thấy một đám mây bay lửng lơ trong lòng chiếc lá. Nếu không có đám mây, thì không có mưa, và nếu không có mưa, thì không làm gì có chiếc lá. Ông thấy mặt đất to lớn. Ông thấy thời gian. Ông thấy không gian. Ông thấy tâm thức. Tất cả đều đang có mặt trong chiếc lá. Vũ trụ có mặt trong chiếc lá và với chiếc lá. Địa, thủy, hỏa, phong, không, thời, phương, thức, tất cả đều có mặt với chiếc lá trong giờ phút này. Cái này có, thì cái kia có. Và ông thấy, thực tại của chiếc lá cũng màu nhiệm như thực tại của bản thân ông. Thực tại của chiếc lá cùng thực tại của bản thân ông là một. Chiếc lá chỉ mới có mặt từ đầu mùa xuân năm nay. Nhưng thực ra, chiếc lá đã có mặt không biết tự bao giờ. Trong ánh nắng, đã có sẵn chiếc lá. Trong đám mây bay, đã có sẵn chiếc lá. Trong cây, đã có sẵn chiếc lá. Và trong Gotama, đã có sẵn chiếc lá. Chiếc lá thực ra chưa từng bao giờ sinh, chiếc lá chỉ được biểu hiện ra mà thôi. Sa môn Gotama cũng chưa bao giờ từng sinh, sa môn Gotama cũng chỉ được biểu hiện. Những ý niệm sinh diệt và còn mất là những ý niệm phát xuất từ nhận thức sai lầm. Sự có mặt của một hiện tượng kéo theo sự có mặt của tất cả mọi hiện tượng trong vũ trụ. Cái Một bao hàm Tất cả, và cái Tất cả được có mặt trong cái Một”.

Bạn thân mến!

Đoạn văn trên đây tôi trích dẫn trong tiểu thuyết “Đường xưa mây trắng” của nhà văn hòa thượng Thích Nhất Hạnh kể chuyện về sự tích Đức Phật ( NXB Tôn giáo 2005, trang 104 - 105). Sa môn Gotama, tiền thân của Phật, ngồi thiền nhiều ngày đêm dưới gốc cây cổ thụ pappila, tìm ra chân lý. Hằng ngày, có đám trẻ chăn trâu đem đến cho ông, khi thì bát hồ pha sữa và mật ong, khi thì mớ cỏ khô để rải thảm cho ông ngồi thiền. Chân lý ông tìm ra trong vô thức, sau này trở thành những nguyên lý tiên đề của Kinh Dịch.

Đoạn chiếc lá bồ đề trên đây mô tả rằng, Gotama đã thấy ra “vạn vật đồng nhất thể”, nguyên lý sinh thành của vũ trụ thể hiện trong tất cả sự vật, trong từng sự vật. Cái Một chi phối toàn thể và từng sự vật. Do đó, Con người là tiểu vũ trụ. Mỗi con người là một tiểu vũ trụ. Ngoài ra, còn những nguyên lý tiên đề khác.

Chiều hôm ấy, sa môn Gotama đi thiền hành (vừa đi vừa thiền) bên bờ sông, lội xuống sông tắm gội, rồi lại lên bờ sông đi thiền hành. Khi nắng bắt đầu tắt bên sông, ông trở lại với gốc cây pippala quen thuộc. Nhìn gốc cây với tấm thảm cỏ mới trải, Gotama mỉm cười. Ngồi dưới gốc cây này, ông đã thực hiện được bao nhiêu khám phá quan trọng. Ông biết, giờ phút mà ông chờ đợi từ lâu đã sắp đến. Cánh cửa giác ngộ hoàn toàn sắp được tung mở. Về sau, chính đám trẻ con gọi ông là Bụt và gọi cây pappila là cây bồ đề, lá cây pappila là lá bồ đề.

..................................Xuân Cang
.................(Lao Động cuối tuần – Số 42 năm 2014)

CÁI BÁT

"Một hôm, ngồi trong giảng đường, Bụt giảng cho học trò về phép Không có cũng Không không. Bụt chỉ vào một cái bát đựng đầy nước trong, dùng cho Bụt giải khát, hỏi học trò: “Ananda, theo thầy thì cái bát này là cái bát không, hay là bát đầy?”. “Bạch Thế tôn, cái bát này không phải là cái bát không, nó là một cái bát đựng đầy nước trong”. “Thầy hãy cầm cái bát nước đầy này lên và đem đổ hết nước trong bát ra ngoài kia”. Đại đức Ananda thị giả (ngày nay ta hiểu là thư ký riêng) làm theo lời Bụt dạy. Khi trở vào, đại đức đặt chiếc bát không lên bàn. Cầm cái bát lên và úp miệng bát về phía dưới, Bụt hỏi: “Ananda, cái bát giờ đây là bát không hay bát đầy?”. “Bạch Thế tôn, cái bát này giờ đây không phải là một cái bát đầy nước nữa, mà là một cái bát không”. “Thầy có chắc cái bát này là cái bát không không?”. “Bạch Thế tôn, con chắc chắn cái bát này là cái bát không”. “Ananda, trong cái bát này không có nước, nhưng lại có đầy không khí. Cái bát chỉ không có nước thôi, chứ cái bát đang có đầy không khí. Thầy đã quên rồi. Không luôn luôn nghĩa là không một cái gì, luôn luôn nghĩa là có một cái gì. Trong trường hợp này, thầy phải nói: Cái bát không có nước, nhưng có đầy không khí”. Bụt lại nói: “Cái bát trên bàn kia, tuy là một cái bát không còn nước, nhưng nếu mọi người nhìn thật kỹ, thì không phải như vậy”. Bụt hỏi: “Trong những yếu tố nhân duyên đã đưa tới sự có mặt của cái bát này, có yếu tố nước không?” “Bạch Thế tôn, có. Nếu không có nước trộn vào đất sét thì người thợ gốm không thể nào biến đất sét thành cái bát”. “Đúng rồi, Ananda! Nhìn kỹ vào cái bát, ta thấy có nước ở trong đó, dù trong giờ phút hiện tại, nó là một cái bát không có nước. Sự có mặt của cái bát chứng minh được sự có mặt của nước. Ananda! Thầy có thấy lửa trong cái bát này không?”. “Bạch Thế tôn, con có thấy. Nếu không có lửa, thì đất trộn với nước không thể nào đưa tới sự có mặt của cái bát. Nhìn sâu vào cái bát, con thấy sự có mặt của hơi nóng, của lửa”. “Nhìn sâu vào cái bát, thầy thấy gì nữa?”. “Con thấy không khí. Nếu không có không khí, thì lửa không cháy được và người thợ gốm cũng không sống được. Con thấy người thợ gốm. Con thấy bàn tay khéo léo của người thợ gốm. Con thấy tâm thức của người thợ gốm. Con thấy lò gốm. Con thấy củi chất trong lò. Con thấy rừng cây đã làm ra củi. Con thấy mưa, nắng, đất đai đã làm cho rừng cây mọc lên tươi tốt… Bạch Thế tôn, con thấy muôn ngàn yếu tố nhân duyên đã cùng nhau hợp lại để đưa tới sự có mặt của cái bát này”. Bụt kết luận: “Các thầy! Cái bát này tự nó một mình, nó không thể có mặt được. Nó chỉ có mặt đồng thời với tất cả những cái khác mà ta không gọi là bát, như đất, nước, lửa, không khí, người thợ gốm... Tất cả các pháp (phép) trên thế gian, pháp nào cũng thế, pháp nào cũng có mặt trong mối nhân duyên, trên nguyên tắc cùng gặp nhau, hội nhập vào nhau. Vậy, ta có thể nói, cái bát chứa đầy cả vũ trụ hiện có. Chỉ có một cái không có mặt trong cái bát này thôi. Đó là cái riêng ta của cái bát. Riêng ta là gì? Riêng ta là tự mình có mặt, không cần đến một yếu tố nào khác. Trên thế gian không có một phép nào có thể tự mình có mặt, mà không cần đến bất cứ một yếu tố nào khác. Đó là ý nghĩa căn bản của Không. Không, nghĩa là không có riêng ta".

Trên đây tôi trích dẫn đoạn văn của Thích Nhất Hạnh kể về triết thuyết “Không có cũng Không không” trong tiểu thuyết "Đường xưa mây trắng" (Theo gót chân Bụt). (Xin xem bài "Chiếc lá bồ đề" trong số báo trước). Sau này các học trò của Bụt gọi tên chữ Hán là Vô thường, Vô ngã. Dịch sang thuần Việt là “Cái gì cũng không có và không không”; và không cái gì không biến hóa (vô thường), không cái gì là riêng ta (vô ngã).

Thời nay, học giả G. Drukpa, một học trò của Bụt, trong tác phẩm "Bardo - hành trình liễu sinh thoát tử..." bàn thêm rằng:

Vạn vật trên thế giới đều bị chi phối bởi quy luật vô thường, luôn thay đổi cùng với thời gian. Bạn hãy xem: Chiếc đệm, tấm thảm hay chiếc giường bạn đang ngồi (nằm), trông có vẻ tĩnh tại, rắn chắc, nhưng thực tế lại là vật chất được tạo thành từ vô số những phân tử vô cùng nhỏ bé đang dịch chuyển, chuyển động. Sau đó, hãy hướng sự chú ý ra khỏi bức tường trong căn phòng. Bạn hãy nghĩ đến những người khác, thân và tâm họ cũng liên tục biến đổi, không tồn tại bất biến trong bất cứ khoảnh khắc nào. Điều này cũng đúng cho khắp thảy chúng sinh khác, như các loài động vật, chim chóc và côn trùng cho đến núi non, đại dương và sông ngòi, trái đất, mặt trời, mặt trăng… Tất cả được tạo nên từ nguyên tử và phần tử nhỏ bé và liên tục thay đổi trong từng khoảnh khắc, không có thứ gì tồn tại vĩnh viễn thường hằng mà không có sự thay đổi. Hãy tập trung vào trải nghiệm này! (NXB Tôn giáo 2014. Tr. 121).
Tôi xin phép không quán chiếu những gì liên quan đến thời cuộc hiện nay. Xin để bạn đọc cùng suy ngẫm.

..................................Xuân Cang
.................(Lao Động cuối tuần – Số 43 năm 2014)

NHÂN DUYÊN

Lao Động cuối tuần số báo trước, số 43, ngày 24.10.2014 trang 12 - 13 vô tình có một cuộc gặp gỡ kỳ thú: Bên cạnh bài tản văn Góc nhìn bát quái “Cái bát”, có truyện ngắn “Gậy ông đập lưng ông”.

“Cái bát” bàn về luật Vô thường Vô ngã, khởi từ Phật học, kể lại lời dạy của Bụt, lấy cái bát làm ví dụ, bảo rằng vạn vật có đấy, mà không đấy, mọi cái đều đang diễn biến, chẳng cái gì thường hằng bất biến (vô thường), mọi cái là ta đấy, mà chẳng cái gì là ta (vô ngã).

Không hẹn mà gặp nhau, truyện ngắn “Gậy ông đập lưng ông” của Alexandre Bondar, nhà văn Nga, trở thành một minh họa không gì đẹp hơn cho triết thuyết Vô thường.

Truyện kể rằng, hai người đàn ông, một người lớn tuổi bậc đàn anh tên là Sokolovxky, một người đàn em ít tuổi hơn tên là Sergei, hai người đã từng làm việc chung trong một công ty, xa nhau đã vài năm, bỗng gặp lại nhau trên một chuyến tàu đang đi xuyên qua một vùng ven biển xa vắng và buồn. Sokolovxky mời Sergei vào phòng riêng tán chuyện cho vui. Họ hỏi thăm nhau và biết rằng, mỗi người đang có một công chuyện lo toan và không tiện nói cho nhau biết. Sergei liếc nhìn những hành lý của Sokolovxky, có một chiếc vali màu đen ông ta đi toa-lét vài phút cũng mang theo, biết ông ta là tay làm ăn có hạng. Bèn xin “đàn anh” một lời khuyên, đơn giản một lời khuyên. Sokolovxky nói (tôi xin tóm tắt): Cuộc sống quan trọng ở chỗ có tiền. Tiền phân biệt một người đàn ông với một con đực. Tiền nâng ta lên đỉnh cao của thế giới, làm ta trở nên tự do. Tự do là quyền lực với những người khác. Trên thế giới chỉ có hai hạng người, một hạng người tháo vát, một hạng người ngù ngờ. Những người tháo vát nghĩ ra luật pháp, tôn giáo, đạo đức, nghĩ ra nghệ thuật. “Cậu hãy tự nhìn xem, tôn giáo thì cảnh báo, luật pháp thì đe dọa, đạo đức thì răn dạy, nghệ thuật thì rao giảng. Tất cả chỉ nói một điều: Đừng giết chóc, đừng trộm cắp, đừng lừa đảo! Nhưng cậu hãy nhìn xem: Trên thế giới này, qua tất cả các thời đại, những kẻ tháo vát đều sung túc và sẽ sung túc cho đến chừng nào thế giới này còn tồn tại”. Sokolovxky hài lòng về cái mớ quan điểm bất khả xuyên thủng của mình, khuyên Sergei: “Tự cậu phải quyết định, rằng cậu sẽ thuộc hạng người nào. Nếu cậu không muốn làm một kẻ ngù ngờ, hãy quên “danh dự” và “lương tâm” đi. Đó là ảo tưởng. Cậu sẽ có danh dự khi cậu có tiền, và cậu sẽ mua được tất cả”.

“Được thôi”. Sergei rút trong túi ra một khẩu súng lục có thiết bị giảm thanh. “Tôi biết rằng trong vali của anh, chiếc vali mà anh giữ cẩn thận đến mức đi vệ sinh cũng mang theo người có gì rồi… Mở vali ra ngay!”. Sokolovxky đứng dậy lấy vali xuống. “Tôi không biết mã khóa”. Sergei lắc đầu với nòng súng lơ lửng trong không trung cách trán ông ta 3cm: “Tôi đếm đến ba. Một…”. Sokolovxky đã hiểu chuyện gì đang xảy ra. Trong vali chất đầy những đồng đô la. Đầu Sokolovxky xoay mòng mòng với những suy nghĩ đầy mâu thuẫn. Cần phải nói điều gì đó, cần phải nói ngay, nhưng nói gì đây? Vì ông ta đã nói tất cả trước đó rồi!

Câu chuyện này có thể đem lại cho bạn một suy ngẫm nào đó, nhưng với riêng tôi, nó thấm đẫm một triết lý “vô thường” của phương Đông. Cái mà cái anh “đàn anh” kia tưởng là có tất cả, lại không là gì cả, cái quan điểm “bất khả xuyên thủng” của anh ta đang sắp bị xuyên thủng bởi khẩu súng giảm thanh, khẩu súng chưa lên tiếng, nhưng đã nói lên tất cả. Cuộc sống - xuyên qua đó là vạn vật - có đấy mà không đấy, không có gì là thường hằng bất biến. Tôi cho rằng, Ban biên tập báo hoàn toàn không cố ý sắp xếp trang báo có hai bài xa lạ ở bên nhau, mà hóa ra gắn bó với nhau. Nhà Phật gọi hiện tượng ấy là nhân duyên.

Hòa thượng Tịnh Không thậm chí còn nói rằng, nhân duyên giữa hai người đi chung một chuyến xe buýt, họ đã phải có một liên hệ với nhau trong nhiều kiếp trước. Kinh Dịch giải nhân duyên, khởi đầu từ giao cảm. Có “giao” và có “cảm”, tức là có “tương ứng” và tương cầu”. Nguyễn Duy Cần nói rằng, chữ “tương” ở Dịch rất quan trọng. Dịch kinh từ đầu đến cuối không đâu là không nói đến cái luật “tương ứng, tương cầu” này như một cái luật then chốt của luật Âm Dương mâu thuẫn. (“Dịch học tinh hoa”. NXB TP Hồ Chí Minh 1992, trang 111).

Tôi viết “Cái bát”, kết thúc bằng câu: Tôi xin phép không quán chiếu những gì liên quan đến thời cuộc hiện nay. Xin để bạn đọc cùng suy ngẫm.

Tôi đâu có ngờ rằng, ngay kề bên đó có truyện ngắn của Alexandre Bondar là một bản thuyết minh cực sáng về triết lý Vô thường vốn khó hiểu của phương Đông. Âu đó cũng là cái nhân duyên “tương ứng, tương cầu”.

..................................Xuân Cang
.................(Lao Động cuối tuần – Số 44 năm 2014)


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 08.12.2014    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

VÀI CẢM NGHĨ... VỀ KINH DỊCH


NHẬN XÉT THÚ VỊ VỀ QUẺ DỊCH

Cụ Phan Bội Châu phát hiện ra quy luật: trừ hai quẻ xếp đầu tiên là Trời và Đất (Thuần Càn, Thuần Khôn), 6 quẻ kép tiếp theo đều có quẻ đơn Khảm, lúc xếp bên trên (Khảm thượng), lúc xếp bên dưới (Khảm hạ). Rồi sau đó, thêm hai chặng đường, người học Dịch mới tới quẻ cực tốt là quẻ Thái (quẻ số 11). Nghĩa là trong cuộc sống, phải trải qua một chuỗi khó khăn gian khổ, con người mới tới đuợc bến bờ vinh quang. Tất nhiên, không vui mừng ngay được, vì xếp ngay sau quẻ Thái là quẻ Bĩ, với lời cổ động chân tình thường là: Xin đừng lo lắng buồn phiên; Qua cơn bĩ cực, tới hồi thái lai.

Cụ Phan Bội Châu còn phát hiện thêm một quy luật khác, rằng: trong 8 quẻ Dich mà quẻ đơn Cấn đóng vai trò là ngoại quái (xếp bên trên), tức các quẻ: Mông (4), Bĩ (12), Cổ (18), Bác (23), Ðại Súc (26), Di (27), Tổn (41) và Thuần Cấn (52), thì hào đầu tiên của các quẻ này đều là hào tốt. Điều đó chững tỏ Kinh Dịch có đức “trọng hậu”, nôm na là tôn trọng Núi.

Hai quy luật này của Cụ khuyến khích tôi hăng hái “ngâm cứu” các quẻ Dịch.

Như mọi người đều biết, 8 quẻ đơn Càn, Khôn, Chấn, Cấn, Tốn, Khảm, Ly, Đoài (tức là Thiên, Địa, Lôi, Sơn, Phong, Thủy, Hỏa, Trạch) đại diện cho các hiện tượng thiên nhiên tiêu biểu nhất của vũ trụ, là: trời, đất, sấm, núi, gió, nước, lửa, đầm hồ. Có thể phân chúng thành 2 nhóm. Nhóm 1 gồm (Thiên, Địa, Thủy, Hỏa), nhóm 2 gồm (Lôi, Sơn, Phong, Trạch). Vì sao vậy?

Tôi hiểu nôm na là, bên cạnh Trời và Đất, hai yếu tố Nước và Lửa là những thứ quan trọng bậc nhất làm nên sự sống của loài người và vạn vật. Vì thế, chúng lập thành nhóm dẫn đầu. Núi non, đầm hồ, gió mây, sấm chớp, đương nhiên phải xếp sau. Không hoàn toàn ngẫu nhiên khi người xưa xếp các quẻ Thuần Càn, Thuần Khôn, Thuần Khảm, Thuần Ly vào phần Thượng của bộ Kinh Dịch. Hai quẻ Càn - Khôn mở đầu, hai quẻ Khảm - Ly đóng lại phần Thượng. Xét trên bình diện toàn bộ Kinh Dịch thì, hai quẻ Càn và Khôn mở đầu, hai quẻ Khảm Ly và Ly Khảm kết thúc (tên đúng của hai quẻ này là Thủy Hỏa Ký Tế và Hỏa Thủy Vị Tế). Việc các quẻ Thuần Chấn, Thuần Cấn, Thuần Tốn, Thuần Đoài “bị” xếp vào phần Hạ, không khó đoán.

Cách chia nhóm (Thiên, Địa, Thủy, Hỏa) và (Lôi, Sơn, Phong, Trạch) cũng phù hợp với 2 đồ hình cơ bản (gọi là 2 Bát quái đồ) là Tiên thiên Bát quáiHậu thiên Bát quái.



Nhìn vào đồ hình thứ nhất, chúng ta thấy ngay, thứ tự các quẻ đơn (tính theo chiều kim đồng hồ) trong Tiên thiên bát quái là Càn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn, Chấn, Ly, Đoài. Nếu phối ghép các quẻ thành các cặp đối xứng nhau qua tâm của đồ hình, chúng ta có: Càn đi với Khôn; Tốn đi với Chấn; Khảm đi với Ly; Cấn đi với Đoài.

Cách giải thích sơ đẳng nhất về sự ghép cặp trong Tiên thiên bát quái như sau: Trời đi với Đất; Gió đi với Sấm; Nước đi với Lửa; Núi đi với Đầm hồ. Đây là cách giải thích thiên về “hiện tượng thiên nhiên”. Còn cách giải thích thiên về “nhân văn, xã hội” là: Cha đi với Mẹ; Trưởng nữ đi với Trưởng nam; Thứ nam đi với Thứ nữ; Thiếu nam đi với Thiếu nữ. Đủ đầy.

Trong đồ hình Hậu thiên bát quái, thứ tự các quẻ đơn (tính theo chiều kim đồng hồ) hơi khác một chút: Ly, Khôn, Đoài, Càn, Khảm, Cấn, Chấn.

Các quẻ đơn này cũng được phối ghép thành các cặp, song chúng đối xứng nhau qua trục nằm ngang, đi qua tâm của đồ hình: Ly đi với Khảm; Khôn đi với Càn; Đoài đi với Chấn; Cấn đi với Tốn. Bên trên trục này là 4 quẻ Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Bên dưới trục này là 4 quẻ Càn, Khảm, Cấn, Chấn. Tức là 4 quẻ đại diện cho phái nữ đều nằm bên trên (Mẹ, Trưởng nữ, Thứ nữ, Thiếu nữ); 4 quẻ đại diện cho phái nam đều nằm bên dưới (Cha, Trưởng nam, Thứ nam, Thiếu nam). Bây giờ, một người đứng trên trục đối xứng, mắt hướng từ quẻ Càn về quẻ Tốn, sẽ thấy, thật đúng là: ”trai tay trái, gái tay phải”.

Điều thú vị là, trên đồ hình Tiên thiên bát quái, cũng ứng nghiệm quy tắc ”trai tay trái, gái tay phải”, nhưng theo một cách nhìn nhận khác.

Thật thế, trục đối xứng qua tâm đồ hình Tiên thiên bát quái chia 8 quẻ thành 2 nhóm (Ly, Đoài, Càn, Tốn) và (Khảm, Cấn, Khôn, Chấn). Nhóm đàn ông con trai gồm các quẻ có 2 vạch liền (dương) hoặc 3 vạch liền (dương), ngụ ý "dương lấn át âm". Nhóm phụ nữ con gái gồm các quẻ có 2 vạch đứt (âm) hoặc 3 vạch đứt (âm). Một người đứng trên trục đối xứng, mắt hướng từ quẻ Ly về quẻ Tốn, lại thấy quanh cảnh "nam nữ thụ thụ bất thân" và ”trai tay trái, gái tay phải” tái diễn.

Trong cuộc sống, quy tắc ”trai tay trái, gái tay phải” được áp dụng vào hai việc. Thứ nhất là xem bói chỉ tay (xem các đường vân trên bàn tay để dự đoán tương lai, Con gái thì chìa bàn tay phải ra, con trai thì chìa bàn tay trái ra). Thứ hai là đơm cúc áo (cúc áo của con trai đơm ở vạt bên phải, cúc áo con gái đơm ở vạt bên trái).

Vậy là, dù xem xét trong đồ hình nào đi chăng nữa, thì 4 quẻ đơn Càn, Khôn, Khảm, Ly vẫn luôn tạo thành 2 cặp song hành; và 4 quẻ Tốn, Cấn, Chấn, Đoài còn lại cũng tạo thành 2 cặp song hành. Một đặc điểm nữa không khó nhận ra khi quan sát các đồ hình của các cặp quẻ đơn này là: cặp nào cũng có đủ 3 vạch dương (vạch liền) và 3 vạch âm (vạch đứt). Điều này thể hiện tính cân bằng âm dương của các cặp quẻ Dịch.

Quan điểm về sự chia nhóm các quẻ Dịch (quẻ kép) thể hiện như thế nào, chúng ta hãy cùng nhau xem xét.

Nối tiếp ý tưởng của cụ Phan Bội Châu, tôi nhận thấy, xếp ngay sau 6 quẻ Truân (3), Mông (4), Nhu (5), Tụng (6), Sư (7), Tỷ (8) - có liên quan tới quẻ đơn Khảm (lúc xếp dưới, lúc xếp trên) - là 6 quẻ Tiểu Súc (9), Lý (10), Thái (11), Bĩ (12), Đồng Nhân (13), Đại Hữu (14), mà trong tên đầy đủ của chúng đều có chữ “Thiên”, tức có sự tham gia của quẻ đơn Càn. Ý nghĩa như thế nào, tôi chưa dám manh động phán xét.

Mở rộng nhận xét này ra toàn bộ 15 quẻ kép liên quan tới quẻ đơn Khảm (Thủy) và 15 quẻ liên quan tới quẻ đơn Càn (Thiên), thật bất ngờ, chúng ta nhận được kết quả sau đây.



Nhóm 15 quẻ Dịch có liên quan tới quẻ đơn Khảm (Thủy) được xếp thành 7 cặp quẻ có số thứ tự liên tiếp nhau: (3,4), (5,6), (7,8), (39, 40), (47, 48), (59, 60), (63, 64). Quẻ Thuần Khảm (có cả Khảm thượng và Khảm hạ) đứng vị trí 29, tạm coi như cặp (29, 29).

Trong 7 cặp quẻ kép kể trên, có cặp có thứ tự xuôi và có cặp có thứ tự ngược. Các cặp có thứ tự xuôi là (3,4), (5,6), (39, 40), (63, 64). Các cặp có thứ tự ngược là (8,7), (48, 47), (60, 59). “Ngược” ở đây hiểu theo nghĩa là ở quẻ xếp trước (tức có số thứ tự bé hơn) thì quẻ Khảm ở bên dưới (Khảm hạ), còn ở quẻ xếp sau (có số thứ tự cao hơn) thì quẻ Khảm ở bên trên (Khảm thượng). Nếu ghép thêm quẻ Thuần Khảm vào nhóm các cặp “ngược”, thì ta có số luợng cặp xuôi và số lượng cặp ngược đều là 4.

Nhóm 15 quẻ Dịch có liên quan tới quẻ đơn Càn (Thiên) cũng xếp thành 7 cặp quẻ có số thứ tự liên tiếp nhau: (5,6), (9,10), (11, 12), (13, 14), (25, 26), (33, 34), (43,44). Quẻ Thuần Càn (có cả Càn thượng và Càn hạ) đứng vị trí số 1.

Lại để ý tới thứ tự xuôi ngược.

Các cặp có thứ tự xuôi là (13,14), (25,26), (33, 34). Các cặp có thứ tự ngược là (5,6), (9, 10), (11, 12), (43, 44). Nếu ghép thêm cặp quẻ Thuần Càn (1,1) vào nhóm các cặp xuôi thì ta có số cặp xuôi và số cặp ngược bằng nhau, đều là 4.

Tiếp tục quan sát, ta thấy hiện tượng tương tự.

Nhóm 15 quẻ có liên quan tới quẻ đơn Khôn (Địa) cũng xếp thành 7 cặp quẻ có số thứ tự liên tiếp nhau: (7,8), (11, 12), (15, 16), (19, 20), (23, 24), (35,36), (45, 46). Quẻ Thuần Khôn đứng vị trí 2.

Các cặp có thứ tự xuôi là (7,8), (15,16), (19, 20). Các cặp có thứ tự ngược là (11,12), (23, 24), (35, 36), (45, 46). Bây giờ, ta ghép thêm cặp quẻ Thuần Khôn (2,2) vào nhóm các cặp xuôi, thì ta có số cặp xuôi và số cặp ngược bằng nhau, đều là 4.

Nhóm 15 quẻ có liên quan tới quẻ đơn Ly (Hỏa) cũng xếp thành 7 cặp quẻ có số thứ tự liên tiếp nhau: (13,14), (21, 22), (35, 36), (37, 38), (49, 50), (56,57), (63, 64). Quẻ Thuần Ly đứng ở vị trí thứ 30.

Các cặp có thứ tự xuôi là (21,22), (35,36), (56, 57). Các cặp có thứ tự ngược là (13,14), (37, 38), (48, 50), (63, 64). Bây giờ, ghép thêm cặp quẻ Thuần Ly (30, 30) vào nhóm các cặp xuôi, thì ta có số cặp xuôi và số cặp ngược bằng nhau, đều là 4.




Bỏ công bỏ sức để xem xét quy luật tương tự cho 4 quẻ đơn còn lại là Lôi (Chấn), Sơn (Cấn), Phong (Tốn), Trạch (Đoài), thì thật đáng tiếc, không thu được kết quả gì. Điều an ủi tôi là chỉ những quẻ đơn trong nhóm dẫn đầu (Thiên, Địa, Thủy, Hỏa) mới được hưởng sự ưu ái thôi, vậy không có gì là bất công ở đây cả.

Nhưng nếu thất vọng tràn trề mà dừng lại ở đây, thì thật uổng phí. Tôi quyết định điền các số thứ tự của các quẻ Dịch vào bảng sau đây.



Quy luật nho nhỏ tìm thấy trong bảng này khá thú vị.

Quẻ Thuần Chấn là quẻ cuối cùng, khép lại, có số thứ tự là 51. Tất cả những quẻ Dịch có quẻ đơn Chấn xếp ở vị trí bên dưới (Chấn hạ) đều có số thứ tự nhỏ hơn 51. Trong 7 quẻ Dịch có quẻ đơn Chấn xếp ở vị trí bên trên (Chấn thượng) thì có 4 quẻ có số thứ tự nhỏ hơn 51, và 3 quẻ có số thứ tự lớn hơn 51.

Quẻ Thuần Cấn là quẻ cuối cùng, khép lại, có số thứ tự là 52. Tất cả những quẻ Dịch có quẻ đơn Cấn xếp ở vị trí bên trên (Cấn thượng) đều có số thứ tự nhỏ hơn 52. Trong 7 quẻ Dịch có quẻ đơn Cấn xếp ở vị trí bên dưới (Cấn hạ) thì có 4 quẻ có số thứ tự nhỏ hơn 52, và 3 quẻ có số thứ tự lớn hơn 52.

Quẻ Thuần Đoài là quẻ cuối cùng, khép lại, có số thứ tự là 56. Tất cả những quẻ Dịch có quẻ đơn Đoài xếp ở vị trí bên trên (Đoài thượng) đều có số thứ tự nhỏ hơn 56. Trong 7 quẻ Dịch có quẻ đơn Đoài xếp ở vị trí bên dưới (Đoài hạ) thì có 5 quẻ có số thứ tự nhỏ hơn 56, và 2 quẻ có số thứ tự lớn hơn 56.

Quẻ Thuần Tốn là quẻ cuối cùng, khép lại, có số thứ tự là 57. Tất cả những quẻ Dịch có quẻ đơn Tốn xếp ở vị trí bên dưới (Tốn hạ) đều có số thứ tự nhỏ hơn 57. Trong 7 quẻ Dịch có quẻ đơn Tốn xếp ở vị trí bên trên (Tốn thượng) thì có 5 quẻ có số thứ tự nhỏ hơn 57, và 2 quẻ có số thứ tự lớn hơn 57.

Tưởng chừng, đến đây, chả còn gì để nhận xét.

Vẫn có đấy.

Trong 14 quẻ Dịch có liên quan tới quẻ đơn Khảm, có đúng 3 quẻ mà quẻ Khảm xếp ở vị trí bên trên (Khảm thượng) có số thứ tự nhỏ hơn 29, có đúng 3 quẻ mà quẻ Khảm xếp ở vị trí bên dưới (Khảm hạ) có số thứ tự nhỏ hơn 29. Tất nhiên, như vậy thì, có đúng 4 quẻ mà quẻ Khảm xếp ở vị trí bên trên (Khảm thượng) có số thứ tự lớn hơn 29, và có đúng 4 quẻ mà quẻ Khảm xếp ở vị trí bên dưới (Khảm hạ) có số thứ tự lớn hơn 29.

Trong 14 quẻ Dịch có liên quan tới quẻ đơn Ly, có đúng 2 quẻ mà quẻ Ly xếp ở vị trí bên trên (Ly thượng) có số thứ tự nhỏ hơn 30, có đúng 2 quẻ mà quẻ Ly xếp ở vị trí bên dưới (Ly hạ) có số thứ tự nhỏ hơn 30. Ngoài ra, có đúng 5 quẻ mà quẻ Ly xếp ở vị trí bên trên (Ly thượng) có số thứ tự lớn hơn 30, và có đúng 5 quẻ mà quẻ Ly xếp ở vị trí bên dưới (Ly hạ) có số thứ tự lớn hơn 30.




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 15.12.2014, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 11.12.2014    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

VÀI CẢM NGHĨ... VỀ KINH DỊCH

SỰ TIẾP BIẾN CỦA CÁC QUẺ DỊCH

Như chúng ta đều biết, các quẻ Dịch (quẻ kép) có được bằng cách chồng 2 quẻ đơn lên nhau mà thành.

Nhưng việc đặt tên cho 64 quẻ Dịch và sắp đặt thư tự cho chúng không thể là việc tùy tiện.

Tên của các quẻ Dịch thường là tiếng Hán, rất cô đọng, súc tích. Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho người học Dịch khó nhớ, kể cả những người võ vẽ chút chữ Hán.

Khi đã thuộc tên các quẻ Dịch rồi, lại nảy sinh thắc mắc: tại sao thứ tự của chúng lại như thế ?

Nhiều sách Kinh Dịch (kể cả quyển "Khám phá một tia sáng văn hóa phương Đông" của nhà văn Xuân Cang) chọn cách tuần tự như tiến, trình bày từng quẻ Dịch một. Sau khi đánh vật với các lời giảng giải về quẻ Dịch, người đọc bị "hết hơi", không còn ý định tìm hiểu nguyên do sắp đặt thứ tự của 64 quẻ Dịch nữa.

Quyển "Khám phá một tia sáng văn hóa phương Đông" của nhà văn Xuân Cang có ưu điểm là nói được người nào được quẻ nào, thì thích hợp (và không thích hợp) với ngành nghề nào.

Tôi đã thử đọc Kinh Dịch theo kiểu mới, kiểu "nhảy cóc", thấy cũng hay hay.

Đặc biệt, phần bàn luận của Nguyễn Hiến Lê làm tôi thấy công việc đọc Dịch như đọc một bài văn dễ chịu.

Nguyễn Hiến Lê thường căn cứ theo Tự quái truyện để nói về sự tiếp biến (tiếp nối) của các quẻ. Song đôi khi, ông cũng tỏ ra hồ nghi, và đưa ra ý kiến của riêng mình.

Đối với 2 quẻ Càn (tức Thuần Càn), Khôn (tức Thuần Khôn), tôi sẽ không có gì để nói. Do vậy, xin bắt đầu từ con số 3.


3) Theo Tự quái truyện thì sở dĩ sau hai quẻ Càn, Khôn tới quẻ Truân là vì: Có trời đất rồi, vạn vật tất sinh sôi nảy nở đầy khắp, mà lúc sinh sôi, đó là lúc khó khăn. Truân là gian nan, gian truân.

Tên đầy đủ của quẻ này là Thủy Lôi Truân.

Tượng quẻ Ngoại là Mây (Thủy), tượng quẻ Nội là Sấm (Lôi). Trên bầu trời cao mới có mây và sấm, là vẫn chưa có cơn mưa, cơ trời còn đang vận động dữ dội. Quẻ này phản ánh thời kỳ vạn vật mới sinh ra, vận trời mới tạo dựng, còn hỗn mang, mờ tối, nên dùng một chữ cô đọng súc tích là Truân để chỉ nghĩa quẻ. Tượng ấy vận dụng vào cuộc sống là: đang buổi truân nạn, cần có người giỏi việc đứng ra tổ chức, sắp xếp việc quốc gia, việc xã hội, thiên hạ đang mong chờ.

Cụ Phan Bội Châu giảng: quẻ Ngoại là Khảm, Khảm thì hiểm; quẻ Nội là Chấn, Chấn thì động. Trong lúc hiểm mà hành động được, phải là người dám mạo hiểm, có chí, có tài. Nhưng ở thời Truân, có tài đức chưa đủ, còn phải nhờ bạn hiền tài giúp đỡ.

Người quẻ Truân là người ham hành động, dám mạo hiểm, có chí có tài. Nhưng họ biết đang thời Truân, tài đức chưa đủ, còn phải nhờ bạn hiền tài giúp đỡ. Tên quẻ thì xấu, nhưng tượng quẻ rất tốt. Người quẻ Truân là người biết chờ đợi thời cơ, ra sức rèn luyện mình, có tài gỡ rối, sắp xếp tổ chức cuộc sống, liên kết với bạn bè tốt, để gây dựng sự nghiệp.

*******
Đọc xong ba quẻ đầu, chúng ta thấy:

Thể của hào chỉ có 2: âm và dương.

Vị của hào có 6: từ hào sơ đến hào thượng.

Nhưng ý nghĩa mỗi hào rất thay đổi, tùy ý nghĩa của trọn quẻ.

Hào 1 dương quẻ Càn không giống hào 1 dương quẻ Truân; hào 5 dương quẻ Truân cũng không giống hào 5 dương quẻ Càn.

Hào 2 âm quẻ Khôn không giống hào đó quẻ Truân; hào 6 âm quẻ Truân cũng không giống hào đó quẻ Khôn.

Cho nên, ý nghĩa của quẻ quyết định ý nghĩa của hào. Nói cách khác: quẻ là cái thời chung của các hào, mà hào là mỗi việc, mỗi hoàn cảnh trong thời chung đó.


4) Quẻ số 3 là Truân, lúc vạn vật mới sinh. Lúc đó vạn vật còn non yếu, mù mờ, cho nên quẻ 4 này là Mông.

Tên đầy đủ của quẻ này là Sơn Thủy Mông. Sơn hiểu là Núi, còn Thủy bây giờ không hiểu là Mây nữa, mà hiểu là Suối. Tượng quẻ là dưới chân núi, có một dòng suối trong mát mới chảy ra, chưa có hướng nhất định, giống như đứa trẻ thơ, còn non yếu.

Người quẻ Mông chan hòa trong thế giới trẻ thơ, dễ đi sâu vào khoa nhi đồng, khoa giáo dục, tâm lý học trẻ em, có mệnh làm thầy giáo.

Người quẻ Mông như con suối mới khởi nguồn dưới núi, còn ngơ ngác trước nhiều ngả đường, nên không tránh khỏi sa vào vũng nước quanh co bùn nhơ, dễ tham vàng bỏ nghĩa, bỏ gốc theo ngọn, bỏ chính theo tà, bị khốn đốn trong vòng hôn ám, hối tiếc.

Người quẻ Mông như đi trong sương mù (“Thủy” lúc này được liên tưởng tới “sương mù”), nên có rất nhiều điều muốn biết, muốn hỏi, muốn bói. Người xưa khuyên, không nên hỏi nhiều, sinh nhàm. Sương mù sẽ tan và thế giới sẽ hiện ra.

Ngưởi quân tử xem quẻ này mà quyết tâm nuôi dưỡng tính tình, đức độ để định hướng cho đời mình.


5) Quẻ số 4 là Mông, nhỏ thơ; nhỏ thơ thì cần được nuôi bằng thức ăn, cho nên quẻ này (số 5) là Nhu.

Chữ Nhu này [需 ] là chữ nhu trong “nhu yếu phẩm”, những thứ cần thiết, tức “thức ăn”. Tự quái truyện giảng như vậy. Nhưng Thoán từ thì lại giải thích khác: “nhu” đây còn có nghĩa nữa là “chờ đợi”, và theo cái Tượng của quẻ thì phải hiểu là “chờ đợi”.

Tượng quẻ Thủy Thiên Nhu là “Mây lên trên Trời”. Là hiện tượng sắp có mưa, nên hãy đợi đấy. Chữ Nhu ở đây nghĩa là thuận theo, là mềm dẻo, là chờ đợi.

Người được quẻ này biết rằng, vận mệnh mình là chờ đợi thời cơ, nên biết tu dưỡng, nuôi thân, nuôi tinh thần, nuôi kiến thức để chờ thời.

Người quẻ Nhu rất nhậy cảm với thời cơ, thấy thời cơ đến là chớp lấy ngay, cũng là người kiên tâm chờ thời, thời chưa đến chưa hành động, thường biết nhìn xa, thấy bùn lầy lội, biết là sắp sang sông, nguy hiểm đang chờ phía trước. Nhưng cũng là người dễ rơi vào “chủ nghĩa cơ hội” thuận với thời kinh doanh thị trường, còn nếu tiến thân theo đường quan chức thì dễ phản bội đồng nghiệp, phản bội nhân dân, làm bất cứ việc gì, không kể vinh nhục để màng danh lợi.


6) Tự quái truyện đã cho “Nhu là ăn uống”, cho nên giảng rằng, vì ăn uống mà người ta sinh ra tranh nhau, rồi kiện nhau; cho nên, sau quẻ Nhu (số 5) là quẻ Tụng (số 6) (có nghĩa là kiện cáo).

Khi giải thích về tên quẻ Thiên Thủy Tụng (quẻ số 6), là quẻ “ngược lại” với quẻ Thủy Thiên Nhu (Mây lên trên Trời), người ta không dùng hình tượng Mây nữa, mà dùng hình tượng Nước. Ở đây, Trời với Nước đi ngược hướng nhau, tất sinh ra tranh chấp.

Người quẻ Tụng nhậy cảm với những lý sự, tranh chấp, oan trái không chịu được, nên hay bàn cãi, kiện tụng.

Người được quẻ này xem tượng quẻ mà biết rằng, cuộc đời mình thường sinh tranh chấp, biết rằng mọi sự gây ra họa tranh chấp đều do lúc khởi sự thiếu chu đáo, vì vậy, hễ làm việc gì đều phải lo toan, tính toán, có kế hoạch, mưu trí ngay từ lúc khởi đầu.

Người quẻ Tụng mà đi vào các ngành luật học, tư pháp, các ngành kiểm tra, kiểm sát, thanh tra, tòa án, luật sư rất thuận lợi. Người quẻ Tụng có tu dưỡng, mà đi vào đường lập ngôn, lý luận, báo chí, biên soạn lịch sử, phê bình văn học cũng rất có lợi.


7) Kiện tụng là tranh nhau, tranh nhau thì lập phe, có đám đông nổi lên; cho nên, sau quẻ Tụng (số 6) tới quẻ Sư (số 7) – Sư là đám đông, cũng có nghĩa là quân đội.

Nguyễn Hiến Lê giảng:

Khôn tượng là Đất, Khảm tượng là Nước. Theo Chu Hy, ở dưới Khảm (Thủy) là hiểm, ở trên Khôn (Địa) là thuận, như vậy là giấu cái hiểm trong cái thuận, giống như gửi việc binh trong việc nông (thời bình làm ruộng, thời loạn làm lính) đó là việc binh ngày xưa.

Lại nữa, hào 2 dương nằm giữa Nội quái là tượng viên tướng, hào 5 âm nằm giữa Ngoại quái ở vị trí vua, cả 4 hào còn lại là âm nhu, mềm, nên sứ mạng chỉ huy thuộc về hào 2.

Do vậy, quẻ có ý nghĩa: xuất quân là việc nguy hiểm, độc hại (Khảm hiểm), nhưng nếu xuất quân vì chính nghĩa, để trừ bạo, an dân, thì dân sẽ theo (Khôn thuận), sẽ giúp đỡ mình, mình sẽ điều khiển được ba quân, do đó sẽ lập nên sự nghiệp.

Cụ Phan Bội Châu bình chú: Có mấy vạch âm dương mà đọc lên chừng ấy ý tứ, thật là tuyệt diệu.

Trong Đất có Nước là tượng quần chúng tụ họp thành đám đông. Người quân tử xem quẻ này mà chăm lo việc nuôi dân, nhớ rằng, nước vững nhờ có đất, binh mạnh nhờ có dân.

Quẻ này phản ánh cuộc đời người có số mệnh điều khiển đám đông, hoặc đi lính, trở thành người chỉ huy quân đội.

Cuộc đời của người được quẻ này thường là: trước gian nan, sau thành công.

Người quẻ Sư có thiên chức chỉ huy, điều khiển đám đông, thích ứng nhanh với đấu tranh, chiến trận, thu nhận nhanh binh pháp, binh thư, nghệ thuật hành quân, dụng tướng, dụng hiền. Dễ giỏi về tâm lý học đám đông, công việc vận động quần chúng. Cũng là người dám chịu thất bại; khi cần thiết, biết lui quân để bảo toàn lực lượng. Giỏi hành quân, nhưng chỉ động binh khi “cầm thú vào vườn”.

Người quẻ Sư giỏi dùng người, giỏi chiến trận, nhưng khi chiến thắng rồi thì danh lợi không màng, thích sống làm lãng tử, vô tư, phiêu du.

Người quẻ Sư biết phân biệt việc dùng người thời chiến, khác với trị nước thời bình.


8) Sư là đám đông, trong đám đông người ta gần gũi nhau, liên lạc với nhau, cho nên sau quẻ Sư (số 7) là quẻ Tỷ (số 8). Tỷ là gần gũi, liên lạc.

Ở quẻ này, người xưa vẫn dùng hình tượng Đất và Nước để giải thích vì sao nghĩa của quẻ lại là Tỷ. Tỷ trong tiếng Hán là sánh vai, gần gũi. (“tỷ số” nghĩa là “hai con số đứng cạnh nhau” từ đó suy ra, biết được mối tương quan của hai bên).

Tượng quẻ Thủy Địa Tỷ là trên Đất có Nước, nước trên cao thấm xuống đất, đất bên dưới hút lấy nước, cho nên có nghĩa là gần gũi thân thiết, giúp đỡ nhau.

Quẻ có một hào dương cương, trung chính (là hào 5) thống lĩnh 5 hào âm, có cái tượng người trên cao được toàn thể dân chúng tin cậy, quy phục.

Người được quẻ này sống trong tình thân thiết của những người xung quanh, hòa hợp, thu phục được mọi người, từ đó mà đạt được nhiều thành công quan trọng.

Người quẻ Tỷ nhậy cảm với sự đối chiếu, so sánh, trong quan hệ người với người là sự sánh vai, lựa chọn.

Người quẻ Tỷ muốn thành đạt phải luôn tự xét mình nghiêm túc, giữ đức chính đáng, cao thượng, hiền hòa, lấy đó làm gốc, giữ bền.

Người quẻ Tỷ được những người thân sống bám víu, nương dựa, bản thân cũng nương dựa vào họ, nên lại càng phải đề cao những đức tính trên kia.

Người quẻ Tỷ thường biết chọn bạn, họ tránh xa bọn “người chẳng ra người”. Càng phải đề phòng tính ích kỷ và sự phản phúc của một số người.

Người quẻ Tỷ coi trọng những người đứng đầu đám đông, đòi hỏi họ có đức tính xứng đáng.

Người quẻ Tỷ cũng rất coi trọng những đầu mối, dẫn dắt, thiếu họ không có sự gần gũi.

Người xưa khuyên các vị nguyên thủ xem quẻ này mà xây dựng các địa phương, các cơ quan phụ thuộc mình, làm thân với cấp dưới.


9) Đã nhóm họp, gần gũi với nhau (Tỷ) thì phải có chỗ nuôi nhau, cho nên sau quẻ Tỷ (số 8) tới quẻ Tiểu Súc (số 9). Chữ “súc” này có nghĩa là nuôi (như mục súc, gia súc); lại có nghĩa là chứa, dùng như chữ súc tích (chứa chất), và nghĩa: ngăn lại, kiềm chế.

Theo tượng của quẻ, quẻ Càn (cương kiện) ở dưới, quẻ Tốn (nhu thuận) ở trên, có nghĩa là âm (Tốn) ngăn cản được dương (Càn), nhỏ ngăn cản được lớn.

Gió (Tốn) bay trên trời (Càn), còn xa mặt đất, sức ngăn cản còn nhỏ, nên gọi là Tiểu Súc.

Theo Trình Di, sức Gió thì nhỏ, Gió phải ở trên mặt đất thì mới có tác dụng, gió ở trên cao thì khó tích tụ mây để thành mưa, nên bức bối, bế tắc, nhưng là bế tắc nhỏ thôi. Gió thuộc âm, Trời thuộc dương, âm sức nhỏ, tính âm nhu thuận nhưng lại ở vào vị trí ngăn đón, chế ngự cái lớn, cương kiện (một hào âm chế ngự 5 hào dương), tất phải biết tích chứa rất nhiều.

Cụ Phan Bội Châu phụ chú Lời Tượng: Ở vào thời Tiểu Súc, người quân tử chỉ nên trau dồi văn đức, là vì sao? Bởi vì, xưa nay việc tu thân cứu thế cốt ở hành động, mà không cần hư văn. Chẳng may hoàn cảnh gay go, thời thế bắt buộc, chưa thể giương đôi cánh lớn, mới phải quay đầu làm những việc soạn sách, lập ngôn. Như Khổng Tử, Mạnh Tử (không gặp thời) viết sách làm kinh, muôn đời sau bất hủ. Người đời sau coi đó là việc lớn, nhưng Thánh nhân chỉ xem bằng "Tiểu Súc" mà thôi.

Người quẻ Tiểu Súc ý thức được về những cái ngăn cản nhỏ, nên vui lòng chịu đưng, chờ cho qua, biết hàng ngày tích lũy, chứa chất, gom góp từng cái nhỏ, để chờ thời cơ đến. Đây là hạng người sống thiết thực, thực dụng, không bị lôi cuốn vào những mơ ước bay bổng, cao xa.

Người quẻ Tiểu Súc không biến những ngăn cản nhỏ thành ngăn cản lớn. Vui lòng với những kết quả nhỏ, biết rằng tích góp cái nhỏ sẽ thành cái lớn.

Người quẻ Tiểu Súc cũng ý thức được mình tuy nhỏ, nhưng gặp thời cũng có thể khống chế, ngăn cản được những cái lớn, làm được cái lớn.


10) Khi nói về quẻ Tiểu Súc đã nói, “súc” còn có nghĩa là chứa, nhóm (như súc tích). Tự quái truyện dùng nghĩa đó mà giảng: khi đã nhóm họp nhau thì phải có trật tự, có trên có dưới, không thể hỗn tạp được, nghĩa là phải có lễ (luân lý). Sống trong xã hội phải theo lễ, dẫm lên cái lễ, không chệch ra ngoài (chúng ta thường nói “dẫm lên dấu chân của một người” để diễn cái ý đi theo đúng đường lối người ấy); mà dẫm lên, tiếng Hán gọi là "lý", do đó, tiếp sau quẻ Tiểu Súc (số 9) tới quẻ Lý (số 10). Cách giải thích đó có phần nào gượng ép.

Trên là dương cương, là Càn, là Trời; dưới là âm nhu, là Đoài, là đầm hồ. Vậy là trên dưới phân minh, lại hợp lẽ âm dương, tức là Lễ, là Lý.

Người quẻ Lý mà học về luật pháp, nghiên cứu luật học, làm các nghề luật sư, ngành quản lý pháp luật, quản lý hành chính, nghiệp vụ khí tượng là rất thuận.

Người quẻ Lý có học thức đi vào đạo đức học, nghiên cứu về lễ giáo, sử học, khí tượng học, thiên văn học dễ thành tài.

Người quẻ Lý là người quan tâm việc quản lý gây dựng gia đình, từ việc nhà ra việc nước, lấy việc nhà, việc nước làm tiêu chí trong ứng xử trên dưới phân minh.


Quẻ này cũng chỉ có 1 hào âm, 5 hào âm, song không có nghĩa “thống lĩnh quần dương” như quẻ Tiểu Súc. Như vậy là biến dịch.

11) Lý là lễ, có trật tự trên dưới phân minh, như vậy thì yên ổn. Lý cũng có nghĩa là dẫm, là giày dép, đi giày thì được yên ổn. Vì vậy, sau quẻ Lý (số 10), tiếp tới quẻ Thái (số 11). Thái nghĩa là yêu thích, thông thuận.

Trong quẻ Địa Thiên Thái, không được hiểu Càn là Trời, Khôn là Đất. Nếu hiểu thế, hóa ra Trời ở dưới, Đất ở trên, không còn trên dưới phân minh nữa.

Phải hiểu, Càn ở đây là khí dương, Khôn là khí âm. Khí dương ở dưới có tính thăng mà giao tiếp với khí âm; khí âm ở trên có tính giáng mà giao tiếp với khí dương. Hai khí giao hòa, mọi vật được yên ổn, thỏa thích.

Lời Thoán từ bảo rằng, Thái là lúc cái nhỏ (âm) thì tiêu đi, cái lớn (dương) thì trở lại và lớn lên, trời đất giao cảm mà muôn vật thông, trên dưới giao cảm mà chí hướng như nhau, đạo quân tử lớn lên, đạo tiểu nhân tiêu dần.

Lời Tượng: Trời Đất giao cảm với nhau là quẻ Thái, bậc nguyên thủ coi quẻ này mà sửa sang thành cái đạo của trời đất, phụ giúp bù đắp theo cái phương thức của Trời Đất, để đỡ đần dân mọi bề.

Người quẻ Thái gặp những may mắn như trời cho, đôi khi không biết tại sao may mắn thế. Có lòng bao dung rất rộng lớn, bao dung cả những cái tệ hại.

Bạn bè đông, nhưng luôn phải nhớ khi có thời cơ, bọn tiểu nhân cũng vào bè với nhau cùng tiến. Hôn nhân thành. Nhậy cảm với cái thịnh, phù thịnh hơn phù suy.

Người quẻ Thái khi vượng thịnh, không được chủ quan. Cần phải nhớ "vận bĩ sẽ đến".


12) Trong vũ trụ, không có gì là thông hoài được, hết thông thì tới bế tắc, cùng, cho nên sau quẻ Thái (số 11) tới quẻ Bĩ (số 12).

Bĩ trái với Thái. Thái thì khí dương ở dưới thăng lên, giao hòa với âm ở trên giáng xuống. Bĩ thì dương ở trên đi lên, âm ở dưới đi xuống, không giao nhau. Âm dương không giao nhau thì bế tắc, ở đạo người như vậy mà ở vạn vật cũng như vậy.

Lời bàn của cụ Phan Bội Châu:

“Chúng ta đọc Dịch từ lúc có Càn, Khôn; trải qua trung gian, nào Truân mà kinh luân: nào Mông mà giáo dục; nào Nhu mà sinh tụ; nào Tụng, nào Sư mà sắp đặt việc binh, việc hình; nào Súc, nào Lý mà chỉnh đốn việc kinh tế, việc lễ chế; hao tổn biết bao tâm huyết, chứa trữ biết bao thì giờ. Kể về phần Khảm (hiểm), trải qua đến 6 lần: 1. Truân, Khảm thượng; 2. Mông. Khảm hạ; 3. Nhu, Khảm thượng; 4. Tụng, Khảm hạ; 5. Sư, Khảm hạ; 6. Tỷ, Khảm thượng.
Thoát khỏi 6 lần nguy hiểm rồi. Vậy sau khi, trong có chốn nuôi trữ là Tiểu súc, ngoài có chốn bằng tạ (nhờ cậy, ỷ vào) là Lý; bấy giờ, mới làm nên Thái.
Thái vừa đến cuối cùng, tức khắc ra Bĩ.

Ghê gớm thật !

Làm nên tốn vô số công phu, mà làm hư chỉ trong chốc lát. Vun đắp biết bao nền tảng, mà đánh đổ chỉ trong nháy mắt.

Không chắc đó đã là thâm ý của người sắp đặt các quẻ, nhưng việc đời quả có như vậy: kiến thiết lâu, suy rất chóng”.

Người quẻ Bĩ thấy mình không bằng người, thường có tâm trạng xấu hổ và có thông cảm sâu xa với những thân phận Bĩ. Phù suy hơn phù thịnh. Đường tình duyên có trắc trở, rất có thể phải qua hai lần đò.

Người quẻ Bĩ thường có chí phấn đấu thoát ra khỏi bế tắc, nhưng có khi càng phấn đấu càng lâm vào cùng cực.

Người xưa khuyên người quẻ Bĩ cần xem quẻ mà biết cách sống cẩn trọng, biết dè dặt đường đi nước bước, tỉnh táo tránh nạn, không cầu lợi lộc, cũng chẳng nên lấy lộc làm vinh.

Người quẻ Bĩ không bao giờ nên tuyệt vọng, bởi luật Trời Đất cũng là luật Người: bĩ cực thì thái lai.

Người quẻ Bĩ vào những chặng đường 3 hào dương dần dần thoát bĩ, nếu biết tận dụng cái ưu thế trời đất thu xếp cho mà phấn đấu vươn lên, thì mây mù sẽ tan, cuộc đời vẫn sáng. Người quẻ Thái còn có lúc "đổ sụp thành đống đất", thì người quẻ Bĩ cũng có lúc "đánh đổ cái Bĩ" (hào 6 dương).


13) Không thể bế tắc, cách tuyệt nhau mãi được, tất phải có lúc giao thông hòa hợp với nhau; cho nên, sau quẻ Bĩ (số 12) tới quẻ Đồng Nhân (số 13). Đồng nhân là cùng chung với người, đồng tâm với người.

Ly ở dưới là Lửa, sáng, văn minh; Càn ở trên là Trời. Quẻ này có tượng lửa bốc lên cao tới trời, cùng soi sáng khắp thế giới. Cho nên tốt. Dù có hiểm trở gì cũng vượt được.

Phải là người quân tử trung chính được quẻ Đồng Nhân mới có lợi. Người thấp hèn được quẻ này dễ thành kẻ tập họp đồng bọn làm việc bất chính.

Người quẻ Đồng Nhân nhậy cảm và tinh tường trong việc phân loại, rất thích hợp với việc thống kê, chọn giống, hoạt động ngành nghề, vận động đoàn kết, vận động xã hội, tìm người tâm hợp ý đồng, tổ chức thành đoàn thể chuyên môn. Tôn trọng những đặc tính của từng người, từng sự vật, khả năng và nhu cầu của mỗi người. Thuận về bè bạn, tình duyên, hôn nhân.

Mặt trái của người quẻ Đồng Nhân là dễ thiên kiến, thiên vị, phe đảng, có thời kỳ hào 3 hay sinh chuyện bất đồng, đánh lén, cậy mạnh, cậy thế, chí hướng bất định, một thời gian dài không hưng vượng lên được.

Người quẻ Đồng Nhân không sợ dùng sức mạnh đấu tranh để tập hợp, đoàn kết con người. Khi cần vận động thu phục nhân tâm thì sẵn sàng rời bỏ nơi đô thị, về nơi rừng núi, đồng quê, chùa chiền, không lấy đó làm điều ân hận.


14) Đã cộng đồng với mọi người, thì mọi người về với mình, mà sở hữu của mình cũng lớn; cho nên, sau quẻ Đồng Nhân (số 13), tới quẻ Đại Hữu (có lớn).

Quẻ này khuyên chúng ta sống trong cảnh giàu có, nên khiêm, kiệm: giao thiệp với người, nên chí thành.

Cụ Phan Bội Châu nhận xét:

“Trong 64 quẻ , không quẻ nào tốt đều như quẻ này: hào 1, 2, 3 đều không có lỗi, hào 4 được hanh thông, hào 5 tốt, hào 6 đã tốt hơn nữa, “không có gì mà chẳng lợi”. Ngay đến quẻ Càn, quẻ Thái, hào cuối cùng cũng xấu, kém quẻ này. Đại Hữu chính là thời thịnh trị sau thời đại đồng”.

Người quẻ Đại Hữu thuận với ngành nghề thiên văn, khí tượng, nghệ thuật điện ảnh, tài chính, ngân hàng, kinh doanh, công nghiệp. Việc nghiên cứu lý luận, triết học đòi hỏi cái nhìn bao quát, khái quát từ trên xuống cũng hợp với người quẻ Đại Hữu.


15) Đại Hữu là thời rất thịnh, không nên để cho quá đầy, mà nên nhún nhường, nên Khiêm. Đó là lý do, sau quẻ Đại Hữu (số 14), tới quẻ Khiêm (số 15).

Thoán truyện bàn thêm: Khiêm là đạo của trời, đất và người. Trời có đức khiêm, vì ở trên đi xuống chỗ thấp mà sáng tỏ; Đất có đức khiêm, vì chịu ở dưới mà đi lên.

Đạo trời, cái gì đầy thì làm cho khuyết đi, cái gì thấp kém (khiêm) thì bù đắp cho (Thiên đạo khuy doanh nhi ích khiêm).

Đạo đất, đạo quỷ thần cũng vậy. Còn đạo người thì ghét kẻ đầy, tức sự kiêu căng thỏa mãn, mà thích kẻ khiêm tốn (Nhân đạo ố doanh nhi hiếu khiêm). Hễ khiêm thì ở địa vị cao mà đạo càng sáng, ở địa vị thấp mà chẳng ai vượt được mình .

Quẻ này hào nào cũng tốt, không nhiều thì ít, không kém quẻ Đại Hữu bao nhiêu.

Đa số các triết gia Trung Hoa rất đề cao đức Khiêm, nhất là Khổng tử và Lão tử, vì họ cho rằng, luật trời hễ đầy quá thì vơi, trong khi đầy phải nghĩ tới lúc sẽ vơi, phải khiêm tốn, khiêm nhường, đừng bao giờ tự phụ.

Người được quẻ này là người tuy có ngôi vị cao, danh giá cao nhưng luôn biết nhường nhịn, càng nhường nhịn càng tỏ phẩm giá của mình.

Người quẻ Khiêm tuy khiêm nhường, nhưng không phải chịu thua người, mà đấy chính là cách để vượt khó khăn, như người khiêm nhường mà có thể vượt sông lớn. Phan Bội Châu lấy ví dụ, như người lên đò sang sông, nhường người lên trước, mình lên sau. Khi đò quay mũi lại hóa ra mình lên bờ trước.

Khí chất thiên nhiên tạo nên cảm xúc và thiên hướng nghề nghiệp của người quẻ Khiêm là Đất và Núi. Người quẻ Khiêm nhậy cảm với những công việc đồng ruộng, sơn lâm, trang trại, thổ nhưỡng, những hoạt động văn hóa xã hội, văn học, nghệ thuật, thiên hướng làm chuyên môn hơn là quản lý chỉ huy, với tính nhu thuận của Đất và tính cao rộng, trọng hậu của Núi. Cũng rất nhậy cảm với tính sáng tạo, bao dung của Đất và tính ngăn trở, ngừng của Núi.


16) Đã Đại Hữu mà lại Khiêm, thì tất nhiên là vui vẻ, sung sướng; cho nên, sau quẻ Khiêm, tới quẻ Dự (số 16). Dự là vui, sướng.

Tượng quẻ là Sấm nổ vang trên mặt đất, tạo ra khí lành sinh trưởng tươi tốt, vui vẻ.

Người quẻ Dự nhậy cảm với hai chữ "Tri cơ" (biết thời cơ). Trong thời thịnh trị, các nguyên thủ xem quẻ này tổ chức làm quốc ca, dựng đền thờ quốc tổ, định ngày giỗ tổ. Nhà lãnh đạo xem quẻ này mà ban lệnh ra quân, khai mạc đại hội, khai trương việc lớn, khởi công công trình, mở hội liên hoan. Người bình dân xem quẻ này mà quyết định việc hôn nhân, cưới xin, ăn mừng, mở cửa hàng. Có một thời kỳ chí vững như đá, nắm thời cơ, trung chính lập nghiệp. Nhưng vì vui quá mà có một thời kỳ chí khí mềm oặt, để quyền vào tay người khác, lại sinh bệnh, nhưng chính nhờ bệnh này mà sống dai được.

Người quẻ Dự thích âm nhạc (sấm nổ đất vang), thiên về văn hóa nghệ thuật.


17) Dự là vui vẻ, vui vẻ thì có nhiều người theo, nên tiếp sau là quẻ Tùy (số 17). Tùy là theo, tùy theo.

Người quẻ Tùy là người biết thuận theo người, theo việc, theo phong trào, là người dễ giỏi việc tổ chức phát động phong trào cho mọi người theo. Cũng là người nhậy cảm với việc theo ai, theo cái gì, theo như thế nào, theo vào lúc nào, tùy hoàn cảnh, tùy thời mà theo.

Người quẻ Tùy cũng có lúc dễ buông xuôi thân phận như cánh bèo trôi trên mặt nước. Có lúc thiếu chủ động, vì ràng buộc, quấn quýt mà theo.


18) Vui theo thì tất có công việc làm, cho nên sau quẻ Tùy, tới quẻ Cổ (số 18). Cổ có hai nghĩa: đổ nát và công việc. Hễ đổ nát thì phải sửa sang lại, thế thì ắt có công việc.

Người xưa nhấn mạnh, người quẻ Cổ là người có sứ mạng sửa sang những gì bê bối, đổ nát của thế hệ trước để lại. Nhưng trong thực tế, người quẻ Cổ trước hết là người trải qua sự đổ nát, bê bối. Chính vì vậy mà người quẻ Cổ không tránh được hoàn cảnh bề bộn công việc, rất là vất vả. Nhưng giời lại cho người quẻ Cổ có chí, có gan. Việc sửa sang đổ nát đòi hỏi người quẻ Cổ phải biết lo liệu tính trước tính sau mới làm nổi.

Người được quẻ này phần nhiều bắt đầu phải gian nan, hoặc mê muội, sau mới thành, được thừa hưởng tổ nghiệp. Người quẻ Cổ thường nổi lên trong thời đất nước, xã hội, gia đình khủng hoảng, nhưng họ bị ngăn trở nhiều, do trong mệnh có quẻ Cấn là Ngừng.


19) Cổ là công việc, có công việc rồi mới làm lớn được; cho nên sau quẻ Cổ (số 18) tới quẻ Lâm (số 19). Lâm có nghĩa là lớn. Nhưng Lâm còn có nghĩa nữa là tới, tới gần (như “lâm chung” là tới lúc cuối cùng, tới lúc chết; hoặc “lâm hạ”: người trên tới người dưới).

Người được quẻ Lâm là gặp thời lớn, thịnh, công danh thành đạt, nhiều việc hanh thông. Tiến tới nhưng phải chính đáng thì mới lợi.

Người quẻ Lâm có lòng chí thành, lại luôn được cảm thông nên phấn đấu thuận lợi. Là người trên luôn biết cách chăm lo, vun đắp cho người dưới, nên được ủng hộ. Dưới trên đồng lòng, việc khó đến đâu cũng xong. Người quẻ Lâm trên đường đời tốt từ đầu chí cuối. Duy có chặng đường hào 3 (hoặc chủ mệnh hào 3) lời hào chỉ có hai chữ "Cam lâm" (ngọt ngào mà tới) vừa có thuận, vừa có nghịch trong đó. Có khi khéo miệng ngọt ngào lấy lòng người mà tiến tới. Cũng có khi nịnh nọt trên mà tiến tới, hoặc là người trên thì nịnh dân, dối dân mà tiến tới.


20) Lâm là lớn, vật gì đến lúc lớn thì mới đáng biểu thị cho người ta thấy. Cho nên, sau quẻ Lâm tới quẻ Quán, cũng đọc là Quan. Quán là biểu thị cho người ta thấy, Quan là xem xét.

Người được quẻ này là người có óc quan sát, nhậy cảm trong quan sát.

Người lãnh đạo, quản lý xã hội, coi quẻ này mà đi quan sát, kiểm tra các địa phương, xem xét dân tình, để định ra phép tắc giáo hóa nhân dân. Người tử tế khác coi quẻ này mà đi quan sát, xem xét cuộc sống, suy ngẫm và định ra lối sống có văn hóa, có giáo dục.

Được quẻ này mà đi vào công việc làm báo, thông tin, giáo dục, văn hóa, các hoạt động xã hội, thì rất thuận, dễ có thành công.

Người quẻ Quán thích chọn cho mình những thần tượng, lấy đó làm mẫu mực cho đời mình. Cũng thường lấy mình làm gương cho kẻ khác. Lại soi vào mình mà thấy ra những dấu ấn của thời đại.


21) Tình, lý có chỗ khả quan rồi sau mới hợp nhau được; nhưng muốn cho hợp nhau, thì trước hết phải trừ sự ngăn cách đã. Cho nên, sau quẻ Quan, tới quẻ Phệ Hạp (số 21). Phệ là cắn, là trừ (sự ngăn cách), còn Hạp là hợp.

Quẻ này xét về việc hình ngục, đại ý khuyên: Người xử hình phải sáng suốt trước hết, cương quyết mà cũng cần có đức nhu (để bớt cương đi), có chút từ tâm, và luôn luôn phải giữ đạo chính, thận trọng (hào 5). Hào 4 cũng tốt, vì vừa cương vừa nhu, có tài và có địa vị.

Nên răn đe dân từ khi dân mới mắc phải lỗi nhỏ, nếu không, dân sẽ quen làm bậy, cái ác cứ tích lũy dần rồi dẫn đến mắc tội nặng.

Người quẻ Phệ Hạp là người nhậy cảm với những cái ngăn trở sự hòa hợp của con người, thường đó là những cái gian tà, sàm nịnh, bưng bít làm cho trên dưới không thông. Họ cũng nhậy cảm trong việc phát hiện, tố giác, và tìm cách đấu tranh chống tiêu cực. Thiên về diệt ác, phù thịnh, nhẹ về phục thiện và phù suy. Trong đấu tranh không sợ gian nan, tìm thấy phúc lộc và niềm vui trong việc trị cái ác (người xưa ví như "cắn miếng thịt phơi khô, liền xương, nhả ra thấy vàng").

Người quẻ Phệ Hạp học ngành luật, cảnh sát, thanh tra, kiểm sát, tòa án, coi việc hình ngục rất thuận hợp.

Đi vào các ngành Lý luận phê bình văn học nghệ thuật cũng dễ trưởng thành, nhưng phải biết vừa đấu tranh phê phán, vừa phát hiện nâng đỡ tài năng.

Người quẻ Phệ Hạp cũng đề phòng chính mình trở thành kẻ ác.


22) Đám đông, hợp lại với nhau thì phải có trật tự, uy nghi, có văn vẻ. Cho nên, tiếp theo quẻ Phệ Hạp là quẻ Bí (số 22), là văn vẻ, rực rỡ, sáng sủa trang sức.

Quẻ Sơn Hỏa Bí có tượng trên là Núi, dưới là Lửa; Lửa chiếu sáng mọi vật ở trên Núi, như vậy, làm cho Núi đẹp lên, tức là trang sức cho Núi.

Quẻ này nói về thời “âm thịnh dương suy”, tiểu nhân tàn hại quân tử. Tiểu nhân tuy rất đông, nhưng vẫn có một số (hào 3 và 5) hiểu đạo cải quá, đứng về phe quân tử, và khi xã hội lâm nguy thì ủng hộ quân tử. Người quân tử mới đầu chỉ nên im hơi lặng tiếng mà chờ thời, chuẩn bị cho lúc thịnh trở lại. Đó cũng là luật âm dương trong vũ trụ: Vũ trụ luôn luôn có đủ cả âm, dương; khi âm cực thịnh, vẫn còn dương; khi dương cực thịnh, cũng vẫn còn âm; âm dương cứ thay nhau lên xuống, thế thôi.

Người quân tử coi tượng lửa dưới núi làm cho núi sáng đẹp lên, mà ứng xử việc đời: trang sức, làm đẹp về hình thức là tốt, nhưng đối với những việc lớn như phán xét hình ngục, quan hệ tới sinh mệnh của dân, thì chớ khinh suất mà trang sức, tô vẽ.

Người quẻ Bí là người yêu cái đẹp, cái hình thức bên ngoài, chăm lo việc tô điểm, trang sức, làm đẹp cho mình, cho người.

Những người được quẻ này thường lập nghiệp bằng các nghề hội họa, điêu khắc, kiến trúc, đặc biệt là kiến trúc phong cảnh, sáng tác văn chương, thiết kế thời trang, thiết kế bao bì, quảng cáo, sản xuất mỹ phẩm, trang trí hôn nhân...

Người quẻ Bí thường nhậy cảm với nội dung bên trong và hình thức bên ngoài. Có người chỉ coi trọng hình thức do đó mà thiếu một đời sống bên trong phong phú, thường chỉ làm được việc nhỏ. Cũng có người quẻ Bí chỉ biết cái đẹp tinh thần bên trong, sống cao thượng, giản dị, tiết kiệm, xuề xòa.

Người quẻ Bí thường coi trọng các lễ nghi, nghi thức giao tiếp, lối sống lịch sự, rung động trước cái đẹp, có ác cảm với cái xấu.


23) Bí là trang sức, trau giồi; trau giồi tới cực điểm thì mòn hết. Cho nên sau quẻ Bí tới quẻ Bác (số 23). Bác là mòn, là bóc, lột bỏ cho tiêu mòn lần đi.

Người được quẻ Bác là người dễ có địa vị cao quý, nhưng thường có những hao tổn, thiệt hại, như người nằm trên giường mà giường hỏng dần từ chân đến sàn, đến sát thân người. Thường bị kẻ thấp kém ám hại.

Được quẻ này, phần nhiều người làm lớn, hay là quý nhân, nhưng không tránh khỏi cô lập, hình khắc. Đường tình duyên không thuận. Những người thuộc giới cầm quyền xemi quẻ này cần biết vun đắp cho dưới được dày (dân được an lạc) thì mới yên chỗ ở. (Núi ở trên đất, đất là nền móng của núi, đất có dày thì núi mới vững).

Người quẻ Bác được quẻ thuộc về thời âm thịnh dương suy, tiểu nhân đắc chí hoành hành, quân tử coi đấy mà chỉ nên chờ thời. Phải chờ thời, vì theo luật tự nhiên, âm thịnh cực rồi sẽ suy.

Người quẻ Bác vẫn là người hành động. Nhưng chỉ nên hành động một cách lặng lẽ, chớ nên ồn ào; nên kín đáo, chớ nên phô phang. Hành động theo cách khôn khéo: có óc khôn mà làm như người ngu, có mưu khéo mà làm như người vụng, có đức thẳng mà làm như người cong (Lão Tử).

Người quẻ Bác còn phải nhớ rằng, sống với đám tiểu nhân rất nhiều âm mưu quỷ kế khiến cho quân tử mòn rụng dần dần, mà “biến” dần cách sống theo nó. Quẻ thời âm thịnh dương suy, mệnh Nữ được quẻ này tốt.


24) Vật không bao giờ tới cùng tận. Quẻ Bác, hào dương ở trên cùng thì lại quay trở xuống ở dưới cùng (cùng thượng phản hạ); cho nên, sau quẻ Bác là tới quẻ Phục (số 24). Phục là phục hồi, trở lại. Như vậy là, đạo tiểu nhân thịnh cực thì phải tiêu, đạo quân tử suy cực thì lại thịnh lần lần.

Người quẻ Phục nhậy cảm với sự phục hồi, quay trở lại truyền thống, quá khứ, chấp nhận và hòa nhập cái mới một cách thận trọng, nhưng không vì thế mà bảo thủ.

Người quẻ Phục cũng nhậy cảm với sự tiếp xúc cái thấp kém, cái ác, bản thân người quẻ Phục cũng phải luôn tự kiềm chế cái xấu, cái ác của chính mình.


25) Đã trở lại thiên lý, chính đạo rồi thì không làm càn nữa, cho nên sau quẻ Phục, tới quẻ Vô vọng (số 25). Vọng có nghĩa là càn, bậy. Vô vọng là không càn bậy.

Tượng quẻ này, quẻ Nội là Chấn (nghĩa là động, hành động), quẻ Ngoại là Càn (Trời). Nghĩa quẻ là hành động hợp với lẽ trời, không càn bậy, thì hanh thông.

Trình Di giảng: Sấm chạy dưới Trời, âm dương giao hòa, sâu non còn náu phải kinh, mầm non mới nhú phải động, muôn vật đều phát sinh, vật nào nhằm đúng tính mệnh của vật ấy, không có sai càn, ấy là các vật được phú cho tính không càn bậy (vô vọng).

Quẻ này nhấn mạnh vào lẽ tùy thời. Cả 6 hào đều là “vô vọng” cả, không càn bậy, mà tùy thời. Có lúc hoạt động thì tốt, như các hào 1, 2; có lúc lại nên thản nhiên, chẳng làm gì cả, như hào 5; có lúc không nên hành động, như hào 4 và như hào trên cùng (nếu hoạt động thì gặp họa).

Người được quẻ Vô Vọng được trời phú cho bẩm tính tự nhiên, có lối sống vô tư, trong sáng, làm việc không tính toán, bắt chước lẽ trời lấy cái thịnh vượng mà nuôi nấng muôn loài. Nhưng muốn có hanh thông, may mắn thì phải hành động theo lẽ chính đáng, phù hợp với luật trời, lẽ trời.

Được quẻ này mà sống càn bậy, không theo cái chính đáng thì rất nguy. Người quẻ Vô Vọng khi làm không cần biết kết quả, (khi cày ruộng không tính trước khi gặt), sống hồn nhiên, tin vào lẽ tự nhiên, phúc lộc đến một cách tự nhiên. Nhưng cũng chính vì thế mà tai họa cũng tự nhiên đến, ta thường gọi là “tai bay vạ gió”. Là người nhậy cảm với may rủi, nên dễ trở thành người duy linh.

Người quẻ Vô Vọng mà làm văn hóa, nghệ thuật thì rất tốt, cảm xúc hồn nhiên, tác phẩm nẩy sinh từ cõi “vô thức” nên dễ hay. Không nên đi vào ngành luật, và những ngành tương đương như chính trị, kinh tế, đòi hỏi sự tính toán, duy lý, duy ý chí.


26) Mình không có càn bậy (Vô vọng), rồi bản thân mới có thể chứa được nhiều tài, đức, hoài bão; nên sau quẻ Vô vọng, tới quẻ Đại Súc (số 26). Chữ “súc” trong quẻ này cũng là chữ “súc” trong quẻ Phong Thiên Tiểu Súc (số 9), có ba nghĩa: nhóm chứa, nuôi nấng, ngăn lại.

Thoán từ dùng theo nghĩa chứa (súc tích, uẩn súc), còn Hào từ dùng với nghĩa “ngăn lại”.

Thoán từ nói về sự súc tích tài đức, mà Hào từ lại xét cách ngăn cản kẻ hung hãn.


Hai hào có ý nghĩa nhất là 4 và 5: muốn ngăn chặn cái ác thì phải ngăn từ khi mới manh nha; và muốn diệt ác, thì phải diệt từ gốc, tìm nguyên nhân chính mà diệt trừ, thì mới không tốn công, kết quả mới chắc chắn.

Tượng quẻ cho thấy Núi ở trên, Trời ở dưới, núi mà chứa được trời thì sức chứa rất lớn, nên tên quẻ là Đại Súc.

Người quẻ Đại Súc là người thông minh, có sức học tập, chịu khó tự học để “chứa chất” kiến thức, kinh nghiệm sống. Dù có thất học, người quẻ Đại Súc cũng ít khi chịu giam mình trong sự thiếu hiểu biết.

Người quẻ Đại Súc trọng cái chất thực bên trong hơn cái lòe loẹt bên ngoài. Là người có chí có gan vượt qua gian nan thử thách mà người xưa gọi là “vượt sông lớn”.

Người quẻ Đại Súc tuy chứa lớn, nhưng cũng bị ngăn cản lớn, chữ "Súc" trong lời quẻ nghĩa là Chứa, nhưng trong lời hào thì có nghĩa là Ngăn. Cái ngăn cản nhất đối với người quẻ Đại Súc là nảy sinh cái ác, dễ bị cuộc sống đào thải, hoặc ngăn ngừa khi không kiềm chế được cái ác.


27) Súc là chứa, có chứa nhóm vật lại rồi mới nuôi được; cho nên, sau quẻ Đại Súc là quẻ Di (số 27). Di có hai nghĩa: nuôi nấng và cái cằm. Nhìn đồ hình của quẻ, chúng ta thấy như cái miệng mở rộng, hai nét liền ở trên và dưới như hai cái hàm, toàn bộ gợi cho ta ý cái cằm (thay cái mép), lại gợi cho ta sự ăn uống để nuôi sống.

Theo tượng quẻ thì dưới Núi có tiếng Sấm, khí dương bắt đầu phát, mà vạn vật trong núi được phát triển, như vậy là trời đất nuôi vạn vật.

Người được quẻ này là người có vận mệnh kiếm sống nuôi mình, nuôi người (với các bậc nguyên thủ là nuôi dân), nuôi vật chất, nuôi tinh thần.

Người được quẻ này chăm lo học cách kiếm sống, cách nuôi người cho phải đạo. Đạo Nuôi rất lớn, nhưng theo được đạo này rất khó. Trên đường đời, người quẻ Di thường dễ phạm lỗi lầm về cách kiếm sống, cách nuôi mình, nuôi người, khi thì ham hố kiếm sống mà quên cả tư cách mình, khi thì nuôi mình, nuôi người không phải bằng tài đức của mình, dùng những lối làm ăn bất chính để tăng thu nhập, khi thì cầu cạnh người để làm ăn.

Người quẻ Di tốt số dễ trở thành các thương nhân, chủ trang trại (trồng trọt chăn nuôi, tạo ra vật chất), nhà văn, nhà giáo (nuôi tinh thần), chuyên gia, nhân viên trong các ngành chăn nuôi, chế biến thực phẩm, nhà hàng, quán ăn; xấu số thì làm lao công kiếm ăn là chính.


28) Nguyễn Hiến Lê viết về quẻ Trạch Phong Đại Quá (số 28):

Tự quái truyện giảng rất mù mờ: “Di là nuôi, không nuôi thì không thể động (bất dưỡng tức bất động) (?), cho nên sau quẻ Di đến quẻ Đại Quá (lớn quá)“.

Cụ Phan Bội Châu giảng: “Có nuôi, rồi sau mới có việc lớn quá”. Chúng tôi nghĩ, có thể giảng: Có bồi dưỡng tài đức thì sau mới làm được việc lớn quá (rất lớn), phi thường. Chữ “đại quá” có hai cách hiểu: phần dương trong quẻ tới 4 (phần âm chỉ có 2), mà dương có nghĩa là lớn, âm là nhỏ. Vậy, “đại quá” có nghĩa là phần dương nhiều quá; nghĩa nữa là (đạo đức công nghiệp) lớn quá.


Nguyễn Hiến Lê nhận xét: Nhìn hình quẻ, 4 hào dương ở giữa, 2 hào âm hai đầu, như cây cột, khúc giữa lớn quá, ngọn và chân nhỏ quá, chống không nổi, phải cong đi. Tuy vậy, hai hào dương 2 và 5 đều đắc trung, thế là cương mà vẫn trung. Lại thêm quẻ Tốn ở dưới có nghĩa là thuận, quẻ Đoài ở trên có nghĩa là hòa, vui; thế là hòa thuận vui vẻ.

Cụ Phan Bội Châu chỉ rõ thêm: Chữ Đại Quá đối lập với chữ Bất Cập (chưa tới). Đại Quá là công việc quá chừng lớn. Sách Sử ký của Tư Mã Thiên có câu: Tất có người phi thường mới làm nên việc phi thường. Mà những việc phi thường, tất phải chờ đến người phi thường. Bởi vì, những việc phi thường, quyết không phải những hạng người thường làm nổi. Đó chính là nghĩa chữ Đại Quá.

Người quẻ Đại Quá có thể là người được nuôi dưỡng, tích lũy tài đức để có khả năng phi thường làm những việc phi thường. Nhưng không phải có mệnh Đại Quá là làm được như thế, phải có hoàn cảnh xã hội, được bồi dưỡng tài đức, tạo nên cái tài Đại Quá, lại phải gặp thời Đại Quá.

Người quẻ Đại Quá có thể thành cái cột vững chắc trong đời, nhưng luôn đứng trước cái họa, như cây to mọc trong đầm, gốc không vững, dễ bị đổ.

Người quẻ Đại Quá làm cây lớn trong đầm thì mới lo đổ, chứ làm cây nhỏ như hoa sen thì bền vững.


29) Lẽ trời không thể quá được mãi, hễ quá thì sẽ phải sụp vào chỗ hiểm. Vậy, sau quẻ Đại Quá, tới quẻ Thuần Khảm (số 29). Khảm có nghĩa là sụp, là hiểm.

Thuần Khảm có nghĩa là trùng khảm, hai lần Khảm. Nhìn đồ hình quẻ Khảm, ta thấy một hào dương bị hãm vào giữa hai hào âm, cho nên Khảm có nghĩa là hãm, là hiểm. Ta lại thấy ở giữa đặc (nét liền), ngoài rỗng (nét đứt), trái với quẻ Ly giữa rỗng, trên dưới đặc, như cái miệng lò (☲). Chỗ rỗng đó là chỗ không khí lọt vào để đốt cháy than, củi, cho nên, Ly là lửa. Khảm trái với Ly, chỗ nào trống thì nước chảy vào. Nguy hiểm không gì bằng nước sâu, không cẩn thận thì sụp xuống, chết đuối, nên bảo, nước là hiểm.

Người quẻ Khảm thường gặp những hoàn cảnh nguy nan, nhưng xem tượng quẻ mà xử thời hiểm, thì không sợ gì. Tuy hoàn cảnh hiểm, thời hiểm mà tâm vẫn hanh thông, lòng chí thành đến đâu tác động mạnh đến đó, lời nói, việc làm lấy tín nghĩa làm trọng, tai nạn qua khỏi, mà còn có công nữa.

Người quẻ Khảm gặp thời hiểm, còn biết linh hoạt, khôn ngoan tìm mọi cách tránh hiểm. Như mùa lụt bão, tránh ra khơi xa, giúp dân sơ tán khi bão tràn vào, phòng hỏa, phòng đói kém, mất mùa. Lại hằng ngày rèn tập cho dân quen dần cái hiểm, chữ "Tập Khảm" có nghĩa rèn tập, tạo thành tập quán.

Người quẻ Khảm thường thích phù suy hơn phù thịnh. Là người có tài trí, vị tha, can đảm, dấn thân, nhưng phải cẩn trọng khi nhập cuộc. Biết mình có quẻ Khảm thì cần giữ tâm trí cho ngay thẳng, chờ qua lúc gian nguy. Nếu có thể di chuyển nơi chốn thì tốt (Mấy câu này trích của Thiên cơ Dật sĩ, một nhà Dịch học Việt Nam ở nước ngoài).

Người quẻ Khảm biết lấy ưu thế quẻ Khảm để vượt hiểm thì trở thành anh hùng. Nếu để cho cái hiểm hãm kìm kẹp, thì chìm đắm trong trong thác lũ cuộc đời là cái chắc.


30) Khảm là hãm, hãm thì phải có chỗ nương tựa, cho nên sau quẻ Khảm tới quẻ Ly (số 30).

Là bởi, Ly [離] cũng là Lệ [ 麗] ; thời xưa hai chữ đó đọc như nhau, dùng thay nhau được, như nước Cao Ly (Triều Tiên) viết là [高麗 ]. Mà lệ có nghĩa là phụ thuộc vào (như từ ngữ “lệ thuộc”), dựa vào. Theo đồ hình của quẻ, một nét âm ở giữa dựa vào hai nét dương ở trên, dưới.

Ly còn nghĩa thứ hai là sáng: nét ở giữa đứt, tức là ở giữa rỗng (trông như cái lò lửa, bếp lò), rỗng thì sáng. Lửa sáng, mặt trời sáng, cho nên, Ly có tượng là Lửa, là Mặt trời.

Sau cùng, Ly còn có nghĩa là rời ra, chia rời như chia ly, chia lìa.

******
Kinh Dịch mở đầu bằng hai quẻ Thuần Càn, Thuần Khôn (trời đất). Tới giữa Kinh (cuối phần Thượng, chuẩn bị sang phần Hạ của Kinh) là hai quẻ Thuần Khảm, Thuần Ly, vì hai lẽ.

Ba hào thuần dương là Càn, lấy một hào của Khôn thay vào hào giữa của Càn, thành Ly.

Ba hào thuần âm là Khôn, lấy một hào của Càn thay vào hào giữa của Khôn, thành Khảm.

Vậy Ly, Khảm là “thiên địa chi trung”, đứng ở giữa trời giữa đất.

Công dụng tạo hóa của trời đất nhờ lửa và nước (Ly và Khảm) cả.

Khảm ở chính Bắc, Ly ở chính Nam; Khảm ở giữa đêm (giờ Tý), Ly ở giữa trưa (giờ Ngọ).

Khảm, ở giữa là nét dương, liền, thực, cho nên đức của nó là trung thực. Ly ở giữa là nét đứt, hư, rỗng, cho nên đức của nó là sáng, là văn minh.

------------(Hết phần Thượng)------------





Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 16.12.2015, sửa lần 6
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 12.12.2014    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

VÀI CẢM NGHĨ... VỀ KINH DỊCH

SỰ TIẾP BIẾN CỦA CÁC QUẺ DỊCH (tiếp theo)

------------(Phần Hạ)------------


31) Kinh Thượng bắt đầu bằng hai quẻ Càn Khôn: trời, đất. Có trời đất rồi mới có vạn vật, có vạn vật rồi mới có nam, nữ; có nam nữ rồi mới thành vợ chồng, có cha con, vua tôi, trên dưới, lễ nghĩa. Cho nên, đầu kinh Thượng là Càn, Khôn, nói về vũ trụ; đầu Kinh Hạ là Hàm (số 31), Hằng (số 32), nói về nhân sự. Hàm là trai gái cảm nhau. Hằng là vợ chồng, ăn ở với nhau được lâu dài.

Trạch (Đoài) là thiếu nữ ở trên, Sơn (Cấn) là thiếu nam ở dưới. Cảm nhau thân thiết không gì bằng thiếu nam, thiếu nữ. Cảm nhau thì tất hanh thông.

Thiếu nữ ở trên, thiếu nam phải hạ mình xuống cạnh thiếu nữ; hồi mới gặp nhau thì phải vậy; chứ nếu thiếu nữ cầu cạnh thiếu nam, thì là bất chính, không tốt. Cho nên Thoán từ bảo, phải giữ đạo chính mới có lợi. Hai bên giữ đạo chính cả, thì cưới vợ chắc tốt lành.

Chữ "Hàm" (咸) khác "Cảm" (感) ở một điểm: bên trong chữ "Cảm" có chữ "Tâm" (心) là lòng, tấm lòng; chữ "Hàm" thì không có. Hàm là tự nhiên hai bên tương hợp, rồi cảm mến nhau, không có tư ý, không vì một lẽ nào khác, phải hư tâm (trống rỗng trong lòng).


32) Ở đầu quẻ Hàm, tôi (tức Nguyễn Hiến Lê) đã nói, tại sao sau quẻ Hàm (số 31 - trai gái cảm nhau) tiếp tới quẻ Hằng (số 32 - đạo vợ chồng có tính cách lâu dài).

Tượng của quẻ Hằng là trên là Chấn (trưởng nam), dưới là Tốn (trưởng nữ), chồng trên, vợ dưới, rất hợp đạo, tất được lâu dài.

Thoán truyện giảng: Cương (Chấn, Lôi) ở trên, nhu (Tốn, Phong) ở dưới, sấm gió giúp sức nhau, Chấn động trước, Tốn theo sau, thế là thuận đạo. Lại thêm 3 hào âm đều ứng với 3 hào dương, cũng là nghĩa thuận nữa, cả hai bên đều giữ được đạo chính lâu dài.


33) Hễ ở lâu thì phải rút lui, lánh đi. Hết ngày thì tới đêm, hết Đông tới Xuân, ngồi lâu phải đứng dậy, già rồi nên về hưu…. Cho nên, sau quẻ Hằng (số 32) (lâu dài) tới quẻ Độn (số 33 - trốn lánh đi).

Tượng quẻ, trên là Trời (Thiên), dưới là Núi (Sơn): khi đang ở chân núi thì thấy đỉnh núi là trời, nhưng càng lên, càng thấy trời lùi lên cao nữa, khi leo tới đỉnh núi thấy trời mù mịt tít vời, cứ như trời trốn lánh núi, cho nên đặt tên quẻ là Độn.

Người quẻ Độn là người luôn có xu hướng và lối sống ẩn mình, không thích phô trương, lui để tiến, thà làm nhiều việc nhỏ mà thành công còn hơn làm việc lớn mà bị hại.

Người quẻ Độn là người biết thời thế, lúc tiểu nhân đang thế mạnh, quân tử rút đi là hơn; cũng là người quyền biến, có khi độn ngay chốn đô hội đông người, trước mắt đối phương; trường hợp này, phải là người quân tử chí cao mới làm được.

Ý nghĩa quẻ Độn: Trốn cũng phải hợp thời. Trốn sau cùng là trễ, thì nguy khốn (hào 1); trốn mà còn vương vấn tư tình, thì xấu (hảo 3); trốn một cách trung chính, thì tốt (hào 5); trốn mà đừng bịn rịn, thì được ung dung (hào 6). Lại có trường hợp, vì hoàn cảnh xui khiến mà không được phép trốn đi (hào 2).


34) Hết thời lui rồi thì tới thời tiến lên, tiến lên thì lớn mạnh. Cho nên, sau quẻ Độn (số 33 – rút lui) tới quẻ Đại Tráng (số 34 - lớn mạnh).

Người được quẻ này là người hăng hái, ham hành động, ham khởi xướng công việc, mơ mộng, có chí, có sức, dám nghĩ dám làm.

Người quẻ Đại Tráng là người hành động, không thích ngồi yên, làm gì cũng phải mạnh mẽ, có tiếng vang. Thái độ, cử chỉ thường khảng khái, ồn ào. Giao thiệp rộng, đa phương, đa sự. Vì là Sấm ở trên Trời, nên cảm xúc không gian mạnh hơn cảm xúc thời gian. Thường có cái nhìn bao quát từ trên xuống, hành động và suy tưởng thiên về kích thích sự nẩy nở, sinh trưởng, như sấm mùa xuân làm cho âm dương giao hòa, vạn vật tươi tốt, phấn chấn.

Người quẻ Đại Tráng thuộc thời dương thịnh âm suy, nên nhậy cảm với cái phấn phát, cái hưng thịnh, cái khởi xướng, sự sáng tạo, sự sinh sôi nẩy nở, mà ít thông cảm với cái suy vong, những thân phận nghèo hèn, bĩ cực. Yêu nhiều hơn thương, ham muốn nhiều hơn ngăn hãm, quả quyết nhiều hơn do dự, thích phù thịnh hơn phù suy.

Người quẻ Đại Tráng có đặc điểm là cùng một quẻ, một hào đấy, nhưng tốt xấu còn tùy từng người. Hễ biết theo đường chính đáng thì không gì không lợi, nhưng xử sự theo lối tiểu nhân thì thành kẻ hung hãn, tầm thường. Cái sức mạnh bên trong, sức mạnh tinh thần có giá trị rất lớn trong việc điều chỉnh hành động bản thân.

Người quẻ Đại Tráng có khí chất hăng, mạnh, nên thường đứng trước hai hành lang cuộc đời: Một là hăng, mạnh mà biết bền bỉ theo đường ngay thẳng, chính nghĩa, hợp với quy luật phát triển của trời đất, lại biết nén lòng riêng của mình, thì không gì không lợi; Hai là hăng, mạnh mà gian phi, bậy bạ, thì chỉ thành kẻ bạo cường, liều lĩnh, dấn nhanh vào tội lỗi.

Quẻ này phản ánh thời “âm suy, dương lớn mạnh lên”. Đáng lẽ tốt, vậy mà 6 hào, không có hào nào thật tốt, chỉ tốt với điều kiện là giữ đạo chính của quân tử. Cổ nhân khuyên, muốn gặp vận hội tốt, thì phải cẩn thận coi chừng hoạ nấp ở đâu đó, nên đề phòng.


35) Đã tráng thịnh thì tất nhiên phải tiến lên, cho nên sau quẻ Đại Tráng (số 34) tới quẻ Tấn [晉] (số 35). Tấn có nghĩa là tiến lên [進].

Tên đầy đủ của quẻ là Hỏa Địa Tấn. Quẻ này có tượng mặt trời (Ly) lên khỏi mặt đất (Khôn), càng lên cao càng sáng, tiến mạnh.

36) Tiến lên thì tất có lúc bị thương tổn. Cho nên, sau quẻ Tấn (số 35) tiếp tới quẻ Minh Di (số 36). Di nghĩa là thương tổn.

Quẻ này ngược với quẻ Tấn: mặt trời (Ly, Hỏa) lặn xuống dưới đất (Khôn, Địa), ánh sáng bị tổn hại, tối đi.

Quẻ này khuyên người quân tử ở thời hắc ám quá thì có thể bỏ nhà, bỏ nước mà đi; hoặc muốn ở lại thì giấu sự sáng suốt của mình mà giữ vững đạo chính để chờ thời.


37) Di là bị thương; hễ ra ngoài bị thương thì trở về nhà. Cho nên, sau quẻ Minh Di (số 36) tới quẻ Gia Nhân (số 37). Gia nhân là người trong một nhà.

Tên đầy đủ của quẻ là Phong Hỏa Gia Nhân. Quẻ Nội là Ly (Hỏa), sáng suốt; quẻ Ngoại là Tốn (Phong), thuận. Ở trong thì sáng suốt, xử trí không hồ đồ, ở ngoài thì thuận, như vậy việc tề gia sẽ tốt đẹp. Nói rộng ra việc nước, cũng vậy, vì người trong một nước lấy nước làm nhà. Mà việc thế giới cũng vậy, vì mỗi nước như một người, cả thế giới như một nhà.

Một cách giải thích khác: Quẻ này có quẻ Nội (Hỏa) là trung nữ, quẻ Ngoại (Phong) là trưởng nữ. Hào 2 âm làm chủ quẻ Nội; hào 4 âm làm chủ quẻ Ngoại. Hai hào đó đều đắc chính cả, cho nên nói “đàn bà mà chính đáng, thì có lợi”.

Tuy chỉ nói nữ trinh thôi, nhưng phải hiểu, nam cũng cần chính đáng nữa. Vì nếu nam không chính đáng, thì nữ làm sao chính đáng được. Nam nữ là nói chung, gồm cả cha mẹ, con cái, anh chị em, vợ chồng, ai nấy đều phải giữ đạo chính hết, chứ không phải, chỉ có người trên, hay người chồng không cần phải phải giữ đạo. Cha mẹ có cư xử đúng đạo cha mẹ, thì con mới cư xử đúng đạo con. Anh em cũng vậy, chồng vợ cũng vậy. Thời xưa, chẳng riêng ở Trung Hoa, mà ở khắp các nước theo chế độ phụ quyền như phương Tây cũng vậy, dù không có bình đẳng giữa nam nữ; nhưng về tư cách, đạo đức, thì nam nữ đều có bổn phận, trách nhiệm ngang nhau.


38) Gia đạo đến lúc cùng, thì có người trong nhà chia lìa, chống đối nhau. Cho nên, sau quẻ Gia Nhân (số 37) tới quẻ Khuê (số 38). Khuê nghĩa là chống đối, chia lìa.

Tên đầy đủ của quẻ này là Hỏa Trạch Khuê. Tượng quẻ là đầm hồ (Trạch) ở dưới lửa (Hỏa). Đầm hồ có tính thấm xuống, lửa có tính bốc lên, trên dưới không thông với nhau, do đó mà càng ngày càng cách xa nhau.

Quẻ này xấu nhất trong Kinh Dịch, ngược hẳn lại với quẻ Cách. Chỉ làm những việc nhỏ cá nhân thì hoạ may được tốt.

Thoán truyện giảng thêm: Đoài (Trạch) là thiếu nữ, Ly (Hỏa) là trung nữ, hai chị em ở một nhà mà xu hướng trái nhau (em hướng về cha mẹ, chị hướng về chồng), chí hướng khác nhau, cho nên gọi là Khuê.

Tuy nhiên, Ðoài có đức vui, Ly có đức sáng, thế là hòa vui mà nương tựa vào đức sáng. Lại thêm hào 5, âm nhu mà tiến lên ở ngôi cao, đắc trung mà thuận, ứng với hào 2 dương cương ở dưới, cho nên bảo, việc nhỏ thì tốt.

Xét trong vũ trụ, trời đất – tuy một ở trên cao, một ở dưới thấp, vốn là khác nhau, chia lìa nhau, vậy mà công hoá dục vạn vật là của chung trời đất. Trai gái – tuy một dương, một âm - vẫn là trái nhau, vậy mà cảm thông với nhau. Vạn vật tuy khác nhau, mà việc sinh hào cùng theo một luật như nhau. Thế là, trong chỗ trái nhau, vẫn có chỗ giống nhau. Tìm ra được chỗ “đồng” đó trong cái “dị”, là biết được cái diệu dụng của quẻ Khuê, của thời Khuê.


39) Ở thời chia lìa chống đối thì tất gặp nỗi gian nan, hiểm trở. Cho nên sau quẻ Khuê (số 38) tới quẻ Kiển (gian nan).

Gặp quẻ Thủy Sơn Kiển thì còn gian khổ nào bằng!

Tượng quẻ là trước mặt sông (Thủy), sau lưng núi (Sơn), tiến lui đều khó, “muốn tiến lên thì bị Khảm thủy đón ở mặt trước, muốn thoái lui thì bị Cấn sơn ngăn ở mặt sau, tượng như đại tướng ra trận mà sụp giữa trùng vây, nên đặt tên quẻ là Kiển” (Phan Bội Châu). Kiển là gian nan, vất vả. Người gặp quẻ này chỉ còn một cách là rèn đức, để mà chịu đựng, mà vượt lên. Phải biết ra công lợi dụng cái thời gian nan này, biến được nghịch cảnh ra làm thuận cảnh, thì mới có sự nghiệp, và sự nghiệp mới lớn.

Người quẻ Kiển là người trên đường đời thường gặp hiểm nạn, có tâm lý mình ở giữa nơi hiểm nạn, nên thường trở lại với mình, tìm lại mình, tự đánh giá mình.

Người thời Kiển, cũng như người thời Bĩ, thường cảm thông sâu sắc với kẻ khốn cùng, nhất là những người lâm nạn.

Người thời Kiển mà không biết dụng công vượt hiểm thì coi như sụp vào chốn chông gai, còn nếu biết rèn đức để vượt lên, thì thành nghiệp lớn.

Gặp thời gian nan, nên thận trọng đợi thời. Riêng vị nguyên thủ phải tìm người tốt giúp mình, liên kết mọi tầng lớp để cùng mình chống đỡ.


40) Không thể bị nạn hoài được, thế nào cũng tới lúc giải nạn. Vì vậy, sau quẻ Kiển (số 39) tới quẻ Giải (số 40). Giải là cởi bỏ, phá tan.

Tượng quẻ là âm dương giao hoà với nhau, sấm (Lôi) động và mưa (Thủy) đổ, bao nhiêu khí u uất tan hết, cho nên gọi là Lôi Thủy Giải.

Người quẻ Giải là người có khí chất mạnh mẽ, có tính quyết đoán cao.

Người quẻ Giải sẵn sàng khoan dung, bỏ lỗi, thứ tội cho kẻ khác, nhưng cũng là người quyết tâm giải quyết những việc quan trọng.


41) Khoan nới thì tất có điều sơ ý mà bị tổn hại. Cho nên, sau quẻ Giải (số 40) tới quẻ Tổn (số 41). Tổn là thiệt hại, mà cũng có nghĩa là giảm đi.

Quẻ này nguyên là quẻ Địa Thiên Thái, đem bớt ở quẻ Càn hào dương thứ 3, đưa lên thêm vào hào cuối cùng của quẻ Khôn ở trên, nên gọi là Tốn: bớt đi.

Lại có thể hiểu: khoét đất ở dưới hồ đầm (Trạch) đắp lên trên cao cho thành núi (Sơn). Hồ đầm càng sâu, núi càng cao, thì càng không vững, tất phải đổ, nên gọi là Tổn (thiệt hại).

Người quẻ Tổn là người có thể nhiều danh lợi, có đời sống tăng ích, nhìn bên ngoài vào thấy là người có vị trí xã hội cao, quyền thế, hoặc thành đạt, dáng vẻ thường đẹp đẽ, ý chí thường đầy tràn, nhiều tham vọng, ham muốn, nhờ vào những nguồn lợi từ phía dưới bù đắp lên trên, bằng nhiều hình thức. Nhưng về cơ bản, lợi ích đó không bền, không vững, ích đấy mà tổn đấy, bên ngoài là ích mà bên trong thì tổn, trước thì ích mà sau thì tổn, càng ích thì càng tổn. Cái ích thì dễ nhìn thấy, vì ở bên ngoài, ở phía trên; cái tổn thì khó nhìn thấy, vì ở bên trong, ở phía dưới. Cái ích thì nhỏ và tạm thời, vì là ích ở trên ngọn; cái tổn mới là lớn, và lâu dài, vì tổn ở nền gốc.

Người quẻ Tổn thường là người suy nghĩ và ứng xử có chiều sâu, có lý trí, biết nhìn vào thực chất, không nệ vào cái bên ngoài mà đánh giá sự vật.

Người quẻ Tổn thường thích giải quyết những vấn đề có mâu thuẫn bên trong, có kịch tính.

Người quẻ Tổn cũng là người có niềm thông cảm lớn với những hao tổn, mất mát trong cuộc sống. Họ cũng giống người có quẻ Thuần Khảm thích phù suy hơn phù thịnh, thấy người hoạn nạn, tổn thất, suy vi thì thương và ra tay cứu giúp, nhưng họ cũng chỉ cứu giúp bằng tấm lòng thành mà thôi, vì bản thân họ cũng đang trong thời suy.


42) Tổn đến cùng rồi thì phải tăng lên, cho nên sau quẻ Tổn (số 41) đến quẻ Ích (số 42). Ích là tăng lên, làm ích cho nhau.

Quẻ này trái với quẻ Tổn. Quẻ Ngoại vốn là Càn (Thiên), bớt một hào dương, thành quẻ Tốn; quẻ Nội vốn là quẻ Khôn (Địa), được một hào dương quẻ Càn thêm vào, thành quẻ Chấn (Lôi). Vậy là "bớt ở trên, thêm (ích) cho dưới". Còn quẻ Tốn thì ngược lại, “bớt ở dưới, thêm cho trên”.

Xét về tượng quẻ thì Sấm (Lôi) với Gió (Phong) giúp ích cho nhau, vì gió mạnh thì tiếng sấm đi xa, mà sấm lớn thì gió mới dữ. Vì vậy, gọi là quẻ Ích.

Quẻ này minh họa cho quy luật “mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích”, nghĩa là tràn thì cuối cùng sẽ đổ (cuối quẻ Ích), vơi thì cuối cùng được thêm vào (cuối quẻ Tổn). Ðó là quy luật thiên nhiên mà Nho, Lão, Dịch học phái đều xem là quy tắc xử thế.


43) Tăng lên đến cùng cực thì tới lúc tràn đầy, nứt vỡ, nên sau quẻ Ích (số 42) tới quẻ Quải (số 43). Quải có nghĩa là nứt vỡ, lại có nghĩa là quyết liệt.

Tượng quẻ là đầm (Trạch) ở trên, trời (Thiên) ở dưới, là nước đầm dâng lên ngập trời, thế thì tất nhiên, các con đê ngăn nước phải nứt vỡ khắp nơi.

So sánh quẻ Quải này với quẻ Phục, chúng ta thấy dụng ý của cổ nhân.

Quẻ Phục (Địa Lôi Phục - số 24) có “5 tiểu nhân kình với một quân tử “, trong số đó có một tiểu nhân (hào 4) làm nội ứng cho quân tử, cho nên được khen là “một mình biết trở lại điều phải”. Đối với quẻ Quải (Trạch Thiên Quải) thì, trong số “5 quân tử đuổi một tiểu nhân”, lại có một quân tử (hào 3) thân thiện với tiểu nhân, cho nên khuyên là “phải cương quyết tuyệt giao với tiểu nhân đi, thì sẽ không có lỗi”. Còn hào 5, tuy không chính ứng với tiểu nhân, nhưng vì là ngôi chí tôn, cầm đầu phe quân tử, mà lại ở gần tiểu nhân (hào 6), cho nên cũng khuyên “phải cương quyết diệt tiểu nhân, thì sẽ không có lỗi”. “Dịch vị quân tử mưu” là vậy.


44) Lời giảng của Tự quái truyện rất ép: Quải là quyết, phán quyết; phán quyết xong rồi thì biết được lành hay dữ, tất có người để gặp gỡ, cho nên sau quẻ Quải (số 43) tới quẻ Cấu (số 44 - gặp gỡ).

Cách giải thích sau đây có vẻ “dễ nghe” hơn. Tượng quẻ là trời (Thiên) ở trên, gió (Phong) ở dưới, gió đi dưới trời, tất đụng chạm vạn vật, cho nên gọi là Cấu (gặp gỡ).

45) Gặp nhau rồi thì thành bầy, thành bầy thi phải nhóm họp, tụ tập. Cho nên, sau quẻ Cấu (số 44) tới quẻ Tụy (số 45) (nhóm họp, tụ tập).

Tượng quẻ là đầm (Trạch) ở trên đất (Địa), là nước có chỗ tụ lại, cho nên gọi là quẻ Tụy.

Đại ý quẻ này là muốn tập hợp mọi người, lập một đảng chẳng hạn, thì phải là bậc đại nhân: có địa vị cao, có tài, có đức, phải có lòng chí thành, và có một chủ trương chính đáng.


46) Nhóm họp lại thì tất nhiên chồng chất mãi lên. Cho nên, sau quẻ Tụy (số 45) đến quẻ Thăng (số 45 - lên).

Cách giải thích khác: Tốn (Phong) là Gió, mà cũng là Cây. Ở đây hiểu là Cây. Cây mọc ở dưới đất (Địa), mỗi ngày mỗi đâm lên cao, cho nên gọi là quẻ Phong Địa Thăng.

Người quẻ Thăng nhạy cảm với cái mới, như cái mầm cây nhạy cảm với hơi ấm và ánh nắng phía trên, ủng hộ cái mới hết lòng.

Người quẻ Thăng rất giàu mơ mộng và tưởng tượng, rất giàu niềm tin, trong đó có cả niềm tin tâm linh. Nhưng cái tin tâm linh của người quẻ Thăng là tin ở trong lòng, với sự chí thành, lễ nhỏ và đơn sơ mà cảm được tới bề trên. Như cái mầm cây linh cảm thấy hơi ấm và ánh nắng phía trên mà vươn lên, với lòng chí thành, còn lễ lạt thì có gì đâu. Cho nên, người quẻ Thăng thường được người phía trên thông cảm và ủng hộ, dù có người trên không bằng lòng đấy, nhưng không làm hại được người quẻ Thăng.


47) Lên cao mãi thì có lúc sẽ té mà khốn, cho nên sau quẻ Thăng (số 46) tới quẻ Khốn (số 47 - khốn khó, khốn đốn, khốn khổ, khốn cùng).

Tượng quẻ là đầm (Trạch) ở trên mà nước (Thủy) ở dưới, nghĩa là nước trong đầm chảy hết xuống dưới, tiêu hao mất hết, đầm trở nên khô cạn, thành ra cái tượng khốn.

Quẻ Khảm là dương ở cuối, quẻ Đoài là âm ở trên, quân tử bị tiểu nhân che lấp, cho nên gọi là Khốn.

Quẻ Nội có một hào dương bị kẹt giữa hai hào âm; quẻ Ngoại có hai hào dương ở dưới một hào âm, đều là cái tượng quân tử bị tiểu nhân làm khốn.

So sánh ba quẻ Truân, Kiển, Khốn.

- Quẻ Truân là đầu thời khó khăn, còn có thể hành động chút ít để cứu vãn thời thế được.
- Quẻ Kiển là giữa thời có khó khăn, nên chờ thời, không làm gì hết, hoặc có vì bổn phận mà cố làm, thì cũng khó có kết quả.
- Tới quẻ Khốn, thời khó khăn lên tới tột đỉnh. Năm hào đầu tiên đều xấu, chỉ có hào cuối cùng tốt. Đành phải chờ thời, giữ đức trung, chính, lòng chí thành mới qua được cơn khốn.


48) Lên tới cùng thì bị khốn, mà té xuống dưới. Cho nên, sau quẻ Khốn (số 47) tới quẻ Tỉnh (số 48) (Tỉnh là cái giếng, tức là chỗ thấp hơn tất cả).

Theo tượng quẻ, trên là nước (Thủy), dưới là gỗ (Phong ở đây không nên hiểu là Gió, mà hiểu là Cây, là đồ dùng bằng gỗ - chỉ cái gầu múc nước), có nghĩa là, thò cái gầu xuống lấy nước lên.

Quan sát đồ hình của quẻ: dưới cùng là một vạch âm, như mạch nước; rồi tiến lên là hai vạch dương, như lớp đất ở đáy giếng; tiến lên nữa là vạch âm, tức nước giếng, lòng giếng; trên nữa là một vạch liền, giống như cái nắp đậy; trên cùng là một vạch đứt, tức miệng giếng.

Người xưa lấy tượng cái giếng để khái quát một vận mệnh bình yên, tĩnh lặng, như chính cái giếng.

Người quẻ Tỉnh sinh ra để sống một cuộc đời như cuộc đời cái giếng, và sống theo cung cách của một cái giếng, êm đềm như khung cảnh giếng quê. Người xưa tổng kết lối sống ấy thành đạo, gọi là Đạo Giếng.

Bản thể của cái giếng là, ở đâu thì ở đấy, làng ấp còn có khi thay đổi, chứ giếng thì cố định. Câu nói ngắn gọn là “làng đổi, giếng không đổi”. Có giếng là có nước mạch chảy vào giếng mãi, nên nước giếng không bao giờ cạn kiệt, nhưng nước giếng chỉ lên đến một mực nào đó, không khi nào tràn ra. Công dụng của giếng là ai ai cũng đến giếng để lấy nước, kẻ qua người lại luôn, người nào cũng nhờ nó mà có nước, nó giúp đỡ mọi người một cách vô tâm, vô tư.

Nói về việc người đi lấy nước, đã gần tới giếng rồi, chưa kịp thòng dây gầu xuống, mà đánh vỡ bình đựng nước, hoặc bị thủng cái gầu múc nước, thì thật uổng công. Khái quát lại là, làm việc gì cũng phải cẩn thận, đến nơi đến chốn, để khỏi bị thất bại nửa chừng.

Phan Bội Châu bình giảng: Chỉ có mấy câu mà suy vào triết học rất có thú vị. Đạo trời đất ở giữa vũ trụ, mặc dầu cuộc đời bể dâu, thói đời nóng lạnh, mà trời đất vẫn cứ y nhiên. Thế là làng đổi, giếng không đổi. Làng là nhân tạo, Giếng là thiên nhiên. Biến đổi là nhân tạo, không biến đổi là thiên nhiên. Đó là nguyên lý của tạo hóa. Lại nói về chuyện múc nước giếng. Đó là cái ví dụ để nói về việc con người trong thực tế. Hễ làm một việc gì, tất phải làm cho đến thành công, vô luận thờ một chủ nghĩa gì, hay mưu một sự nghiệp gì, tất phải làm cho đến nơi, mới thấy được kết quả của việc ấy. Nếu giữa đường mà vứt quách, hoặc gần tới nơi mà bỏ bễ, thì tuy chưa thất bại, cũng gọi là thất bại.

Tỷ như: người đi múc nước giếng, sắp sửa tới nơi, nhưng chưa kịp giòng dây gầu xuống, thình lình vỡ mất cái bình đựng nước, té ra công đi tới giếng hoàn toàn hỏng ráo, chẳng uổng công lắm hay sao? Chúng ta xem câu thí dụ ấy thì biết rằng, chương trình làm việc phải có ba giai đoạn: Đoạn thứ nhất là phải thăm dò cho ra giếng. Đoạn thứ hai là phải cố công đi cho tới giếng, và dụng công giòng dây xuống giếng, bao giờ múc được nước lên mới thôi. Đoạn thứ ba là trong thời gian ấy, phải hết sức giữ gìn vật liệu dụng cụ, chớ để nửa chừng đổ vỡ; nếu không vỡ bình, thì nước chắc về đến nhà, đó mới là thành công.

Đau đớn thay, nước chưa kịp múc xong, mà bình đã nứt vỡ, công phu đi tới giếng, chẳng hóa ra "dã tràng xe cát biển Đông". Vậy nên, làm việc gì mọi người cần có gan lớn, mà cũng cần phải có tâm, để ý những việc nhỏ, đó là cái thâm ý lời quẻ Tỉnh dạy cho chúng ta vậy. Người xưa nói Đạo Giếng là vậy.

Người được quẻ Tỉnh là người có phúc lớn, khác nào cái giếng nước mạch đã lên cao, chỉ còn múc lên ăn thôi. Là người ngay thẳng, thận trọng, chu đáo. Dù cuộc đời có bể dâu, nóng lạnh mà trời đất vẫn y nguyên. Nhưng phải yên tĩnh, động thì nguy.

Để ý sẽ thấy, quẻ Tỉnh này có điểm đặc biệt là các hào càng lên cao càng tốt, tốt nhất là hào trên cùng.

Thường các quẻ khác, hào trên cùng có nghĩa là cùng cực: hễ là quẻ tốt như quẻ Càn, quẻ Thái, thì hào trên cùng xấu; nếu là quẻ xấu như quẻ Bĩ, quẻ Khốn thì hào trên cùng tốt, vì quy luật là: cực thì phải biến, tốt biến ra xấu, xấu biến thành tốt.

Đối với quẻ Tỉnh này, cùng với quẻ Đỉnh (só 50) và một số quẻ nữa như quẻ Tiệm (số 53), hào trên cùng không có nghĩa cùng cực, mà có nghĩa là lúc cuối (chung cuộc). Lúc nước giếng đã múc lên (trong quẻ Tỉnh) hoặc thức ăn trong vạc đã chín (trong quẻ Đỉnh), là lúc mọi việc đã hoàn thành, cho nên đều tốt cả.


49) Nước giếng tích trữ lâu ngày, bụi cát và các vật dơ bẩn mỗi ngày mỗi nhiều, giếng không còn trong sạch nữa, phải tát hết nước cũ để nước mạch mới chảy vào thay thế. Cho nên, sau quẻ Tỉnh (số 48) tới quẻ Cách (số 49). Cách nghĩa là thay đổi, như trong các từ cải cách, biến cách, cách mạng.

Sáu hào của quẻ này diễn đúng những giai đoạn từ bước đầu khó khăn, đến lúc cải cách thành công.

Phải có đủ những điều kiện: hợp thời, hợp đạo, có địa vị, có tài đức, sáng suốt rất thận trọng (tính toán, sắp đặt kế hoạch kỹ lưỡng ba lần), có lòng chí thành, tính hòa duyệt, được nhiều người tin, thì mới thực hiện được công cuộc cải cách. Cần nhất là được lòng tin, chí công vô tư.


50) Cách là biến đổi, có công dụng “cách vật” (biến đổi các vật). Ví dụ dễ thấy nhất là cái đỉnh (cái vạc), vì nó dùng để nấu ăn, biến đồ sống thành đồ chín. Cho nên, sau quẻ Cách (số 49) tới quẻ Ðỉnh (số 50).

Ở trên đã xét quẻ Tỉnh, nói về việc uống; thì tiếp nối ở đây, tất nhiên là quẻ Đỉnh, nói về việc ăn.

Nhìn vào đồ hình của quẻ, ta thấy, vạch đứt (vạch âm) ở dưới cùng, như cái chân vạc; ba vạch liền (vạch dương) ở trên như cái thân vạc đang chứa đựng thức ăn; vạch đứt (vạch âm) ở trên nữa như hai cái quai vạc; vạch liền (vạch dương) ở trên cùng là cái đòn để khiêng vạc, vì vậy mà gọi là quẻ Đỉnh.

Theo nghĩa thì quẻ Nội vốn là Tốn, là cây, gỗ, củi (ở đây không nên hiểu Tốn là gió), quẻ Ngoại vốn là Ly, là lửa; đút cây củi vào lò lửa để nấu chín thức ăn.


51) Vạc (đỉnh) là một đồ dùng quan trọng trong nhà. Làm chủ giữ nó, không ai bằng con trai trưởng. Cho nên, sau quẻ Ðỉnh (số 50), tới quẻ Chấn (số 51). Chấn là sấm, mà cũng là trưởng nam.

Cũng theo ý ấy, có người lập luận rằng, đỉnh là đồ dùng khi tế tự. Chấn là trưởng nam, có thể thay mặt cha tế tự. Vì thế, sau quẻ Đỉnh là quẻ Chấn.

52) Không thể động mãi được, sẽ tới lúc phải ngưng. Cho nên, sau quẻ Chấn (số 51) tới quẻ Cấn (số 52). Cấn có nghĩa là núi, núi đứng yên một chỗ, cho nên cũng có nghĩa là ngưng lại, ngừng lại.

Một cách giải thích khác: Quẻ này vốn là quẻ Khôn. Lấy nét thứ ba, dương của quẻ Càn, thay vào nét thứ ba, âm của Khôn, mà thành một nét dương ở trên, hai nét âm ở dưới. Nét dương ngưng lại ở trên, hai nét âm cũng bị chặn ở dưới, cho nên đặt tên quẻ là quẻ Cấn (ngừng).

Cụ Phan Bội Châu nhận xét rằng, trong Kinh Dịch có 8 quẻ mà quẻ Ngoại là quẻ đơn Cấn, tức các quẻ: Bĩ, Bác, Ðại Súc, Cổ, Di, Tổn, Mông và quẻ Thuần Cấn, thì hào trên cùng của 8 quẻ đều tốt. Như vậy, Kinh Dịch rất trọng Núi, vì Núi có đức “trọng hậu”.

Người mang quẻ Cấn trong mệnh là người yêu cái đẹp hoành tráng, ham thích sự tích lũy, chứa chất, nhất là về đời sống tinh thần, sống đầy đặn, trọng hậu; luôn biết đến đèo dốc cuộc đời, biết tiến nhưng cũng biết ngừng. Đặc biệt, dễ rung động trước cảnh rừng núi.

Không phải ai có quẻ Cấn trong mệnh thì cũng đều như thế, vì còn có quân tử, tiểu nhân, nhưng thiên hướng chung là như thế, nhất là với các nhà văn, nghệ sĩ, những người hơn ai hết, nhậy cảm với số mệnh mình.

Người quẻ Cấn là người sống đầy đặn, có hậu, là người biết ngừng lại ở nơi tĩnh lặng nhất, để đạt tới sự chí thiện, trong sáng nhất. Ngưng tĩnh đến mức quên có thân mình, đi trong sân đông người mà không thấy người (bất hoạch kỳ thân, hành kỳ đình bất kiến kỳ nhân).

Người quẻ Cấn là người lớn thì làm ngoại giao, nhỏ thì làm giáo sư, ít ra thì cũng là người ưa “luận bàn kim cổ, được bạn bè hội tụ”.


53) Ngừng rồi, thì có lúc phải tiến lần lần. Cho nên, sau quẻ Cấn (số 52) tới quẻ Tiệm (số 53). Tiệm là tiệm tiến, tiến lên lần lần.

Quẻ này trên là Tốn (Phong, ở đây hiểu là Cây), dưới là Cấn (Sơn, hiểu là Núi). Trên núi có cây, có cái tượng từ dưới thấp dần dần tiến lên cao, nên đặt tên là Tiệm.

Cấn còn có nghĩa là ngăn, Tốn còn có nghĩa là thuận. Ngăn ở dưới mà thuận ở trên, để cho tiến, nhưng không cho tiến vội, mà chỉ tiến dần dần thôi.


54) Đã tiến lên thì phải tới, về một nơi nào đó (nơi đó là mục đích). Cho nên, sau quẻ Tiệm (số 53) tới quẻ Quy Muội (số 54). Quy là về, muội là em gái; “quy muội” là em gái về nhà chồng.

Quẻ Nội vốn là Đoài (con gái út), quẻ Ngoại vốn là Chấn (con trai lớn); Chấn lại có nghĩa là động, Đoài có nghĩa là vui vẻ, thuận theo; con gái nhỏ về với trưởng nam, cho nên gọi là Quy Muội.

Thoán từ chê quẻ này là xấu, lý lẽ như sau:

- Cặp trai gái này không xứng nhau: trai lớn quá (trưởng nam), mà gái nhỏ quá (con gái út).
- Tình của họ không chính đáng: cô gái chỉ vì vui (hoà duyệt, đức của nội quái Ðoài), mà tự động (Chấn) theo anh con trai. Cũng có thể giảng là, vì gái cầu trai, mà trai đã bị động theo gái; như vậy là bất chính. Sự bất chính đó còn thấy trên 4 hào ở giữa nữa: không một hào nào ở vị chính đáng.
- Lại thêm hào 3 và hào 5 đều là âm mà cưỡi lên dương (hào 4 và hào 2): có cái tượng vợ bắt nạt chồng).


55) Quy là về, là tới nơi, tới mục đích, đạt kết quả (quy kết). Mà đã đạt được kết quả thì thịnh lớn. Cho nên, sau quẻ Quy (Muội) (số 54), tới quẻ Phong (số 55)(thịnh lớn).

Tượng quẻ này, dưới là Ly (Hỏa, sáng suốt), trên là Chấn (Lôi, động). Sáng suốt mà hành động, thì làm nên được sự nghiệp thịnh lớn. Chỉ bậc vương giả có quyền có vị mới làm tới nơi được. Khi đã thịnh lớn thì người sáng suốt biết rằng, việc rồi sẽ đến hồi phải suy, nên thường lo lắng. Nhưng đừng nên lo lắng suông, cứ giữ được đạo trung như mặt trời (Ly cũng có nghĩa là mặt trời) đứng ở giữa trời, thì sẽ tốt.

Tên quẻ là Thịnh lớn, rất tốt, mà không có hào nào thật tốt, hào nào cũng có lời răn đe. Cổ nhân muốn cảnh cáo chúng ta: ở thời thịnh lớn, có phúc thì cũng tức là đã có sẵn mầm hoạ, phải cẩn trọng lắm mới được.

Đối với các quẻ khác, thường thì hào dương ứng với âm, hào âm ứng với dương mới tốt. Riêng quẻ này, trái lại, hào dương ứng với dương (như hào 1 và hào 4) mới tốt. Đó cũng là một lời khuyên nữa: ở thời thịnh lớn, người ta thường vì quyền lợi mà chia rẽ nhau, do đó mà hoá suy. Phải biết đồng đức, đồng tâm với nhau, thì mới tránh được tai họa.


56) Thịnh lớn đến cùng cực thì phải suy, đến nỗi mất cả chỗ ở, phải đi ở nhờ ở đậu nơi đất khách quê người. Cho nên, sau quẻ Phong (số 55), tới quẻ Lữ (số 56). Lữ là bỏ nhà mà đi tha phương.

Người được quẻ Lữ là người có số phận làm khách giang hồ.

Sau khi bình giảng quẻ Lữ, cụ Phan Bội Châu ghi máy dòng cảm tưởng:

“Xử cảnh khốn nạn, không gì bằng Lữ; thiệp thế rất khó khăn, cũng không gì bằng Lữ. Tạp quái (truyện) nói rằng: Lữ là ít người thân yêu, là đường cùng khốn của người vậy: Lữ quả thân dã, nhân chi cùng dã”.

“Tuyền sáu hào, không một chữ cát, chữ hanh nào cả . . Dở sinh gặp hồi đen rủi, gởi thân ở đất khách quê người . . may khỏi tai hoạ, là hạnh phúc đã lớn rồi. Vậy nên, trung chính như Lục nhị (hào 2, âm), văn minh nhu trung như Lục ngũ (hào 5, âm), mà hào từ không có chữ cát hanh. Huống gì quá cương, bất trung như Cửu tam (hào 3, dương). Thượng cửu (hào trên cùng, dương) nữa ru? Vậy nên, người ở vào thời Lữ, nên mang chặt lấy hai chữ “nhu, trung” làm bùa hộ thân”.

Đọc lời của Cụ, chúng ta vô cùng cảm thán. Suốt mấy chục năm, vì Tổ quốc, dân tộc, Cụ gửi thân quê người, gặp biết bao cảnh tủi nhục, nỗi gian nguy. Rốt cuộc, Cụ cũng không tránh khỏi tai hoạ, nhưng lúc nào Cụ cũng giữ được tư cách, khí phách, chí hướng. Có ai hiểu được tình cảnh lữ thứ, hiểu được quẻ Lữ hơn Cụ Phan?


57) Lâm vào cảnh ở quê người, thì thái độ nên phục tùng người. Cho nên, sau quẻ Lữ (số 56) tới quẻ Tốn (số 57). Tốn là gió, mà cũng có nghĩa là thuận, là nhập vào.

58) Tốn có nghĩa là nhập vào, hễ nhập được vào lòng nhau, hiểu lòng nhau, thì mới ưa nhau mà hoà duyệt, vui vẻ với nhau. Cho nên, sau quẻ Tốn (số 58) tới quẻ Đoài (số 58). Đoài là đầm hồ, mà cũng có nghĩa là vui vẻ, hoà duyệt.

Đoài là đầm hồ, mà cũng là thiếu nữ. Nước đầm làm cho cây cỏ vui tươi, sinh vật vui thích; thiếu nữ làm cho con trai vui thích.

59) Hoà vui đến cực điểm rồi thì sẽ ly tán, vì vậy sau quẻ Đoài (số 58) đến quẻ Hoán (số 59) . Hoán là lìa, tan tác.

Tên đầy đủ của quẻ này là Phong Thủy Hoán. Trên là Gió, dưới là Mây, Nước; gió thổi trên mây, làm mây tan rã ra; gió thổi trên nước, làm nước tung tóe ra. Cho nên, đặt tên quẻ là Hoán.

Người được quẻ Hoán là người phải chịu cảnh lìa tan, cũng là người cứu sự lìa tan. Lìa tan không nhất định là xấu hay tốt. Đi nắng gió phải cảm mà xông thuốc cho mồ hôi tán ra, thì Hoán ấy là tốt. Dân gặp nạn bão lụt phải xuất kho dự trữ quốc gia cứu dân, thì việc phân tán của cải ấy là hay (Hoán hanh). Ngày xưa, nguyên thủ được quẻ này xem quẻ mà dâng lễ lên bề trên, hoặc dựng miếu thờ để quy tụ lòng dân cho khỏi tản ra (vương cách hữu miếu). Quẻ rất lợi cho những ai sẵn sàng vượt sông lớn cứu nạn lìa tan (lợi thiệp đại xuyên). Gặp cảnh lìa tan mà giữ gìn chính đáng thì có lợi (lợi trinh).

Cụ Phan Bội Châu so sánh quẻ Hoán (chia lìa) với quẻ Tụy (tụ lại), đại ý như sau:

Tụy và Hoán là hai thời trái ngược nhau, một thời nhóm họp, một thời lìa tan, nhưng thời nào cũng hanh thông được cả, miễn là biết hành động hợp lúc và có lòng chí thành. Thoán từ khi nói về hai quẻ này, đều có 4 chữ: “Vua tới Thái miếu”, nghĩa là phải chí thành như nhà vua khi vào tế ở Thái miếu.

Nhưng hai quẻ khác nhau ở chỗ. Tụy có 4 chữ: “Lợi kiến đại nhân”, Hoán có 4 chữ: “Lợi thiệp đại xuyên”.

Vì ở thời Tụy, thuận cảnh, chỉ cần có người tài đức là làm nên việc. Ccòn ở thời Hoán, nghịch cảnh, không những phải có tài đức, mà lại phải mạo hiểm nữa. Đó là thâm ý của cổ nhân.

Sáu hào quẻ Hoán ý nghĩa rất phân minh: hào 1, còn mong cứu chữa được; hào 2, ly tán đã nhiều rồi, chưa cứu được; hào 3, có thể bắt tay làm việc, muốn vậy phải bỏ lòng vị kỷ đi; hào 4, phải giải tán bè phái để đoàn kết toàn dân; hào 5, phải ra hiệu lệnh mới, ban phát của riêng; hào 6 thì thành công. Quan trọng nhất là lời khuyên ở hào 4 và hào 5.


60) Không thể để cho ly tán mãi được, tất phải chặn bắt lại, tiết chế lại. Cho nên, sau quẻ Hoán (số 59) tới quẻ Tiết (số 60).

Theo tượng quẻ, trên Đầm có Nước; bờ đầm hạn chế lượng nước chứa trong đầm, cho nên đặt tên là quẻ Tiết.

Quẻ này ngược với quẻ Khốn - đầm (Trạch) ở trên, mà nước (Thủy) ở dưới, nước trong đầm chảy hết xuống dưới, tiêu hao hết, làm cho đầm bị khô cạn.
Ý quẻ này nhắc nhở: Sau một cuộc ly tán, phong tục suy đồi, kinh tế cùng quẫn, cho nên phải tiết chế các nhu cầu. Nhưng tiết chế một cách vừa phải thôi, không nên thái quá, mà phải hợp thời, thì mới tốt.


61) Đã định tiết chế, thì người trên phải giữ đức tín, để người dưới tin theo. Cho nên, sau quẻ Tiết (số 60), tới quẻ Trung Phu (số 62). Trung Phu là có đức tin (phu) ở trong (trung) lòng.

Gió (Phong) ở trên, Đầm (Trạch) ở dưới, là gió làm động được mặt nước, như lòng thành thực cảm động được lòng người.

Quẻ này ở giữa có hai hào âm (vạch đứt), như trong lòng trống rỗng (hư tâm), không có tư dục, tư ý. Còn 4 hào dương (vạch liền), đặc, thực (trái với hư), trong đó hào 2 và hào 5 lại đắc trung (ở giữa quẻ Nội và quẻ Ngoại). Vậy là có đức trung thực. Do đó mà đặt tên quẻ là Trung Phu.

Theo nghĩa thì trên là Tốn, thuận với người dưới; dưới là Đoài, phục tùng người trên; như vậy là cảm hoá được dân.

Lòng thành tín (trung phu) là tốt, nhưng chớ có lạm dụng thái quá, mà phải biết biến thông. Cụ Phan Bội Châu nhắc câu chuyện ngụ ngôn, có anh chàng họ Vĩ thời Xuân Thu hẹn với một người con gái đợi nhau ở dưới chân cầu. Nhưng vì một lý do nào đấy, người con gái không tới. Trong lúc nước sông dâng lên cao, anh chàng vẫn quyết chí đợi, cứ ôm chân cầu chịu chêt. Tín như vậy là ngu tin, không biết biến thông.


62) Tin (trung phu) mà làm ngay, không xét điều tin đó phải hay không, thì có thể mắc lầm lỗi. Cho nên, sau quẻ Trung Phu tới quẻ Tiểu Quá. Quá có hai nghĩa: (1) lỗi, lầm lỗi; (2) ra ngoài cái mức vừa phải. Thoán từ dùng nghĩa thứ hai.

Quẻ này trái với quẻ Đại Quá (số 28). Nhìn vào đồ hình hai quẻ, ta thấy:

Quẻ Đại Quá có 4 hào dương ở giữa, 2 hào âm ở dưới cùng và trên cùng, như vậy, dương nhiều hơn âm. Mà dương có nghĩa là lớn, âm là nhỏ, cho nên, Đại Quá có nghĩa là cái lớn (dương) nhiều hơn.

Quẻ Tiểu Quá có 2 hào dương ở giữa, 4 hào âm kẹp ở trên và dưới, như vậy là âm (tức cái nhỏ) nhiều hơn dương (tức cái lớn). Cho nên, đặt tên là Tiểu Quá. Tiểu Quá là cái nhỏ nhiều hơn; nhưng cũng có nghĩa là quá đi chút ít.


63) Quá là hơn. Tài đức có chỗ nào hơn người trong một việc gì đó, thì làm nên việc ấy. Cho nên, sau quẻ Tiểu Quá (số 62) tởi quẻ Ký Tế (số 63). Tế là vượt qua sông, là nên; Ký tế là đã vượt qua, đã nên, đã thành.

Quẻ này có tượng trên là Nước (Thủy), dưới là Lửa (Hỏa). Lửa có tính bốc lên mà lại ở phía dưới nước; nước thì chảy xuống; thế là nước với lửa giao với nhau, giúp nhau mà thành công. Cũng như nồi nước để trên bếp lửa, lửa bốc lên thì nước trong nồi mới nóng, mới sôi được (mới thành công, làm nên được).

Một cách hiểu khác: Tượng quẻ là Mặt trăng ở bên trên Mặt trời, phía bên dưới là hoàng hôn. Thời cổ xưa, hễ mặt trời mọc là người ta ra đồng làm việc, đến khi tắt nắng mới nghỉ ngơi, nên thấy hoàng hôn là biết thời điểm kết thúc làm lụng.

Ký Tế vốn là một quẻ tốt, nhưng chỉ 3 hào đầu là khá tốt, còn 3 hào sau thì càng tiến lên càng xấu: hào 5, kém phúc hào 2, còn hào trên cùng (ướt đầu) so với hào 1 (ướt đuôi) còn xấu hơn nhiều. Vẫn là lời khuyên: gặp thời thịnh phải cẩn thận, đề phòng lúc suy.


64) Ký Tế là qua sông rồi, cùng rồi. Nhưng theo luật thiên nhiên, không có lẽ nào hết hẳn được, hết mùa này đến mùa khác, hết thời này đến thời khác, hết lớp này đến lớp khác, sinh sinh hoá hoá hoài, cứ biến hóa vô cùng. Cho nên, tuy xong rồi, nhưng vẫn là chưa hết, chưa cùng, do đó, sau quẻ Ký Tế tới quẻ Vị Tế: chưa qua sông, chưa xong, chưa hết.

Cụ Phan Bội Châu giảng, quẻ Vị Tế nhấn mạnh rằng “chưa sang sông” (vị tế), chứ không phải là “không sang sông” (bất tế). Lời quẻ cũng nhấn mạnh rằng, muốn "sang sông" được, thì cốt nhất là tính cẩn thận, đừng hấp tấp như con chồn mới ở bờ sông mà đã làm ướt đuôi, ướt đuôi thì bơi sang sông làm sao được !

Người xưa kết thúc bộ Kinh Dịch bằng quẻ Vị Tế (chưa xong việc) mà trước đó lại là quẻ Ký Tế (đã xong việc). Ý nghĩa của nó là, mọi sự việc tưởng chừng như đã kết thúc, nhưng thực ra thì không bao giờ kết thúc. Suy rộng ra, vạn vật trong vũ trụ cũng vậy. Sự vận động, sự biến đổi trong vũ trụ bao la này không có khởi đầu, mà cũng chẳng có cuối cùng.

Kinh Dịch bắt đầu bằng hai quẻ Càn, Khôn, gốc của vạn vật; ở giữa là hai quẻ Hàm và Hằng, đạo vợ chồng, gốc của xã hội; đóng lại với hai quẻ Ký Tế và Vị Tế, đã xong rồi lại chưa xong. Như vậy là hàm cái nghĩa: việc trời đất cũng như việc của loài người, không bao giờ xong, cái gì tới chung cục rồi, lại tiếp ngay tới khởi nguồn của một cái khác.

Đạo Dịch cũng vậy, không bao giờ hết. Dịch cho ta niềm hy vọng ở tương lai. Thật là một triết lý lạc quan.


------------(Hết)------------



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 16.12.2015, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 38, 39, 40 ... 44, 45, 46  Trang kế
Trang 39 trong tổng số 46 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser