vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - TẢN MẢN NĂM THÁNG CUỘC ĐỜI...
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

TẢN MẢN NĂM THÁNG CUỘC ĐỜI...
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4 ... 17, 18, 19  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> NĂM 1972
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 878
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 11.11.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

4. LẠNG SƠN - NƠI GẶP GỠ NHỮNG NGƯỜI BẠN MỚI...


Trong đoàn 10 người ra miền Bắc học lần ấy có 6 anh chi đã kinh qua công tác nhiều năm ở Xưởng 41, còn lại 4 chúng tôi còn trẻ là Chương, người TP Vinh; Tiến, Sửu, người Hà Tĩnh và tôi đều có trình độ văn hoá lớp 10, có thâm niên làm việc ở Xưởng còn ít, đặc biệt tôi mới được 4 tháng.

Xin rông dài một chút về chuyến đi từ Nghệ An ra Hà Nội của anh em chúng tôi. Sáu anh chị lớn tuổi đều người ngoài Bắc, nên Xưởng cho họ ra Bắc trước, kết hợp nghỉ phép thăm gia đình. Bốn anh em chúng tôi ra Bắc thành đoàn riêng, do Nguyễn Huy Chương làm Tổ trưởng.

Chúng tôi đi bộ từ Giang Sơn về thị trấn 14km; rồi từ thị trấn Đô Lương đi bộ tiếp theo đường số 7 đến Diện Châu khoảng 33 km nữa. Sau khi vượt chặng đường gần 50 km thì chúng tôi gặp đường tàu hoả cắt ngang đường 7, cách ngã ba Diện Châu (điểm xuất phát của đường số 7 cắt với đường số 1A) 2 km. Lần đầu tiên trong đời tôi được nhìn thấy đường ray tàu hoả. Chúng tôi quyết định đi men theo đường ray để đến ga Si với quảng đường còn lại 4 km nữa. Ban đầu nhìn thấy đường ray thì sướng, nhưng sau hơn một giờ bám đường ray đi bộ thì lúc này đường ray trở thành vật cản khó chịu nhất đối với cuộc hành trình của chúng tôi. Ngày ấy tôi suy nghĩ rất ấu trĩ rằng đến Thủ đô Hà Nội, đường ray sẽ sạch đẹp, không còn đá xanh lổn nhổn nữa… Ra đến ga Hàng Cỏ mới biết mình nhầm, đoạn đường sắt nào trên đất nước Việt Nam này chẳng giống nhau! Đúng là chuyến tàu bão táp, “Tàu VN ôm chặt đất anh hùng”, chỉ 300 km từ ga Chợ Si ra Hà Nội mà chạy hơn 20 tiếng mới tới!

Sau khi ra tới Hà Nội, tất cả anh em hẹn gặp nhau tại 40 Đặng Dung, có lẽ ngày xưa đây là Trạm tiếp đón của Cục Quân giới (*). Tại đây sáu anh chị lớn tuổi được Cục giới thiệu thẳng lên “Trường quản lý xí nghiệp” đóng ở Hà Bắc. Riêng 4 anh em trẻ chúng tôi có trình độ lớp 10 nên Thủ trưởng Cục giới thiệu lên Trường văn hoá Lạng Sơn (VHLS) ôn thi đại học. Năm 1971 là năm đầu tiên toàn Miền Bắc tổ chức thi vào đại học, trước đó chỉ dựa vào kết quả học tập cấp 3 rồi tuyển thẳng vào các trường đại học theo đăng ký.

Tôi thành thật khai báo mình là chưa tốt nghiệp 10, các anh ấy bảo thôi cứ lên Trường VHLS, nếu có hệ lớp 10 phổ thông thì tiếp tục theo học, nếu không thì quay trở lại Hà Nội nhận nhiệm vụ mới, trường hợp xấu nhất là quay trở lại Xưởng. Từ hôm đó tôi bắt đầu lo. Các ban Chương, Tiến, Sửu thì phấn khởi, tự tin lắm. Chương hiểu tâm trạng của tôi, thường xuyên tâm sự động viên tôi…

Đầu tháng 4/1971 chúng tôi nhập học Trường Văn hoá lạng Sơn. Thật may là năm đó trường mở thêm lớp 10 để “chứa chấp” một số “con ông cháu cha” được gửi tới học! Lại một may mắn nữa đến với tôi. Học sinh lớp tôi ở đây toàn thành phần đặc biệt như:
- Văn Tuyết Mai, con Thượng tướng (hồi đó) Văn Tiến Dũng;
- Nguyễn Tường Vân, con PCT nước Nguyễn Lương Bằng
- Nguyễn Văn Thắng (tên Việt), con CTN Lào Hoàng thân Su Pha Nô Vông
Và con các tướng, tá khác tôi không biết hết.

Học cấp tốc trong 2 tháng tôi hoàn thành nốt chương trình lớp 10 và thi đỗ tốt nghiệp 10 tại đây. Chỉ còn một tháng còn lại để học ôn thi vào đại học. Sau khi thi xong nhà trường cho về nghỉ hè. Cuối tháng 7/1971 chúng tôi trở lại Trường VHLS để nhận kết quả thi đại học. Chưa có thông báo chính thức, nhưng các anh chị ở Hà Nội hầu như đã biết kết quả. Có một anh tên Hải gặp tôi nửa đùa nửa thật: “có một người tên Hải đỗ đại học đấy”. Tôi hồi hộp lo lắng chờ đợi…Gồng mình ôn thi, và Trời đã không phụ công lao ôn luyện. Tôi đã có danh sách vào đại học KTQS (nay là Học viện KTQS)! 3 bạn đồng hương của tôi Chương, Tiến và Sửu tuy có thời gian ôn thi dài hơn nhưng đã không trúng tuyển đại học. Chúng tôi chia tay nhau tại đây. Sau này gặp lại Chương, mới biết Tiến với Sửu phải quay trở lại Xưởng, Chương được gửi đi học lớp ngắn hạn về công tác Đoàn thanh niên do Trung ương Đoàn tổ chức (Bố Chương ngày đó làm công tác tổ chức ở Tỉnh uỷ).

Hôm chia tay, Chương là người buồn nhất. Trong 4 chúng tôi Chương có trình độ nổi trội hơn. Văn hay, chữ tốt, sống bằng nội tâm, Chương và tôi rất hợp nhau. Chương đã thức trọn đêm ghi vào sổ tay tôi những dòng lưu niệm đầy nước mắt. Những dòng lưu bút này đã theo tôi mấy chục năm, sang trời Tây, rồi trở lại Việt Nam. Sau khi làm nhà (1994) thì bị thất lạc. Năm 1978 sau khi từ Hungary về tôi tới thăm một người bạn cũ lớp 10A Phạm Ngọc Châu đang học ở trường Đại học mỏ- địa chất Sông Công Thái Nguyên (nay chuyển về Cổ Nhuế) thì gặp lại Chương đang học ở đó. Cảm ơn Ông Trời đã cho bạn tôi toại nguyện ước mơ vào đại học, tuy có muộn màng một chút…

Tôi muốn trở lại Trường VHLS, nơi 4 tháng khổ công luyện rèn, học tập. Ở đây tôi có những kỷ niệm đọng mãi trong suốt cuộc đời… Người đầu tiên tôi nhớ tới đó là anh Hà người Thanh Hoá. Anh là lính chiến trường được cử ra ôn thi văn hoá. Anh hơn tôi đến 5 tuổi nhưng 2 người thân như anh em ruột. Tôi đã từng qua nhiều đơn vị, tiếp xúc với nhiều hạng người khác nhau, nhưng chưa gặp người nào tốt như anh Hà. Xin kể một kỷ niệm này mà 42 năm rồi tôi còn nhớ như in... Hết hè khi quay trở lại trường tôi có ghé qua nhà anh chơi rồi cùng anh đi tàu ra Lạng Sơn. Tàu ra tới ga lúc 2h sáng, khi về đến trường thì cổng trường đã khoá chặt, trực ban ở xa không gọi được, 2 anh em đành tìm cách vượt tường để vào. Tường rào của Trường VHLS chính là tường thành Lạng Sơn xưa nên cao và rộng. Thằng con nít như tôi thật vô dụng! Khi leo lên được anh ngồi xuống cho đứng lên vai, hai tay ôm lấy đầu anh mà vẫn run rẩy. Khi ngồi lên thành tường rồi, tiếp tục run rẩy chờ anh leo lên, tụt xuống hẳn phía trong, giơ hai tay lên đỡ bê xuống như một đứa trẻ con… Có lẽ kỷ niệm này cho tới khi nhắm mắt, lìa khỏi thế giới này tôi vẫn mang theo. Anh Hà không thi đỗ đại học, phải quay trở lại đơn vị. Anh Hà ơi, giờ này anh đang ở đâu? Em nhớ anh lắm. Chiến tranh và khoảng cách đã làm anh em ta mất liên lạc, nhưng sợi dây tình cảm giữa anh em mình vẫn còn, ít nhất là về phía em không thể nào quên được.

Tôi còn chơi thân với anh Huy người Thái Bình. Anh Huy hay làm thơ, có lẽ vì thế mà anh em tôi quý nhau. Có lần anh dẫn tối đến phòng làm việc của thầy Vương Trọng dạy toán. Nhà thơ Vương Trọng là người Trung Sơn, Đô Lương quê tôi. Thầy là nhà thơ, nhưng lại là giáo viên dạy toán. Hôm chúng tôi tới thăm thầy, thầy vừa làm xong bài thơ “Hoa súng”. Thầy sôi nổi giảng cho chúng tôi ý nghĩa từng câu thơ trong bài thơ.

Người tôi nhớ đến tiếp theo đó là một cô gái tên Trang. Học sinh trong trường có lẽ tôi và Trang là 2 đứa bé nhất. Nhân ngày 1/5/1971 nhà trưởng tổ chức cho bộ đội ra sân vận động Thị xã Lạng Sơn tập trung dự mít tinh kỷ niệm ngày Quốc tế lao động. Hai “đứa nhỏ” chúng tôi không “đủ ký” để xếp vào thành phần tham gia mít tinh. Đã không được đi, lại phải lao động “khổ sai”, xuống bếp trợ giúp anh chị nuôi quân chuẩn bị bữa ăn tươi cho đơn vị. Chẳng hiểu sao khi đó việc gì họ cũng giao cho 2 đứa cùng làm. Việc đầu tiên là ngồi quanh cái thúng mỳ sợi bới nhặt những cục mỳ đông lại ẩm mốc để riêng ra cho đàn lợn. Hai đứa cứ hì hục nhặt chẳng nói một câu nào, chẳng hỏi han, bắt chuyện. Kế đến là đi cho lợn ăn. Vẫn lẳng lặng kiên nhẫn như vậy. Gần trưa thì đi sắp bàn ăn. Nhà ăn rộng mênh mông, từ đầu bên này đến đầu bên kia có lẽ tới 100m. Hai đứa cứ lẳng lặng bưng bê đủ thứ. Đi đi lại lại rũ cả chân mà vẫn không xong. Thế mới biết hàng ngày các anh chị nhà bếp thật vất vả. Hai người làm việc suốt cả buổi sáng mà vẫn không nói một câu nào, khi ra về vẫn không biết tên của nhau! 42 năm rồi một câu hỏi đọng mãi trong tôi mà chưa có lời giải về nàng:


42 năm đọng mãi trong tôi
Một câu hỏi chưa tìm ra lời giải:
“Xin hỏi vì sao cả ngày miệt mãi?
Có thể nắm tay nhau… nhưng không nói một lời?
Trái tim Nàng có lãn mạn như tôi?
Rả rích hoài, không thể quên ngày ấy!?”

Hà Nội, 11/11/2013 - PVH


Tuy nhiên từ ngày đó tôi bắt đầu để ý tới nàng. Những buổi xếp hàng chào cờ đầu tuần lớp tôi với lớp nàng đứng cạnh nhau. Còn nhớ hôm đó thầy Lũy, người Miền Nam, trong Ban giám hiệu lên trước hàng quân nhận xét tình hình trong tuần. Một số học viên được khen, và ngược lại có một số học viên bị phê bình, trong đó có nàng. Tôi thương nàng quá! Khuyết điểm có gì đâu… Chả là các cô cậu người Hà Nội chiều thứ 7 thường nhảy tàu về HN thăm gia đình, chiều Chủ nhật lại túc tắc lên tàu trở lại trường. Các nam thanh nữ tú trẻ khoẻ sau khi xuống tàu cứ thế cuốc bộ về trường. Riêng Trang sức yếu ngại đi bộ nên thuê xi lô đi. Nhà trường có quy định “trái chiêu” là cấm học viên quân nhân đi xích lô! Như vậy là biểu hiện tư tưởng “tiểu tư sản”. Có người không tốt gặp Trang đi xích lô thì mách lẻm, nên Trang bị Nhà trường phê bình.

Sau này tôi biết tên của nàng là Trang cũng nhờ anh Phạm Gia Lượng bạn học cùng lớp nói cho biết (anh Lượng cùng tuổi, thường hay trêu chọc vui với tôi trong lớp). Trang thi đỗ đại học Quân y cùng năm với tôi. Chia tay nhau trong âm thầm, Trang về Đại học Quân y Hà Đông, tôi lên trường Đại học KTQS Vĩnh Yên. Có lẽ sau này có thể tôi đã gặp lại Trang tại BV108. Khoảng năm 2003 tôi vào BV108 khám, khi lấy thuốc, phía sau quầy có một bác sĩ đeo biển Nguyễn Thu Trang. Bác sĩ nhìn tôi có vẻ ngập ngừng, định hỏi một điều gì đó, rồi lại thôi. Tôi cũng không dám hỏi lại. Có thể người bác sĩ ấy là Trang ngày xưa bị phê bình oan ức trước toàn trường vì một thời tư duy ấu trĩ và duy ý chí…

Thời gian mấy tháng ở Trường VHLS là một giai đoạn đẹp trong cuộc đời quân ngũ. Ngày ấy suy nghĩ còn vô tư trong sáng chưa vướng những tính toán đời thường, tuổi trẻ tràn ngập hoài bão và niềm tin…Lạng Sơn có Thành cổ Lạng Sơn (nơi Trường VHLS đóng quân ngày đó) có chợ và cầu Kỳ Lừa; có Đền Kỳ Cùng; có Động Tam Thanh, có Nàng Tô Thị, có Thành Nhà Mạc, có Chùa Tiên và Giêng Tiên.. Hàng tuần có phiên chợ hát lượm của người Nùng, người Tày tại chợ Kỳ Lừa. Tục hát Lượm là một nét văn hoá rất độc đáo của xứ Lạng. Mỗi phiên chợ, từ tờ mờ sáng đã có hàng trăm thanh niên người dân tộc Nùng, Tày đi bộ hàng chục km về hát chọn vợ, chọn chồng ở chợ. Họ hát lí nhí trong miệng, người Kinh không hiểu gì cả, thế nhưng đến 12 giờ trưa, sau mỗi phiên chợ như vậy có nhiều đôi nam nữ đã tìm về với nhau thành vợ, thành chồng.


Giếng Tiên, miệng giếng rộng 20 cm (năm 1971 chưa có miếu nhỏ và bảng bia xây cạnh)


Cuối tháng 7/1971, trước lúc chia tay để về Trường Đại học KTQS Vĩnh Yên tôi có đi thăm một số danh lam thắng cảnh Thị xã Lạng Sơn, trong đó có Giếng Tiên. Giếng Tiên nằm ở một vị trí rất đặc biệt ở giữa lưng đồi, miệng giếng rộng 20cm có mạch nước quý chảy quanh năm. Trước lúc lên đến Giếng Tiên phải đi qua Chùa Tiên với 64 bậc đá. Chùa Tiên được lập vào thời Hồng Đức ( 1460 - 1497 ) ngay cạnh Giếng Tiên. Sau khi chùa bị hư hại, nay chuyển vào động núi Đại Tượng (núi hình con voi). Vào thời kỳ chiến tranh phá hoại của Mỹ năm 1971, một bệnh viện của KQ1 được sơ tán vào Động này. Ngày nay cảnh chùa đã được trả lại nguyên ven, trở thành địa chỉ du lịch linh thiêng của Lạng Sơn. Khi vào chùa Tiên, du khách sẽ thấy một nhũ đá to giống hình người ngồi trên bệ đá lớn. Tương truyền đó chính là tiên ông đã xuống trần dẫm chân xuống đá thành giếng nước, giúp dân chống hạn. Vào ngày 18 tháng giêng hàng năm, ở chùa Tiên thường có lễ hội để tạ ơn các vị tiên đã giúp nhân dân trong những ngày gian khó. Năm 1992, Chùa Tiên đã được Bộ Văn hoá Thông tin đã xếp hạng di tích Quốc gia. Lần thăm Giếng Tiên 1971 tôi còn được dân làng kể về sự tích Giêng Tiên… Có một cụ già hành khất đi qua làng, được dân làng cưu mang, cho ăn uống chu đáo mặc dù lúc ấy cả vùng đang đói vì hạn hán hoành hành. Cụ chính là ông Tiên hiện về giúp dân. Trên đường về cụ ngồi nghỉ giữa lưng chừng đồi, bàn chân cụ ấn mạnh xuống đất in hình dấu bàn chân và trở thành Giếng Tiên, nước chảy quanh năm. Tôi được tận mắt nhìn thấy Giếng Tiên, cảm động về câu chuyên thần bí nhưng đầy tính nhân văn, tôi đã làm bài thơ “Chuyện Giếng Tiên”. Hơn 42 năm rồi, nay xin chép kể lại:


CHUYỆN VỀ GIẾNG TIÊN


Chuyện kể rằng
Ngày xưa dưới chân đồi
Cả một vùng nông dân nghèo đói
Hạn hán lâu ngày lúa trồng không sống nổi
Người dân lên rừng đào củ, sống cầm hơi…
Thế nhưng có Cụ Già hành khất ngang qua đây
Dân làng vẫn cưu mang không để Người bị đói
Kẻ góp củ khoai, người dâng bát cháo
Nhường cơm, sẻ áo để Cụ sống qua ngày…

Ông Tiên giáng trần để thử lòng người
Ngài chính là Cụ Già hành khất!
Thương dân làng hiền lành chân chất
Thiên tai, hạn hán quanh năm
Thiếu ăn vẫn mang tấm lòng độ lượng…

Trên đường trở về Trời,
Đến giữa lưng đồi, Người ngồi nghỉ
Giếng Tiên là dấu tích bàn chân Người để lại
Từ đây dòng nước mát đêm ngày tuôn chảy
Từ Giếng nước này
Cứu cả vùng khô hạn bấy lâu nay
Cuộc sồng dân làng thanh bình trở lại
Nhà nhà ấm no, cuộc đời thay đổi…

Để có chỗ hàng năm dân làng đến đây thắp hương tưởng nhớ
Vua Hồng Đức cho xây dựng thêm Chùa
Địa danh ngày nay có tên gọi Chùa Tiên
Đường đi vào chùa
Có 64 bậc đá dẫn bước khách lên


Sống trên đời lòng người cần hướng thiện
Trời nhìn theo mỗi việc ta làm
Cảm nghĩ hôm nay lên thăm Giếng Tiên
Ghi lại đôi dòng thành CHUYỆN KỂ.

Lạng Sơn, 21/7/1971 – PVH


Một số hình ảnh về Chùa Tiên, Giếng Tiên


64 Bậc đá lên Chùa Tiên ngày nay


Núi Đại tượng (thành phố Lạng Sơn) nơi có di tích Chùa Tiên – Giếng Tiên


Lạng Sơn như “người tình” của tôi vậy. Vào cái tuổi 18 đẹp đẽ trong sáng nhất thì tôi đến với “Nàng”. Lạng Sơn chứng kiến tôi tốt nghiệp cấp 3, ghi dấu ấn tôi được vào đại học, cánh cửa cuộc đời mở ra từ đây…

Hà Nọi, 11/11/2013, PVH

(còn nữa)

………
(*) Lịch sử Cục Quân giới:
Ngày 4 tháng 11 năm 1958, Cục Quân khí (Thành lập ngày 16 tháng 9 năm 1951, trên cơ sở Phòng Quân khí thuộc Tổng cục Cung cấp) sáp nhập vào Cục Quân giới thuộc Tổng cục Hậu cần. Đến ngày 20 tháng 10 năm 1966 lại tách riêng thành Cục Quân khí và Cục Quân giới.


Được sửa chữa bởi Haidq ngày 12.11.2013, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 12.11.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Cảm ơn anh haidq.

Bài viết nhiều chi tiết rất chân thực và thú vị.

Hồi ở trong doanh trại Petofi, dù đã được nhiều anh lứa trên nói chuyện về Trường VH Lạng Sơn, nhưng qua bài viết này, tôi mới có hình dung rõ hơn về đời sống các học viên ở trường này.

Anh haidq nhắc tới 2 người bạn học là con các cán bộ cấp cao. Tôi không biết hai chị ấy, chỉ quen với 2 người em gái của 2 chị ấy. Riêng với anh Ng. Văn Thắng (tên Việt), tôi đuợc gặp ở Vĩnh Yên (Đại học kỹ thuật quân sự). Thấy bảo, anh bị "đúp" 3-4 lần gì đó, nhưng cuối cùng vẫn tốt nghiệp. Chắc bây giờ là cán bộ lãnh đạo cấp cao bên Lào rồi.

Năm 1965, chúng tôi (là con em gia đình quân đội) đi sơ tán ở Cao Bằng, trên đường đi có ghé qua Lạng Sơn, nhưng hồi đó thị xã Lạng Sơn còn hoang vắng, ít người.

"Thày Vương Trọng" mà anh haidq nhắc tới, tôi chỉ biết qua Tạp chí Văn nghệ quân đội, với tư cách là nhà thơ Vương Trọng.

PH
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 878
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 12.11.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Trích dẫn:
PhanHong đã viết: Cảm ơn anh Haidq.

Bài viết nhiều chi tiết rất chân thực và thú vị.

Anh Haidq nhắc tới 2 người bạn học là con các cán bộ cấp cao. Tôi không biết hai chị ấy, chỉ quen với 2 người em gái của 2 chị ấy. Riêng với anh Ng. Văn Thắng (tên Việt), tôi đuợc gặp ở Vĩnh Yên (Đại học kỹ thuật quân sự). Thấy bảo, anh bị "đúp" 3-4 lần gì đó, nhưng cuối cùng vẫn tốt nghiệp. Chắc bây giờ là cán bộ lãnh đạo cấp cao bên Lào rồi.

"Thầy Vương Trọng" mà anh Haidq nhắc tới, tôi chỉ biết qua Tạp chí Văn nghệ quân đội, với tư cách là nhà thơ Vương Trọng.

PH


@PhanHong:

Cảm ơn Phan Hồng có lời bình! Phan Hải tôi băn khăn một điều là hổng biết viết “rất chân thật” được @PhanHong và mọi người là khen hay là chê đây?

Hai bạn gái con ông to thời đó một cô (Mai) thì to như cái bồ, ngược lại một cô (Vân) lại gầy nhỏ đến nỗi có lần tập trung giao ban đầu tuần vì thầy Luỹ trong Ban giám hiệu nhận xét lâu quá nên Vân ngất xỉu trong hàng quân.

Nguyễn Văn Thắng, hoàng tử CT Lào ngày đó chủ yếu ở riêng, nên chỉ gặp nhau trong giờ học. Nhớ Tết cổ truyền của Lào năm đó (tháng 4/1971) toàn trường tập trung vui tết cổ truyền té nước với Thắng vui lắm. Mọi người ướt như chuột, nhưng vẫn vui…

Thầy Vương Trọng chính là nhà thơ Vương Trọng. Ít người biết Thầy là giáo viên dạy toán. Mùa Xuân hàng năm trong buổi giao lưu Hội đồng hương huyện Đô Lương tôi vẫn gặp và trò chuyện với thầy. Thầy có người anh tên là Vương Nhàn cũng làm giáo viên, nhưng lại là giáo viên dạy văn. Trong những năm tôi còn học ở trường cấp 3 Đô Lương 1 (1968-1970) thầy là giáo viên dạy văn chúng tôi.

Read
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 14.11.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Trích dẫn:
Haidq đã viết:
Trích dẫn:
PhanHong đã viết: Cảm ơn anh Haidq.

Bài viết nhiều chi tiết rất chân thực và thú vị.

Anh Haidq nhắc tới 2 người bạn học là con các cán bộ cấp cao. Tôi không biết hai chị ấy, chỉ quen với 2 người em gái của 2 chị ấy. Riêng với anh Ng. Văn Thắng (tên Việt), tôi đuợc gặp ở Vĩnh Yên (Đại học kỹ thuật quân sự). Thấy bảo, anh bị "đúp" 3-4 lần gì đó, nhưng cuối cùng vẫn tốt nghiệp. Chắc bây giờ là cán bộ lãnh đạo cấp cao bên Lào rồi.

"Thầy Vương Trọng" mà anh Haidq nhắc tới, tôi chỉ biết qua Tạp chí Văn nghệ quân đội, với tư cách là nhà thơ Vương Trọng.

PH


@PhanHong:

Cảm ơn Phan Hồng có lời bình! Phan Hải tôi băn khăn một điều là hổng biết viết “rất chân thật” được @PhanHong và mọi người là khen hay là chê đây?
.....

Read


Khen đấy anh ơi.

PH
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 878
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 19.11.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Đôi lời: Được các bạn @VuLong, @HUUAI, @PhanHong, @Nquan, Ông Tổng khen về một số câu chuyện trước và động viên tiếp tục viết (trong đó có cả @SaPa đọc chuyện trêu về cô gái Đô Lương…). Hôm nay @Haidq tôi lại tiếp tục “bịa chuyện”. Mấy lại tuần vừa rồi máy tính lo phục vụ bà xã xem dở bộ phim Đài Loan dài tập (800 tập) “Khi người ta yêu”, đang giai đoạn gay cấn nên không dừng được. Một ngày xem 3 buổi gần chục tập phim nên không có công cụ để tác nghiệp…

Câu chuyện tiếp theo là những mẩu chuyện nhỏ xẩy ra trong năm học đầu tiên tại Trường Đại học KTQS Vĩnh Yên 1971-1972…

Read Please

5. TẠI SAO NICKNAME CỦA TÔI LẠI LÀ “@Haidq”?


Tạm biệt Trường VHLS, tạm biệt vùng đất Lạng Sơn nơi có nhiều kỷ niêm êm đềm, tôi đến với Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự (KTQS), với mảnh đất đã đi vào thơ ca như Hương Canh, Tạm Lộng, Tam Đảo, Vĩnh Yên…

Học viên từ Trường VHLS về Trừơng Đại học KTQS lần này được phân về 2 đại đội học viên thuộc Khoa cơ bản, đó là đại đội 163- học về điện và 164- học về cơ và công trình thuộc Khoá VI niên học 1971-1972 (năm 1966 Khoa quân sự Đại học Bách Khoa Hà Nội được tách ra thành Trường ĐHKTQS, khoá I: 1966-1967). Người cùng lớp học với tôi ở Trường VHLS về Đại đội 164 chỉ có anh Huy, người tôi đã kể trong câu chuyện trước.

Đại đội 164 chúng tôi không có nữ, đại đội 163 có một số nữ, trong đó có 3 người từ Trường VHLS về, đó là Lương, Vân và Hà. Các anh lớn tuổi từ Trường VHLS về đều được phân công làm cán bộ Tiểu đội, Trung đội, vì họ đã qua chiến đấu, có thành tích và kinh nghiệm quản lý bộ đội. Ví dụ về 164 có các anh Đào Văn Hiệp, nay là GS, TS, giáo viện HVKTQS; anh Phê học được một năm như tôi, sau đó đi Bacu học tiếp; anh Huy, nay hy sinh; và các anh Phúc, Đạt, Nghiệp, Thuân. Trong đoàn từ Trường VHLS về tôi là người trẻ nhất nên mới có chuyện để kể! Trong chuyện này tôi xin kể một số câu chuyện nhỏ. Lâu ngày các chi tiết quên hết, chỉ còn đọng lại một số sự kiện chính, nhớ đâu kể đó…

Cơm độn bo bo muốn ăn no phải ăn nhanh! big grin

Thời chiến tranh toàn Biền Bắc đói ăn. Nông thôn đói ăn đã đành, công chức, bộ đội cũng đói! Gạo mậu dịch bán theo sổ phần lớn là gạo mốc, mỳ hôi là chuyện thường ngày ở huyện! Tỷ lệ " ăn độn " có lúc lên tới 70/30 chứ không chỉ 50/50 như bình thường, độn mỳ, độn khoai tây… Nghe nói mỗi khi vo gạo nấu cơm, chị em nhà bếp phải cho thêm muối vào để sát cho bớt mùi. Tuy vậy thanh niên mới lớn đâu ngại cơm hôi, cơm độn. Bữa ăn chủ yếu là cơn độn, không có thức ăn nên ăn xong đã thấy đói!. Vì đói nên tình đồng đội “nhường cơm, sẻ áo” bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Trong đại đội có một số bạn sắm được cái bát sắt “B52” của Trung Quốc rất to, đã vậy lại ăn nhanh nên mọi người thấy mà… ngại ngồi gần! Muốn ăn no hơn một chút so với đồng đội phải biết cách áp dụng “công thức đầy vơi”. Công thức 2 vơi 1 đầy như là: “vơi, đầy, vơi”; “đầy vơi, vơi” hay “vơi, vơi, đầy” dễ thực hiện nhất vì chỉ có một đầy. Công thức 2 đầy, 1 vơi tuy khó thực hiện, nhưng biết áp dụng thứ tự cũng có thể thành công, ví dụ như “đầy đầy vơi” chẳng hạn! chứ cho đầy vào cuối “Đầy vơi đầy” hoặc “vơi đầy, đầy” thì coi như thất bại. Có lần kể chuyện này với anh bạn, anh ta quả quyết với tôi rằng anh đã chứng kiến một đồng đội của anh “chiến đấu thắng lợi” với công thức ba đầy!, nghĩa là “đầy, đầy, đầy”!. Đúng là bái phục! bái phục!. Tiểu đội tôi có anh tên Th. có cái tài chịu khó quen các cô nuôi quân, nên thỉnh thoảng được các cô cho thêm miếng cháy. Một số cậu chẳng cần quen, nhưng có cái tài “lì mặt”, hết cơm cứ cầm bát xộc thẳng vào bếp “xin thêm”. Thiết nghĩ họ cũng chẳng có tội, thủ phạm chính ở đây là “cái đói”. Những hôm đi lao động hay phải đi khiêng gạo từ xa về, cái đói nó hành hạ, ăn xong như chưa ăn…

Gác đêm…

Chuyện gác đêm cũng có nhiều điều thú vị. Đại đội 164 đóng quân trên địa bàn có tình hình chính trị phức tạp. Chúng tôi được phổ biến là cư dân ở đây trong thời kỳ trước 1954 toàn là Tề, Nguỵ nên công tác an ninh, bảo vệ đơn vị được cán bộ đại đội thường xuyên nhắc nhở. Vị trí gác chủ yếu khu vực nhà bếp, vị trí nghỉ của các chị em nuôi quân và SCH đại đội. Chuyện lính tráng gác đêm là chuyện thường tình ở huyện, ngay thời nay thằng con rể sĩ quan hẳn hoi thế mà trong thời gian làm làm cao học ở Học viện KTQS thấy tuần gác 3, 4 buổi! Chuyện tôi muốn kể ở đây là chuyện cái chảo nấu ngô ăn sáng cho toàn đại đội hôm nào cũng bốc hơi một góc lớn…

Cái đói làm cho “hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ” bị méo mó! Bình thường chị em nhà bếp ngại dậy sớm, nên bữa sáng của anh em được các chi nấu từ buổi tối vào một cải chảo lớn rồi đậy lại. Mỗi đêm thường có một tiểu đội thay phiên nhau trực cái chảo ngô. Chẳng anh nào nói anh nào, ai cũng “lẳng lặng ăn vụng” dùng muôi khoét một góc chảo! Cái lạ là cán bộ đại đội chưa bao giờ nhắc nhở chuyện này. Có lẽ các chị nuôi quân “thương” lính đói nên không báo cáo đại đội chăng?


Nhà bếp đại đôi 164 hồi đó có 3 chị nuôi quân, chị Cúc, Thìn, và một người tôi quên tên (có lẽ là Thành, nhờ Lưu Minh Sơn mách giúp). Các chị cũng là 3 người phụ nữ duy nhất, “mì chính cánh” của đại đội. Họ hơn lũ trẻ chúng tôi một vài tuổi, tuy nhiên so với các anh cán bộ A trưởng, B Trưởng thì các chị kém tuổi. Trong 3 người, chị Cúc xinh hơn cả, được một số anh tán, đặc biệt là anh Thuân, Tiểu đội trưởng Tiểu đội tôi. Một số phiên gác đầu giờ, mỗi lần vác súng đi tuần ngang qua nhà tắm nghe tiếng nước tí tách phía trong cũng “tò mò” lắm…

Chuyện tôi kể sau đây là có thật! Có một anh phụ trách tiểu đội có lần thấy một em tắm không chịu được đã xông vào ôm chầm lấy người ta. Hoảng quá, cô ta hét toáng lên. Người trực hôm đó đuổi theo nhưng không bắt được. Chị nuôi quân biết đích danh là ai, nhưng không tố cáo, đại đội cũng ỉm đi, không nhắc tới chuyện đó… Tuy nhiên chẳng hiểu làm cách nào trong toàn đại đội đều biết chuyện. Nhân vật chính gây nên sự kiến mọi người cũng biết, nhưng không ai nói ra dích danh. Như chuyện thời nay vậy! có đ/c Y bị kỷ luật Đảng, không nêu đích danh chính thức, nhưng toàn dân biết đ/c Y là ai…


Tắm sông Cà lồ



Gọi là sông cho nó oai, chứ sông Cà Lồ chỉ lớn hơn mương nước một chút. Về mùa nước cạn có thể đi bộ lội qua sông. Không như các sông lớn có bờ, bãi, hai bờ có cây cối xanh tươi che chắn, sông Cà Lồ đoạn đi ngang qua Tam Lộng không có bờ cao, không có cây xanh che khuất nên đứng ở mép nước có thể nhìn thấy phía trên là đồng lúa trải rộng. Lính chúng tôi không có “tiêu chuẩn” tắm nước giếng, hôm nào bẩn quá, không chịu đựng nổi thì ra sông Cà Lồ tắm. Gần sông Cà Lồ có một Trường học sinh Miền Nam tuổi 14, 15, các “cháu” thiếu nữ trông phốp pháp, lớn phổng (lời của BT Thọ). Có lẽ các “cháu” là dân Miền nên quen sông nước? hàng ngày các em thường ra sông Cà Lồ quậy phá. Bản tính nhút nhát, các em lại là số đông áp đảo nên mỗi lần đi tắm gặp “các Tiên nữ” không dám nhìn…




- Từ doanh trai tôi ở (a1, b1, c164) ra sông Cà Lồ khoảng 500m.
- Năm 1971 chưa có các con đường Nội Bài – Lào Cai và đường Tôn Đức Thắng chạy qua.
- Đường Tỉnh lộ 302 nối từ đường số 2 lên Tam Đảo. Chúng tôi thường đi bộ theo đường này để ra ga Hương Canh mỗi khi về Hà Nội.


Nhớ lại có một chiều mùa Đông giá lạnh chuẩn bị đón năm mới dương lịch 1972, sợ sang năm mới mà không tắm thì “giông” cả năm cho nên trời lạnh mấy cũng đành liều ra sông Cà Lồ tắm. Tuy là đang tuổi mới lớn, nhưng vì đói, gầy yếu nên sức chịu lạnh kém lắm. Tắm xong lên bờ vội mặc áo trước cho ấm người, đang mặc nốt quần dài thì các ‘cháu” kéo tới í ới gọi: đi “tắm tất niên”chúng mày ơi!.... Lúng túng thế nào 2 chân đút vội vào một ống, như gà bị mắc tóc, luống cuống rơi tõm trở lại xuống dòng sông! Thật khổ thân, phải mặc quần áo ướt về nhà, lạnh tưởng chết. Nếu là như các bạn đồng đội của tôi thì đơn giản, chỉ cần về đến nhà thay bộ khác là xong. Nhưng trường hợp của tôi lại khác, quần áo chỉ có một bộ, nên thật phiền toái! Tại sao chỉ có một bộ quần áo, mời mọi người xem phần tới của bài này sẽ rõ…

Để kết thúc phần này xin có mấy câu thơ vui:



Bộ đội hẳn hoi mà như con nít
Gái tắm sông sợ sệt chẳng dám nhìn
Trời mùa Đông rét run, gặp gái lại càng run
Quần 2 ống, thò hai chân một ống!
Nghĩ cũng tội nghiệp thanh niên mới lớn
Nếu là bây giờ thì…“phải tay ông!”
Sông Cà Lô ghi dấu ấn 42 năm
Bao đổi thay nhưng kỷ niệm vẫn còn đọng mãi
Thích con gái, lại sợ gần con gái
Thế mới thành câu chuyện kể hôm nay…

Hà Nội, 19/11/2013, PVH

(Bài này còn tiếp)
Read Please


Được sửa chữa bởi Haidq ngày 04.10.2014, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 878
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 24.11.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

5. TẠI SAO NICKNAME CỦA TÔI LẠI LÀ “@Haidq”? (Tiếp theo)

Tập đội ngũ và @Haidq

Cán bộ đại đội có 3 người: anh Biên Đại đội trưởng, anh Cương Phó Đại đội trưởng và anh Luỹ, người Miền Nam Chính trị viên Đại đôi (có thể anh Luỹ ở Trường VHLS là tôi nhớ nhầm tên). Anh Cương, anh Luỹ từ năm 1972 đến nay tôi chưa gặp lại. Anh Biên năm 1980 về nhà máy Z181 công tác, tôi gặp lại anh ở đó, anh quản lý bộ phận cung cấp điện năng cho nhà máy. Năm 1988, lúc tôi sang Tiệp làm NCS thì anh Biên rời khỏi nhà máy và xa anh từ đó không gặp lại.

Những tiết học tập đội ngũ phần lớn anh Cương dạy. Thao trường là một bãi rộng lớn nằm ngay dưới chân đồi 157. Hôm đó, toàn đại đội đang tán chuyện rải rác theo các nhóm bạn, anh Cương dõng dạc hô:

- Đại đội chú ý: Tiểu đội hàng dọc, đại đội hàng ngang, tập hợp!

Mọi người nghe khẩu lệnh răm rắp tập hợp. Đ/c Cương hô tiếp:

- Nghiêm! Trước thẳng!

- Nghỉ, chỉnh đốn trang phục!

Đ/c Phó đại đội nhìn bao quát một lượt toàn đội hình, bất chợt dõng dạc:

- Đ/c Hải sao không mặc quân phục? ra khỏi hàng!

Tôi lúng túng trả lời:

- Báo cáo Đ/c, tôi không phải là bộ đội ạ!

Toàn đại đội hướng về tôi và cười rộ lên… Đ/c Cương tiếp tục:

- Đ/c về lán chờ, trưa nay lên đại đội báo cáo!

Tôi ngượng đỏ chín mặt, rời khỏi đội ngũ về lán chờ đợi…

Sau khi nghe tôi báo cáo, cán bộ đại đội sửng sốt không ngờ đại đội học viên quân sự lại có một đ/c “chưa phải là bộ đội”.

Ngày 20/11/1970 tôi được biên chế chính thức vào Xưởng quân khí 41/QK4 nhưng vẫn là công nhân viên Quốc phòng. CNVQP ngày đó không có tiêu chuẩn đầy đủ như bây giờ: không được cấp quần áo, chăn màn và các dụng cụ tư trang khác. Mọi thứ phải mang từ gia đình đi theo. Nhà tôi ngày đó lại nghèo. Còn nhớ cái màn và đôi dày vải bata do bác gái ruột tôi, tục gọi là bác Hoa Văn may cho, vì bác ở thị trấn làm nghề may kèm buôn bán ở chợ Lường (Bác Hoa Văn ơi, con kể lại chuyện này con xin kính lạy Hương Hồn Bác, kính mong Hương hồn Bác hiển linh chứng giám). Bộ quần áo được người anh con bác Châu may cho. Anh là cán bộ thoát ly nên hàng tháng có tiền lương. Ba vật dụng chính nhất được người thân trong Họ trang bị, còn những thứ lặt vặt khác là đồ cũ từ nhà mang theo. Thời gian 4 tháng lao động ở Xưởng 41 cho đến thời gian 4 tháng ở trường VHLS tôi chỉ có một bộ diễn duy nhất đó. May mà ở Lạng Sơn anh Hà biết hoàn cảnh khó khăn của tôi đã cho tôi thêm một bộ quân phục cũ. Khi về trường Đại học KTQS anh ruột tôi ngày đó đang học năm thứ 2 ở Trường Đại học Cơ Điện Thái Nguyên (cùng khoá với anh Cử, anh Mẫn đoàn VK1972) mặc dù phải vừa học vừa lao động để kiếm sống vẫn dành dụm cho thêm tôi một chiếc áo. Tất cả chắp và thành được 2 bộ thường phục. Cũng vì vậy hôm bị rơi xuống sông Cà Lồ ướt hết coi như không có quần áo sạch để mặc!

Từ hôm xẩy ra sự kiện ở bãi tâp đội ngũ, mọi người trong toàn đại đội 164 gặp, gọi tôi là HẢI DÂN QUÂN. Cái tên “Hải dân quân” có từ thời đó. Chuyện này chắc Lưu Minh Sơn, Phạm Hồng Quang đoàn VK1972 đều biết. Các anh đại đội 164, Khoá VI, hiện đang ở Học viện KTQS như Hùng (Sĩ), Long (Sinh), Minh (Thu), Tuấn (Hằng), Lập, Vũ Lợi, Hiệp, Nam (thiếu tướng, PCN TCKT)… đều biết biệt danh này của tôi.

Đến với Vnkatonak, tôi muốn dùng “Hải dân quân” làm Nickname của mình là @Haidq, cái tên đã gắn với sự buồn vui của tôi trong những năm tháng khó khăn, đáng nhớ nhất của cuộc đời!

Người đâu mà xinh vậy…

Sau khi cán bộ đại đội biết được “lai lịch không bình thường” của tôi đã phản ánh lên Ban giám hiệu nhà trường, nhà trường gửi hồ sơ về Hà Nội làm thủ tục nhập ngũ cho tôi. Đầu tháng 1/1972 là mùa ôn thi, đang ôn thi môn toán thì anh Luỹ, Chính trị viên Đại đội gọi tôi lên SCH đại đội lấy Giấy giới thiệu về Cục Quân giới nhận Quyết định nhập ngũ. Chẳng hiểu tại sao lại nhận ở Cục Quân giới, chuyện “Tổ chức” chỉ biết vậy.

Tôi mua vé tàu về Hà Nội một mình. Từ ga Hàng Cỏ đị thẳng về 40 Đặng Dung. Việc nhận Quyết định chẳng có gì trở ngại, đưa Giấy giới thiệu, chị văn thư lục tìm Quyết định nhập ngũ và trao tận tay cho tôi cùng với ba lô, mũ, dày và 2 bộ quân phục mới tinh. Trong Quyết định ghi ngày nhập ngũ của tôi được tính từ ngày 01/01/1972, với cấp quân hàm Binh Nhất. Tôi sung sướng vô cùng vì từ đây tôi đã có quân phục để diện! Từ đây trên áo mũ tôi đã có đầy đủ quân hàm quân hiệu. Sau khi nhận Quyết định, tôi muốn nán lại Hà Nội một buổi để tự thưởng cho mình một chuyến thăm quan một số địa danh nổi tiếng đất Hà Thành như cầu Long Biên, hồ Hoàn Kiếm, bách hoá Tràng Tiền… Mấy lần trước qua Hà Nội chỉ là quá giang ở ga Hàng Cỏ, lại cùng đi theo đoàn nên không có thời gian ngoan cảnh Hà Nội. Lần này đi một mình, quỹ thời gian do mình quyết định nên tôi tự thưởng cho mình. Hôm đó là buổi chập choạng tối, đường dẫn lên cầu Long Biên tối mờ vì đèn điện như đom đóm. Trong hoàn cảnh chiến tranh, cầu Long Biên thường xuyên bị bom Mỹ đánh phá nên có rất ít người dân qua lại đây. Có công việc thật cần thiết mới dám qua cầu. Bắt đầu bước vào đường dẫn lên cầu tôi nhìn thấy phía trước có anh bộ đội đang đi bộ lên cầu, tôi vội chạy tới thật thà hỏi anh:

- Đ/c bộ đội ơi, cho tôi hỏi Binh Nhật to hơn hay Binh nhì to hơn ạ?

Anh bộ đội cười hiền trả lời tôi:

- Binh Nhất to hơn.

Tôi cảm ơn anh và quay trở lại xuống cầu. Thế là mới bước vào quân ngũ, tôi đã được phong quân hàm “vượt cấp”, bỏ qua Binh Nhì, tiến thẳng lên Binh Nhất! Trong lòng sung sướng, tôi quyết định nghỉ lại Hà Nội một đêm tại Trạm 40 Đặng Dung, sáng hôm sau mới ra tàu lên trường.

Buổi sáng hôm sau đang đi lững thững trên đường Phan Đình Phùng thì gặp một cô gái mặc quân áo lính mới toanh đi ngược chiều. Tôi như bị thôi miên vì vẻ đẹp thánh thiện của cô gái. Quả thật cô gái có form người không chê vào đâu được, các đường nét thật quyến rũ, mắt to sáng, gương mặt đẹp…. Tôi thầm kêu lên “người đâu mà đẹp vây!”. 42 năm rồi, tôi vẫn nhớ như in khuôn mặt và đường nét đẹp hấp dẫn của người con gái đó, đặc biệt là nhìn từ phía trước. Người con gái Hà Nội gây ấn tượng đầu tiên trong đời không phải là cô gái mang thường phục quần lụa dịu dàng, mà là cô gái mang quân phục! Trong thời buổi chiến tranh, trên đường phố vắng, buổi sáng trong lành tôi gặp em rồi mang luôn hình ảnh em về trường. Thú thật cả tuần đó tôi không thể nào tập trung tư tưởng để ôn thi, hình ảnh cô gái cứ bám chặt lấy tôi! Chuyện này tôi không bịa chút nào… Con người tôi là vậy: tự ti và lãn mạn...

NGƯỜI ĐÂU MÀ XINH VẬY..!

Một buổi sáng mùa đông se lạnh
Nàng tiên giáng trần xuất hiện chặn đường đi
Như cơn mưa sau nhiều ngày nắng hạn
“Nuốt” vội dáng hình ai của một kẻ tình si!

Vẻ đẹp là của quý Trời cho
Tại sao ta không đón nhận
Hỏi đời này có gì sung sướng
Con tim được tự do suy nghĩ vu vơ…

Thích người đẹp chẳng ai có tội bao giờ
Thả lỏng con tim nếu thiên thần tình yêu gõ cửa
Sống là cho, thì không bao giờ phải sợ
Và biết nhận lại cho mình những thứ Chúa ban…

Trở lại Vĩnh Yên chẳng thể ôn thi, luôn nghĩ tới nàng
Tại em đó làm tôi thờ thẫn
Tôi vẫn biết trên đời này có DUYÊN và SỐ PHẬN
Tôi đâu dám mong được gặp lại em!
Người con gái qua đường không biết tuổi, biết tên…

Hà Nội, 10/01/1972 – PVH


Trực chiến ngày tết…

Tết Tân Hơi 1971 đơn vị đóng quân gần nhà nên mồng một tết được các thủ trưởng cho về nhà một buổi đón tết. Tết Nhâm Tý 1972 là cái tết đầu tiên tôi phải ăn tết xa bố mẹ, xa làng xóm quê hương. Các bạn có nhà ở Hà Nội và các tỉnh lân cận được nhà trường cho nghỉ từ 2 đến 3 ngày dể về sum họp với gia đình, còn lại các bạn ở xa thay nhau trực tết tại đơn vị. Mọi chuyện sẽ là bình thường chẳng có gì để kể, nếu không có sự kiện đáng nhớ diễn ra chiều 30 tết hôm đó. Chẳng biết thầy Cương, Phó đại đội trưởng “hứng khởi” thế nào 16 giờ gõ kẻng báo động bắt ca trực chiều hôm đó diễn tập “tác chiến phòng ngự” với giả định “chiếm lĩnh điểm cao, khống chế hoả lực địch tập kích vào làng, nơi đơn vị đóng quân”. Thế là 5 anh em chúng tôi (còn nhớ hôm đó có Phan Trung Bình, Huy Minh, Sĩ Hùng, một bạn nữa quên tên và tôi) vác trung liên, đại liên, mang balo leo lên điểm cao đồi 157. Lên đồi cao 157 chỉ cần đi không đã bở hơi tai, đằng này phải mang vác nặng, hành quân khẩn trương nên mọi người thở không ra hơi! Chiều 30 tết đứng trên đồi cao quan sát một vùng nông thôn rộng lớn, nghe tiếng pháo tết nổ sớm lan toả mọi nơi nghe bùi ngùi, nhưng vui tai…

Tết đầu tiên xa gia đình nhận được thư anh trai động viên. Anh bảo năm thứ nhất đại học anh ấy cũng phải ăn tết xa cha mẹ, trong túi không có tiền nên đón tết rất đơn giản:

Tết này ta không rựu, không trà
Chẳng cần thuốc lá, chẳng thèm hoa
Mồng một vươn vai ca mấy tiếng
Đón nàng Xuân đến thế là qua!

Tâm trạng tôi năm ấy cũng vậy, tết chỉ có trực và đón tết sơ sài…

Niềm vui lại đến…

Các kỳ thi tôi đều đạt điểm cao các môn, đặc biết môn vẽ kỷ thuật tôi còn được cô giáo (quên tên) giao nhiệm vụ phụ đạo lại cho các bạn trong lớp. Trước lúc kết thúc năm học thứ nhất, nghỉ hè thì nghe mọi người kháo nhau năm nay nhà trường có “Kế hoạch đặc biệt” tuyển chọn học viên năm thứ nhất của 2 đại đội (C163&C164) gửi ra nước ngoài học tiếp. Mọi người đồn nhau có một đ/c Hải trong đại đội tôi nằm trong danh sách được chọn. Đại đội có 2 Hải, đó là Đặng An Hải, con cán bộ cấp cao trong quân đội và tôi Phan Văn Hải, con em nông dân. Tôi nghĩ chắc chắn là An Hải rồi, vì nghe đâu trong đoàn ra nước ngoài học toàn con em cán bộ cấp cao. Ví dụ sang Nga có Võ Điện Biên; sang Hung có Phạm Hồng Quang, bố làm lãnh đạo to ở Văn phòng TW Đảng, Bùi Thế Thọ, bố làm to ở Tỉnh Nam Định, Lưu Minh Sơn, bố là cán bộ cấp cao quân đội…
Thôi thì cứ để mọi việc tự nhiên xẩy ra…

May mắn lại mỉm cười với tôi lần nữa! Tôi được nằm trong danh sách sang Hung của C164 cùng với Lưu Minh Sơn và Phạm Hồng Quang! Thời ấy còn trông vào “may mắn”, thời nay con em nông dân nghèo, không có tiền mình làm sao được lọt vào danh sách này...


Cảm ơn một thời

Một thời còn có công bằng
Một thời thân phận nông dân như mình
Chỉ cần chăm chỉ luyện rèn
Tổ chức không bỏ sót tên người nghèo
Thời nay thay đổi quá nhiều
Mọi việc đều phải “thuận theo đồng tiền”
Cảm ơn Trời – Đất – Tổ Tiên
Cảm ơn THỜI ẤY làm nên thần kỳ
Sáu mươi ôn lại bước đi
Giật mình cứ ngỡ những gì đang mơ
“BAO GIỜ CHO TỚI NGÀY XƯA”
Cán bộ trong sáng dân nhờ, dân ơn…

24/11/2013 – PVH



Tôi sung sướng báo tin này cho bố mẹ và anh trai. Anh tôi đã làm bài thơ dài HỌC ĐI EM (xem ở đây) tặng tôi, trong đó có đoạn:

… Em có thấy không
Quê hương ta, ruộng đồng ta đó
Vẫn đòn tre đè nặng hai vai
Vẫn con trâu cặm cụi kéo cày
Và chiếc gàu dai thay trời khi úng hạn
Thành phố của ta chưa lấy gì làm mĩ mạn
Còn ngọn đèn dầu thay bóng nê-on
Chưa huy hoàng như Cung điện Mùa đông
Chưa lộng lẫy như Kremlink, hay đô thành Budapest…




Tạm biệt nhé Hương Canh, Tam Lộng, tạm biệt những năm tháng đầu đời vào tập thể ăn độn bobo, tắm sông Cà Lồ, tạm biệt thao trường dưới chân đồi 157 thân yêu, nơi tôi được mạng cái bí danh Hải Dân Quân, tạm biệt cô gái Thủ đô với bộ quần áo lính dễ thương bất chợt gặp trên đường đã hút hồn tôi… Năm 1971 lần đầu tiên rời khỏi luỹ tre làng quê tôi ra Hà Nội học tôi sung sướng không ngủ được, thì nay, 1972 tôi rời khỏi đất nước đang chiến tranh, nghèo nàn lạc hậu để sang Budapest thủ đô Hungary, một đất nước thanh bình, hiên đại để học tập… tôi sung sướng gấp bội phần!

Xin cảm ơn tất cả!

Hà Nội, 24/11/2013, PVH

(còn nữa)
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 878
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 06.12.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

6. HÀNH TRÌNH SANG MỸ…

Tôi cắt ngang loạt bài “Tản mản chuyện xưa”, chèn vào “Tản mản chuyện hiện tai” mà bắt đầu là một số hình ảnh chuyến đi Mỹ thăm con gái (“Khoe con” một chút như tựa đề của các bạn gái Xóm Văn bên Hung vỡn dùng).

Chuyến bay sang Mỹ thăm con gái từ 11h55 ngày 4/12/2013 và kết thúc vào ngày 8/01/2014. Vừa mới sang bên Miami, Florida đang mệt nên chỉ kịp post lên một vài hình ảnh. Chuyện “ký sự” chi tiết sẽ dành cho những bài sau.

Hành trình từ Hà Nội đến Narita, Tokyo; bay tiếp sang Dallas, Hoa Kỹ và chặng cuối là từ Dallas bay đến Miami, Florida mất 30 tiếng vì một số chặng phải nghỉ chờ và trễ chuyến ở sân bay quốc tế Dallas.
(Hôm qua mệt quá ngủ quên, sáng hôm nay mới post ảnh lên được)


Trên máy bay hãng hàng không Nhật Bản đi từ Nội Bài sang Tokyo Narita



Đến Nhật lúc rạng đông…



Bà xã xuống sân bay Narita-Tokyo …




Một góc sân bay Narita …



Trên đường tới gate 73 để sang Dallas Hoa Kỳ


Chuyến bay đi Dallas lúc 12h trưa (giờ Tokyo) ngày 5/12/2013.




Dallas từ trên cao nhìn xuống…




Ngoại ô sân bay Dallas: Khu dân cư bố trí theo ô bàn cờ, không lộn xộn như ở Annam mình…




Đang ngồi trên tàu điện Skylink để dịch chuyển giữa các Terminal.

Sân bay Dallas DFW có 5 Terminal. Kết nối giữa các Terminal với nhau có các tàu điện Skylinh. Đi lại trong Terminal có xe điện Terminal link.


Xuống sân bay Lauderdel Miami, FL, điểm dừng chân cuối cùng, nơi con gái làm việc
(giờ Mỹ 5h30 chiều 5/12, giờ HN: 5h30 sáng ngày 6/12. Máy ảnh và máy tính ẫn để theo giờ Việt Nam)


Một góc sân bay Lauderdal, Miami, Florida




Con gái đưa xe đón về nhà…


Ưu tiên bà xã ngồi trên…


Đường tới Miami.


Sắp vào nội thành Miami.

Ở Mỹ trên những chặng đông xe qua lại, họ dành riêng làn xe ưu tiên tự động trả thêm tiền để chạy nhanh. Xe có gắn thiết bị tự động trả tiền, đi vào tuyến ưu tiên, hệ thống tự động trừ tiền. Chỉ mất 1,5 USD cho một chặng, xe nào không có thiết bị tự động trả thêm tiền mà “liều” chạy vào thì có hệ thống theo dõi, phạt 150 USD. Đúng là ở đất Mỹ, chẳng “lừa” được ai mà cũng không bị ai “lừa” mình!


Tới nhà…




Một góc phố Miami chụp từ nhà con gái út…
(ảnh chụp ban đêm không được nét)


Hai mẹ con ngắm phố…
(ảnh chụp ban đêm không được nét)

Kết thúc 30 tiếng vất vả trên đường tới “Xã hội Tư bản giẫy chết”…


Cảm ơn tất cả…

Sáng nay chụp lại một số cảnh nhìn từ ban công nhà con gái. Tôi qua không thấy biển, sáng nay nhìn thấy biển Miami đẹp quá! Xin post tiếp lên đây




Nước trong xanh hiền hoà
“Biển như cô gái nhỏ”…


Bể bơi ngoài trời


Góc phố Miami…


Bãi để xe thoáng, sạch sẽ…


Cảnh biển Miami chụp từ phòng ngủ


(Hẹn gặp lại “phóng sự” của ngày hôm sau)
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 07.12.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Chúc mừng anh chị và gia đình. batting eyelashes

Thật sung sướng và hạnh phúc. applause

Khi qua sân bay Narita, anh có bị bọn công an biên phòng Nhật Bổn nó bắt nhòm vào cái hộp kính không? surprise

P2H
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 878
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 07.12.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Trích dẫn:
PhanHong đã viết: Chúc mừng anh chị và gia đình. batting eyelashes

Thật sung sướng và hạnh phúc. applause

Khi qua sân bay Narita, anh có bị bọn công an biên phòng Nhật Bổn nó bắt nhòm vào cái hộp kính không? surprise

P2H


Köszönöm szépen Phan Hồng về những lời chúc!

Từ Việt Nam đến Miami, qua nhiều chặng kiểm soát an ninh, nhưng bọn mình không bi công an quấy rầy lần nào cả! Nếu có chỗ nào chúng nó hỏi, nhưng mình không biết trả lời thì chúng nó cũng cho qua thôi... devil devil devil

Qua Nhật không được nhòm vào cái hộp kính nào đó mà Phan Hồng đã được nhìn! thật tiếc tongue
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> NĂM 1972 Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4 ... 17, 18, 19  Trang kế
Trang 3 trong tổng số 19 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser