vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - THỊ TRẤN BÊN ĐƯỜNG: Truyện ngắn của ALICE MUNRO
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

THỊ TRẤN BÊN ĐƯỜNG: Truyện ngắn của ALICE MUNRO

 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
sonhai
Quản trị
Quản trị


Ngày tham gia: Nov 16, 2005
Bài gửi: 1601
Đến từ: Hanoi, Vietnam

Bài gửigửi: 25.10.2013    Tiêu đề: THỊ TRẤN BÊN ĐƯỜNG: Truyện ngắn của ALICE MUN Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

THỊ TRẤN BÊN ĐƯỜNG

Truyện ngắn của ALICE MUNRO (Nobel Văn học 2013)
NGUYỄN ĐỨC TÙNG dịch


Cha tôi băng qua cánh đồng ôm xác một đứa bé trai bị chết đuối. Họ có nhiều người, trở về sau cuộc lùng kiếm, nhưng ông là người mang xác thằng bé. Những người đàn ông mình mẩy đầy bùn, mệt lả, bước đi đầu cúi xuống, như thể họ là những người có lỗi. Ngay những con chó cũng chán nản, lông nhểu nước từ con sông lạnh giá. Thế mà vài giờ trước đó khi khởi sự, chúng còn tỏ ra bồn chồn, chạy quanh sủa ăng ẳng, những người đàn ông quyết tâm, căng thẳng, và có một không khí kích động bị kìm nén lại, không diễn tả được, bao trùm toàn bộ khung cảnh. Lúc đó ai cũng biết rằng có thể họ sẽ tìm thấy một điều gì khủng khiếp.

Tên của thằng bé là Steve Gauley. Tám tuổi. Tóc và quần áo nó nhuốm bùn, bê bết cỏ, cành vụn và lá chết. Nó là nỗi cự tuyệt được gởi lại từ mùa đông. Mặt nó úp vào ngực cha tôi, nhưng tôi vẫn còn thấy được một lỗ mũi, một vành tai nhét đầy bùn xanh lợn cợn.

Tôi không nghĩ thế. Tôi không nghĩ rằng tôi đã thực sự trông thấy những điều ấy. Có lẽ tôi đã thấy cha tôi mang xác thằng bé, thấy những người khác đi theo ông, những con chó, nhưng tôi không thể nào được phép đến gần tới mức nhìn thấy một thứ gì như bùn trong lỗ mũi. Chắc là tôi đã được nghe ai đó kể lại và tự mình tưởng tượng ra. Tôi nhìn thấy khuôn mặt của nó không thay đổi trừ những vết bùn – khuôn mặt quen thuộc của thằng Steve, mặt nó nhọn, vẻ lém lỉnh – và thật ra không thể nào như thế được; nó phải sưng phồng lên chứ, phải biến dạng và dính bùn khắp nơi sau nhiều giờ ngâm trong nước.

Việc mang về một tin như thế, một bằng chứng như thế, cho một gia đình mỏi mắt trông chờ, nhất là người mẹ, khiến cho những người đi lùng kiếm đứa bé cử động nặng nề, nhưng điều đang xảy ra ở đây còn tệ hại hơn nữa. Rõ ràng là có một nỗi xấu hổ (nghe người ta nói thế) rằng thật ra chẳng có một người mẹ nào cả, chẳng có một người phụ nữ nào hết – không bà nội không bà ngoại không cô không dì không chị không em – đứng chờ thằng Steve và trao cho nó nỗi đau buồn thương tiếc xứng đáng kia. Cha của Steve là một người làm công, hay uống rượu nhưng không phải là kẻ say sưa, một người đàn ông được chăng hay chớ nhưng không phải quá ham chơi, một kẻ không thân thiện mấy nhưng không làm phiền ai. Mối tình phụ tử xem ra cũng ngẫu nhiên, và vì đứa bé bị người mẹ ra đi bỏ lại, và hai cha con vẫn tiếp tục sống với nhau, xem chừng càng có vẻ tình cờ. Họ sống trong ngôi nhà với mái nhọn lợp gỗ xám ở xó núi quê mùa, trông chỉ khá hơn túp lều chút đỉnh – người cha sửa chữa mái nhà và dựng những cái giá đỡ ở bên dưới, cũng vừa đủ thôi và cũng đúng lúc cần thiết – và cuộc đời của hai cha con cũng dựa dẫm vào nhau tương tự như thế; tức là cũng tốt vừa đủ để cho cơ quan can thiệp vì quyền lợi của trẻ em không can dự vào gia đình của họ. Hai cha con không ăn chung với nhau, không ai nấu cho ai, nhưng nhà vẫn có thức ăn, đôi khi người cha cho con một ít tiền để mua thức ăn ở tiệm và người ta thấy thằng Steve tới đó mua những thứ xem ra cũng cần thiết như bột làm bánh hay bữa ăn tối kiểu bột mì có thịt.

Tôi biết rõ Steve Gauley. Tôi cũng thích nó, nhưng phần nhiều là không thích. Steve lớn hơn tôi hai tuổi. Nó đến chơi ở chỗ chúng tôi vào các ngày thứ bảy, ra vẻ coi khinh những trò của tôi nhưng lại không thể bỏ mà đi được. Tôi cũng không thể ngồi lên ghế xích đu mà không có nó khởi động và khi tôi có muốn bỏ cuộc nó liền chạy tới đẩy một cái khiến tôi hoảng lên co rúm người lại. Nó chọc ghẹo những con chó. Nó làm cho tôi phiền bực – có tính toán và rất quỷ quái, sau này tôi nghĩ lại – bằng cách khiến tôi làm những việc mình không tự nghĩ ra: đào khoai lên để xem chúng lớn cỡ nào khi còn nhỏ xíu, chất củi lên thành đống để chúng tôi nhảy từ trên đó xuống. Ở trường chúng tôi chẳng bao giờ nói chuyện với nhau. Steve cô độc nhưng không đau khổ. Nhưng vào những buổi sáng thứ bảy, khi chợt nhìn thấy cái dáng của nó điềm tĩnh, gầy gò, xuyên qua hàng rào dương liễu, tôi biết là tôi sắp tham dự một điều gì đó và Steve sẽ quyết định điều ấy. Đôi khi chúng cũng êm xuôi. Chúng tôi giả đò làm cao bồi huấn luyện những con ngựa hoang. Chúng tôi chơi đùa trên cánh đồng cỏ gần bờ sông, không xa lắm chỗ Steve bị chết đuối. Chúng tôi giả đò làm ngựa và kỵ sĩ, la hét, mang dây nhợ, vung vẩy những ngọn roi làm bằng cây lá, ở trên bờ con sông không tên chảy xuôi xuống vùng Saugeen ở phía Nam tỉnh Ontario.

Đám tang được tổ chức trong nhà chúng tôi. Nhà của Steve không đủ chỗ cho đám đông đến dự bởi tình cảnh đặc biệt. Tôi vẫn còn lưu giữ ký ức về căn phòng đầy người nhưng không nhớ là có tấm hình nào của thằng Steve trên quan tài của nó hay có linh mục nào đến làm lễ, hay có những tràng hoa được gởi đến. Tôi chỉ nhớ rằng tôi cầm một bông hoa, loại thủy tiên màu trắng, chắc là ngắt từ chậu bông ai đó đẩy vào cửa, vì lúc ấy chưa phải là mùa của liên kiều trổ bông hoặc hoa huệ và cúc vạn thọ hay gặp trong rừng. Tôi đứng trong hàng của những đứa trẻ, mỗi chúng tôi cầm một bông thủy tiên. Chúng tôi đồng ca bài hát của trẻ con, có một người nào đó chơi đàn cương cầm: “Khi Người Đến, Khi Người Đến, Làm Nên Châu Ngọc Rạng Ngời”. Tôi mang đôi tất màu trắng, chúng ngứa kinh khủng, đầy những nếp nhăn ở đầu gối và mắt cá chân. Cảm giác đối với những đôi tất này trên chân tôi lẫn lộn với cảm giác trong ký ức của tôi. Thật khó diễn tả. Chắc là chúng có liên quan gì đó tới cha mẹ tôi. Liên quan tới người lớn nói chung nhưng đặc biệt là cha mẹ tôi? Cha tôi người là mang xác Steve từ bờ sông lên, và mẹ tôi là người gần như đã làm tất cả các việc thu xếp cho tang lễ này. Cha tôi trong bộ đồ vest màu xanh sậm và mẹ tôi trong chiếc áo đầm nhung nâu với cái viền cổ sa-tanh kem. Họ đứng bên nhau mở miệng ra khép miệng lại trong bài nguyện ca, và tôi đứng xa, giữa những đứa trẻ khác, nhìn chăm chú. Tôi có cảm giác ghê tởm điên cuồng và đau đớn. Trẻ con đôi khi có cảm giác bực bội căm ghét như thế đối với người lớn. Kích thước, những cái bóng lổn nhổn, sức mạnh bồng bềnh. Hơi thở, sự thô ráp, lông lá, sự chế tiết khó chịu. Nhưng còn hơn thế nữa. Và cơn giận đi kèm chẳng có gì rõ ràng và đúng mức. Không có một việc gì làm thoải mái hơn và cuối cùng tôi gập người lại nhặt một hòn đá ném về phía Steve. Không thể nào hiểu được hay diễn tả được, mặc dù cảm giác ấy dần biến thành một thứ nặng nề, thành mùi vị trên lưỡi, một mùi vị tình cờ – loãng, đầy nghi hoặc hay quen thuộc.

***

Hai mươi năm sau hoặc lâu hơn nữa, năm 1961, chồng tôi, Andrew, và tôi mua được một chiếc xe mới toanh, cái xe đầu tiên – tức là cái xe mới đầu tiên. Hiệu Morris Oxford, màu vỏ hàu (người bán xe gọi nó bằng một cái tên thú vị hơn) – một chiếc xe loại nhỏ khá bự, với nhiều chỗ ngồi đủ cho chúng tôi và hai đứa trẻ. Con bé Cynthia lên sáu và Meg ba tuổi rưỡi.

Chồng tôi chụp một bức ảnh tôi đứng bên xe hơi. Tôi mặc quần trắng, áo cổ cò màu đen, và mang kính râm. Tôi đứng dựa vào cửa xe, nghiêng hông để làm mình gầy đi.

“Tuyệt vời,” chồng tôi nói. “Hay lắm. Nhìn em giống Jacky Kennedy.”

Thời ấy khắp nơi những phụ nữ trẻ tuổi, tóc đen, mảnh mai, đều được bảo rằng, khi họ diện đồ sành điệu, hoặc khi chụp hình, trông giống đệ nhất phu nhân Jacky Kennedy.

Andrew chụp nhiều hình cho tôi và những đứa trẻ, nhà chúng tôi, khu vườn, đồ đạc, kỷ vật. Anh chụp hình, ghi chú tỉ mỉ lên đó, gởi về cho mẹ của anh và dì của anh và cậu của anh ở Ontario. Anh cũng đưa những bức hình để tôi gởi cho ba tôi, cũng đang sống ở Ontario, và tôi cũng làm thế nhưng không đều đặn như anh. Khi nhìn thấy những bức ảnh lẽ ra tôi phải gởi đi rồi hãy còn nằm lăn lóc, Andrew bối rối bực bội lắm. Anh muốn những thứ kỷ vật này được chuyển đi hết.

Mùa hè năm đó chúng tôi về thăm nhà thật, chứ không phải chỉ những bức hình. Chúng tôi lái xe từ Vancouver, nơi đang sinh sống, về Ontario, nơi chúng tôi cũng gọi là nhà, trên chiếc xe hơi mới toanh. Năm ngày đi đường, mười ngày ở đó, năm ngày trở về. Lần đầu tiên Andrew được nghỉ làm trong ba tuần lễ. Anh làm việc trong bộ phận pháp luật của công ty thủy điện tỉnh bang British Columbia.

Buổi sáng thứ bảy, chúng tôi mang vali, hai bình thủy – một cà phê, một nước chanh đường – trái cây, bánh mì, sách ảnh, vở tô màu, bút chì, giấy vẽ, thuốc diệt côn trùng, áo len (phòng khi trời lạnh ở trong vùng núi), và hai đứa con gái của chúng tôi lên xe hơi. Andrew khóa cửa lại và Cynthia nói kiểu cách: “Chào giã biệt, nhà ta ơi”.

Meg nói: “Chào giã biệt, nhà” rồi nó nói thêm “Thế bây giờ chúng ta sống ở đâu?”

“Không phải chia tay mãi mãi,” Cynthia nói “Chúng mình sẽ trở về. Mẹ ơi! Con Meg nghĩ là chúng ta sẽ không bao giờ về đây nữa.”

“Em có nói thế đâu,” Meg bảo, lấy chân đá vào sau lưng chiếc ghế ngồi của tôi. Andrew và tôi mang kính râm lên và chúng tôi lái xe vượt qua cầu Sư tử xuyên qua cửa ngõ Vancouver. Chúng tôi rũ bỏ ngôi nhà của mình, hàng xóm của mình, thành phố của mình, và – ở biên giới giữa tiểu bang Washington và tỉnh British Columbia – đất nước chúng tôi. Chúng tôi lái xe về phía Đông đi xuyên qua nước Mỹ, dọc theo xa lộ cực Bắc, con đường này sẽ chạy trở vào Canada lần nửa ở Sarnia, Ontario. Tôi không biết chúng tôi đã chọn con đường này vì thời ấy quốc lộ xuyên Canada chưa xây dựng xong hay vì chúng tôi muốn có cảm giác lái xe qua một nước khác, chỉ hơi khác một chút thôi – một chút đỉnh của sự thú vị và phiêu lưu.

Ai cũng phấn chấn. Andrew khoái chí hoan hô chiếc xe hơi nhiều lần. Anh nói anh thấy rõ là nó chạy ngon hơn chiếc xe cũ của chúng tôi, một cái xe Austin đời 1951 bò chậm như rùa khi lên dốc và mang hình ảnh một bà già rầu rĩ. Andrew bảo thế.

“Thế chiếc xe mới này có hình ảnh của cái gì?” Cynthia hỏi. Nó lắng nghe chúng tôi chăm chú và thích tập nói những chữ mới lạ như chữ hình ảnh. Thường nó nói cũng đúng.

“Sống động,” tôi bảo “Giống kiểu xe thể thao. Nhưng không khoe mẽ.”

“Nó tiện lợi, nhưng vẫn có đẳng cấp riêng,” Andrew bảo. “Giống như hình ảnh của anh.” Cynthia ngẫm nghĩ về điều ấy và nói với sự tự hào thận trọng “Thế nghĩa là giống như ba muốn ba cũng y vậy, phải không ba?”

Tôi thật hạnh phúc vì cảm giác rũ bỏ. Tôi muốn rũ bỏ hết. Trong ngôi nhà của mình dường như lúc nào tôi cũng tìm chỗ để trốn – đôi khi trốn mấy đứa trẻ nhưng nhiều hơn là công việc cần làm, tiếng điện thoại reo và giao thiệp với hàng xóm. Tôi muốn chạy trốn, ẩn núp để có thể tập trung vào công việc thật sự của mình, một thứ gì như gợi lại quá khứ xa xăm. Tôi đã sống trong tình trạng bị vây hãm, khi nào cũng đánh mất một điều gì tôi đang giữ trong tay. Nhưng cuộc du hành mới dễ dàng làm sao. Lúc này tôi có thể trò chuyện với chồng, với các con và quan sát những điều chúng muốn tôi quan sát – một con lợn ở trên bảng chỉ đường, một con ngựa non trên cánh đồng, một chiếc xe hơi Volkswagen nằm trên xe tải lớn – và đổ ly nước vào những chiếc tách nhựa, và những thứ này thứ kia bay hòa quyện trong nhau suốt ngày trong tôi. Một sự kết hợp quan trọng mà tôi có thể đạt tới. Điều này làm tôi đầy hy vọng, thấy tâm hồn thanh thản, nhẹ nhõm, mà một người quan sát bàng quan mới làm được. Một người quan sát chứ không phải một người canh giữ.

Chúng tôi rẽ về phía Đông ở Everett và vượt lên vùng Cascades. Tôi chỉ cho Cynthia lộ trình trên bản đồ. Trước hết tôi chỉ cho con bé bản đồ của toàn nước Mỹ, đồng thời cũng thấy được phần cực Nam của Canada. Tôi dở qua trang khác của cuốn bản đồ gồm những tiểu bang mà chúng tôi đi qua. Washington, Idaho, Montana, North Dakota, Minnesota, Wisconsin. Tôi chỉ cho Cynthia những vạch đứt quãng xuyên hồ Michigan, cũng là đường của chuyến phà chúng tôi sẽ qua. Kế đó chúng tôi sẽ lái xuyên Michigan đến cây cầu nối liền Hoa Kỳ và Canada ở vùng Sarnia, Ontario. Về nhà.

Bé Meg cũng muốn nhìn.

“Mày đâu có hiểu gì,”Cynthia bảo. Nhưng nó cũng lôi tập bản đồ ra băng ghế sau.

“Ngồi xuống đi,” nó bảo em “Ngồi yên. Chị chỉ cho mà xem.”

Tôi có thể nghe tiếng động những ngón tay Cynthia chỉ đường cho Meg rất chính xác, như tôi vừa mới làm với nó. Nó coi hết bản đồ các tiểu bang, biết cách tìm chúng theo mẫu tự.

“Mày có biết cái vạch kẻ này là đường gì không?” Cynthia hỏi. “Cái đó kêu bằng xa lộ. Đó là nơi mà chúng ta sẽ lái xe đi. Chúng ta đang đi trên chính cái vạch này đây.”

Meg chẳng nói gì cả.

“Mẹ ơi, chỉ cho con chúng ta đang ở chỗ nào lúc này,” Cynthia nói.

Tôi lấy tấm bản đồ lên, chỉ con đường đi xuyên qua núi, và nó lấy lại bày cho Meg. “Có thấy vạch kẻ này không, nó rất là ngoằn nghoèo. Nó ngoằn nghoèo bởi vì có nhiều lối vòng quanh. Những chỗ ngoằn nghoèo là những khúc quanh.” Nó lật một trang rồi chờ một lát. “Bây giờ chỉ cho chị xem chúng ta đang ở đâu”. Rồi nó kêu lên với tôi “Mẹ, Meg hiểu. Nó chỉ ra được cái chỗ đó. Meg cũng hiểu bản đồ!”.

Đối với tôi có vẻ chúng ta bịa tạc ra các phẩm chất của trẻ con. Chúng ta xếp đặt chúng sao cho mọi thứ vận hành êm thắm. Cynthia thì sáng láng và cần cù, nhạy cảm, nhã nhặn, cẩn thận. Thỉnh thoảng chúng tôi vẫn trêu đùa nó về việc quá chú ý, chuyên tâm làm bằng được những điều thật ra thâm tâm chúng tôi cũng muốn. Bất cứ cái gì chậm chạp, bị thất bại, bị cự tuyệt, đều làm nó xúc động sâu xa. Con bé có mái tóc mượt, làn da đẹp nõn nà, nhưng dễ bị ăn nắng, dễ ngấm mùi của gió, của lòng tự hào, của cả sự tủi hờn. Meg thì cứng rắn hơn, kín đáo hơn – không nổi loạn nhưng đôi khi ương ngạnh, bí ẩn. Sự lặng lẽ của nó gây cảm giác về sức mạnh của tính cách, trong khi sự ương ngạnh lại là dấu hiệu của tính độc lập điềm tĩnh. Tóc nâu, và cắt thành những lọn thẳng. Mắt vàng sẫm, trong veo, chói sáng.

Chúng tôi hài lòng với những tính cách của con mình, thích thú với vẻ trái ngược nhau và vẻ xác định của từng cá tính. Chúng tôi không thích lắm quan điểm nặng nề, bảo thủ của cha mẹ. Tôi sợ cảm giác trở thành kiểu bà mẹ thân thể thì chảy xệ xuống, người nặng mùi vải bông, mùi sữa, nghiêm khắc với ba chuyện vặt vãnh. Tôi tin rằng tất cả những nỗi lo lắng quá mức của người mẹ, nhu cầu của họ vác lên vai vai trò của mình, chính là nguyên nhân của chứng đau khóc dạ đề ở trẻ con, chứng đái dầm, chứng hen suyễn. Tôi thích nuôi dạy con kiểu khác – sự liều lĩnh đầy giễu cợt, tính chế nhạo của những bà mẹ có trình độ chuyên môn thường viết bài cho các tạp chí. Trong các tạp chí ấy, những đứa trẻ tự mình lớn lên, sắc cạnh, bất thường, không bị bẻ gãy. Có những bà mẹ, với sự hóm hỉnh thông minh của họ, đã cứng cỏi được như thế. Những người mẹ trong đời thật làm tôi thích thú là những người có thể nhấc phone lên và thản nhiên nói, “Liệu cái bào thai Hitler của tôi có vô tình chạy qua nhà chị không?” Họ có thể cười hăng hắc trên đám sương mù đặc như sữa.

Tôi nhìn thấy một con nai chết cột trước chiếc xe tải nhỏ.

“Có ai đã bắn hạ nó,” Cynthia nói, “Những người thợ săn bắn mấy con nai.”

“Mùa săn đã tới đâu,” Andrew trả lời. Chắc là họ tông phải nó trên đường. Con có thấy bảng báo hiệu vẽ nai băng qua đường không?”

“Con sẽ khóc nếu chúng ta tông phải một con nai,” Cynthia nói nghiêm nghị.

Tôi làm những cái bánh mì kẹp với bơ, đậu phụng, mứt cam và quýt cho mấy đứa trẻ và món cá hồi sốt cà chua cho chúng tôi. Nhưng tôi không bỏ rau diếp xà lách vào và Andrew tỏ ra thất vọng.

“Nhưng em chẳng có miếng nào,” tôi bảo.

“Thế em chẳng có cách nào kiếm được à?”

“Em đã mua cả một bó cải xà lách vừa đủ cho bánh mì xăng uých, nhưng rồi em nghĩ không cần.”

Thật ra tôi nói dối, tôi đã quên mất.

“Có rau diếp xà lách thì ngon hơn,” anh nói.

“Em thì thấy chẳng có gì khác nhau,” sau một hồi tôi nói. “Đừng có cáu kỉnh như thế chứ.”

“Anh không cáu, anh chỉ thích xà lách ở trong món bánh mì kẹp mà thôi.”

“Em chẳng nghĩ chuyện đó quan trọng chi.”

“Thế nếu anh quên đổ xăng thì sao?”

“Hai chuyện đó khác nhau chứ.”

“Thôi hãy hát một bài ca,” Cynthia bảo. Rồi nó bắt đầu hát.

Năm chú vịt nhỏ một ngày đi ra
Đi lên ngọn đồi và đi thật xa
Một chú vịt nhỏ đi qua và kêu
Quác quác quác
Bốn con vịt nhỏ lúc lắc quay về

Andrew siết chặt tay tôi, bảo “Thôi mình đừng cãi nhau nữa.”

“Anh nói đúng. Lẽ ra em cần phải mua cải xà lách.”

“Thôi chuyện đó có chi quan trọng đâu.”

Tôi ước gì tôi có thể hướng những cảm giác về Andrew thành những cảm hứng có ích và đáng tin cậy. Tôi đã cố gắng viết hai danh sách, một là những thứ mà tôi thích về anh, cái kia là những thứ tôi không thích – trong đời sống thân mật vợ chồng có những thứ tôi thích, những thứ tôi ghét – như thể tôi hy vọng rằng điều này có thể mang lại một chứng minh nào đó, một kết luận nào đó. Nhưng rồi tôi lại bỏ cuộc vì thấy những điều ấy tôi biết rồi – rằng tôi có nhiều mâu thuẫn không sửa được. Đôi khi tiếng bước chân của anh ấy đối với tôi cũng có vẻ độc tài chuyên chế, cái miệng của anh ấy cũng có vẻ bần tiện và tự mãn, thân thể của anh cứng rắn thẳng thớm như một rào cản – một cách đầy ý thức, đầy bổn phận, sự hài lòng đáng ghét của quyền lực đàn ông – ở giữa tôi và niềm vui sướng hay nhẹ nhõm mà tôi có thể đạt được trong đời mình. Thế rồi không hề báo trước anh bỗng trở thành người bạn tốt, một người bạn đường quan trọng nhất trên đời. Tôi cảm nhận sự ngọt ngào của thân xác thanh thản, ý tưởng nghiêm nghị, sự yếu đuối dễ vỡ của tình yêu của anh, mà tôi hình dung ra là nó thuầm khiết hơn và trong sáng chân thật hơn so với tình yêu của tôi. Tôi có thể khi thì xúc động sâu xa vì sự cứng cỏi, tính khuôn phép đúng mức, khi thì chế nhạo chúng. Tôi nghĩ chồng tôi thật là khiêm tốn khi đứng ngay ngắn vào vị trí của người chồng đã mặc định, vai trò của người cha, một người đi làm việc mang tiền về, và khi tự so sánh với những người đàn ông như vậy, tôi thấy mình là kẻ ích kỷ đáng ghét bí mật. Cũng không hẳn bí mật lắm, không phải nhìn từ phía anh.

Từ dưới sâu xa những cuộc cãi lộn giữa hai vợ chồng, chúng tôi lột hết những sự thật xấu xa nhất. “Anh biết có một điều gì đó rất ích kỷ và rất giả dối ở nơi em,” Andrew có lần nói, “Anh lúc nào cũng biết chuyện đó. Anh cũng biết rằng chính vì vậy mà anh yêu em.”

“Đúng thế,” tôi trả lời. Cảm thấy đau buồn nhưng tự mãn.

“Anh biết rằng em sẽ sống tốt hơn nếu chẳng có anh.”

“Đúng, em có thể như thế đấy.”

“Mà anh cũng hạnh phúc hơn nếu không có em.”

“Đúng chứ.”

Và rồi cuối cùng – cuối cùng – xô đẩy nhau, hành hạ nhau, chúng tôi lại vỗ tay và cười phá lên, cười vào mặt những kẻ ngốc khờ kia, tức cũng là chúng tôi. Sự đau khổ của họ, sự nhớ tiếc của họ, khả năng tự bào chữa cho mình của họ, chúng tôi đã vượt qua những điều ấy, chúng tôi tuyên bố họ là những kẻ nói dối. Chúng tôi uống rượu vang trong bữa tối hay quyết định tổ chức những bữa tiệc.

Đã nhiều năm tôi không gặp lại Andrew, không biết anh còn giữ dáng người thanh mảnh, hay tóc anh đã bạc, vẫn thói quen lúc nào cũng đòi ăn rau diếp xà lách, thích nói thật, hay vẫn nồng nàn và thất vọng như xưa.

Chúng tôi qua đêm ở Wenatchee, Washington, nơi nhiều tuần lễ không mưa. Chúng tôi ăn tối trong một nhà hàng dựng bên thân cây- không phải cây ghép trong chậu mà cây bông gòn mạnh mẽ cao lớn. Sáng sớm khi mặt trời mọc, chúng tôi lái xe ra khỏi thung lũng có nước tưới, leo lên những ngọn đồi khô cằn, sỏi đá, dốc đứng, mỗi ngày một thêm nhiều đồi cho đến khi tới một cao nguyên rộng xuyên qua bởi sông Spokane và sông Columbia. Trung du và thảo nguyên, dặm đường này đến dặm đường kia. Rồi có những con đường thẳng tắp, những thị trấn nông trại nhỏ, những kho tồn trữ lúa mì. Một cái bảng trên đường ghi rõ vùng chúng tôi đi vào, hạt Douglas, là nơi sản xuất lúa mì lớn thứ hai ở Mỹ. Có những thị trấn trồng nhiều cây xanh bóng mát. Hoặc ít ra tôi nghĩ chúng được trồng, bởi vì không thấy những cây lớn như thế ở vùng quê lân cận.

Tất cả khung cảnh ấy chào đón tôi một cách huy hoàng. “Vì sao em yêu chúng đến vậy?” Tôi bảo Andrew. “Chẳng phải vì nó hấp dẫn hay sao?”

“Vì nó gợi nhớ tới quê nhà của em,” Andrew nói. “Một nỗi hoài hương khẩn trương bi thiết”.

Nhưng anh nói thế với giọng tử tế.

Khi nói đến chữ “quê nhà” và ám chỉ Ontario, hai chúng tôi nghĩ đến những vùng khác nhau. Cố thổ của tôi là một nông trại nuôi gà tây, nơi cha tôi sống như người đàn ông góa vợ, và mặc dù đó là ngôi nhà mẹ tôi hằng sống, bà đã từng dán giấy lên tường, sơn phết dọn dẹp, sắp đặt bàn ghế, vẫn thấy rõ dấu hiệu của điêu tàn, của cuộc sống bắt đầu hoang dại. Một đời sống tiếp tục kiểu mà mẹ tôi không thể đoán trước hay tha thứ. Có những buổi tiệc của những người thợ làm gà tây, thợ máng nước, thợ nhổ lông gà, đôi khi có một hai chàng trẻ tuổi sống tạm vài ngày như quán trọ, rủ rê bạn bè tới tiệc tùng vui nhộn. Đời sống ấy, tôi nghĩ tốt hơn nhiều cho cha tôi so với cuộc sống cô đơn lặng lẽ, mà tôi cũng không bài bác và chẳng có quyền gì để phê phán. Andrew hoàn toàn không thích tới đó, cũng dễ hiểu thôi, bởi vì anh không phải loại người có thể ngồi lòng vòng quanh bàn bếp với những người thợ làm gà, kể chuyện chọc cười vui vẻ. Những người thợ ngượng ngùng khi có mặt anh, cảm thấy như bị coi thường, và đối với tôi thì cha tôi, những khi họ ở đó, cần đứng về phía họ. Và không chỉ Andrew là bực bội. Tôi chịu được chuyện pha trò của đám thợ, nhưng cũng phải cố gắng lắm.

Tôi ước những ngày nhỏ dại, trước khi gia đình có trại gà tây. Trước đó chúng tôi nuôi bò sữa và bán sữa cho hãng phô-mát. Trại gà không thể nào sánh được với trại nuôi bò hay nuôi cừu. Bạn có thể thấy những con gà tây nằm trên một băng dài nối tới những thùng đông lạnh và thịt chuẩn bị ăn được. Chúng không có vẻ giả tạo của đời sống thanh bình trong trại gia súc, những con lợn trong vườn cây râm mát. Chuồng gà là một dãy nhà dài, tiện lợi, làm bằng tôn. Không có những cái túi hay cỏ hay chuồng. Ngay mùi phân gà tuy loãng hơn nhưng lại khó chịu hơn phân bò. Không có một hình ảnh nào về cuộn cỏ, hàng rào hay chim chóc ca hát hay bụi mận gai trổ bông. Những con gà tây để đầy trên mặt đất nhưng chúng đã được rửa sạch. Chúng trông không giống những con chim lớn mà giống một thứ đồ đem giặt biết đập cánh.

Một lần nọ, ít lâu sau khi mẹ tôi qua đời và khi tôi đã lập gia đình – thực tế là tôi đã gói đồ đạc chuẩn bị về ở với Andrew ở Vancouver – tôi ở lại nhà vài ngày với cha tôi. Trời mưa lớn khác thường suốt đêm. Sáng sớm, trại nuôi gà ngập lụt. Ít nhất là những chỗ thấp bị ngập nước- trông như cái hồ với những hòn đảo nhỏ. Những con gà đứng xúm xít lại trên các hòn đảo ấy. Gà tây là thứ rất ngốc. Cha tôi vẫn nói, “Con có biết gà không? Có biết chúng xuẩn ngốc cỡ nào chưa? Vậy mà gà vẫn còn là Einstein nếu đem so với bọn gà tây này”. Nhưng chúng vẫn biết tụ lại trên cao để tránh chết trôi. Bây giờ chúng xô đẩy nhau đến ngạt thở, run lạnh và chết. Không thể chờ nước rút. Chúng tôi kiếm chiếc xuồng cũ, tôi chèo còn cha tôi nắm những con gà lôi chúng lên xuồng, mang chúng vào trại gia súc. Trời vẫn còn mưa lai rai. Công việc thật vất vả, nhàm chán và khó chịu. Chúng tôi cười phá lên. Tôi cảm thấy hạnh phúc có dịp làm việc với cha tôi. Tôi cảm thấy gần gũi với thứ công việc nặng nhọc, lập đi lập lại, kinh khủng, khi thân xác bạn rã rời, trí óc chìm nghỉm (dù đôi khi tinh thần khinh khoái), và lòng tôi chưa chi đã nảy sinh mối hoài niệm lạ lùng về nơi chốn đây, cuộc sống này, trong những ngày sắp tới. Tôi nghĩ là nếu Andrew nhìn thấy tôi trong hoàn cảnh như thế, trong mưa, lòng bàn tay đỏ ửng lên, người đầy bùn, vừa cố nắm chặt chân gà vừa chèo thuyền, chắc anh chỉ muốn lôi tôi ra khỏi chỗ này và làm tôi quên bẵng đi mọi việc ở đây. Cuộc sống thô sơ như nhiên này làm anh tức giận. Sự gắn bó của tôi với nó càng làm anh giận dữ. Tôi nghĩ lẽ ra tôi không nên lấy anh. Nhưng lấy ai bây giờ? Một trong những người thợ làm gà tây chăng?

Và tôi cũng không muốn ở đây lâu. Có lẽ tôi sẽ buồn khi bỏ đi, nhưng còn tệ hơn nếu có ai đó khiến tôi phải ở lại.

Mẹ của Andrew sống ở Toronto trong một căn hộ chung cư nhìn ra công viên Muir. Khi Andrew và người chị của anh còn ở nhà, mẹ họ ngủ ngoài phòng khách. Chồng của bà, một bác sĩ, qua đời khi những đứa trẻ còn nhỏ dại chưa đến tuổi tới trường. Bà học một khóa huấn luyện thư ký và bán căn nhà của mình với giá rẻ mạt, dọn vào cư xá, nuôi dạy con cái tươm tất, với sự giúp đỡ của vài người thân- người chị của bà tên Caroline, người anh rể tên Roger. Andrew và chị đi học trường tư và đi cắm trại mùa hè.

“Thế mà em cứ tưởng là nhờ quỹ tương tế xã hội kia chứ?” Có lần tôi bảo thế, chế nhạo anh về việc anh tự cho mình là một người nghèo. Trong trí tôi, đời sống thành thị của Andrew an toàn quá mức, cầu kỳ kiểu cách. Mẹ của anh về nhà ôm lấy đầu sau một ngày làm việc đầy tiếng động, ánh sáng chói chang của văn phòng tiệm tạp hóa, nhưng đối với tôi đời sống của bà không có gì khó khăn hay đáng thán phục. Tôi không nghĩ bản thân bà tin rằng mình là một người đáng thán phục – chỉ là không may mắn. Bà lo lắng về công việc của mình ở văn phòng, quần áo, việc bếp núc, con cái. Bà lo âu gần như về tất cả những gì mà Roger và Caroline có thể để mắt tới.

Caroline và Roger sống ở phía đông của công viên, trong một ngôi nhà đá đẹp tuyệt. Roger cao, hói đầu, da mặt tàn nhang, có cái bụng lớn nhưng rắn chắc. Cuộc giải phẫu ở vùng họng làm ông nói giọng khó nghe – như tiếng thì thào thô ráp. Nhưng ai cũng chú ý nghe cả. Có lần trong bữa ăn tối ở ngôi nhà bằng đá kia – tất cả những bàn ghế đồ đạc trong phòng ăn đều lớn, màu tối lộng lẫy, nguy nga – tôi hỏi anh một câu. Tôi nghĩ là có liên quan đến Whittakers Chambers, câu chuyện của ông ta xuất hiện trên báo Bưu Điện Chiều Thứ Bảy. Tôi hỏi nhẹ nhàng thôi nhưng anh nghĩ là có dụng ý khiêu khích và gọi tôi là bà Gromyko, ý muốn nói người mà tôi cùng chia sẻ quan điểm. Có thể anh cần một đối thủ nhưng chẳng tìm thấy ai. Trong bữa ăn tối, tôi nhìn thấy tay của Andrew run lên khi anh bật lửa châm thuốc cho mẹ anh. Dượng Roger trả tiền cho việc học hành cho Andrew, và có chân trong ban giám đốc của một số công ty.

“Dượng ấy chỉ là một người có quan niệm ương bướng,” sau này Andrew bảo tôi. “Làm gì mà em cứ phải tranh cãi với ông?”

Trước khi chúng tôi rời Vancouver, mẹ của Andrew viết thư, Roger có vẻ tò mò về ý định của con muốn mua một cái xe hơi loại nhỏ! Dấu chấm than của bà diễn tả lo ngại. Vào thời đó, đặc biệt là ở Ontario, việc mua một chiếc xe hơi nhỏ kiểu châu Âu thay vì xe Mỹ cỡ bự trông như là một bản tuyên bố – một tuyên bố về lập trường mà Roger đánh hơi được từ lâu.

“Nhưng xe này không thuộc loại xe nhỏ,” Andrew nói bực bội.

“Đó không phải là điểm chính,” tôi bảo anh. “Điểm chính là, mắc mớ chi tới dượng ấy!”.

Chúng tôi qua đêm thứ hai ở Missoula. Người ta bảo chúng tôi trong một trạm đổ xăng ở Spokane, là có chỗ sửa chữa xe cộ phụ tùng dọc theo tuyến đường cao tốc số 2 và chúng tôi đã lái qua những dặm đường nóng nực đầy bụi bặm, những thời gian chờ đợi rất dài, vì vậy chúng tôi rẽ về xa lộ liên tỉnh, băng qua Coeur d’Alene và Kellogg để vào Montana. Qua khỏi Missoula chúng tôi hướng lên phía nam về phía Butte, nhưng rồi vòng lại để thăm Helena, thủ phủ của tiểu bang Montana. Trên xe hơi chúng tôi chơi trò Tôi Là Ai?

Cynthia đóng vai một người Mỹ, một người đã chết, và có thể là bé gái. Có thể một phụ nữ. Cô ấy không có mặt trong câu chuyện. Cô không hề xuất hiện trên tivi. Cynthia cũng không đọc gì về cô ta trong sách. Cô không phải là người đã từng tới thăm lớp mẫu giáo hay bà con gì của bạn bè của Cynthia.

“Cô ta có phải là người không?” Andrew hỏi một cách tinh ý đột ngột.

“Không! Đó là thứ mọi người quên hỏi!”

“Một con vật,” Tôi nói sau khi đã suy nghĩ.

“Có phải đó là một câu hỏi không? Có mười sáu câu hỏi!”

“Không, đó không phải là một câu hỏi. Mẹ đang suy nghĩ. Một con vật đã chết.”

“Đó là con nai,” Meg nói, nhưng nó không phải là người chơi.

“Không công bằng!” Cynthia nói. “Meg không chơi.”

“Con nai nào?” Andrew nói.

Tôi bảo, “Ngày hôm qua”

“Ngày hôm trước,” Cynthia nói. “Meg không chơi. Không ai đoán được.”

“Con nai trên xe tải,” Andrew bảo.

“Đó là một con nai cái, vì nó không có gạc, và đó là một con nai Mỹ, và nó đã chết rồi,” Cynthia bảo.

Andrew nói, “Cha nghĩ đó là ý tưởng bệnh hoạn, đóng vai một con nai chết.”

“Con hiểu rồi,” Meg nói.

Cynthia bảo, “Con nghĩ con biết bệnh hoạn nghĩa là gì. Đó là một thứ sầu muộn.”

Helena, một thị trấn khai mỏ bạc cũ, trông hoang vắng ngay trong ánh nắng bình minh. Rồi đến Bozeman và Billings, không tiêu điều chút nào –sống động mạnh mẽ với nhiều dặm dài lóng lánh kim tuyến của bãi bán xe hơi cũ. Chúng tôi mệt lử và cảm thấy nóng ngay cả khi chơi trò Tôi Là Ai? Những thành phố bận rộn và tẻ nhạt nhắc tôi nhớ tới những địa điểm khác ở Ontario, và tôi sực nghĩ, điều gì thực ra đang chờ đợi mình ở đó – những đồ đạc bia đá trong phòng ăn của dì dượng Caroline và Roger, những bữa ăn tối khiến tôi phải ủi những bộ trang phục của trẻ con, nhắc chúng về những cái nĩa và một cái bàn ăn khác một trăm dặm xa, những trêu đùa chọc ghẹo của đám thợ làm gà tây của cha tôi. Niềm vui thú tôi hằng nghĩ tới – thả mắt nhìn ra xa vùng quê êm ả hay uống một chai Coke trong tiệm tạp hoá cũ với những cây quạt trần và mái tôn cao – đã bị những thứ ấy giựt phăng mất.

“Meg buồn ngủ,” Cynthia nói. “Nó nóng quá. Làm con ngồi gần cũng nóng lây.”

“Mẹ hy vọng là nó không bị sốt,” tôi bảo, không ngoảnh lại.

Chúng tôi làm những chuyện này vì cái gì, tôi nghĩ thầm, và câu trả lời đến ngay – để khoe thôi. Để cho mẹ của Andrew và cha tôi niềm vui gặp cháu của họ. Đó là bổn phận. Nhưng đằng sau cái đó chúng tôi còn muốn khoe một điều gì khác nữa. Thực là những đứa trẻ hăm hở biết bao, tôi và Andrew, những kẻ lúc nào cũng đi tìm sự tán đồng ở người khác. Như thể vào một lúc nào đó ở một điểm nào đó chúng tôi đã nhận được những thông điệp khó nuốt không thể nào quên – rằng chúng tôi đã đi quá xa, và rằng sự thành công thông thường trong đời đã ở sau lưng chúng tôi quá lâu. Dượng Roger đã phát đi những thông điệp ấy, tất nhiên theo cách của ông – nhưng mẹ của Andrew, mẹ tôi và cha tôi, cũng không ai khác biết cách phát đi thông điệp. Tất cả họ đều muốn nói với chúng tôi rằng “ Cẩn thận đấy, phải hoà hợp với mọi người thôi”. Cha tôi khi tôi còn ở trung học đã từng chế nhạo rằng tôi nghĩ mình quá thông minh nên chắc không bao giờ có một đứa bạn trai. Rồi ông quên bẵng điều ông nói trong một tuần, nhưng tôi thì không bao giờ quên. Andrew và tôi không quên điều gì cả. Chúng tôi dễ bị tổn thương.

“Con ước có một bãi biển,” Cynthia nói.

“Có lẽ có một cái,” Andrew bảo. “Ngay phía sau đường lượn vòng.”

“Không có đường vòng nào cả,” Cynthia bảo, giống như tức tối.

“Mẹ cũng muốn nói thế đấy.”

“Con ước gì có một ly chanh đường.”

“Mẹ thì muốn có cây đũa thần và biến phép một ly chanh đường,” tôi nói. “Được thôi, Cynthia? Hay là một ly nước nho vắt? Rồi mẹ hoá phép một bãi biển ở đó nữa”

Cynthia im lặng và tôi cảm thấy hối hận ngay. “Có thể trong thị trấn trước mặt sẽ có một bể bơi,” tôi nói. Tôi nhìn bản đồ. “Ở thị trấn Miles City. Dù sao chúng ta sẽ có một thứ gì đó mát để uống.”

“Xa hay gần hả em?” Andrew hỏi.

“Không xa lắm đâu,” tôi nói, “Ba mươi dặm, cỡ đó.”

“Ở thị trấn Miles City,” Cynthia nói, giọng trầm xuống như đang niệm chú, “sẽ có một bể bơi xanh ngắt đẹp tuyệt dành cho trẻ con và một công viên cây cối mơ màng.”

Andrew bảo tôi, “Em có thể bắt đầu vài thứ em thích”.

Nhưng quả thật có một bể bơi. Một công viên nữa, mặc dù nó không giống ốc đảo trong mơ của Cynthia. Những cây cối thảo nguyên có lá mỏng – cây bông gòn và cây dương – cỏ uá, và hàng rào thép bao quanh bể tắm. Bên trong hàng rào ấy, một bức tường chưa xây xong gồm những tấm xi măng ghép. Không có tiếng cười đùa, tiếng giỡn nước; xuyên qua lối vào tôi nhìn thấy tấm bảng ghi bể bơi tạm đóng cửa từ mười hai giờ trưa đến hai giờ chiều. Lúc đó là mười hai giờ hai mươi lăm phút.

Nhưng tôi vẫn gọi, “Có ai đó không?” tôi nghĩ có người quanh đây, vì một chiếc xe tải nhỏ đỗ trên lối vào. Trên thành xe có tấm bảng ghi: Chúng tôi có mưu lược để sửa chữa ống nước. (Chúng tôi cũng có dịch vụ hút cầu Roto- Rooter).

Một cô gái chạy ra, mặc áo cứu hộ màu đỏ bên ngoài bộ đồ tắm. “Xin lỗi, chúng tôi đóng cửa.”

“Chúng tôi vừa lái xe ngang qua,” tôi nói.

“Chúng tôi đóng cửa mỗi ngày từ mười hai giờ trưa đến hai giờ chiều. Trên bảng có ghi rõ.” Cô ta đang ăn bánh mì xăng uých.

“Tôi có thấy tấm bảng,” tôi nói. “Nhưng đây là nơi đầu tiên có nước tắm rửa sau nhiều ngày đường, mà các cháu thì nóng nực quá sức, và tôi mong chúng có thể nhảy ùm xuống nước một lát- chỉ năm phút thôi mà. Chúng tôi sẽ canh chừng chúng.’

Mộ cậu trai trẻ xuất hiện sau lưng cô gái. Chàng trai mang quần jeans và áo thun in hàng chữ Roto- Rooter.

Tôi định kể chúng tôi đi từ British Columbia đến Ontario nhưng chợt nhớ đối với nhiều người Mỹ mấy cái địa danh Canada này chẳng gợi lên điều gì nên thôi.”Chúng tôi lái xe xuyên liên bang,” tôi nói. “Chúng tôi không có thời giờ để chờ bể bơi mở cửa. Chỉ hy vọng là các cháu có cái gì tắm mát một chút.”

Cynthia chạy chân không tới đằng sau tôi.”Mẹ. Mẹ ơi, bộ đồ tắm của con đâu?” Rồi nó dừng lại, nhận ra tính nghiêm trọng trong cuộc thương lượng của hai chúng tôi. Meg đang trèo ra khỏi xe hơi- vừa thức giấc, áo kéo lên đầu, quần tụt xuống bẹn, bày cái bụng hồng hồng.

“Chỉ có hai đứa bé này thôi à?” cô gái hỏi.

” Chỉ hai cháu này thôi. Chúng tôi sẽ canh chừng chúng ạ.”

“Tôi không thể cho người lớn vào đây. Nếu chỉ có hai đứa, tôi nghĩ tôi có thể coi được. Tôi đang ăn trưa.” Cô ta hỏi Cynthia, ” Cháu có muốn xuống hồ bơi không?”

“Dạ có ạ,” Cynthia trả lời rõ ràng.

Meg nhìn xuống đất.

“Chỉ một lát thôi, vì hồ bơi đã đóng cửa,” tôi nói.” Chúng tôi thực cám ơn cô lắm lắm,” tôi bảo cô gái.

“Thôi vậy, tôi có thể ăn trưa ngoài ấy, nếu chỉ có hai cô bé này.” Cô nhìn ra xe chúng tôi như thể bỗng dưng tôi có thể lôi ra thêm vài đứa trẻ nữa.

Khi tôi tìm ra bộ đồ tắm của Cynthia, nó mang ngay vào phòng thay đồ. Nó không muốn ai, ngay cả Meg, nhìn thấy nó ở truồng. Tôi thay đồ cho Meg, nó đứng trên ghế trước trong xe. Nó có bộ đồ tắm bằng vải hồng với dây buộc và nút cài. Có giải rút ở đũng quần.

“Người cháu nóng lắm,” tôi nói.” Nhưng tôi nghĩ không phải bị sốt đâu.”

Tôi thích giúp Meg mặc hay cởi áo quần, vì cơ thể nó còn chưa tự ý thức về mình, với tính thờ ơ ngọt ngào, một cái gì như mùi sữa, của trẻ sơ sinh. Cơ thể của Cynthia thì từ lâu đã được gọt giũa, tạo hình và thay đổi, để trở thành chính Cynthia. Ai cũng muốn hôn lấy hôn để, quệt mặt vào người Meg. Đôi khi nó nhăn nhó bực bội, đánh lại chúng tôi, và tính tự lập quyết liệt, sự ngượng ngùng giận dữ này, càng làm nó thêm hấp dẫn, khiến người ta cứ muốn ôm nghiến lấy, thọc lét, kiểu người thân trong nhà.

Andrew và tôi ngồi trong xe hơi, cửa kính hạ xuống. Tôi nghe được tiếng nhạc vẳng ra từ radio và nghĩ đó là máy của cô gái hay bạn trai cô ta.Tôi khát quá, ra kỏi xe, tìm một chỗ mát mẻ, hay một cái máy bán thức uống, đâu đó trong công viên. Tôi mang quần đùi và sau hai bắp chân ướt lẫm mồ hôi. Tôi thấy một vòi nước uống bên kia công viên và đi tới đó bằng lối vòng dưới bóng hàng cây. Không có gì là có thật cả cho đến khi bạn bước ra khỏi xe. Lừ đừ vì nóng, vì mặt trời trên các ngôi nhà bỏng rộp lửa, hè đường, cỏ cháy, tôi bước đi chậm chạp. Tôi chú ý đến một chiếc lá bị dẫm nát, bóp vụn một que khuấy cà phê dưới gót giày, nheo mắt nhìn thùng rác cột vào thân cây. Đó là cách bạn quan sát những vật hèn mọn nhất bỗng trồi lên bề mặt thế giới, sau khi bạn đã lái xe đi thật lâu- bạn cảm nhận được tính chất riêng biệt của chúng, nơi cư ngụ chính xác và nỗi trùng hợp tình cờ đáng thương của việc bạn cũng có mặt nơi đây để nhìn ngắm chúng.

Những đứa trẻ đâu rồi?

Tôi xoay người lại, bước rất mau, không hẳn là chạy, tới bên một đoạn hàng rào nơi bức tường bên trong chưa xây xong. Từ đây tôi có thể nhìn thấy hồ bơi. Tôi thấy Cynthia, đứng ngâm mình trong nước ngang thắt lưng, vung tay đập nước và chăm chăm nhìn một vật gì phía cuối hồ bơi, nhưng tôi không thấy được. Căn cứ vào dáng đứng của nó, sự chăm chú, vẻ mặt, tôi nghĩ nó đang coi mấy trò của cô gái cứu hộ và gã bồ cô ta. Tôi không thấy Meg. Nhưng tôi nghĩ nó đang chơi ở chỗ nước cạn- cả hai đầu nước cạn và nước sâu tôi đều không nhìn thấy.

“Cynthia!” Tôi phải gọi hai lần con bé mới nhìn ra chỗ đứng của tôi.”Cynthia! Meg đâu rồi?”

Có vẻ Cynthia, bất cứ khi nào tôi nhớ lại cảnh này, quay mình duyên dáng về phía tôi, rồi xoay cả người trong nước- làm tôi nghĩ tới một vũ điệu ba lê – và dang tay ra như đứng trên sân khấu. “B- i- ế- n- m- ấ- t!”

Cynthia vốn có tính duyên dáng tự nhiên, mà con bé lại học múa, vì thế những động tác này có thể đã xảy ra đúng như thế thật. Nó quả thật có nói “Biến mất!” sau khi đã nhìn quanh mặt hồ một lượt, nhưng điệu bộ và cách nói giả tạo này, cái kiểu không hề khẩn trương chi, thì chắc là do sự tưởng tượng thêm của tôi. Nỗi sợ hãi xâm chiếm lập tức khi không tìm thấy con bé Meg- ngay cả khi tôi tự bảo mình có lẽ nó đứng phía nước cạn- đã là nguyên cớ khiến những cử chỉ của Cythia trở nên quá chậm chạp, quá vô lý đối với tôi, và giọng điệu của chữ “Biến mất” ngay trước khi hàm ý của nó kịp xuất hiện (hay là con bé che giấu, ngay tức thì, cảm giác tội lỗi của nó?) trở nên một lời nói ích kỷ không chịu nổi.

Tôi la lớn lên gọi Andrew, và cô gái coi hồ bơi lập tức xuất hiện. Cô chỉ tay về phía vùng nước sâu và nói, “Cái gì kia kìa?”

Ở đó, ngay trước mắt tôi, một nhúm giải rút hồng hồng phồng lên, trông như một bó hoa, ngay dưới làn nước. Làm sao một nhân viên cứu nạn lại có thể đứng dừng lại và chỉ tay, sao cô ta lại có thể hỏi như thế, sao không nhảy ùm xuống nước và bơi về phía ấy? Cô ta không bơi; mà chạy dọc bờ nước. Nhưng lúc ấy Andrew đã leo lên hàng rào. Bao nhiêu thứ xảy ra không thể giải thích chút nào- cử chỉ của Cynthia rồi đến điệu bộ của cô nhân viên cứu nạn- và bây giờ tôi lại có cảm giác rằng Andrew nhảy phóc một cái đã qua được hàng rào cao bảy bộ. Chắc anh phải trèo nhanh lắm, túm chặt hàng rào dây thép.

Tôi không thể nhảy hay leo gì cả, tôi chạy về phía lối vào, ở đó có một cái cổng kiểu mắt cáo, khoá chặt. Cái cổng không cao lắm, và tôi đu người trèo qua. Tôi chạy dọc theo hành lang xi măng, tới sát mép nước.

Bi kịch kết thúc.

Andrew nắm được Meg đầu tiên, và kéo nó lên khỏi mặt nước. Anh chỉ cần vươn tay ra là nắm lấy nó, vì Meg phần nào đang tự bơi, nhưng đầu đã hụp sâu trong nước – nó lặn ngụp về phía thành hồ tắm. Anh bồng nó đi, và cô cứu hộ bước nhanh phía sau. Cynthia vừa trèo ra khỏi nước và chạy về phía họ. Chỉ một người thờ ơ với toàn bộ sự việc là gã bạn trai của cô nhân viên, cứ ngồi trên ghế dài phía nước cạn, uống một thứ nước pha sữa. Anh ta còn mỉm cười với tôi, và tôi nghĩ thật kẻ là vô cảm, mặc dù nguy hiểm đã qua. Cũng có thể anh ta có hảo ý. Tôi để ý thấy anh ta không tắt radio đi, chỉ vặn nhỏ xuống.

Meg không uống nước đầy bụng. Con bé thậm chí chưa kịp sợ hãi. Tóc dính bết vào đầu và mắt mở to, vàng long lanh.

” Con muốn xuống lấy cái lược,” nó nói.”Con không biết nước sâu thế.”

Andrew nói,”Meg vẫn tự bơi! Nó bơi mình nó. Anh thấy bộ đồ tắm của con trong nước rồi anh thấy nó bơi”

“Nó sắp chìm nghỉm luôn rồi,” Cynthia nói. “Không phải vậy sao? Meg sắp chết đuối.”

“Tôi không biết mọi chuyện có thể xảy ra như thế.” Cô cứu hộ nói. “Con bé vừa mới ở chỗ này, chỉ một thoáng đã không còn đó nữa.”

Chuyện xảy ra là Meg đã lên khỏi nước ở phía nước cạn và chạy dọc theo bể bơi đến đầu kia, chỗ nước sâu. Nó thấy một cái lược người nào đánh rơi dưới đáy. Nó khom người cúi thật sát để lượm cái lược lên, tưởng là nước không sâu. Nó chồm người lên nữa và trượt chân xuống hồ, rơi bõm một cái nhưng không ai nghe được tiếng động- kể cả cô gái cứu hộ, đang bận hôn anh bồ của mình, hoặc Cynthia đang đứng mãi nhìn hai người. Đó đúng là lúc khi tôi đứng dưới bóng cây và chợt nghĩ, Bọn trẻ đang ở đâu vậy? Đó cũng là lúc, Meg trượt chân, lấy làm ngạc nhiên, xuống làn nước trong xanh dễ đánh lừa người ta.

“Mọi chuyện ổn rồi,” tôi bảo cô nhân viên, lúc ấy gần sắp khóc. “Con bé bơi rất nhanh.” (Mặc dù thường chúng tôi không nói về Meg như thế. Chúng tôi nói nó ngẫm nghĩ mọi chuyện trước đã rồi mới thong thả làm.)

“Em đã bơi, Meg”, Cynthia nói, kiểu như chúc mừng. (Sau này nó kể cho chúng tôi nghe về việc hai người kia hôn nhau.)

“Con không biết là nước sâu thế,” Meg bảo. “Con đã không bị chết đuối.”

Chúng tôi ăn trưa ở một tiệm bán thức ăn mang đi, có bánh mì kẹp thịt heo hamburger và khoai tây chiên, ngồi quanh một cái bàn ngoài trời không xa lắm xa lộ cao tốc. Quá vui mừng, tôi quên bẵng mua cho Meg một cái bánh mì kẹp không mùi, và phải cạo bỏ dưa và mù tạt bằng muỗng nhựa, rồi lau miếng thịt với tấm giấy chùi miệng, trước khi đưa cho con bé ăn. Tôi lợi dụng cái thùng rác gần đó để lau chùi xe hơi. Rồi chúng tôi lại lên đường lái xe về phương Đông, cửa kính xe hơi phía trước mở hết ra. Cynthia và Meg ngủ thiếp đi trên băng ghế sau.

Andrew và tôi thầm thì trò chuyện về những điều vừa xảy ra. Giả sử tôi không linh cảm vụt chạy đi tìm những đứa trẻ vào lúc ấy? Giả sử chúng tôi đi vào thành phố để uống một cái gì, như dự định ban đầu thì sao? Làm thế nào Andrew có thể nhảy qua hàng rào? Anh ấy trèo lên hay thực sự đã nhảy qua? (Anh không thể nào nhớ nổi.) Làm cách nào anh đã chạy tới và chụp lấy Meg nhanh đến thế? Và nghĩ đến chuyện cô nhân viên cứu hộ không hề nhìn nhỏi gì đến con bé. Rồi Cynthia đứng trân trân nhìn hai người kia hôn hít nhau. Nó chẳng nhìn thấy gì khác nữa. Không nhìn thấy Meg rơi khỏi mép nước.

Biến mất.

Nhưng nó còn bơi. Nó nín thở và tiếp tục bơi.

Một chuỗi những biến cố may mắn.

Đó là tất cả những gì chúng tôi trò chuyện- may mắn. Nhưng tôi không thể ngừng mà không nghĩ đến chuyện tệ hại xảy ra theo hướng ngược lại. Vào lúc này đây, chúng tôi đã có thể phải ngồi điền những tờ đơn khai báo. Người ta mang Meg khỏi vòng tay của chúng tôi, cơ thể nó được quấn lại chuẩn bị chở đi xa. Về lại Vancouver- nơi chúng tôi chẳng bao giờ lưu ý đến một thứ gì như là nghĩa địa- hay tới Ontario? Những bức tranh nguệch ngoạc mà Meg vẽ sáng nay chắc vẫn còn nằm lại trên ghế ngồi của nó sau xe. Làm thế nào tất cả những điều này có thể chịu đựng được, làm sao con người có thể đương đầu nổi với những câu chuyện như thế? Đôi vai và hai bàn tay và hai bàn chân ngọt ngào, tròn trịa, mái tóc nâu óng ả, vẻ mặt hài lòng và bí ẩn – tất cả đều giống hệt như lúc nó còn sống. Một bi kịch hết sức đời thường. Một đứa trẻ chết trôi trong một bể bơi vào buổi trưa một ngày mùa hạ sáng lòa. Mọi việc sẽ thu gọn lại mau chóng. Hồ bơi sẽ mở cửa lại lúc hai giờ chiều. Cô nhân viện cứu hộ sẽ run rẩy một lúc và xin phép nghỉ việc chiều hôm đó. Cô sẽ lái xe ra đi cùng với người tình trên chiếc xe tải nhỏ hút cầu Roto-Rooter. Cái xác của đứa bé sẽ được khâm liệm trong chiếc quan tài nhỏ để chở đi. Thuốc an thần, những cuộc gọi điện thoại, những thu xếp này nọ. Sự trống rỗng bỗng nhiên ập tới, nỗi chìm khuất và dịch chuyển mù tối. Thức giấc choáng váng vì thuốc ngủ và an thần, trong một lát chợt nghĩ thầm ồ đó là điều không thật. Rồi nghĩ rằng giá như chúng tôi không dừng lại bên đường, giá như chúng tôi đừng đi con đường này, giá như họ không cho phép chúng tôi dùng bể bơi. Có lẽ sẽ không một người nào biết gì về cái lược im lặng nằm dưới đáy hồ kia.

Có một điều gì đó tồi tệ đối với trí tưởng tượng kiểu này, phải không? Một điều gì như sự xấu hổ. Đặt ngón tay của bạn lên hàng rào thép gai, nhận một cú sốc điện, biết được cảm giác ấy thế nào, rồi giựt tay lại. Tôi tin là Andrew còn tỉ mỉ hơn tôi về những điều này, và vào lúc ấy anh cố tình nghĩ đến việc khác.

Khi đứng tách khỏi cha mẹ tôi trong tang lễ của Steve Gauley và quan sát họ, tôi đã bắt gặp cảm giác mới mẻ này, không thoải mái chút nào về họ, tôi nghĩ rằng tôi bắt đầu thấu hiểu một điều gì đó về cha mẹ, lần đầu tiên trong đời. Một điều gì nghiêm trọng chết người. Tôi hiểu ra rằng họ có dính líu tới tai nạn này. Thân thể cao lớn, cứng nhắc, trong y phục nghiêm trang, vẫn không thể nào chắn ngang giữa tôi và cái chết đột ngột kia, hoặc bất kỳ một cái chết nào khác. Họ đã tán thành tai nạn ấy. Có vẻ như vậy. Họ đã cho phép cái chết của những đứa trẻ và cái chết của tôi nữa, xảy ra, không phải bởi lời nói hay hành động của họ, mà bởi vì chính họ đã sinh ra những đứa trẻ ấy trên đời – họ đã sinh ra tôi. Họ đã tạo ra tôi, và vì lý do đó cái chết của tôi – bất kể họ khóc thương thế nào, bất kỳ họ chịu đựng ra sao – đối với họ cũng đều không phải là thứ không tự nhiên hay không thể xảy ra được. Đó là một điều có thật, dù ngay lúc ấy tôi cũng biết rằng thật ra họ không đáng trách.

Nhưng tôi đã trách họ. Tôi đã buộc tội họ về sự trơ tráo, thói đạo đức giả. Thay mặt cho Steve Gauley, cho tất cả những đứa trẻ khác, những kẻ biết rằng chúng có quyền vươn thẳng lên tự do, được sống cuộc đời mới, tuyệt diệu, không bị mắc vào những cái bẫy của người lớn với đời sống thất bại, tình dục và các tang lễ của họ.

Steve đã chết đuối, người ta bảo thế, bởi vì nó gần như là một đứa trẻ mồ côi và được phép rong chơi tự do tha hồ. Nếu nó được nhắc nhở kịp thời, giao cho công kia việc nọ để làm, được giám sát kỹ càng, nó đã không thể nào tuột tay từ một cành cây mỏng mảnh không đáng tin cậy chút nào mà rơi xuống ao nước mùa xuân, rơi vào một cái hố đào sỏi gần bờ sông – nó đã không chết đuối. Nó đã bị bỏ rơi, nó đã được thả rong tự do, và nó đã chết. Và cha nó vẫn thấy đó là một tai nạn, như thứ có thể xảy ra cho một con chó. Ông ta không có cả một bồ đồ lễ tử tế để mặc trong ngày đám tang của con, cũng không cúi đầu khi cầu nguyện. Nhưng ông ta là người lớn duy nhất mà tôi không thèm trách cứ. Ông ta là người duy nhất mà tôi không thấy rõ sự tán thành. Ông ta đã không thể ngăn ngừa một điều gì, nhưng ông ta cũng không dính líu đến tai nạn – không giống như những người lớn khác trong khi cầu nguyện lời Chúa với giọng trầm trọng không mấy tự nhiên, làm rỉ ra thứ tín ngưỡng và thứ mất danh dự đáng hổ thẹn.

Khi tới vùng Glendive, không xa biên giới North Dakota, chúng tôi có một chọn lựa – hoặc là tiếp tục đi theo xa lộ liên tỉnh, hoặc là hướng về Đông Bắc, phía Williston, rẽ vào đường số 16, vài đường khác, và trở lại với xa lộ cao tốc số 2.

Hai chúng tôi đồng ý rằng đường liên tỉnh thì nhanh hơn, và quan trọng nhất là không nên chạy xe quá nhiều– tức là xài tiền –trên đường. Cuối cùng chúng tôi quyết định rẽ vào xa lộ số 2.

“Em thích thế hơn,” tôi nói.

Andrew bảo, “Đó là vì chúng ta đã định như thế từ đầu.”

“Chúng ta sẽ không được gặp Kalispell và Havre. Và Wolf Point nữa. Em thích cái tên đó.”

“Chúng ta sẽ gặp chúng trên đường trở về nhà.”

Andrew nói câu “trở về nhà” với một vẻ vui sướng đáng ngạc nhiên đối với tôi. Tất nhiên tôi hoàn toàn nghĩ rằng chúng tôi sẽ quay về nhà sau chuyến đi, với chiếc xe của chúng tôi và cuộc đời của chúng tôi và gia đình của chúng tôi nguyên vẹn, sau đi đã đi qua biết bao dặm đường, đã trải qua biết bao chuyện trung thành và rắc rối, xích lại gần nhau hơn, nhìn xuống con đường liều lĩnh của mình. Nhưng vẫn thật là an ủi khi nghe anh ấy nói thế.

“Điều anh không thể nào hiểu được,” Andrew nói, “là làm sao em nhận được tín hiệu ấy. Phải là một thứ linh cảm mà chỉ những người mẹ mới có.”

Phần nào tôi cũng muốn tin thế thật, tự sưởi ấm mình trong khả năng linh cảm ngoại cảm kia. Phần khác tôi muốn cảnh báo Andrew – cảnh báo tất cả mọi người – đừng bao giờ dựa dẫm vào những thứ ấy.

“Điều mà em không hiểu,” tôi nói “là làm sao anh có thể nhảy qua hàng rào.”

“Anh cũng đâu có biết.”

Chúng tôi tiếp tục trò chuyện như thế, với hai đứa trẻ trên băng ghế sau, đặt hết tin tưởng vào chúng tôi, bởi chúng cũng chẳng có chọn lựa nào khác, và chúng tôi thì tin rằng mình sẽ được tha thứ, cùng với thời gian, về tất cả những điều mà trẻ con nhìn thấy và lên án trước tiên: bất cứ điều gì vô cảm, tùy tiện, bất cẩn, nhẫn tâm – những lỗi lầm vừa tự nhiên vừa cá biệt của chúng ta.

Alice Munro
_________________
HƯỚNG DẪN CÁC VẤN ĐỀ VỀ ẢNH
Vẫn có thể gõ được chữ Việt có dấu nếu nhấn vào phím F8!


Được sửa chữa bởi sonhai ngày 25.10.2013, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
sonhai
Quản trị
Quản trị


Ngày tham gia: Nov 16, 2005
Bài gửi: 1601
Đến từ: Hanoi, Vietnam

Bài gửigửi: 25.10.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Lời giới thiệu: Alice Munro sinh ngày 10 tháng Bảy năm 1931 ở Wingham, Ontario, Canada, với tên khai sinh là Alice Ann Laidlaw. Cha của bà là chủ nông trại, mẹ là cô giáo. Bà trải qua tuổi thơ ở thị trấn Clinton, nơi bà cũng thường trở về sau này. Theo học đại học Western Ontario, nhưng rời trường sớm khi lập gia đình năm 20 tuổi. Bà và gia đình sống ở một đảo ngoài khơi Vancouver nhiều năm nay, coi sóc tiệm sách có tên là Munro. Hai ông bà có với nhau ba đứa con, hôn nhân của họ thời trẻ có một thời kỳ tan vỡ. Sinh quán của Alice Munro, Ontario, là tỉnh bang lớn nhất Canada, gần bên Ngũ Đại Hồ. Vùng phía nam của tỉnh là vùng có khí hậu ôn hòa, cảnh sắc xinh đẹp, đất nông nghiệp bằng phẳng, nhiều sông hồ. Trong truyện của Munro, có cảnh vật của Ontario hoặc thiên nhiên hoang dã trên đảo Vancouver.

Truyện của bà viết về đời sống những người bình thường, với văn phong giản dị, trong trẻo và đẹp. Nhưng đó là bề ngoài dễ gây ngộ nhận. Thật ra văn của Alice Munro không dễ hiểu. Người đọc cần chú tâm đến từng chi tiết mà bà để lại dọc đường. Bên trong là sức mạnh của sự mô tả chính xác, phân tích sắc bén các xung đột, sự nghiêm khắc với thói dung tục và a dua, tính hài hước, và lòng trắc ẩn. Alice Munro nhận nhiều giải thưởng, trong đó ba lần giải General Governor, giải thưởng danh giá nhất Canada, và giải Man Booker International năm 2009. Dù sức khoẻ yếu, bà có khả năng làm việc đều đặn, bền bỉ. Tác phẩm (tạm dịch): Vũ Điệu Những Cái Bóng Hạnh Phúc (Dance of The Happy Shades)(giải GG), Cuộc Đời Những Cô Gái và Đàn Bà (Lives of Girls and Women), Bạn Nghĩ Bạn Là Ai Kia? (Who Do You Think You Are), Những Mặt Trăng Của Mộc Tinh (The Moons Of The Jupiter), Tiến Triển Của Tình Yêu (The Progress of Love) (giải GG), Chạy Trốn (Runaway). Năm 80 tuổi, xuất bản tập Quá Sức Hạnh Phúc (Too Much Happiness). Tiếp sau đó, trước sự ngạc nhiên của nhiều người, tác phẩm mới Cuộc Đời Yêu Dấu (Dear Life). Một truyện của bà, Gấu Về Qua Núi (The Bear Came Over The Mountain), một chuyện tình cảm động, đã được Sarah Polley chuyển thành phim với các tài tử Julie Christie và Gordon Pinsent. Truyện ngắn sau đây, nguyên văn tiếng Anh “Miles City, Montana” rút từ tập The Progress of Love, 1985, NXB Alfred A. Knoft. Miles City là tên một thị trấn nhỏ, dân số không quá một ngàn người, Montana là một tiểu bang ở vùng Tây Bắc nước Mỹ, sát biên giới Canada.

Kín đáo, khiêm cung, Alice Munro không phải là người của công chúng, và ít khi xuất hiện trên báo chí, ngoại trừ tác phẩm của mình. Cách đây bốn năm, khi tôi đến nghe một buổi hội thảo ở Vancouver sau giải Man Booker International, với nhiều nhà văn nổi tiếng như Margaret Atwood đọc những tham luận xúc động, đầy yêu mến, nhằm tuyên dương tác phẩm của bà, Alice Munro đã không có mặt. Trên thế giới nhiều người vẫn không biết đến tên bà- mặc dù năm 2005, tuần báo Time đã chọn bà là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất- cho đến ngày 10 tháng 10 năm 2013 vừa qua. Ngày hôm đó, Ủy ban giải thưởng Nobel đã không thể liên lạc được với nhà văn để báo tin vui. Các độc giả cũng không tìm đọc bà như tìm đến các tên tuổi văn học khác, đôi khi họ bắt gặp bà một cách tình cờ trên kệ sách, và tự hỏi: bà này là ai?

Tôi chọn truyện “Miles City, Montana” vì đó là truyện ngắn đầu tiên của bà mà tôi được đọc, cách đây mười bốn năm, trong một thời kỳ hỗn loạn. Truyện của bà đã giúp tôi đứng lại, nhìn xuống, thấy được chính thật tình trạng của mình. Tôi dịch truyện ngắn này như một lời cám ơn lặng lẽ.

***

NGUYỄN ĐỨC TÙNG
Đăng lại từ nguyentrongtao.info
_________________
HƯỚNG DẪN CÁC VẤN ĐỀ VỀ ẢNH
Vẫn có thể gõ được chữ Việt có dấu nếu nhấn vào phím F8!
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 878
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 26.10.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Chuyện ngắn hơi dài, nhưng đọc được! (chết thật, lại khen nhà văn đoạt giải Noben)
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
sonhai
Quản trị
Quản trị


Ngày tham gia: Nov 16, 2005
Bài gửi: 1601
Đến từ: Hanoi, Vietnam

Bài gửigửi: 27.10.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Trích dẫn:
Haidq đã viết: Chuyện ngắn hơi dài, nhưng đọc được!

Không chỉ PhanHai, nhiều người nói vậy. Bản thân nhà văn cũng cho là dài. Nhưng bà lại cho rằng: Bà trao cho câu chuyện tất cả không gian mà nó cần. Đấy cũng chính là tiêu đề bài viết về cuộc trao đổi với Bà.

Alice Munro – Tôi trao cho câu chuyện tất cả không gian mà nó cần

Bà có thể nói về quá trình sáng tạo của mình?

Tôi làm việc chậm; viết lách là một công việc khó khăn – hầu như luôn là như thế. Thực sự, tôi đã viết đều đặn kể từ khi hai mươi tuổi, và giờ đây tôi đã 81 tuổi. Thói quen của tôi bây giờ là thức dậy vào buổi sáng, uống chút cà phê và bắt đầu viết. Rồi sau đó, tôi nghỉ một lát, ăn cái gì đó, rồi lại viết tiếp. Có lẽ tôi chỉ viết liên tục trong khoảng ba tiếng đồng hồ thôi. Tôi viết lại rất nhiều; tôi viết lại phần đã viết, đến khi thấy ổn thì gửi bản thảo đi. Rồi tôi lại muốn viết lại thêm chút nữa. Đôi khi, đối với tôi, một đôi từ quan trọng đến mức tôi phải xin rút bản thảo về để thêm chúng vào.

Tôi bắt đầu nghề văn với ý tưởng trở thành tác giả tiểu thuyết và rồi tôi lại viết các truyện ngắn vì đó là cách duy nhất để tôi còn có thời gian. Tôi có thể tạm gác việc nhà hay chăm sóc con cái trong một khoảng thời gian nhất định, nhưng khoảng thời gian đó không đủ để người ta viết một cuốn tiểu thuyết. Sau một thời gian, tôi nhận thấy hình thức truyện ngắn – mà đúng hơn, tôi chọn một hình thức truyện ngắn hơi bất thường, một truyện ngắn có dung lượng khá dài – là thứ tôi muốn thể nghiệm. Tôi có thể nói điều mình muốn nói trong không gian ấy. Và ban đầu đó là điều khó khăn vì truyện ngắn là thể loại mà người ta muốn xác định độ dài ở một giới hạn nhất định. Họ muốn nó là một truyện ngắn, trong khi đó truyện của tôi lại hơi bất thường theo kiểu nó là câu chuyện cứ triển khai mãi và nói với người ta những chuyện khác biệt, và cứ thế.

Tôi không bao giờ biết – hay chí ít, tôi thường không biết – một câu chuyện sẽ phải giới hạn ở độ dài bao nhiêu. Nhưng tôi không ngạc nhiên. Tôi trao cho câu chuyện tất cả không gian mà nó cần.

Nhưng dù sao thì tôi không bận tâm thứ tôi giờ đây đang viết được xếp là truyện hay là thể loại gì khác. Nó là một tác phẩm hư cấu, vậy là được.

Văn của bà rất trữ tình. Bà vẫn viết thơ đó chứ?

Ồ, có, thi thoảng vẫn viết. Tôi thích ý tưởng liên hệ giữa văn của tôi và thơ, nhưng chị biết đó, khi người ta viết văn xuôi, tôi nghĩ người ta phải rất cẩn thận để văn mình không mang tính trữ tình một cách cố ý. Văn xuôi cần phải có một sự sắc nhọn nhất định và đó chính là cách viết mà tôi thích. Tôi muốn viết như thế, theo cái cách như thế, có thể gây cho người đọc một chút sợ hãi chăng?

Tôi có cảm giác bà rất quan tâm đến folklore?

Đúng rồi. Nhưng bạn không bao giờ biết được mình định quan tâm đến cái gì. Bạn không thể quyết định điều đó từ trước. Rồi đột nhiên, bạn nhận ra đây những gì bạn muốn kể, bạn nắm bắt nhịp điệu của chúng và cố gắng viết ra. Tôi tự hỏi, tại sao kiểu chuyện kể này lại quan trọng đối với con người đến thế? Tôi nghĩ bạn vẫn nghe rất nhiều câu chuyện mà người đời kể, những câu chuyện có lẽ được xem như là minh họa cho một số điều lạ lùng về cuộc đời này. Và tôi thích tìm những câu chuyện ấy, xem chúng kể với tôi điều gì và tôi sẽ muốn giải quyết chúng như thế nào.

Tôi nhớ đã đọc ở đâu đó rằng folklore được xem là hình thức kể chuyện của phụ nữ?

Tôi nghĩ điều đó đúng, phụ nữ vốn không được coi trọng, thậm chí kể cả sau khi đã biết chữ, biết viết thì phụ nữ vẫn cứ kể chuyện. Chị biết đấy, phụ nữ hay ngồi tỉ tê với nhau, hay họ đã từng có thói quen như thế. Và tôi có thể nhớ những việc chị em phụ nữ chúng ta làm cùng nhau khi phải lo bữa ăn phụ cho cả đám đàn ông trong nhà. Đám đàn ông làm việc ngoài đồng và khi về nhà, bạn sẽ phục vụ họ một bữa ăn hoành tráng – đấy, tôi nhớ cảnh tượng ấy hồi mình còn nhỏ. Có một niềm hãnh diện lớn cho cánh phụ nữ khi nhìn thấy bữa ăn thịnh soạn, hoành tráng như thế nào, rồi sau đó, bạn có cả núi bát đĩa phải rửa. Suốt thời gian ấy, chị em phụ nữ chuyện trò với nhau. Hình thức trò chuyện này rất quan trọng.

Nhưng tất nhiên giờ chuyện đó không còn nữa. Đó là một lối sống cũ – lối sống của người nhà quê – và tôi không biết giờ phụ nữ có còn nói chuyện theo kiểu này hay không. Phụ nữ có còn nói chuyện với nhau không? Họ có được khuyến khích để làm việc đó hay không? Nhưng tôi nghĩ hễ ở đâu phụ nữ tụm lại với nhau là họ có sự hối thúc để kể những câu chuyện, để nói với nhau: “Tại sao chị nghĩ chuyện này lại xảy ra?”, “Đó chẳng phải là chuyện lạ lùng hay sao?” hay “Điều đó có nghĩa gì?”. Phụ nữ có thiên hướng diễn dịch đời sống bằng lời nói. Trong khi nhiều đàn ông mà tôi biết, hay đã từng biết, lại không có sự hối thúc này. Họ cảm thấy sẽ tốt hơn nếu cứ đi thẳng, giải quyết việc gì liên quan đến mình và có lẽ không băn khoăn quá nhiều về nó.

Tôi không rõ liệu đây có thể coi như một điểm tựa để giải thích vì sao bà chọn hình thức truyện ngắn – hay chính thể loại này chọn bà?

Có thể. Tôi thích làm việc với mọi người, nghe trò chuyện của mọi người và cộng hưởng với những niềm ngạc nhiên của họ. Đối với tôi, điều đó quan trọng lắm. Chuyện xảy ra lại là chuyện bạn không chờ đợi. Trong một truyện ngắn của tôi – “Trốn chạy”, một phụ nữ có một cuộc hôn nhân rất khổ sở, quyết định rời bỏ người chồng của mình, chị ta lại được một người phụ nữ lớn tuổi hơn động viên làm việc đó, và cuối cùng chị cũng đã thực hiện quyết định của đời mình. Thế rồi khi chị đang cố gắng trốn chạy, chị lại nhận ra mình không thể làm được việc đó. Đó là một việc nhạy cảm, chị có nhiều lý do để dứt bỏ, để chạy trốn nhưng chỉ là chị không thể làm được. Sao lại dùng dằng như thế? Nhưng đó chính là câu chuyện mà tôi muốn viết. Vì tôi cũng không biết “sao lại như thế”. Nhưng tôi phải chú ý đến nó. Ở câu chuyện đó, có có cái gì đó rất đáng để chú ý.

Trong truyện “Dear Life” (Cuộc đời thân mến), bà đã khám phá nghịch lý trong mối quan hệ của bà với cha mẹ mình.

Phải, đó là mối quan hệ gồm cả tình yêu, nỗi sợ hãi và sự khó chịu. Có tất cả những thứ đó.

Bà cứ trở đi trở lại trong những tác phẩm sau này câu chuyện về mối quan hệ giữa bà và người cha của mình, người cũng là một nhà văn có tài, đặc biệt nhạy cảm và cũng đọc sách cả đời.

Đúng là ông ấy.

Đó là một người, trong nhiều truyện của bà, giống như một bóng ma đang sống đối với bà, khi bà còn là một nhà văn trẻ đang định hình. Nhưng có một sự thật không thay đổi được là bà từ chối ngoảnh mặt quay đi, và chính vì thái độ đó, ông ấy đã lấy dây thắt lưng đánh bà khi bà còn là một cô bé mới lớn.

Có chuyện đó. Và tôi có thể nói rằng, “Ừ thì tất nhiên, đấy là chuyện rất phổ biến ở thời kỳ đó – hầu hết những người tôi biết đều thi thoảng bị đánh đòn.” Và việc đánh một đứa trẻ con không hề là việc cần phải lên án. Đó là một cách tự nhiên để uốn nắn đứa trẻ. Và cũng bởi nghèo đói, bởi cần trẻ em để làm việc nhà, bởi một đứa trẻ thiếu niên ngày đó không được xem như một đứa bé đáng yêu chỉ cần ngồi lì trong nhà như trẻ em bây giờ. Do đó, việc này rất thực tế, cần phải làm. Đồng thời nó cũng rất đáng sợ và có thể – như nhiều người sẽ nói – đó là việc hủy hoại con người. Tôi không thể nghĩ như vậy…Tôi vẫn là người từ chối đòn roi và thấy đó là thứ rất đáng sợ. Tôi có mặc cảm khi đó mình là kẻ vô giá trị và đó là điều gây cho chị những ý nghĩ về tôi như thế. Nhưng đồng thời tôi cũng nhận thấy đó là chuyện đã xảy ra vào thời điểm ấy và người ta không thể né tránh nó. Và người ta cũng không thể né tránh việc cần hiểu tại sao chuyện đó phải xảy ra. Thời đó, người ta không có thời gian, cũng chẳng có tiền để nuôi dạy trẻ con theo cách biết để ý, quan tâm đến những nhu cầu của chúng – lý do vì sao người lớn lại hành xử như thế với trẻ con. Mà trẻ con cũng không có thời gian để lắm lời hay nói lại, chị biết rồi đấy. Người ta không có điều kiện để quan tâm đến tất cả chuyện này. Vì cái người ta quan tâm chủ yếu là làm sao có cái ăn đủ để sống, gia đình là nơi ai cũng phải làm việc và phải tỏ ra hữu dụng. Vì tôi là một đứa trẻ rất nổi loạn, hay ít nhất tôi luôn nghĩ đến việc phải thoát khỏi không gian này, nên tôi sẵn sàng tỏ ra bất cần đáp lại bất cứ ai. Đó là tác dụng ngược của nếp sống gia đình này.

Trong truyện “Cuộc đời thân mến”, bà sử dụng ý niệm về sự tân trang một ngôi nhà trong mối liên hệ với lao động của ký ức. Bà có thể chia sẻ suy nghĩ của bà về bản chất của ký ức?

Những gì xảy ra khi chúng ta già hơn cũng lý thú đó chứ, vì ký ức khi đó trở nên sống động hơn, nhất là thứ ký ức xa xôi. Song tôi không hề phải vất vả với ký ức vì mọi thứ vẫn ở đó, luôn là thế và tôi không rõ mình có viết về nó nhiều hơn đã từng hay không. Rõ ràng những câu chuyện ở phần “Finale” (Đoạn kết) trong tập truyện này là kết quả của sự lao động đầy ý thức với ký ức và tôi không thường làm việc này nhiều lắm vì tôi nghĩ nếu người ta muốn viết nghiêm túc về cha mẹ mình, về tuổi thơ của mình thì người ta phải hết sức chân thành, trung thực, người ta phải nghĩ xem chuyện gì thật sự đã xảy ra thay vì nghĩ đến câu chuyện mà ký ức bày ra cho bạn. Nhưng cố nhiên bạn không bao giờ có thể làm được điều đó vì thế ít nhất bạn phải nói, “Đây là chỗ đứng của tôi trong câu chuyện –đó là những gì tôi nhớ.”

Bà từng nói với tôi rằng thỉnh thoảng chúng ta lại cứ lặp lại những việc vốn rất khó khăn cho đến khi chúng ta chịu đựng và vượt qua được chúng.

Tôi nghĩ đó là điều đúng, đặc biệt khi chúng liên quan đến những ký ức ấu thơ rất sớm ở con người. Và bao giờ cũng cần phải có những nỗ lực để vượt qua chúng. Nhưng “vượt qua” ở đây nghĩa là gì? Là chúng không còn trở nên đau đớn nữa? Là mình đã nghiền ngẫm về chúng và những gì mình nghĩ đưa ra được một ý niệm công bằng về những gì đã diễn ra? Nhưng bạn sẽ không bao giờ viết về điều đó. Bạn có con. Khi bạn viết câu chuyện về tuổi thơ của chúng, nó vẫn cứ chỉ là câu chuyện của chúng, cái tôi của bạn trong câu chuyện ấy sẽ là cái tôi mà bạn có thể không nhận ra. Và đó là lý do tại sao tôi lại nghĩ rằng: ta phải thừa nhận ngay đến cả câu chuyện có nỗ lực cao nhất vẫn không thể đạt đến sự thật của tất cả mọi người. Nhưng cố gắng đó là đáng ghi nhận.

Nếu là nhà văn, bạn sẽ là kẻ dành cả đời để cố gắng tưởng tượng ra các hình tượng, và bạn đặt những hình tượng của mình lên giấy, người khác sẽ đọc chúng. Đó là một việc rất kỳ quặc, thật đấy.

Bạn dành cả đời làm việc đó, thế nhưng bạn biết mình thất bại. Bạn không thất bại hoàn toàn, công việc đó không tuyệt đối vô nghĩa, nó là vẫn là việc đáng làm, dù sao đi nữa – tôi nghĩ thế. Nhưng nó giống như việc dần dần bạn nhận thấy mình chỉ có thể hiểu được những gì mình chỉ nắm được từng phần.

Nghe rất vô vọng. Nhưng tôi lại không cảm thấy vô vọng chút nào.

Hải Ngọc lược dịch
Nguồn: Lisa Dickler Awano, “An Interview with Alice Munro”, Virginia Quarterly Review, Spring 2013, p.180-184.
_________________
HƯỚNG DẪN CÁC VẤN ĐỀ VỀ ẢNH
Vẫn có thể gõ được chữ Việt có dấu nếu nhấn vào phím F8!
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
sonhai
Quản trị
Quản trị


Ngày tham gia: Nov 16, 2005
Bài gửi: 1601
Đến từ: Hanoi, Vietnam

Bài gửigửi: 03.11.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Tôi đặc biệt thán phục các nhà văn! Nhất là các nhà văn đã được nhân loại tôn vinh. Trong đó có các nhà văn đoạt giải Nobel. Năm trước, tôi nhận được quyển KHÔNG SỐ PHẬN, từ anh Giáp Văn Chung, dịch giả của tác giả người gốc Hung KERTÉSZ IMRE, đoạt giải Nobel năm 2002. Tôi đọc và cảm thấy bị mê hoặc. Và tôi lơ mơ hiểu ra rằng vì sao họ lại phong tặng danh hiệu cho những tác giả như ông.

Năm vừa rồi, 2013, giải Nobel văn học đã được trao cho nữ nhà văn người Canada Alice Munro 82 tuổi, người được mệnh danh là bậc thầy của những truyện ngắn đương đại. Ở Việt Nam, bà được biết đến qua tập truyện “Trốn chạy” (Runaway).

Các tác phẩm của Munro lấy đề tài từ chính cuộc sống của thị trấn nhỏ nơi bà sống. Alice Munro thường tập trung viết về những vấn đề xã hội, đời sống. Bà chú trọng chi tiết, xây dựng nhân vật tài tình và đưa ra những kết thúc khó đoán. Bà thường được so sánh với bậc thầy truyện ngắn Nga Anton Chekhov.

Xin đăng lại truyện ngắn "Trốn chạy" của bà với sự chuyển ngữ của Lưu Diệu Vân:


TRỐN CHẠY

Tại nhà, Sylvia không còn việc gì để làm ngoài việc mở toang những cánh cửa sổ. Và nghĩ đến – với sự háo hức khó mường tượng mà không khỏi gây ngạc nhiên – là chốc nữa đây cô sẽ được gặp Carla.

Tất cả những vật dụng cá nhân mang hơi hám bệnh tật đã được dời đi hết. Căn phòng chung của Sylvia và chồng, cũng là nơi hấp hối của anh, đã được dọn dẹp ngăn nắp hệt như chưa từng xảy ra chuyện gì. Carla đã giúp quét dọn trong những ngày hỗn loạn giữa chuyện hỏa táng và chuyến đi Hy Lạp. Mỗi một bộ đồ Leon đã mặc hoặc chưa từng thử qua, cùng với những món quà chưa tháo hộp do các cô em gái tặng, đã được chất đầy ghế xe sau để giao cho tiệm bán đồ cũ. Những viên thuốc, bộ dao cạo râu, những lon thuốc bổ trợ lực chưa mở nắp – thứ nước đã từng giúp kéo dài sự sống anh cho đến bây giờ – những thùng bánh mè mà anh ăn những lần cả tá, những chai lotion còn nguyên mà anh thường dùng để xoa bóp lưng, tấm da cừu anh đã nằm bên trên – tất cả mọi thứ đó đã được gom vào bao ni lon và vứt bỏ như rác, và Carla không thắc mắc gì cả. Cô không bao giờ lên tiếng, “Có lẽ người nào đó cũng có thể dùng được những thứ này", hoặc thốt lên rằng những lon nước đó còn nguyên chưa mở nắp. Khi Sylvia nói, “Tôi ước gì mình đã không quyên những bộ quần áo. Tôi muốn đốt toàn bộ trong lò thiêu hủy rác". Carla không lộ vẻ ngạc nhiên.

Họ làm sạch lò nướng, lau chùi kệ dựng chén dĩa, chùi bóng tường nhà và cửa sổ. Một ngày kia Sylvia ngồi tại phòng khách đọc những lá thư phân ưu cô đã nhận. (Không có những chồng giấy má hay sách vở cần phải soạn dẹp và không có những bài viết chưa hoàn tất hay bản thảo nghệch ngoạc dở dang – thói quen mà mọi người bắt gặp từ những người viết lách. Anh đã nói với cô từ những tháng trước là anh đã ném bỏ hết tất cả không hối tiếc).

Những khung cửa sổ to tướng dựng nên vách tường nghiêng hướng nam của căn nhà. Sylvia ngước lên và bị choáng ngợp bởi ánh dương ẩm hơi nước vừa ló dạng – hoặc cũng có thể cô bất ngờ bởi hình ảnh của Carla, chân trần, tay trần, trên chóp thang, khuôn mặt viền vòng những lọn tóc màu hoa bồ công anh còn quá ngắn để tết thành bím. Cô đang cật lực chùi cọ tấm kính. Khi cô trông thấy Sylvia đang nhìn mình, cô dang rộng hai đôi tay thể như đang bị xiên nơi đó, pha trò nheo mặt bắt chước những con đầu hổ phù gắn đầu mái nhà. Rồi cả hai cùng cười phá lên. Sylvia cảm nhận tiếng cười róc rách chảy khắp thân châu cô như một giòng suối nghịch ngợm. Cô trở lại chăm chú những lá thư và Carla tiếp tục công việc lau chùi. Cô quyết ý là những dòng chữ này – dù chân thành hay chiếu lệ, tôn kính và thương tiếc – phải nên đi theo số phận của tấm da cừu và những hộp bánh mè.

Khi cô nghe tiếng Carla kéo chiếc thang xuống, nghe tiếng giày trên sàn gỗ, bỗng nhiên cô trở nên bẽn lẽn. Cô ngồi y một chỗ, đầu cúi gập khi Carla bước vào phòng và đi ngang nhà bếp để bỏ cái xô và tấm khăn chùi vào bồn rửa chén. Carla không ngừng tay, cô nhanh nhẹn như con chim, nhưng cô cũng còn đủ thời gian để cúi đặt một nụ hôn lên Sylvia đang nghiêng nghiêng đầu. Rồi cô khe khẽ huýt sáo.

Nụ hôn cứ luẩn quẩn trong tâm trí của Sylvia từ lúc ấy. Nó chẳng mang một thông điệp đặc biệt nào cả. Một nụ hôn cổ vũ khuyến khích hoặc để báo việc gần sắp xong. Nó mang ý nghĩa họ là hai người bạn thân vừa sánh vai trải qua nhiều nỗi muộn phiền. Hoặc có thể đó là cử chỉ đón nhận mặt trời vừa ló dạng. Hay ngay lúc đó, Carla đang muốn trở về nhà bên cạnh những con ngựa của cô. Tuy thế, Sylvia lại nghĩ đến nụ hôn như một đóa hoa rực rỡ đang rộ nở, những cánh hoa muốt xoải dài trong lòng cô hơi ấm xôn xao, như một ánh lóe mãn kinh.

Thỉnh thoảng trong lớp thực vật học có đứa học nữ trò xuất sắc, sự thông minh và nhiệt quyết và tính tự cao tự đại vụng về, và ngay cả lòng đam mê thế giới thiên nhiên của nó, làm cho cô nghĩ đến hình ảnh mình lúc trẻ. Những đứa như vậy hay bu quanh cô một cách sùng bái, mong mõi một thứ tình nào đó chúng không tài nào, trong nhiều trường hợp, tưởng tượng ra nổi, và chúng khiến cô bắt đầu cảm thấy khó chịu.

Carla không giống bất cứ ai trong số họ. Nếu cô có hao hao trông như một người nào đó trong quãng đời của Sylvia thì có lẽ là cô giống những cô gái Sylvia quen biết thời trung học. Họ là những cô gái sáng dạ nhưng không bao giờ quá sáng chói, những vận động viên ung dung nhưng không sỡ hữu tinh thần tích cực cạnh tranh quá mức, sôi động nhưng không ồn ào. Lạc quan một cách rất tự nhiên.

“Để xem, chị đã ở đâu kìa, trong khu làng nhỏ bé này, trong khu làng nhỏ bé này với hai người bạn già, ừ, thỉnh thoảng chiếc xe bus chở du khách hay ngừng nghỉ ở nơi đó, hệt như đang bị lạc đường, rồi hành khách bước xuống xe và nhìn qua nhìn lại một cách hết sức hoang mang khi họ nhận ra nơi đây chẳng là đâu cả. Không có gì để mua sắm”.

Sylvia đang nói đến Hy Lạp. Carla ngồi cách cô vài bước. Cô gái đô con, có phần hơi e dè nhưng chói rực, cũng đã ngồi xuống đó, trong căn phòng tràn ngập ý nghĩ về cô. Cô cười uể oải và gật đầu chậm rãi.

“Và thoạt đầu", Sylvia nói, “chị cũng bị hoang mang. Trời quá nóng. Nhưng ánh sáng thật sự là rất tuyệt đẹp. Rồi chị cũng tìm ra việc gì đó để làm, và cũng chỉ có vài việc đơn giản để lấp đầy thời gian. Chị phải đi bộ nửa dặm để mua dầu và nửa dặm ngược hướng khác để mua bánh mì và rượu vào buổi sáng. Rồi chị ăn trưa dưới bóng râm của những tàn cây. Cái nóng sau buổi trưa quá sức chịu đựng nên chị chẳng có thể làm gì khác ngoài việc đóng kín những cái màn cửa sổ và nằm lên giường, đôi khi nằm đọc sách. Thoạt đầu thì đọc sách. Riết rồi chán đến độ không muốn làm cả điều đó nữa. Tại sao lại phải đọc sách? Một lúc sau chị nhận ra bóng nắng đang chảy dài và chị thức dậy đi bơi lội”.

“Ồ", cô tự ngắt ngang chính mình, “Ô, chị đã quên bẵng mất”.

Cô đứng dậy và lấy ra gói quà cô đã mua, thật ra cô không quên như lời đã nói. Cô chỉ không muốn trao nó cho Carla ngay lúc ấy, cô muốn khoảnh khắc đến tự nhiên hơn, và trong lúc cô đang kể chuyện chuyến đi cô cũng đã nghĩ sẵn trong đầu đoạn cô nhắc về biển và bơi lội. Và nói, như bây giờ cô đang nói, “Bơi lội làm chị nhớ đến vật này bởi vì nó là một mô phỏng bé xíu, em biết không, nó là vật mô phỏng con ngựa họ tìm được dưới nước. Làm bằng đồng thiếc. Họ nạo vét nó từ dưới đáy lên, sau biết bao nhiêu năm. Nghe nói nó thuộc về thời đại trước công nguyên.

Khi Carla bước vào nhà và tìm kiếm việc khác để làm, Sylvia nói: “Thôi, ngồi xuống đây một chút đi, chị không có ai trò chuyện từ lúc trở về. Làm ơn nhé". Carla ngồi xuống trên vành ghế, chân giạng, đôi tay vùi giữa hai đầu gối, trông có vẻ bơ vơ. Như đang gắng đạt tới lối lịch sự xã giao cô hỏi, “Chuyến đi Hy Lạp ra sao”?

Bây giờ, cô đang đứng, cô vẫn chưa bóc mở hết hoàn toàn lớp giấy gói nhàu nát quấn chung quanh con ngựa.

“Họ nói nó tượng trưng cho một con ngựa đua", Sylvia nói “đang nhảy cú nhảy vọt cuối cùng, sự gắng sức cuối cùng của cuộc đua. Người nài ngựa, cũng thế, một thiếu niên, em có thể nhìn thấy không, cậu ta đang thúc dục con ngựa cố vượt qua giới hạn sức mạnh của chính nó”.

Cô đã không nói là người thiếu niên khiến cho cô nghĩ đến Carla, và ngay trong lúc này cô cũng không biết phải giải thích ra sao. Cậu thiếu niên chỉ khoảng độ mười hay mười một tuổi. Có lẽ sức mạnh và sự thanh nhã của cánh tay cầm cương, hay những nếp nhăn trên vầng trán trẻ thơ của cậu, niềm say sưa và sự gắng sức thuần khiết, trông hệt như hình ảnh Carla lúc lau chùi những cánh cửa sổ rộng lớn vào mùa xuân năm ngoái. Đôi chân rắn chắc của cô khi mặc quần đùi, đôi vai rộng, những vệt chùi hào phóng trên mặt kính, và cái lối cô xoải hai tay giỡn đùa, mời mọc và yêu cầu Carla phải tươi cười.

“Vâng em có thể thấy được", Carla trả lời và tỉ mỉ xem xét bức tượng màu nâu xanh. “Cám ơn chị rất nhiều”.

“Không có chi. Chúng ta uống cà phê nhé? Chị mới vừa pha xong. Cà phê ở Hy Lạp rất nồng, nồng hơn thứ chị thích, nhưng bánh mì thì ngon tuyệt. Và những quả sung chín ngon đến sững sờ. Ngồi đây một tý đi, làm ơn. Em nên ngắt lời chị khi chị cứ huyên thuyên như thế này. Ở đây thì sao? Mọi việc ra sao”?

“Trời cứ mưa liên miên suốt ngày”.

“Chị cũng thấy được điều này", Sylvia nói vọng lên từ phòng lớn cuối nhà bếp. Trong lúc rót cà phê, cô quyết định sẽ không nhắc đến món quà khác cô đã mang về. Nó không tốn một xu (con ngựa thì đắt hơn cả số tiền cô gái có thể tưởng tượng), đó chỉ là một hòn sỏi trắng hồng mà cô đã nhặt trên đường.

“Cái này cho Carla", cô nói với bạn cô, Maggie, lúc đó đang đi bên cạnh cô. “Tôi biết là tôi hơi ngớ ngẩn. Tôi chỉ muốn nó có được một mẩu đất của nơi này”.

Cô đã có nhắc đến Carla với Maggie, và Soraya, một người bạn khác của cô, kể cho họ nghe sự hiện diện của cô gái ngày càng trở nên quan trọng đối với cô, một sự gắn liền khó giải thích đang lớn dần lên giữa họ, và điều đó đã giúp an ủi cô trong những tháng ngày khủng khiếp của mùa xuân năm ngoái.

“Thể như trông thấy một người – một người tươi tắn và tràn đầy sức sống bước vào trong nhà”.

Maggie và Soraya cười một cách khó chịu.

“Thì lúc nào cũng là một đứa con gái”, Soraya nói, kèm theo cái duỗi biếng lười của hai cánh tay nâu nặng nề, và Maggie nói, “Rồi ai cũng sẽ chạm trán với điều đó. Mơ mộng đến một đứa con gái”.

Sylvia mơ hồ giận dữ bởi cái từ hủ lậu đó – mơ mộng.

“Có lẽ vì tôi và Leon không có con", cô nói. “Thật ngu xuẩn. Một thứ tình mẫu tử sai lệch”.

Các bạn của cô đồng lên tiếng, đại khái là có thể điều đó thật ngu xuẩn, nhưng dẫu sao, cũng là một thứ tình.

Alice Munro
_________________
HƯỚNG DẪN CÁC VẤN ĐỀ VỀ ẢNH
Vẫn có thể gõ được chữ Việt có dấu nếu nhấn vào phím F8!
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
sonhai
Quản trị
Quản trị


Ngày tham gia: Nov 16, 2005
Bài gửi: 1601
Đến từ: Hanoi, Vietnam

Bài gửigửi: 18.11.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Alice Munro – Nhà văn của những thị trấn nhỏ

Thập niên 50 là thập niên của đàn ông trong văn chương Mỹ. Nước Mỹ không có truyền thống các tác giả nữ. Trong số các nhà văn nữ, ai được ngưỡng mộ? Eudora Welty, Katherin Anne Porter. Còn các nữ thi sĩ? Emily Dickinson. Còn có bao nhiêu những gương mặt khác nữa? Ở Canada, là phụ nữ, bạn sẽ không bị trừ điểm khi viết văn đâu. Không có nhiều thách thức đối với phụ nữ ở Canada. Thêu thùa, vẽ tranh sơn dầu, sáng tác – tất cả đều chỉ được xem như là thú vui. Viết lách chẳng phải là việc quan trọng. Hầu như không có thị trường cho các tiểu thuyết mới. Cộng đồng văn chương ở đây vào thời điểm đó rất nhỏ. Vì thói quen đọc và vì sáng tác văn chương chủ yếu chỉ được in trên các tạp chí nhỏ, các nhà thơ có thể biết về tác phẩm của đồng nghiệp chứ đối với các cây bút văn xuôi, đó lại là chuyện khác.

Khi chúng tôi trưởng thành, ý nghĩ trở thành nhà văn là một điều gì đó xa lạ. Chỉ riêng việc nghĩ rằng mình có thể làm được việc đó đã là một sự ngạo mạn rất khó chấp nhận. Tài năng là thứ không được khuyến khích. Thế nhưng từ khi còn nhỏ, Alice đã đọc Anne tóc đỏ dưới chái nhà xanh và Emily ở trang trại Trăng non của L.M. Montgomery, tác phẩm kể về một cô bé lớn lên trên Hòn đảo Hoàng tử Edward, mơ ước trở thành nhà văn. Trong đó, cuốn sách thứ hai còn là cuốn mà sau này Alice viết lời bạt cho nó.

Hai cuốn sách khác ảnh hưởng đến chặng đầu trên con đường văn chương của bà là Đồi gió húKiêu hãnh và định kiến. Ở Đồi gió hú, bạn sẽ không bao giờ nghe câu chuyện trực tiếp từ những nhân vật có quyền uy nhất trong đó. Mà bạn sẽ được nghe câu chuyện đó từ những người quan sát: một quý ông tên là Lockwood, người thuê trang trại Thrushcross, và Nelly, người quản gia. Đây chính là một cách rất thú vị để cấu trúc tác phẩm. Đồng thời, trong cuốn tiểu thuyết cũng có hai ngôi nhà. Có nhà Linton, những người thuộc tầng lớp thượng lưu song quyền uy cũng không mạnh và cũng không được miêu tả như những nhân vật gợi cảm. Rồi có Heathcliff. Kiêu hãnh và định kiến cũng là một cuốn sách có kết cấu tốt, khơi gợi những xúc cảm chúng ta thích ve vuốt, và rồi xuất hiện ngài Darcy, một người thô thiển nhưng lại lắm tiền. Kinh tế là một vấn đề lớn trong tác phẩm của Alice. Ai có tiền, ai không, ai cần, ai làm ra, ai trả?

Những nguồn ảnh hưởng khác đối với Alice là những nhà văn viết những câu chuyện lấy bối cảnh những thị trấn nhỏ. Alice đã đọc Sherwood Anderson- người đã khiến bà nghĩ mình cũng có khả năng viết được những câu chuyện như thế – rồi bà đọc cả Eudora Welty, Flannery O’Connor và Carson McCullers. Bản thân cũng lớn lên ở một thị trấn nhỏ, Alice rất hiểu về không gian ấy, nhất là những thị trấn nhỏ ở tây nam Ontario. Tại sao lại có nhiều người điên khùng, loạn trí ở một thị trấn nhỏ? Có vẻ đấy là một không gian mọi người đều biết về nhau, đều biết về lai lịch của người khác. Giống như một gia đình lớn, bất thường. Điều này cũng giống như ở các thành phố thôi, nhưng ở đó, bạn không nhất thiết phải biết tất cả về thành phố ấy, vì bạn có thể không biết gì về những người vừa qua phố, thậm chí vừa qua cửa nhà bạn. Còn ở thị trấn nhỏ, người ta rất quan tâm đến những lời đồn đại, bàn tán, họ rất ý thức đến việc phải giả vờ và sự thay đổi dần dần trong thang bậc xã hội của kẻ khác. Thị trấn là một không gian khép kín với nhiều sự giam hãm.

Đó là lý do tại sao những câu chuyện của Alice lại có bối cảnh không gian và thời gian rất đặc trưng. Người ta ăn gì, mặc gì, dùng dụng cụ gì, đối với bà, đều là điều quan trọng. Bà quan tâm đến những câu hỏi về sự chân thực; bà quan sát mặt của nhân vật và để ý sự đóng vai của họ, cố gắng phán đoán xem bằng sự giả vờ ấy, họ cố đạt đến điều gì, và rồi bà xem xét những gì nằm bên dưới. Cũng có thể các nhân vật của bà nhìn lẫn nhau, họ cũng nói dối, ngay cả trong những lời xã giao, thí dụ, “Bạn trông tuyệt quá!” Có khi câu nói đó là lời tử tế; nhưng cũng có khi không.

Bà viết về những khó khăn mà những nhân vật của bà phải đối mặt, những người luôn lớn hơn hoặc nhỏ hơn những gì họ được nghĩ về. Khi các nhân vật chính của bà nhìn lại, từ điểm nhìn ở giai đoạn sau này trong cuộc đời mình, khi họ già hơn, họ sẽ sở hữu bên trong mình tất cả những con người mà họ đã từng là. Bà rất giỏi khi miêu tả những gì mà con người kỳ vọng và cả nỗi thất vọng của họ.

Một trong nhiều điều mà Alice thể hiện rất tinh tế trong văn của mình là đối lập giữa cách người ta nghĩ một điều gì đó nên như thế nào với việc mọi chuyện lại hóa ra như thế nào. Chúng ta luôn bị phụ thuộc vào sự lấp đầy một số niềm kỳ vọng. Buổi sáng mặt trời sẽ mọc. Bà Brown sẽ mở quầy hàng ở gốc phố vào lúc tám giờ sáng và bán sữa. Trong truyện của Alice Muron, người ta đi vào một ngôi nhà và phát hiện ra một người đã bị giết. Mọi kỳ vọng đều được thực hiện; và rồi, một sự kiện, một sự ngạc nhiên nảy sinh – và câu chuyện là thế.

Margaret Atwood
Hải Ngọc dịch

_________________
HƯỚNG DẪN CÁC VẤN ĐỀ VỀ ẢNH
Vẫn có thể gõ được chữ Việt có dấu nếu nhấn vào phím F8!
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser