vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam
Chuyển đến trang 1, 2, 3, 4, 5, 6  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 12.03.2014    Tiêu đề: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

BẢO TÀNG MỸ THUẬT VIỆT NAM

Một chiều chủ nhật, tôi đưa chú nhóc đi xem phim hoạt hình. Trong khoảng thời gian chờ đợi, không biết làm gì, đành ghé chân vào thăm Bảo tàng Mỹ thuật ở cuối phố Cao Bá Quát. Hồi học cấp 2 cấp 3, tôi vẫn thường cuốc bộ hay đạp xe qua đây, nhưng chưa một lần bước chân vào.

Xem xong trở về nhà, định bụng truy cập vào trang web của Bảo tàng để "làm rõ" thêm một số điều, nhưng khá thất vọng, vì thông tin trên trang web nghèo nàn quá, không đầy đủ.

Thiết nghĩ, nếu mình chịu khó post những hình ảnh đã thu thập được lên vnkatonak.com, may ra, có thể giúp cho những thành viên ở xa cũng được thưởng thức và ngắm nhìn các tác phẩm trưng bày trong Bảo tàng như mình.

Giới thiệu sơ lược về Bảo tàng

Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (tên tiếng Anh: Vietnam Fine Arts Museum, tên tiếng Pháp: Musée des Beaux-Arts du Vietnam), là một trong những bảo tàng có vị trí quan trọng nhất trong việc lưu giữ kho tàng di sản văn hóa nghệ thuật của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Tòa nhà bảo tàng được người Pháp xây dựng vào những năm 30 của thế kỷ XX với chức năng ban đầu là nơi dành cho các nữ sinh - là con gái của các quan chức người Pháp và quan lại người bản xứ từ khắp Đông Dương về Hà Nội trọ học. (Cách đó không xa, trên phố Trần Phú là Tòa nhà Trường trung học nữ sinh – một thời là Đại sứ quán Liên Xô, nay là Tòa nhà Bộ Tư pháp).

Năm 1962, nhà nước Việt Nam giao cho Bộ Văn hóa cải tạo tòa nhà, từ chỗ mang dáng dấp kiến trúc phương Tây, được bổ sung những chi tiết trang trí kiến trúc đình làng Việt Nam, để làm nơi trưng bày vĩnh viễn các tác phẩm mỹ thuật Việt Nam. Năm 1966, Bảo tàng chính thức khánh thành với diện tích mặt bằng là 4.200 m2 và diện tích trưng bày là 1.200m2. Từ năm 1997 đến năm 1999, khuôn viên Bảo tàng được mở rộng với diện tích là 4.737 m2 và diện tích trưng bày là 3.000m2.

Hiện tại, Bảo tàng lưu giữ trên 20.000 hiện vật trong nước, tiêu biểu cho nền Mỹ thuật Việt Nam từ thời Tiền sử đến nay.

Các chủ đề trưng bày gồm:

* Mỹ thuật thời Tiền sử - Sơ sử.
* Mỹ thuật thời kỳ đồ đá.
* Mỹ thuật thời kỳ đồ sắt.
* Mỹ thuật từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX.
* Mỹ thuật thời Lý - thời Trần
* Mỹ thuật thời kỳ Lê Sơ - Mạc - Lê Trung Hưng.
* Mỹ thuật thời Tây Sơn - thời Nguyễn.
* Mỹ thuật đương đại (tranh tượng thế kỷ XX).
* Tranh tượng sáng tác trước Cách mạng tháng Tám (1925-1945).
* Tranh tượng sáng tác trong giai đoạn Kháng chiến chống Pháp (1945-1954).
* Tranh sơn mài và điêu khắc hiện đại.
* Tranh lụa và điêu khắc hiện đại.
* Tranh giấy và điêu khắc hiện đại.
* Tranh sơn dầu và điêu khắc hiện đại.
* Mỹ thuật ứng dụng.
* Mỹ thuật dân gian.
* Tranh dân gian.
* Tranh thờ miền núi.
* Gốm nghệ thuật Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XX.
* Gốm thời Lý-Trần (thế kỷ XI đến thế kỷ XIV)
* Gốm từ thế kỷ XV đến XIX.
* Gốm hiện đại (thế kỷ XX).

So với nhiều bảo tàng tên tuổi trên thế giới, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam còn ở mức khiêm tốn và trẻ trung. Tại đây, trên 2.200 hiện vật chọn lọc được trưng bày thường xuyên, còn lại toàn bộ hiện vật được lưu trữ và bảo quản tại kho lưu trữ bảo quản học.

Các tác phẩm và hiện vật đem trưng bày gồm:

* Sưu tập Hội họa: 6.310 tác phẩm
* Sưu tập Điêu khắc: 993 hiện vật
* Sưu tập Mỹ thuật truyền thống: 2.012 hiện vật
* Sưu tập Gốm: 6.455 hiện vật
* Sưu tập Mỹ thuật nước ngoài: trên 400 hiện vật


TÒA NHÀ BẢO TÀNG




Toàn cảnh Bảo tàng



Tòa nhà Bảo tàng là sự kết hợp kiến trúc phương Tây với kiến trúc phương Đông



Mái che



Ngay cổng ra vào sừng sững chiếc cột đá với dòng chú thích bằng 3 thứ tiếng.

CỘT CHẠM RỒNG
Chùa Dạm – tỉnh Bắc Ninh
Thế kỷ 11
Chất liệu : bê tông

COLUMN ENGRAVED WITH DRAGONS
DAM PAGODA – BAC NINH PROVINCE
11-th Century

COLONNE GRAVÉE DE DRAGONS
PAGODE DAM – PROVINCE DE BAC NINH
11-e Siécle



Bảng hướng dẫn sơ đồ tham quan cho du khách



Sơ đồ tham quan Tầng 1



Sơ đồ tham quan Tầng 2



Sơ đồ tham quan Tầng 3



Các bảng hướng dẫn lối đi treo ở nơi dễ nhìn, rất cẩn thận, chu đáo và tạo cảm giác mỹ quan (khác hẳn với những bảo tàng khác)



Cầu thang



Lan can



Hành lang



Khách tham quan



Kết hợp trưng bày tranh và tượng



Một số bức tượng được tận dụng đặt ở hàng lang



Nếu có nhu cầu, có thể thuê thuyết minh



Thích thú chụp ảnh



Bàn đóng góp ý kiến



Hộp thư góp ý



Có thể góp ý bằng 1 trong 3 thứ tiếng: Việt, Anh, Pháp



Không gian sáng tạo cho trẻ em



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 24.03.2014, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
sonhai
Quản trị
Quản trị


Ngày tham gia: Nov 16, 2005
Bài gửi: 1601
Đến từ: Hanoi, Vietnam

Bài gửigửi: 12.03.2014    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Ôi Mỹ Thuật!


Và còn SU TẬP, Cửa hàng Lư niệm...

Liệu GĐ bảo tàng nó có đi thăm bảo tàng không nhỉ, hay là nó còn lo chạy các cấp để có tiền làm những chiếc bảng hướng dẫn... Nó có đáng từ chức không nhỉ????
_________________
HƯỚNG DẪN CÁC VẤN ĐỀ VỀ ẢNH
Vẫn có thể gõ được chữ Việt có dấu nếu nhấn vào phím F8!
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 12.03.2014    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

@Bác Tổng:

Lỗi mấy thằng CNTT anh ạ.

Hòi xưa, đưa chữ "Ư" không dấu lên trang web rất khó.

Hình như nó chạm vào mã của ký tự điều khỉển nào đó.

Giờ thì đơn giản rồi, nhưng "tác giả" không đọc trang web của mình, nên đi theo chủ nghĩa Makeno.

Ph
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 13.03.2014    Tiêu đề: Re: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

BẢO TÀNG MỸ THUẬT VIỆT NAM


MỸ THUẬT THỜI LÝ-TRẦN VÀ MỸ THUẬT CHĂM-PA


The art of the Ly - Tran dynasties (11-th to 14-th century) and the Champa civilization (from the 8-th to the 12-th century)

After the victory over the Chinese invaders in 938, the State of Dai Viet was established by Ly Thai To in 1010. Buddhism was influential and practiced in the society. Concurrently with the building of Thang Long capital, present-day Hanoi, the Imperial Court and the people constructed a great many large pagodas. Architecture for royal and religious purposes boomed, creating favorable conditions for sculpture and painting.

The distinct traditions in Central Vietnam, of the Ly - Tran dynasties (11-th to 14-th century) and the Champa civilization, at its height from the 8-th to the 12-th century, creating massive and ingenious stone and terra cotta sculpture and architecture, exhibit the complex and creative traditions of this region, and document trade links extending to India, China and the Mediterranean.




Phòng trưng bày mỹ thuật thời Lý, thời Trần và đan xen mỹ thuật Chăm-pa



Bảng giới thiệu mỹ thuật thời Lý-Trần và mỹ thuật Chăm-pa


MỸ THUẬT THỜI LÝ

Nhà Lý (1010-1225) mở đầu thời đại phong kiến tự chủ và ghi dấu ấn bằng sự kiện dời đô từ Hoa Lư về Đại La.

Tại kinh đô mới Thăng Long (Rồng bay lên), việc kiến tạo các công trình, cung điện, đền đài nguy nga đẹp đẽ là việc đương nhiên.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư mô tả việc xây dựng kinh thành của vua Lý Thái Tổ như sau:

Xây các cung điện trong kinh thành Thăng Long. Phía trước dựng điện Càn Nguyên làm chỗ coi chầu, bên tả làm điện Tập Hiền, bên hữu dựng điện Giảng Võ. Lại mở cửa Phi Long thông với cung Nghênh Xuân, cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn. Ở hướng chính Nam, dựng điện Cao Minh, đều có ba thềm rồng, trong thềm rồng có hành lang dẫn ra bốn phía xung quanh...

Nghệ thuật kiến trúc phát triển, tạo đất cho mỹ thuật cùng phát triển.

Thời Lý cũng là thời Phật giáo được tôn sùng và ưu ái. Vì vậy, nói đến mỹ thuật thời Lý là nói đến mỹ thuật cung đình và mỹ thuật Phật giáo. Trong suốt 2 thế kỷ XI-XII, với tinh thần dân tộc độc lập mạnh mẽ, đã hình thành một phong cách đặc biệt về phương diện mỹ thuật.

Trong sử cũ có ghi chép lại việc nhiều chùa chiền được xây với quy mô đồ sộ, trang hoàng đẹp đẽ, song đáng tiếc, do chiến tranh và do thời tiết hủy hoại, đến nay còn lại chỉ là những hiện vật, những tác phẩm bằng chất liệu đá và đất nung.

Nổi lên các chùa lớn là chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Dạm (Bắc Ninh), chùa Long Đọi (Hà Nam). Năm 1049, Lý Thái Tông cho xây chùa Diên Hựu (chùa Một Cột), dựng cột đá ở giữa ao, làm tòa sen của Phật Quan Âm đặt trên cột đá. Năm 1105, Lý Nhân Tông sửa lại cảnh chùa, vét đất tạo hồ dưới chân Liên Hoa đài, đặt tên là hồ Linh Chiểu, thả sen trong hồ, bên ngoài có lan can chạm vẽ xung quanh, lại đào hồ Bích Trì có cầu bắc qua để đi lại…

Thời Lý có nhiều quần thể chùa – tháp lớn. Kiến trúc chùa thời Lý thường có nhiều tầng nền giật cấp, bạt sâu vào sườn núi, cao dần lên đỉnh, chỉ riêng tầng nền đã có chiều dài 120 mét và rộng 70 mét, tất cả được kè đá và bố cục đối xứng qua trục chính tâm và quy hoạch tổng thể, kết hợp hài hòa giữa chùa và tháp. Trong chùa đặt tượng thờ, đồ thờ với nhiều chất liệu khác nhau, kết hợp cả 3 yếu tố thiền, tịnh, mật của các tông phái Phật giáo.

Bên trong các chùa thường có tháp lớn như: tháp Báo Thiên 12 tầng – cao vài chục mét, tháp Phổ Minh cao 14 tầng – 21 mét, tháp Chiêu Ân 9 tầng, tháp Phật Tích 10 tầng, tháp Sùng Thiện Diên Linh 13 tầng, tháp Vạn Phong Thành Thiện… Các tháp được trang trí tượng tròn, phù điêu bằng đá, đất nung đẹp và nhiều tranh vẽ Phật trên tường và các bức chạm lộng bằng gỗ với chủ đề động vật, thực vật tươi vui.

Ngoài chùa, nhà Lý còn xây dựng nhiều công trình khác như đền Đồng Cổ, lầu gác trên núi Cung, và đặc biệt là Văn Miếu - Quốc Tử Giám...

Nghệ thuật đúc chuông – tô tượng rất phổ biến. Quốc gia Đại Việt có 4 công trình nghệ thuật bằng đồng nổi tiếng, được gọi là “An Nam tứ đại khí” thì 3 trong số đó được tạo ra thời Lý:

1. Tháp Báo Thiên còn gọi là Đại Thắng Tư Thiên Tháp, được xây trên một quả gò cạnh hồ Lục Thủy vào tháng ba năm 1057 đời vua Lý Thánh Tông, trong phạm vi chùa Báo Thiên. Tháp xây 12 tầng, cao mấy chục trượng.

2. Chuông Quy Điền (chùa Một Cột – Hà Nội) đúc năm 1080 thời Lý Nhân Tông.

3. Tượng Phật Di Lặc chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều, Quảng Ninh) do nhà sư Dương Không Lộ đúc, cao 6 trượng (khoảng 20 mét).

Phong cách nghệ thuật thế kỷ XI-XII thiên về sự mềm mại uyển chuyển, đường nét nhuần nhụy tinh tế, họa tiết trang trí thường trải ra khắp bố cục, đề tài phổ biến là hoa lá (sen, cúc, phù dung), sư tử, rồng, phượng, mây, sóng nước, nhạc công, vũ nữ..v…v…

Con rồng thời Lý là hình tượng nghệ thuật độc đáo: đẹp mà không giống bất kỳ con rồng của thời kỳ nào, hay ở nơi nào khác.



Giới thiệu con rồng thời Lý



Hình tượng con rồng thời Lý



THÀNH BẬC
Steps
Perron


Chùa Bà Tấm – Dương Xá – Gia Lâm – Hà Nội
Ba Tam pagoda – Hanoi City.
Pagode Ba Tam – Hanoi Ville.
1115.
Đá. Stone. Pierre
123 x 166 x 8 cm.



Điêu khắc trang trí thời Lý



PHẬT A-DI-ĐÀ
Amitabha Buddha
Amitabha (Bouddha de la lumiére infinie)


Chùa Phật Tích – huyện Tiên Sơn - Tỉnh Bắc Ninh.
Phat Tich pagoda – Bac Ninh province.
Pagode Phat Tich – Province de Bac Ninh.
1057.
Phiên bản. Reproduction.
H: 270 (cm).




SƯ TỬ
Lion
Lion


Chùa Bà Tấm – Dương Xá – Gia Lâm – Hà Nội
Ba Tam pagode – Duong Xa – Gia Lam – Hanoi
Pagode Ba Tam – Duong Xa – Gia Lam – Hanoi
1115
Đá / Stone / Pierre



NGƯỜI CHIM ĐÁNH CHŨM CHỌE
Garuda playing the cymbals
Garuda jouant de cymbales


Chùa Long Đọi – Đọi Sơn – Duy Tiên – tỉnh Hà Nam
Long Doi pagoda – Ha Nam province
Pagode Long Doi – Province Ha Nam
1118-1121
Đá / Stone / Pierre
H: 38 cm



Trang trí đất nung hình chim phượng



SƯ TỬ (thành phần bệ tượng)
Lion (part of a pedestal)
Lion (partie d’un piédestal)


Chùa Phật Tích – Phượng Hoàng – Tiên Sơn – Tỉnh Bắc Ninh
Phat Tich pagoda – Bac Ninh province
Pagode Phat Tich – Province Bac Ninh
1057
Đá. Stone. Pierre
H: 33 cm . Phi: 71 cm.




NGƯỜI CHIM ĐÁNH TRỐNG
Garuda beat the drum
Garuda battant le tambour


Chùa Phật Tích – Phượng Hoàng – Tiên Sơn – Tỉnh Bắc Ninh
Phat Tich pagoda – Bac Ninh province
Pagode Phat Tich – Province Bac Ninh
1057
Đá. Stone. Pierre
H: 40 cm.




ĐẦU QUỶ (thành phần bệ tượng)
Devil’s head (part of a pedestal)
Tête de mostre (partie d’un piédestal)


Chùa Dạm – Nam Sơn – Quế Võ – tỉnh Bắc Ninh.
Dam pagoda – Bac Ninh province.
Pagode Dam – Province Bac Ninh.
1086-1094.
Đá. Stone. Pierre
H: 36 cm.


MỸ THUẬT THỜI TRẦN

Từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIV, dân tộc Việt Nam trải qua nhiều cuộc kháng chiến chống quân xâm lược thắng lợi, lập nhiều chiến công hiển hách, tạo nên một khí thế chung thật hào hùng phấn chấn. Những yếu tố tinh thần của xã hội thay đổi đã tác động vào mỹ thuật và được bộc lộ rõ nét ở sự chuyển biến trong phong cách nghệ thuật.

Cũng như thời Lý, ở thời Trần (1225 – 1400), mỹ thuật cung đình và Phật giáo vẫn phát triển mạnh, đặc biệt là mỹ thuật thuộc lĩnh vực Phật giáo.

Mỹ thuật thời Trần thể hiện chủ yếu trên lĩnh vực điêu khắc. Các sản phẩm chính là bệ, tượng, điêu khắc trang trí và đồ gốm.

Nghệ thuật điêu khắc thời Trần là sự nối tiếp thời Lý, nhưng cách tạo hình hiện thực, khỏe khoắn, vững chãi hơn. Thủ pháp thể hiện cũng khoáng đạt hơn, thường chú ý nhiều đến đại thể hơn là chi tiết, song hiệu quả nghệ thuật vẫn rất cao. Yếu tố tạo nên nét đặc trưng đó là sự giao lưu văn hóa rộng rãi, tinh thần thượng võ được phát huy mạnh mẽ qua các cuộc chiến tranh chống quân Nguyên Mông.

Những công trình điêu khắc thể hiện tại cung điện, chùa chiền, dinh thự các quan lại, lăng mộ vua chúa. Điêu khắc thời Trần được đánh giá là có bước tiến bộ, tinh xảo hơn so với thời Lý, trong đó, có một số phù điêu chạm khắc hình nhạc công biểu diễn mang phong cách Chăm-pa. Chân các bệ, cột thường có hình hoa sen. Cách trang trí hoa dựa trên nghệ thuật dân dụng.

Mục đích điêu khắc là để trang trí, tôn thêm vẻ đẹp cho các công trình kiến trúc. Tuy nhiên, có nhiều bức chạm có chủ đề và bố cục độc lập, được coi như những tác phẩm hoàn chỉnh, chẳng hạn như cảnh: Dâng hoa - Tấu nhạc (chùa Thái Lạc, Hưng Yên), Vũ nữ múa (bệ đá chùa Hoa Long, Thanh Hóa), Rồng (chùa Dâu, Bắc Ninh)...

Hình Rồng thời Trần có thân hình mập mạp, uốn khúc mạnh mẽ hơn Rồng thời Lý. Hình rồng được chạm nổi trên bia đá và bệ đá, cả trên gạch rất nhiều, nhưng đã có nhiều tượng rồng (đơn độc hay cưỡi mây) được xây thành cặp hai bên bậc lên xuống trước các cung điện hay các chùa. Những cặp rồng này hoàn toàn đúng nghĩa là tác phẩm tạo hình trong không gian ba chiều, vượt qua tính chất trang trí cho một vật phẩm khác như đế bia thời Lý, nó là tác phẩm điêu khắc độc lập tự thân tồn tại.

Những công trình điêu khắc tiêu biểu thời Trần có thể kể đến như: cánh cửa chùa Phổ Minh (Nam Định), chùa Thái Lạc (Hưng Yên), tượng hổ đá trên lăng Trần Thủ Độ (Thái Bình). Ngoài ra, còn có tượng trâu, ngựa ở lăng vua Trần Hiến Tông...

Bộ cửa gian giữa nhà tiền đường chùa Phổ Minh gồm bốn cánh chạm rồng, sóng nước, hoa lá và văn hoa hình học. Hai cánh ở giữa chạm đôi rồng lớn chầu Mặt Trời trong khuôn hình lá đề, được coi là một tác phẩm điêu khắc khá hoàn mỹ. Cùng với đôi sấu đá trên thành bậc tam quan và đôi rồng trên thành bậc gian giữa tiền đường, bộ cánh cửa này còn giữ được những dấu ấn của nghệ thuật chạm khắc đời Trần.

Chùa Thái Lạc được tu sửa nhiều lần, nhưng vẫn còn giữ được nhiều di vật gỗ thời Trần như: bộ vì nhà, các bức cốn, cột chạm nhạc công tấu nhạc, nữ thần chim (Kinnari), em bé nâng hoa sen, rồng, phượng, hoa lá...

Tượng hổ bằng đá ở lăng Trần Thủ Độ là tượng hổ sớm nhất của kỷ nguyên độc lập tự chủ của Việt Nam còn lại đến ngày nay, được ước đoán tạc vào khoảng năm 1264. Hiện, tượng đang được bày tại sân Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, ở thế nằm tự nhiên, hơi nghiêng về bên trái, gắn liền thân với bệ thành một khối, đang nghỉ ngơi, song đầu nghểnh cao quan sát. Kích cỡ tượng là: dài 143 cm, cao 75 cm, rộng 64 cm. Con hổ đá tuy nằm song trong tư thế sẵn sàng chồm dậy, bốn chân gấp lại đưa về đằng trước, đuôi dài quặt về cùng phía xuôi chiều. Thân mình hổ được thể hiện bằng những mảng khối căng phồng như lộ ra cả cơ bắp. Đây là tác phẩm điêu khắc tượng tròn điển hình của thời Trần, với phong cách hiện thực và khỏe khoắn.




Con rồng thời Trần



RỒNG CHẦU HOA SEN
Dragon looking at lotus
Dragon regardant fixement le lotus


Chùa Thái Lạc – Tỉnh Hưng Yên.
Thai Lac pagoda – Hung Yen province.
Pagode Thai Lac – Province Hung Yen.

Thế kỷ 14. 14-th Centery. 14-e Siécle.
Gỗ. Wood. Bois.
87 x 83 (cm).




NHẠC CÔNG CƯỠI CHIM
Musican riding on a bird
Musicien à dos d’oiseau


Chùa Thái Lạc – Tỉnh Hưng Yên.
Thai Lac pagoda – Hung Yen province.
Pagode Thai Lac – Province Hung Yen.

Thế kỷ 14. 14-th Centery. 14-e Siécle.
Gỗ. Woood. Bois.
55 x 89 (cm).



NHẠC CÔNG CƯỠI CHIM
Musican riding on a bird
Musicien à dos d’oiseau


Chùa Thái Lạc – Tỉnh Hưng Yên.
Thai Lac pagoda – Hung Yen province.
Pagode Thai Lac – Province Hung Yen.

Thế kỷ 14. 14-th Centery. 14-e Siécle.
Gỗ. Wood. Bois.
66 x 89 (cm).



VŨ NỮ
Dancer
Danseuse


Chùa Hoa Long – Tỉnh Thanh Hóa.
Hoa Long pagoda – Thanh Hoa province.
Pagode Hoa Long – Province de Thanh Hoa.

Thế kỷ 13-14. 13-14-th Centery. 13-14-e Siécle.
Đá. Stone. Pierre.
64 x 75 x 29 (cm).



VŨ NỮ MÚA
Female dancer
Danseuse


Mỹ Lộc – Tỉnh Nam Định.
My Loc – Nam Dinh.
My Loc – Nam Dinh.

Thế kỷ 13-14. 13-14-th Centery. 13-14-e Siécle.
Xà gỗ. Wooden beam. Bois.
30 x 69 (cm).




Hình ảnh hai võ sĩ giao đấu trên thân chiếc thạp

Con rồng thời Trần

Hoa văn , họa tiết trang trí bằng gốm đất nung



Hình rồng trang trí trên cánh cửa ở tháp Phổ Minh



HỔ
Tiger
Tigre


Lăng Trần Thủ Độ - tỉnh Thái Bình.
Tran Thu Do mausoleum – Thai Binh province
Mausolée de Tran Thu Do – province de Thai Binh.
1264.
Đá. Stone. Pierre
143 x 75 x 64 cm.



SƯ TỬ
Lion
Lion


Chùa Thông – Thọ Vực – Vĩnh Lộc – Thanh Hóa.
Thong pagoda – Thanh Hoa province.
Pagode Thong – Province de Thanh Hoa.
1270.
Đá . Stone . Pierre
H: 80 cm.



Quả chuông đồng



NGHÊ
Legendary lion
Lion légendaire


Thành nhà Hồ - Vĩnh Long – Vĩnh Lộc – tỉnh Thanh Hóa.
The Hos’ citadel – Thanh Hoa province
Citadelle de la Dynastie des Ho – province de Thanh Hoa.

Thế kỷ 14. 14-th Century. 14-e Siécle.
Đá. Stone. Pierre
H: 45 cm.


MỸ THUẬT CHĂM-PA

Nên nhớ rằng, cùng với nền mỹ thuật thời Lý-Trần của quốc gia Đại Việt ở miền Bắc, còn có nền mỹ thuật Chăm-pa (thế kỷ VI-XIV) của quốc gia Chiêm Thành ở miền Trung, nổi tiếng bởi những tác phẩm điêu khắc đầy sức sống. Giữa nghệ thuật thời Lý-Trần và nghệ thuật Chăm-pa có phần tác động giao thoa lẫn nhau, trong chừng mực nhất định nào đó.

Quốc gia Chiêm Thành còn tồn tại mãi đến thời Lê và thời các chúa Nguyễn.



VOI
Elephant
Éléphan


Điêu khắc Chăm-pa – Trà Kiệu – Quảng Nam.
Champa sculpture – Quang Nam province.
Sculpture de Champa – Province de Quang Nam.
Thế kỷ 7-8. 7-8-th Century. 7-8-e Siécle
Đá . Stone . Pierre
H: 58 x 29 x 54 cm.



VŨ NỮ
Dancer
Danseuse


Điêu khắc Chăm-pa – Champa sculpture – Sculpture Champa
Tỉnh Quảng Nam – Quang Nam province – Province Quang Nam
Thế kỷ 9-10. 9-10-th Century. 9-10-e Siécle
Đá . Stone . Pierre
H: 64 cm.





VŨ NỮ
Dancer
Danseuse


Điêu khắc Chăm-pa – Champa sculpture – Sculpture Champa
Tỉnh Quảng Nam – Quang Nam province – Province de Quang Nam
Thế kỷ 9-11. 9-11-th Century. 9-11-e Siécle
Đá . Stone . Pierre
H: 75 cm.



CÔ GÁI THỔI SÁO
Young girl playing the flute
Une jeune flutiste


Điêu khắc Chăm-pa
Champa sculpture
Sculpture de Champa
Thế kỷ 9-10. 9-10-th Century. 9-10-e Siécle
Đá . Stone . Pierre
H: 55 cm.



Thần UMA
Genie Uma
Génie Uma


Điêu khắc Chăm-pa – Champa sculpture – Sculpture Champa
Tỉnh Quảng Nam – Quang Nam province – Province de Quang Nam
Thế kỷ 10. 10-th Century. 10-e Siécle
Đá . Stone . Pierre
H: 39 cm.




Thần SHIVA
Genie Shiva
La génie Siva


Điêu khắc Chăm-pa – Phong cách Bình Định.
Champa sculpture – Binh Dinh style.
Sculpture de Champa – style Binh Dinh.
Thế kỷ 12-13. 12-13-th Century. 12-13-e Siécle
Đá . Stone . Pierre
H: 51 cm.



CHIM THẦN (một góc bệ thờ)
Spiritual bird (a corner of a pedestal)
Oiseau de Garuda (un coin du piédestal)


Thế kỷ 13-14. 13-14-th Century. 13-14-e Siécle
Đá. Stone. Pierre
45 x 37 cm .

Để xem thêm các hiện vật trong Bảo tàng điêu khắc Chăm (Đà Nẵng), xin mời xem chủ đề "Tháp Chàm" trên vnkatonak.com:

http://vnkatonak.com/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&t=283


Để xem thêm các hiện vật trong Hoàng thành Thăng Long, xin mời xem:

http://vnkatonak.com/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&t=287&postdays=0&postorder=asc&start=81




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 02.04.2014, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 14.03.2014    Tiêu đề: Re: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

BẢO TÀNG MỸ THUẬT VIỆT NAM


MỸ THUẬT THỜI LÊ SƠ-MẠC


Khi nói về mỹ thuật, người ta có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Nghĩa rộng là ngoài điêu khắc, hội họa, nặn gốm, nung sứ, đúc đồng, dệt tơ lụa vải vóc vải, thổ cẩm... - tên gọi chung là nghệ thuật tạo hình - còn đề cập đến nghệ thuật kiến trúc, tức chuyên ngành xây dựng các công trình tiêu biểu như cung điện, đền đài, chùa chiền, lăng tẩm, cầu cống...

Nghĩa hẹp là điêu khắc, hội họa, đồ gốm sứ.

Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam tọa lạc trên một khu đất không đủ rộng để có thể trưng bày các tác phẩm kiến trúc, dù là mô hình thu nhỏ. Cho nên, tại các phòng trưng bày tầng 1, 2, 3, khách tham quan chỉ thấy chủ yếu hai loại hình mỹ thuật là hội họa và điêu khắc. Đồ gốm được trưng bày dưới tầng ngầm (hôm tôi đến, không mở cửa).

Thời Lý và thời Trần có nhiều công trình kiến trúc đẹp đẽ, song bài viết này không nói đến là vì lẽ ấy.

=====================

Triều Lý có 8 vị vua, trị vì 115 năm, nhưng do ông vua cuối cùng không có con trai, đã truyền ngôi cho con gái là Công chúa Lý Chiêu Hoàng. Nhờ đó mà ngôi báu đã được chuyền giao cho nhà Trần một cách êm thấm.

Triều Trần trị vì suốt 175 năm, đến giai đoạn cuối, bị Hồ Quý Ly dùng vũ lực đoạt mất ngôi. Sau đó, nhà Hồ bị quân Minh từ phương Bắc kéo sang thôn tính.

Lê Lợi và Nguyễn Trãi phải mất 10 năm gian khổ, nằm gai nếm mật để giành chiến thắng trước quân Minh.

Triều Lê giữ ngôi vua không liên tục, mà bị gián đoạn. Giữa chừng, đại thần Mạc Đăng Dung tiếm ngôi, khiến đất nước bị chia cắt và lâm vào cảnh nội chiến "Nam Bắc triều". Sử sách gọi là thời kỳ đầu của nhà Lê là Lê Sơ.

Về sau, chúa Trịnh giúp nhà Lê lấy lại ngôi báu từ tay nhà Mạc, sử sách gọi là thời kỳ Lê Trung Hưng hay Lê Mạt, bởi mọi quyền hành của đất nước thực ra nằm hết trong tay các chúa Trịnh. Rồi chế độ phong kiến vua Lê chúa Trịnh lại sa vào cuộc nội chiến "Trịnh Nguyễn phân tranh" khiến nhân dân ta phải chịu bao nỗi lầm than khổ cực.

=====================

The sculpture of Early Le, Mac, and Later Le dynasties (from 15-th to 18-th century) with lacquered wood statues, Buddha sculpture and images of deceased ancestors for worship in pagodas under the Early Restored Le Dynasty are works of well-proportioned and harmonious beauty with refined, sophisticated carving. This was the most prosperous period of Vietnam ancient sculpture art.

=====================

Một số người đánh giá mỹ thuật thời Lê Sơ là thời kỳ "tạm lắng", là có ý so sánh với thời kỳ nhà Mạc và thời kỳ Lê Trung hưng.

Khi nghiên cứu xem xét mỹ thuật thời Lê Sơ, người ta thường dựa chủ yếu vào những hiện vật tìm thấy ở Lam Kinh.

Mấy năm trước, trong dịp vnkatonak.com tổ chức (hoành tráng) chuyến đi "quân khu" Thanh Hóa, chúng tôi đã đến Lam Kinh. Song vì lúc đó là lúc chiều tối, nên việc chụp ảnh không thuận lợi, chưa kể, do đi cả ngày, đã chụp nhiều ở nơi khác, nên máy ảnh hết pin.

Nay đọc lại một số bài viết, tôi đã hiểu thêm về Lam Kinh, và về nghệ thuật cũng như mỹ thuật thời Lê Sơ.



Phòng trưng bày Mỹ thuật thời Lê-Mạc



Bảng thuyết minh Mỹ thuật thời Lê-Mạc



HỘ PHÁP 1
Pala Dharma (Guardien)
Pala Dharma (Génies gardiens)


Cuối thế kỷ 16, 16-th Century. 16-e Siécle.
Đá. Stone. Pierre.
H: 64 cm.

HỘ PHÁP 2
Pala Dharma (Guardien)
Pala Dharma (Génies gardiens)


Cuối thế kỷ 16, 16-th Century. 16-e Siécle.
Đá. Stone. Pierre.
H: 66 cm.




HỔ
Tiger
Tigre


Lăng Lê Lợi – Xuân Lam – Thọ Xuân – Lam Kinh - Thanh Hóa.
Le Loi king’s mausoleum – Thanh Hoa province.
Mausolée du Roi Le Loi – Province de Thanh Hoa.
1433.
Đá. Stone. Pierre.
H: 74 cm.




VOI – TÊ GIÁC – NGỰA
Elephant – Rhino – Horse
Éléphan – Rhino – Chaval


Lăng Lê Lợi – Xuân Lam – Thọ Xuân – Lam Kinh - Thanh Hóa.
Le Loi king’s mausoleum – Thanh Hoa province.
Mausolée du Roi Le Loi – Province de Thanh Hoa.
1433.
Đá. Stone. Pierre.
H: 58 cm. H: 48 cm. H: 55 cm.




PHỖNG DÂNG HƯƠNG
Puppets offering incense sticks
Marionnettes offrant des baguettes


Đền thờ Vua Lê Thánh Tông – Xuân Lam – Thọ Xuân – Lam Kinh - Thanh Hóa.
Le Thanh Tong king’s temple – Thanh Hoa province.
Temple du Roi Le Thanh Tong – Province de Thanh Hoa.
Đầu thế kỷ 17. Early 17-th Century. Début du 17-e Siécle.
Gõ sơn. Laquered wood. Bois laqué.
H: 137 cm.

=====================

Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và trang trí thời Lê Sơ gắn với: xây dựng cung đình lầu gác của nhà vua và hoàng tộc, dinh thự quan lại ở trung ương và địa phương phục vụ vương triều. Các công trình kiến trúc, nghệ thuật tạo hình vương triều tập trung ở hai khu vực là Đông Kinh (tức Hoàng thành Thăng Long) và Tây Kinh (Lam Kinh).

Tại Đông Kinh, nhà Lê tôn tạo và xây mới các cung điện đã bị đổ nát do chiến tranh, ngoài ra, còn xây một số đàn để tế trời đất ở phía Nam kinh thành.

* Đàn Nam Giao: để tế trời đất.
* Đàn Xã tắc: để cầu Thần Nông cho mùa màng được tốt tươi.
* Đàn Phong Vân: để cầu mưa.

Việc chọn đất, xây dựng cũng như cúng tế ở các đàn này đều phải tuân theo những quy tắc nghiêm ngặt.

Tại đất Lam Sơn (Thanh Hóa), nhà Lê cho xây kinh đô thứ hai, gọi là Tây Kinh (tên thông dụng hơn là Lam Kinh.

Công trình này được xây ngay sau khi Lê Lợi mất (1418 – 1433). Cuối năm 1448, cho xây các cung điện. Năm 1456, sửa sang tòa chính điện gồm 3 điện: Quang Đức, Diên Khánh và Sùng Hiếu. Cung điện Lam Kinh nguy nga, bề thế, tọa lạc trên triền đồi thoai thoải, được cải tạo thành 3 lớp mặt bằng hình chữ nhật (315m x 256m).

Tại đây còn có khu Thái miếu và khu sơn lăng, là nơi thờ tự và an táng các vị vua băng hà. Sau những lần bị đốt cháy, Tây Kinh đã được tu bổ vào thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn, nhưng rồi, cũng không tránh khỏi cảnh hoang tàn, đổ nát.

Chùa chiền trong thời Lê Sơ không được dựng mới nhiều, nhưng vẫn được trùng tu tôn tạo. Dấu tích mỹ thuật thời Lê Sơ còn lại trên các chùa rất ít ỏi, có nơi lưu giữ được bia (như chùa Kim Liên, Bối Khê), có nơi thì những thành phần kiến trúc tu sửa của thời kỳ sau đã thay thế hầu hết. Những di vật đáng giá về kiến trúc Phật giáo hiện còn là tháp đá Huệ Quang, vốn có từ thời Trần, được đại trùng tu thời Lê Sơ, bệ tượng bằng gỗ ở chùa Thầy…

Mỹ thuật thời Lê Sơ-Mạc còn được phản ánh thông qua nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và trang trí các công trình tôn giáo: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo .



Dấu tích khu chính điện ở Lam Kinh (phía sau là các ngôi Thái miếu được phục dựng)



Thềm rồng tại khu chính điện



Đầu rồng



Đôi rồng đá tại khu nhà Thái miếu



Cá chép hóa rồng



Đôi voi ở cổng Lăng Lê Thái Tổ



Tượng người và thú bằng đá ở khuôn viên lăng Lê Thái Tổ



Voi



Quan văn



Sư tử



Tê giác



Tượng người và thú bằng đá ở khuôn viên lăng Lê Thái Tông


KHU DI TÍCH LAM KINH

Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Lam Kinh nằm trên địa bàn thị trấn Lam Sơn và xã Xuân Lam (huyện Thọ Xuân), xã Kiên Thọ (huyện Ngọc Lặc), với tổng diện tích quy hoạch bảo tồn là 200ha.

Lam Kinh vốn là đất Lam Sơn, quê hương của anh hùng Lê Lợi, ngư­ời có công chiêu mộ hiền tài, quy tụ nhân dân đánh đuổi giặc Minh xâm lược (1418 - 1427).

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế (Lê Thái Tổ), lập nên vương triều Hậu Lê, đóng đô ở Thăng Long, mở ra thời kỳ phát triển mới cho quốc gia Đại Việt.

Năm 1430, Lê Thái Tổ đổi tên vùng đất Lam Sơn thành Lam Kinh. Kể từ đó, các kiến trúc điện, miếu... bắt đầu được xây dựng tại đây, gắn với hai chức năng chính:

- Điểm nghỉ chân của các vua Lê khi về cúng bái tổ tiên, đồng thời, cũng là nơi ở của quan lại và quân lính thư­ờng trực trông coi Lam Kinh;

- Khu tập trung lăng mộ của tổ tiên, các vị vua, hoàng thái hậu nhà Lê và một số quan lại trong hoàng tộc.

Về diện mạo kiến trúc của khu di tích, có thể điểm tới một số công trình tiêu biểu như:

Chính điện Lam Kinh: theo tư liệu lịch sử và khảo cổ học, chính điện Lam Kinh được dựng ngay sau khi vua Lê Thái Tổ băng hà (năm 1433). Bố cục mặt bằng của kiến trúc này có dạng hình chữ “công”, với tổng diện tích là 1.645m2, gồm 3 tòa điện chính: Quang Đức, Sùng Hiếu và Diên Khánh. Hiện nay, trong khu vực này chỉ còn lại dấu tích nền móng, với 127 tảng kê chân cột, nền lát, bó vỉa cùng một số hiện vật khác.

Thái miếu: là nơi thờ cúng tổ tiên, các vị vua và hoàng thái hậu nhà Lê. Theo kết quả khai quật khảo cổ, trong khu vực này gồm 9 tòa kiến trúc. Hiện nay, đã tôn tạo, phục hồi được 5 tòa (các tòa số 3, 4, 5, 6, 7).

Sân rồng: là một trong những kiến trúc có diện tích lớn nhất trong khu vực trung tâm của điện Lam Kinh, nằm phía sau Ngọ môn, chính giữa có 3 lối đi lên chính điện theo bậc thềm rồng.

Đông trù: nằm ở phía Đông Nam của chính điện, được coi như khu vực hậu cần, bếp núc để phục vụ cho toàn bộ khu vực trung tâm của Lam Kinh.

Tả vu, Hữu vu: nằm về hai bên sân rồng, hiện chỉ còn lại nền móng và một số chân tảng kê cột cùng một số hiện vật khác.

Tây thất: nằm trên một gò đất nhỏ ở phía Tây của Chính Điện, ngoài phạm vi thành Nội. Hiện nay, khu vực này chỉ là phế tích kiến trúc.

Cầu Bạch: là chiếc cầu đá bắc qua sông Ngọc, mới được phục hồi, dài 17m, rộng 5,50m, nằm trên trục đường chính dẫn vào khu trung tâm chính điện Lam Kinh.

Hệ thống tường thành: gồm 3 vòng thành (La thành, thành Nội và thành Ngoại). Năm 2008, một số đoạn của La thành phía Đông và phía Tây cầu Bạch đã được khôi phục (với tổng chiều dài 21m).

Hồ Như Áng, kênh dẫn nước đập nhà Lê, hồ Tây: trước kia, khu vực này vốn là vùng đất trũng, xung quanh có nhiều khe suối nhỏ. Lợi dụng địa thế tự nhiên, nhà Lê đã cho đào kênh dẫn nước về hồ Tây, để cung cấp cho toàn bộ khu vực Lam Kinh.

Núi Dầu: cách lăng vua Lê Thái Tổ khoảng 500m. Trên núi có đền thờ bà hàng Dầu, gắn liền với truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Lăng mộ Lê Thái Tổ và bia Vĩnh Lăng: Khu lăng mộ vua Lê Thái Tổ được xây dựng trên một dải đất bằng phẳng, ở phía Nam chân núi Dầu. Năm 1995, lăng vua được trùng tu, xây lại bằng gạch, bên ngoài ốp đá đục nhám. Phía trước lăng có tượng 2 quan hầu và 4 đôi tượng con giống bằng đá, đứng chầu hai bên đường “thần đạo” của lăng.

Bia Vĩnh Lăng được làm bằng đá trầm tích nguyên khối, cao 2m79, rộng 1m94, đặt trên lưng rùa đá. Nội dung văn bia ghi lại thân thế, sự nghiệp của vua Lê Thái Tổ. Đây là một công trình điêu khắc đá có giá trị nghệ thuật, đồng thời cũng là tư liệu quý giá trong việc nghiên cứu lịch sử giai đoạn Lê Sơ.

Lăng mộ Lê Thái Tông và Bia Hựu lăng: nằm trên đỉnh cao của rừng Phú Lâm, thuộc xã Xuân Lam, cách Vĩnh Lăng 800m. Bia Hựu Lăng được dựng cách lăng khoảng 20m. Hiện nay, bia đã bị mất, chỉ còn lại rùa đá nằm nguyên ở vị trí ban đầu.

Lăng mộ Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao và bia Khôn Nguyên Chí Đức: tọa lạc trên một khu đất thấp, gọi là Xà Đàm (đầm Rắn), cách Vĩnh Lăng 700m về phía Đông. Năm 1998, lăng mộ được trùng tu lại bằng gạch vồ, mặt ngoài trát xi măng, hai bên tạc tượng người và động vật bằng chất liệu đá.

Bia Khôn Nguyên Chí Đức dựng năm Mậu Ngọ (1498), làm bằng chất liệu đá xanh nguyên khối, cao 2m76, rộng 1m90. Trán bia và diềm bia trang trí hình rồng 5 móng và hoa lá cách điệu...

Lăng mộ Lê Thánh Tông và Bia Chiêu lăng: nằm sát gò Đình (xã Xuân Lam). Bia được dựng vào mùa xuân năm Mậu Ngọ, niên hiệu Cảnh Thống (1498).

Lăng mộ vua Lê Hiến Tông và Bia Dụ lăng: nằm ở bên phải của Vĩnh Lăng, giáp hồ Tây. Bia Dụ Lăng nằm cách lăng mộ khoảng 30m, được làm bằng đá nguyên khối, cao 2m78, rộng 1m98.

Lăng mộ Lê Túc Tông và Bia Kính lăng: được xây trên đỉnh núi “Hổ Xứ Ngọc Giăng Đèn”, thuộc địa phận xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc.

Bia Kính Lăng được dựng vào tháng 3 năm Đoan Khánh thứ nhất (1505), nội dung bia ghi về thân thế, sự nghiệp của vua Lê Túc Tông.

Đền thờ vua Lê Thái Tổ: tọa lạc ở phía Đông Nam khu di tích Lam Kinh, Năm 1996, đền này được tôn tạo lại, với kết cấu khung gỗ lim, theo mẫu thức của kiến trúc truyền thống, bao gồm các hạng mục: tiền đường, nhà cầu (ống muống) trung đường và hậu cung.

Ngoài các kiến trúc kể trên, trong khu vực Lam Kinh còn có hệ thống công trình phụ trợ cùng nhiều di vật, cổ vật có giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học khác.

Tại Khu di tích, vào dịp tháng 8 âm lịch hằng năm, cứ đến ngày 21 (giỗ Lê Lai) và 22 (giỗ Lê Lợi), nhân dân trong vùng lại long trọng tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công ơn của các vị anh hùng giải phóng dân tộc, đồng thời thể hiện ước vọng cầu cho mưa thuận gió hòa, đời sống ấm no hạnh phúc.

Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc biệt của di tích, ngày 27/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Lam Kinh là Di tích quốc gia đặc biệt (Quyết định số 1419/QĐ-TTg).

.........Cảnh Toàn (Theo Hồ sơ xếp hạng di tích, tư liệu Cục Di sản văn hóa)


KHU SƠN LĂNG Ở LAM KINH

Khu sơn lăng ở Lam Kinh gồm 8 lăng tẩm của các vị vua và hoàng hậu: Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông, Ngô Thị Ngọc Dao, Thánh Tông, Hiến Tông, Túc Tông, Nguyễn Thị Huyên. Lăng của Lê Thái Tổ mai táng ở vùng trung tâm, tại điểm huyệt quan trọng và thần diệu nhất, còn lăng của các vua kế nghiệp và hai hoàng hậu mai táng ở hai phía Đông và Tây. Cho đến giờ, lăng vua Nhân Tông vẫn chưa tìm thấy dấu vết, trong khi lăng Hoàng hậu Nguyễn Thị Huyên thì đã bị phá tan hoang.

Toàn cảnh khu lăng miếu Lam Kinh gồm nhiều khoảnh đồi bát úp, có liên hệ với khu trung tâm và với nhau bằng những con đường mòn. Một điểm đặc biệt là trên những trục đường vắt qua các quả đồi, đều không thấy bóng dáng các cây cầu. Nước mưa rơi xuống đều tiêu thoát tự nhiên qua hệ thống khe lạch xung quanh. Thật là một bố cục đẹp.

Tất cả các khu lăng ở đây có diện tích không lớn lắm. Lăng Thái Tổ có kích thước 28,5 m x 29,3 m; Lăng Thái Tông 26,6 m x 26,6 m; Lăng Hiến Tông nhỏ nhất 20,4 m x 18,35 m.... Nền lăng vua Lê Thái Tổ khá phẳng, còn nền các lăng khác hơi dốc, thoải theo địa hình của từng khu đồi. có thể thấy, các khu lăng bám khá sát địa thế đồi bát úp. Với diện tích sân lăng không lớn lắm, thực ra, việc đào đắp để cố gắng tạo cho mặt bằng khu lăng được phẳng là việc cực kỳ đơn giản, do khối lượng đất đá phải đào đắp không nhiều. Song, nguời xưa đã không làm như vậy. Điều này cho thấy, quan niệm của tổ tiên chúng ta là sống hài hòa với thiên nhiên, con người là một bộ phận không thể tách rời thiên nhiên.

Ở các khu lăng mộ có dựng các tượng tròn, bao gồm tượng người và tượng các con giống tạc bằng đá.

Tượng người là tượng các quan hầu. Ở các khối tượng này, có sự đồng nhất về kiểu dáng, tư thế, nét mặt và trang phục. Nghe nói, tại lăng của các hoàng hậu trước kia cũng có tượng người, nhưng chỉ có tượng nữ quan. Hiện giờ, các tượng nữ quan đã thất lạc hết, không còn nữa.

Tượng con giống gồm nhiều loại thú khác nhau như: voi, hổ, sư tử, ngựa, tê giác, kỳ lân, nghê. Tuy tên gọi và bố cục các khối tượng trong các lăng có nhiều nét tương đồng, nhưng thứ tự sắp xếp, kích cỡ con giống và phong cách sáng tác đã được các nghệ nhân thời xưa điều chỉnh cho phù hợp với vai vế và tính cách của từng vị vua đã băng hà. Một mặt, vẫn giữ được sự tôn nghiêm, huyền mặc của các khu lăng, mặt khác không gây ra sự nhàm chán đơn điệu.

Hai hàng tượng người và tượng các con giống tạc bằng đá dựng trên sân chầu trong khuôn viên lăng mục đích là để trấn trạch, nghĩa là làm cho khu lăng luôn luôn được yên lành, không bị tà ma quấy nhiễu và cũng là để tôn lên quang cảnh tôn nghiêm kính cẩn của lăng.

Hãy cùng tham quan khu lăng vua Lê Thái Tổ ở ngay phía sau nhà Thái miếu.

Nhìn toàn cảnh, khu lăng thật giản dị, gần gũi mà tôn nghiêm, trang trọng.

Giữa hai hàng tượng chầu là một lối đi rộng hơn hai chục mét, gọi là đường Thần đạo. Hai bên đường Thần đạo có hai hàng tượng. Ở vị trí gần lăng là hai pho tượng quan hầu: bên trái là quan văn, bên phải là quan võ. Đây là cách sắp đặt theo phép bố trí các quan thời vua Lê Thái Tổ bình sinh: vua phong cho hai quan đại thần đứng hàng đầu triều gồm quan Thị trung Bộc xạ trông coi việc then chốt về chính trị và quan Thái úy nắm giữ quyền tối cao trong quân đội.

Kế tiếp hàng tượng quan hầu là tượng 4 đôi con giống đứng đối nhau, theo thứ tự: 2 sư tử, 2 ngựa, 2 tê giác, 2 hổ. Chưa kể ở gần cổng lăng có đôi voi đá đang quỳ sụp xuống. Các tượng có thân hình nhỏ bé, phong cách dân gian: ngựa không thắng yên, tê giác không bành, hổ ngồi hiền từ, sư tử cách điệu như hình lợn rừng. Trước mộ vua là một hương án bằng đá để đặt bát hương và lễ vật.

Niên đại của các tượng này được xác minh là chế tác từ năm mai táng vua Lê Thái Tổ (1433).

Ngay gần khu lăng Thái Tổ, người ta không bố trí lăng của con trai vua, mà bố trí lăng của cháu nội vua. Các cụ bô lão ở địa phương giải thích lý do là: cha con dễ xung khắc, còn ông cháu luôn hòa thuận.

Xem xét tổng thể các tác phẩm nghệ thuật bằng đá ở khu lăng mộ, có thể nhận ra vài phong cách riêng ứng với từng giai đoạn. Các khối tượng ở khu Vĩnh Lăng (lăng Lê Thái Tổ) đại diện cho giai đoạn sơ khởi của nghệ thuật Lê Sơ, các khối tượng tròn ở Chiêu Lăng (lăng Lê Thánh Tông), lăng Khôn Nguyên Chí Đức (lăng Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao) tiêu biểu cho giai đoạn thịnh trị của vương triều Hậu Lê.

Ở Lam Kinh, còn nhiều tấm bia đá được dựng bên khuôn viên lăng, đóng vai trò như cuốn sổ vàng ghi chép lại toàn bộ thân thế và sự nghiệp của vị vua nằm trong lăng. Bia đá và khuôn viên lăng cách nhau từ 50 đến 100 m. (Duy chỉ có bia Vĩnh Lăng là không dựng tại khuôn viên lăng vua Lê Thái Tổ, mà đặt ở một khu vực riêng phía trước, chếch về phía tây khu chính điện).

Các tấm bia đá đều có thể coi là những tác phẩm điêu khắc hoàn chỉnh.

Hoa văn trang trí tập trung chủ yếu ở trán bia, chân bia và diềm bia, với các mô-típ chủ đạo: rồng, cúc dây và sóng nước.

Đặc sắc nhất là hoa văn hình rồng.

Hình tượng con rồng trên các bia đá ở Lam Kinh khác với các thềm rồng ở khu chính điện và Thái miếu. Hoa văn hình rồng ở trên các bia được thể hiện chủ yếu ở các dạng: lưỡng long chầu nguyệt và các mô-típ đơn lẻ hoặc liên hoàn trên diềm bia. Nét chạm khắc tinh xảo, được nghệ nhân chú ý đến từng chi tiết nhỏ. Dù ở tư thế nào, con rồng cũng được thể hiện với phong cách riêng mang dấu ấn nghệ thuật của một giai đoạn hưng thịnh của chế độ phong kiến trung ương tập quyền phát triển đến giai đoạn cực thịnh. Khi xem xét các mô-típ rồng trang trí trên các bia theo lịch đại từ khối bia có niên đại sớm, đến các bia có niên đại muộn, có thể nhận ra sự biến đổi dần dần của hình tượng rồng theo thời gian.



Con rồng thời Lê


Điển hình nhất, có thể kể đến nghệ thuật trang trí trên bia Vĩnh Lăng.



Bản dập bia Vĩnh Lăng



Hình rồng chạm khắc trên bia Vĩnh Lăng

Trán bia khắc một hình vuông, trong hình vuông là một hình tròn, biểu trưng cho Trời và Đất. Giữa hình vuông và hình tròn khắc áng vân mây cách điệu tinh tế, chính giữa khắc một đầu rồng nhìn thẳng, thân rồng uốn khúc uyển chuyển quanh hình Mặt trời, biểu trưng của Thiên tử, là con của Trời và Đất, do sự giao hoà của Trời Đất mà sinh ra. Ở cánh cung hai bên của hình vuông và hình tròn, khắc đôi rồng vươn mình đối nhau chầu vào, cùng một phong cách. Trên nền, trang trí loáng thoáng hình áng mây; đường diềm hai bên của bia, tính từ đỉnh xuống đến đáy bia, mỗi bên khắc 9 hoa văn hình nửa lá đề. Trong mỗi nửa lá đề, khắc hình rồng uốn mình theo lá, đầu vươn lên trên nối tiếp nhau. Khoảng không nền nửa lá đề khắc hình hoa cúc dây với nghệ thuật tinh sảo. Phong cách chạm khắc hình lá đề biểu trưng cho phong cách nghệ thuật trang trí trong các ngôi chùa thờ Phật.

Nội dung văn bia do “Vinh Lộc đại phu Nhập nội Hành khiển Tri tam quán sự Nguyễn Trãi” phụng soạn.

Đây là tấm bia có kích thước lớn được tạo dựng vào buổi đầu của thời nhà Lê, được trang trí chuẩn mực, bố cục hợp lý. Chưa tính đến giá trị lịch sử, chỉ xét về giá trị nghệ thuật, bia Vĩnh Lăng đã xứng đáng là một tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu, mở đầu mỹ thuật Lê Sơ.

Về mặt lịch sử, sự ra đời của vương triều Hậu Lê là sự khởi đầu của mỹ thuật Lê Sơ. Những công trình được xây dựng ở khu Lam Kinh cho thấy bước chuyển của nghệ thuật điêu khắc đá từ kỷ Đông A nhà Trần sang kỷ nhà Lê.

Dấu ấn của bước chuyển này được thể hiện trên nghệ thuật trang trí, đặc biệt là trên bia Vĩnh Lăng với những mô-típ rồng trong nửa lá đề vốn phổ biến trong thời Trần. Bước chuyển biến về phong cách này cho thấy sự kế thừa truyền thống.

Những tác phẩm điêu khắc đá ở Lam Kinh như một bảo tàng về nghệ thuật điêu khắc đá và khẳng định vai trò của nó: là một trung tâm tiêu biểu của mỹ thuật Lê Sơ trong dòng chảy nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

................................................. (Theo TS. Phạm Văn Đấu)


ĐỒ GỐM THỜI LÊ SƠ

Loại gốm phổ biến thời Lê Sơ là loại sành sứ men trắng vẽ hoa lam trên men, đôi khi còn giữ lại hoa nâu, và một số ít vẽ hoa nhiều màu trên men. Gốm sành sứ hoa lam là loại gốm phổ biến, mở đầu cho một truyền thống mới về gốm, được phát triển đến ngày nay.

Phần lớn đồ gốm thời Lê Sơ là, đĩa, bát, lọ rồi đến bình hương. Sau khi tạo dáng sản phẩm xong, nghệ nhân làm gốm dùng bút mềm vẽ những hoa màu lam lên bề mặt của nó, sau đó phủ một lớp men ở bên ngoài. Vì thế, sau khi sản phẩm được nung chín, hình vẽ hiện lên dưới lớp men bóng, không bao giờ bị phôi phai.

Tùy theo kiểu dáng và yêu cầu thực dụng của từng loại đồ gốm sành, sứ men trắng hình trang trí có khi được vẽ ở lớp ngoài (lọ, bát, bình hương), có khi được vẽ đầy đủ ở cả hai mặt, và có khi chỉ được vẽ ở một mặt trong (đĩa).

Có thể thấy, gốm hoa lam đã khai thác triệt để các yếu tố của hội họa trong thể hiện hoa văn, đó là phương pháp vẽ khi phóng khi công, khi loãng khi đặc, khi dày khi mỏng làm hoa lam có độ đậm nhạt lung linh. Người nghệ sĩ phóng bút vẽ, chứ không phụ thuộc vào cảnh thựuc có trong tự nhiên, do đó nét và hình sinh động, mềm mại.

Trên đồ gia dụng hằng ngày như bát, đĩa, ấm, nậm rượu, nghệ nhân trang trí hoa, lá, chim chóc, ngựa, cá tôm…Hai loại hoa được trang trí chủ yếu là cúc và sen. Trên các đồ thờ cúng như chân đèn, lư hương, hình trang trí chủ yếu là long, ly, quy, phượng (tứ linh), hay con nghê…Các mô-típ được thể hiện theo lối phóng bút bay bướm, nhưng bố cục bao giờ cũng chặt chẽ, các mảng đậm nhạt khác nhau phát triển theo một nhịp điệu nhịp nhàng uyển chuyển. Trang trí thường thể hiện là những băng ngang, theo bố cục truyền thống của nghệ thuật trang trí đồ gốm nước ta.

Trên đĩa có bề mặt trang trí phẳng và tròn, hoa văn thường được vẽ dàn trải lên toàn mặt bằng. có chủ đề rõ ràng. khiến người xem cảm nhậ đó là một bức tranh hoàn chỉnh.

Gốm thời Lê Sơ được chế tạo tại các lò gốm ở làng Bát Tràng, làng Thổ Hà (gốm nâu), làng Phù Lãng (gốm men vàng – màu da lươn). Nghệ thuật gốm thời này, ngoài dùng lối vẽ trực tiếp lên mặt gốm, còn dùng cả lối vẽ vạch hoặc đắp nổi.

Về kiểu dáng, gốm thời Lê Sơ có xu hướng vươn lên theo chiều cao, hình dáng thanh thoát, bớt thô hơn trước. Không chỉ thấy ở chân đèn, nậm rượu, ly hương mà còn thấy cả ở những bát đĩa chân đế cao.

Bát chân đế cao đã trở thành hiện vật tiêu biểu của gốm hoa lam thế kỷ XV.

.......................................TÀI LIỆU THAM KHẢO
............................1.Mỹ thuật Lê Sơ - Nhà xuất bản Mỹ thuật
............................2.Tượng cổ Việt Nam- Chu Quang Trứ






Liễn có nắp đậy



Bát sứ



Bát ăn cơm vẽ hình rồng



Mỹ thuật trang trí trên đĩa sứ



Đĩa sứ



Bình gốm



Chân đèn




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 02.04.2014, sửa lần 4
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 15.03.2014    Tiêu đề: Re: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

BẢO TÀNG MỸ THUẬT VIỆT NAM


BIA TIẾN SĨ Ở VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM - HÀ NỘI


Tôi cứ phân vân mãi về hai chữ "tạm lắng" đọc được ở Bảo tàng, trên tấm bảng giới thiệu treo trên tường Phòng trưng bày mỹ thuật thời Lê Sơ-Mạc.

Cũng có thể, khi viết những dòng ấy, người ta chưa chú tâm một cách đúng mức đến hơn 80 tấm bia tiến sĩ ở bên kia phố Nguyễn Thái Học, cách Bảo tàng theo đường chim bay chừng 200 mét.

Nhân có đợt làm Hồ sơ di sản trình Tổ chức văn hóa thế giới (UNESCO), nhiều học giả và chuyên gia đã cất công tìm hiểu thêm nhiều điều, nên đã phát hiện ra nhiều điểm sáng của các tấm bia đá trông có vẻ rêu phong cũ kỹ và nhàm chán.

Đọc bài viết sau đây để có một cái nhìn tổng quan.

VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ VIỆT NAM

............................................TS. Trịnh Khắc Mạnh (Viện nghiên cứu Hán- Nôm)

Văn bia là hiện tượng văn hóa được nảy sinh từ đời sống xã hội như là nét đặc thù và là một trong những hình thức thông tin thời cổ và trung đại.

Văn bia xuất hiện từ khá sớm, truyền thống sáng tạo văn bia ở các nước sử dụng chữ tượng hình (chữ khối vuông) bắt đầu từ Trung Hoa, sau đó được lan truyền sang các nước như Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam.

Theo Chu Kiếm Tâm (朱 劍 心) trong cuốn Kim thạch học (金 石 學) thì nguyên tắc lập bia, được ghi chép trong Ngữ thạch (語石) phần Lập bi tổng lệ (立 碑 總 例 ) có 4 nguyên tắc chính (1):

- Một là: Thuật đức, tôn sùng bậc thánh nhân, ca ngợi kẻ hiền tài, biểu dương người trung thuận, nêu gương người hiếu nghĩa.
- Hai là: Ghi công, khắc vào đá ghi việc thánh thượng khi tuần du cho đến việc ghi công trạng của các tướng lĩnh.
- Ba là: Kỷ sự, ghi việc xây dựng đền đài lăng tẩm.
- Bốn là: Toản ngôn, từ công văn thư tín đến các sáng tác của văn nhân.

Về nội dung bài văn bia khắc vào đá, theo Cung Tự Trân trong cuốn Thuyết khắc thạch, có những chủ đề sau (2):

- Bậc đế vương đi tuần thú thì ghi lại để ca tụng công đức.
- Bậc đế vương đi săn bắn thì ghi lại nhân đó để ca tụng công đức.
- Có việc chinh phạt lớn thì ghi lại chủ yếu là để ca ngợi công lao.
- Có hiến lệnh lớn thì ghi lại để nói về pháp lệnh.
- Có việc cầu khấn lớn thì ghi lại là để tỏ lòng tin.
- Các việc đánh nhau giữ đất, vận chuyển quân lương, đều ghi lại là để nói về những điều hệ trọng.
- Vỡ đê ngập nước, hoặc xây dựng các công trình đê điều đều ghi lại là để nắm tình hình.
- Xây dựng các thành quách, lâu đài thì ghi lại để khảo xét.
- Thư tịch mất mát, học thuật nảy nở thì ghi lại để tìm hiểu.

Những nguyên tắc lập bia và những quy định về nội dung khi soạn bài văn, để khắc vào đá như nêu ở trên được Chu Kiếm Tâm nêu ra, theo chúng tôi chỉ có thể đúng với thời kỳ hình thành khai sáng ra thể văn bia mà thôi. Còn trên thực tế, trong quá trình phát triển, việc lập bia và soạn văn bia để khắc vào đá đã diễn ra hết sức phong phú và đa dạng, không chỉ ở chính nơi có truyền thống sáng tạo ra văn bia, mà ở cả các nước chịu ảnh của truyền thống này.

Nếu chúng ta đem đối chiếu giữa thực tế sáng tạo văn bia ở Việt Nam với những nguyên tắc lập bia và quy định chủ đề nội dung khi soạn văn bia mà Chu Kiếm Tâm nhắc lại ý của người đi trước ở Trung Hoa, thì thấy có sự không đồng nhất. Phải nói rằng, những nguyên tắc lập bia và nội dung khi soạn văn bia ở nước ta được mở rộng, có những bia được lập không theo 4 nguyên tắc đã ghi chép trong Ngữ thạch phần Lập bi tổng lệ và có những bài vănmà Chu Kiếm Tâm đã dẫn, bia được sáng tác để khắc vào đá cũng không theo những chủ đề mà Cung Tự Trân đã ghi chép trong Thuyết khắc thạch.

Một trong những thể văn được soạn thảo để khắc vào đá có thể coi là phá cách, đó là những văn bia khắc đá đề danh những người đỗ đạt, mà ta thường gọi là Văn bia đề danh Tiến sĩ.

Văn bia đề danh Tiến sĩ ở Việt Nam, lúc đầu thường do nhà vua và các quan lại cấp trung ương lập ở các văn miếu, nơi thờ tự Khổng Tử cấp quốc gia để ca ngợi nhà nước phong kiến, tôn sùng Nho học và khuyên răn kẻ sĩ; sau được lập tại các văn từ, văn chỉ ở địa phương, nơi thờ tự các bậc tiên hiền để nêu cao tinh thần tôn sư trọng đạo và khuyến khích học tập vùng quê mình.

Ở Trung Hoa, lệ khắc bia đề danh Tiến sĩ có từ khá sớm (khoảng thế kỷ thứ VIII). Đó là những văn bia được khắc ở Nhạn tháp, chùa Từ Ân ở kinh đô Trường An, rồi Quốc Tử Giám Nam Kinh và Quốc Tử Giám Bắc Kinh.
Ở Việt Nam, việc lập bia đề danh được bắt đầu từ vua Lê Thánh Tông (năm 1484) tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long. Chủ trương của vua Lê Thánh Tông về việc lập Văn bia đề danh Tiến sĩ là nhằm tôn vinh bậc tri thức Nho học đỗ đại khoa, chủ trương này đã được các vua đời sau nối tiếp và các quan lại tại các địa phương đời sau hưởng ứng, tạo nên một hệ thống văn bia đề danh Tiến sĩ trong cả nước.

Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam thời kỳ phong kiến hiện còn tập trung ở hai văn miếu cấp quốc gia: Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long (Hà Nội - 82 bia) và Văn Miếu Phú Xuân (32 bia); hai văn miếu cấp tỉnh: Văn Miếu Bắc Ninh (11 bia) và Văn Miếu Xích Đằng (Hưng Yên - 9 bia). Ngoài ra, ở một số văn miếu, văn từ, văn chỉ ở nhiều địa phương từ cấp phủ trở xuống đến cấp thôn cũng có lập văn bia đề danh Tiến sĩ (sơ bộ thống kê cũng có đến vài chục bia).

Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam thời kỳ phong kiến đã được nhiều thế hệ Hán học nghiên cứu, dịch và công bố; nhưng hoàn toàn mang tính độc lập cho từng di tích văn hóa. Hầu như chúng ta chưa có được cái nhìn tổng quan, bao quát về thể tài Văn bia đề danh Tiến sĩ này. Ấy là chưa kể đến có những bản dịch còn khá nhiều thiếu sót, như phiên âm họ tên và quê quán người đỗ đạt sai, rồi thừa thiếu cũng có, v.v...

Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến hệ thống văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam viết bằng chữ Hán hiện còn tập trung ở hai văn miếu cấp quốc gia: Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội và Văn Miếu Huế, và hai Văn Miếu cấp tỉnh: Văn Miếu Bắc Ninh và Văn Miếu Hưng Yên. Đây là những nơi tập trung nhiều nhất hệ thống văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam thời kỳ phong kiến hiện còn ở nước ta. Còn văn bia đề danh Tiến sĩ ở các địa phương khác thì vấn đề văn bản hết sức phức tạp, chúng tôi sẽ đề cập vào một dịp khác.

A- Văn miếu cấp quốc gia

1/ Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội

Văn Miếu - Quốc Tử Giám ở kinh đô Thăng Long được xây dựng từ năm 1070 thời vua Lý Thánh Tông (1023 - 1072), qua bao thăng trầm của lịch sử, trải các triều Trần - Hồ - Lê Sơ - Mạc - Lê Trung hưng - Tây Sơn - Nguyễn, Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội được tu bổ, mở rộng và tồn tại đến ngày nay. Hiện ở Văn miếu - Quốc Tử giám Hà Nội còn lưu giữ được 82 văn bia đề danh Tiến sĩ, có niên đại trải dài hơn 300 năm với 82 khoa thi. Văn bia được khắc đầu tiên có niên đại Hồng Đức thứ 15 (1484) cho khoa thi Đại Bảo thứ 3 (1442) và văn bia khắc cuối cùng có niên đại Cảnh Hưng thứ 41 (1780) cho khoa thi Cảnh Hưng thứ 40 (1779). Số lượng văn bia được dựng theo thời gian như sau: thời Lê Sơ có 13 văn bia, thời Mạc có 1 văn bia, thời Lê Trung hưng có 68 văn bia (3). Số người đỗ đại khoa được văn bia khắc họ tên, quê quán là 1.304 vị Tiến sĩ Nho học (không kể 3 trường hợp đi thi 2 lần là Trịnh Thiết Trường, Nguyễn Nguyên Chẩn và Nguyễn Nhân Bị).

Hệ thống văn bia đề danh Tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội được nhà nước phong kiến các thời kỳ tổ chức dựng bia, khắc đá, đề danh khá cẩn thận và chu đáo, từ việc chọn đá, tuyển người soạn bài văn bia, người nhuận sắc, người khắc, hình thức trang trí, v.v...

Một đặc điểm dễ nhận thấy là, 82 văn bia đề danh Tiến sĩ ở Văn miếu - Quốc Tử giám Hà Nội đều đề tên người soạn văn bia và bài văn bia thường được kết cấu theo một khuôn mẫu: phần mở đầu là ca ngợi công đức của các triều vua trị vì, ca ngợi đạo Nho và bậc thánh nhân quân tử; phần tiếp theo nói về việc mở khoa thi và liệt kê họ, tên, quê quán những người thi đỗ đại khoa; phần cuối là những lời bình về ý nghĩa của việc dựng bia, vai trò trách nhiệm và nghĩa vụ của những người thi đỗ trước giang sơn đất nước. Một đặc điểm khác cũng dễ nhận thấy là 82 văn bia đề danh Tiến sĩ ở Văn miếu - Quốc Tử giám Hà Nội đều khắc hoa văn trang trí rất cầu kỳ, mang tính cách điệu cao, là những tư liệu có giá trị khi nghiên cứu nghệ thuật điêu khắc nước ta thời kỳ từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Văn bia đề danh Tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội thực sự là những tài liệu hết sức có giá trị khi nghiên cứu truyền thống giáo dục, chế độ khoa cử và nghệ thuật điêu khắc thời Lê Sơ - Lê Trung hưng.

Nhưng văn bia đề danh Tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội cũng có những đặc điểm liên quan đến vấn đề văn bản học mà chúng ta phải lưu ý khi sử dụng chúng. Đó là việc triều vua Minh Mệnh (1820-1840) thời Nguyễn cho đục những dòng chữ liên quan đến các chúa Trịnh trên 68 văn bia (các bia dựng từ năm 1653 đến năm 1779), hoặc việc 14 văn bia được xác định là khắc lại (4) đã làm mất đi tính minh xác của văn bia, một loại tài liệu được đánh giá cao về tính chính xác của văn bản.

82 văn bia đề danh Tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội đã được làm thác bản từ những năm đầu của thế kỷ XX do Trường Viễn đông Bác cổ Pháp (tại Hà Nội) thực hiện và những năm cuối của thế kỷ XX do Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực hiện, các thác bản hiện lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. 82 văn bia đề danh Tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội đã được dịch và công bố nhiều lần (5).

2/ Văn Miếu Huế (Thừa Thiên - Huế)

Từ thời các chúa Nguyễn mở mang bờ cõi xuống phương Nam, cũng đã cho xây dựng Văn miếu, nhưng rất tiếc, hiện chưa rõ địa điểm và năm xây dựng. Còn theo sử sách ghi chép thì: năm Nhâm Thân (1692), chúa Nguyễn Phúc Chu cho tu sửa Văn miếu ở Triều Sơn; đến năm Canh Dần (1770), Định Vương Nguyễn Phúc Thuần cho di chuyển Văn miếu về Long Hồ. Tới năm Gia Long thứ 7 (năm 1808), Văn miếu Huế chính thức của triều Nguyễn mới được xây dựng quy mô trên khu đất thuộc làng An Ninh (tức địa phận di tích ngày nay thuộc xã Hương Long, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế). Trải dòng lịch sử, Văn miếu Huế đã được nhiều lần trùng tu và sửa chữa, như: năm Kỷ Sửu (1829) triều vua Minh Mệnh, năm Quý Mão (1843) triều vua Thiệu Trị, năm Kỷ Dậu (1849) dưới triều Tự Đức, triều Thành Thái tu sử 2 lần, rồi triều Bảo Đại. Hiện nay, Văn Miếu Huế đang được nhà nước đầu tư tu sửa nhằm khôi phục phần nào diện mạo của Văn Miếu Huế thời Nguyễn.

Thời Nguyễn (1802-1942), từ đời Minh Mệnh, triều đình mới mở lại các khoa thi Đình, nên văn bia đề danh Tiến sĩ cũng được dựng lại. Từ năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Minh Mệnh thứ 3 (1822), đến khoa cuối cùng là khoa Kỷ Mùi, niên hiệu Khải Định thứ 4 (1919), có cả thảy 43 khoa thi. Tuy nhiên, chỉ có 32 văn bia đề danh Tiến sĩ được dựng (trong đó có 3 văn bia khắc 3 khoa thi, 2 văn bia khắc 2 khoa thi) và 2 văn bia đề danh các Tiến sĩ võ (trong đó có 1 văn bia khắc 2 khoa thi) đã được dựng ở Văn Miếu Huế.

Bia đề danh Tiến sĩ ở Văn Miếu Huế nhỏ hơn và không đẹp bằng những bia đề danh Tiến sĩ ở Quốc Tử giám Hà Nội. Nội dung văn bia cũng giản đơn hơn rất nhiều, không có bài ký mở đầu, chỉ ghi tên tuổi, quê quán của các vị Tiến sĩ mà thôi. Hình thức trang trí bia cũng giản đơn, không cầu kỳ tỉ mỉ như những bia đề danh Tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội. Tuy vậy, 32 tấm bia này vẫn có giá trị nghiên cứu khoa cử thời Nguyễn nói chung và tên tuổi, quê quán của 303 vị Tiến sĩ văn võ thời Nguyễn nói riêng. Về phương diện mỹ thuật, bia đề danh Tiến sĩ ở Văn miếu Huế cũng là những tài liệu góp phần nghiên cứu phong cách mỹ thuật Việt Nam thời Nguyễn.

34 văn bia ở Văn miếu Huế (trong đó có 32 văn bia đề danh Tiến sĩ, còn 2 bia khắc 2 bài dụ của các vua Minh Mệnh và Thiệu Trị) đã được làm thác bản từ những năm đầu của thế kỷ XX do Trường Viễn đông Bác cổ Pháp (tại Hà Nội) thực hiện, các thác bản này hiện lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. 34 văn bia này đã được dịch và công bố năm 2000(6).

B- Văn Miếu cấp địa phương

1/ Văn Miếu Bắc Ninh

Về thời điểm xây dụng Văn miếu tỉnh Bắc Ninh, hiện chưa tìm thấy các tài liệu thư tịch ghi chép một cách chính xác. Có một số ý kiến cho rằng, Văn miếu Bắc Ninh được xây dựng vào thời Lê sơ (7), nhưng theo chúng tôi là chưa đủ tin cậy. Các tài liệu, thư tịch Hán Nôm ghi chép về Văn miếu Bắc Ninh hiện còn tìm thấy đều thuộc về thời Nguyễn và chỉ ghi việc trùng tu, sửa chữa Văn miếu mà thôi, không ghi chính xác thời điểm xây dựng Văn miếu. Theo văn bia Trùng tu Bắc Ninh bi đình ký thì: Văn miếu Bắc Ninh xưa dựng ở sơn phận Thị Cầu, huyện Võ Giàng; năm Thành Thái thứ 5 (1893) được chuyển về núi Nác, thôn Phúc Đức, tổng Đỗ Xá, huyện Võ Giàng(8) (tức địa phận xã Đại Phúc thị xã Bắc Ninh hiện nay). Sách Đại Nam nhất thống chí cho biết: Năm Gia Long thứ 1 (1802) tu sửa Văn miếu, đến năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) phải làm lại(9). Như vậy Văn miếu Bắc Ninh theo sự ghi chép của các tài liệu, thư tịch Hán Nôm thì các đợt di chuyển và trùng tu đều diễn ra vào các năm muộn sau này mà thôi (năm 1893, năm 1896, năm 1912 và năm 1928). Vấn đề thời điểm xây dựng Văn miếu Bắc Ninh cần được tiếp tục khảo cứu cẩn trọng, nhưng dẫu sao thì Văn miếu Bắc Ninh cũng có một vị trí nhất định khi nghiên cứu giá trị lịch sử văn hóa địa phương nói riêng và lịch sử văn hóa dân tộc nói chung.

Tại đây, nhân dân địa phương còn lưu giữ được 14 tấm bia đá, trong đó có 11 tấm có tên là Bắc Ninh lịch triều đại khoa bi ký (Văn bia ghi những người đỗ đại khoa ở các triều đại tỉnh Bắc Ninh), văn bia ghi chép về khoa thi, họ tên, quê quán, học vị, chức tước của 678 vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Tiến sĩ của tỉnh Bắc Ninh thời phong kiến (bao gồm cả tỉnh Bắc Giang và các huyện Gia Lâm, Văn Giang, Đông Anh ngày nay) từ thời Lý như Trạng nguyên Lê Văn Thịnh đỗ đầu kỳ thi Minh kinh bác sĩ khoa ất Mão niên hiệu Thái Ninh thứ 4 (1075) đến thời Nguyễn như Nguyễn Duy Thiện đỗ Phó bảng khoa Tân Sửu niên hiệu Thành Thái thứ 13 (1901).

Trong số 678 Tiến sĩ được khắc tên trong 11 tấm bia tại Văn Miếu Bắc Ninh, có 367 trường hợp đã được khắc tên trong bia ở Văn miếu-Quốc tử giám Hà Nội và Văn miếu Huế; còn 311 trường hợp chưa được khắc tên trong bia ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội và Văn miếu Huế. 311 Tiến sĩ này chủ yếu thi đỗ vào thời Mạc và một số khoa thời Lê chưa lập bia, nên đây là những tư liệu quan trọng khi nghiên cứu về các nhà khoa bảng nước ta thời kỳ phong kiến.

Về hình thức văn bia, 11 tấm bia Bắc Ninh lịch triều đại khoa bi ký không khắc hoa văn trang trí, không đề tác giả, và niên đại khắc bia; điều này sẽ gây không ít những khó khăn cho chúng ta khi nghiên cứu về đời sống văn hóa nghệ thuật tỉnh Bắc Ninh nói chung và văn bia đề danh Tiến sĩ ở Văn miếu Bắc Ninh nói riêng.

11 văn bia đề danh Tiến sĩ ở Văn Miếu Bắc Ninh đã được làm thác bản từ những năm đầu của thế kỷ XX do Trường Viễn đông Bác cổ Pháp (tại Hà Nội) thực hiện và những năm cuối của thế kỷ XX do Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực hiện, các thác bản hiện lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. 11 văn bia này đã được Nguyễn Quang Khải dịch và công bố năm 2000 (10).

2/ Văn Miếu Xích Đằng (Hưng Yên)

Văn Miếu Hưng Yên nay thuộc địa phận xã Xích Đằng, phường Lam Sơn, thị xã Hưng Yên tỉnh Hưng Yên, nhân dân ở địa phương thường gọi là Văn Miếu Xích Đằng.

Sách Đại Nam nhất thống chí có ghi: “Văn miếu ở phía tây bắc tỉnh thành, thuộc địa phận xã Xích Đằng, dựng năm Minh Mệnh thứ 20 (1839)”(11). Nhưng theo tư liệu hiện có ở Văn miếu, như chiếc khánh Văn miếu ngọc khánh có niên đại vào năm Gia Long thứ 2 (1803), hay chuông Văn miếu kim chung có niên đại vào năm Gia Long thứ 3 (1804) thì Văn Miếu Hưng Yên có thể được xây dựng từ những năm đầu thời Nguyễn. Như vậy, về thời điểm tạo dựng Văn Miếu Hưng Yên ở thị xã Hưng Yên (hay còn gọi là Phố Hiến), nơi từng là trung tâm buôn bán sầm uất thứ nhì vùng châu thổ sông Hồng “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến” cần được tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu.

Văn Miếu Hưng Yên trải theo thời gian cũng bao lần trùng tu sửa chữa, thời Nguyễn vào đời Thiệu Trị (năm 1820), đời Đồng Khánh (1886-1888), đời Bảo Đại (1941) và những năm gần đây Nhà nước, chính quyền địa phương đã quan tâm tu sửa, nên Văn miếu ngày càng khang trang đẹp đẽ.

Văn bia đề danh Tiến sĩ ở Văn Miếu Hưng Yên ghi chép 162 vị khoa bảng (chúng tôi dùng từ khoa bảng, vì văn bia ở đây khắc cả những người đỗ Phó bảng), từ thời Trần là Hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn đến thời Nguyễn là Tiến sĩ Đào Danh Văn. Trong số 162 Tiến sĩ được khắc tên trong 9 tấm bia tại Văn miếu Hưng Yên, có 88 trường hợp đã được khắc tên trong bia ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội và Văn Miếu Huế, 68 trường hợp chưa được khắc tên trong bia ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội và Văn Miếu Huế, 1 trường hợp được xác định là nhân vật truyền thuyết (như Trạng nguyên Tống Trân), còn lại 5 trường hợp chưa rõ nguồn gốc.

Về hình thức văn bia, 9 tấm bia đề danh Tiến sĩ này, đều có khắc hoa văn trang trí, nhưng rất đơn giản. Các yếu tố văn bản như: tác giả và niên đại khắc bia đều không ghi (riêng 2 bia bổ di là bia thứ 8 và thứ 9 có ghi tác giả và niên đại).

9 văn bia đề danh Tiến sĩ ở Văn miếu Hưng Yên đã được làm thác bản vào những năm cuối của thế kỷ XX, do Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực hiện, các thác bản hiện lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. 9 văn bia này đã được Nguyễn Quang Đồng khảo sát lấy làm đề tài luận văn tốt nghiệp Cử nhân Hán Nôm khóa 44 năm 2003 (12).

Một vài nhận xét:

Như vậy, kể từ khi nước ta thoát khỏi sự thống trị của phong kiến phương Bắc (thế kỷ X), một nước Đại Việt độc lập tự cường ngày càng phát triển và đến đời vua Lý Thánh Tông lập Văn miếu ở kinh thành Thăng Long thờ Khổng Tử, Chu Công (Trung Quốc) và sau này thờ Chu Văn An (Việt Nam). Rồi việc vua Trần Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám cũng ở kinh thành Thăng Long để đào tạo nhân tài. Từ đó Nho học ở nước ta phát triển, suốt từ thời Lý đến thời Nguyễn, các bậc khoa bảng nối danh, xuất hiện nhiều bậc hiền lương quân tử, đạo cao đức trọng đáng nêu gương muôn đời cho hậu thế. Mở đầu cho chế độ khoa cử ở nước ta là kỳ thi Minh kinh bác sĩ khoa Ất Mão niên hiệu Thái Ninh thứ 4 (1075) đời vua Lý Nhân Tông và kết thúc là kỳ thi Hội khoa Kỷ Mùi niên hiệu Khải Định thứ 4 (1919). Nhưng nhiều lý do khác nhau, nên mãi đến đời vua Lê Thánh Tông, mới có hình thức lập bia đề danh Tiến sĩ.

Khi tìm hiểu các văn bia đề danh Tiến sĩ, chúng ta thấy được các triều đại phong kiến Việt Nam đều quan tâm tới việc chiêu tập hiền tài, đào tạo nhân tài cho đất nước, luôn có những chính sách phù hợp để phát triển nền giáo dục khoa cử.

Bài ký đề danh Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 (1442) từng viết: “Ngay khi vũ công đại định, văn đức sửa sang, muốn chiêu tập hiền tài, canh tân chính trị. Bèn xuống chiếu cho các nơi trong nước dựng nhà học để đào tạo nhân tài. Tại kinh đô có Quốc tử giám, ngoài các phủ có trường học” và “Lấy việc trọng đạo Nho làm việc hàng đầu, coi kén chọn anh tài tôn trọng hiền sĩ làm mưu lược tốt. Nghĩ việc đặt khoa thi, kén kẻ sĩ là chính sự cần làm trước nhất. Tô điểm cơ đồ, khôi phục mở mang trị hóa chính là ở đây, mà sửa sang chính sự, sắp đặt công việc, giáo hóa dân phong mỹ tục cũng là ở đây, các bậc đế vương đời xưa làm nên trị bình đời nào cũng theo thế”. Như vậy, từ xưa các bậc đế vương đã coi việc chiêu nạp hiền tài và phát triển giáo dục là vấn đề rất quan trọng, vì giáo hóa chính trị là ở đây, và thuần phong mỹ tục cũng là ở đây. Chính vì thế, nhà nước phong kiến rất trọng dụng nhân tài, coi hiền tài là nguyên khí của quốc gia, thể hiện sự hưng thịnh của đất nước.

Bài ký đề danh Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 (1442) từng đề cập tới vấn đề này như sau: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết”.

Bài ký đề danh Tiến sĩ khoa Mậu Thìn, niên hiệu Thái Hòa năm thứ 6 (1448) cũng viết: “Sự lớn lao của nền chính trị của bậc đế vương không gì quan trọng bằng việc trọng dụng nhân tài, ... Việc cai trị mà không lấy nhân tài làm gốc, ... thì đều phải coi là cẩu thả”. Xem thế mới biết, vấn đề chiêu hiền đãi sỹ, vấn đề đào tạo nguồn lực và nhân tài cho đất nước là một chính sách hàng đầu, cực kỳ quan trọng, đối với bất kỳ thời đại nào, chế độ nào, trong quá trình xây dựng và phát triển quốc gia Đại Việt
Tiếp đến, khi tìm hiểu các bài văn bia đề danh Tiến sĩ, chúng ta còn thấy toát lên một vấn đề cũng hết sức quan trọng, đó là ý nghĩa giáo dục của việc lập bia và khắc đá đề danh; nhằm răn dạy các nhà khoa bảng, phải sống sao cho có ích với xã tắc, phải làm sao cho xứng danh kẻ sĩ khi được hưởng ơn vua lộc nước, khi được người dân kỳ vọng.

Bài ký đề danh Tiến sĩ khoa Mậu Thìn, niên hiệu Thái Hòa năm thứ 6 (1448) viết: “Nay những người được đề tên vào tấm đá này, cho dù nay đã có nửa phần tuổi tác đã cao, nhưng con người trung chính hay tà ngụy thế nào, việc làm được mất nên hư thế nào, công luận nghiêm xét, ngàn đời khó trốn”.

Bài ký đề danh Tiến sĩ khoa Quý Mùi, niên hiệu Quang Thuận năm thứ 4 (1463) cũng viết: “Ngõ hầu trên không phụ thịnh ý của triều đình ban khen, dưới không phụ hoài bão lớn muốn phò vua giúp nước, để danh dự được lưu lại đời đời, danh thơm truyền mãi mãi, khiến cho người đời đến xem đọc tấm đá này, chỉ vào tên mà nói: đây là những người trung với nước, hiếu với dân, bàn nói ngay thẳng làm sáng thánh đạo, giữ vững đạo đức kiến lập công lao, được như thế là may mắn lắm. Nếu không được thế thì người xem đưa mắt bảo: kẻ này nhu nhược, kẻ này đức mỏng, kẻ này hèn nhát. Công luận còn đó, há chẳng nên cẩn thận lắm sao?”.

Một bài văn bia khác, Bài ký đề danh Tiến sĩ khoa Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức năm thứ 18 (1487) cũng đề cập tới vấn đề này như sau: “Kẻ sĩ được khắc tên vào bia đá này, thật may mắn biết bao! Cho nên phải đem lòng trung nghĩa tự hẹn với mình, làm sao danh và thực hợp nhau, làm những việc hợp sở học để làm nên sự nghiệp to lớn quang minh, khiến thiên hạ đời sau phải nhón chân lên mà nhắc nhở thanh danh, mến mộ khí tiết. Ngõ hầu trên không phụ ơn triều đình dưỡng dục, dưới không phụ hoài bão thường ngày thì tấm đá khắc ra sẽ đời đời không mục vậy. Thảng hoặc có người ngoài có vẻ văn chương mà trong đức hạnh thiếu phần tu dưỡng, khiến cho điều mà người ta đọc được trên bia không giống như dư luận mà họ nghe biết, việc làm trái với sở học, làm huỷ hoại hạnh kiểm, điếm luỵ danh giáo thì là vết nhơ cho tấm đá này”. Như vậy, việc lập bia đề danh Tiến sĩ, ngoài ý nghĩa lịch sử văn hóa xã hội; còn mang giá trị giáo dục công dân, giáo dục lẽ sống ở đời.

Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam còn góp phần vào việc tìm hiểu thân thế sự nghiệp, quê quán các nhà khoa bảng Việt Nam, góp phần bổ sung cho tài liệu, thư tịch đăng khoa lục Hán Nôm. Trong tổng số 137 văn bia đề danh Tiến sĩ ở 4 khu di tích Văn miếu, chúng tôi đã tiến hành thống kê được hồ sơ của 1.991 các vị khoa bảng, sau khi trừ đi số người đỗ đạt được khắc lại trong văn bia ở Văn Miếu Bắc Ninh và Văn Miếu Hưng Yên. Trong số 1.991 vị khoa bảng này, có 1.979 Tiến sĩ văn, 10 Tiến sĩ võ và 2 vị Phó bảng (ở Văn Miếu Hưng Yên). Nếu so với số lượng tổng cộng 2.896 vị khoa bảng mà Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075-1919) do Ngô Đức Thọ chủ biên (13) giới thiệu, thì con số này thực sự không phải là nhỏ.

Ngoài ra, văn bia dề danh Tiến sĩ Việt Nam còn là những tư liệu rất có giá trị góp phần nghiên cứu lịch sử khoa cử Việt Nam, như: chế độ thi cử (việc quy định niên khoá thi, thể lệ thi,v.v..), tên gọi các khoa thi (Minh kinh bác sĩ, Thái học sinh, Hương, Hội, Đình, v.v..), cách gọi các thứ bậc những người đỗ đại khoa của từng thời kỳ lịch sử (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Nhất giáp, Nhị giáp, Tam giáp, v.v.).

Về phương diện địa lý, các địa danh liên quan đến quê quán những người đỗ đạt được khắc trong các văn bia đề danh sẽ giúp chúng ta xác định quá trình thay đổi tên gọi các địa phương trong lịch sử, góp phần nghiên cứu địa chí Việt Nam, ví dụ như: quê của Nguyễn Như Đổ (1424-1525) ở huyện Thanh Trì, đời Lê Sơ gọi là huyện Thanh Đàm (清潭) thuộc phủ Thường Tín, đời Lê Trung hưng do kiêng chữ “Đàm” (tên húy vua Lê Duy Đàm) nên đổi là Thanh Trì (清池); sau lại kiêng chữ “thanh 清, nghĩa là trong” (tên tước của Thanh vương Trịnh Tráng) nên đổi là “thanh 青 nghĩa là xanh”, và viết là Thanh Trì (青 池) . Các văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam còn là những tư liệu hết sức có giá trị cho các ngành khoa học xã hội, như: văn học, sử học, pháp luật, dân tộc, tôn giáo, hội họa, điêu khắc, v.v...

Với những giá trị nêu trên, rõ ràng là, văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam đáng được quan tâm nghiên cứu và giới thiệu một cách có hệ thống. Nên chăng cần có một bộ sưu tập về thể tài Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam và trong điều kiện kỹ thuật hiện nay sẽ in kèm ảnh các thác bản văn bia, để các nhà nghiên cứu và giảng dạy về khoa học xã hội có điều kiện nhìn nhận, đánh giá một cách tổng quát về thể tài văn bia này.

...............................................................T.K.M

............CHÚ THÍCH
(1), (2) Theo Chu Kiếm Tâm: Kim thạch học, Thượng Hải, 1955, tr.171-173.
(3) Văn miếu - Quốc tử giám và 82 bia Tiến sĩ, Ngô Đức Thọ chủ biên, Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn miếu Quốc tử giám, H. 2002, tr.56.
(4) Nguyễn Thúy Nga: Việc khắc lại 12 bia Tiến sĩ ở Văn miếu - Hà Nội, Tạp chí Hán Nôm số 2/2002 và theo ý kiến của Nguyễn Hữu Mùi.
(5) Đỗ Văn Ninh: Văn bia Quốc tử giám Hà Nội, Nxb. VH-TT, H. 2000 và Văn miếu Quốc tử giám và 82 bia Tiến sĩ (sđd).
(6) Xem Đỗ Văn Ninh: Bia đề tên Tiến sĩ triều Nguyễn, Nghiên cứu Lịch sử số 5/1995 - 1/1996 và Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn (Phạm Đức Thành Dũng - Vĩnh Cao đồng chủ biên), Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2000.
(7) Văn miếu Bắc Ninh, UBND thị xã Bắc Ninh - Sở VH - TT Bắc Ninh, 1999.
(8) Ký hiệu No. 16.737, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
(9) Đại Nam nhất thống chí (Bản dịch của Viện Sử học), Nxb. Thuận Hóa, Huế 1992.
(10) Văn bia Văn miếu Bắc Ninh, Nguyễn Quang Khải dịch và chú giải, Nxb. Văn hóa Dân tộc, H. 2000.
(11) Đại Nam nhất thống chí, Sđd.
(12) Nguyễn Quang Đồng: Di sản Hán Nôm ở Văn miếu Hưng Yên, Đại học KHXH & NV (ĐHQG. Hà Nội), Luận văn Cử nhân Hán Nôm khóa 44, năm 2003.
(13) Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 - 1919), Ngô Đức Thọ chủ biên, Nxb. KHXH, H. 1993.




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 15.03.2014, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 15.03.2014    Tiêu đề: Re: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

BIA TIẾN SĨ Ở VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM HÀ NỘI


TẤM BIA TIẾN SĨ ĐẦU TIÊN
(do Thân Nhân Trung biên soạn)






VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA NHÂM TUẤT NIÊN HIỆU ĐẠI BẢO NĂM THỨ 3 (1442)

Lớn lao thay! Thánh triều ta, Thái Tổ Cao hoàng đế, trời ban trí dũng, nghiệp lớn kinh luân, diệt bạo trừ tàn, cứu dân sinh khỏi chốn lầm than. Ngay khi vũ công đại định, văn đức sửa sang, muốn chiêu tập hiền tài, canh tân chính trị. Bèn xuống chiếu cho các nơi trong nước dựng nhà học để đào tạo nhân tài. Tại kinh đô có Quốc tử giám, ngoài các phủ có trường học. Thánh thượng đích thân chọn con cháu quan viên và thường dân tuấn tú vào làm học sinh ở các cục Nhập thị, Cận thị, Ngự tiền, cùng là giám sinh ở Quốc tử giám. Lại sai quan chuyên trách rộng chọn con em các nhà lương thiện vào làm sinh đồ ở các trường phủ, cử thày dạy dỗ, in kinh sách ban phát, đất trồng tài năng thực đã rộng mở. Còn như phép tuyển chọn kẻ sĩ, hoặc hỏi nghĩa lý kinh điển, hoặc các đề phú luận, hoặc Thánh thượng đích thân ra đề thi văn sách, tùy tài học từng người mà bổ dụng. Lúc bấy giờ tên gọi khoa thi Tiến sĩ tuy chưa đặt ra, nhưng thực chất đề cao Nho học và phép chọn người thì đại khái đã có đủ. Nền thái bình muôn thuở thực đã bắt đầu từ đây.

Ôi! Thái Tông Văn Hoàng Đế nối giữ nghiệp lớn, làm rạng rỡ ông cha, xem xét nhân văn, giáo hóa thiên hạ. Lấy việc trọng đạo Nho làm việc hàng đầu, coi kén chọn anh tài tôn trọng hiền sĩ làm mưu lược tốt. Nghĩ việc đặt khoa thi, kén kẻ sĩ là chính sự cần làm trước nhất. Tô điểm cơ đồ, khôi phục mở mang trị hóa chính là ở đây; mà sửa sang chính sự, sắp đặt công việc, giáo hóa dân phong mỹ tục cũng là ở đây, các bậc đế vương đời xưa làm nên trị bình đời nào cũng theo thế.

Thánh Tổ Cao Hoàng Đế đã định quy mô, nhưng chưa kịp thi hành. Làm rạng rỡ đời trước, khuyến khích đời sau, nay chính là lúc làm việc này. Bèn vào năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442) rộng mở xuân vi (1) thi Hội cho các sĩ nhân trong nước. Bấy giờ số dự thi đông đến 450 người. Qua bốn trường, lấy trúng cách được 33 người. Quan Hữu ti chuyên trách kê tên dâng lên, Thánh thượng sai chọn ngày ban cho vào sân rồng ứng đối (2). Lúc ấy Đề điệu (3) là Thượng thư Tả Bộc xạ Lê Văn Linh, Giám thí là Ngự sử đài Thị Ngự sử Triệu Thái, cùng các quan Tuần xước, Thu quyển, Di phong, Đằng lục, Đối độc ai nấy đều kính cẩn thi hành công việc. Ngày mồng 2 tháng 2, Thánh thượng ra ngự ở điện Hội Anh, đích thân ra đề thi văn sách. Ngày hôm sau các viên Độc quyển là Hàn lâm viện Thừa chỉ Học sĩ kiêm Trung thư Quốc sử sự Nguyễn Trãi, Trung thư sảnh Trung thư Thị lang Nguyễn Mộng Tuân, Nội mật viện Tri viện sự Trình Thuấn Du, Quốc tử giám Bác sĩ Nguyễn Tử Tấn nâng quyển tiến đọc. Hoàng thượng sáng suốt ngự lãm, xét định thứ bậc cao thấp. Ban cho Nguyễn Trực đỗ Trạng nguyên, Nguyễn Như Đổ đỗ Bảng nhãn, Lương Như Hộc đỗ Thám hoa lang; Bọn Trần Văn Huy 7 người đỗ Tiến sĩ; Bọn Ngô Sĩ Liên 23 người đỗ Phụ bảng (4). Đó là gọi theo danh hiệu đã có từ đời trước.

Ngày mồng 3 tháng 3, xướng danh treo bảng, để tỏ cho kẻ sĩ thấy sự vẻ vang. Ân ban tước trật để nêu cao nổi bật với dân thường, ban áo mũ cân đai để đẹp cách ăn mặc, cho dự yến vườn Quỳnh (5) để tỏ ơn huệ, cấp ngựa về quê để rõ lòng đặc biệt mến yêu. Kẻ sĩ và dân chúng Tràng An đâu đâu cũng tụ tập đến xem, đều ca ngợi Thánh thượng chuộng Nho xưa nay hiếm thấy.

Ngày mồng 4, bọn Trạng nguyên Nguyễn Trực lạy chào dâng biểu tạ ơn. Ngày mồng 9, lại vào bệ kiến cáo từ, xin được vinh quy. Đó là khoa thi đầu tiên đời Thánh triều được ơn vinh long trọng, đến nay kẻ sĩ vẫn còn tấm tắc ngợi ca. Từ đó về sau, thánh nối thần truyền, đều tuân theo lệ cũ.
Thánh Hoàng (6) trung hưng nghiệp lớn, rộng mở nhân văn, đổi mới chế độ, lừng lẫy tiếng tăm. Đặc biệt về phép lựa chọn kẻ sĩ lại càng lưu tâm chú ý: phàm những định lệ triều trước đã thi hành thì noi theo giữ gìn, những việc triều trước chưa đủ thì mở rộng thêm. Sau khi truyền lô yết bảng, lại cho dựng đá đề danh để truyền lại lâu dài. Phép hay ý tốt khuyến khích thật rất mực chu đáo tận tình. Tốt thay, thịnh thay!

Nay xét các khoa thi Tiến sĩ từ năm Đại Bảo thứ 3 đến nay đều chưa được dựng bia, bọn Thượng thư Bộ Lễ Quách Đình Bảo vâng mệnh Hoàng thượng đem họ tên thứ bậc người thi đỗ khắc lên đá tốt, đồng thời xin đem danh hiệu Trạng nguyên (7), Bảng nhãn (8), Thám hoa lang (9) đổi làm Tiến sĩ cập đệ, người đỗ Phụ bảng đổi gọi là đồng Tiến sĩ xuất thân để cho hợp với quy chế hiện nay (10). Hoàng thượng chuẩn tấu, sai từ thần là bọn Thân Nhân Trung chia nhau soạn bài ký.

Thần kính vâng lời ngọc, khôn xiết vui mừng. Kính nghĩ việc dựng bia khắc đá là cốt để làm cho ý tốt cầu hiền tài và đạo trị nước của thánh tổ thần tông được lưu truyền mãi mãi. Đó chính là phép lớn để rèn dũa người đời và là điều rất may cho Nho học. Thần tuy vụng về nông cạn, đâu dám chối từ. Kính cẩn cúi rập đầu mà ghi rằng:

Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế, các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết. Vì kẻ sĩ có quan hệ trọng đại với quốc gia như thế, được quý chuộng không biết dường nào, đã được đề cao bởi khoa danh, lại được ban trọng tước trật. Ơn ban đã nhiều mà vẫn coi là chưa đủ. Lại nêu tên ở Tháp Nhạn (11), ban danh hiệu Long Hổ (12) để ngợi khen. Báo tin mở tiệc, triều đình mừng được người tài, không việc gì không làm hết mức.

Nay Thánh thượng anh minh, lại nhận thấy rằng việc lớn tốt đẹp tuy đã vẻ vang một thời, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ để lưu truyền lâu dài cho hậu thế. Vì thế lại cho khắc đá đề danh dựng ở cửa nhà Thái học (13) để cho kẻ sĩ chiêm ngưỡng, hâm mộ phấn chấn, rèn luyện danh tiết, hăng hái kính giúp nhà vua. Há phải chỉ là chuộng hư danh, sính hư văn mà đặt ra đâu!

Ôi ! Kẻ sĩ ở chốn trường ốc lều tranh, danh phận thật là nhỏ mọn, mà được triều đình đề cao hết mực như thế, thì người mang danh kẻ sĩ phải trọng thân danh mình mà lo báo đáp, phải nên thế nào?

Hãy đem họ tên những người đỗ khoa này mà điểm lại, thì thấy nhiều người đã đem tài năng văn học, chính sự để tô điểm cho nền trị bình, mấy chục năm qua được quốc gia trọng dụng. Cũng không phải là không có kẻ, vì tham lam hối lộ mà hư hỏng, hoặc rơi xuống hạng gian tà, có lẽ vì lúc sống, bọn họ chưa được nhìn thấy tấm bia này. Ví thử đương thời chính mắt họ trông thấy, thì lòng thiện được khuyến khích mà ý xấu được ngăn ngừa, mầm nghiệt đâu dám nảy sinh? Thế thì việc dựng bia khắc đá này có lợi ích rất nhiều: kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện lấy đó làm gắng, biết rõ dĩ vãng, rộng nhìn tương lai, vừa là để rèn giũa danh tiết của kẻ sĩ, vừa là để củng cố mệnh mạch nước nhà. Việc lớn mà Thánh tổ Thần tông đặt ra, đâu phải là vô ích. Vậy những ai xem đến tấm bia này cũng nên hiểu ý sâu xa đó.

Thần kính cẩn làm bài ký.
Phụng trực đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung (14) vâng sắc soạn.
Cẩn sự lang Trung thư Giám chính tự Nguyễn Tủng vâng sắc viết chữ (chân).
Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu Tô Ngại vâng sắc viết chữ triện.
Bia dựng ngày 15 tháng Tám niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484).

====================

Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:
NGUYỄN TRỰC 阮直(15) người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.
NGUYỄN NHƯ ĐỔ 阮如堵(16) người huyện Thanh Trì (17) phủ Thường Tín.
LƯƠNG NHƯ HỘC 梁如鵠 (18) người huyện Trường Tân phủ Hạ Hồng.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 7 người:
TRẦN VĂN HUY 陳文徽 (19) người huyện Bất Bạt phủ Thao Giang.
HOÀNG SẰN PHU 黃莘夫 (20) người huyện Vĩnh Ninh phủ Thiệu Thiên.
NGUYỄN HỘC 阮鵠 (21) người huyện Thạch Hà phủ Hà Hoa.
VŨ LÃM 武覽 (22) người huyện Kim Động phủ Khoái Châu.
NGUYỄN HỮU PHU 阮有孚 (23) người huyện Đan Phượng phủ Quốc Oai.
PHẠM CƯ 范居 (24) người huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín.
TRẦN BÁ LINH 陳伯齡 (25) người huyện Vũ Giàng (26) phủ Từ Sơn.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 23 người:
NGÔ SĨ LIÊN 吳士連 (27) người huyện Chương Đức phủ Ứng Thiên.
NGUYỄN DUY TẮC 阮則 (28) người huyện Tiên Lữ phủ Khoái Châu.
NGUYỄN CƯ ĐẠO 阮居道 (29) người huyện Gia Định phủ Thuận An.
PHAN VIÊN 潘員 (30) người huyện Thạch Hà phủ Hà Hoa.
NGUYỄN ĐẠT 阮達 (31) người huyện Thanh Đàm phủ Thường Tín.
BÙI HỰU 裴祐 (32) người huyện Chương Đức phủ Ứng Thiên.
PHẠM NHƯ TRUNG 范如忠 (33) người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
TRẦN ĐƯƠNG 陳當 (34) người huyện Đông Yên phủ Khoái Châu.
NGÔ THẾ DỤ 吳世裕 (35) người huyện Kim Hoa phủ Bắc Giang.
KHÚC HỮU THÀNH 曲有誠 (36) người huyện Thiện Tài phủ Thuận An.
LÊ LÂM 黎霖 (37)người huyện Bất Bạt phủ Thao Giang.
NGUYỄN THIỆN TÍCH 阮善積 (38) người huyện Bình Hà phủ Nam Sách.
NGUYỄN NGHỊ 阮誼 (39) người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
TRỊNH THIẾT TRƯỜNG鄭鐵長 (40) người huyện Yên Định phủ Thiệu Thiên.
TRẦN BÀN 陳磐 (41) người huyện Quế Dương phủ Từ Sơn.
NGUYỄN QUỐC KIỆT 阮國杰 (42) người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
NGUYỄN MỸ 阮美 (43) người huyện Vĩnh Lại phủ Hạ Hồng.
TRỊNH KHẮC TUY 鄭克綏 (44) người huyện Vĩnh Ninh phủ Thiệu Thiên.
NGUYỄN ĐỊCH 阮逖 (45) người huyện Đại An phủ Kiến Hưng (46)
BÙI LÔI PHỦ 裴雷甫 (47) người huyện Phú Xuyên phủ Thường Tín.
LÊ CẦU 黎球 (48) người huyện Phúc Lộc phủ Quốc Oai.
LÊ HIỂN 藜顯 (49) người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
NGUYỄN NGUYÊN CHẨN 阮原稹 (50) người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.

========================
Chú thích:

1. Chỉ thi Hội, thi Hội thường tổ chức vào mùa xuân. Vi (bao vây) là khu vực dành cho thí sinh làm bài.

2. Nguyên văn: Tứ đối vu đình, tức thi Đình.

3. Đề điệu: viên quan đứng đầu chịu trách nhiệm toàn bộ công việc của trường thi. Tuần xước: tuần tra canh gác trong ngoài trường thi. Thu quyển: thu các quyển thi của thí sinh. Di phong: quan rọc phách, niêm phong các quyển thi. Đằng lục: người sao chép bài thi của thí sinh (thể lệ trường thi ngày trước không chấm bài trên các văn bản chính). Đối độc: người đọc soát bản sao so với bản chính.

4. Phụ bảng: bảng lấy thêm dưới hạng Tiến sĩ, tức đồng Tiến sĩ xuất thân.

5.Nguyên văn: Quỳnh Lâm, tên vườn hoa lớn phía sau điện Kính Thiên trong hoàng cung, nơi thường tổ chức các cuộc yến tiệc lớn. (Đời Đường ở Trung Quốc các Tiến sĩ được dự yến tiệc ở Hạnh Hoa viên).

6. Chỉ Lê Thánh Tông (vua đương thời khi viết bài ký dựng bia). Hai chữ “trung hưng” tiếp sau chỉ cuộc binh biến tháng 7-1460 do Nguyễn Xí, Đinh Liệt cầm đầu phế truất Lê Nghi Dân, lập Lê Tư Thành (thuộc dòng đích) lên ngôi, tức vua Lê Thánh Tông.

7. Trạng nguyên: danh hiệu khoa cử gọi người đỗ đầu thi Đình có từ đời Đường. Sĩ tử về kinh đô dự khoa thi Tiến sĩ đều phải nộp tờ khai gọi là Nhân thân trạng, nhân đó gọi người đỗ đầu bảng (thuộc hàng Nhất giáp) là Trạng nguyên. Đời Tống có lúc gọi cả 3 người thuộc hàng nhất giáp là Trạng nguyên, từ đời Nguyên về sau chỉ gọi người thứ nhất là Trạng nguyên.

8. Bảng nhãn: người đỗ thứ hai thuộc hàng Nhất giáp.

9. Thám hoa lang: danh hiệu khoa cử có từ đời Đường, lúc đầu để chỉ 2 người trẻ tuổi đỗ hàng Nhất giáp, gọi là Thám hoa sứ, đời Tống gọi là Thám hoa lang. Từ đời Nam Tống về sau, gọi gọn là Thám hoa, chỉ người đỗ thứ ba trong hàng Nhất giáp.

10. Các khoa thi đời Lý gọi là khoa thi Minh kinh bác học, đời Trần-Hồ gọi là khoa thi Thái học sinh. Lúc đầu, chưa đặt các danh hiệu, chỉ chia người thi đỗ làm 3 hạng (Tam giáp). Từ khoa Đinh Mùi Thiên Ứng Chính Bình 16 thứ (1247) đời Trần Thái Tông mới đặt dạnh hiệu cho 3 người đỗ cao nhất (thuộc hàng Nhất giáp) là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa lang (sau gọi gọn là Thám hoa). Đến năm khắc bia này (1484), Bộ Lễ xin chính thức quy định các danh hiệu như dẫn trên.

11. Nhạn tháp: tên tháp chùa Từ Ân ở kinh đô Tràng An (Trung Hoa). Các khoa thi Tiến sĩ đời Đường sau khi truyền loa gọi tên người thi đỗ, thì khắc tên ở Nhạn tháp chùa Từ Ân.

12. Long Hổ: Tức Long hổ bảng, người đời Đường thường gọi bảng báo tên người đậu Tiến sĩ là "Long hổ bảng".

13. Nguyên văn: hiền quan, nghĩa là cửa của người hiền, chỉ nhà Thái học. Đổng Trọng Thư đời Hán viết: “Dưỡng sĩ chi đại mạc đại hồ Thái học. Thái học giả, hiền sĩ chi sở quan dã” (Sự lớn lao của việc nuôi dưỡng kẻ sĩ không gì lớn bằng nhà Thái học. Nhà Thái học là cửa cổng mà hiền sĩ phải đi qua).

14. Thân Nhân Trung (1419-1499) tự Hậu Phủ , người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng (nay thuộc xã Ninh Sơn huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang). Ông thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân năm Kỷ Sửu, niên hiệu Quang Thuận thứ 10 (1469) đời vua Lê Thánh Tông. Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Lại, Chưởng Hàn lâm viện sự kiêm Đông các Đại học sĩ, Nhập nội Phụ chính, Tế tửu Quốc Tử giám; là thành viên của Hội Tao Đàn và được vua Lê Thánh Tông phong làm Tao Đàn Phó Nguyên soái.

15. Nguyễn Trực (1417-1474) hiệu Hu Liêu và tự là Công Dĩnh , người xã Bối Khê huyện Thanh Oai tỉnh Hà Đông (nay thuộc xã Tam Hưng huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông là người yêu văn chương và giữ các chức quan như: Thự trung thư lệnh, Tri tam quán sự, đặc thụ Hàn lâm viện Thừa chỉ kiêm Tế tửu Quốc tử giám, từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).

16. Nguyễn Như Đổ (1424-1525) hiệu Khiêm Trai và tự là Mạnh An , người xã Đại Lan huyện Thanh Đàm (nay thuộc huyện Thanh Trì Tp. Hà Nội); sau trú quán tại làng Tử Dương huyện Thượng Phúc (nay thuộc huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lại kiêm Tế tửu Quốc tử giám. Ông được cử 3 lần đi sứ (năm1443, năm 1450 và năm 1459) sang nhà Minh (Trung Quốc).

17. Huyện Thanh Trì, tên đương thời (đời Lê sơ) là huyện Thanh Đàm thuộc phủ Thường Tín. Đầu đời Lê Trung hưng, kiêng chữ Đàm (tên huý Thế Tông Lê Duy Đàm (1573-1600), đổi gọi là Thanh Trì ; sau lại kiêng chữ Thanh (trong) là tên tước của Thanh vương Trịnh Tráng (1623-1657), đổi viết Thanh Trì .

18. Lương Như Hộc (?-?) tự là Tường Phủ , người xã Hồng Liễu huyện Trường Tân (nay là thôn Thanh Liễu xã Tân Hưng huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến chức Đô Ngự sử, hai lần được cử đi sứ sang nhà Minh, được về trí sĩ. Ông có công dạy nghề khắc ván in cho dân làng Hồng Liễu. Sau khi ông mất, dân làng tôn thờ làm thành hoàng.

19.Trần Văn Huy (?-?) người xã Thái Bạt huyện Bất Bạt (nay thuộc xã Tòng Bạt huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây). Ông là thân phụ của Trần Văn Cẩn. Có người nói ông là người xã Quảng Bị (cùng huyện). Làm quan Thượng thư Bộ Lại.

20. Hoàng Sằn Phu (?-?) người xã Tiên Kiều huyện Vĩnh Ninh (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Hoàng môn Thị lang kiêm Quốc sử Tu soạn.

21. Nguyễn Hộc (1412-?) người xã Cổ Kinh huyện Thạch Hà (nay thuộc xã Thạch Kênh huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Thượng thư Bộ Binh kiêm Hàn lâm viện Học sĩ, tước hầu.

22. Vũ Lãm (?-?) nguyên quán xã Tiên Kiều huyện Kim Động (nay thuộc xã Bảo Khê huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên). Trú quán xã Kim Lan huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Kim Lan huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Ngự tiền học sinh, Hàn lâm viện Trực học sĩ.

23. Nguyễn Hữu Phu (1413-?) tự Hiển Danh , người xã Sơn Đồng huyện Đan Phượng (nay thuộc xã Sơn Đồng huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông giữ các chức quan, như An phủ sứ Thái Nguyên, An phủ sứ Khoái Lộ và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).

24. Phạm Cư (?-?)người xã La Phù huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã La Phù huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thái bộc tự khanh, quyền Tham chính Lạng Sơn và được cử đi sứ (năm 1464) sang nhà Minh (Trung Quốc). Có sách ghi ông là Nguyễn Cư.

25. Trần Bá Linh (?-?) người xã Thị Cầu huyện Vũ Ninh (nay thuộc phường Thị Cầu thị xã Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thẩm hình viện, Tri Đông đạo quân dân bạ tịch và được cử đi sứ (năm 1459) sang nhà Minh (Trung Quốc).

26. Huyện Vũ Giàng, đời Lê sơ là huyện Vũ Ninh, đầu đời Lê Trung hưng kiêng huý Trang Tông Lê Duy Ninh nên mới đổi là Vũ Giang (sau kiêng tên chúa Trịnh Giang đọc chệch là Vũ Giàng).

27. Ngô Sĩ Liên (?-?) người xã Chúc Sơn huyện Chương Đức (nay thuộc xã Ngọc Sơn huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây). Ông giữ các chức quan, như Đô Ngự sử, Hữu Thị lang Bộ Lễ, Quốc tử giám Tư nghiệp, kiêm Sử quán Tu soạn. Ông thọ hơn 90 tuổi.

28. Nguyễn Duy Tắc (?-?) người xã Thiên Đông huyện Tiên Lữ (nay thuộc xã Dị Chế huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên). Ông từng làm quan Hiến sát sứ.

29. Nguyễn Cư Đạo (?-?) người xã Đông Côi huyện Gia Định (nay thuộc xã An Bình huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Ngự sử đài Đô Ngự sử, Thượng thư Bộ Hộ, Tri Kinh diên sự và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).

30. Phan Viên (1421-?) người xã Bàn Thạch huyện Thạch Hà (nay thuộc xã Sơn Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Quốc tử giám Tế tửu.

31. Nguyễn Đạt (?-?) người xã Diên Trường huyện Thanh Đàm (nay thuộc huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội). Ông làm quan Thượng thư kiêm Hàn lâm viện Thừa chỉ.

32. Bùi Hựu (?-?) người xã Lam Điền huyện Chương Đức (nay thuộc xã Lam Điền huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thị lang và được cử đi sứ (năm 1462) sang nhà Minh (Trung Quốc).

33. Phạm Như Trung (1413-?) người xã Nhân Lý huyện Thanh Lâm (nay thuộc thị trấn Nam Sách huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Đông các Hiệu thư.

34. Trần Đương (?-?) người xã Triền Thủy huyện Đông Yên (nay thuộc xã Đông Kết huyện Châu Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Đề hình Giám sát Ngự sử.

35. Ngô Thế Dụ (?-?) người xã Khê Nữ huyện Kim Hoa (nay thuộc xã Nguyên Khê huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Tả Thị lang.

36. Khúc Hữu Thành (?-?) người xã Thiện Tài huyện Thiện Tài (nay thuộc huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Binh.

37. Lê Lâm (1411-?) người xã Hạ Bì huyện Bất Bạt (nay thuộc tỉnh Hà Tây). Ông giữ các chức quan, như Ngự tiền học sinh, Chủ bạ, Ngự sử đài, Giám sát Ngự sử.

38. Nguyễn Thiện Tích (?-?) người xã Tiền Liệt huyện Bình Hà (nay thuộc xã Tân Phong huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư kiêm Đô Ngự sử.

39. Nguyễn Nghị (1412-?) người xã Trác Châu huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã An Châu huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Tham chính.

40. Trịnh Thiết Trường (?-?) người xã Đông Lý huyện Yên Định (nay thuộc xã Hạnh Phúc huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa). Đi thi khoa này, ông quyết đoạt danh hiệu Cập đệ (tức hàng Tam khôi là Trạng nguyên, Bảng nhãn hay Thám hoa), nhưng chỉ đỗ hạng Tam giáp, ông từ chối không nhận. Khoa sau Thái Hòa năm thứ 6 (1448), ông lại đi thi, quả nhiên đỗ Bảng nhãn. Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm viện Thị giảng, Hữu Thị lang và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).

41. Trần Bàn (?-?) người xã Từ Sơn huyện Quế Dương (nay thuộc xã Bồng Lai huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông giữ các chức quan, như Đông các Đại học sĩ Ngự sử đại phu, Tả Thị lang Bộ Lại và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).

42. Nguyễn Quốc Kiệt (?-?) người xã Trang Liệt huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đồng Quang huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng thư kiêm Thẩm hình viện.

43. Nguyễn Mỹ (?-?) chưa rõ xã, huyện Vĩnh Lại xưa bao gồm huyện Vĩnh Bảo Tp. Hải Phòng và một phần huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương ngày nay. Ông từng giữ chức Tả Thị lang Bộ Lễ.

44. Trịnh Khắc Tuy (1413-?) người xã Sóc Sơn huyện Vĩnh Ninh (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

45. Nguyễn Địch (?-?) người xã Vụ Lạc huyện Đại An (nay thuộc huyện Ý Yên tỉnh Nam Định). Ông làm quan Tả Thị lang.

46. Phủ Kiến Hưng, đời Lý là huyện Ứng Phong, nhà Trần gọi là phủ Ứng Phong, sau kiêng đồng âm chữ Phong (tên huý Khâm Từ Hoàng thái hậu, mẹ Trần Anh Tông), đổi gọi là phủ Kiến Hưng. Thời thuộc Minh, đổi phủ Kiến Hưng thành phủ Kiến Bình. Nhà Lê đổi là phủ Nghĩa Hưng thuộc thừa tuyên Sơn Nam (sau là xứ), gồm 4 huyện: Thiên Bản, Ý Yên, Vọng Doanh, Đại An. Nay là đất các huyện Vụ Bản và Ý Yên tỉnh Nam Định.

47. Bùi Lôi Phủ (1412-?) người xã Đào Xá huyện Phù Vân (nay thuộc huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lại.

48. Lê Cầu (1421-?) người xã Nam Nguyễn huyện Phúc Lộc (nay thuộc xã Cam Thượng huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Bí thư.

49. Lê Hiển (1425-?) người xã Lạc Thực huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Đông Lạc huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Trực học sĩ và được cử đi sứ (năm 1463) sang nhà Minh (Trung Quốc). Ông còn có tên là Lê Văn Hiển.

50. Nguyễn Nguyên Chẩn (1425-?) người xã Lạc Thực huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Đồng Lạc huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Ông thi đỗ, nhưng không nhận, vì không đỗ Cập đệ (tức hàng Tam khôi). Đến khoa Mậu Thìn Thái Hòa thứ 6 (1448), ông đi thi lại, vẫn chỉ đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân và làm quan Khu mật Trực học sĩ.


Nguyên bản chữ Hán-Nôm:


大寶三年壬戌科進士題名記

惟聖明太祖高皇帝天錫智勇業茂經綸去暴除殘、拯斯民於塗炭。及武功耆定文德誕敷思欲招致俊髦作新治效迺詔天下建學育材、內有國子監、外有各府學、上親進官員子孫、與凡民俊秀充入侍、近侍、御前各局學生、及國子監監生。又令有司廣選民間良家子弟充各府生徒。立師儒以教訓之、刊經籍以頒布之、育材之地固已廣矣。至於取士之試、或以明經、或以賦論、或親問策題、各隨其材、不次擢用。當是時進士之科名雖未立、而崇仁之實取士之方大概已備、開萬世太平之基、端在是矣。於皇太宗文皇帝、紹述洪業、敷賁前光、觀乎人文、化成天下。以重道隆儒為首務、以籲俊尊帝為良圖;慮夫設科取士、為治當先、黼黻皇猷、恢張治化者在此、所以修政立事、化民成俗者亦在此古先帝王克臻治效莫不由斯。

聖祖皇帝已定規模未及施用光前振後此惟其時。迺於大寶三年壬戌大開春闈、會試多士。時應舉者四百五十名、歷試四場、入彀者三十有三。蒞事有司以其名進、上命擇日賜對于廷。當時提調官則尚書左僕射臣黎文靈監試官則御史臺侍御史臣趙泰暨巡綽收卷彌封謄錄封讀等官、各供其事。二月初二日上御會英殿、親賜策問。翌日讀卷官翰林院承旨學士兼中書國史事臣阮薦中書省中書侍郎臣阮夢荀內密院知院事臣陳舜俞國子監博士臣阮子晉奉卷進讀上陳睿覽第其高下賜阮直狀元阮如堵榜眼梁如鵠探花郎陳文徽等七名進士吳士連等二十三名附榜因前代名稱也。三月初三日唱名掛榜示多士美觀也。恩命爵秩以旌異之冠帶衣服以粉飾之瓊林賜宴示懿惠之恩既馬送歸、表寵眷之意。長安士庶到處聚觀咸以為聖上崇儒古今穻見。初四日狀元阮直等拜謝恩表初九日辭陛榮歸此聖世初科恩榮之盛事至今以為美談。自時厥後聖繼神傳率循舊典。於惟皇上中興大業丕闡人文制度一新聲明大備至於取士之法尤所用情凡先朝所己行者遵而守之;先朝所未備者增而廣之。臚傳揭榜之後又有立石題名所以示久遠之致勸。良法美意至矣盡矣。猗歟盛哉!玆以大寶三年以來諸科立石題名猶為闕典;禮部尚書郭廷寶等祇承上命第其名次勒于堅且請改狀元榜眼探花郎為進士及第附榜為同進士出身以合今制。上可其奏命臣申仁忠等分撰記文臣恭奉德音不勝欣幸。仰惟立石一舉則聖祖神宗求賢圖治之盛意得以永傳示是乃勵世之大權斯文之大幸臣雖淺拙安敢終辭謹拜手稽首而記之曰賢材國家之元氣元氣盛則國勢強以隆元氣餒則國勢弱以污是以聖帝明王莫不以育材取士培植元氣為先務也。蓋士之關係於國家如此其重故崇尚之意殆無終窮既寵之以科名又隆之以爵秩恩至溥也猶以為未足又標諸鴈塔之題載褒以龍虎之號筵開聞喜廷賀得人無所不用其極也。

今方聖明又以為美觀盛事雖已赫奕於一時永譽流芳未足昭垂於久遠故又立題立石置之賢關俾多士仰瞻歆羨興起敦厲名節勵相皇家豈徒尚虛名事虛文而已哉吁草芽場屋之士一介甚微而得朝廷崇尚如此其至為士者所以自重其身而圖報效當何如耶

姑以此一科姓名而歷數之其以文學政事黼黻治平數十年來為國家用者多矣間以賄貨而敗或陷姦宄之流者亦不能無蓋以生前未賭此貞石耳。倘使當時目及見之則善心油然惡念頓沮其敢有此萌蘗乎

然則斯石一立裨益良多惡者可以為懲善者可以為勸明徵既往廣示將來一則為砥礪多士名節之資一則為堅凝國家命脉之助聖神制作夫豈徒然凡屬觀瞻尚知深意臣謹記

奉直大夫翰林院承旨東閣大學士臣申仁忠奉敕撰

謹事郎中書監正字臣阮竦奉敕書

茂林郎金光門待詔臣蘇碍奉敕篆

皇越洪德十五年八月十五日立。




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 24.03.2014, sửa lần 5
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 15.03.2014    Tiêu đề: Re: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

BIA TIẾN SĨ Ở VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM HÀ NỘI


NHỮNG TẤM BIA ĐƯỢC DỰNG ĐẦU TIÊN DƯỚI THỜI VUA LÊ THÁNH TÔNG (NĂM 1484)

Những tấm bia Tiến sĩ đầu tiên tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở kinh đô Thăng Long được vua Lê Thánh Tông cho dựng vào năm 1484, với mục đích đề cao Nho học và tôn vinh bậc tri thức Nho học đỗ đại khoa. Bảy tấm bia còn lại cho đến ngày nay đề danh tiến sĩ khoa thi các năm 1442, 1448, 1463, 1466, 1475, 1478 và 1481 thời Lê Sơ.

Tương truyền, 3 tấm bia về các khoa thi năm 1469, 1472 và 1475 cũng được vua Lê Thánh Tông cho khắc, song hiện giờ không rõ ở đâu.




BIA SỐ 1: VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA NHÂM TUẤT NIÊN HIỆU ĐẠI BẢO NĂM THỨ 3 (1442)

Nay Thánh thượng anh minh, lại nhận thấy rằng việc lớn tốt đẹp tuy đã vẻ vang một thời, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ để lưu truyền lâu dài cho hậu thế. Vì thế lại cho khắc đá đề danh dựng ở cửa nhà Thái học để cho kẻ sĩ chiêm ngưỡng, hâm mộ phấn chấn, rèn luyện danh tiết, hăng hái kính giúp nhà vua. Há phải chỉ là chuộng hư danh, sính hư văn mà đặt ra đâu!

Phụng trực đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung vâng sắc soạn.

Cẩn sự lang Trung thư giám Chính tự Nguyễn Tủng vâng sắc viết chữ (chân).

Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu Tô Ngại vâng sắc viết chữ triện.

Bia dựng ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484).





BIA SỐ 2: VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA MẬU THÌN NIÊN HIỆU THÁI HÒA NĂM THỨ 6 (1448)

Trung trinh đại phu Hàn lâm viện Thị độc kiêm Đông các Đại học sĩ Đỗ Nhuận vâng sắc soạn.

Cẩn sự lang Trung thư giám Chính tự Nguyễn Tủng vâng sắc viết chữ (chân).

Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu Tô Ngại vâng viết chữ triện.

Bia dựng ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484).





BIA SỐ 3: VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA QUÝ MÙI NIÊN HIỆU QUANG THUẬN NĂM THỨ 4 (1463)

Nay Hoàng thượng luôn nghĩ: nhân tài là nguyên khí của nước nhà, không thể không ra sức vun trồng bồi đắp; chế độ làm vẻ đẹp cho nước nhà, không thể không xếp đặt rõ ràng đầy đủ. Bèn sai quan Bộ Công khắc đá đề danh dựng ở nhà Thái học. Lại sai bề tôi là (Đào) Cử soạn bài ký.

Hiển cung đại phu Hàn lâm viện Thị giảng Đông các Hiệu thư Đào Cử vâng sắc soạn.

Cẩn sự Thị lang Trung thư giám Chính tự Nguyễn Tủng vâng sắc viết chữ (chân).

Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu Tô Ngại vâng sắc viết chữ triện.

Bia dựng ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484).






BIA SỐ 4: VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA BÍNH TUẤT NIÊN HIỆU QUANG THUẬN NĂM THỨ 7 (1466)

Mậu lâm lang Đông các Hiệu thư Đàm Văn Lễ vâng sắc soạn.

Cẩn sự lang Trung thư giám Chính tự Nguyễn Tủng vâng sắc viết chữ (chân).

Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu bề tôi là Tô Ngại vâng sắc viết chữ triện.

Bia dựng ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484).

Danh sách các quan coi thi và chấm thi.

Đề điệu:

- Sùng tiến Nhập nội Hữu Đô đốc kiêm Thái tử Thiếu bảo Lê Cảnh Huy.

- Quyền Thượng thư Chính sự viện kiêm Cẩn Đức điện Đại học sĩ Thái tử tân khách Nguyễn Như Đổ.

Độc quyển:

- Hàn lâm viện Thừa chỉ Nguyễn Trực, kiêm Cẩn Đức điện Đại học sĩ Nhập thị Kinh diên kiêm Tả xuân phường Thái tử Tả dụ đức Nguyễn Cư Đạo.

- Hàn lâm viện Học sĩ, hành Hải tây đạo tuyên Chính sứ ty Tham tri kiêm Bí thư giám Học sĩ Vũ Vĩnh Trinh.

Giám thí:

- Hàn lâm viện Đại học sĩ, quyền Ngự sử đài Ngự sử đại phu Trần Bàn.





BIA SỐ 5: VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA ẤT MÙI NIÊN HIỆU HỒNG ĐỨC NĂM THỨ 6 (1475)

Đông các Hiệu thư Mẫn sự Tá lang Lê Ngạn Tuấn vâng sắc soạn.

Cẩn sự lang Trung thư giám Chính tự Thái Thúc Liêm vâng sắc viết chữ (chân).

Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu Tô Ngại vâng sắc viết chữ triện.

Bia dựng ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484).

Danh sách các quan coi thi và chấm thi.

Đề điệu:

- Vinh tiến Trần quốc Thượng tướng quân Phò mã Đô uý Đông quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Đoan Vũ bá Trịnh Công Lộ.

- Phụng trực đại phu Thượng thư Bộ Lại Tư chính Thượng khanh Hoàng Nhân Thiệm.

Độc quyển:

- Triều liệt đại phu Hàn lâm viện Thị độc kiêm Đông các Học sĩ Tu thiện doãn Thân Nhân Trung.

- Hiển cung đại phu Đông các Hiệu thư Đỗ Nhuận.

- Mậu lâm lang Đông các Hiệu thư Quách Đình Bảo.

Giám thí:

- Phụng trực đại phu Thái tử Thiếu bảo Ngự sử đài Đô Ngự sử Tư chính Thượng khanh Trần Phong.

- Mậu lâm lang Binh khoa Đô Cấp sự trung Phí Bá Khang.






BIA SỐ 6: VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA MẬU TUẤT NIÊN HIỆU HỒNG ĐỨC NĂM THỨ 9 (1478)

Hiển cung đại phu Hàn lâm viện Thị thư kiêm Tú lâm cục Tư huấn Nguyễn Đôn Phục vâng sắc soạn.

Cẩn sự lang Trung thư giám Chính tự Thái Thúc Liêm vâng sắc viết chữ (chân).

Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu Tô Ngại vâng sắc viết chữ triện.

Bia dựng ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484).

Danh sách các quan coi thi và chấm thi.

Đề điệu:

- Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thái phó Kỳ Quận công Thượng trụ quốc Lê Niệm.

- Phụng trực đại phu Thượng thư Bộ Lại Tư chính Thượng khanh Hoàng Nhân Thiệm.

Độc quyển:

- Thông chương đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ Đông các Đại học sĩ Tư chính khanh Thân Nhân Trung.

- Tả Thị lang Bộ Lễ kiêm Quốc tử giám Tế tửu Nguyễn Như Đổ.

- Triều liệt đại phu Đông các Học sĩ Tu thiện doãn Quách Đình Bảo.

- Triều liệt đại phu Quốc tử giám Tư nghiệp kiêm Sử quán Tu soạn Tu thiện doãn Ngô Sĩ Liên.

Giám thí:

- Tả Thị lang Bộ Hình, Triều liệt đại phu Tu thiện doãn Nguyễn Tường.

- Hữu Thị lang Bộ Công, Đạt tín đại phu Tu thiện thiếu doãn Ngô Đức Thanh.





BIA SỐ 7: VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA TÂN SỬU NIÊN HIỆU HỒNG ĐỨC NĂM THỨ 12 (1481)

Năm Tân Sửu niên hiệu Hồng Đức (1481) là năm thứ 54 Hoàng triều mở vận và năm thứ 22 Hoàng thượng trung hưng, mở khoa thi Hội đến năm nay cũng đã 11 năm.

Hoàng thượng đích thân sắc dụ sai quan Bộ Công dựng đá đề tên ở Quốc tử giám, sai bề tôi là Trọng Ý soạn bài ký.

Hiển cung đại phu Hàn lâm viện Thị thư kiêm Tú lâm cục Tư huấn Nguyễn Xung Xác vâng sắc soạn.

Mậu lâm tá lang Trung thư giám Điển thư Phan Trung vâng sắc viết chữ (chân).

Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu Tô Ngại vâng sắc viết chữ triện.

Bia dựng ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484).

===================

Ghi chú:

1- Lưu ý cách dùng từ "Trung hưng".

Câu mở đầu bài văn bia nói "54 năm" là tính từ khi Lê Thái Tổ lên ngôi (năm 1428), còn "22 năm" là tính từ năm Lê Thánh Tông lên ngôi (năm 1460). Văn bia các khoa Tiến sĩ đời Lê Sơ nói thời "Trung hưng" là nói về sự kiện năm 1459 quan quân tại triều lật đổ Lê Nghi Dân và đón Lê Tư Thành lên ngôi (tức vua Lê Thánh Tông).

2- Không thấy ghi danh sách các quan coi thi và chấm thi như 6 Bia tiến sĩ (từ Bia số 1 đến Bia số 6).




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 24.03.2014, sửa lần 10
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 15.03.2014    Tiêu đề: Re: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

BIA TIẾN SĨ Ở VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM HÀ NỘI


6 TẤM BIA THỜI LÊ SƠ VÀ 1 TẤM BIA THỜI MẠC





BIA SỐ 8: VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA ĐINH MÙI NIÊN HIỆU HỒNG ĐỨC NĂM THỨ 18 (1487)

Phụng trực đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ Đông các Đại học sĩ Tư chính Thượng khanh Thân Nhân Trung vâng sắc soạn.

Mậu lâm tá lang Trung thư giám Điển thư Nguyễn Cận vâng sắc viết chữ (chân).

Cẩn sự lang Kim quang môn Đãi chiếu Nguyễn Nhân Huệ vâng sắc viết chữ triện.

Bia dựng ngày 15 tháng 8 năm niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487).

Danh sách các quan coi thi và chấm thi.

Đề điệu:

- Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Trụ quốc Kinh Dương bá Lê Quyền.

- Thượng thư Bộ Hình Trung trinh đại phu Khuông mỹ Thiếu doãn Quách Đình Bảo.

Độc quyển:

- Phụng trực đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ Đông các Học sĩ Tư chính Thượng khanh Thân Nhân Trung.

- Gia hạnh đại phu Hàn lâm viện Thị độc Đông các Đại học sĩ Khuông mỹ doãn Đỗ Nhuận.

- Hữu Thị lang Bộ Binh, Hiển cung đại phu Nguyễn Đôn Phục.

- Hiển lượng đại phu Hàn lâm viện Thị thư Chưởng Hàn lâm viện sự [...] Sùng văn quán Tú lâm cục Tư huấn Lương Thế Vinh.

- Hiển cung đại phu Hàn lâm viện Thị độc Đông các Hiệu thư Đào Cử.

- Hiển cung đại phu hữu [...] phường Hữu duyệt thư Ông Nghĩa Đạt.

Giám thí:

- Tả Thị lang Bộ Lại, Trung trinh đại phu Khuông mỹ Thiếu doãn Bùi Viết Lương.

- Ngự sử đài kiêm Đô Ngự sử, Hiển cung đại phu Nguyễn Hoằng Thạc.




BIA SỐ 9: VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA BÍNH THÌN NIÊN HIỆU HỒNG ĐỨC NĂM THỨ 27 (1496)

Ngày Đinh Dậu 19 tháng 3, Hoàng thượng ngự tại điện Kính Thiên [ra bài văn sách hỏi về đạo trị nước].

Sai Đề điệu là Binh bộ Thượng thư Định Công bá Trịnh Công Đán, Ngự sử đài Đô Ngự sử Quách Hữu Nghiêm; Giám thí là Hộ bộ Hữu Thị lang Nguyễn Hoằng [...] cùng các quan lớn nhỏ chia giữ các việc. Sáng hôm sau [...] bọn Đào Thuấn Cử dâng quyển để Hoàng thượng ngự lãm.

Hiển cung đại phu Hàn lâm viện Thị giảng Tham Chưởng Hàn lâm viện sự Lưu Hưng Hiếu vâng sắc soạn.

Cẩn sự lang Trung thư giám Chính tự Nguyễn Đức vâng sắc viết chữ (chân).

Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu Nguyễn Nhân vâng sắc viết chữ triện.

Bia dựng ngày 6 tháng 12 niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496).




BIA SỐ 10: VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA NHÂM TUẤT NIÊN HIỆU CẢNH THỐNG NĂM THỨ 5 (1502)

Mở khoa thi Tiến sĩ là quy chế đã định sẵn để kén chọn kẻ sĩ, khắc đá đề danh cốt để rộng rãi khuyến khích nhân tài. Các triều trước đều lấy đó để làm sáng tỏ nhân văn, thánh triều cũng lấy đó để nâng cao hiệu quả trị đạo. Đại khái kinh điển giáo hóa lớn của triều đình hàm chứa trong đó, đâu phải chỉ để ghi sự việc cho đẹp mắt mà thôi đâu!

Sai Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Nam quân Phò mã đô uý Lâm Hoài bá Trụ quốc Lê Đạt Chiêu, Hộ bộ Thượng thư Vũ Hữu, Binh bộ Tả Thị lang Dương Trực Nguyên, Ngự sử đài Thiêm Đô Ngự sử Bùi Xương Trạch chia giữ các việc.

Lễ bộ Thượng thư Tả xuân phường Tả dụ đức kiêm Đông các Đại học sĩ Đàm Văn Lễ, Lễ bộ Thượng thư kiêm Hàn lâm viện Thị độc Chưởng Hàn lâm viện sự Nguyễn Bảo, Lễ bộ Tả Thị lang kiêm Đông các Học sĩ Lê Ngạn Tá; Quốc tử giám Tế tửu Hà Công Trình, Tư nghiệp Hoàng Bồi, Thái thường Tự khanh Nghiêm Lâm dâng quyển lên đọc.

Tư Thiên Giám chọn ngày tốt, Hoàng thượng ngự điện Kính Thiên, sai truyền loa xướng tên người thi đỗ, trăm quan mặc triều phục chúc mừng. Mấy năm trước bảng vàng treo ngoài cửa Đông Hoa, năm nay sai Bộ Lễ rước bảng có trống nhạc dẫn trước, đem treo ngoài cửa nhà Thái học, cốt khiến cho sĩ tử nhìn thấy mà thêm phần khích lệ. Ân vinh ban theo thứ bậc, thảy đều theo lệ cũ.

Quan Bộ Công theo lệ, khắc đá đề danh để truyền tới lâu dài. Sai Từ thần soạn bài ký. Thần là Đàm Văn Lễ kém cỏi, giữ trách nhiệm soạn thuật, không dám lấy cớ quê mùa chối từ.

Thượng thư Bộ Lễ, Gia hạnh đại phu Tả xuân phường Tả dụ đức kiêm Đông các Đại học sĩ Khuông nghĩa doãn Đàm Văn Lễ vâng sắc soạn.

Bia dựng ngày 10 tháng 11 niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502).

Quang lượng đại phu Trung thư giám Điển thư Chính tự khanh Phạm Định vâng viết chữ (chân).

Thông chương đại phu Kim quang môn Đãi chiếu Chính khanh Nguyễn Toản vâng viết chữ triện.

Bia dựng ngày 15 tháng 9 niên hiệu Đại Chính năm thứ 7 (1536)

Chú thích:

Bia này có 2 dòng ghi thời gian: ở trên đã ghi bia dựng ngày 10 tháng 11 niên hiệu Cảnh Thống 5 (1502), nhưng có thể, năm ấy chỉ mới viết bài ký, mà chưa thực sự khắc chữ và khắc bia. Mãi đến đầu triều Mạc, mới đem bài ký đã viết trước, ra khắc chữ và khắc bia, như đã ghi ở dòng cuối bia.

Như vậy, những chú thích về các tên huyện bị sai, chứng tỏ có thể bia này đã bị khắc lại, hoặc đục sửa địa danh vào đời sau.




BIA SỐ 11: VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA TÂN MÙI NIÊN HIỆU HỒNG THUẬN NĂM THỨ 3 (1511)

Ngày 17 tháng 4, Hoàng thượng đích thân ra bài văn sách, hỏi về đạo trị nước xưa nay.

Sai Đề điệu là Suy trung Tán trị Minh kính Khiêm cung công thần Đặc tiến Khai phủ Kim tử Vinh lộc đại phu Bình chương quân Quốc trọng sự Thống quốc chính Thái tể Thái sư Thiệu quốc công thượng trụ quốc Lê Quảng Độ; Phụng trực đại phu Công bộ Thượng thư Tư chính Thượng khanh Trình Chí Sâm; Giám thí là Gia hạnh đại phu Hộ bộ Tả Thị lang Khuông nghĩa doãn Phạm Hạo, Tả Thị lang Bộ Lại Triều liệt đại phu Tu thận doãn Đặng Minh Khiêm, cùng các quan hữu ty chia giữ các việc.


Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thiếu bảo Thượng thư Bộ Lễ, Đông các Đại học sĩ kiêm Quốc tử giám Tế tửu Tri Kinh diên sự Đôn Thư bá trụ quốc Lê Tung vâng sắc soạn.

Triều liệt đại phu Trung thư giám Trung thư xá nhân Tu thận doãn Ngô Ninh vâng viết chữ (chân).

Lễ bộ Tả Thị lang hành Kim quang môn Đãi chiếu Tri Thượng bảo giám các cục sự Nguyễn Huệ vâng sắc viết chữ triện.

Bia dựng ngày 15 tháng 3 niên hiệu Hồng Thuận thứ 5 (1513).




BIA SỐ 12: VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA QUÝ MÙI NIÊN HIỆU HỒNG THUẬN NĂM THỨ 6 (1514)

Hoàng thượng sai Tá lý Hiệp mưu Kính thận Trinh ý công thần Đặc tiến Khai phủ Kim tử Vinh lộc đại phu Tả Bình chương quân Quốc trọng sự Nhập nội Kiểm hiệu Thượng tướng Thái uý Lượng quốc công Thượng trụ quốc Lê Phụ; Phụng trực đại phu Lại bộ Thượng thư Tri Chiêu văn quán Tú lâm cục Tư chính Thượng khanh Đàm Thận Huy; Gia hạnh đại phu Công bộ Hữu Thị lang Khuông mỹ doãn Lê Tán Tương; Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thiếu bảo Lễ bộ Thượng thư Đông các Đại học sĩ kiêm Quốc tử giám Tế tửu tri kinh diên sự Đôn Thư bá trụ quốc Lê Tung; Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Lễ bộ Thượng thư Lễ bá Trụ quốc Nguyễn Bá Thuyên; Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Hộ bộ Thượng thư Tri Chiêu văn quán Tú lâm cục Cẩn Lễ nam Chính trị Thượng khanh Đoàn Mậu; Quang nghiệp đại phu Thượng thư Đông các Đại học sĩ Nhập thi Kinh diên Chính trị khanh Đỗ Nhạc chia giữ các việc.

Trinh ý công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thiếu bảo Lại bộ Thượng thư Đông các Đại học sĩ Nhập thị Kinh diên Chính trị Thượng khanh Vũ Duệ vâng sắc soạn.

Trung trinh đại phu Trung thư giám Điển thư Khuông mỹ Thiếu doãn Chu Đình Bảo vâng sắc viết chữ (chân).

Thông chương đại phu Kim quang môn Đãi chiếu Tư chính khanh Phạm Đức Mạo vâng sắc viết chữ triện.

Bia dựng ngày 17 tháng 4 niên hiệu Quang Thiệu thứ 6 (1521).




BIA SỐ 13: VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA MẬU DẦN NIÊN HIỆU QUANG THIỆU NĂM THỨ 3 (1518)

Thần kính xét: Triều trước khai khoa năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442), sau đó hoặc 6 năm, hoặc 5 năm mở một khoa, chưa thành định lệ.

Từ khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4 (1463) trở đi mới định 3 năm mở một khoa.

Cũng theo Hội điển của nhà Minh, lấy các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu mở khoa thi Hương, lấy các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi mở khoa thi Hội.

Riêng về năm Mậu Dần niên hiệu Quang Thiệu thứ 3 (1518) có khoa thi là vì năm thứ 2 Đinh Sửu (1517) là năm đáng phải mở thi Hội, nhưng bấy giờ trong nước có biến (chỉ các việc biến loạn ở kinh thành đầu đời vua Lê Chiêu Tông - NV), nên đến năm Mậu Dần mới cử hành được.

Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thượng thư Bộ Lễ kiêm Đông các Đại học sĩ Đạo Xuyên bá Trụ quốc Nguyễn Trí Thái vâng sắc soạn.

Thông chương đại phu Trung thư giám Chính tự Tư chính khanh họ Vũ vâng sắc viết chữ (chân).

Thông chương đại phu kim quang môn đãi chiếu Tư chính khanh họ Nguyễn vâng sắc viết chữ triện.

Bia dựng ngày 5 tháng Giêng niên hiệu Đại Chính thứ 7 (1536).

(Khoa thi này do nhà Lê tổ chức, nhưng văn bia dựng vào thời Mạc).




BIA SỐ 14: VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA KỶ SỬU NIÊN HIỆU MINH ĐỨC NĂM THỨ 3 (1529)

(Trong suốt thời kỳ nhà Mạc nắm giữ kinh thành Thăng Long, đã có 22 khoa thi tiến sĩ được tổ chức, nhưng chỉ có duy nhất một khoa thi được dựng bia tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, là khoa thi năm 1529).

Hoàng thượng lên ngôi báu đã 3 năm, mở ra vận hội trời đất văn minh. Gặp năm mở khoa thi lớn, sĩ tử hát thơ Lộc minh tới kinh đô ứng thí đông đến 4.000 người, cùng nhau tranh đua tài nghệ chốn xuân vi, chọn được hạng xuất sắc 27 người.

Ngày 18 tháng 2, Hoàng thượng ngự ở hiên điện, đích thân ra đề văn sách hỏi về đạo trị nước.

Sai Đề điệu là Thái bảo Diệm quốc công Mạc Kim Phiêu, Binh bộ Thượng thư Khánh Khê hầu Mạc Ninh Chỉ cùng các quan hữu ti chia giữ các việc.

Hôm sau, quan Độc quyển là Lễ bộ Thượng thư Đông các Đại học sĩ Văn Đàm bá Nguyễn Thanh, Lại bộ Thượng thư Quốc tử giám Tế tửu Bỉnh Lễ bá Đinh Trinh dâng quyển đọc.

Hoàng thượng xem xét, định thứ bậc cao thấp. Ban cho bọn Đỗ Tông 3 người đỗ Tiến sĩ cập đệ, bọn Nguyễn Vân Quang 8 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Nguyễn Hữu Hoán 16 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân.

Ngày 24, Hoàng thượng ngự điện Kính Thiên, sai gọi loa xướng tên người đỗ. Bộ Lại ban ân mệnh, bộ Lễ rước bảng vàng treo trước cửa nhà Thái học. Ngày hôm đó lại ban cho tiền bạc có thứ bậc khác nhau. Ngày 27 ban cân đai áo mũ nhiều hơn lệ thường. Ngày 28 ban yến tại Bộ Lễ. Ngày mồng 7 tháng 3 cho phép vinh quy, ban tiền theo thứ bậc khác nhau, ơn huệ thật nồng hậu. Hoàng thượng lại sai quan Bộ Công mài đá, từ thần soạn bài ký. Bọn thần kính vâng mệnh sáng, chúc mừng cho nền tư văn, cung kính cúi đầu rập đầu dâng lời rằng:

Khí chân nguyên hòa hợp thì hào kiệt xuất hiện trong thiên hạ, vua sáng tôi hiền gặp gỡ, cơ trời cảm ứng, há phải chuyện tình cờ. Nhưng kẻ sĩ hào kiệt do khoa mục tiến thân kể từ họ Hữu Ngu hỏi quan nhạc mục mà ý tốt mở khoa mục bắt đầu, đời Thành Chu cất nhắc nhân tài mà phép tốt khoa mục gây mầm từ đó. Từ đời Hán đến Đường, Tống cùng là các bậc anh minh của nước Việt ta đều lấy việc đó làm bậc thang cho hào kiệt tiến thân.

Kính nghĩ thánh triều: Thánh thiên tử sẵn tư chất hơn đời, nắm vận hội lớn, đem võ công dẹp yên thiên hạ, phô bày văn giáo để đào tạo nhân tài, sửa sang trường học để rộng đường nuôi dưỡng vui vầy giáo hóa, ban học qui để chấn chỉnh tác thành, tô điểm nhân văn, đổi mới khoa mục. Phàm quy chế thi cử, ơn vinh ban thưởng theo thứ bậc, so với thủa xưa thực rõ ràng đầy đủ.

Kẻ sĩ được gặp gỡ vua thánh anh minh, gội nhuần giáo hóa, dự vào hạng anh hùng, bước vào đường vinh hiển, lại được nêu họ tên lâu dài trên bia đá, há chẳng vẻ vang may mắn lắm sao? Vậy nên mang đội ơn sâu, dốc lòng thực tiễn, lấy trung liêm dồi tiết cứng, lấy lễ nghĩa làm phép thường, giữ lòng thẳng thắn, chẳng lệch chẳng xiên, làm nên sự nghiệp lớn lao bền vững. Phải làm sao như Lã Văn Dương lấy chính đạo giữ mình mà giúp cuộc thịnh trị trong đời thái bình hữu đạo, như Hàn Ngụy Công áo mũ chầu vua mà thiên hạ yên như bàn thạch; khiến mọi người phải ca ngợi là vị Trạng nguyên chân chính, vị Tiến sĩ lừng danh. Được như thế trên không phụ thánh thiên tử cho đặt khoa thi, dưới không phụ với sở học thường ngày, thì công lao sự nghiệp vĩ đại quang minh sẽ làm rạng rỡ cho tấm đá này. Thảng hoặc có người ngoài vuông nhưng trong tròn, trước trinh trắng mà sau tì vết, điều nhìn thấy không đúng với điều được nghe, việc làm trái với sở học thì chỉ làm lụy cho khoa mục, làm tì vết cho bia đá này, há chẳng nên tự răn hay sao?

Than ôi! Lẽ trời ở trong lòng, hiện ra thì thấy rõ, thánh hóa ban tới người dân, lâu ngày tất cũng rõ rệt. Bia đá này dựng ở nhà Thái học, chẳng những để tỏ thành ý sùng Nho của Thánh thượng, nêu cao ý chuộng văn của triều đình trong buổi đầu mà còn khích lệ nhân tâm, bồi dưỡng sĩ khí để phù hợp với giáo hoá hiện nay cho đến vô cùng. Sau này các sĩ tử gặp nhau, mắt nhìn bia, miệng đọc bia, chẳng ai mà không cảm kích phấn khởi, lấy khoa mục để tự động viên mình thấy ơn sâu mà gắng sức, nối nhau xuất hiện mà giúp cuộc thái bình thịnh trị muôn thuở cho nước nhà, xây đắp xã tắc muôn năm được bền vững. Như thế thì bia đá này dựng lên, công dụng há phải chỉ là bổ ích nhỏ hay sao?

Đồng đức công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Lễ bộ Thượng thư Thái tử Thái bảo Đông các Đại học sĩ Thiếu bảo Thông Quận công thượng trụ quốc Nguyễn Thì Ung cùng Phụng trực đại phu Đông các Hiệu thư Tư chính Thượng khanh Nguyễn Cư Nhân vâng sắc soạn.

Thông chương đại phu Trung thư giám Chính tự Tư chính khanh Nguyễn Ngạn Chiêu vâng sắc viết chữ (chân).

Thông chương đại phu Kim quang môn Đãi chiếu Tư chính khanh Nguyễn Tấn vâng sắc viết chữ triện.

Bia dựng tiết Đông chí, tháng Trọng đông (tháng 11) năm Kỷ Sửu niên hiệu Minh Đức thứ 3 (1529).




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 20.03.2014, sửa lần 9
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang 1, 2, 3, 4, 5, 6  Trang kế
Trang 1 trong tổng số 6 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser