vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - Khu du lịch sinh thái Sơn Nam Plaza - Hưng Yên
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

Khu du lịch sinh thái Sơn Nam Plaza - Hưng Yên
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 16.09.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

KHU RÈN LUYỆN VƯỢT KHÓ




Khu rèn luyện vượt khó



Nội quy lớp học “Rèn luyện vượt khó”



Các em thiếu niên phải khéo léo nhảy lò cò trên những chiếc lốp



Các em thiếu niên phải chui qua các chiếc ống nhựa



Con đường nhỏ dẫn vào khu hậu cần



Khu hậu cần.
Tại đây, các em thiếu niên sẽ tự tay làm cho mình một bữa ăn, từ A đến Z.



Cối xay thóc



Cối giã gạo (“Gạo đem vào giã bao đau đớn…”)



Cối giã gạo (“Gạo giã xong rồi trắng tựa bông…”)



Nong để sàng sảy gạo



Bếp



Củi đun



Buồng chuối còn xanh



Chuồng nhốt gia súc



Gáo dừa và bát đũa



Nơi các em ngồi ăn cơm



Khách sạn dã chiến



Phòng ngủ tập thể



Kho chứa chăn ga gối đệm



Bãi tập thể thao



Sân ten-nít



Sân ten-nít



Cầu môn bóng đá mi-ni



Sân bóng rổ



Ba đội đua thuyền đã ra đến giữa ao, đang dùng cung tên để bắn các quả bóng treo trên không



Thúc trống động viên



Các đội đua đang trên đường quay trở lại bến thuyền



Làng cổ


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 17.09.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

ĐỀN BÀ CHÚA VỰC




Bà Chúa Vực là Chúa Thoải trong hàng Tứ Phủ. Bà thường xe giá đi cứu nhân độ thế hay trừ khử bọn gian tà. Vào đền ai cũng có cảm giác vừa linh thiêng và thật gần gũi với Chúa Bà.

Theo truyền thuyết, vào năm Ất Mão, đê Đại Hà, Nễ Châu bị vỡ, ngọn nước khoét sâu thành vực Nễ rồi tràn lên Phương Cái. Nước đã phá đoạn đê tạo thành vực sâu, tràn ngập mênh mông. Nhân dân Hưng Yên đổ ra đắp đê. Nhưng đắp đến đâu, đê lại vỡ đến đó. Sau, có cụ Lãnh Thành cùng mọi người đã phải lập đàn cúng. Bà Chúa đã hiển linh, ngăn dòng nước để nhân dân đắp thành công con đê, cứu được mùa màng. Từ đó nhân dân yên ổn làm ăn.

Để ghi nhớ công đức của Bà, người dân Phương Độ đã lập Đền thờ trên đoạn đê vỡ, gọi là Đền Bà Chúa Vực. Đền được xây dựng theo kiến trúc đời nhà Lê, rất khang trang và uy nghi.

Hằng năm, vào ngày 23 tháng 05 âm lịch (là ngày Kỵ nhật của Bà), dân địa phương và khách thập phương lại đến Đền Bà chúa cúng lễ cầu nguyện cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, được sức khỏe và tài lộc. Người ta truyền rằng, ở đền Bà Chúa, “cầu được, ước thấy”.



Lời nhắc nhở



Ban thờ Bà chúa Vực



Uy nghi



Dưới tán bồ đề



Bức bình phong



Cổng tam quan



Rồng đá



Khánh đá



Miếu Cô miếu Cậu

Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 18.09.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

VĂN MIẾU XÍCH ĐẰNG


Văn miếu Xích Đằng, hay còn gọi là Văn miếu Hưng Yên, là một di tích quan trọng trong quần thể di tích Phố Hiến.

Sở dĩ có tên là Văn miếu Xích Đằng, vì được xây dựng trên đất làng Xích Đằng xưa kia, thời Nguyễn thuộc xã Nhân Dục, tổng An Tảo, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, nay thuộc phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên. Tên làng lấy từ tên con sông cuộn sóng sắc đỏ phù sa chảy qua, vốn là một chi lưu của sông Hồng.

Căn cứ vào khánh, chuông hiện còn trong Văn miếu thì đây là Văn miếu của trấn Sơn Nam.

Công trình được khởi dựng từ cuối thời Hậu Lê trên nền ngôi chùa cổ Nguyệt Đường. Tương truyền, ngôi chùa có 36 nóc do Thiền sư Hương Hải khởi dựng năm 1701 với sự hưng công của Quận công Lê Đình Kiên, quan trấn thủ trấn Sơn Nam. Trải qua thời gian, chùa cũ không còn, dấu tích còn lại đến ngày nay là hai ngôi mộ tháp đá: Phương Trượng tháp và Tịnh Mãn tháp. Sách sử cũ ghi chép, khi Nguyễn Huệ phái Nguyễn Hữu Chỉnh làm tướng tiên phong đem 400 chiến thuyền ra Bắc Hà tiêu diệt quân đội nhà Trịnh, Nguyễn Hữu Chỉnh đã sai quân lính dùng voi kéo đổ nhiều mộ tháp trong chùa Nguyệt Đường, nhưng riêng đối với hai tháp đá này thì voi kéo mãi mà không đổ.

Năm 1831, vua Minh Mạng tiến hành cải cách hành chính trên quy mô toàn quốc, tỉnh Hưng Yên được thành lập. Khi đó, Văn miếu Xích Đằng thuộc hàng tỉnh. Đến năm Minh Mạng thứ 20 (Kỷ Hợi - 1839), Văn miếu được trùng tu, tôn tạo lớn.

Mặt tiền Văn miếu quay về hướng Nam. Cổng Tam quan (Nghi môn) được xây dựng đồ sộ, bề thế, theo phong cách kiến trúc chồng diêm hai tầng tám mái, mang dáng dấp cổng Văn miếu Hà Nội. Đứng trên tầng hai của Tam quan có thể nhìn bao quát cả một vùng rộng lớn.

Phía trong Tam quan là khoảng sân rộng, giữa sân có đường thập đạo. Hai bên sân có lầu chuông treo quả chuông đồng đúc năm Gia Long thứ 3 (1804) và lầu khánh, bên trong treo một chiếc khánh đá có dòng chữ “Văn Miếu ngọc khánh” khắc chìm. Cạnh lầu chuông là miếu thờ quan thổ thần, người cai quản đất miếu. Hai dãy tả vu và hữu vu ở hai bên sân, đều là những ngôi nhà 5 gian, hiện tại được dùng để trưng bày các hình ảnh và hiện vật liên quan đến nền giáo dục của trấn Sơn Nam xưa và tỉnh Hưng Yên ngày nay. Ngày trước, đây là nơi chứa đồ đạc, sách vở, quần áo của các thí sinh về đây học tập, tu luyện và ứng thí.

Khu nội tự có kết cấu kiến trúc kiểu chữ Tam (三), bao gồm: tiền tế, trung từ và hậu cung, kiến trúc giống nhau, tất thảy đều 5 gian. Toàn bộ khu nội tự Văn miếu tỏa sáng bởi hệ thống đại tự, câu đối, cửa võng và hệ thống cột đỡ, vì kèo, quá giang đều được sơn thếp phủ hoàn kim và trang trí “long vân” (hình ảnh mây rồng). Hệ thống mái của ba tòa nhà được làm theo kiểu “vì kèo trụ trốn” và liên hoàn theo kiểu "trùng thiềm điệp ốc".

Văn miếu thờ Khổng Tử và các vị chư hiền của Nho gia. Phối thờ cùng với Khổng Tử là Chu Văn An, người thầy giáo, người hiệu trưởng đầu tiên của trường Quốc Tử Giám. Tại chính giữa trung từ và hậu cung đặt tượng Tế tửu Chu Văn An và Vạn thế sư biểu Khổng Tử. Cả hai pho tượng đồng này được đưa vào thờ từ năm 2003.

Nằm dọc hai bên gian hồi trung từ và hậu cung là hai dãy bia tiến sĩ, gồm 9 tấm bia đá, trong đó 8 bia được lập năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), một bia được lập năm Bảo Đại thứ 18 (1943) ghi danh 161 vị trạng nguyên, thám hoa, bảng nhãn, hoàng giáp, tiến sĩ, từ thời Lý-Trần đến thời Nguyễn thuộc trấn Sơn Nam xưa (tỉnh Hưng Yên có 138 vị, tỉnh Thái Bình có 23 vị - do trước kia, phủ Tiên Lữ thuộc tỉnh Hưng Yên, sau này mới thuộc Thái Bình). Các huyện có người đỗ đạt cao như Văn Giang, Văn Lâm, Ân Thi, Yên Mỹ, Kim Động... trong đó họ Dương ở Lạc Đạo (Văn Lâm) 9 vị, họ Lê ở Yên Mỹ 6 vị, họ Hoàng ở Ân Thi 5 vị...

Nhứng người đạt đến học vị cao nhất là Trạng nguyên Tống Trân, người thôn An Cầu, huyện Phù Cừ, đời Trần, và Trạng nguyên Nguyễn Kỳ, người xã Bình Dân, huyện Khoái Châu, triều Mạc. Người giữ chức vụ cao nhất trong số các vị khoa bảng là Lê Như Hổ, từng là Quận công triều Mạc.

Tại Văn miếu xưa kia có hai mùa lễ hội, trọng hội là ngày 10/2 và ngày 10/8 âm lịch hàng năm. Cứ vào các ngày trọng hội, các vị Nho học và quan đầu tỉnh phải đến Văn miếu tế lễ để thể hiện nề nếp Nho phong, tôn sư trọng đạo, làm gương cho con cháu, cầu mong sự nghiệp giáo dục ngày càng tiến bộ.

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nơi đây là cơ sở hoạt động bí mật của Trung ương, Xứ ủy Bắc kỳ, Tỉnh ủy Hưng Yên.

Năm 1992, Văn miếu Xích Đằng được Bộ Văn hoá-Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia.

Trong quy hoạch tổng thể đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên phê duyệt, diện tích khuôn viên Văn miếu rộng gần 6 héc-ta, bao gồm các khu: đền thờ Lạc Long Quân, chùa Nguyệt Đường, dinh Hoàng Cao Khải, khu Văn miếu, phòng trưng bày truyền thống, khu văn hóa khuyến học, khu văn hóa ẩm thực.




Bảng chỉ dẫn lối vào Văn miếu Xích Đằng



Hai chú khỉ thần trấn giữ Văn miếu.
Trước kia, có hai cây gạo lớn, gốc nằm ngay cạnh hai chú khỉ thần. Nay, thật tiếc, hai cây gạo đã không còn nữa.



Mặt trước cổng tam quan



Phía sau cổng tam quan



Bảng hiệu



Bằng chứng nhận di tích



Bên trái là lầu khánh



Bên phải là lầu chuông



Chính giữa là kiến trúc chính gồm 3 ngôi nhà nối tiếp nhau, xếp hình chữ “Tam”



Chiếc trống đặt ở gian tiền tế



Nơi thờ quan thổ thần trông coi Văn miếu Xích Đằng



Sân Văn miếu



Hữu vu



Tả vu



Tả vu



Danh sách các nhà khoa bảng thời Lý-Trần-Hồ



Sân gạch



Bức tường rêu phong



Tháp cổ



Cột trụ biểu



Cột trụ biểu



Chái nhà



Chái nhà



Ban quản lý di tích



Bộ vì kèo mái nhà gian tiền tế



Thư pháp



Hoành phi



Hoành phi



Thắp hương



Hàng bia bên trái



Hàng bia bên phải



Bản dịch văn bia



Một bài thơ



Lễ kết nạp Đảng ở tả vu



Ra về



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 20.09.2013, sửa lần 3
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 19.09.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

DANH SÁCH CÁC VỊ KHOA BẢNG CÓ TÊN TRÊN 9 BIA TIẾN SĨ Ở VĂN MIẾU XÍCH ĐẰNG


VĂN BIA THỨ NHẤT

[TỐNG] TRÂN 宋珍, Trạng nguyên khoa Giáp Thìn triều Trần, người xã An Cầu huyện Phù Cừ.

NGUYỄN TRUNG NGẠN 阮忠彥, Hoàng giáp, làm quan đến chức Hành khiển, người xã Thổ Hoàng, huyện Ân Thi.

[NGUYỄN] THÀNH 阮誠, Hoàng giáp khoa Canh Thìn đời Hồ, làm quan đến chức Tế tửu, người xã Yên Lạc, huyện Thần Khê.

ĐÀO CÔNG SOẠN 陶公撰, Giáp đệ khoa Bính Ngọ triều Lê, làm quan đến chức Thượng thư, người xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ.

[TRẦN] PHONG 陳封, Hoành từ năm Tân Hợi triều Lê, làm quan đến chức Thái bảo, người huyện Tiên Lữ.

VŨ LÂM 武覽, Hoàng giáp khoa Nhâm Tuất triều Lê, làm quan đến chức Ngự tiền Học sinh, người xã Tiên Kiều, huyện Kim Động.

[NGUYỄN] DUY TẮC 阮維則, Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất triều Lê, làm quan đến chức Hiến sát, người xã Thiên Đông, huyện Tiên Lữ.

TRẦN ĐƯƠNG 陳當, Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất triều Lê, làm quan đến chức Giám sát, người xã Triền Thủy, huyện Đông Yên.

[ĐẶNG] TUYÊN 鄧宣, Hội nguyên Hoàng giáp khoa Mậu Thìn triều Lê, làm quan đến chức Thừa chỉ, người xã Vực Đường huyện Ân Thi.

TRẦN CẢNH MÔ 陳景謨, Tiến sĩ khoa Quý Dậu triều Lê, người xã Triền Thủy huyện Đông Yên.

[NGUYỄN] KHẮC TÂN 阮克津, Tiến sĩ khoa Quý Dậu triều Lê, người xã Bàn Thạch huyện Phù Cừ.

CÀI PHÙNG 蓋馮, Tiến sĩ khoa Quý Mùi triều Lê, làm quan đến chức Thị lang, người xã Thổ Hoàng, huyện Ân Thi.

[NGUYỄN] VĂN CHÍNH 阮文政, Tiến sĩ khoa Quý Mùi triều Lê, người xã Dương Trạch, huyện Đông Yên.

BÙI VIẾT LƯƠNG 裴曰良, Tiến sĩ khoa Bính Tuất triều Lê, làm quan đến chức Thượng thư, người xã Nham Lang, huyện Hưng Nhân.

Chú thích:

* Bia này bị vỡ mất trán bia.

1. Tống Trân: Nhân vật truyền thuyết, không có trong các tài liệu đăng khoa lục.

2. Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370), hiệu Giới Hiên 界 軒, tự là Bang Trực 邦 直, người xã Thổ Hoàng, huyện Ân Thi (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên), đỗ Hoàng giáp khoa thi Thái học sinh, năm Giáp Thìn niên hiệu Hưng Long thứ 12 (1304) đời vua Trần Anh Tông. Ông làm quan trong năm đời vua nhà Trần và giữ các chức, như Giám quan, Đại học sĩ Trụ quốc Khai Huyện bá, Thân Quốc công và được cử đi sứ (năm 1314 sang nhà Nguyên. Ông là một nhà chính trị, một nhà thơ, nhà văn nổi tiếng và có nhiều cống hiến cho triều đại nhà Trần.

3. Nguyễn Thành người xã Yên Lạc huyện Thần Khê (nay thuộc xã Mê Linh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình), đỗ Đệ nhị giáp khoa thi Thái học sinh, năm Canh Thìn niên hiệu Thánh Nguyên thứ 1 (1400) đời Hồ Quý Ly. Ông làm quan triều Lê đến chức Tế tửu Quốc tử giám. Sau khi về trí sĩ, vẫn giữ chức Thái tử Tân khách, dạy học cho Thái tử.

4. Đào Công Soạn người xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ (nay thuộc xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên), đỗ Giáp đẳng khoa thi năm Bính Ngọ, niên hiệu Thiên Khánh thứ 1 (1426), đời vua Lê Thái Tổ. Ông giữ các chức quan, như Nhập nội Hành khiển, Thượng thư Bộ Hộ, Tri Tam quán sự, Nhập thị Kinh diên và được cử đi sứ ba lần sang nhà Minh.

5. Trần Phong ( ? - 1485), tự Thái Khai 太 開 người huyện Tiên Lữ (nay thuộc huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên), đỗ khoa Hoành từ năm Tân Hợi niên hiệu Thuận Thiên thứ 4 (1431) đời vua Lê Thái Tổ. Ông làm quan đến chức Thượng thư Bộ Hộ, gia chức Thái bảo, Ngự sử đài phong Đô Ngự sử. Sau ông bị kết tội, đem xử trảm năm Hồng Đức 6 (1485).

6. Vũ Lãm: nguyên quán xã Tiên Kiều huyện Kim Động (nay thuộc xã Bảo Khê huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên). Trú quán xã Kim Lan huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Kim Lan huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Ngự tiền học sinh, Hàn lâm viện Trực học sĩ.

7. Nguyễn Duy Tắc người xã Thiên Đông huyện Tiên Lữ (nay thuộc xã Dị Chế huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên). Ông từng làm quan Hiến sát sứ.

8. Trần Đương người xã Triền Thủy huyện Đông Yên (nay thuộc xã Đông Kết huyện Châu Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Đề hình Giám sát Ngự sử.

9. Đặng Tuyên người xã Bình Lãng huyện Thiên Thi (nay thuộc xã Tiền Phong huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Hàn lâm viện Thừa chỉ.

10. Trần Cảnh Mô người xã Triền Thuỷ huyện Đông Yên (nay thuộc xã Đông Kết, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên), đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Dậu niên hiệu Thái Hòa thứ 11 (1453) đời Lê Nhân Tông. Làm quan đến chức Hàn lâm viện Thị thư.

11. Nguyễn Khắc Tân (1429 - ?) người xã Bàn Thạch, huyện Phù Cừ (nay thuộc huyện Phù Cừ tỉnh Hưng Yên), đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Dậu niên hiệu Thái Hòa thứ 11 (1453) đời Lê Nhân Tông. Thân thế và sự nghiệp của ông hiện chưa rõ. Có tài liệu ghi ông là Trần Khắc Tân.

12. Cái Phùng (1440-?) người xã Thổ Hoàng huyện Thiên Thi (nay thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lại, quyền Thượng thư Bộ Binh.

13. Nguyễn Văn Chính người xã Dương Trạch huyện Đông Yên (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tư nghiệp Quốc tử giám.

14. Bùi Viết Lương nguyên quán xã Văn Lang huyện Ngự Thiên (nay thuộc xã Văn Lang, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình), trú quán xã Dũng Kim huyện Nam Xương (nay thuộc thị trấn Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam). Ông làm quan Thượng thư và từng được cử đi sứ năm 1471 sang nhà Minh.



VĂN BIA THỨ HAI

NGUYỄN CHƯƠNG 阮章, Tiến sĩ khoa Bính Tuất triều Lê, người xã Thiên Đông huyện Tiên Lữ.

PHẠM PHÚC CHIÊU 范福昭, Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn triều Lê, làm quan đến chức Đông các, người xã Từ Hồ huyện Đông Yên.

LÊ BỘT 黎勃, Hoàng giáp khoa Nhâm Thìn triều Lê, làm quan đến chức Hiến sát, người xã Mễ Sở huyện Đông Yên.

NGUYỄN TUẤN 阮俊, Hoàng giáp khoa Ất Mùi triều Lê, làm quan đến chức Thị lang, người xã Đại Quan huyện Đông Yên.

NGUYỄN MINH KHANG 阮明康, Tiến sĩ khoa Ất Mùi triều Lê, làm quan đến chức Thị lang, người xã Phúc Hải huyện Hưng Nhân.

ĐÀO CẢNH HUỐNG 陶景貺, Tiến sĩ khoa Mậu Tuất triều Lê, làm quan đến chức Thị lang, người xã Bán Thủy huyện Kim Động.

VŨ TÍN BIỂU 武信表, Tiến sĩ khoa Mậu Tuất triều Lê, người xã Bình Lăng huyện Ân Thi.

PHẠM ĐÔN LỄ 范敦禮, Trạng nguyên khoa Tân Sửu triều Lê, làm quan đến chức Thị lang, người xã Hải Triều huyện Hưng Nhân.

LÊ HIẾN PHỦ 黎獻甫, Bảng nhãn khoa Giáp Dần triều Lê, người xã Triền Thủy huyện Đông Yên.

NGUYỄN HÁN ĐÌNH 阮漢廷, Hoàng giáp khoa Giáp Thìn triều Lê, làm quan đến chức Thượng thư, người xã Cổ Quán huyện Thần Khê.

PHẠM TÔNG LIỄN 范宗輦, Tiến sĩ khoa Giáp Thìn triều Lê, làm quan đến chức Đô Cấp sự trung, người xã Lỗi Xá huyện Đông Yên.

NGUYỄN LỆ 阮礪, Hoàng giáp khoa Đinh Mùi triều Lê, làm quan đến chức Thị lang, người xã Bình Hồ.

NGUYỄN THUẦN HỖ 阮純嘏, Tiến sĩ khoa Đinh Mùi triều Lê, làm quan đến chức Giám sát, người xã Trà Mạt huyện Ân Thi.

NGUYỄN CHÂU LỖI 阮珠耒, Tiến sĩ khoa Đinh Mùi triều Lê, làm quan đến chức Tham chính, người xã Bình Hồ.

Chú thích:

1. Nguyễn Chương (1436-?) người xã Thiên Đông huyện Tiên Lữ (nay thuộc xã Dị Chế huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Đô Ngự sử.

2. Phạm Phúc Chiêu người xã Từ Hồ huyện Đông Yên (nay thuộc xã Yên Phú huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên), đỗ Nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 3 (1472) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Đông các và từng đi sứ.

3. Lê Bột người xã Mễ Sở huyện Đông Yên (nay thuộc xã Mễ Sở huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 3 (1472) đời vua Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Hiến sát sứ.

4. Nguyễn Tuấn người xã Đại Lan huyện Đông Yên (nay thuộc xã Kim Lan, huyện Gia Lâm, Tp. Hà Nội). Ông làm quan Hữu Thị lang.

5. Nguyễn Minh Khang (1443 - ?) người xã Phúc Hải, huyện Ngự Thiên (nay thuộc xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Hữu Thị lang.

6. Đào Cảnh Huống (1434 - ?) người xã Phán Thủy huyện Kim Động (nay thuộc xã Song Mai huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lễ.

7. Vũ Tín Biểu (1449 - ?) người xã Bình Lăng huyện Thiên Thi (nay thuộc xã Tiền Phong huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

8. Phạm Đôn Lễ (1455 - ?) nguyên quán làng Hải Triều, huyện Ngự Thiên (nay thuộc xã Phạm Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình), trú quán xã Thanh Nhàn huyện Kim Hoa (nay thuộc huyện Sóc Sơn, Tp. Hà Nội). Ông từ thi Hương đến thi Đình đều đỗ đầu và làm quan Tả Thị lang.

9. Lê Hiến Phủ: Theo các sách đăng khoa lục thì chỉ có Lê Hiến Phủ người làng Chí An huyện Đông Triều, đỗ Bảng nhãn khoa Giáp Dần niên hiệu Long Khánh thứ 2 (1374) đời vua Trần Duệ Tông. Làm quan đến chức Thị lang.

10. Nguyễn Hán Đình người xã Cổ Quán huyện Thần Khê (nay thuộc huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình), đỗ Nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Thượng thư và được cử đi sứ nhà Minh.

11. Phạm Tông Liễn (1459 - ?) người xã Lỗi Xá huyện Đông Yên (nay thuộc huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ, khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Đô Cấp sự trung.

12. Nguyễn Lệ người xã Bình Hồ, huyện Đông Yên (nay thuộc xã Quảng Lãng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên), trú quán xã Thổ Hoàng cùng huyện. Ông làm quan Thị lang.

13. Nguyễn Thuần Hỗ (1469 - ?) người xã Trà Mạt, huyện Thiên Thi (nay thuộc xã Hồng Vân, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.

14. Nguyễn Châu Lỗi: Hiện chưa rõ là ai.



VĂN BIA THỨ BA

NGUYỄN NHO TÔNG 阮儒宗, Tiến sĩ khoa Đinh Mùi triều Lê, làm quan đến chức Thượng thư, người xã Vực Đường huyện Ân Thi.

NGUYỄN TỦNG MỤC 阮竦穆, Tiến sĩ khoa Đinh Mùi triều Lê, làm quan đến chức Thị lang, người xã Hiến Nạp huyện Diên Hà.

ĐOÀN HUỆ NHU 段惠柔, Tiến sĩ khoa Đinh Mùi triều Lê, làm quan đến chức Thừa chính sứ, người xã Phù Hà huyện Hưng Nhân.

ĐỖ THUẦN THÔNG 杜純聰, Tiến sĩ khoa Đinh Mùi triều Lê, làm quan đến chức Thừa chính sứ, người xã Tử Kiều huyện Đông Yên.

LÊ TĨNH HIẾU 黎靖孝, Tiến sĩ khoa Canh Tuất triều Lê, người xã Phúc Hải huyện Hưng Nhân.

LƯƠNG ĐỨC UY 梁德威, Tiến sĩ khoa Quý Sửu triều Lê, làm quan đến chức Thừa chính sứ, người xã Đào Xá huyện Kim Động.

BÙI LỆNH TÁ 裴令佐, Hoàng giáp khoa Kỷ Mùi triều Lê, làm quan đến chức Cấp sự trung, người xã Đặng Xá huyện Tiên Lữ.

PHẠM NGUYÊN CHẤN 范元振, Hoàng giáp khoa Kỷ Mùi triều Lê, làm quan đến chức Đô Ngự sử, người xã Hải Triều huyện Hưng Nhân.

NGUYỄN ÍCH NGÂN 阮益齦, Tiến sĩ khoa Đinh Mùi triều Lê, làm quan đến chức Hàn lâm, người xã Từ Hồ huyện Đông Yên.

TRÌNH CHÍ SÂM 程志森, Tiến sĩ khoa Đinh Mùi triều Lê, làm quan đến chức Thượng thư, người xã Từ Hồ huyện Đông Yên.

NGUYỄN TỨ 阮泗, Tiến sĩ khoa Kỷ Mùi triều Lê, làm quan đến chức Giám sát, người xã Bình Hồ huyện Đông Yên.

ĐẶNG TẢO GIÁM 鄧藻鑑, Tiến sĩ khoa Kỷ Mùi triều Lê, người xã Phượng Tường huyện Tiên Lữ.

LÊ THỪA HƯU 黎承休, Tiến sĩ khoa Kỷ Mùi triều Lê, làm quan đến chức Đô Cấp sự trung, người xã Đông Ninh huyện Hưng Nhân.

NGUYỄN VĂN KIỆT 阮文傑, Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất triều Lê, làm quan đến chức Đô Ngự sử, người xã Mỹ Xá huyện Hưng Nhân.

Chú thích:

1. Nguyễn Nho Tông người xã Vực Đường huyện Thiên Thi (nay thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Thượng thư và được cử đi sứ.

2. Nguyễn Tủng Mục người xã Hiến Nạp huyện Diên Hà (nay thuộc xã Minh Khai huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Thị lang.

3. Đoàn Huệ Nhu người xã Phù Vệ huyện Ngự Thiên (nay thuộc xã Liên Hiệp huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Thừa chính sứ.

4. Đỗ Thuần Thông người xã Tử Kiều huyện Đông Yên (nay thuộc xã Giai Phạm huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Thừa chính sứ.

5. Lê Tĩnh Hiếu người xã Phúc Hải huyện Hưng Nhân (nay thuộc xã Liên Hiệp huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan Tri huyện.

6. Lương Đức Uy người xã Đào Xá huyện Kim Động (nay thuộc huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24 (1493) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ.

7. Bùi Lệnh Tá (1465 - ?) người xã Đặng Xá huyện Tiên Lữ (nay thuộc huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2 (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Ông làm quan đến chức Cấp sự trung, về trí sĩ.

8. Phạm Nguyên Chấn (1482 - ?) người xã Hải Triều huyện Hưng Nhân (nay thuộc xã Phạm Lễ huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2 (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Ông làm quan đến Đô Ngự sử.

9. Nguyễn Ích Ngân (1460 - ?) người huyện Vĩnh Xương (nay thuộc quận Ba Đình Tp. Hà Nội), trú quán huyện Đông Yên (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Hàn lâm. Có sách ghi ông là Nguyễn Ích Cữu.

10. Trình Chí Sâm người phường Khúc Phố huyện Vĩnh Xương (nay thuộc quận Ba Đình Tp. Hà Nội), trú quán xã Từ Hồ huyện Đông Yên (nay thuộc xã Yên Phú huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên). Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Công, Thiếu bảo Chưởng Lục bộ kiêm Đông các Đại học sỹ, tước Từ Hồ bá.

11. Nguyễn Tứ người xã Bình Hồ huyện Đông Yên (nay thuộc xã Quảng Lãng huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2 (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Làm quan đến chức Giám sát Ngự sử.

12. Đặng Tảo Giám (1464 - ?) người xã Phượng Tường huyện Tiên Lữ (nay thuộc xã Nhật Tân huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2 (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Ông làm quan tới chức Tự khanh.

13. Lê Thừa Hưu người xã Đông Ninh huyện Ngự Thiên (nay thuộc Liên Hiệp, huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2 (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Ông làm quan đến chức Đô cấp sự trung.

14. Nguyễn Văn Kiệt người xã Mỹ Xá (có sách ghi là Nghĩa Xá) huyện Ngự Thiên (nay thuộc xã Trần Phú huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Thiêm Đô Ngự sử.




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 30.09.2015, sửa lần 5
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 19.09.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

DANH SÁCH CÁC VỊ KHOA BẢNG CÓ TÊN TRÊN BIA TIẾN SĨ Ở VĂN MIẾU XÍCH ĐẰNG
.....................................(tiếp theo)..............................

VĂN BIA THỨ TƯ

NGUYỄN THẾ MỸ 阮世美, Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất triều Lê, làm quan đến chức Thừa chính sứ, người xã Lang Trụ huyện Tiên Lữ.

TRẦN HUYÊN 陳暄, Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất triều Lê, làm quan đến chức Đô Ngự sử, người xã An Tảo huyện Kim Động.

NGUYỄN VĂN BÍNH 阮文炳, Tiến sĩ khoa Ất Sửu triều Lê, làm quan đến chức Đô Cấp sự, người xã Thổ Hoàng huyện Ân Thi.

NGUYỄN DỰ 阮豫, Tiến sĩ khoa Mậu Thìn triều Lê, tặng Đô Ngự sử, người xã Mỹ Xá huyện Hưng Nhân.

QUÁCH THU ƯNG 郭秋鷹, Tiến sĩ khoa Tân Mùi triều Lê, người xã Phượng Tường huyện Tiên Lữ.

NGUYỄN KIỀU 阮嶠, Tiến sĩ khoa Tân Mùi triều Lê, làm quan đến chức Cấp sự trung, người xã Lưu Xá huyện Đông Yên.

LÊ VĂN HỌC 黎文學, Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất triều Lê, người xã Mạt Lỗi huyện Đông Yên.

LẠI GIA PHÚC 賴嘉福, Hoàng giáp khoa Giáp Tuất triều Lê, làm quan đến chức Thị lang người, xã Mỹ Xá huyện Đông Yên.

ĐẶNG ẤT 鄧乙, Hoàng giáp khoa Mậu Dần triều Lê, làm quan đến chức Giám sát, người xã Hải Triều huyện Hưng Nhân.

NGUYỄN CHẤN CHI 阮振之, Hoàng giáp khoa Mậu Dần triều Lê, tặng chức Thị lang, người xã Thổ Hoàng huyện Ân Thi.

NGUYỄN QUÁN ĐẠO 阮貫道, Thám hoa, Hội nguyên khoa Quý Mùi triều Lê, làm quan đến chức Đông các, người xã Bình Dân huyện Đông Yên.

VƯƠNG DƯƠNG 王洋, Tiến sĩ khoa Quý Mùi triều Lê, làm quan đến chức Giám sát, người xã Phượng Lâu huyện Kim Động.

VƯƠNG HY TĂNG 王希曾, Tiến sĩ khoa Quý Mùi triều Lê, làm quan đến chức Hiến sát, người xã Bích Khê huyện Đông Yên.

ĐÀO NGHIỄM 陶儼, Tiến sĩ khoa Quý Mùi triều Lê, làm quan đến chức Thị lang, người xã Thiện Phiến huyện Tiên Lữ.

Chú thích:

1. Nguyễn Thế Mỹ người xã Lang Khuê (có tài liệu ghi là Lang Trụ) huyện Tiên Lữ (nay thuộc huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Thừa chính sứ.

2. Trần Huyên người xã Diên An (có tài liệu ghi là An Cảo) huyện Kim Động (nay thuộc xã Ngọc Thanh huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Đô Ngự sử.

3. Nguyễn Văn Bính (1480 - ?) người xã Thổ Hoàng huyện Ân Thi (nay thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Sửu niên hiệu Đoan Khánh thứ 1 (1505) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến Công khoa Đô Cấp sự trung.

4. Nguyễn Dự người xã Mỹ Xá huyện Hưng Nhân (nay thuộc huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh thứ 4 (1508) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan Thiên tào Tả phán quan, Thiêm Đô Ngự sử. Bị Mạc Đăng Dung giết. Sau khi mất, ông được truy tặng chức Đô Ngự sử.

5. Quách Thu Ưng người xã Phượng Tường huyện Tiên Lữ (nay thuộc xã Nhật Tân huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan đến Thừa chính sứ.

6. Nguyễn Kiều người xã Lưu Xá huyện Đông Yên (nay thuộc xã Nghĩa Dân huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan đến Cấp sự trung.

7. Lê Văn Học: theo Bia Văn Miếu Hà Nội thì Lê Văn Học quê ở Đông Thành (nay thuộc Nghệ An), chưa tìm thấy tài liệu đăng khoa lục ghi có Lê Văn Học quê ở Đông Yên. Xem chú thích 11, Bia số 10.

8. Lại Gia Phúc người xã Mỹ Xá huyện Đông Yên (nay thuộc huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Thị lang.

9. Đặng Ất (1495 - ?) người xã Hải Triều huyện Hưng Nhân (nay thuộc xã Phạm Lễ huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Giám sát Ngự sử. Bia Văn Miếu Hà Nội ghi ông người xã Phúc Hải huyện Ngự Thiên.

10. Nguyễn Chấn Chi người xã Thổ Hoàng huyện Thiên Thi (nay thuộc thị trấn huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan đến Thiêm đô Ngự sử. Sau khi mất, ông được tặng Tả Thị lang Bộ Lễ.

11. Nguyễn Quán Đạo (1504 - ?) người xã Bình Dân huyện Đông Yên (nay thuộc xã Tân Dân huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên), đỗ Hội nguyên Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên thứ 2. (1523) đời vua Lê Cung Hoàng. Ông làm quan đến chức Đông các. Trước ông tên là Nguyễn Quán Chi, sau vua ngự phê đổi là Nguyễn Quán Đạo.

12. Vương Dương người xã Phượng Lâu huyện Kim Động (nay thuộc xã Ngọc Thanh huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên thứ 2 (1523) đời vua Lê Cung Hoàng. Ông làm quan đến chức Giám sát Ngự sử.

13. Vương Hy Tăng (1496- ) người xã Bích Khê huyện Đông Yên (nay thuộc huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên thứ 2 (1523) đời vua Lê Cung Hoàng. Ông làm quan cho nhà Mạc đến chức Hiến sát sứ.

14. Đào Nghiễm (1496- ), tự Nghĩa Xuyên 義川, người xã Thiện Phiến (nay thuộc xã Thiện Phiến huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên), đỗ Hội nguyên Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên thứ 2 (1523) đời vua Lê Cung Hoàng. Ông làm quan đến chức Hữu Thị lang Bộ Binh và được cử đi sứ sang nhà Minh.


VĂN BIA THỨ NĂM

VŨ HUYỄN 武炫, Tiến sĩ khoa Bính Tuất triều Lê, người xã Thổ Hoàng huyện Ân Thi.

ĐINH THỤY 丁瑞, Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu triều Mạc, người xã Sài Quất huyện Đông Yên.

LÊ CAO 黎高, Hoàng giáp khoa Kỷ Mùi triều Mạc, người xã Bình Dân huyện Đông Yên.

NGUYỄN KỲ 阮琦, Trạng nguyên khoa Tân Sửu triều Mạc, người xã Bình Dân huyện Đông Yên.

LÊ NHƯ HỔ 黎如虎, Tiến sĩ khoa Tân Sửu triều Mạc, làm quan và được ban tước Quận công, người xã Tiên Châu, huyện Tiên Lữ.

ĐINH TÚ 丁琇, Tiến sĩ khoa Giáp Thìn triều Mạc, làm quan đến chức Hiến sát, người xã Nam Trì huyện Ân Thi.

VŨ HẠO 武灝, Tiến sĩ khoa Đinh Mùi triều Mạc, làm quan đến chức Hiến sát, người xã Phượng Lâu huyện Kim Động.

NGUYỄN TRÍ DỤNG 阮致用, Tiến sĩ khoa Đinh Mùi triều Mạc, làm quan đến chức Tham chính, người xã Lai Xá huyện Phù Cừ.

TẠ NHĨ 謝爾, Tiến sĩ khoa Đinh Mùi triều Mạc, làm quan đến chức Hiến sát, người xã Phượng Tường huyện Tiên Lữ.

TRẦN VĂN 陳聞, Bảng nhãn khoa Canh Tuất triều Mạc, làm quan đến chức Thượng thư, người xã Ngũ Lão huyện Phù Cừ.

ĐÀO TRÂN 陶珍, Tiến sĩ khoa Canh Tuất triều Mạc, làm quan đến chức Hiến sát, người xã Đào Xá huyện Đông Yên.

NGUYỄN MẬU THÔNG 阮茂聰, Tiến sĩ khoa Canh Tuất triều Mạc, làm quan đến chức Giám sát, người xã Dưỡng Phúc huyện Kim Động.

HOÀNG TUÂN 黃珣, Bảng nhãn khoa Quý Sửu triều Mạc, làm quan đến chức Tham chính, người xã Thổ Hoàng huyện Ân Thi.

NGUYỄN UYÊN 阮淵, Tiến sĩ khoa Bính Thìn triều Mạc, làm quan đến chức Thượng thư, người xã Nham Lang huyện Hưng Nhân.

Chú thích:

1. Vũ Huyễn người xã Thổ Hoàng, huyện Ân Thi (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Tuất niên hiệu Thống Nguyên thứ 5 (1526) đời vua Lê Cung Hoàng. Ông làm quan nhà Mạc đến chức Tả Thị lang, tước Văn Quảng tử.

2. Đinh Thụy (?-?) người xã Tùng Quan huyện Đông Yên (nay thuộc huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Hàn lâm viện Kiểm thảo. Có tài liệu ghi ông người xã Sài Quất hoặc Tử Quất.

3. Lê Cao người xã Bình Dân, huyện Đông Yên (nay thuộc xã Tân Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Mùi niên hiệu Đại Chính thứ 6 (1535) đời Mạc Đăng Doanh. Ông làm quan đến chức Giám sát Ngự sử.

4. Nguyễn Kỳ (1518 - ?) người xã Bình Dân huyện Đông Yên (nay thuộc xã Tân Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh, khoa Tân Sửu niên hiệu Quảng Hòa thứ 1 (1541) đời Mạc Phúc Hải. Ông làm quan đến chức Hàn lâm viện Thị thư.

5. Lê Như Hổ (1511-1581) người xã Tiên Châu, huyện Tiên Lữ (nay thuộc xã Hồng Nam, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Tân Sửu niên hiệu Quảng Hòa thứ 1 (1541) đời Mạc Phúc Hải. Ông làm quan đến chức Thượng thư, hàm Thiếu bảo, tước Tuấn Quận công và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng Quốc công.

6. Đinh Tú người xã Nam Trì, huyện Ân Thi (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Quảng Hòa thứ 4 (1544) đời Mạc Phúc Hải. Ông làm quan đến chức Hiến sát sứ, tước Phù Nham bá.

7. Vũ Hạo người xã Phượng Lâu, huyện Kim Động (nay thuộc xã Ngọc Thanh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Đinh Mùi niên hiệu Vĩnh Định thứ 1 (1547) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Hiến sát sứ.

8. Nguyễn Trí Dụng người xã Lai Xá, huyện Phù Cừ (nay thuộc huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Đinh Mùi niên hiệu Vĩnh Định thứ 1 (1547) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Tham chính.

9. Tạ Nhĩ người xã Phượng Tường huyện Tiên Lữ (nay thuộc xã Nhật Tân, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Đinh Mùi niên hiệu Vĩnh Định thứ 1 (1547) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Hiến sát.

10. Trần Văn người xã Ngũ Lão, huyện Phù Cừ (nay thuộc huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh, khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Lịch thứ 3 (1550) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Thượng thư.

11. Đào Trân (1538 - ?) người xã Đào Xá, huyện Đông Yên (nay thuộc xã Nghĩa Dân, huyện Kim Động) đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Lịch thứ 3 (1550) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Hiến sát.

12. Nguyễn Mậu Thông người xã Dưỡng Phúc, huyện Kim Động (nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Lịch thứ 3 (1550) đời Mạc Phúc Nguyên. Làm quan đến chức Giám sát Ngự sử.

13. Hoàng Tuân (1517 - ?) người xã Thổ Hoàng, huyện Ân Thi (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh, khoa Quý Sửu niên hiệu Cảnh Lịch thứ 6 (1553) đời Mạc Phúc Nguyên. Làm quan đến chức Tham chính.

14. Nguyễn Uyên (1525 - ?) người xã Nham Lang, huyện Hưng Nhân (nay thuộc xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Thìn niên hiệu Quang Bảo thứ 2 (1556) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Thượng thư, tước Nham Lang hầu và được cử đi sứ sang nhà Minh.


VĂN BIA THỨ SÁU

NGUYỄN QUANG 阮珖, Tiến sĩ khoa Bính Thìn triều Mạc, làm quan đến chức Thiêm sự, người xã Linh Hạ huyện Tiên Lữ.

NGUYỄN ĐỨC TRÂN 阮德珍, Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất triều Mạc, làm quan đến chức Tham chính, người xã Mai Xuyên huyện Ân Thi.

ĐẶNG CƠ 鄧基, Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu triều Mạc, làm quan đến chức Hiến sát, người xã Triền Kiều huyện Đông Yên.

ĐÀO PHẠM 陶範, Tiến sĩ khoa Mậu Thìn triều Mạc, làm quan đến chức Tham chính, người xã Thiện Phiến huyện Tiên Lữ.

HOÀNG CHÂN NAM 黃真男, Tiến sĩ khoa Tân Mùi triều Mạc, làm quan đến chức Đông các, người xã Thổ Hoàng huyện Ân Thi.

NGUYỄN TRẠCH 阮澤, Tiến sĩ khoa Mậu Thìn triều Lê, làm quan đến chức Tự khanh, người xã Nham Lang huyện Hưng Nhân.

PHẠM LẬP LỄ 范立禮, Tiến sĩ khoa Bính Tuất triều Lê, làm quan đến chức Thị lang, người xã Phi Bình huyện Đông Yên.

HOÀNG CÔNG TRÍ 黃公寘, Tiến sĩ khoa Canh Tuất triều Lê, làm quan đến chức Thượng thư, người xã Thổ Hoàng huyện Ân Thi.

NGUYỄN TRÍ TRUNG 阮致中, Tiến sĩ khoa Canh Tuất triều Lê, sau khi mất được tặng chức Thị lang, người xã Lực Điền huyện Đông Yên.

BÙI QUANG VẬN 裴光運, Tiến sĩ khoa Quý Sửu triều Lê, làm quan đến chức Giám sát, người xã Tiểu Quan huyện Đông Yên.

BÙI CÔNG PHỤ 裴公輔, Hoàng giáp khoa Bính Thìn triều Lê, làm quan đến chức Đô Cấp sự, người xã Bình Dân huyện Đông Yên.

LÊ DỊ TÀI 黎異材, Tiến sĩ khoa Bính Thìn triều Lê, sau khi mất được tặng chức Thị lang, người xã An Hoạch huyện Đông Yên.

HOA CÔNG PHƯƠNG 花公芳, Tiến sĩ khoa Quý Hợi triều Lê, làm quan đến chức Hiến sát, người xã Bình Dân huyện Đông Yên.

ĐẶNG KHANH 鄧鏗, Tiến sĩ khoa Canh Dần triều Lê, làm quan đến chức Hiến sát, người xã Phú Thị huyện Đông Yên.

Chú thích:

1. Nguyễn Quang người xã Linh Hạ, huyện Tiên Lữ (nay thuộc xã Nhật Tân, huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Thìn niên hiệu Quang Bảo thứ thứ 2 (1556) đời Mạc Phúc Nguyên. Làm quan đến chức Thiêm sự.

2. Nguyễn Đức Trân (1505 - ?) người xã Mai Xuyên, huyện Ân Thi (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Tuất niên hiệu Quang Bảo thứ 9 (1562) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ.

3. Đặng Cơ (1538 - ?) người xã Triền Kiều huyện Đông Yên (nay thuộc xã Bảo Khê, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Sửu niên hiệu Thuần Phúc thứ 4 (1565) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến Hiến sát.

4. Đào Phạm (1530 - ?) người xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ (nay thuộc xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn niên hiệu Sùng Khang thứ 3 (1568) đời Mạc Mậu Hợp. Sau ông theo giúp nhà Lê và làm quan đến chức Tham chính.

5. Hoàng Chân Nam (1539 - ?) người xã Thổ Hoàng, huyện Ân Thi (nay thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Tân Mùi niên hiệu Sùng Khang thứ 6 (1571) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Đông các.

6. Nguyễn Trạch (1572 - ?) người xã Nham Lang huyện Ngự Thiên (nay thuộc xã Cấp Tiến huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Tự khanh.

7. Phạm Lập Lễ (1610 - ?) người xã Phi Bình huyện Đông Yên (nay thuộc xã Tân Dân huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Hộ, tước tử. Bia Văn miếu Hà Nội ghi ông là Phạm Văn Đạt.

8. Hoàng Công Trí (1641-1719) hiệu là Xuân Hiên, người xã Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi (nay thuộc thị trấn huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan chức Thượng thư Bộ Công, Nhập thị Kinh diên, tước Thi Khánh bá và được cử giữ chức Chánh sứ sang nhà Thanh.

9. Nguyễn Trí Trung (1648-1725) người xã Lực Điền huyện Đông Yên (nay thuộc xã Lý Thường Kiệt huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Thừa chính sứ, tước nam. Sau khi mất, ông được tặng Tả Thị lang Bộ Công, ban thụy Ôn Giản.

10. Bùi Quang Vận (1646 - ?) người xã Tiểu Lan huyện Đông Yên (nay là thuộc xã Phùng Hưng huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Giám sát.

11. Bùi Công Phụ (1642 - ?) người xã Bình Dân huyện Đông Yên (nay thuộc xã Tân Dân huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Đô Cấp sự trung, tước nam.

12. Lê Dị Tài: Chưa tìm thấy tài liệu đăng khoa lục ghi có Lê Dị Tài người xã An Hoạch, huyện Đông Yên, theo Bia Văn Miếu Hà Nội thì Lê Dị Tài (1652-1716) người xã An Hoạch, huyện Đông Sơn. Xem chú thích 19, Bia 47.

13. Hoa Công Phương (1651 - ?) người xã An Dân huyện Đông Yên (nay thuộc xã Tân Dân huyện Châu Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Hiến sứ.

14. Đặng Khanh (1665-?) người xã Phú Thị huyện Đông Yên (nay thuộc xã Mễ Sở huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Hiến sát sứ.




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 20.09.2013, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 19.09.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

DANH SÁCH CÁC VỊ KHOA BẢNG CÓ TÊN TRÊN BIA TIẾN SĨ Ở VĂN MIẾU XÍCH ĐẰNG
.....................................(tiếp theo)...................................

VĂN BIA THỨ BẢY

HOÀNG CÔNG BẢO 阮公寶, Tiến sĩ khoa Canh Dần triều Lê, sau khi mất được tặng chức Thị lang, người xã Thổ Hoàng huyện Ân Thi.

HOÀNG CÔNG LẠC 黃公樂, Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn triều Lê, làm quan đến chức Hiến sát, người xã Đô Mỹ huyện Thần Khê.

NGUYỄN TÔNG QUAI 阮宗奎, Hội nguyên Hoàng giáp khoa Tân Sửu triều Lê, làm quan đến chức Thị lang, người xã Phúc Khê huyện Hưng Nhân.

ĐỒNG HƯU 同休, Tiến sĩ khoa Giáp Thìn triều Lê, người xã Nhữ Thủy huyện Hưng Nhân.

TRẦN VIÊM 陳炎, Tiến sĩ khoa Giáp Thìn triều Lê, làm quan đến chức Đông các, người xã Hải Án huyện Tiên Lữ.

LÊ TRỌNG THỨ 黎仲庶, Tiến sĩ khoa Giáp Thìn triều Lê, sau khi mất được tặng chức Thái bảo tước Quận công, người xã Diên Hà huyện Diên Hà.

NGUYỄN ĐÌNH BÁ 阮廷伯, Tiến sĩ khoa Đinh Mùi triều Lê, người xã Bình Dân huyện Đông Yên.

ĐỖ THÀNH DOÃN 杜成允, Tiến sĩ khoa Quý Sửu triều Lê, làm quan đến chức Đốc đồng, người xã Quan Xuyên huyện Đông Yên.

NGUYỄN BÁ TUÂN 阮伯珣, Tiến sĩ khoa Bính Thìn triều Lê, người xã Đa Hoà huyện Đông Yên.

LÊ QUÝ ĐÔN 黎貴惇, Bảng nhãn khoa Nhâm Thân triều Lê, sau khi mất được tặng chức Thái bảo tước Quận công, người xã Diên Hà huyện Diên Hà.

NGUYỄN BÁ DƯƠNG 阮伯暘, Tiến sĩ khoa Bính Tuất triều Lê, làm quan đến chức Hiến sát, người xã Nguyễn Xá huyện Thần Khê.

NGUYỄN ĐÌNH TỐ 阮廷傃, Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu triều Lê, người xã Bình Dân huyện Đông Yên.

TRẦN CÔNG XÁN 陳公粲, Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn triều Lê, người xã An Vĩ huyện Đông Yên.

NGUYỄN LƯỢNG 阮諒, Tiến sĩ khoa Tân Sửu triều Lê, làm quan đến chức Thự Trấn thủ, người xã An Vĩ huyện Đông Yên.

Chú thích:

1. Hoàng Công Bảo (1680 - ?) người xã Thổ Hoàng huyện Thiên Thi (nay thuộc thị trấn huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông là con của Hoàng Công Chí và là ông nội Hoàng Bình Chính. Ông làm quan Hàn lâm Thừa chỉ. Sau khi mất, ông được tặng chức Hữu Thị lang Bộ Công.

2. Hoàng Công Lạc (1689 - ?) người xã Đô Nghĩa huyện Thần Khê (nay thuộc xã Tây Đô huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Hiến sát sứ. Sau bị bãi chức.

3. Nguyễn Tông Quai (1693-1767) hiệu Thư Hiên, người xã Phúc Khê huyện Ngự Thiên (nay thuộc xã Hiệp Hòa huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Hộ, tước Ngọ Đình hầu và được 2 lần cử đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Về sau, ông bị giáng làm Hàn lâm Thị giảng. Nhiều tài liệu ghi là ông Nguyễn Tông Khuê.

4. Đồng Hưu (1687 - ?) người xã Nhữ Thủy huyện Ngự Thiên (nay thuộc xã Liên Hiệp huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Tự khanh.

5. Trần Viêm (1696 - ?) người xã Hải Thiên huyện Tiên Lữ (nay là xã Hải Triều huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Đông các Đại học sĩ. Sau khi mất, ông được tặng chức Đại học sĩ.

6. Lê Trọng Thứ (1694-1782): Ban đầu, tên ông là Lê Phú Thứ, hiệu là Trúc Am, người xã Diên Hà huyện Diên Hà (nay thuộc xã Độc Lập huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông là cha của Lê Quý Đôn, giữ chức quan Giám quan, sau vì việc tranh cãi với Nguyễn Công Hãng mà bị miễn chức cho về quê. Không lâu sau lại được vời ra, rồi giữ các chức, như Tả Thị lang Bộ Hộ, tước Diên Phượng bá, thăng đến chức Thượng thư Bộ Hình. Sau khi mất, ông được tặng hàm Thái bảo, tước Hà Quận công. Sau, ông đổi tên là Lê Trọng Thứ.

7. Nguyễn Đình Bá (1695 - ?) người xã Bình Dân huyện Đông Yên (nay thuộc xã Tân Dân huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên). Ông là cha của Nguyễn Đình Tố, làm quan Thừa chỉ. Sau khi mất, ông được tặng chức Thiêm đô Ngự sử, được phong tước Đại vương.

8. Đỗ Thành Doãn (1700 - ?) người xã Lan Xuyên huyện Đông Yên (nay thuộc xã Thành Công huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Hiệu thư, sau điều làm Đốc đồng Thanh Hoa và bị hại ở nhiệm sở.

9. Nguyễn Bá Tuân (1699 - ?) người xã Đa Hòa huyện Đông Yên (nay thuộc xã Bình Minh huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Hàn lâm viện Đãi chế.

10. Lê Quý Đôn (1726-1784) hiệu là Quế Đường và tự là Doãn Hậu , người xã Diên Hoà huyện Diên Hà (nay thuộc xã Độc Lập huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông là con của Lê Trọng Thứ và giữ các chức quan như: Thừa chỉ, tước Dĩnh Thành bá; thăng đến chức Nhập thị Bồi tụng, Tả Thị lang Bộ Hộ, tước Dĩnh Thành hầu; rồi bị giáng làm Thị lang Bộ Lễ, lại được bổ các chức Tham thị kiêm Trấn thủ xứ Thuận Quảng, Tả Thị lang Bộ Hộ, Đô Ngự sử, Tả Hiệu điểm Quyền Phủ sự, tước Nghĩa Phái hầu, Hiệp trấn Nghệ An và được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng chức Thượng thư Bộ Công, gia tước cho ông là Dĩnh Quận công. Sinh thời Lê Quý Đôn có nhiều công trình nghiên cứu biên soạn, sáng tác nổi tiếng, học vấn văn chương của ông được cả người Trung Quốc và sứ thần Triều Tiên ca ngợi.

11. Nguyễn Bá Dương (1740 - ?) người xã Nguyễn Xá huyện Thần Khê (nay thuộc huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Hàn lâm viện Thị chế.

12. Nguyễn Đình Tố (1738 - ?) người xã Bình Dân huyện Đông Yên (nay thuộc xã Tân Dân huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên). Ông là con của Nguyễn Đình Bá và giữ các chức quan, như Hàn lâm viện Thị độc, Khu mật viện, tước Ngọ Khê tử. Có tài liệu ghi sau ông đổi tên là Nguyễn Lạc Thiện.

13. Trần Công Xán (1731 - ?) người xã Yên Vỹ huyện Đông Yên (nay là xã An Vỹ huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hình, tước Phái Trạch hầu. Sau ông đổi tên là Trần Công Thước.

14. Nguyễn Lượng: Chưa tìm thấy tài liệu đăng khoa lục ghi có Nguyễn Lượng đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu triều Lê người xã An Vĩ huyện Đông Yên. Chỉ có Nguyễn Lượng người xã Kim Đôi, huyện Võ Giàng (nay thuộc xã Kim Chân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Xem chú thích 13, Bia số 122.


VĂN BIA THỨ TÁM

BÙI QUỸ 裴櫃, Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu đời Minh Mệnh, làm quan đến chức Tổng đốc, người xã Hải Án huyện Tiên Lữ.

ĐÀO DANH VĂN 陶名聞, Tiến sĩ khoa Nhâm Dần đời Thiệu Trị, làm quan đến chức Đốc học, người xã Tiên Phương huyện Tiên Lữ.

Phần trở xuống là phần Bổ di:

CAO NGUYỄN PHÁN 高阮頖, Tiến sĩ khoa Giáp Thìn triều Lê, làm quan đến chức Đông các, người xã Phúc Hải huyện Hưng Nhân.

VŨ CÔNG THẮNG 武公勝, Tiến sĩ khoa Đinh Sửu, người xã Thổ Hoàng huyện Ân Thi.

VŨ TRÁC LẠC 武卓犖, Tiến sĩ khoa Bính Thân, làm quan đến Tham chính, người xã Thổ Hoàng huyện Ân Thi.

HOÀNG BÌNH CHÍNH 黃平政, Tiến sĩ khoa Ất Mùi, làm quan đến chức Đông các, người xã Thổ Hoàng huyện Ân Thi.

Ngày 21 tháng Giêng năm Mậu Tý niên hiệu Đồng Khánh thứ 3 (1888).

Cử nhân Ân khoa Mậu Thìn đời Tự Đức, nhận chức Trung phụng đại phu, Hữu tham tri Bộ Binh kiêm Đô sát viện, Hữu phó Đô Ngự sử, Tuần phủ Hưng Yên các xứ, Đề đốc quân vụ kiêm Lý lương hưởng, lại gia thêm hàm Thự lý Tổng đốc, lĩnh Tuần phủ kiêm Tiễu phủ sứ ba tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên.

Thái Xuyên, hiệu Tùng Lâm cư sĩ Hoàng Cao Khải bái thuyên.


Chú thích:

1. Bùi Quỹ: Bia Văn miếu Huế chép là Bùi Ngọc Quỹ (1796-1861) người xã Hải Thiên huyện Tiên Lữ phủ Khoái Châu trấn Sơn Nam (nay thuộc xã Hải Triều huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên).Cử nhân năm Mậu Tý (1828). Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm viện Biên tu, Tri phủ Triệu Phong, Viên ngoại lang Bộ Công, Lang trung Án sát Quảng Trị, Biện lý Bộ Công, Hữu Thị lang, Tham tri Bộ Hình và Bộ Lễ, Tả Phó Đô Ngự sử, Sử quán Biên tu, Hàn lâm viện Trực học sĩ, Tả tham tri Bộ Lại, Án sát Tuyên Quang, Tuần phủ hộ lý Tổng đốc Bình Phú (Bình Định và Phú Yên) và được cử làm Phó sứ (năm 1848) sang nhà Thanh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng chức Tổng đốc.

2. Đào Danh Văn (1804 - ?) người xã Tiên Hương tổng Tiên Ba huyện Tiên Lữ phủ Khoái Châu tỉnh Hưng Yên (nay thuộc huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên). Cử nhân năm Canh Tý (1840). Ông làm quan Đốc học Nghệ An.

Phần trở xuống là Bổ di:

3. Cao Nguyễn Phán (1696 - ?) người xã Phúc Hải huyện Ngự Thiên (nay thuộc xã Liên Hiệp huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Hàn lâm Hiệu thảo. Có tài liệu ghi ông là Cao Nguyễn Loại.

4. Vũ Công Thắng: Tiến sĩ khoa Đinh Sửu, người xã Thổ Hoàng huyện Ân Thi. Chưa tìm thấy tài liệu đăng khoa lục ghi về nhân vật này.

5. Vũ Trác Lạc (1535 - ?) người xã Mộ Trạch huyện Đường An (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương), nguyên quán xã Thổ Hoàng huyện Thiên Thi (nay thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tham chính, tước nam. Có tài liệu ghi ông là Vũ Trác Oánh.

6. Hoàng Bình Chính (1736-1785) hiệu Liên Phong và tự là Xuân Như, là người xã Thổ Hoàng huyện Thiên Thi (nay thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Đốc đồng xứ Hưng Hoá, Hàn lâm viện Hiệu lý và được cử đi sứ sang nhà Thanh . Sau khi mất, ông được tặng Hàn lâm viện Thị giảng, tước Kim Xuyên bá. Sau ông đổi tên là Hoàng Trọng Chính.

7. Hoàng Cao Khải (1850-1933), hiệu Thái Xuyên 泰 川, tự là Đông Minh 東 明 người xã Đông Thái huyện La Sơn (nay là huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh). Hoàng Cao Khải thi đỗ Cử nhân năm Mậu Thìn niên hiệu Tự Đức 21. (1868) đời vua Nguyễn Dực Tông. Ông giữ các chức quan, như: Giáo thụ Hoài Đức, Tổng đốc Hải Yên, Bắc kỳ Kinh lược sứ, sau về làm Phụ chính đại thần cho vua Thành Thái, Thái tử Thiếu bảo, Võ hiển điện Đại học sĩ, tước Diên Mậu tử. Khi nghỉ hưu, về ở ấp Thái Hà (Hà Nội). Hoàng Cao Khải từng làm tay sai đắc lực cho thực dân Pháp. Ông còn có tên là Hoàng Văn Khải.


VĂN BIA THỨ CHÍN: PHỦ ÂN THI, HUYỆN VĂN LÂM, HUYỆN MỸ HÀO, HUYỆN YÊN MỸ

Văn miếu thành Đằng dựng từ khi đặt tỉnh, tường đều cũ, phàm cái mới tạo thì sơ lược, vật lâu thì hỏng, đó là lẽ tự nhiên vậy. Hỏng thì sửa, thiếu thì bổ sung, việc đó có lẽ còn đợi đời sau chăng. Đời Đồng Khánh (1886-1888), Thái Xuyên Hoàng công (tức Hoàng Cao Khải - NV) làm Tuần phủ thành Đằng cho tu sửa, nên quy mô thành rộng lớn, lại đem họ tên các Tiến sĩ đỗ các đời ở các huyện, phủ thuộc tỉnh, khắc vào bia, dựng ở phía Đông trường học. Việc đó đến nay đã năm mươi năm rồi.

Năm Tân Tỵ Bảo Đại (1941), Tường tôi vâng mệnh làm chức Tổng đốc đất này, tận mắt nhìn thấy cái cần sửa, cái cần tu bổ, Tường tôi đâu dám chối từ trách nhiệm.

Xét lúc Hoàng công dựng bia, thì các huyện Yên Mỹ, Mỹ Hào, Văn Lâm và Ân Thi ở phía đông, chưa thuộc bản tỉnh. Vì thế mà bia đề tên người đỗ đại khoa còn thiếu. Tôi đến nhận chức ở thành Đằng đã hai năm, trù liệu khởi công. Trước xây nhà, tường, sau đem họ tên những người đỗ đại khoa trải qua nhiều đời của các huyện mới thuộc tỉnh, kính khắc vào đá. Lấy việc tu bổ kế tiếp người đi trước làm bài ký.

Năm Quý Mùi niên hiệu Bảo Đại thứ 18 (1943).

Tam giáp Tiến sĩ khoa Kỷ Mùi (1919) Binh bộ Thượng thư lĩnh Tổng đốc Hưng Yên, thần Dương Thiệu Tường kính ghi.


Phủ Ân Thi

NGÔ VĂN PHÒNG 吳文房. người xã Phù Vệ, đỗ Nhị giáp triều Lê, làm Thị Lang.

LƯƠNG ĐỨC MẬU 梁德茂. người xã Phù Vệ, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Hàn lâm.

NGUYỄN ĐỘ 阮度. người xã Phù Vệ, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Thượng thư, tước bá.

NGÔ MẬU ĐÔN 吳茂惇. người xã Phù Vệ, đỗ Tam giáp triều Lê, phong tước hầu.

LƯƠNG GIẢN 梁間. người xã Phù Vệ, đỗ Nhị giáp triều Lê, làm Thị lang.

NGUYỄN PHÍ 阮費. người xã Phù Vệ, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Thị lang.

LƯƠNG QUÝ 梁貴. người xã Phù Vệ, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Thị lang.

NGÔ MẬU DU 吳茂愉. người xã Phù Vệ, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Phủ doãn.

NGÔ VĂN CHÍNH 吳文政. người xã Phù Vệ, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Phủ doãn.

ĐỖ THẠNH 杜晟. người xã Phù Vệ, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Giám sát.

VŨ TIẾN VINH 武進榮. người xã Phù Ủng, đỗ Tam giáp triều Lê.

PHAN TRỨ 潘著. người xã Phù Vệ, đỗ Nhị giáp triều Lê.

ĐỖ TRÁC DỊ 杜卓異. người xã Đỗ Xá, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Thị lang.

ĐỖ CUNG 杜珙. người xã Đỗ Xá, đỗ Thám hoa triều Lê, làm Đông các Hiệu thư.

PHẠM HỰU 范祐. người xã Đào Xá, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Tham chính.

PHẠM QUANG CHIẾU 范光照. người xã Đào Xá, đỗ Nhị giáp triều Lê, làm chức Cấp sự.

NGUYỄN HUY ĐIỂN 阮輝典. người xã Đào Xá, đỗ Tam giáp triều Lê.

Huyện Văn Lâm:

HOÀNG ĐỨC LƯƠNG 黃德良. người xã Ngọ Kiều, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Thị lang.

LÊ HANH HUYỄN 黎亨炫, xã Nghĩa Trai, đỗ Tam giáp triều Lê.

NGUYỄN OANH 阮轟. người xã Nghĩa Trai, đỗ Tam giáp triều Lê.

NGUYỄN MINH DƯƠNG 阮明楊. người xã Nghĩa Trai, đỗ Nhất giáp triều Lê, làm Hiến sát.

HOÀNG CHÍNH LIÊM 阮政廉. người xã Nghĩa Trai, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Ngự sử.

NGUYỄN THANH 阮清. người xã Nghĩa Trai, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Thượng thư.

LÊ TUYÊN 黎瑄. người xã Thanh Nga, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Thừa chính sứ.

DƯƠNG PHÚC TƯ 楊福滋. người xã Lạc Đạo, đỗ Nhất giáp triều Lê, làm Tham chính.

DƯƠNG THUẦN 楊淳. người xã Lạc Đạo, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Thượng thư.

DƯƠNG HOÀNG 楊黃, ngưòi xã Lạc Đạo, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Thượng thư.

DƯƠNG NGỌC NGUYÊN 楊玉原. người xã Lạc Đạo, đỗ Nhị giáp triều Lê, làm Thượng thư.

DƯƠNG HẠO 楊浩. người xã Lạc Đạo, đỗ Tam giáp triều Lê, tước Quận công.

DƯƠNG LỆ 楊礪. người xã Lạc Đạo, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Thượng thư.

DƯƠNG QUÁN 楊灌, nguời xã Lạc Đạo, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Giám sát.

DƯƠNG CÔNG THỤ 楊公濧. người xã Lạc Đạo, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Thượng thư.

DƯƠNG TRỌNG KHIÊM 楊仲謙. người xã Lạc Đạo, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Thị lang.

DƯƠNG QUYẾT 楊決. người xã Lạc Đạo, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Tự khanh.

ĐẶNG TÍCH 鄧積. người xã Lộng Đình, đỗ Tiến sĩ triều Lê, làm Đốc học.

Huyện Mỹ Hào:

ĐẶNG TỬ NGHI 鄧子儀. người xã Yên Tập, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Thượng thư.

ĐẶNG KÍNH CHỈ 鄧敬止. người xã Yên Tập, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Thị trung.

LÊ ĐỨC THIỆU 黎德邵. người xã Hòe Lâm, đỗ Nhị giáp triều Lê.

HÀ SÁCH DỰ 何茦譽. người xã Yên Nhân, đỗ Tam giáp triều Lê, làm chức Ngự sử.

NGÔ KHIÊM 吳謙. người xã Yên Nhân, đỗ Nhất giáp triều Lê, làm Thị lang.

VŨ ĐẠO QUANG 武道光. người xã Trung Lập, đỗ Nhị giáp triều Lê, làm Chuyển vận sứ.

PHẠM SỸ THUYÊN 范士銓. người xã Trung Lập, đỗ Tam giáp triều Lê, tước bá.

CHU TÔNG VĂN 朱宗文. người xã Dị Chế, đỗ Tam giáp triều Lê.

VŨ CHÂU 武珠. người xã Dị Chế, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Hiệu lý.

BÙI DĨ ĐẠI 裴以大. người xã Bạch Sam, đỗ Tam giáp triều Lê.

PHẠM XUÂN 范椿. người xã Bạch Sam, đỗ Tiến sĩ triều Nguyễn, làm quan đến chức Ngự sử.

PHẠM VĂN THỤ 范文樹. người xã Bạch Sam, đỗ Tiến sĩ triều Nguyễn, làm Thượng thư, tước nam.

Huyện Yên Mỹ:

NGUYỄN MINH 阮明. người xã Liêu Xá, đỗ Tam giáp triều Lê, làm quan đến chức Thị lang.

LÊ TUẤN NGẠN 黎俊彥. người xã Vĩnh Lộc, đỗ Hội nguyên triều Lê, làm Thượng thư.

NGUYỄN KHỦNG TẢO 阮恐早. người xã Hoàng Đôi, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Thị lang.

PHẠM CÔNG TRỨ 范公著. người xã Liêu Xuyên, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Thượng thư.

PHẠM CÔNG PHƯƠNG 范公芳. người xã Liêu Xuyên, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Cấp sự trung, tước nam.

LÊ HỮU DANH 黎有名. người xã Liêu Xá, đỗ Nhị giáp triều Lê, làm Hiến sát sứ.

LÊ HỮU MƯU 黎有謀. người xã Liêu Xá, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Thị lang.

LÊ HỮU KIỀU 黎有喬. người xã Liêu Xá, đỗ Tam giáp triều Lê, làm ở Bộ Công.

LÊ HỮU HỶ 黎有喜. người xã Liêu Xá, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Ngự sử.

NGUYỄN XUÂN VỊNH 阮春詠. người xã Yên Phú, đỗ Tam giáp triều Lê, làm Hiến sứ.

Chú thích:

1. Dương Thiệu Tường (1895 - ?) người xã Vân Đình tổng Phương Đình huyện Sơn Lãng phủ Ứng Hòa tỉnh Hà Đông (nay là xã Vân Đình huyện Ứng Hòa tỉnh Hà Tây). Cử nhân năm Ất Mão (1915). Ông từng làm Thừa phái Cơ mật viện.

2. Ngô Văn Phòng người xã Phù Vệ, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Thị lang.

3. Lương Đức Mậu người xã Phù Vệ huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan đến Hàn Lâm.

4. Nguyễn Độ (1493 - ?) người xã Phù Vệ huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước bá.

5. Ngô Mậu Đôn (1496 - ?) người xã Phù Vệ huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên), 28. tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên thứ 2 (1523) đời Lê Cung Hoàng. Ông làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước hầu.

6. Lương Giản người xã Phù Vệ huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên thứ 5 (1526) đời Lê Cung Hoàng. Ông làm quan nhà Mạc đến chức Tả Thị lang Bộ Lễ và được cử đi sứ. Sau khi mất, ông được tặng Thượng thư.

7. Nguyễn Phí: Trong các sách đăng khoa lục chưa tìm thấy nhân vật này. Văn bia ghi: người xã Phù Vệ, huyện Đường Hào, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân triều Lê (1526). Làm quan đến chức Thị lang.

8. Lương Quý người xã Phù Vệ, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, năm Nhâm Thìn niên hiệu Đại Chính thứ 3 (1532). Ông làm quan đến chức Tả Thị lang, tước bá. Sau khi mất, ông được tặng Quận công.

9. Ngô Mậu Du: Người xã Phù Vệ, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên), Năm 41 tuổi, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Sửu niên hiệu Thuần Phúc 4 (1565) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ.

10. Ngô Văn Chính (1597 - ?) người xã Phù Vệ huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Phụng Thiên Phủ doãn.

11. Đỗ Thạnh (1615 - ?) người xã Phù Vệ huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên), trú quan xã Đại Bái huyện Gia Định (nay là xã Đại Bái huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Giám sát.

12. Vũ Tiến Vinh (1620 - ?) người xã Phù Ủng huyện Đường Hào (nay thuộc xã Phù Ủng huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Thi đỗ Tiến sĩ khoa Canh Thìn, niên hiệu Dương Hoà thứ 6 (1640) đời vua Lê Thần Tông. Ông làm quan đến chức Tự khanh, tước bá. Sau khi mất, ông được tặng Hữu Thị lang Bộ Binh, tước tử.

13. Phan Trứ (1794-?) tự là Thành Chương , người xã Phù Ủng tổng Chiêu Lai huyện Đường Hào phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương (nay thuộc xã Phù Ủng huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm viện, Viên ngoại lang Bộ Hình, Án sát Quảng Bình, Thị lang Bộ Lại, Bố chánh Bình Định và Bắc Ninh, Tuần phủ Thuận Khánh.

14. Đỗ Trác Dị (1515 - ?) người xã Đỗ Xá, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên), trú quán xã Phù Vệ (nay thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). 33. tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Đinh Mùi niên hiệu Vĩnh Định thứ 1 (1547) đời Mạc Phúc Nguyên. Làm quan đến chức Tả Thị lang.

15. Đỗ Cung (1555 - ? ) xã Đỗ Xá huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên), trú quán xã Phù Vệ (nay thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên), 26. tuổi đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, khoa Canh Thìn niên hiệu Diên Thành thứ 3 (1580) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Đông các Hiệu thư.

16. Phạm Hựu (1522- ) người xã Đào Xá huyện Đường An (nay thuộc xã Bãi Sậy, huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên), 50. tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Tân Mùi niên hiệu Sùng Khang thứ 6 (1571) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Tham chính.

17. Phạm Quang Chiếu (1650 - ?) người xã Đào Xá huyện Đường An (nay thuộc xã Bãi Sậy huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Cấp sự trung. Sau khi mất, ông được tặng chức Đô Cấp sự trung.

18. Nguyễn Huy Điển: trong các sách đăng khoa lục chưa tìm thấy nhân vật này. Văn bia ghi: người xã Đào Xá huyện Đường An. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân triều Lê.

19. Hoàng Đức Lương nguyên quán xã Cửu Cao huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Cửu Cao huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), trú quán xã Ngọ Cầu (nay thuộc thị trấn Như Quỳnh huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan thăng đến chức Tả Thị lang Bộ Hộ và từng được cử đi sứ sang nhà Minh.

20. Lê Hanh Huyễn (1458-?) người xã Nghĩa Trai huyện Gia Lâm phủ Thuận An (nay thuộc xã Tân Quang huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 9 (1478) đời Lê Thánh Tông. Ông làm quan Đô Cấp sự trung.

21. Nguyễn Oanh người xã Nghĩa Trai huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Tân Quang huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Đô Ngự sử.

22. Nguyễn Minh Dương (1522 - ?) người xã Nghĩa Trai huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Tân Quang huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên), năm 29 tuổi đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Lịch thứ 3 (1550) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Hiến sát sứ, tước Mặc Khê bá.

23. Hoàng Chính Liêm người xã Nghĩa Trai huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Tân Quang huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490) đời Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Đô Ngự sử.

24. Nguyễn Thanh (1467 - ?) người xã Nghĩa Trai huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Tân Quang huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Sau ông theo nhà Mạc và làm quan đến Thượng thư Bộ Lễ kiêm Đông các Đại học sĩ, Nhập thị Kinh diên, tước Văn Đàm bá.

25. Lê Tuyên người xã Thanh Nga huyện Tế Giang (nay thuộc xã Đồng Than huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Thống thứ 2 (1499) đời Lê Hiến Tông. Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ.

26. Dương Phúc Tư (1505-1564) người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Lạc Đạo huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên), 43. tuổi đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, khoa Đinh Mùi niên hiệu Vĩnh Định thứ 1. (1547) đời Mạc Phúc Nguyên. Trước ông làm quan cho nhà Mạc đến chức Tham chính, sau theo nhà Lê và được giữ chức cũ, về dạy học, học trò nhiều người thành đạt.

27. Dương Thuần (1587-1667) người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Lạc Đạo huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông giữ các chức quan, như Thừa chính sứ, Hữu Thị lang, tước Nho Lâm bá. Sau khi mất, ông được truy tặng Thượng thư Bộ Hình, tước hầu.

28. Dương Hoàng (1597-1656) người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm (nay là xã Lạc Đạo huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Công, tước Thọ Lâm hầu. Sau khi mất, ông được tặng Thượng thư.

29. Dương Ngọc Nguyên: Bia Văn miếu Hà Nội cho biết, khi đi thi ông lấy tên là Trần Ngọc Nguyên, sau đổi là Trần Ngọc Hậu (1607-?) người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm (nay là xã Lạc Đạo huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông giữ các chức quan, như Tả Thị lang Bộ Binh, Bồi tụng, tước Quế Phương tử. Sau khi mất, ông được tặng chức Thượng thư Bộ Công. Bia Văn miếu Xích Đằng ghi là Dương Ngọc Nguyên.

30. Dương Hạo (1615-1672) người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm (nay là xã Lạc Đạo huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông là con của Dương Thuần, làm quan đến Ngự sử đài Đô Ngự sử và từng được cử đi sứ sang nhà Minh.

31. Dương Lệ (1687-1761) người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm (nay là xã Lạc Đạo huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Công. Sau khi mất, ông được tặng chức Thượng thư, tước hầu.

32. Dương Quán (1687 - ?) người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Lạc Đạo huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Giám sát.

33. Dương Công Thụ (1696 - ?) người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm (nay là xã Lạc Đạo huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lại. Sau khi mất được tặng chức Thượng thư, tước Quận công. Có tài liệu phiên là Dương Danh Thụ.

34. Dương Trọng Khiêm (1727-1787) người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Lạc Đạo huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm Hiệu lý, Thiêm đô Ngự sử. Sau ông đổi tên là Dương Trọng Tế.

35. Dương Quyết (1716-1779) người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Lạc Đạo huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan chức Đại lý Tự khanh, Thự Tham chính xứ Sơn Tây. Sau khi mất, ông được tặng hàm Đông các Đại học sĩ, tước Gia Phái bá. Có tài liệu ghi tên ông là Dương Sử.

36. Đặng Tích (1845- ) người xã Lộng Đình huyện Siêu Loại (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh), đỗ Cử nhân khoa Giáp Thân (1884), 45. tuổi đỗ Phó bảng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái 1. (1889). Ông giữ các chức, như: Tu soạn lĩnh Giáo thụ, Kiểm thảo. Có tài liệu ghi là Đặng Quỹ.

37. Đặng Tử Nghi người xã Yên Tập huyện Đường Hào (nay thuộc xã Nhân Hoà huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 15. (1484) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Thượng thư.

38. Đặng Kính Chỉ (1533 - ?) người xã Yên Tập huyện Đường Hào (nay thuộc xã Nhân Hòa huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Lại khoa Cấp sự trung, Nhập thị Kinh diên, tước bá.

39. Lê Đức Thiệu (1453 - ?) người thôn Hòe Lâm huyện Đường Hào (nay thuộc xã Ngọc Lâm huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

40. Hà Sách Dự (1682 - ?) người xã Yên Nhân huyện Đường Hào (nay là thị trấn Bần Yên Nhân huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên). Ông thi Hương đỗ Giải nguyên, làm quan Huấn đạo, thăng đến chức Giám sát Ngự sử.

41. Ngô Khiêm (1523- ) người xã Yên Nhân huyện Đường Hào (nay thuộc thị trấn Bần Yên Nhân huyện Mỹ Hào ỉnh Hưng Yên), 40. tuổi đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, khoa Nhâm Tuất niên hiệu Quang Bảo thứ 9. (1562) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Tả Thị lang.

42. Vũ Đạo Quang ( - ) người xã Trung Lập huyện Đường Hào (nay thuộc xã Dị Sử huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2. (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Làm quan đến chức Chuyển vận sứ.

43. Phạm Sĩ Thuyên (1697 - ?) người xã Trung Lập huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan đến Hàn lâm Thị thư, tước bá.

44. Chu Tông Văn người xã Đa Sĩ huyện Đường Hào (nay thuộc xã Dị Sử huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2 (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Ông làm quan đến chức Đông các Đại học sĩ và được cử đi sứ nhà Minh.

45. Vũ Châu người xã Dị Sử huyện Đường Hào (nay thuộc xã Dị Sử huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2 (1499) đời vua Lê Hiển Tông. Ông làm quan đến chức Hàn lâm viện Hiệu lý và được cử đi sứ nhà Minh.

46. Bùi Dĩ Đại người xã Bạch Sam huyện Đường Hào (nay thuộc xã Bạch Sam huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên), đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh thứ 4. (1508) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến chức Đoán sự.

47. Phạm Xuân (1850 - ?) người xã Bạch Sam huyện Đường Hào (nay thuộc xã Bạch Sam huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên), 26. tuổi đỗ Phó bảng khoa Ất Hợi niên hiệu Tự Đức 28 (1878). Ông làm quan đến chức Ngự sử.

48. Phạm Văn Thụ (1858-1930), hiệu là Đông Bạch Phái 東 白 派, tự Đàn Viên 檀 園, người xã Bạch Sam huyện Đường Hào (nay thuộc xã Bạch Sam huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên), đỗ Cử nhân năm Tân Mão (1891), 26. tuổi đỗ Phó bảng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Thành Thái thứ 4 (1892). Ông giữ các chức quan, như: Liêm phóng sứ phủ Thống sứ (Pháp), Tri phủ Tiên Hưng, Tổng đốc Nam Định, Thượng thư Bộ Hộ.

49. Nguyễn Minh (1449 - ?) người xã Liêu Xá huyện Đường Hào (nay thuộc xã Liêu Xá huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên), 21. tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu niên hiệu Quang Thuận thứ 10 (1469) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan Tả Thị lang.

50. Lê Tuấn Ngạn người xã Vĩnh Lộc huyện Tế Giang (nay thuộc huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Hội nguyên, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 3 (1472) đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan Thượng thư, Tham chưởng Hàn lâm viện sự và được cử đi sứ nhà Minh.

51. Nguyễn Khủng Tảo: Trong các sách đăng khoa lục chưa tìm thấy nhân vật này. Văn bia ghi: người xã Hoàng Đôi, đỗ Tam giáp triều Lê, làm quan đến chức Thị lang.

52. Phạm Công Trứ (1602-1675) người xã Liêu Xuyên huyện Đường Hào (nay thuộc xã Nghĩa Hiệp huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên). Ông giữ các chức quan, như Tham tụng, Thượng thư Bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ, Chưởng Lục bộ sự, hàm Thiếu bảo, được ban Quốc lão, tước Yên Quận công, sau thăng Thái tể và thụy là Trung Cần.

53. Phạm Công Phương (1642 - ?) người xã Liêu Xuyên huyện Đường Hào (nay thuộc xã Nghĩa Hiệp huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên). Ông là con Phạm Công Trứ. Ông làm quan Cấp sự trung. Sau khi mất, ông được tặng chức Khoa Đô Cấp sự trung Bộ Binh, tước nam.

54. Lê Hữu Danh (1642 - ?) người xã Liêu Xá huyện Đường Hào (nay thuộc xã Liêu Xá huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên). Ông là cha của các ông Lê Hữu Hỷ, Lê Hữu Mưu và Lê Hữu Kiều. Ông làm quan đến chức Hiến sát sứ. Sau khi mất, ông được tặng chức Tả Thị lang, tước Văn Uyên bá.

55. Lê Hữu Mưu (1675 - ?) người xã Liêu Xá huyện Đường Hào (nay là xã Liêu Xá huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên). Ông là con của Lê Hữu Danh, em của Lê Hữu Hỷ, anh của Lê Hữu Kiều và là cha của Lê Trọng Tín. Ông giữ các chức quan, như Hữu Thị lang Bộ Công, Nhập thị Kinh diên. Sau khi mất, ông được tặng Tả Thị lang Bộ Công.

56. Lê Hữu Kiều (1691-1760) hiệu là Tốn Trai , người xã Liêu Xá, huyện Đường Hào (nay thuộc xã Liêu Xá huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên). Ông là con của Lê Hữu Danh, chú Lê Trọng Tín và là cha của Lê Hữu Dụng. Ông giữ các chức quan, như: Tư vụ ở Bộ Hộ, quyền Hiến sát sứ Kinh Bắc, Hàn lâm viện Thừa chỉ kiêm Hữu Thị lang Bộ Công và được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh; thăng Tả Thị lang Bộ Công, tước Liêu Đình bá; thăng Đô đài, Thượng thư Bộ Công; rồi làm Tham tụng, Đốc trấn Thái Nguyên, Tham tri Nghệ An, Thượng thư Bộ Binh, Thượng thư Bộ Lễ, tước Liêu Đình hầu. Sau khi mất, ông được tặng hàm Thiếu phó, tước Liêu Quận công.

57. Lê Hữu Hỷ (1674 - ?) người xã Liêu Xá huyện Đường Hào (nay là xã Liêu Xá huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên). Ông là con Lê Hữu Danh, là anh Lê Hữu Mưu và Lê Hữu Kiều. Ông làm quan Giám sát Ngự sử.

58. Nguyễn Xuân Vịnh (1680 - ?) người xã Yên Phú huyện Đường Hào (nay thuộc xã Giai Phạm huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Hiến sát sứ.




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 30.09.2015, sửa lần 5
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 20.09.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CHÙA CHUÔNG

Chùa Chuông có tên chữ là “Kim Chung tự” (金鍾寺) nằm tại thôn Nhân Dục, phường Hiến Nam, thành phố Hưng Yên; được mệnh danh là "Phố Hiến đệ nhất danh thắng". Trong quần thể di tích Phố Hiến, chùa Chuông nằm trước, Văn miếu Xích Đằng nằm sau, thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa Phật giáo và Nho giáo.

Chùa được xây dựng từ thời Hậu Lê (thế kỷ XV) và trải qua một cuộc trùng tu lớn vào năm 1707, tạo nên chùa hoàn chỉnh như ngày nay. Năm 1992, chùa Chuông đã được Bộ Văn hóa-Thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật.

Theo truyền thuyết, một năm nọ xuất hiện nạn đại hồng thủy, có một quả chuông vàng trên một chiếc bè trôi vào bãi sông thuộc địa phận thôn Nhân Dục thuộc tổng An Tảo, huyện Kim Động, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Dân các nơi đua nhau kéo chuông về thôn mình, nhưng không sao kéo nổi, duy chỉ có những bô lão thôn Nhân Dục mới kéo được chuông về. Dân làng cho là trời Phật phù hộ, bèn góp công góp của dựng một ngôi chùa nhỏ, xây lầu để treo chuông. Mỗi lần đánh, tiếng chuông vang xa hàng vạn dặm, do vậy mà dân gian gọi chùa là chùa Chuông, còn tên chữ của chùa là “Kim Chung tự” (chùa Chuông Vàng).

Chùa có kết cấu kiến trúc kiểu "nội công ngoại quốc", nghĩa là nhìn từ trên cao xuống, các công trình bên trong tạo nên hình chữ “công”, còn nhìn toàn cảnh thì thấy như hình chữ “quốc”.

Mặt tiền của chùa quay về hướng Nam, là hướng của Bát nhã và Trí tuệ. Chùa được bố trí cân xứng trên một trục, trải dài từ cổng Tam quan đến Nhà tổ. Các công trình kiến trúc bao gồm: Tiền đường, Thượng điện, Nhà tổ, Nhà mẫu và hai dãy hành lang.

Qua cổng Tam quan là tới ba nhịp cầu bắc ngang qua ao long nhãn (mắt rồng). Cây cầu được xây bằng đá xanh năm 1702. Tiếp đến là con đường độc đạo cũng được lát đá xanh dẫn thẳng đến nhà Tiền đường. Theo quan niệm của nhà Phật, đây là con đường chân chính dẫn dắt loài người thoát khỏi bể khổ.

Nhà Tiền đường có quy mô năm gian hai chái, kết cấu kiểu “con chồng đấu sen”. Nối giữa Tiền đường và Thượng điện là khoảng sân rộng, giữa sân có cây hương đá, còn gọi là "Thạch trụ", bốn mặt khắc chữ Hán-Nôm, ghi công đức của các vị đóng góp tu sửa chùa.

Thượng điện cũng gồm năm gian hai chái, kết cấu giống nhà Tiền đường, mang đậm nét kiến trúc thời Hậu Lê. Hệ thống tượng ở Thượng điện được bài trí theo thứ tự: trên cùng là 3 pho Tam Thế; tiếp đến là A-di-đà và tứ Bồ Tát; lớp dưới là hai vị Văn Thù và Phổ Hiền; tiếp theo là Ngọc Hoàng cùng hai vị Nam Tào, Bắc Đẩu chuyên giữ sổ sách sinh tử dưới Hạ giới; tiếp nữa là Địa Tạng Vương và Phạm Thiên, Đế Thích; sau cùng là tòa Cửu Long và tượng Thích Ca sơ sinh.

Ở hai đầu phía Đông và phía Tây nối nhà Tiền đường và nhà Mẫu là hai dãy hành lang, kiến trúc kiểu “kèo cầu quá giang” đơn giản. Hai dãy hành lang được bài trí đối xứng các lớp tượng khác nhau. Đầu tiên là động "Thập điện Diêm Vương", với những bức phù điêu khắc gỗ mô tả cảnh nhục hình dưới cõi âm. Đó chính là triết lý nhân quả của nhà Phật. Người ta tin rằng, con người sống trên dương thế, khi từ giã cõi trần, phải trải qua 10 cửa điện để Diêm Vương xét hỏi công và tội. Ứng với mỗi tội đồ là một hình phạt khủng khiếp. Tiếp đến là 8 pho tượng Bát Bộ Kim Cương, sau đó là 18 pho tượng "Thập bát La Hán", 18 vị được tạo tác trong tư thế ngồi sinh động, trông rất đời thường. Nét độc đáo của các pho tượng La Hán không phải chỉ ở sự khéo léo trong cách tạo tác, mà còn ở cảm xúc nội tâm được biểu hiện qua từng khuôn mặt buồn, vui, trầm tư... mỗi người một vẻ. Cuối dãy hành lang là tượng Đức Ông, đứng bên cạnh có hai pho tượng Già Lan và Chân Tể; và tượng Đức Thánh Hiền, đứng bên cạnh là Diệm Nhiên và Đại Sĩ.

Một trong những hiện vật có giá trị nhất còn lưu giữ lại chùa là tấm bia đá dựng năm Vĩnh Thịnh thứ 7 (1711), ghi danh những người công đức tu sửa chùa. Ngoài ra, bia cũng miêu tả cảnh đẹp của Phố Hiến và đặc biệt, một số phường, như các phường Hàng Bè, Hàng Sũ, Thợ Nhuộm, Cự Đệ, Hàng Thịt... mà nay chỉ còn trong dĩ vãng.

Hằng năm, vào dịp đại lễ Phật Đản, dịp xuân về, chùa Chuông lại tổ chức lễ hội, thu hút đông đảo nhân dân trong vùng và khách thập phương.

Chùa Chuông cùng các danh thắng khác trong quần thể di tích Phố Hiến là một điểm đến không thể bỏ qua của du khách đến Hưng Yên.




Cổng Tam quan



Lá cờ



Cây đại



Đường vào qua ao Mắt rồng



Sân chùa với con đường lát đá xanh



Bộ vì kèo ở nhà Tiền đường



Thập điện Diêm Vương



Bản dịch quốc ngữ “Kim chung tự thạch bi ký” (Bia đá chùa Chuông Vàng)



Hai ngôi mộ tháp



Bài giới thiệu về chùa Chuông.
Đáng tiếc là một doanh nghiệp viễn thông lại tận dụng cơ hội để… quảng cáo.

Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 21.09.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

ĐẢO CÒ HƯNG YÊN

Nghe một cán bộ cốt cán của Sơn Nam Plaza kêu gọi đi tham quan Đảo Cò, tôi cứ nghĩ xa lắm. Thật ngạc nhiên khi ở chùa Chuông ra, đi có “mấy bước”, đã tới. Xuống ô tô, đi vào một công viên hay vườn hoa gì đấy trong lòng thành phố, tôi vẫn ngớ người trước câu hỏi: Đảo Cò ở đâu nhỉ.

Trong công viên thấy một hồ nước rộng cỡ Hồ Hoàn Kiếm. Giữa hồ có một đảo nhỏ, cây cối um tùm, bé xíu như đảo Hòa Bình trong công viên Thống Nhất ở Hà Nội. Lúc 3 giờ chiều, thấp thoáng vài bóng cò đu đưa trên các lùm cây.

Anh cán bộ kể, hồ này trước có tên là đầm Lò Lồi, đầm Lò Nồi, hay hồ Nhọ Nồi, trông chẳng khác gì một bãi sình lầy. Thập niên 1990, bỗng dưng cò kéo về, nhưng hồi ấy còn thưa thớt lắm, chứ chưa đông đúc như bây giờ. Năm 2003, Thành phố tiến hành cải tạo đầm và tôn tạo khu vực xung quanh thành Công viên Nam Hòa; và đề xuất với tỉnh phương án bảo tồn đàn cò. Công trình được hoàn thành vào năm 2005. Cùng năm, Đảo Cò được tôn cao và trồng cây xanh với diện tích gần 4.000 m2. Hồ trong Công viên đổi tên thành hồ An Vũ, hay hồ Nam Hòa. Lòng hồ rộng hơn 12 ha được nạo vét, làm sạch, lấy nguồn thức ăn dồi dào cho cò. Nhờ thế, cò rủ nhau lên đảo làm tổ, sinh con đẻ cái mỗi ngày một nhiều. Để bảo tồn, phát triển đàn cò tốt hơn nữa, người ta trồng tre ta quanh đảo để giữ đất, tránh sạt lở, đồng thời bổ sung thêm tre Tàu (tre Bát độ) nhằm tạo thêm chỗ sống cho đàn cò, vì thân cành loài tre này mềm mại song dẻo dai, dễ đu đưa trước gió. Kể ra, cạnh hồ An Vũ còn có hai hồ khác sát gần đấy (nhưng không có đảo), nên không khí cả vùng mát rượi, rất thích hợp với cò.

Ước tính, trên đảo hiện có khoảng 40 vạn con cò với đủ các giống: cò đen, cò trắng, cò mỏ vàng, mỏ trắng...

Dân địa phương cho biết, sáng sớm và chiều tối là thời điểm dễ quan sát cò nhất. Từ bất kỳ tòa nhà cao tầng nào trong thành phố đều có thể nhìn thấy những cánh cò trắng chao liệng trên không. Chúng tản đi kiếm ăn rồi lại bay rợp trời về tổ mỗi chiều.

Dân ở đây đã quen với nhịp sống có những cánh cò. Trước mỗi trận mưa lớn, cò đập cánh chao liệng hàng giờ đồng hồ như báo hiệu, còn âm thanh vỗ cánh, gọi bầy của cò mỗi sớm đối với người dân lại giống như đồng hồ báo giờ giấc. Cứ đến 5 giờ chiều là cò về trắng hồ. Lúc đấy, bà con đi tập thể dục tha hồ ngắm cò bay.

Đảo Cò cách bờ chỉ khoảng 70 mét, mực nước hồ nông, chỉ có một bảo vệ trông coi công viên rộng “bao la”, nên không khó nếu kẻ nào đó muốn vào đảo săn bắt cò hay nhặt trứng. Tuy nhiên, an ninh ở đây an toàn, thanh bình đến bất ngờ. Hình ảnh người dân thường gặp là những chú cò ướt lướt thướt dạn dĩ bách bộ trước cửa các quán cà phê ven Công viên. Cò bay lạc vào vườn nhà dân sẽ được người dân thả về trời. Không một tấm biển cấm tắm giặt, cấm vứt rác, đổ rác, nhưng nước hồ vẫn trong veo. Từng đàn cò liệng ra mép nước rỉa lông mà không gặp bất kỳ sự trêu chọc, phá hoại nào từ những người hóng mát.

Do chuẩn bị không kỹ, nên máy ảnh của tôi hết pin, không chụp được tấm ảnh nào về Đảo Cò.



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 23.09.2013, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
khanhque
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Dec 08, 2005
Bài gửi: 517
Đến từ: Hanoi, Vietnam

Bài gửigửi: 21.09.2013    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Bái phục PhanHong. Tiếng là người Hưng Yên thật mà Khanhque cũng chưa có dịp khám phá, nghiên cứu những địa chỉ du lịch chu đáo như PhanHong. Quả đáng tội thỉnh thoảng có công việc ở dưới tỉnh lỵ, nay là Thành phố kết hợp mình cũng ghé qua những mấy địa điểm trên dưng mà toàn vội vã, kiểu cưỡi ngựa xem hoa thôi. Có ông bạn thơ nhà gần Văn Miếu Xích Đặng hẹn hò dẫn đi khám phá mà vẫn chưa có dịp. Nay lại được PhanHong giới thiệu khá kỹ đâm ra hơi bị ngượng blushing .
Có dịp nào thích hợp mời PhanHong về thăm huyện Khanhque có chùa Nôm cũng cổ kính đấy.

Trong dân gian ở đây có câu: "Đồng nát về với cầu Nôm/ Con gái nỏ mồm về ở với cha"

Đây là cầu đá - lối vào làng Nôm ngày xưa




Tam quan cổng gỗ chùa Nôm





Nhà thờ Tổ chùa


Lầu chuông



Gác trống


Vườn mộ tháp


Cầu đá mới dẫn ra Lầu Quan Âm




Cổng cổ


cây phượng già
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn MSN Messenger
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5  Trang kế
Trang 2 trong tổng số 5 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser