vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - Vài cảm nghĩ về các nhà văn
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

Vài cảm nghĩ về các nhà văn
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 16, 17, 18 ... 44, 45, 46  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 05.12.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

VÀI CẢM NGHĨ ...

Đọc xong 50 bài thơ, tôi có cảm nghĩ, tác giả đã lấy nhãn quan của một giáo viên dạy văn để nghiên cứu và xem xét các bậc tiền bối tài hoa.

Tôi không thấy những cái tên (tài hoa) như Tế Hanh, Anh Thơ, Nguyễn Đình Thi, Tố Hữu, Nguyên Ngọc, Phan Tứ, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Duy... vân vân.

Cũng có thể, Nguyễn Vũ Tiềm mới trưng ra 50 cái tên, và dự định sẽ còn trưng ra thêm nữa.

Biết là rất cảm tính và chủ quan, tôi cứ mạnh dạn nêu các "cảm nghĩ" võ đoán của mình.

* Nguyễn Trãi
Tác giả trích nguyên vẹn một câu thơ trong bài thơ "Vịnh cây chuối" viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Trãi. Tôi nhớ, bài này rất khó giảng, vì vần điệu trúc trắc, chữ nghĩa theo lối cổ, nên học sinh mới đọc qua, thấy nó cứ ngô nghê thế nào ấy.

Một bài thơ chữ Nôm khác trong sách giáo khoa của Nguyễn Trãi "dễ nuốt" hơn. Ấy là bài:

Góc thành Nam
Lều một gian
No nước uống
Thiếu cơm ăn
Con đòi trốn
Dễ ai quyến
Bà ngựa gầy
(có sách in là Bầy ngựa gầy)
Thiếu kẻ chăn
......

----------------------------------
* Nguyễn Bỉnh Khiêm
Không hay lắm.
-----------------------------------
* Đoàn Thị Điểm
Bài thơ viết theo thể song thất lục bát, là thể thơ của "Chinh phụ ngâm" (bản dịch tiếng Việt của Cung oán ngâm khúc)
Ngắn nhưng hay.
-----------------------------------
* Bà huyện Thanh Quan
Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú, là thể thơ Bà huyện Thanh Quan đã dùng làm hai bài trong sách giáo khoa là "Qua đèo Ngang" và "Thăng Long thành hoài cổ".

Nguyễn Vũ Tiềm trích cả hai bài này bốn câu thơ cuối.

Mảnh tình riêng ấy mang trang trải
Mấy tịch dương rồi chưa dễ vơi
Câu thơ thuở ấy leo đèo vắng
Heo hút đang còn lạnh đến tôi.


Chữ "leo" cực đắt.
Tôi mạnh dạn sửa chữ "chưa" thành chữ "chửa".
-----------------------------------
* Nguyễn Du
Thật tiếc là Nguyễn Vũ Tiềm không lẩy Kiều.
Qua những bài viết về Vũ Ngọc Phan, Trần Huyền Trân, hay Nguyễn Bính, thấy "khả năng" làm thơ lục bát của ông không xoàng tẹo nào.
-----------------------------------
* Hồ Xuân Hương
Bài thơ viết theo thể Đường luật thất ngôn bát cú, là thể thơ Hồ Xuân Hương hay làm.

Bài thơ có dư vị của bài "Vịnh ốc nhồi" cùng các câu "Giơ tay với thử trời cao thấp", "Chém cha cái kiếp lấy chồng chung" của "bà chị" đành hanh đanh đá cá cầy.
-----------------------------------
* Lê Ngọc Hân
Nhắc đến bài "Ai tư vãn" và Nguyễn Vũ Tiềm chơi chữ ở câu thơ thứ hai.
-----------------------------------
* Cao Bá Quát
Nguyễn Vũ Tiềm nhắc đến sự kiện dưới thời Tự Đức, giám khảo Cao Bá Quát lấy muội đèn dầu chữa bài cho thí sinh trong kỳ thi, bị phát hiện và bị phạt. Ông cũng nhắc tới sự kiện Cao Bá Quát chữa thơ vua Tự Đức (vốn hay thơ), nên bị vua ghét (dù chữa đúng). Về sau, nhà thơ khảng khái tham gia khởi nghĩa chống lại triều đình ở vùng chùa Thầy (Hà Tây), bị bắt và bị giết.
-----------------------------------
* Nguyễn Đình Chiểu
Lại tiếc vì Nguyễn Vũ Tiềm không lẩy ... "Lục Vân Tiên", hay chí ít thì làm một bài văn tế.
-----------------------------------
* Nguyễn Khuyến
Bài này rất hay. Có đủ hương vị mùa thu nơi vùng chiêm trũng Bình Lục, Hà Nam. Tác giả "họa" rất khéo bài "Khách đến chơi nhà" in trong sách giáo khoa.
-----------------------------------
* Tú Xương
Bài này bắt chước giọng điệu Tú Xương, song chưa được "nhuyễn".
-----------------------------------
* Tản Đà
Bài lục bát, phỏg theo điệu "Thề non nước".
Tôi muốn đổi chữ "hai mươi" thành "đôi mươi", nghe dân dã hơn.
-----------------------------------
* Ngô Tất Tố
Câu cuối tạm được.
-----------------------------------
* Khái Hưng
Không thích lắm. Chưa đủ độ lãng mạn.
-----------------------------------
* Hoàng Ngọc Phách
Ít ấn tượng, có lẽ do tôi chưa đọc "Tố Tâm".
-----------------------------------
* Đặng Thai Mai
Không thích lắm.
-----------------------------------
* Nguyễn Công Hoan
Không khoái lắm.
Tác giả nhắc đến chi tiết Nguyễn Công Hoan bị mật thám Pháp không cho dạy học ở Hà Nội, mà bắt xuống Trà Cổ dạy học.
-----------------------------------
* Thế Lữ
Trong bài này, ngẫu nhiên xuất hiện 2 lần chữ "Thế".
-----------------------------------
* Hoài Thanh
Tạm được.
-----------------------------------
* Thạch Lam
Hai câu cuối vút lên rất hay. Tôi mạn phép ghép thêm chữ "lạnh".
-----------------------------------
* Nguyễn Tuân
Tác giả nhắc đến nhiều tên tác phẩm bất hủ và cuộc đời xê dịch (rong chơi) của Nguyễn.
-----------------------------------
* Tú Mỡ
* Đồ Phồn
* Thanh Tịnh
Ba bài này cô đọng, xúc tích, thú vị.
-----------------------------------
* Vũ Trọng Phụng
Tạng tôi không khoái bài này lắm.
-----------------------------------
* Nguyễn Huy Tưởng
Bốn câu đầu được. Càng về sau, càng đuối dần.
-----------------------------------
* Hàn Mặc Tử
Tôi chờ đợi và tiếc là không thấy Nguyễn Vũ Tiềm thể hiện theo phong cách hai bài "Đây thôn Vỹ Dạ" và "Mùa xuân chín".
-----------------------------------
* Nguyễn Nhược Pháp
Bài này hay. Khâm phục sự tìm tòi về mặt ngôn ngữ của tác giả.
-----------------------------------
* Vũ Ngọc Phan
Lời ca dao thật nuột.
-----------------------------------
* Trần Huyền Trân
Bài này thú vị, gợi nhớ nhóm "Áo bào gốc liễu" thuở nào.

Trong Thi nhân Việt Nam cái tên Trần Huyền Trân đặt ở cuối cùng và Hoài Thanh không trích nguyên vẹn bài nào của ông, chắc hồi ấy sự nghiệp thơ của ông chưa nổi lắm. Trong "Chân dung nhà văn", Xuân Sách không "nhớ" tới tên ông.

Cái bút danh lạ lùng ấy ám ảnh tôi nhiều lần, và phải đến năm đọc "Những gương mặt" của Tô Hoài, tôi mới thấy sáng tỏ đôi chút.

Hồi ức của Tô Hoài viết:

"Có lần, trên hồ Tây, Nguyễn Huy Tưởng đã hỏi Trần Huyền Trân:

- Tại sao cậu lại dùng cái bút danh khăn yếm như thế, dẫu cho đó là tên một tuyệt tác giai nhân?

Câu hỏi cũng là một nhận xét. Nhà tiểu thuyết lịch sử ấy đã thấy gợn gợn khi xem ra cái tên kiều diễm không hợp chút nào với dáng dấp con người nhà thơ Trần Huyền Trân, nước da bánh mật, ánh mắt thăm thẳm và cặp mày xếch, từ thuở nào tới giờ vẫn dường như khắc khổ, nhưng lại trang nhã và phảng phất vẻ gì giăng gió.

Trần Huyền Trân chỉ lặng lẽ mỉm cười.

- Ồ, cái nàng công chúa Huyền Trân nhất thực đa tình nọ, nào có bận đất đến nhà thơ của chúng ta.

Người con gái tài sắc phải bán mình sang Chiêm để cho vua cha được người la dâng đất châu Ô, châu Ri. “Nước non ngàn dặm ra đi... Mượn màu son phấn, đến nợ Ô Ly... Thế rồi cái anh chàng tướng trẻ tài hoa Trần Khắc Chung kia phụng mệnh sang Chiêm cứu nàng khỏi bị nạn thiêu sống bởi phải chịu tang chồng, đã dùng mưu đưa được người đẹp từ giàn lửa ra bờ bể làm lễ chiêu hồn ở ven trời". Rồi lại cướp được Huyền Trân thoát xuống thuyền. Con thuyền trở về lênh đênh mãi ngoài khơi qua những cửa Thần Phù, Tuần Vương bao nhiêu tháng, bao nhiêu lần mà cố tình vẫn chưa nhìn ra đường nước vào bến. Đôi trai gái đã để lại thế gian một trang tình sử cực não nùng.

Ai đếm được, làm sao kể xiết biết bao nông nồi đẹp và buồn trong đời tình của mỗi tuổi trẻ. Thuở ấy có người mê thơ Trần Huyền Trân, nhiều năm ròng, bàn tay yêu kiều ở một thị trấn trung du ủ bóng đồi cọ đã thêu những bài thơ Trần Huyền Trân trên lụa, chữ lụa. Năm tháng qua đi, “Mặt nhau chưa từng biết. Tiếng nhau chưa từng nghe” (Trần Huyền Trân) chẳng khi nào ai biết ai. Nhưng biết rằng, thế là đã gặp những chiêm bao không gì sánh nổi, không bao giờ có được.

***
(.....)

Bạn yêu thơ chắc còn nhớ những "sang sông", "sang ngang", "bốn trời", và "bến cát xa" không phải của riêng Trần Huyền Trân. Hình ảnh những chữ mênh mang man mác ấy cũng thường thấy ở thời kỳ ấy trong thơ và tên bài thơ, tên truyện ngắn của Thâm Tâm, của Nguyễn Bính.

Đó là những câu chuyện thơ mộng có và không có của một thời, của một lứa tuổi, một lớp người.

Cái bút danh Trần Huyền Trân cũng thế, đấy là sự tích một thiên trong những pho tình sử não lòng người thơ. Huyền Trân không bận, không dính dáng chút nào đến cô công chúa nhà Trần dan díu với Trần Khắc Chung mà Nguyễn Huy Tưởng đã hỏi.

Huyền Trân này là cái tên của những ngày khốc liệt, oan nghiệt.

Ơi hỡi! Đứa con không có tên
Nằm trong xác bụng mẹ vô duyên
Con lên mẩm sống trong lòng chết...


(Cái thai hoang, 1942)

Ngày trước, Trần Huyền Trân có viết một tiểu thuyết tên là Sau ánh sáng. Những cảnh và người quanh phố Khâm Thiên trong tiểu thuyết được miêu tả như một tự truyện, những lều cá, những bè rau muống trên các ao chuôm, cống rãnh khúc khuỷu cạnh ngõ Sơn Nam, ngõ Liên Hoa qua Cống Trắng, sau ánh sáng của nơi ăn chơi nghiêng trời.

Thời ấy, những người cơ cực các nơi lên thành phố kiếm cái sống đều tìm chỗ trú ngụ ở vùng bãi sông Hồng và bám vào các rìa phố phường như thế. Sau lưng, phố Khâm Thiên đủ loại trác táng và bài bạc, những lầu xanh chỗ chơi của người phong lưu, nhà thổ đèn đỏ cho người kiết xác, các tiệm nhảy Pa-gốt, Ta-na-ka, thời Pháp - Nhật. Nhưng ngay ở nơi mà hai chữ Khâm Thiên dễ làm cho người ta ngày nay tưởng ở đấy chỉ rặt những cảnh đêm ngày ném tiền qua cửa sổ, không phải, còn vô số những con người lênh đênh giạt đến các nhà hát làm đào rượu, một loại gái điếm chuyên đứng quạt, hầu rượu, ăn ghẹ rồi mắc màn ngủ vòi tiền khách làng chơi, những gái nhảy bị đổ bệnh tim la, mọi số phận cùng đường.

Cô Hiền, cô Trần Nguyệt Hiền, không phải gái giang hồ nhưng cũng ở trong cảnh lẽ mọn tương tự đám người có những cái tên hoa lá cành được khách làng chơi đặt cho, nào Mộng Điệp, Mộng Hồ, nào Tuyết Hấp, Tuyết Lành, Nguyệt Lìm, đại khái vậy.

Trần Huyền Trân gặp Hiền ở một nhà hát. Cũng không phải gốc gác "rằng xưa vốn là người Kẻ Chợ", mà Hiền đã trôi từ đồng quê ra, có lẽ, đã có lần đứng ở Phố Mới buôn người đợi kẻ có tiền đến giắt đi làm con sen, con nụ cho những nhà giàu bạc ác. Rồi người ta thản nhiên tống khứ con ở ra khỏi cửa. Hiền ra khỏi kiếp tôi đòi ở một nhà quyền quý kia với cái thai trong bụng. Xót xa, những con người lận đận, cơ nhỡ gặp nhau. Hiền trở dạ. Chỉ có anh chứng kiến, một mình anh lo cho Hiền được mẹ tròn con vuông với đủ mọi việc: niêu nước mắm chưng, tiền đút nhà thương làm phúc, cái áo cũ xé làm tã và làm tờ khai sinh cho cháu bé. Chút thương đau chết đuối trong cảnh ngộ ấy của hai con người họ Trần giữa trầm luân đời người, đã khiến cho họ nghĩ ra cái dấu nối đẫm nước mắt. Trần nối với Trân bằng dấu huyền ở giữa là Trần Huyền Trân - cô bé con thiên hạ được khai sinh là con anh và được đặt tên là Trần Huyền Trân, đấy là đứa trẻ tội nghiệp và là bút danh, tên thơ yêu dấu của anh.

Tên đứa trẻ và tên thơ tuyệt nhiên không ngẫu nhiên. Tính nhân đạo cao đẹp, Trần Huyền Trân tiếp thu được do anh đã giác ngộ cách mạng. Cuộc đời luân lạc và ý chí, lý tưởng trong thời kỳ đất nước trải qua những hoàn cảnh hết sức lớn lao, mỗi người đứng trước cái sống cái chết trong giai đoạn khẩn trương cả nước, nhà thơ bất giác tự nhận ra mình và dặn đứa con không bao giờ gặp lại.

Rồi lớn lên con mở mắt nhìn
Khóc cùng bách tính sống như đêm
Nhưng không! Đừng khóc! Thán gân cốt
Ta bậc thang đời, con giẫm lên


(Cái thai hoang)

Tên thơ, ba chữ Trần Huyền Trân, ra đời xiết bao tình nghĩa như thế.

Bây giờ, cô bé Trần Huyền Trân năm xưa ở đâu, nếu trời còn để cho chứng sống đến hôm nay, chắc đã nên bà".

Tên thật của Trần Huyền Trân là Trần Đình Kim.

-----------------------------------
* Lưu Trọng Lư
Đoạn cuối được.
-----------------------------------
* Nam Cao
Chi tiết "Chí Phèo rạch mặt đêm tối" thú vị.
-----------------------------------
* Bích Khê
Tôi chưa đọc nhiều Bích Khê.
-----------------------------------
* Vũ Hoàng Chương
Tôi cũng chưa đọc nhiều thơ say Vũ Hoàng Chương.
-----------------------------------
* Xuân Diệu
Cả bốn khúc đều hay. Khúc thứ ba hay hơn cả.
-----------------------------------
* Phạm Huy Thông
Bình thường.
-----------------------------------
* Thâm Tâm
Bình thường. Trừ câu cuối.
-----------------------------------
* Hồ Dzếnh
Bài này dài và hay, đọc rất thích.
-----------------------------------
* Quang Dũng
Nguyễn Vũ Tiềm khéo léo đưa vào một loạt các câu thơ, ý thơ của Quang Dũng mà không bị sượng. Câu kết dường như "định mệnh", vì bài thơ chân dung của Xuân Sách cũng gần như thế.
-----------------------------------
* Nguyên Hồng
Tạng tôi không hợp.
-----------------------------------
* Nguyễn Bính
Bài thơ phác họa được chân dung và thi pháp của Nguyễn Bính. Bài thơ tải được nỗi buồn của Nguyễn Vũ Tiềm đối với thi sĩ chân quê, như là nỗi buồn rưng rưng năm nào của thi sĩ đối với cô hàng xóm yểu mệnh.
-----------------------------------
* Chế Lan Viên
Hai câu kết thú vị.
-----------------------------------
* Hồng Nguyên
Trong bài thơ có chữ "nguyên".
-----------------------------------
* Nguyễn Thi
Tạm được.
-----------------------------------
* Nguyễn Thành Long
Bài này nhắc tên các tác phẩm của Nguyễn Thành Long: "Giữa trong xanh", "Cái gốc", và truyện ngắn in trong sách giáo khoa "Lặng lẽ Sapa".
-----------------------------------
* Nguyễn Minh Châu
Bài này nhắc tên một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu: "Dấu chân người lính", "Khách ở quê ra", "Phiên chợ Giát" và "Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành".

Đặc biệt, Nguyễn Vũ Tiềm tỏ ra "triết lý", khi nhắc đến nhân vật "bò Khoang": lúc được trả về ngàn, vẫn còn nhớ đến cái ách đeo trên cổ mình.
-----------------------------------
* Nguyễn Mỹ
Không ấn tượng lắm.
-----------------------------------
* Lê Anh Xuân
Câu kết hay.
-----------------------------------
* Xuân Quỳnh
Trong bài thơ, có nhắc đến tên nữ thi sĩ ở hai dòng kế tiếp nhau. Và nhắc đến tên một số tập thơ và bài thơ: "Tự hát", "Hoa cỏ may", "Bầu trời trong quả trứng", "Ru con những đêm không ngủ"....
-----------------------------------
* Lưu Quang Vũ
Nhắc đến tên vở kịch "Hồn Trương ba, da hàng thịt" và tập thơ đầu tay "Hương cây" (in chung với "Bếp lửa" của Bằng Việt).

Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 06.12.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

NHÀ VĂN XUÂN CANG DÙNG KINH DỊCH ĐỂ NGHIÊN CỨU CÁC NHÀ VĂN

NHẬN DIỆN MÌNH QUA KINH DỊCH

Ông được biết đến với tư cách là một nhà văn thành công trên con đường quan lộ, với các chức vụ từng kinh qua như Ủy viên BCH Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Ủy viên Ban thư ký Hội Nhà báo Việt Nam, Ủy viên Đảng ủy khối dân vận Trung ương, Tổng Biên tập báo Lao động, Giám đốc NXB Lao động, mặc dù gia tài văn chương của ông tính đến nay cũng đã có tới hơn 30 đầu sách các loại...

Một số tác phẩm của Nhà văn Xuân Cang cũng đã đoạt giải thưởng cao ở các cuộc thi lớn như giải Nhất cuộc thi bút ký Báo Văn nghệ (năm 1960), Giải Ba cuộc thi Báo Văn nghệ (năm 1967), Tặng thưởng văn học đề tài công nhân của Tổng Công đoàn Việt Nam (các năm 1969-1971, 1972-1974)...

Tuy nhiên, câu chuyện hôm nay ông chia sẻ với chúng tôi lại thuộc về một lĩnh vực "tay trái" mà ông đã dày công nghiên cứu nhiều năm nay với bộ sách "Khám phá một tia sáng văn hóa Phương Đông", nghiên cứu Kinh Dịch và những ảnh hưởng của nó đối với cuộc đời các nhà văn, thử khám phá "một phương pháp Kinh Dịch" trong phê bình văn học.

Nhà văn Xuân Cang chia sẻ rằng, trải qua nhiều thế kỷ, ở Việt Nam ta đã hình thành một nền Dịch học mang dấu ấn Việt Nam, mà những tác giả kiệt xuất là Lê Quý Đôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ, Trần Cao Vân, Phan Bội Châu, Tản Đà...

Bản thân ông, thời bé cũng đã từng được cha mình (một nhà giáo dạy chữ Hán ở trường quê, nhưng đã được tiếp xúc với văn học Pháp khá sớm, qua các bản dịch) dẫn đi từ Bắc Ninh ra Hà Nội xin thi sĩ Tản Đà cho một quẻ Hà Lạc. Không biết thi sĩ Tản Đà nói với thân phụ ông những gì, mà cho đến bây giờ, ông còn nhớ những trận đòn dữ dội thời thơ ấu. Một lần, chỉ vì chơi súng lông ngỗng (trẻ quê bấy giờ có trò chơi dùng ống lông ngỗng làm ống phụt, vỏ dưa hấu làm đạn), Xuân Cang vô ý bắn vào má một cô bé vào cửa hàng thuốc bắc của ông cụ. Khi cô bé ra về, ông cụ nọc cậu con ra đánh một trận thừa sống thiếu chết. Và nhiều những trận đòn khác nữa của cả cha lẫn mẹ. Bây giờ, đọc "lời hào 4" mới biết, thì ra cha mẹ ông đã "ngăn cái ác" cho ông (mà là ngăn theo cách "chằng cái gông cho con nghé còn non, mới nhú sừng" - như lời hào 4 quẻ Đại Súc). Không biết có phải do biết "ngăn cái ác" hay không, nhưng quả thật, trong suốt những năm tháng về sau, ông có chăm học hành hơn, ham đọc văn chương, ở trường quê mà tìm mọi giá, mọi cách để có sách đọc.

Năm 1946, do chiến tranh, ông phải ngừng học. Nhưng sau đó, dù làm gì, ở đâu, không lúc nào ông rời việc đọc, việc học thêm, coi trọng việc tu đức luyện tài. Cho đến nay, tuy không có bằng cấp gì đáng kể, song ông đã trải qua rất nhiều công việc, từ công nhân thợ tiện quân giới, thợ lò cao quốc phòng, trinh sát pháo binh, rồi làm việc ở Khu gang thép Thái Nguyên, làm cán bộ công đoàn, viết văn làm báo...

Nhà văn Xuân Cang cho rằng, mỗi người khi được sinh ra, lớn lên và làm các công việc của mình đều gắn liền với chữ "duyên". Bản thân ông, thoạt tiên đọc cuốn "Bát tự Hà Lạc lược khảo" của Học Năng, một cuốn sách dự đoán học, giới thiệu một phép toán nhờ vào năm, tháng, ngày, giờ sinh mà cho biết toàn bộ hành lang và hành trình số phận một con người, phản ánh trong một cấu trúc các quẻ Kinh Dịch dành riêng cho mỗi người… cũng không phải đã ngay tức thì hiểu được. Nhưng khi ông làm thử mấy bài toán, thì thấy ứng nghiệm lạ lùng. Ông bèn soạn thành những bài giảng thực hành, giới thiệu tại một Câu lạc bộ nghiên cứu Kinh Dịch. Để có một số bài làm minh chứng, ông nghĩ, không gì hay hơn là lấy ngay những gì đã được công bố, mọi người đã biết, trong đời sống văn chương của các nhà văn, soi chiếu dưới ánh sáng của Hà Lạc.

Đến đây thì một điều bất ngờ đã xảy ra.

Không chỉ toàn bộ hành lang, hành trình cuộc đời hiện ra trong cấu trúc các quẻ Dịch, mà cả những bước đi thăng trầm trong sự nghiệp văn chương, phẩm chất văn chương, thiên hướng văn chương... Ông chọn ra 10 nhà văn để làm thử 10 bức chân dung dưới ánh sáng Kinh Dịch. Có người sinh vào cuối thế kỷ trước và đầu thế kỷ này như Tản Đà, Khương Hữu Dụng, Tô Hoài...; có người thuộc phần sau thế kỷ như Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ...

Đối với nhà văn, thuật toán Hà Lạc hiện lên trong hành trình và hành lang văn chương, trong thiên sứ, thiên hướng và bản sắc văn chương (ta vẫn gọi là cái tạng) trong những áng văn tiêu biểu của từng người.

Ông cho biết:

"Dấu ấn đầu tiên của cấu trúc Kinh Dịch nổi bật trong văn chương mỗi người là Tượng thiên nhiên. Nhà văn đầu tiên cho tôi khám phá ra điều ấy là Nguyên Ngọc. Cấu trúc Kinh Dịch của ông có tượng thiên nhiên là Đất, Gió (cũng hiểu là cây), Nước. Thế thì tác phẩm của ông là "Đất nước đứng lên", "Mạch nước ngầm", "Rừng xà nu", "Rẻo cao", "Đất Quảng", "Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng"... Ngay những cái tên truyện cũng thấm đẫm cảm xúc về Đất, Cây, Nước. Hay như cấu trúc Tản Đà là Núi, Nước. Không biết cái gì xui khiến ông lấy tên núi Tản sông Đà làm bút danh Tản Đà. Tác phẩm mệnh của ông là bài thơ "Thề non nước", cũng là tác phẩm để đời của ông. Hoặc cấu trúc Tô Hoài là Đầm, Cây. Ngay đến cái tên cha mẹ đặt cho ông cũng là Sen (nhà văn Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen), một loài cây trong đầm. Tác phẩm mệnh, để đời của ông là "Dế mèn phiêu lưu ký", nhân vật là những "cư dân" trong đầm: dế mèn, châu chấu voi, cò, cốc, sếu, vạc, ếch cốm, nhái bén... Có khi, tượng thiên nhiên không lộ ra như những trường hợp trên, mà ẩn giấu trong hình tượng nhân vật".

Ngoài việc áp dụng Kinh Dịch để phát hiện ra "tạng văn" của từng người, nhà văn Xuân Cang cũng đi sâu khái quát những chặng thăng trầm trên con đường đến với văn chương của các nhà văn.

Tôi hỏi ông, trong gần 20 năm nghiên cứu Kinh Dịch, nghiên cứu sự ứng nghiệm của nó đối với các nhà văn và đã viết in thành sách, đã có nhà văn nào phản đối kết luận của ông.

Nhà văn Xuân Cang cười rất tươi, giấu những nếp nhăn đằng sau cặp kính dày cộp: "Tôi chưa thấy ai phản ứng cả, hầu hết họ đều hài lòng với cách tính toán của tôi. Bởi vì trên thực tế, những điều tôi nói không phải là mê tín dị đoan, cũng không phải là một sự áp đặt nào cả, nó áp dụng trên một phương pháp nghiên cứu khoa học cổ xưa của cha ông và phải rất chịu khó mày mò, tra cứu, tìm hiểu thì mới có một kết quả chính xác, chứ không thể nào nói bừa được".

Tôi lại hỏi ông, vậy những điều Kinh Dịch có đúng, khi so với đời văn của bản thân ông.

Nhà văn Xuân Cang nói đầy phấn khích:

"Mệnh tôi theo Kinh Dịch thuộc quẻ "Sơn Thiên Đại súc". "Đại súc" là Chứa lớn. Không biết giời đất xui khiến thế nào, cha mẹ tôi đặt tên tôi là Cang, cái tên ấy đã hàm nghĩa chứa lớn. Cang là cái chum nhỏ bằng gốm sành vẫn đựng thóc giống trong buồng nhà quê.

Mệnh chứa lớn đã nhập vào đời văn của tôi, khiến tôi hỏi chuyện và ghi chép được hai cuốn hồi ký của Trần Bảo và Hoàng Quốc Việt, hai nhà lãnh đạo Công đoàn. Cuộc đời của hai nhân vật này gồm những chi tiết sống động, tiêu biểu cho hình tượng người thợ những năm đầu thế kỷ, từ thân phận bị áp bức, dưới đáy xã hội, mà đứng dậy, nắm lấy ngọn cờ giải phóng đất nước, giải phóng cho những người cùng thân phận với mình. Cuốn "Hạt máu" của Trần Bảo gọi là hồi ký, nhưng được viết với phong độ một tiểu thuyết, các nhân vật có tính cách, có số phận, cốt truyện ly kỳ, chi tiết chọn lọc, chỉ khác tiểu thuyết ở chỗ hoàn toàn không có chi tiết nào do tưởng tượng thêu dệt. Cuốn sách được bạn đọc tìm đọc, có người nói, đã cầm sách là không buông xuống, tái bản đến nay là bốn lần".

Nhà văn Xuân Cang tự nhận, ông là một nhà văn có lợi thế khi viết về người lao động, bởi bản thân ông đã trải qua nhiều nghề khi đến với nghề làm báo viết văn. Một trong những cuốn sách mà ông tâm đắc là cuốn tiểu thuyết viết về cuộc sống của người công nhân "Những ngày thường đã cháy lên".

Xuân Cang chia sẻ:

"Tôi viết cuốn tiểu thuyết "Những ngày thường đã cháy lên" giữa những năm báo chí ta có phong trào "Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật", mà Báo Lao Động của chúng tôi chính là một ngọn lửa của thời ấy. Liền trong 3 tháng, cứ 3 giờ sáng, tôi thức dậy viết một mạch đến 6 giờ sáng. Sau đó, đạp xe lên Tòa soạn ở 51 Hàng Bồ - Hà Nội. Các phóng viên của chúng tôi chính là những nhân vật mẫu của tiểu thuyết. Có một ngày, tôi tiếp một đoàn bạn đọc là công nhân Tây Nguyên, những người thợ trồng cao su người Bana, Gia Rai, các anh kể bắn được mấy con trăn, bán lấy tiền mua vé máy bay, ra tòa soạn chỉ để cung cấp cho chúng tôi những bức ảnh nói lên sự thật. Ngay sau đấy, tôi yêu cầu thư ký tòa soạn ra ngay nhà in, thay một bản tin bằng bức ảnh mới nhận. Và sáng hôm sau, lúc 3 giờ sáng, tôi xé những trang đang viết, thay vào đấy kể ngay chuyện công nhân Tây Nguyên tìm đến phố Hàng Bồ - Hà Nội. Đấy, cuộc sống đời thường mà nhiều nhà phê bình từng nói đến, đã chảy thẳng vào trang văn của tôi giản dị và nhẹ nhàng như thế!".

.............Trần Hoàng Thiên Kim
......(Công an nhân dân - 29/11/2011)


HÀNH TRÌNH VĂN CHƯƠNG

Trong sách "Khám phá một tia sáng văn hóa phương Đông" (2 tập, Nhà xuất bản Văn học, 2009), sau khi “đọc” tác phẩm của 32 nhà văn “dưới ánh sáng Kinh Dịch”, tôi đi đến kết luận rằng: Tác phẩm văn chương là bản sao hành trình số phận của nhà văn.

Đối với số phận của tôi, hoàn toàn đúng như vậy.

Giải thưởng Nhà nước cho tiểu thuyết "Những ngày thường đã cháy lên" mà tôi vừa nhận hôm qua (27-5-2012) đã nói lên điều ấy.

Năm tôi viết xong tiểu thuyết là năm 1987, tháng 9 năm ấy giới thiệu khoảng 100 trang trên tạp chí Tác phẩm Văn học của Hội Nhà văn Việt Nam được bạn đọc hoan nghênh. Tháng 12 năm ấy, nhà xuất bản Tác Phẩm Mới in 15 nghìn cuốn, bán hết phăng. Vậy, năm 1987 của tôi là năm gì? Năm Đinh Mão ấy, theo toán Hà Lạc, tôi được quẻ Lôi Thủy Giải, chủ mệnh chi phối vận hạn là hào 6. Giải là giải quyết, giải tỏa, giải trừ, giải hòa. Cuốn tiểu thuyết kể chuyện các nhà báo trong thời kỳ đầu của cuộc cách mạng 1986 nhìn thẳng vào sự thật, nói lên sự thật, trong những ngày thường đã cháy lên. Hào 6 bảo rằng: Bắn một con chim dữ đậu trên bức tường cao. Bắn được, không có gì là không lợi. Trong truyện, nhân vật của tôi đã vượt qua những sóng gió ngăn chặn của một quan chức cấp cao thành tích đầy mình, nhưng cũng đầy quyền biến để bảo vệ bằng được một bài báo sắp in nói lên một sự thật trong cuộc sống.

Ngày ấy, tôi chưa biết gì về Kinh Dịch, về Hà Lạc, sao tôi làm được như thế? Chỉ có thể nói, đó là sự xui khiến của số phận. Tôi kể thêm chuyện này.

Khi tạp chí của Hội giới thiệu 100 trang sách, một quan chức cấp cao trong ngành (tôi xin phép không nêu tên) mời tôi vào phòng riêng bảo: Cuốn sách của anh động đến một tướng lĩnh có công với cách mạng, một người đáng để tôi và anh kính trọng, trước khi in, anh nên sửa làm sao tránh để bạn đọc nghĩ là anh chỉ trích vị tướng ấy. Tôi nói: Anh để tôi suy nghĩ thêm, nhân vật tiểu thuyết của tôi không chỉ có hình mẫu một người nào, nó còn là của những người khác trong cuộc sống này. Nói thế, nhưng tôi thật sự băn khoăn.

Tôi tâm sự với Trần Quốc Vượng (cố giáo sư sử học vừa được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh). Vượng cười, bảo tôi: Anh đọc lại Đông Chu Liệt Quốc, đoạn Thôi Trữ thí Tề quân, sẽ biết nên thế nào. Câu chuyện thế này. Tướng quốc nhà Tề là Thôi Trữ đã dám giết một ông vua hung bạo và dâm đãng là Tề Trang Công, lập vua khác lên thay, nhưng lại hạ lệnh cho quan chép sử là Bá, chép là vua bị sốt rét mà chết. Thái sử Bá chép vào thẻ tre (thời ấy chưa có giấy): “Ngày Ất Hợi, tháng 5, mùa hạ, Thôi Trữ giết vua là Quang” (Quang là tên húy Tề Trang Công). Thôi Trữ nổi giận, giết thái sử Bá. Thái sử Bá có 3 người em là Trọng, Thúc, Quý đều làm thái sử. Trọng lại chép như trước, Thôi Trữ lại giết đi. Thúc cũng chép như thế. Thôi Trữ lại giết. Quý lại chép như vậy. Thôi Trữ cầm lấy cái thẻ và bảo Quý rằng: “Ba anh mày đều chết cả, còn mày, không sợ chết à? Nếu mày chịu chép khác đi, thì ta tha chết cho”. Quý nói: “Chép đúng sự thật là chức phận của người làm sử! Nếu tôi không chép, trong thiên hạ tất cũng có người chép! Nên tôi liều chết mà chép, xin quan Tướng quốc cứ tùy ý định đoạt”. Thôi Trữ thở dài, nói rằng: “Ta sợ nước nhà nghiêng đổ, bất đắc dĩ mới phải làm việc này! Nhà ngươi dẫu chép thẳng, thiên hạ cũng xét tấm lòng cho ta!”. Nói xong, liền ném cái thẻ, đưa trả cho Quý. Quý cầm cái thẻ đi ra, sắp đến cửa sử quán, lại gặp Nam Sử Thị cũng đang cầm thẻ tre. Quý hỏi đi đâu, Nam Sử Thị nói: “Ta nghe nói anh em nhà ngươi đều chết cả, sợ bỏ mất cái việc ngày Ất Hợi, tháng 5, mùa hạ mới rồi, vậy nên ta cầm thẻ đến để chép”. Quý đưa cái thẻ của mình chép cho Nam Sử Thị xem. Nam Sử Thị mới cáo từ mà về. (Đông Chu Liệt Quốc, tập 2, Nhà xuất bản Văn học 1996, tr. 332). Tôi gọi điện cảm ơn Trần Quốc Vượng và không sửa một chữ nào. Hào 6 quẻ Giải bảo: không có gì không lợi, là thế chăng?

25 năm sau, Nhà nước xét cho tôi giải thưởng. Tôi đã học Kinh Dịch, biết rằng, cái mệnh nhà văn nó thế. Cái bắt tay của Chủ tịch nước đối với tôi là một sự ghi nhận. Nhưng trước đó, tôi biết rằng, công chúng bạn đọc đã thưởng cho tôi từ 25 năm trước. Tôi xin biết ơn.

.........................Xuân Cang
..........(Lao động cuối tuần - 28-5-2012)

Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 07.12.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

(tiếp theo)

NGUYÊN NGỌC - ĐẤT VÀ NƯỚC

Tôi và Nguyên Ngọc có chút kỷ niệm về Toán Hà Lạc.

Ngày ấy, biết tôi bắt đầu nghiên cứu về Hà Lạc, ông cho tôi biết ngày giờ sinh và bảo tôi làm cho một bài toán.

Khi cấu trúc Hà Lạc của ông hiện lên, tôi ngắm nhìn, liên tưởng đến hành trình văn học của ông và bỗng giật mình: Hầu như toàn bộ sáng tác của ông phản ánh hết sức đầy đủ, rõ ràng, cái mệnh vận trời đất đã cho ông.

Ta hãy coi: quẻ Tiên thiên, tiền vận của ông là Địa Phong Thăng, nguyên đường hào 3. Quẻ Hậu thiên, hậu vận của ông là Thủy Địa Tỷ. Tượng thiên nhiên thẩm thấu vào khí chất con người ông là Đất, Cây (cũng là Gió), Nước. Thế thì tác phẩm của ông mang những cái tên: Đất nước đứng lên, Rẻo cao, Rừng xà nu, Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng, Đất Quảng... Thậm chí, khi ông đi thực tế một vùng công nghiệp, ông cũng viết: Mạch nước ngầm. Hình như, ông không đi đâu ra khỏi Đất và Nước.

Những nhận biết đầu tiên ấy, ý tưởng ấy cứ xoáy vào trong tôi, để sau đó, tôi làm cuốn sách này.

Cấu trúc Hà Lạc ứng nghiệm với tất cả mọi người trên Trái đất, nhưng đặc biệt ứng nghiệm với giới nhà văn (có thể rộng ra, với văn nghệ sĩ), là vì sao? Là vì nhà văn không bao giờ giấu được mình. Khí chất, mệnh vận, tính cách văn chương của anh nó cứ phơi bày ra trên trang giấy, không dưới hình thức này thì dưới hình thức khác. Văn chương của một người chính là một bản sao hành trình số phận của anh ta.

Nhà văn Nguyên Ngọc sinh vào giờ Mão ngày 05 tháng 9 năm 1932, tức 05 tháng 08 năm Nhâm Thân. Năm ấy tiết Nắng nhạt, lệnh thời tiết của tháng Tám là vào ngày 8-9-1932, ông sinh trước Tiết lệnh tháng Tám, nên toán Hà Lạc không tính ông sinh vào tháng Tám, mà vào tháng Bảy.

Cấu trúc Hà Lạc của ông gồm 4 quẻ: Địa Phong Thăng, hào chủ mệnh là hào 3, quẻ hỗ là Lôi Trạch Quy Muội; Thủy Địa Tỷ, hào chủ mệnh là hào 6, quẻ hỗ là Sơn Địa Bác.

Ông không có ưu tiên năng lượng của trời đất, không có nguyên khí của trời, nhưng rất giàu nguyên khí của đất. Địa nguyên khí của ông là quẻ Khôn. Trong cấu trúc Hà Lạc của ông, có tới 3 quẻ Khôn. Ông có Mệnh hợp cách. Địa là Đất. Phong là Gió, ở đây hiểu là Cây. Thăng là Lên, là tiến lên, là phát triển. Hào 3 chủ mệnh bảo rằng: người này rồi sẽ tiến lên dễ dàng như (người xưa) vào cái ấp không người. Cuộc nam chinh dễ như phá ngói chẻ trúc. Nam chinh ở đây, Nguyễn Hiến Lê giảng, không nên hiểu là tiến về phía Nam, mà nên hiểu là tiến về phía trước mặt. Song, riêng với Nguyên Ngọc, thì hiện thực lại là có chuyện tiến về phía Nam.

Lời hào còn nói rằng: ở vào thời vận này, lớn (ý nói thời vận lớn) thì giữ đường lối, nhỏ thì (ít ra cũng) ăn lộc ấp, quận.

Tượng quẻ trên là Đất, dưới là Cây, đó là cái tượng của một cái mầm cây len lỏi, len lách đi lên, vượt qua các tầng sỏi đá, nhiều trở ngại, nhưng không gì ngăn cản được, hướng lên phía trên, phía có ánh nắng mặt trời. Như vậy, người quẻ Địa Phong Thăng là người rất nhạy cảm với sự phát triển, tiến lên, là ngưới có chí khí vươn tới, không sợ trở ngại. Nếu là người có gốc vững về phúc nhà, về văn hóa, về đức, thì sẽ là người có sứ mạng tiến lên để thực hành đường lối (người xưa gọi là hành đạo). Còn với người thường được quẻ Thăng, chí ít cũng ăn lộc ở vùng nhỏ địa phương.

Người quẻ Thăng nhạy cảm với cái mới, như cái mầm cây nhạy cảm với hơi ấm và ánh nắng phía trên, ủng hộ cái mới hết lòng. Người quẻ Thăng rất giàu mơ mộng và tưởng tượng, rất giàu niềm tin, trong đó có cả niềm tin tâm linh. Nhưng cái tin tâm linh của người quẻ Thăng là tin ở trong lòng, với sự chí thành, lễ nhỏ và đơn sơ mà cảm được tới bề trên. Như cái mầm cây linh cảm thấy hơi ấm và ánh nắng phía trên mà vươn lên, với lòng chí thành, còn lễ lạt thì có gì đâu. Cho nên, người quẻ Thăng thường được người phía trên thông cảm và ủng hộ, dù có người trên không bằng lòng đấy, nhưng không làm hại được người quẻ Thăng.

Quẻ hỗ (hàm ý hỗ trợ) là Lôi Trạch Quy Muội cho biết, người quẻ Thăng cũng có những lầm lỗi, thường là do sơ sài, qua loa, đại khái, xong thì thôi, kiểu lầm lỗi của những người anh chị khi lo việc gả chồng cho em gái (quy muội là gả em gái), ít khi được chu đáo như cha mẹ. Cũng có khi, đó là một thứ lầm lỗi đáng yêu như lời hào 5 quẻ Thăng lấy việc vua Đế Ất gả em gái làm ví dụ. Vị vua này vì quá coi trọng về đức mà sơ xuất, để cho cái tay áo của công chúa không đẹp bằng tay áo nàng hầu, khiến người ta cười cho.

Nguyên Ngọc đã sống và làm lụng đúng như những gì trời đất đã ban cho mình.

Ông ra đời vào đúng thời của hào 3 quẻ Thăng: Lên, dễ dàng như vào ấp không người. Cái ấp không người đây là một gia đình có nền nếp, quý trọng sự học. Vừa đúng tuổi học là được đi học. Thông minh, học đâu biết đấy. Năm 1945, bị đứt đoạn mất một năm, tiếp tục học cho đến khi đỗ Tú Tài. Lời hào 4 quẻ Thăng cho biết, ở tuổi mười lăm đã có lòng chí thành, nhu thuận, có chí lớn, sẽ được lợi khi hòa mình vào với núi rừng, cây cối. Quả nhiên, sang chặng đường hào 5 đẹp nhất thời Thăng, thì Nguyên Ngọc vào bộ đội, lăn lộn với núi rừng Tây Nguyên, vùng Ban Mê Thuột, gặp ngay các quý nhân, sớm vào nghề làm báo quân đội. Về sau, Nguyên Ngọc kể chuyện đời, cho rằng cái thời làm báo chẳng khác nào cái phúc nhà: Nó tạo cho người viết những đức tính quý báu: xông xáo, nhạy cảm với thời sự và xã hội, sắc sảo khi tiếp cận hiện thực, đi nhiều, nghe nhiều, thấy nhiều, biết nhiều. (Nhà số 4 Lý Nam Đế. NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr. 121).

Còn cái lợi khi hòa mình với núi rừng được ông tổng kết như sau: Riêng tôi, có lẽ chiến trường khu 5 đã để lại cho tôi hai điều thật quý: một âm hưởng đậm đà của Tây nguyên, nơi tôi được tham gia chiến đấu gần suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, và những ấn tượng trong sáng của một đời sống văn hóa tinh thần giản dị mà lành mạnh của một xã hội thật kỳ lạ, một hòn đảo Nghiêu Thuấn giữa chiến tranh bốn bề... (Sách đd, tr. 122).

Quẻ Thăng có sáu hào thì năm hào tốt, chỉ có một hào xấu, là hào 6 trên cùng. Hào đó nói rằng, thời vận lên đã tới đỉnh, còn tham vọng lên nữa thì sẽ gặp họa, như cây đã hút hết nhựa đất, gốc không vững nữa, sẽ đổ. Nhưng đối với con người thì có hai cách xử lý: một là kẻ tiểu nhân không thức thời còn ham tiến lên về địa vị, danh lợi, thì tất không tránh khỏi đổ vỡ; hai là quân tử chỉ còn ham tiến lên về đức, tiếp tục tu rèn về đức với ham muốn khôn nguôi, thì lại rất hanh thông, biến xấu thành tốt, biến họa thành phúc. Như những cây cổ thụ biết dừng lại, trau dồi gốc cho vững trước bão táp phong ba, mà tươi xanh mãi.

Nguyên Ngọc đã xử sự chính cái chặng đường 6 năm hào 6 quẻ Thăng ấy như thế nào.

Năm Quý Tỵ (1953), quẻ Sơn Phong Cổ hào 6: là năm chàng nhà báo trẻ tuổi đã bộc lộ phẩm chất văn chương, giữ chí cao thượng, không màng danh lợi, không xu phụ bề trên, thanh cao khác người, ẩn mình đợi thời (Lời hào 6 quẻ Cổ, đối với Mệnh hợp cách).

Năm Giáp Ngọ (1954), quẻ Sơn Thiên Đại Súc, hào 1: Năm nay có người phía trên không cố ý mà ngăn cản mình, có nguy, biết dừng lại thì lợi. Biết thời cơ mà liệu đường tiến lui, giữ mình, gặp may, được hưởng phúc lớn. Đây là hai năm hết sức quan trọng trong đời nhà văn trẻ tương lai. Do công việc làm báo và do có vốn tiếng Pháp bằng Tú tài, không ngừng được dùi mài ngay trong các cuộc hành quân chiến đấu và ở chiến khu, ông tiếp xúc với văn chương Pháp và ham thích ngay cái cấu trúc tiểu thuyết của nó. Ông cũng phải đấu tranh với cái ý muốn của cấp trên muốn thu hút ông theo hẳn nghề làm báo (hào 4 âm quẻ Đại Súc không cố ý, mà hóa ra ngăn cản). Có nghĩa là phải giữ chí hướng (văn chương), không màng danh lợi, biết thanh cao khác người, biết ẩn mình, đợi thời, biết thời cơ mà liệu đường tiến lui. Cuối cùng thì cái may đã tới.

Năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Nguyên Ngọc tập kết ra Bắc trong chuyến tàu cuối cùng, đặt chân lên đất Thanh Hóa vào ngày 19-5-1955. Năm Ất Mùi ấy (1955) là năm thuộc quẻ Sơn Hỏa Bí hào 2: lời hào bảo rằng đây là năm phát triển về văn chương, như lửa chiếu sáng, trang sức cho núi rực rỡ lên, văn đẹp, sáng sủa. Người xưa ví, như lấy bộ râu trang sức cho cái cằm, phải có cái cằm đẹp thì râu mới đẹp. Lời hào 2 còn bảo rằng trang sức cho người để thúc đẩy ổn định việc làm. Có nghĩa là phải dựa vào người mà đi đến thành công. Văn chương, học vấn sáng sủa, giúp nước. Văn chương được người yểm trợ.

Nguyên Ngọc kể: Mấy tháng sau, một hôm tôi nhận được điện của Tổng cục Chính trị gọi đúng tên tôi về Hà Nội để viết cái gì đó... Ra đến Hà Nội, tôi mới rõ: Đại hội thi đua toàn quốc vừa được triệu tập, một số anh hùng quân đội mới được tuyên dương, TCCT chủ trương cần viết về thành tích của các anh hùng đó. Tôi được Tổng cục Chính trị gọi đúng tên, là vì anh Dương Minh Đẩu, trong kháng chiến là Phó ban Tuyên huấn bộ Tư lệnh khu 5, là cấp trên của tôi lúc tôi làm báo Quân đội nhân dân Liên khu 5, đã giới thiệu tôi với Tổng cục: Cậu ấy có vẻ viết được. (Anh Đẩu về Tổng cục trước tôi mấy tháng)... Anh em đã về đông đủ, tôi là người cuối cùng. Thú thật, tôi có hơi hoảng, toàn những người có tên tuổi, tôi ở chiến trường rất xa mà cũng đã từng được nghe: Hồ Phương đã có Thư nhà, Nguyễn Khải đã có truyện được giải thưởng Hội Văn nghệ trung ương, Nguyễn Khắc Thứ vừa in xong bộ tiểu thuyết dày hai tập Đất chuyển, Phùng Quán lúc đó cũng vừa có Vượt Côn Đảo đang gây xôn xao... Gần như chỉ có mỗi tôi tay trắng và vô danh... Mỗi người chúng tôi phải chọn viết về một người anh hùng thuộc đơn vị mình mới được tuyên dương. Nguyễn Khải viết Mạc Thị Bưởi, Hồ Phương viết Phùng Văn Khầu, Mạc Phi viết Lý Văn Thím, Phùng Quán viết Lâm Úy, v.v... Tôi thì xin nhận Núp (Sđd, tr. 123-125).

Theo cách nói Hào 2 quẻ Bí: Núp chính là cái cằm đẹp để nhà văn trang sức lên đó bộ râu văn chương. Toán Hà Lạc giải về hào 2: Trang sức cho người (Người đây là ai, nếu không phải là Núp?) để thúc đẩy, ổn định việc làm (có nghĩa cụ thể đối với chàng lính trẻ Nguyên Ngọc là để thúc đẩy việc hình thành một sự nghiệp văn chương). Toán Hà Lạc lại giải đối với mệnh hợp cách: Văn chương, học vấn sáng sủa, giúp nước. Đối với giới Sĩ trong vận năm: Văn chương được người yểm trợ. Vậy là, hành lang số phận đã đưa Nguyên Ngọc đến với Núp (xin bạn đọc nhớ cho rằng, trước đó, Nguyên Ngọc chiến đấu ở Tây Nguyên, nhưng chưa hề gặp Núp). Phải viết tiểu thuyết. Nguyên Ngọc tự bảo mình như thế. Về sau nhìn lại, tôi thấy những tác phẩm có thành công lần ấy là những sáng tác trong đó người viết đã đem được vào đấy cái phần thể nghiệm, từng trải của riêng mình, bóng dáng, âm hưởng cuộc đời riêng, giọng điệu tâm hồn riêng của mình rất nhiều, mặc dù là viết người có thật, chuyện có thật. (Sđd tr.128).

Cả điều này nữa, nghe như đồng vọng lời cổ nhân đã từng nhắc trong quẻ Bí: Chất phác nhiều hơn văn, thì thành quê mùa... Về sau, Nguyên Ngọc thú nhận rằng, ông đã đưa cái cấu trúc tiểu thuyết Pháp vào "Đất nước đứng lên". Người đọc thấy cuốn sách kể chuyện về một người anh hùng Tây Nguyên, mà chẳng quê mùa tí nào.

Tiểu thuyết "Đất nước đứng lên" đã ra đời như thế. Văn chương được người yểm trợ. Ngay sau đó nó đứng vào hàng giải nhất văn chương. Đó là cuốn tiểu thuyết của định mệnh. Nguyên Ngọc đã từng băn khoăn: Nghĩ lại, sao mọi sự lại cứ đâu vào đó, hay, đẹp thế nhỉ?...Mọi việc cứ ngỡ như là ngẫu nhiên. Tôi có cái may mắn là một trong những người được cuộc sống nhân hậu và thông minh “đưa đẩy” theo con đường đó, qua một loạt “ngẫu nhiên” cứ đến tuần tự... (Sđd tr.122).

Không ngẫu nhiên chút nào.

Cái mầm cây Nguyên Ngọc sinh giữa thời Thăng, hào 3 dương, vốn đã mang nguyên khí của Đất, lại nhuần thấm một đời sống văn hóa đẹp của vùng đất Tây nguyên, len lách qua những tầng đá sỏi đi lên và khi gặp Núp, len lách một ánh sáng ấm áp soi xuống, cái mầm cây cựa quậy, vươn mình... Bản thân Núp cũng là một cái cây trong lòng đất Tây Nguyên. Liêu không hiểu gì cả, đứng nhìn theo, thấy cái tóc của Núp gió thổi bay bay, rồi mất vào trong lá cây màu xanh. Liêu tháo cái chum ra, nhúng xuống nước cho dẻo sợi giang, quấn tròn lại, giấu thật kỹ vào đáy gùi, rồi leo lên đường, đi ra rẫy. Đi ngang qua rẫy của anh Núp, Liêu dừng lại ngó vô. Lúa của Núp chín rồi, bà mẹ anh đang suốt, cái lưng cong xuống. Cái rẫy của anh Núp to quá, to nhất làng Kông Hoa. Bề dài nhiều sải tay lắm, đếm lộn nhiều lần, đếm không hết. Bề ngang cũng nhiểu sải tay lắm, đếm cũng không hết. (Đất nước đứng lên. Nhà xuất bản Kim Đồng - Hà Nội -1998 Tr. 15).

Nguyên Ngọc ngắm nghía Cấu trúc Hà Lạc của mình, bảo tôi: Ông giải thích cho mình cái chặng đường 6 năm hào 1 quẻ Thăng này xem sao. Đây cũng là những năm đầy những biến động của đời mình.

Hào 1 quẻ Thăng của Nguyên Ngọc thật ra phản ánh một chặng đường (1959-1964) tốt đẹp. Lời quẻ nói rằng: Có lòng tin, nhu thuận, khiêm nhường, cung kính, được người dắt dẫn, giúp sức, được lời (ở đây là sự hướng dẫn) nguyên thủ, được tiến cử, thành rường cột quốc gia. Nhưng Kinh Dịch không bao giờ phản ánh sự tốt đẹp đơn thuần, tuyệt đối. Các quẻ tách ra hàng năm cho thấy, chủ thể luôn đứng trước những thử thách. Tôi chỉ đưa ra hai năm tiêu biểu trên chặng đường đó.

Năm 1960, hành lang của ông là quẻ Địa Hỏa Minh Di, chủ mệnh là hào 2. Minh là Sáng, Di là Đau, là tổn thương. Tượng quẻ là Lửa ở trong Đất. Lửa trong đất, nên ánh sáng không thoát ra được, ánh sáng bị tổn thương, sáng đấy mà đau đấy. Hào 2 bảo rằng, năm này, ánh sáng bị tổn hại, ông sẽ gặp nạn như người bị đau ở đùi trái, nhưng cũng sẽ mau khỏi, sẽ lại như con ngựa mạnh mẽ tiến lên. Sẽ là năm có uy có quyền, có vai trò chinh phạt cho dân yên, nước vững. Là năm kẻ sĩ chiếm công đầu. Nhưng Lời quẻ cũng như lời hào đều nhấn mạnh: Muốn khỏi hình phạt kẻ tàn bạo thì phải xem có thuận lòng trời không. Lòng trời ở đây là chính nghĩa, là đạo lý, nôm na là lẽ phải. Muốn cho lẽ phải thắng thì người quân tử được quẻ này phải biết che cái sáng của mình đi, nếu được quyền chỉ huy mọi người, thì phải biết làm cho người ta không sợ cái sáng của mình. Như ông Cơ Tử đời xưa (thời nhà Chu bên Tàu) là người hiền tài, bị vua nghi ngờ, ra lệnh đuổi ra khỏi kinh đô. Cơ Tử đã che cái sáng của mình, giả điên và giả làm người đi ở, để được yên thân, nhờ thế thoát nạn, sau có thời cơ lại mạnh mẽ tiến lên và trở thành một nhân vật của thời đại. Vậy năm Canh Tý (1960), năm Minh Di của nhà văn đã diễn ra thế nào?

Năm 1959, Nguyên Ngọc đi thực tế về vùng công nghiệp, lên Khu gang thép Thái Nguyên rồi sang Khu công nghiệp Việt Trì. Nhiều bạn đọc yêu quý ông đã vui mừng đón tiếp và giúp đỡ ông đi vào đời sống. Nguyên Ngọc viết truyện vừa "Mạch nước ngầm" công bố vào năm 1960 (in chung cùng "Ngõ ngang xóm thợ" của Võ Huy Tâm. Mạch nước ngầm, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1960).

"Mạch nước ngầm" vừa ra đời, lập tức được bạn đọc hoan nghênh, nhưng chẳng bao lâu, xuất hiện một luồng ý kiến công khai phê phán truyện, cùng với những tiếng xì xào rằng tác giả chưa nắm vững đường lối văn học, chưa nắm được hiện thực, rằng hiện thực cuộc tiến quân vào khoa học kỹ thuật của những con người mới không như cái nhìn bi quan của tác giả "Mạch nước ngầm" (chẳng hạn, tác giả đã dùng từ "dốt nát" để miêu tả một nhân vật chính diện). Rằng, tâm trạng các chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc không đến nỗi u ẩn như trong tác phẩm: “Chúng ta vẫn chưa đủ sức dò cho hết những mạch nước ngầm trong lòng đất, và trong lòng người” (Sđd. tr 32). Rằng, đó là nhận xét đánh giá từ trên xuống. Thời ấy, nhận xét thế là nghiêm trọng lắm rồi đấy. Vậy là Minh Di, sáng và tổn thương. Tác giả đã lặng im, né mình tránh cơn sóng lớn. Ông tiếp tục đi, “lần này tôi lang thang suốt cả năm trời vùng Cao Bằng, Bắc Cạn, Hà Giang...”. Riêng ở Hà Giang, đúng vào lúc có động, một nhóm phỉ đang làm rối an ninh. Nhà văn đã dừng lại và vào cuộc chiến đấu như những ngày ở Tây Nguyên. Có lúc, cũng nắm quyền chỉ huy một binh đội, học cưỡi ngựa của người H’Mông, nói tiếng H’Mông. Không ai biết ông là nhà văn, vậy là ông đã giấu cái sáng của mình, làm cho người ta không sợ cái sáng của mình, cho đến khi ông ra khỏi cuộc chiến đấu và về Hà Nội với bút ký nổi tiếng "Mùa hoa thuốc phiện cuốí cùng", in đầy một trang báo Nhân Dân khổ lớn.

Năm Nhâm Dần (1962), Nguyên Ngọc được quẻ Thuần Chấn, hào 4. Thuần Chấn nghĩa là hai lần sấm, sấm dồn, gây chấn động. Sấm động thì vạn vật nảy sinh, cho nên hanh thông. Lời quẻ bảo rằng, người quân tử được quẻ này thì phải biết lo sợ, xét và luôn sửa mình, được như thế thì tránh được tai họa, mà sau sẽ vui vẻ, sấm động vang trăm dặm mà trong lòng vẫn vững. Tuy nhiên, chủ mệnh năm này là hào 4, thì xấu lắm: như sấm chìm xuống bùn, một hào dương là bản thân, bị kẹt giữa bốn hào âm, lo sợ mà không thoát được, đành chìm đắm thôi. Muốn khỏi chìm đắm, năm nay phải tiết chế dục vọng, tiết chế những ham muốn, chịu đựng rất nhiều, tuy sự nghiệp chưa khởi sắc nhưng cũng duy trì được tư thế. (Mệnh không hợp cách thì coi như vùi thân vào cát bụi, bùn lầy, để mất thể thống, ăn uống kham khổ, đạm bạc). Quả nhiên năm ấy, nhà văn tình nguyện đi Nam.

Nguyên Ngọc kể:

:Cho đến khi có tin những cuộc nổi dậy, rồi cuộc đấu tranh vũ trang ở miền Nam bắt đầu, thì chúng tôi (Nguyên Ngọc và nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn) háo hức, chạy xuôi chạy ngược, chỗ này chỗ kia, nài nỉ được lên đường về Nam. Đến đầu năm 1962, thì tôi được gọi. Lúc này Bộ tư lệnh Quân khu 5 đã được thành lập. Anh Nguyễn Đôn, Tư lệnh quân khu, điện ra Hà Nội, xin đúng tên tôi vào. Nguyễn Ngọc Tấn cứ lồng lên. Anh chạy khắp các cửa, kêu kiện “sự bất công” này. Cuối cùng, anh cũng được quyết định trở về Nam bộ. Chúng tôi lên Sư đoàn 338 ở Xuân Mai để tập luyện và bồi dưỡng một tháng. Trong “một tháng” đó, hai nhà văn phải tập đi bộ, leo núi, mang vác nặng, phải tước bỏ hành trang, tính đến từng cái khuy áo một, phải tập mang từ một viên gạch đến mười viên gạch... Có nghĩa là phải biết lo, phải rèn luyện rất nhiều, chịu đựng nhiều, tiết chế nhiều để thích ứng với hoàn cảnh gian khổ, khắc nghiệt mới. Rồi lên đường. Đối với tôi, có một sự trùng hợp rất lạ, tôi rời miền Bắc trở vào Nam đúng ngày 19-5-1962, tức là tôi ở miền Bắc đúng trọn 7 năm, không sai một ngày... Tôi về cơ quan Bộ Tư lệnh khu 5 bấy giờ đóng ở vùng Nước Non, huyện Trà My, tây Quảng Nam, gặp anh Nguyễn Đôn, Tư lệnh quân khu. Anh bảo: Trước hết, cậu nhận một cây rựa và đi phát rẫy đã. Vấn đề bây giờ là tồn tại. Tôi nghĩ: nghe cứ như là Hăm-lét ấy nhỉ, To be or not to be (Tồn tại hay không tồn tại). Nhưng mà đúng như thế thật, trước phải tồn tại đã, nghĩa là đừng chết đói và đừng để bị địch tiêu diệt, rồi mới dần dần gây dựng lên tất cả, gần như là từ tay trắng" (Sđd. tr. 132-135).

Đúng là năm Thuần Chấn, hào 4: một hào dương bị bốn hào âm ép trên, ép dưới. Nhờ biết lo lắng, luôn răn mình nên cuối cùng thoát hiểm, đi đến đích. (Nhân Quả là quẻ Quải: cương quyết).

Chặng đường 1965-1973, hào 2 dương quẻ Thăng: Có lòng chí thành, thành thực với trên, tài đức lớn, trên mến dưới kính, sự nghiệp hiển hách. Nên danh. Lòng chí thành đó chính là cách sống ở chiến trường mà Nguyên Ngọc cùng Nguyễn Ngọc Tấn đã tâm sự với nhau đêm chia tay ở rừng Tây Thừa Thiên, một người vào Nam bộ, một người xuống khu 5:

"Chúng tôi hẹn nhau, sẽ đi đến cùng trong cuộc chiến đấu này, cho đến ngày thắng lợi, không bỏ dở giữa chừng, và nếu một trong hai đứa hy sinh, thì ngày hòa bình, đứa kia phải đi tìm gia đình cho bạn... Tôi nhớ, hồi đó ở chiến trường, anh em văn nghệ Khu 5 thường trao đổi với nhau: Chúng tôi không đồng tình, không thích lắm nói đi thực tế. Tổ chức một chuyến đi thực tế, đến xem người ta làm, người ta đánh nhau, mình thì chăm chắm giở sổ tay hí hoáy ghi chép, rồi về ngồi viết. Chúng tôi muốn và thực sự làm kiểu khác: thật sự vào cuộc với mọi người, nhất thiết không làm người đi xem, làm người đứng ngoài. Có lúc thật sự đi làm cán bộ phát động quần chúng phá kìm nổi dậy, có lúc đi làm bí thư chi bộ ở xã, cán bộ quân sự hay chính trị ở đại đội, tiểu đoàn, cũng có anh nhận cầm quân đánh nhau thật sự...Cái mình sẽ viết ra là cái mình sống, viết bằng sống (và chết) của chính mình, chứ không phải là cái nghe lỏm được của cuộc đời, cuộc chiến đấu". (Sđd. tr. 135)

Đó cũng là những năm tài đức lớn, sự nghiệp hiển hách của nhà văn. Ông viết tùy bút "Đường chúng ta đi", truyện ngắn "Rừng xà nu", tiểu thuyết "Đất Quảng". Năm 1967 được bầu làm Chủ tịch Hội Văn Nghệ giải phóng Trung Trung bộ. Năm 1971, tiểu thuyết "Đất nước đứng lên" được Giải thưởng Hoa Sen của Tổ chức Nhà văn Á Phi.

Từ năm 1974, Nguyên Ngọc bước vào vận hội mới Thủy Địa Tỷ. Thủy là Nước. Địa là Đất. Tỷ là gần gũi, sánh vai. Thánh nhân khuyên người được quẻ này cần coi trọng việc kết bạn, thân với người dưới, gây dựng các đầu mối, đừng để mất cơ hội làm thân, gần gũi. Chủ thể sinh tháng 7, được quẻ này rất tốt, lại có Địa nguyên khí hỗ trợ. Nền chung cả hậu vận là tiếp nối thời Thăng, hưởng thành quả những năm phát triển rực rỡ, nhưng bắt đầu sang thời Tỷ với chủ mệnh là hào 6 thì xấu.

Tượng hào và lời hào cho biết: Tuy được thời thân hữu, gần gũi, sánh vai với mọi người, nhưng mất đầu mối để làm thân, không làm sao cảm hóa được thiên hạ, dù văn tài võ giỏi cũng mất thời cơ, chẳng kịp nữa. May nhờ có Địa nguyên khí và nhờ quẻ Tỷ hợp với mùa sinh tháng 7, nhờ hơn 40 năm rèn luyện nhân cách người quân tử, nên có thể là chủ thể đã ý thức được những tín hiệu xấu, tăng cường gây đầu mối để luôn có dân bên mình, biến xấu thành tốt, tạo nên nhiều cơ hội phát triển, dấn thân, duy trì được vai trò, vị trí xã hội. Có điều là. phải chú ý có quẻ Bác kề bên (xem Cấu trúc Hà Lạc), luôn nhắc nhở phải đề phòng bọn tiểu nhân làm hại, nhớ rằng đang ở thời âm thịnh dương suy, khi có thành quả đừng hưởng hết, phải biết gây mầm cho thời cơ về sau, thì cuộc sống mới bình an, làm người quân tử ở ngôi nhà lớn, đi xe dân chở (lời hào 6 quẻ Bác).

Đây là những năm Nguyên Ngọc được cử làm Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, đại biểu Quốc hội, Tổng biên tập báo Văn Nghệ, ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa 4, trưởng ban sáng tác của Hội, tổng thư ký Hội Văn hóa vì Môi trường, tham gia giảng dạy Trường Đại học viết văn Nguyễn Du. (Quả nhiên, những năm này trong các cương vị Bí thư Đảng đoàn, Tổng biên tập báo Văn nghệ, ông đều có thành công vang dội, nhưng đều có hiện tượng “mất đầu mối”, không được người trên ủng hộ, mất thời cơ, không còn dịp để “cảm hóa thiên hạ” nữa). Khí chất thiên nhiên tạo nên ảnh hưởng trong đời sống tinh thần của Nguyên Ngọc những năm này là Đất, Nước, Núi. Đây là những năm ông làm các kịch bản phim "Đất nước đứng lên", "Đường mòn trên biển đông", tham gia nghiên cứu khoa học về Con người đất Quảng (do Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam chủ trì).

***

Khí chất Đất, Nước, Núi và Gió và Cây nhuần thấm trong cảm xúc văn chương của Nguyên Ngọc sâu đậm và mạnh mẽ đến mức, chỉ đọc tên các tác phẩm của ông đã biết cái tượng quẻ trong cấu trúc Hà Lạc của ông là những gì, những trích dẫn ở trên đã cho thấy điều đó. Không chỉ có thế, ông còn có những trang văn rất hay tả những hiện tượng thiên nhiên kể trên và nhất là cái âm vang, cái ánh ỏi, hòa sắc của nó trong đời sống xã hội, con người.

"Đồng chí giao thông huyện chính là cháu gọi Cắm bằng chú. Cắm biết nó từ khi nó lọt lòng mẹ, nó còn bằng cái nắm tay thế này, nó đỏ như một hòn máu. À, thế mà nó lớn nhanh hơn một cái cây bên suối đấy. Không biết cái gì nuôi nó nhớn nhanh thế. Đi ra ngoài nương, đi về trong nhà, đã thấy nó nhớn bằng con lợn ba tháng rồi. Tra lúa, lúa có sữa, nó đã nhớn bằng con hoẵng con. Lúa chín thì nó biết ngồi. Gặt lúa thì nó biết đứng. Lại đốt rẫy thì nó biết đi. Từ đó, Cắm cứ tính tuổi nó bằng mùa mưa. Một mùa mưa, hai mùa mưa, ba mùa mưa. Thằng bé lúc đầu còn như một con bê, sau nó thành một con chó lài, sau dần dần thì nó đã trở thành một con cọp, một con cọp thật đấy. Rừng núi nào nó cũng không chừa. Bụng nó sáng như thắp đèn trong ấy. Cái gì nó cũng biết, chỉ cái sợ là nó chưa biết. Cứ mỗi mùa mưa, Cắm lại quệt cho nó một cái quệt than đen sì lên cây cột nhà. Năm cái quệt, sáu cái quệt, bảy cái quệt. Cắm tính tuổi cho nó, nhưng lại quên tính tuổi cho mình. Khi cây cột nhà của thằng bé được bảy cái quệt than, thì quanh mồm Cắm đã lún phún đầy râu là râu". (Rẻo cao. Truyện ngắn. NXB Văn học. Hà Nội 1992. Tr. 107).

"Những đêm mưa to gió lớn, đốt lửa ngồi trong nhà rông, bok Sung thường kể cho con cháu nghe những câu chuyện về núi, rừng, trời, đất, sông, nước. Tất cả những thứ đó, bok Sung kể, không phải là vô tri vô giác đâu. Khi bình thường, nó hiền lành. Núi rừng thì có mật ong, có cây gỗ làm nhà, sông suối thì đem nước cho người uống, đem cá cho người ăn, và nước khi chảy mệt dừng lại nghỉ chân ở các bến có cây to thì trong lắm, chỉ ngồi trên hòn đá, nhúng hai chân xuống cũng đủ mát lạnh cả người. Gió thì như anh chàng suốt lúa ăn no rồi cầm ná đi săn trong núi, khi thì chạy mau, khi thì đi rón rén, rình mò từng gốc cây, nói thì thầm, sợ con thú rừng nghe, nó chạy mất. Đá thì lười biếng, quanh năm nằm ì một chỗ, không muốn đi đâu... Nhưng cũng có khi trời đất tức giận, không biết giận cái gì. Nước to lên, chảy ào ào dưới suối, có khi chạy tuốt lên rẫy, lôi cả cây, cả lúa, cả người ném xuống sông Ba. Gió gầm như con cọp chạy ầm ầm, gặp cái gì cũng xô ngã, bẻ gãy cây to bốn, năm người ôm, xô cả nhà, cả người ta. Nhưng khủng khiếp nhất là đá giận. Đá giận thì đá chạy!

Khi nhỏ, bảy tám tuổi, Núp thấy đá chạy một lần rồi. Thật là ghê gớm. Suốt đêm đó, gió và nước nổi giận trước. Tảng sáng hôm sau, hơi đỡ một chút. Gió mệt chạy chậm. Mưa nhỏ dần. Tự nhiên trên đỉnh núi Chư Lây tảng đá to nhất nổi giận. Trước tiên nó xô mấy miếng đất dưới chân nó ra. Nó chuyển mình, rồi bất thình lình nó lật ngược và vụt chạy xuống núi. Nó chạy mau không thể cái gì chạy theo kịp. Nó bẻ gãy hết cây nào cản đường nó. Gặp con thú, nó đấm một cái, con thú chết bẹp ngay. Đến giữa đường, gặp đá bạn, đá con, nó thúc mỗi đứa một cái, tất cả đá ùa chạy theo nó. Thôi thì, cả núi rừng rung lên ào ào, đất thành khói đỏ bay mù mịt. Đồng bào sợ quá, rú lên, chạy vô trốn trong nhà. Các ông già làng nhiều kinh nghiệm, kêu lên:

- Đá chạy! Đá chạy! ố, ố, trốn trong nhà không được đâu! Chạy ra suối hết, mau lên". (Đất nước đứng lên. Sđd Tr. 114-116)

Sau này, làm kịch bản phim "Đất nước đứng lên", Nguyên Ngọc muốn tái tạo một tiểu thuyết "Đất nước đứng lên" bằng một cái nhìn mới, sau 40 năm tiểu thuyết ra đời như một cuốn sách của định mệnh. Bộ phim đã dựng lại trước mắt chúng ta cái đẹp chất phác một làng Kông Hoa của Tây Nguyên, một Núp, một Hơ Liêu của Ba Na, trong một nền văn hóa với những quan niệm bền vững về vũ trụ, về con người và cuộc sống. Người ta thấy các tác giả muốn cắt nghĩa sức sống Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam là bắt nguồn từ văn hoá Việt Nam được Đảng và Bác Hồ đánh thức dậy. Những lễ hội và nghi thức, phong tục gắn với đời sống con người được miêu tả trong tiếng nhạc trầm hùng, nhịp điệu buông thả như tiếng suối, tiếng gió, của rừng, của núi. Trước mắt người xem hiện lên một Tây Nguyên mộc mạc và hùng tráng, tài hoa trong nghệ thuật tận dụng thiên nhiên và mô tả thiên nhiên. Nguyên Ngọc và các tác giả phim đã dày công để giới thiệu với người xem một ngôi đàn suối, phải nói rằng đó là cả một ngôi đàn, với những dụng cụ âm thanh là gỗ, đá, nước; sóng nhạc đung đưa thiết tha theo nhịp điệu suối chảy vào lòng cối, nhấn từng phím đàn. Tôi nghe Nguyên Ngọc kể chuyện rằng, các tác giả phim phải lặn lội hàng trăm ki lô mét vào những vùng sâu mới tìm lại được những người còn lại hiếm hoi của Tây nNuyên có tài năng xây dựng lại ngôi đàn kỳ vĩ. Cái tượng Đất và Nước thuộc quẻ Thủy Địa Tỷ, biểu hiện rất rõ ở hình tượng ngôi đàn suối ấy.

Bộ phim được xây dựng hết sức công phu này tiếc thay lại vướng vào một sai sót đã tiềm ẩn trong mệnh của tác giả kịch bản. Quẻ hỗ Lôi Trạch Quy muội của Nguyên Ngọc bảo rằng, ông sẽ có nhiều sai lầm kiểu “quy muội” (gả chồng cho em gái): thường hay qua loa, đại khái, thiên lệch theo ý thích của mình, lại có khi như vua Đế Ất gả em gái cho một người thường dân, quá coi trọng đạo đức đến mức để cho cái “tay áo của nàng hầu lại đẹp hơn của công chúa”. Quẻ Quy Muội chủ yếu trong thời Thăng, còn phát huy tác dụng sang cả thời Tỷ của ông. Ở đây, đúng là Nguyên Ngọc có một cái sai đáng yêu theo kiểu “Đế Ất quy muội” như thế: ông đã cùng đạo diễn quá đam mê vào việc dựng lại những lễ hội và phong tục Tây Nguyên, khiến những trường đoạn ấy lấn át cả tính cách và hành động nhân vật Núp, đôi khi làm cho phim mang dáng dấp một bộ phim tài liệu hơn là phim truyện.

Quẻ Lôi Trạch Quy Muội cũng chi phối Nguyên Ngọc trong quá trình làm Tổng biên tập báo Văn Nghệ.

Đó là những năm 1986-1988 thuộc Đại vận 6 năm 1986-1991, hào 2 quẻ Thủy Địa Tỷ. Lời hào rất đẹp: Từ trong mà gần gũi với ngoài, giữ chính bền thì tốt. Tài cao đức lớn, được nguyên thủ xứng đáng, quý hiển, phúc trạch lớn, ngôn hành đều thực tâm, tiếng tăm lừng lẫy. Nhưng năm 1986, năm ông được phân công làm Tổng biên tập báo Văn Nghệ thì được quẻ rất xấu: quẻ Thuần Khảm, người xưa còn gọi là Tập Khảm, chủ mệnh là hào 2. Tượng quẻ là hai lần Nước, có nghĩa hai lần hiểm, một tập hợp hiểm nạn, thuộc loại quẻ xấu nhất trong Kinh Dịch.

Hào 2 quẻ Tập Khảm bảo rằng: Năm nay ông gặp nhiều hiểm, hãm, gian nan, trở ngại. Hai lần hiểm. Phải có trí lực, mưu dụng thì mới vượt hiểm được. Ở chỗ hiểm lại đang gặp hiểm, nên chỉ làm được việc nhỏ thôi. Nhưng sẽ có công cứu được cái nguy đổ sụp. Theo các chuyên gia Hà Lạc, người quân tử gặp quẻ Tập Khảm, xem tượng quẻ, thấy có một hào dương ở giữa hai hào âm, biết mình gặp hiểm nạn, nhưng nhờ có lòng thành thực, nhất quán, sáng suốt, cảm được lòng người thì vẫn có thể thoát hiểm, đạt tới hanh thông. Muốn vậy phải vận động, di chuyển, như nước chảy, thì mới thông thoát. Người vào thời Tập Khảm thường thích phù suy hơn phù thịnh. Họ thường có dịp tỏ ra tài đức, vị tha, can đảm, nhân nghĩa, cứu giúp kẻ yếu, biết lo đại sự khi khó khăn, biết dấn thân; tất nhiên, dấn thân thì phải trả giá. Phan Bội Châu nhấn mạnh, thời kỳ quẻ Tập Khảm, không tránh được hiểm nạn, nhưng là người quân tử thì phải biết dụng hiểm (linh hoạt dùng mưu để thoát hiểm), ví dụ, cũng phải biết lựa lúc đối phương sáng suốt nhất, đưa niềm tin, giao ước, qua cửa sổ. Qua cửa sổ (không đồng nghĩa với đi cửa sau), tuy không đàng hoàng lắm, nhưng được lòng người, nhờ vậy mà thoát hiểm. Cái năm Nguyên Ngọc làm báo Văn Nghệ đúng là như vậy.

Đó là năm "sông Cái, chiếc thuyền nan" của Tản Đà ngày trước. Tờ báo vượt lên trong cuộc đổi mới của đất nước. Nhưng Tổng biên tập của nó thì gặp đầy hiểm nạn. Với tinh thần quẻ Thăng chuyển thành quẻ Tỷ, ông là người hết sức nhạy cảm với cái mới, tờ báo do ông phụ trách đã mạnh bạo đề xuất hàng loạt quan điểm đổi mới trong sáng tác văn học, giới thiệu hàng loạt tác giả mới như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Dương Thu Hương... được bạn đọc rất hoan nghênh. Nhưng cũng ở đây, ông đã quá đà khi cho tung ra cả những mệnh đề như “văn chương phải đạo”, “lời ai điếu cho văn chương minh họa” trái với những quan điểm chính thống đang thời thịnh. Hoặc khi giới thiệu những tài năng mới, ông cũng cho giới thiệu cả những tác phẩm của những tài năng ấy, mà người đọc hiểu là xúc phạm những anh hùng dân tộc, hoặc phủ nhận những thành tích văn học một thời. Tất cả những cái đó hoàn toàn có thể điều chỉnh được, nếu như chủ thể biết được trong cấu trúc mệnh của mình có cái anh Quy Muội. Bạn bè thường dùng chữ "cực đoan" để chỉ ra tính cách của Nguyên Ngọc trong các hoạt động xã hội và văn học. Chính cái cực đoan đó là một đặc điểm “quy muội” của ông. Tiếc thay, chúng ta biết đến điều này quá muộn. Cuối cùng, ông cũng chỉ làm được những việc nhỏ thôi, chưa đúng như tham vọng lớn.

Sang năm 1987, quẻ Thủy Phong Tỉnh hào 3. Tỉnh là Giếng. Năm này, vận mệnh ông giống như cái giếng nước trong mà không được uống, trong lòng đau buồn... Tài không được dùng, tuy vẫn đầy hứa hẹn. (Lời hào 3). Ông phải đối mặt với nhiều luồng ý kiến khác nhau, hoan nghênh hoặc phê phán tờ báo. Nhiều sáng kiến mà chưa thực hiện được trên trang báo.

Năm 1988, quẻ Trạch Phong Đại Quá, hào 4. Năm này có những việc quá lớn, phi thường, phải có gan, có chí mới làm nổi. Thấy việc phải, không ai làm, một mình cũng làm, dù có hiểm nguy. Thấy việc trái lẽ, cả thiên hạ theo, một mình không theo, dù bị chê trách. Cương nhu có đủ, gánh việc lớn, làm rường cột của đất nước, nhưng nếu thiên vị, quá nghiêng về phía mềm yếu thì việc sẽ hỏng. Như cây mọc trong rừng bị ngập nước, dễ bị đổ. Tuy vậy, phúc lộc đều có. Đây chính là năm ông vừa phải đối ứng căng thẳng với nhiều ý kiến phê bình báo, vừa phải chuẩn bị lễ kỷ niệm 40 năm báo Văn Nghệ. Cũng là năm ông phải chia tay với báo Văn Nghệ với nhiệm vụ mới: tham gia chuẩn bị Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam khóa 4. Những năm Nguyên Ngọc làm báo Văn Nghệ, quả là những năm Tập Khảm, Tỉnh và Đại Quá.

Phải đợi sang năm 1989, ông mới thực sự thoát ra với quẻ Lôi Phong Hằng hào 5. Lời hào bảo rằng: Năm nay lấy đức nhu thuận mà giữ được vị trí, vai trò người lớn, tri thức cao, biến thông linh hoạt, nghị lực vững vàng, lại được vợ hiền giúp sức, nên vẫn được lâu bền. Tuy vậy lòng vẫn không yên, tiến liều thì dễ bị nhục. Đây là năm Đại hội nhà văn bầu ông vào Ban Chấp hành Hội, với phiếu cao.

Không phải ngẫu nhiên mà những năm sau này, Nguyên Ngọc viết nhiều về biển. Quẻ Thủy Địa Tỷ với tượng Đất và Nước đã tác động mạnh mẽ vào cảm xúc văn chương của ông. Ông làm kịch bản phim "Có một đường mòn trên biển Đông". Ông còn tham gia nghiên cứu khoa học về con người Đất Quảng và làm kịch bản phim tài liệu lịch sử về Vịnh Hạ Long. Kịch bản phim "Có một đường mòn..." có dung lượng một cuốn tiểu thuyết lớn về những con người bình dị làm nên những sự tích anh hùng khai thông một con đường huyền thoại trên biển chở hàng vạn tấn vũ khí từ miền Bắc tiếp tế cho chiến trường miền Nam, những năm chống Mỹ cứu nước. Những con người mà chính Nguyên Ngọc thú nhận là không bao giờ có thể giải thích được hết. Bởi chính sự giản dị của họ. Đó là nhân dân, cụ thể, âm thầm, vô danh. Như mặt đất, như biển. Không bao giờ có thể hiểu hết, nói hết về họ. (Kịch bản phim đã dẫn. Tr. 30, bản đánh máy).

..............Xuân Cang




Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 02.03.2013, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 08.12.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

(tiếp theo)

TẢN ĐÀ - ÁNH CHỚP ĐÊM THẾ KỶ

Trong lịch sử toán Hà Lạc ở nước ta, Tản Đà là người mở mang đầu tiên.

Vào khoảng năm 1938 – 1939, trên đường phố Bạch Mai, Hà Nội, xuất hiện một cửa hàng với dòng chữ đỏ đàng hoàng:
Nguyễn Khắc Hiếu Tản Đà - Hà Lạc lý số. Trên báo Ngày nay lúc bấy giờ đăng quảng cáo cho cửa hàng trên nhiều số báo:

Nguyễn Khắc Hiếu Tản Đà
Nay mai sắp ở Hà
Hà Lạc đoán lý số
Đàn ông và đàn bà
Ai gần xin đến hỏi
Thư gửi người ở xa
Biên rõ năm cùng tháng
Ngày giờ nào đẻ ta
Một cữ ước tuần lễ
Có thư mời khách qua
Quyển số lấy đã rõ
Xin cứ nói thật thà
Hán văn âm quốc ngữ
Quốc văn bầy nghĩa ra
Còn như tiền đặt quả
Nhiều năm, ít có ba*
Nhiều ít tùy ở khách
Hậu bạc kể chi mà


Kính cáo.

(* Năm đồng và ba đồng Đông Dương lúc đó. XC).

Thời nhỏ, nghe cha tôi kể chuyện, ông cũng có lân la đến quán Hà Lạc của thi sĩ Tản Đà xem cho tôi một quẻ. Nhà tôi ở một làng ven đô Hà thành. Tôi không hề biết lá số của tôi thế nào, chỉ nhớ, nó bằng quyển vở học trò có chữ quốc ngữ viết tay bằng thơ lục bát. Và nhớ cha tôi kể: “Ta có ra quán thi sĩ Tản Đà xem cho con lá số. Ta hỏi, đặt tên cho con là Cang có đúng không? Ông bảo, được đấy”. Chỉ có thế.

Lớn lên, tôi mê văn thơ Tản Đà, thường giấu những Giấc mộng lớn, Giấc mộng con, Thề non nước trong hộc bàn học, cùng nhiều sách khác, vừa nghe thày giáo giảng bài, vừa lén đọc. Bây giờ, nghiên cứu Hà Lạc, tôi vẫn thường mong ước làm sao soạn được một chân dung Tản Đà bằng Hà Lạc. Để trả ơn ông. Để thắp một nén nhang tưởng nhớ ông tổ Hà Lạc ở nước ta.

Trong việc này, khó nhất là không biết giờ sinh của Tản Đà. Tôi ngờ rằng, chính ông cũng không biết, do các bậc cha mẹ không quan tâm, hoặc dữ kiện bị chìm lấp trong việc sinh nở nhiều con cái, hoặc chính nhà thơ khi chú ý giờ sinh của mình, thì không còn hỏi được các cụ nữa. Có lẽ, đó cũng là lý do ngày nay không tìm thấy bài toán Hà Lạc ông soạn cho chính ông.

Nhưng tôi có cách tìm ra giờ sinh của Tản Đà.

Trước hết là vấn đề ngày sinh. Mỗi sách chép một dữ liệu. Sách của Tầm Dương (Tản Đà - khối mâu thuẫn lớn. Nhà xuất bản Khoa học Hà Nội, 1964) chép là 28-4 năm Mậu Tý (1888). Sách của Văn Tâm, cũng chính là Tầm Dương (Góp lời thiên cổ sự. Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1991) chép là 31-5-1889. Ngay cái ngày sinh chính thức công bố vào lễ kỷ niệm gần đây nhất trang trọng đặt ở giữa bàn thờ: (25-5-1889 đến 25-5-1999), cuối cùng, cũng không được người nhà ông công nhận. Chị Nguyễn Phượng Tường, con gái ông bảo tôi: Sở Văn hoá Hà Tây, cùng với gia đình mầy mò điều tra, cuối cùng kết luận, ngày sinh của cụ đúng thực là 19-5-1889 cơ. Tôi nói: Để tôi dùng dữ liệu này, nếu quẻ Hà Lạc ứng nghiệm với từng bước đường đời của nhà thơ, thì có nghĩa là các anh chị đã tìm ra đúng ngày sinh của cụ. Và chỉ vài giờ sau, tôi đã có thể reo lên: Thế là chúng ta đã tìm ra đúng ngày giờ sinh của Tản Đà.

Cách làm của tôi đơn giản như sau. Tôi thử dựa vào dữ liệu tin cậy nhất là ngày 19-5-1889. Nhờ bảng tìm Can Chi căn cứ vào ngày dương lịch của nhà lịch học Lê Thành Lân, xác định Can Chi ngày 19-5-1889 là ngày Ất Mùi (Nguyễn Hoàng Phương – Tích hợp đa văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai – Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1996, tr. 247). Lần lượt tìm 12 quẻ, ứng với 12 giờ, trong ngày Ất Mùi. Một trong 12 quẻ đó sẽ là quẻ Tiên thiên của Tản Đà. Việc này không khó lắm, nhờ có máy vi tính. Và khi cả 12 quẻ đã lần lượt hiện lên, thì trước mắt tôi, sừng sững một quẻ mà tôi tin chắc đó là mệnh văn chương của Tản Đà. Linh tính báo cho tôi biết, không thể có một quẻ thứ hai nào khác. Đó là quẻ Sơn Thủy Mông, với giờ sinh là giờ Bính Tý.

Một chân dung Tản Đà hiện lên rõ mồn một, từng nét như sơn khắc, lại huyền ảo ẩn hiện như sơn mài, mà càng mài càng hiện. Như trời cho, như định mệnh. Sơn là núi, Thủy là nước, Mông là mông muội, là thời mà trời đất còn mông lung, đen tối, con người cần được mở mang dạy dỗ cho sáng dần. Tượng quẻ là dòng suối nhỏ hình thành trên đỉnh núi, len lách chảy dần xuống thành suối, thành sông. Trước nay, người ta chỉ biết quê ông ở miền Khê Thượng, Ba Vì, làng quê như cái nôi nằm giữa núi Tản sông Đà, nên ông lấy bút danh là Tản Đà. Ai hay đâu, cái tên ấy bắt nguồn từ mệnh văn chương Sơn Thủy. Tản là núi Tản, là Sơn, Đà là sông Đà, là Thủy.

Mà không phải chỉ có cái tên. Nhắc đến Tản Đà là nhớ ngay đến Thề non nước, bài thơ in dấu son lên cuộc đời văn chương của Tản Đà, cảm hứng bắt nguồn từ tố chất thiên nhiên Núi non, Sông nước:

Nước non nặng một lời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non
Nhớ lời nguyện nước thề non
Nước đi chưa lại non còn đứng không
Non cao những ngóng cùng trông
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày


Các nhà Dịch học dành quẻ Mông để nói về sứ mạng giáo hóa dân trong thời mông muội. Có thể nói, những triết lý cô đọng nhất, tổng kết về sự nghiệp giáo dục được thể hiện ở 6 vạch âm dương quẻ này. Còn các nhà Hà Lạc dự đoán học thì dành quẻ Mông để nói về hành lang số phận các nhà giáo, các nhà ngôn luận, làm sử, làm triết, làm văn, cũng với sứ mạng giáo hóa dân từ cõi mờ mịt, hỗn mang, tăm tối...

Tản Đà sinh trong thời khắc nào, mà sao trời đất đã xui ông sớm viết những tác phẩm dạy dỗ trẻ em như Lên Sáu, Lên Tám, về sau là Đài gương kính, Quốc sử huấn mông. Ông gọi những tác phẩm Lên Sáu, Lên TámTản Đà nhi Quý Sửu văn tập, nghĩa là Tập văn năm Quý Sửu của đứa trẻ Tản Đà. Không nghi ngờ gì nữa, Sơn Thủy Mông chính là thân phận và sứ mạng của Tản Đà.

Như vậy, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu sinh năm Kỷ Sửu, tháng Kỷ Tỵ, ngày Ất Mùi, giờ Bính Tý. Quẻ Tiên Thiên phản ánh tiền vận của đời ông là Sơn Thủy Mông, hào Nguyên đường chủ mệnh là hào 2: Là bậc hiền tài lớn, đại lượng, bao dung được mọi việc, giữ hòa khí với mọi người, trung hiếu vẹn toàn. Dù có là mệnh không hợp cách thì cũng mở mang lập nghiệp nhà, vợ đảm con quý. Lời hào của Chu Công Đán chép rằng: Bao dung kẻ mờ tối, tốt. Dung nạp hạng người nhu ám, tốt. Phận con mà sửa trị việc nhà. (Xem hào 2 quẻ Sơn Thủy Mông). Số phận tốt đến như thế. Lại có Hóa Công, ưu tiên năng lượng của trời đất, có Địa nguyên khí. Nguyễn Hiến Lê giảng: hào 2 dương cương, đắc trung, nên bảo là có đức bao dung; nó làm chủ quẻ nội, thống trị cả 4 hào âm, cho nên bảo nó dung nạp được các hào âm (có thể hiểu các hào âm như đàn bà); nó ở dưới thấp mà lại là hào quan trọng nhất nên ví nó như người con mà cai quản được nghiệp nhà. Đuợc hào này là tốt. Phan Bội Châu chỉ rõ thêm: hào 5 ở địa vị tôn quý trong quẻ, tức như cha trong nhà, hào 2 ở duới, như con. Cha nhu nhược vì là âm, con cương cường, sáng suốt, vì là dương, cảm hóa được cha, làm cho cha hết hôn ám, như vậy là "con sửa trị được việc nhà".

Thực tế vị thế và cuộc sống trong gia đình Tản Đà đã diễn ra đúng như thế.

Nhà văn Nguyễn Văn Phúc, cháu gọi Tản Đà là ông trẻ, đã kể trong hồi ký "Tôi với Tản Đà": Tuy trước kia ông cụ thân sinh ra Tản Đà cũng làm đến quan tỉnh (cụ Nguyễn Danh Kế, Ấn sát Hà Nam. NVP chú thích), nhưng khi đang tại chức, ngài rất cương trực và thanh liêm, nên gia tư rất là thanh bạch, ruộng nương không có đến một mẫu, nhà cửa không có đến một ngôi... Bà mẹ sinh Tản Đà vốn là một cô đào hát tài sắc vẹn toàn. Nhưng chẳng may, ông Án mất khi cậu bé Hiếu mới lên ba tuổi. Bà mẹ trẻ tái giá, thế là cậu sống với “mẹ già” và anh cả, theo ông anh đi đây đi đó, học hành và tính bề lập nghiệp theo con đường khoa cử. Sống trong cảnh bần hàn thanh bạch, Tản Đà lúc đó đã ôm ấp một cao vọng mà người chỉ chờ thời thế... (Tôi với Tản Đà. Nhà xuất bản Văn học – Hà Nội - 1994).

Khi thơ văn Tản Đà còn chưa đăng báo, mà nhiều người đã biết tiếng tăm. Một hôm, Tản Đà nhận được thư của ông Nguyễn Văn Vĩnh, lúc ấy đang làm chủ nhiệm tờ Trung Bắc tân văn, mời viết bài cộng tác, hứa sẽ trả tính số tiền đến trăm đồng mỗi tháng. Một trăm đồng lúc ấy là to lắm. Nhưng Tản Đà đã từ chối vì:...Tôi đã có ý định, nếu khi mình ra góp mặt với đời, thì tự mình phải đứng chủ trương một cơ quan ngôn luận. Cơ quan ngôn luận đó sẽ hoàn toàn thực hành những quan niệm về văn chương, sẽ trình bày những lý tưởng của mình noi theo với quốc dân... Đi theo một người khác để nhờ người tiến cử hộ, thời một nhà văn biết tự trọng không bao giờ chịu làm. (Tôi với Tản Đà. Sđd). Tính dương cương, đắc trung là như thế. Cái vị thế làm người dưới mà phải gánh vác việc lớn của cha mẹ là như thế. Nhưng cái vị thế này, ta không nên hiểu trong một gia đình. Tản Đà là một tài năng sinh giữa buổi giao thời của hai thế kỷ, lúc thơ cổ tàn, và thơ kim đang phôi thai. Tản Đà bắt đầu ca lên những điệu mới, đầy rẫy hồn thơ. (Xuân Diệu. Ngày nay số 166 ngày 17-6-1939). Cái vị thế hào 2 dương bây giờ được xem xét ở tầm của thời đại, ta sẽ thấy Tản Đà là như thế nào.


2


Xin bỏ qua chân dung thời nhỏ của ông, tuy mảng này cũng rất lý thú. Ta bắt đầu từ Đại vận, hào 4 quẻ Sơn Thủy Mông, từ năm ông 16-21 tuổi (1904-1909).

Đây là chặng đường đời khốn khó vào loại nhất của nhà thơ: Tài năng đã bộc lộ, nhưng thân phận còn bị khốn trong vòng tối tăm, không gặp được người giỏi để học, cứ thui thủi giữ tiết lấy một mình, uổng tài ở nơi hẻo lánh (Xem lời hào 4 quẻ Mông). Những năm này, Nguyễn Khắc Hiếu theo ông anh là Phó bảng Nguyễn Tái Tích nay Nam Định, mai Sơn Tây, Vĩnh Yên... chuyên tâm vào lối học khoa cử. Gia đình ông anh đông người, sinh hoạt khó khăn, ngoài cơm ăn áo mặc, kiếm một ngòi bút, một tờ giấy cho việc học hành đối với ông, cũng đã là một chuyện không dễ dàng. (Tầm Dương. Tản Đà - khối mâu thuẫn lớn. Sđd).

Năm Giáp Thìn (1904), ông thuộc quẻ Vị Tế: Dở dang, chưa qua sông. Năm Ất Tỵ (1905), là quẻ Tụng: có xung đột, tranh chấp, kiện tụng. Đến năm Đinh Mùi (1907), vừa 19 tuổi, sáng lên một quẻ Thuần Đoài: Hai lần vui. Đúng năm này, tình yêu đầu chớm nở. Mỗi buổi chiều tan học, ở phố Gia Ngư về phố Hàng Nón, Nguyễn Khắc Hiếu thường phải mua đường đi vòng qua phố Hàng Bồ, là nơi có một bóng dáng đã thu hút mất hồn. Nhờ ông anh rể là Nguyễn Thiện Kế thăm hỏi, mới biết nàng là con gái ông Đỗ Thận (là một nhân vật nổi tiếng thời đó). Tiêu chuẩn kén chồng của nàng là cái ấn quan huyện. Bèn quyết chí học để vào trường Hậu bổ, học làm quan.

Năm Mậu Thân (1908), là quẻ Tùy, hào 2: ràng buộc với người thấp kém thì mất kẻ trượng phu. Năm Kỷ Dậu (1909), là năm quẻ Cách, năm quyết định, cách mạng, cải cách, nhưng phải cái, hào 3 xấu lắm: Tiến liều thì hỏng, phải tính toán sắp đặt thế nào, phải biết thận trọng, lo lắng, học trò phải thi lại... Quả nhiên năm này, thi vào trường vấp phải kỳ ô-ran (đối thoại), “lại đến ô-ran là bước khó” không thể vượt qua.

Đại vận hào 5 quẻ Mông (1910-1915), cuộc đời bắt đầu khởi sắc, sau những năm trăn trở. Đây là chặng đường nhà thơ có địa vị tôn quý, được chọn đảm nhiệm việc lớn, biết dựa vào người hiền, nên công việc trôi chảy (lời hào 5 quẻ Mông). Vẫn còn là những thời Hoán (vào năm Canh Tuất-1910) thời ly tán, chia lìa; thời Thuần Khảm (Tân hợi-1911) hai lần hiểm trở; thời Tiết (Nhâm Tý-1912, quẻ Thủy Trạch Tiết) đòi hỏi điều chỉnh, tiết chế bản thân, rồi đến thời Truân (Quý Sửu-1913, quẻ Thủy Lôi Truân) gian truân mở đường. Rồi mới đến hai năm cuối cùng của Đại vận là năm Giáp Dần-1914, năm Thủy Hỏa Ký Tế, đã sang sông (đã xong việc lớn), tiếp đến năm Ất Mão, năm của thời Cách, quẻ Trạch Hỏa Cách với hào 4 tuyệt vời, khác hẳn với hào 3 quẻ Cách năm nào.

Dựa theo tài liệu của Văn Tâm (Tầm Dương) ta sẽ thấy hoạt động của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đi theo cái hành lang số phận của mình chặt chẽ biết chừng nào. Có thể thấy, những năm Hoán (chia lìa), Khảm (hiểm hãm), Tiết (tiết chế) là những năm tan vỡ mối tình đầu đơn phương, kết thúc bằng cuộc thất bại kỳ thi học làm quan với bài hỏi mẹo về văn sách. Về sau, chàng sĩ tử trong trắng đã ghi lại cuộc thất bại đó như một lời nguyền: các sự bẩn thỉu trong đời, không cái gì bẩn bằng văn sách hỏi mẹo (Tản Đà, khối mâu thuẫn lớn. Sđd). Chàng từ bỏ con đường khoa cử làm quan, tiếp xúc với các sách Tây phương, các tư tưởng tân tiến trên báo chí Trung Hoa thâm nhập vào trong nước, dựa vào những người hiền là nhà thơ Nguyễn Thiện Kế, nhà kinh doanh Bạch Thái Bưởi.

Dấu ấn quẻ Tiết để lại trong đời sống Tản Đà thật là khó quên. Sau những gian truân, hiểm hãm, đến quẻ Tiết, hào 1, hướng con người vào việc tự điều chỉnh, tự tiết chế mình. Lẽ trời thế, mà lẽ đời cũng thế. Tự tiết chế cho cân bằng, cho chừng mực vừa phải thì không sao, như người không ra khỏi cổng, sân, không lỗi gì (lời hào 1 quẻ Tiết).

Nhưng ở Tản Đà, bên cạnh quẻ Mông, hay đúng hơn, trong lòng quẻ Mông, có quẻ Địa Lôi Phục. Lôi là Sấm, tượng của cái động, mạnh mẽ, chấn động, với ưu tiên năng lượng dồi dào của trời đất, nên đã tiết là tiết ghê tiết gớm, tiết quá chừng. Chu Văn Vương cũng đã nhắc trong lời Thoán quẻ Tiết rằng: Tiết chế đến mức cực khổ thì không ai chịu được lâu (xem quẻ Tiết). Tản Đà đã tiết đúng như thế. Ông đã trôi nổi về ấp Cổ Đằng (nơi khai hoang của Nguyễn Thiện Kế), ở đây, tâm bệnh ngày càng tăng, đến một cơn khủng hoảng tinh thần, “cái bụng chán đời đến cực điểm” (Giấc mộng lớn), nhà thơ đã thử thách mình bằng một cuộc “tịch cốc” (nhịn ăn cơm).

Ông đã kể lại chuyện này trong "Giấc mộng lớn" sau ba hôm nhịn ăn, khát không chịu được thì còn phải uống nước.

“Ba hôm như thế, sầu khổ không thể chịu được nữa, thời lại phải uống rượu. Rượu cũng uống suông, mà uống đến thật say, nguyên đã ba hôm không ăn, trong bụng hư không, lại một phen say rượu mê ly, thành ra từ đấy về sau khác hẳn từ đấy về trước. Bụng không biết no, không biết đói, người không biết vui, không biết buồn, chỉ cứ mỗi ngày một bữa rượu, hoặc uống suông, hoặc ăn một đĩa rau dưa nhỏ con, xong rồi đem chõng ra nằm dưới gốc cây ngọc lan, nghe những con chim kêu trên cành cây, hoặc là xem những đám mây đi trên không, xem kết cục đến đâu là hết..." (Tản Đà, khối mâu thuẫn lớn. Sđd). Sau ba tháng ở ấp Cổ Đằng, Tản Đà về quê. Ở Cổ Đằng, ăn toàn rau, thì bây giờ, ông lại ăn toàn thịt. Ba tháng sống một cách dị thường nữa trôi qua. Sau đó, Nguyễn Khắc Hiếu sang phủ Vĩnh Tường (Vĩnh Yên) ở với Nguyễn Tái Tích, một người anh, và bắt đầu “tập ăn cơm”.

Quẻ Tiết chỉ đến với Nguyễn Khắc Hiếu một lần như thế trong đời. Nó có tác dụng gì không biết, chỉ biết những năm tháng ấy, đã ra đời hai tập bản thảo mà hai phần ba thế kỷ sau đó, lại lưu lạc đến tay người con cả của ông: nhà “Tản Đà học” Nguyễn Khắc Xương. Tập thứ nhất có tên Quý Sửu niên, Tản Đà văn tập nghĩa là Tập văn Tản Đà năm Quý Sửu (1913), dày 40 trang, chép 33 bài văn xuôi và 9 bài thơ. Tập thứ hai có tên Tản Đà nhi Giáp Dần văn tập, nghĩa là Tập văn của đứa trẻ Tản Đà năm Giáp Dần (1914), dày 104 trang, chép 30 bài văn xuôi và 5 bài thơ. (Nhân tiện nói thêm: Tập Quý Sửu, bìa trong cũng có 3 chữ Tản Đà nhi). Có nghĩa là, mặc dầu trải qua những hoán tán, khảm hiểm, rồi là truân nạn, nhưng rõ ràng là, công việc sáng tác văn thơ vẫn trôi chảy, như lời hào 5 quẻ Mông nói về cả chặng đường.

Và với tài năng Tản Đà, cái gì phải đến đã đến, như tín hiệu Hà Lạc năm Ất Mão (1915) hào 4 quẻ Cách: Mưu cao chí lớn, làm được cuộc cách mệnh, hợp lý hợp tình, được tiến cử, đổi được cái mệnh của mình. Năm này, Đông Dương tạp chí đăng những bài văn xuôi đầu tay của Tản Đà, khen: Nguyễn Khắc Hiếu là một bậc văn sĩ có biệt tài, có lý tưởng riêng, ngắm cảnh vật một cách kỳ khôi, lạ thay cho một bậc thiếu niên. Thoạt tiên, mở riêng mục Một lối văn xuôi (Specimen de Prose) sau đổi thành Tản Đà văn tập. (Theo Văn Tâm: Góp lời thiên cổ sự. Sđd). Đúng là ông đã đổi được cái mệnh của mình. Cũng trong năm quẻ Cách này, ông kết duyên với bà Nguyễn Thị Tùng, con gái của Cử nhân Nguyễn Mạnh Hướng.

15 năm tiếp theo gồm hai chặng đường 9 năm và 6 năm, là đỉnh cao trong cuộc đời văn chương, báo chí của Tản Đà, sáng rực rỡ như một “ánh chớp trong đêm thế kỷ”.

Lời hào 6 dương quẻ Mông (Đại vận 9 năm) báo trước rằng, đây là một chặng đường đặc biệt, chủ thể sẽ quan tâm rất nhiều về phương pháp giáo hóa dân (lời hào: phép đánh bật cái ngu tối đi), có nghĩa là, ở Tản Đà sẽ quan tâm nhiều về phép tắc, cách thức, hình thức, làm sao tác động mạnh mẽ tới người dân thường, trong điều kiện thời thế còn tăm tối, dân chưa thức tỉnh, có một bộ phận dân còn khó bảo, Dịch học gọi là “loạn dân”. Đối với những “loạn dân” ấy, phải biết từ tốn, đừng ức chế dân, làm cho dân thành giặc. Hà Lạc bảo, đây là những năm có danh vị, lợi lộc, hoặc lập chiến công, đầy chí khí, không sợ đảm nhiệm việc lớn. (Những chữ in nghiêng ở trên là lời hào 6 quẻ Mông). Trên đây là tín hiệu chung của cả chặng đường. Ta hãy xem từng năm.

Năm Bính Thìn (1916), năm đầu tiên của Đại vận là năm dương, cũng chính là năm thể hiện hào 6 quẻ Mông đã nói trên kia: Tản Đà đã khước từ ân huệ của Vay-rắc, Giám đốc trường Hậu bổ lúc đó, cho vào thẳng trường, không phải qua kỳ thi ô-ran, có nghĩa là từ bỏ mộng làm quan, dứt khoát đi vào văn nghiệp, không sợ đảm nhiệm những việc lớn. Ông xuống Hải Phòng viết những vở tuồng như Tây Thi, Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai cho rạp Nguyễn Đình Kao.

Năm Đinh Tỵ (1917), hào 3 quẻ Sơn Phong Cổ nói về sự sửa sang cái đổ nát của cha mẹ, (cũng có nghĩa là của thế hệ trước), hào 3 bảo rằng: Sửa sang sự đổ nát của cha, có chút hối hận, nhưng không có lỗi lớn. Là kẻ sĩ cương quyết, sửa trị không kiêng nể, có sai, nhưng rồi được sửa. Tản Đà viết truyện dài đầu tiên của văn xuôi Việt Nam: Giấc mộng con I, xu thế văn tả hiện thực “cái tôi” rất mạnh mẽ.

Đến nỗi sang năm 1918, viên Thượng thư tương lai của triều đình Huế, Phạm Quỳnh, chủ bút Tạp chí Nam Phong phê phán hết sức nặng lời về xu thế ấy trong Giấc mộng con I:... “Người ta, phi người cuồng, không ai trần truồng mà đi ngoài phố. Nhà làm sách cũng vậy, không ai đem thân thế mình mà làm truyện cho người đời xem”. Nhưng cũng trong năm 1918 ấy, nhà văn Dương Bá Trạc (1884-1944) viết: “Mới mươi mười lăm năm nay, sĩ phu trong nước mới có khuynh hướng về văn quốc âm... Ông Nguyễn Khắc Hiếu chính là một tay kiện tướng trên trường hàn mặc ấy”. (Hàn mặc: bút mực). Cương quyết, sửa trị không kiêng nể, nhưng không có lỗi lớn, có phải là vậy chăng?

Năm Mậu Ngọ (1918), quẻ Địa Phong Thăng, hào 6 bảo rằng: cầu lên nữa là mờ ám, nên tu tỉnh. Bình luận hào này, Phan Bội Châu bảo rằng: Không cầu lên về địa vị, nhưng hướng về tu đức lại rất hay. Chắc chắn Tản Đà hướng về tu đức, ta sẽ thấy sau đây.

Năm Kỷ Mùi (1919), quẻ Địa Thiên Thái, hào 1: có một cuộc tiến hành lớn, quang minh, chính đại, cùng bạn đồng hành, có ngày vượt lên. Hai năm này, Tản Đà viết truyện Thần tiền. Nhân vật là đồng tiền kể chuyện mình: khi ở trong tay người nông dân, khi vào cửa quan, khi là bình dân, khi trở thành thần, qua tâm trạng và tính cách thần tiền, mà làm bật lên các nhân vật xung quanh thần tiền. Cũng trong năm Kỷ Mùi, với khí thế cuộc tiến hành lớn của hào 1 quẻ Thái, Tản Đà viết Lên Sáu, cuốn sách giáo dục trẻ em, viết xong in ngay, sau đó là Lên Tám.

Năm Canh Thân (1920), được quẻ Địa Hỏa Minh Di. Minh là Sáng, Di là Đau. Minh Di là ánh sáng bị tổn thương. Hào 2 âm quẻ Minh Di bảo rằng, năm nay ánh sáng bị tổn hại, nhưng rồi sẽ vượt lên như con ngựa mạnh. Riêng với kẻ sĩ sẽ có cái mừng chiếm được công đầu. Năm Canh Thân đã diễn ra với Tản Đà đúng như thế.

Tháng Giêng, được sự giúp đỡ của một nhà doanh nghiệp, ông Bùi Huy Tín, chủ nhà in Đắc Lập, Huế, ông đi thăm Huế. Và Tản Đà đã rời gia đình vào đúng ngày 30 Tết năm Kỷ Mùi, hôm sau đã là mồng một Tết năm Canh Thân.

Canh Thân ăn Tết Thăng Long
Sáng ngày mồng bốn vào trong Trung Kỳ.


Tản Đà lúc này danh tiếng đã nổi như cồn, nhưng chuyến đi thăm Huế ấy không khỏi làm cho ánh sáng bị tổn thương, bởi lời phê phán nghiệt ngã của Phạm Quỳnh còn đó, và ở ngay trên đất Huế. Nhưng, với khí chất thiên nhiên là Sơn Thủy, chuyến đi thăm Huế ấy cũng đã làm thức dậy những cảm xúc mãnh liệt, sau này được Tản Đà ghi lại trong Giấc mộng lớn:

“Rộng mắt nhìn sơn hải, mà nặng lòng chủng tộc giang sơn. Trèo lên đỉnh Hoành Sơn mà trông quanh ngoài bể trong non, có hơn như phục dưới đèn xanh đọc một thiên luận thuyết tự tôn vậy”.

Chính trong năm ấy, nhà thơ viết truyện ngắn Thề non nước, kể chuyện mối tình chia ly thương nhớ, trong đó có bài thơ Thề non nước nổi tiếng, bài thơ mệnh của Tản Đà. Cảm xúc Huế vận vào quẻ Sơn Thuỷ Mông mang dấu ấn quẻ Minh Di (tổn thương) đã làm nên những câu thơ đẹp sống mãi trong lòng người đọc:

Nước non nặng một lời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non
..............
Dù cho sông cạn đá mòn
Còn non còn nước hãy còn thề xưa
Non cao đã biết hay chưa
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn
Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi
Nước kia dù hãy còn đi
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.


Năm Tân Dậu (1921), Tản Đà được quẻ Địa Lôi Phục. Phục là trở lại, trong quẻ này là trở lại với cái tốt lành. Hào 3 chủ mệnh bảo rằng: Trở lại theo điều thiện nhiều lần, chưa được là quý nhân, lúc tiến lúc thoái, dễ sinh miệng tiếng, nhưng không hối thẹn. Mệnh Năm kẻ sĩ sẽ đứng đầu sổ, thành danh (xem lời hào 3 quẻ Phục). Sự tình trong thực tế đã diễn ra như sau: Ông được mời làm chủ bút báo Hữu Thanh. Hữu ThanhTiếng bạn. Báo Hữu Thanh là tờ báo cất tiếng gọi đàn, cơ quan của Hội Ái hữu Trung Bắc kỳ nông công thương tương tế, do nhóm các ông Nguyễn Huy Hợi và Nguyễn Mạnh Bổng chủ trương. Làm chủ bút báo Hữu Thanh, Tản Đà liền có ngay những chủ trương cách tân. Ví dụ: số 3 Hữu Thanh ra ngày 1-9-1921, đăng vở kịch "Chén thuốc độc" của Vũ Đình Long với lời giới thiệu khen ngợi của Tản Đà. Sau này, quả nhiên vở kịch được công chúng nhiệt liệt hoan nghênh. Ông Vũ Đình Long, cùng với nhiều hoạt động khác, trở thành một nhà văn hóa lớn. Làm chủ bút Hữu Thanh được 6 tháng, không biết chuyện gì đã xảy ra, ông phải từ chức. Xem lời hào và quẻ, tôi ngờ rằng, ông mắc lỗi gì đó, phải sửa trở lại nhiều lần, lúc tiến lúc thoái, sinh miệng tiếng, nên họa sinh từ đây. Nhưng lời hào còn bảo rằng, không hối thẹn. Tản Đà là người rất biết cái mệnh và khí chất của mình, nên cuộc chia tay với báo Hữu Thanh diễn ra rất chủ động, không có gì phải ăn năn, như bốn câu thơ từ biệt bạn đọc sau đây:

Mới nửa năm trời báo Hữu Thanh
Biệt ly lai láng xiết bao tình
Chút tình hữu ái không ly biệt
Tiếng gọi đàn xa núi Tản xanh
.

(Theo Nguyễn Văn Phúc: Tôi với Tản Đà. Sđd)

Năm Nhâm Tuất (1922), được quẻ Thuần Chấn. Tượng quẻ là hai lần sấm động. Sấm động thì vạn vật nẩy nở, nên hanh thông. Mệnh Tản Đà có Hóa Công ở Chấn, nên có ưu tiên năng lượng của giời đất. Lời quẻ bảo rằng: sấm động thì hanh thông, nhưng người quân tử phải biết lo sợ và tĩnh tâm, thì mới khỏi tai nạn. Quẻ tốt, nhưng hào chủ mệnh là hào 4 thì xấu. Lời hào 4 bảo rằng: Sấm chìm xuống bùn. Hãy tiết chế dục vọng, tuy sự nghiệp không khởi sắc, nhưng cũng duy trì được tư thế. Kẻ sĩ phòng ruồng bỏ đình đốn. Tản Đà về quê với vợ trẻ con thơ, mất chỗ làm ăn, mất nguồn lợi sinh sống, rõ ràng là phải tiết chế rất nhiều. Tháng ba năm ấy, lão mẫu (mẹ già) qua đời, ứng vào hào 6 quẻ Thuần Chấn: sấm kinh hoàng. Đề phòng tai họa xấu. Nhưng nhờ có Hóa Công, nên không đến nỗi sụp xuống bùn lầy. Hào 6 quẻ Thuần Chấn khi biến đổi âm thành dương thành quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp. Phệ là cắn, Hạp là hợp. Phệ Hạp là cắn để hợp, ngày nay là đấu tranh để hòa hợp. Lo lễ tang cho mẹ già xong, Tản Đà ra Hà Nội, cùng hai người bạn nữa, lập Tản Đà thư điếm, sau đó lại hợp với Nghiêm Hàm ấn quán, gọi tên là Tản Đà tu thư cục.

Hai năm cuối của Đại vận 9 năm, hào 6 dương quẻ Mông, Tản Đà dành phần lớn hoạt động cho Tản Đà tu thư cục, chủ yếu cho công việc dịch thuật. Đó là hai năm quẻ Trạch Lôi Tùy (1923) và Thiên Lôi Vô vọng (1924).

Tùy là Theo. Chủ mệnh hào 5 quẻ Tùy: Có lòng thành dùng người hiền, nên có kết quả, nhiều người theo, lập được công.

Vô vọng là Không dục vọng, không càn bậy. Chủ mệnh hào 6 quẻ Vô vọng: Nên sống yên tĩnh, vô tư, trong sáng, hành động thì bị họa. Giữ gìn nhưng cũng phải thông biến thì mới phòng được nguy, giữ được phúc trạch. Vận năm cho kẻ sĩ là thấu được tình nhưng không đạt được lý. Chỉ nghe tên quẻ cũng đủ thấy hai năm này thuận cho việc dịch văn thơ. Muốn dịch cho hay, tất phải thông tuệ mà theo người, vô tư, không dục vọng, trong sáng nhưng cũng phải thông biến, có thể thấu tình, nhưng đạt lý thì khó đấy. Thời kỳ này, Tản Đà viết Quốc sử huấn mông; cùng Nghiêm Thượng Văn, Đặng Đức Tô dịch Đại học, dịch thiên Quốc phong trong Kinh Thi, san nhuận bản dịch Tỳ bà hành của Đoàn Tư Thuật. Những năm này mở đường cho cảm hứng dịch và nghệ thuật dịch của ông trong nhiều năm sau.

Tuy nhiên, sứ mạng thức tỉnh con người trong thời Sơn Thuỷ Mông không cho ông “Tùy” với “Vô vọng” mãi được. Một chặng đường mới đã đến, bắt đầu từ năm Ất Sửu (1925) ứng với Đại vận hào 1 quẻ Mông: Làm sáng tỏ phép tắc, phương pháp giáo hóa dân từ cõi mù mịt. Đây là những năm gặp được quý nhân, chuyên cần đi vào sự nghiệp, không mưu cầu danh lợi, cũng không cần văn bằng, kiên trì xây dựng những tấm gương, không cần quyền uy mà vẫn thưởng phạt được (lời hào 1). Sang năm 1925, thế cục xoay vần, cùng lúc vận mệnh Tản Đà bước vào hành lang mới, ông quyết định dừng Tản Đà tu thư cục, tìm cách mở tờ báo mới.

Đang lo làm sao xoay được vốn, thì bỗng gặp quý nhân. Một người không quen biết, trong một cuộc gặp ngẫu nhiên, giúp cho một trăm bạc. Công việc cần đến 3.000 bạc, nhưng với cái vốn nhỏ nhoi ban đầu ấy, cũng đủ cho Tản Đà thuê được nhà, xin được giấy phép, giật gấu vá vai, ra được tờ An Nam tạp chí. Số đầu tiên ra mắt quốc dân ngày 1 tháng 7 năm 1926.

Ra được tờ An Nam tạp chí, nắm trong tay tờ báo, hoàn toàn chi phối nó, chính là một điều đắc ý của Tản Đà. Bởi vì, có vậy ông mới viết cho thỏa ý mình, mới hành động cho thỏa cái chí bình sinh của mình. Bởi vậy, dù có điêu đứng trăm bề, nợ nan chồng chất, dù tờ báo có chết đi sống lại (từ lúc ra báo đến lúc dừng hẳn cả thảy 5 lần chết sống), ông cũng vui lòng. Ai hay trong hành động quyết liệt ấy, tiềm ẩn cái mệnh trời cho: Làm sáng tỏ phép tắc (đường lối), phương pháp giáo hóa dân.

Tản Đà ra sức chăm sóc tờ tạp chí. Ngay cái tên tờ tạp chí, ông cũng có chủ đích. Khi có người băn khoăn khó chịu về cái tên An Nam, ông viết bài giải thích: “Không cứ những người thôn quê ít học, đàn bà trẻ con cùng với nhau nói chuyện cũng là nói “người An Nam ta”... “Quốc hiệu là cái chữ, cái tiếng để gọi tên một nước, quý hồ cho mọi người trong nước cùng biết, không cần phải nhận nghĩa lắm làm chi. Nếu nước ta sau này mà trời cho khá lên thì hai chữ An Nam cũng chẳng khác gì những chữ France, Japon, Angleterre, Russie, Etats-Unis, Chine... Nếu hèn mạt không ra bộ dạng gì, thì dẫu Đại Việt hay Đại Nam, hay là Đại Cồ Việt, mà cũng chỉ là cái nước ấy vậy.” (Theo Tầm Dương. Tản Đà - khối mâu thuẫn lớn. Sđd).

Ông cho mở hai mục "Việt Nam nhị thập thế kỷ – Xã hội thiển đàm" và "Việt Nam nhị thập thế kỷ – Xã hội ba đào ký" và khai bút cho hai mục này, nói rõ chủ trương ghi chép chuyện đời, cảnh thế sự thăng trầm trong xã hội đương thời. “Bản chí khai thiết ra mục này để hoan nghênh các bài lai cảo của đa số quốc dân trong ba kỳ, không cứ người có nhiều văn học hay kém sự học vấn, người tai mắt ở thành thị hay ông lão thôn quê, phàm những điều mắt thấy tai nghe trong khoảng 30 năm nay (là kể từ năm 1901 tới nay), không kể điều hay nhẽ dở, sự nhỏ việc to trong xã hội, xin nhất thiết gửi về cho bản chí. Bản chí rất vui lòng đăng tải, để người nơi nọ biết được sự tình của người nơi kia, kẻ sinh thuở sau được nghe câu chuyện về thuở trước.” Những bài Xã hội thiển đàmXã hội ba đào ký đầu tiên trên An Nam tạp chí đều do Tản Đà viết. Ông kể sự khó khăn lúc mở Tản Đà tu thư cục ở Hải Phòng, cảnh tang thương ở Trấn Hải Đài (Thuận An), tình cảnh trí thức thất nghiệp, câu chuyện khôi hài về chiếc ô tô...

Sau Tản Đà, là đến Nguyễn Công Hoan. Với mấy chục truyện ngắn đăng liên tục trong Xã hội ba đào ký của An Nam tạp chí, Nguyễn Công Hoan đã bước hẳn vào con đường văn học hiện thực phê phán. Cũng có thể nói, An Nam tạp chí chính là bà đỡ của nhà văn Nguyễn Công Hoan nổi tiếng sau này. An Nam tạp chí còn mở hai mục "Văn đàn" và "Thi đàn giảng tập", chuyên bàn về việc viết văn thơ thế nào cho hay. Chẳng hạn, theo Tầm Dương, những ý kiến của Tản Đà về công việc của nhà văn còn khiến cho các nhà văn hiện nay phải suy ngẫm. Tản Đà nói rằng, muốn thành nhà văn chân chính phải có công phu: trừ súc văn liệu, (thu thập tài liệu sống, tài liệu văn học); quảng bị văn thức (học tập kiến thức văn học, kỹ thuật nghiệp vụ cho rộng); bảo dưỡng tinh thần (giữ cuộc sống trong sạch cho tinh thần minh mẫn).

An Nam tạp chí cũng chĩa ngọn bút sắc sảo vào những kẻ quan lại đục khoét bòn rút của dân đen. Tản Đà viết về vụ ăn hối lộ của Tri phủ Anh Sơn (Nghệ An):

Thái Bình chưa dứt tiếng kêu oan
Lại tiếng kêu trời ở Nghệ An
Một phủ Anh Sơn trong mấy tháng
Mà tay Phan Tử lấy ba ngàn

Cùng phường dối nước, quân ăn cắp
Cũng lũ tàn dân, giống hại đàn
Lạnh lẽo hơi sương toà tạp chí
Lệ ai giàn giụa với giang san.


Nhưng An nam tạp chí càng được bạn đọc yêu quý bao nhiêu, thì càng lâm vào cảnh nợ nần: nợ tiền nhà, tiền giấy, tiền in, tiền công xá trả cho nhân viên. Tản Đà ví tờ báo như "chiếc thuyền nan trên sông Cái", mà ông là người chèo lái:

Nghìn trùng sóng gió ba khoang nứa
Bốn mặt non sông một mái chèo...


An Nam tạp chí ra được 10 số đầu tiên thì tạm ngừng, tòa báo giải tán. Tản Đà còn 7 đồng trong túi, dám đi chuyến du lịch vào Nam Kỳ. Hóa ra, một chuyến đi may mắn. Lại gặp quý nhân, lần này là ông Diệp Văn Kỳ, chủ báo Đông Pháp, tặng món tiền to: 1.000 đồng. Ra Bắc thanh toán công nợ xong, Tản Đà lại vào Sài Gòn, nhận lời mời của Diệp Văn Kỳ, phụ trách trang Phụ trương Văn chương trên báo Đông Pháp. Chuyến đi này có thêm nhà văn Ngô Tất Tố cùng đi.

Những chuyện trên diễn ra trong năm 1927, là năm quẻ Sơn Hỏa Bí, chủ mệnh hào 3: đằm thắm, sang trọng, tài lộc dồi dào. Thực tế diễn ra đúng như thế. Thật kỳ diệu. Chỉ có điều hơi tiếc, được quẻ này hào này, thánh nhân bảo phải giữ chính đáng và bền thì mới tốt. Nhưng theo hồi ức bạn bè kể lại thì nhà thơ nhiều khi say khướt và có nhiều điều tiếng. Cuối cùng, việc làm Phụ trương Văn chương cho Đông Pháp cũng không bền, sang đầu năm 1928 thì chấm dứt.

Năm 1929, Tản Đà làm xong và cho in tiểu thuyết tự truyện Giấc mộng lớn. Nhờ cuốn sách này, về sau nhiều nhà nghiên cứu mới thật hiểu Tản Đà giữa những bề bộn văn thơ, sự kiện và tính cách. Việc này ứng với hào 5 quẻ Thiên Hỏa Đồng nhân: Dương cương, trung, chính, ứng hợp với hào 2 cũng trung, chính, nhưng không dễ mà đồng nhân, cùng người được, còn bị những hào 4, hào 3 cản trở, phải dùng sức lớn đánh dẹp, mới tìm đến nhau mà vui vẻ được. Sức lớn ấy, chính là cuốn Giấc mộng lớn để đời.

Ba năm cuối cùng của một thời Sơn Thủy Mông đã diễn ra đúng như định mệnh: Tản Đà ra sức chạy vạy, đắp đổi, đi đây đi đó, từ mạn rừng lại trở về mạn bể, có lúc đã định yên phận trong một ngôi nhà lá ở một nơi vắng vẻ trên vùng đồi Vĩnh Yên. Nhưng chí lớn lại thức dậy, năm 1930 là năm có quẻ Trạch Hỏa Cách cuối cùng của thời Mông, cũng là hào 6, hào cuối cùng của quẻ Cách. Tản Đà lại cố gắng đối phó với mọi khó khăn, tổ chức một báo quán mới ở Bờ Hồ Hà Nội, cho An Nam tạp chí được tiếp tục ra mắt bạn đọc.

Tháng 7-1930, trên An Nam tạp chí số 11, Tản Đà viết: “Phen này, An Nam tạp chí lại ra, riêng lòng tôi thấy phần lanh lợi, vui mừng kém trước, mà sự lo sâu nghĩ xa hơn xưa.” Đó cũng là tiếng nói của mệnh: Hào 6 bảo rằng công việc cải cách đến đây đã xong, nên ngừng lại, đi nữa thì xấu. Nhà nghiên cứu Tầm Dương (tức Văn Tâm) sau này viết về sự kiện đó: Đúng như điều lo ngại mà linh tính đã báo trước (Tôi nhấn mạnh. XC), số phận An Nam tạp chí cũng là chết yểu. Chỉ trong hai tháng, từ tháng 7 đến tháng 8-1930, báo ra tiếp được ba số (11 đến 13), rồi lại đành im hơi lặng tiếng. (Bốn tháng sau, An Nam tạp chí chuyển xuống Nam Định, tục bản lần thứ hai, cũng chỉ được thêm mấy kỳ nữa).

(Còn tiếp)



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 08.12.2012, sửa lần 4
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 08.12.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

(tiếp theo)

TẢN ĐÀ - ÁNH CHỚP ĐÊM THẾ KỶ (tiếp theo)

Nhưng ánh chớp còn sáng loé lên rực rỡ một lần nữa.

Từ mùa xuân 1931, Tản Đà bước vào vận hội mới, quẻ Địa Sơn Khiêm, chủ mệnh là hào 5, hào chí tôn của quẻ. Khiêm là khiêm nhường, người được quẻ này lấy sự khiêm nhường mà thu phục cả thiên hạ. Năm 1931, cuộc sống Tản Đà ứng với hào 5 quẻ Thuỷ Sơn Kiển. Kiển là gian nan. Hào 5 được ví với một ông vua có tài, vào thời gian nan, được bạn bè ra sức giúp, nhưng cũng khó thoát được hiểm. Quả đúng như vậy.

Mùa xuân năm 1931 trôi qua, quay về Hà Nội, được một số bạn hữu cộng tác, Tản Đà chấn chỉnh An Nam tạp chí cho thành một tờ báo lớn...

An Nam tạp chí tục bản lần thứ ba bắt đầu từ tháng tư 1931. Báo ra đúng kỳ hạn được mấy chục số. Đến số 42 thì lâm vào cảnh hiểm. Báo ra thất thường, đến số ra ngày 9-7-1932 người ta thấy hiện ra mấy dòng chữ cỡ lớn:...” Vì tôi còn thiếu tiền in tờ tạp chí từ khi xưa, số tiền hơn 600 đồng bạc, đến nay do món nợ ấy, thành đến báo quán bị tịch biên”. Đến đầu năm 1933, báo đình bản hẳn. Trên mấy số An Nam tạp chí cuối cùng, Tản Đà bắt đầu quảng cáo “chữa thơ cho thiên hạ”. Sau mấy tháng làm trợ bút cho Văn học tạp chí, chuyên việc bình giảng văn thơ, Tản Đà lui về quê nhà ở Khê Thượng:

Công danh sự nghiệp mặc đời
Bên thời be rượu, bên thời bài thơ.


Những sự kiện năm Nhâm Thân (1932) ứng nghiệm vô cùng với hào 6 quẻ Phong Sơn Tiệm. Quẻ này có tượng một con chim hồng, bay dần từ biển lên gò núi cao. Đến hào 6, chim hồng không còn ở đỉnh gò nữa, mà đã lên... mây. Lời hào 6 nói rằng: Chim hồng bay bổng tầng mây. Lông nó (rớt xuống) có thể làm đồ trang điểm, tốt. Cái thời năng nổ hoạt động đã chấm dứt, đây là lúc nhà thơ nhẹ cánh chim hồng.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào 6 ở trên cùng, ở trên cả hào 5 chí tôn, nhưng nó không còn “vị” gì cả, vô dụng. Trong quẻ này, nó ở cao hơn cái gò cao, tức là trên không trung, trên đường mây. Nó là xuất thế, khí tiết thanh cao, khác phàm; tuy không trực tiếp giúp đời, nhưng có tư cách làm gương cho đời, xã hội có họ thì mới văn minh. Cũng như lông chim hồng, không dùng vào việc ăn uống, cất nhà, chở đồ, cày ruộng... được, nhưng làm đồ trang điểm như cờ, quạt, mũ thì lại quý. Phan Bội Châu ghi chú thêm: hào 6 dương (quẻ Tiệm) là một hạng người không lụy vào lưới đời, duy có danh cao, khí chất khác thường lưu ở nhân gian. Tỷ như ông Phạm Viên ở nước ta, ông Ta-go-rơ ở Ấn Độ; một người thì lấy cách thần tiên mà khinh miệt cả vương hầu, một người thì lấy thơ ca mà tiêu dao khắp Âu, Á. Thiệt là chim hồng bay ở đường mây, mà lông rơi còn dùng được làm cờ quạt đó vậy. Quả thật, cùng với sự kiện chấm dứt một cách đau đớn An Nam tạp chí, con chim hồng Tản Đà bay bổng đường mây để lại cho đời hàng loạt tác phẩm đẹp in dấu năm Nhâm Thân (1932): Giấc mộng con II, Thề non nước (in lại cùng với truyện Kiếp phong trần),Trần ai tri kỷ, Tản Đà văn tập, Khối tình con III (thơ), (Theo Tạp chí Tác phẩm mới, số 6-1999).

Những năm sau này, Tản Đà dành thời gian dịch thơ Đường. Những bài dịch tuyệt tác về thơ Đường ra đời. Năm Giáp Tuất (1934), ông được quẻ Phong Thiên Tiểu Súc. Tiểu Súc có hai nghĩa: ngăn trở nhỏ, tích chứa nhỏ. Vì là ngăn trở nhỏ nên vận còn hanh thông, hanh thông nhưng cũng không thể hành động lớn, cứu đời được. Người quân tử được quẻ này biết rằng thời cơ chưa đến, tốt nhất là thu mình lại, tu đức, luyện tài, thảo văn, viết sách, ung dung đợi dịp. Đó chính là tích chứa nhỏ. Phan Bội Châu trong lời phụ chú, bình giảng thêm rằng: “...Xưa nay việc tu thân cứu thế cốt ở hành động mà không cần hư văn, chẳng may hoàn cảnh gay go, thời thế bắt buộc, chưa thể giương đôi cánh lớn, mới phải quay đầu làm những việc soạn sách, lập ngôn. Như Khổng Tử, Mạnh Tử, không gặp thời, quay về viết sách, làm kinh, muôn đời sau bất hủ. Người đời sau coi đó là việc lớn, nhưng Thánh nhân chỉ xem bằng Tiểu Súc mà thôi”.

Tản Đà trong năm Tiểu Súc của mình đã làm những gì?

Dấu ấn còn lại là tập thơ Tản Đà xuân sắc. Nhưng tôi nghĩ là ông còn làm được nhiều hơn thế. Năm Ất Hợi (1935), hào 3 quẻ Phong Trạch Trung Phu: tâm chí bất định, chắc ông không làm được gì đáng kể. Năm Bính Tý (1936), hào 4 quẻ Thiên Trạch Lý, lời hào cho biết thuận cho việc dịch sách: Kính thận đối với trên, mềm dẻo thu được kẻ bạo cường, người kim lòng hoài cổ, đổi khó thành dễ, biến xấu thành tốt. Có lẽ, trong năm này ông đã dịch Liêu trai chí dị, để sang năm 1937 xuất bản (Theo Tác phẩm mới, tạp chí đã dẫn).

Năm Đinh Sửu (1937) là năm mở đầu một chặng đường mới của Tản Đà, hào 6 quẻ Địa Sơn Khiêm: Đây là chặng đường khiêm cung rất mực, khiêm đến giới hạn cuối cùng, nổi tiếng vì khiêm cung, nhiều tri kỷ mà ít người giúp mình, kém tài, đành phải quay về với người nhà, người làng thôi. Thế là đã rõ. Chiết ra từ hào Đại vận, năm 1937 là năm Thuần Cấn của Tản Đà, tượng núi dày dặn, tầng tầng, lớp lớp, trọng hậu, là tượng của vận mệnh nhà thơ, có lẽ là năm làm ăn lớn chăng? Không, hào 6 chủ mệnh trong năm khuyên: Hãy biết ngừng đúng lúc, khi cuộc đời đã dày dặn như núi. (Đôn hậu về đạo biết ngừng đúng lúc, tốt). Ai ngờ, đây là quẻ mở đầu cho một chặng đường cuối cùng của cuộc đời.

Bên cạnh cuốn Liêu trai chí dị mở ra trước mắt bạn đọc một thế giới huyền ảo, biến hoá khôn lường, người ta chỉ còn thấy ông dịch thơ Đường trên báo Ngày nay. Theo tác giả "Tôi với Tản Đà", năm này, ông theo bạn bè về Quảng Yên, sống trong sự mời mọc và xướng hoạ thơ ca cùng với những độc giả đã yêu quý ông từ lâu. Vậy là ông đã biết ngừng đúng lúc.

Năm Mậu Dần (1938) ông lại được quẻ Sơn Hoả Bí, nhưng ở hào 1, lời hào khuyên: Hãy yên phận dưới của mình. Bỏ ngồi xe mà đi bộ. Hãy giữ tinh thần Cương và Chính, đạt thì đẹp cho cả thiên hạ, cùng thì giữ thân mình. Tài đức lớn, không lấy vận cùng hay vận thông làm vui, buồn. Ông rời Quảng Yên về Hà Trì (Hà Đông) ít lâu, rồi ra Hà Nội mở quán xem Hà Lạc. Đúng là “Tài đức lớn, không lấy vận cùng hay vận thông làm vui, buồn”. Có lẽ trong năm này ông còn cố công chú giải Truyện Kiều, “làm đẹp cho cả thiên hạ”, bản chú giải cũng chưa kịp in khi ông còn sống.

Chúng ta không biết Tản Đà nghiên cứu và nắm bắt Hà Lạc từ bao giờ, nhưng đến những năm này, ta thấy ông tự điều chỉnh đến từng bước đi trên hành lang số phận. Cuối cùng, ông cũng đành bỏ quán Hà Lạc ở phố Bạch Mai, lui về một căn nhà nhỏ cùng với vợ con ở Ngã Tư Sở, thuộc quận Thanh Xuân (Hà Nội) ngày nay, “yên phận dưới của mình, bỏ ngồi xe mà đi bộ”.

Và năm Kỷ Mão (1939) của đời ông đã đến. Tản Đà mất ngày 20 tháng Tư năm ấy.

Chúng tôi theo phép toán Hà Lạc lần theo bước đi của ông thì thấy, năm Kỷ Mão này ông được quẻ Sơn Thiên Đại Súc, hào 2 là chủ mệnh: Như chiếc xe tự bỏ trục (để khỏi phải đi nữa). Lần theo từng hào, thấy tháng Tư năm này ứng với hào 5 quẻ Đại Súc, biến thành hào 5 quẻ Phong Thiên Tiểu Súc. Quẻ tốt. Hào chủ mệnh tháng Tư tốt: Đức lớn, cảm hoá được lòng người, ngăn ngừa được tàn bạo. Nhưng khốn thay, ngày 20 tháng Tư ứng đúng vào hào 3, hào xấu nhất quẻ Tiểu Súc. Lời hào 3: Xe rời mất trục, vợ chồng trái mắt nhau. Tản Đà vĩnh biệt thế gian này vào đúng cái ngày “xe rời mất trục” đó.

Hoàn cảnh xấu đã xảy ra như sau: Có người bạn ở Phủ Quốc (Sơn Tây) mời thi sĩ về nhà chơi để giải sầu. Trên đường trở về nhà, vào lúc 12 giờ trưa, trời nắng oi bức, người còn say, thấy có đầm nước mát, bèn xuống xe tay, xuống đầm tắm, nửa giờ sau lại lên đường. Về đến nhà bị cảm. Mấy ngày sau, đúng vào ngày 20 tháng Tư (lịch mặt trăng) thì mất. Ông mất trong cái chủ mệnh của hào 5 quẻ Tiểu Súc: “Đức lớn, cảm hoá được lòng người, ngăn ngừa được tàn bạo”. Niềm tiếc thương không nguôi cho đến hôm nay.

3

Với ưu tiên năng lượng của trời đất (Hoá Công), Tản Đà đã linh cảm thấy cái tượng quẻ Sơn Thủy Mông xuyên thấu vào vận mệnh, đời sống của mình, nên ông đã lấy tên núi tên sông quê hương làm bút danh và gắn bó, thâu tóm cái khí chất núi non, sông nước vào cảm xúc, tài năng, ý chí của mình. Sau đó là khí chất của Đất, biểu tượng ở hai quẻ Địa Lôi Phục và Địa Sơn Khiêm. Chúng tôi đã tuyển một ít câu thơ bắt nguồn từ mệnh của Tản Đà trong bài "Thề non nước". Nhưng đâu phải chỉ có thế, những câu thơ, bài thơ có nguồn từ tượng Đất trong mệnh Tản Đà cũng rất hay. Như bài "Thăm mả cũ bên đường".

Vũ Quần Phương nhận xét rất tinh tế bằng một linh cảm về bài thơ mệnh này. “Ai đã đọc Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, hay Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. có thể nhận thấy Tản Đà trong bài Thăm mả cũ bên đường này cùng một khuynh hướng cảm xúc với hai bậc cổ điển kia. Nhưng cái hích ban đầu thì có khác. Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều vào bài bằng nhận thức tổng hợp và khái quát. Tản Đà đi từ việc cụ thể; ngôi mộ bên đường nơi dốc Ghè hoang vắng làng Khê Thượng (dốc Ghè, nay là nghĩa trang Yên Kỳ – Hà Tây)”.

Chơi lâu nhớ quê về thăm nhà
Đường xa, người vắng, bóng chiều tà
Một dãy lau cao, làn gió chạy
Mấy cây thưa lá, sắc vàng pha

Ngoài xa trơ một đống đất đỏ
Hang hốc đùn lên đám cỏ gà
Người nằm dưới mả, ai, ai đó?
Biết có quê đây, hay vùng xa?


Các nhà bình luận về sự nghiệp và văn chương Tản Đà thường luận giải nhiều về ba đặc điểm trong tính cách Tản Đà. Ai hay rằng, ba đặc điểm đó cũng đã tiềm ẩn trong cấu trúc Hà Lạc của nhà thơ. Tôi xin nêu ra ba tín hiệu sau đây.

Một là, cái ngông trong thơ Tản Đà. Bài thơ "Hầu trời" là tiêu biểu cho cái ngông đó.

...Thiên Tào tra sổ xét vừa xong
Đệ sổ trình lên Thượng Đế trông:
Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu
Đày xuống hạ giới vì tội ngông.


Đầu đuôi là, một đêm trăng kia, tiếng ngâm thơ sang sảng của thi sĩ ở hạ giới vang vọng lên “làm trời mất ngủ”. Trời hỏi ra, bèn sai gọi lên đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe.

Đọc hết văn vần sang văn xuôi
Hết văn thuyết lý, lại văn chơi.
Đương cơn đắc ý, đọc đã thích
Chè trời nhắp giọng, càng tốt hơi.

Văn dài hơi tốt, ran cung mây
Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay...


Thật là ngông.

Vậy, cái ngông ấy ở đâu ra? Đầu đuôi là ở quẻ Hậu thiên, hậu vận của Tản Đà, quẻ Địa Sơn Khiêm, hào nguyên đường, chủ mệnh là hào 5. Lời hào 5 bảo rằng, khiêm nhường đấy, nhưng cũng phải có chút uy, thì mới chinh phục được kẻ chưa phục mình, thì mới không gì là không lợi. Lời hào này không đợi đến những năm 1930 này mới phát huy tác dụng, mà đã đi vào đời sống Tản Đà từ nhiều năm trước. Tản Đà đã tự nhiên coi trọng việc tạo cho mình một chút uy nào đó để thu phục nhân tâm. Nhưng thân phận kẻ sĩ nghèo, thì lấy đâu ra được cái uy? Tản Đà có cách của riêng ông: Đó là khi ông cho ra đời một mảng thơ mà người đọc gọi là thơ ngông. Ông tưởng tượng ra mình được Trời gọi lên, và kể lại cho mọi người câu chuyện hầu Trời rất lý thú, trong đó thơ Tản Đà được Trời và các thần, các tiên thảy đều khen ngợi. Vậy là khiêm đấy mà uy đấy, mặc dầu ai cũng biết cái uy này chẳng qua là uy giả tạo mà thôi.

Hai là, những tín hiệu cho thấy một thứ văn hoá ngày nay ta gọi là văn hoá ẩm thực.

Tản Đà sinh thời là người rất chú trọng về nghệ thuật ăn uống. Nhà văn Nguyễn Văn Phúc, cháu gọi Tản Đà là ông trẻ, trong cuốn "Tôi với Tản Đà" đã dành nhiều trang tả những bữa rượu và nghệ thuật ăn uống của Tản Đà mà Nguyễn Văn Phúc có diễm phúc được cùng thưởng thức với nhà thơ. Tản Đà không chỉ sáng tác thơ văn và làm báo, ông còn sáng tạo ra nhiều món ăn, và kể lại cho mọi người cách thức nấu nướng, trang trí món ăn, cùng là nghệ thuật ăn uống, khiến cho sau này có người đã sưu tập viết thành một cuốn sách, đó là cuốn "Tản Đà thực phẩm" của Nguyễn Tố (Duy Tân thư xã xuất bản –1943). Văn hoá ẩm thực ấy có nguồn gốc trong cấu trúc Hà Lạc của Tản Đà.

Trong 50 năm thuộc quẻ Sơn Thuỷ Mông, và quẻ Địa Sơn Khiêm, chúng tôi chiết ra thấy có hai quẻ Hỏa Phong Đỉnh, một quẻ Phong Hỏa Gia Nhân. Đỉnh tượng là cái vạc có ba chân, tượng cho sự vững vàng, tượng cho lửa củi nấu nướng (Hoả là lửa, Phong là gió, còn có tượng là cây, gỗ, mộc). Người xưa dùng cái vạc để nấu ăn, nên quẻ Đỉnh cũng tượng cho văn hóa ăn uống. Các lời hào quẻ Đỉnh đều nói về nấu nướng ăn uống. Hào 1 nói về trút cặn bã, làm sạch tinh khiết đồ nấu. Hào 2 nói về chế biến thức ăn, phải có tài nấu nướng còn phải có đức biết cách ăn uống. Hào 3 nói về có thức ăn ngon mà chưa được ăn, còn phải có bạn và ăn đúng lúc. Hào 4 nói về giữ gìn thức ăn, làm gẫy chân vạc thì mất hết, mà còn tai nạn. Hào 5 nói về trang trí thức ăn, như cái vạc có tai màu vàng. Hào 6 nói về cái thú ăn uống, có cương có nhu, có nhàn nhã thì ăn mới tuyệt đỉnh.

Quẻ Gia Nhân nói về việc làm chủ trong gia đình, có hào 2 nói về chăm lo việc bếp núc. Trong cấu trúc Hà Lạc của Tản Đà còn có quẻ Sơn Lôi Di vào năm 38 tuổi (1926), trong đó có Hóa Công là Chấn (Lôi), và có Địa nguyên khí là Cấn. Di là Di dưỡng, là Nuôi. Dịch học có cả một Đạo Nuôi thể hiện trong quẻ Di. Tượng của quẻ Di là Sấm động ở dưới Núi. Sấm động dưới núi thì phát ra khí dương, nuôi cho vạn vật tươi tốt. Ca dao ta có câu:

Tháng ba sấm động đầu bờ
Làm cho cây lúa phất cờ mà lên


chính là nghĩa ấy. Lời tượng quẻ nói rằng, người quân tử coi tượng sấm động dưới núi mà quan sát cách trời đất nuôi vạn vật, để mà biết cách nuôi dân và suy ngẫm về đạo Nuôi của trời đất. Và cái điều cô đọng lại cho mỗi người có quẻ Di là thận trọng việc nói năng, tiết độ việc ăn uống, nói gọn trong hai chữ Thận và Tiết. Ở đây, chỉ nói việc tiết độ trong ăn uống của Tản Đà, bao gồm cả một văn hoá ẩm thực, là ăn uống sao cho ngon, lành, sao cho vừa phải, đủ để nuôi thân thể, nuôi tinh thần.

Ta hãy đọc một đoạn Nguyễn Văn Phúc kể chuyện Tản Đà thết một bữa rượu ốc nướng, thì biết tinh thần các quẻ Đỉnh, quẻ Gia nhân, quẻ Di đi vào văn hóa ẩm thực của ông thế nào. Có thể tóm tắt là: ốc phải chọn từng con, ngâm kỹ, rửa sạch, bày lên mâm trông đã thấy đẹp. Phải có hoả lò. Nướng ốc bằng vỏ sò. Đặt chiếc vỏ sò lên bếp than, rưới vào đó ít mỡ và hành tươi cho thơm, nhể con ốc đặt vào cho vừa chín thì gắp cái vỏ sò ra. Ăn ốc nướng phải ăn nóng, phải có bạn ăn và phải ăn vào lúc tiết trời lạnh. Nghĩa là, chỉ trong một món ăn, mà thu vào đó cả một triết lý bếp núc và đạo Nuôi của Trời đất.

Thứ ba là, những tín hiệu trang sức của văn chương.

Cuộc đời ngắn ngủi của Tản Đà có đến 2 năm được quẻ Sơn Hoả Bí. Bí là trang sức, là quẻ nói về việc làm đẹp cái hình thức bên ngoài. Tượng quẻ là dưới Núi có Lửa. Lửa trang sức, làm cho Núi đẹp rực rỡ lên. Người phụ nữ được quẻ Bí là người chăm lo sự chải chuốt, ăn mặc, cái đầu, cái tóc, cái răng, ngày nay là cái mốt, là thời trang... Nhà kinh doanh được quẻ Bí thì chăm lo đến mẫu mã, quảng cáo, bao bì, thương hiệu. Nhà văn được quẻ Bí thì tự nhiên chăm lo về hình thức văn chương, cấu trúc tác phẩm, cho đến câu văn, câu thơ, tới từng từ, từng chữ, tới vần, điệu, nhạc, thanh âm của mỗi từ.

Hình thức là một lĩnh vực quan trọng trong vũ trụ, chính vì vậy Dịch học dành cả một quẻ Bí để nói về hình thức, nói về sự trang sức của sự vật. Câu chú thích đầu tiên của lời Thoán dành cho quẻ Bí là trang sức, văn vẻ thì hanh thông, ý nói cần có trang sức, hình thức, làm cho sự vật được tốt đẹp, hanh thông lên. Cũng chính vì vậy, trong chú thích lời quẻ, Thánh nhân lưu ý người đời rằng: khi gặp quẻ Bí, phải chú ý cái chất lượng của sự vật, chính cái chất lượng ấy làm nên giá trị của sự vật, còn nếu chỉ chú ý hình thức, thì kết quả cũng nhỏ thôi. Riêng đối với những vấn đề phán xử hình ngục là việc quan hệ đến sinh mạng của nhân dân, thì tuyệt đối không được tô vẽ, trang trí, làm cho sự thật bị hiểu khác đi. Theo Phan Bội Châu, Khổng Tử nói rằng, chất phác nhiều hơn văn thì thành quê mùa, văn nhiều hơn chất thì thành người chép sử (ý nói người sao chép sử trong cung đình ngày trước, nhiều khi phải dùng hình thức uốn éo để miêu tả những sự việc không có lợi cho danh giá nhà vua. Chuyện tiếu lâm nước ta về "hạt ngọc minh châu" - tức hạt cơm dính - trên mép bà quan, cũng là để chế diễu thói văn hoa nhiều hơn chất). Hành lang số phận của Tản Đà, ngoài 2 quẻ Sơn Hỏa Bí, còn có quẻ Phong Địa Quán và Phong Sơn Tiệm nằm ở hai Đại vận chủ mệnh. Quẻ Quán, hào 5 nói về người quân tử tự quan sát mình, lấy cái tốt đẹp của mình làm gương cho thiên hạ. Quẻ Tiệm, hào 6 (năm 1932) tượng là con chim hồng bay bổng trên từng mây, cái lông cánh nó rơi xuống có thể làm đồ trang sức cho thiên hạ. Đó là những tín hiệu cho thấy, ông là một nhà thơ rất coi trọng hình thức văn chương; những tìm tòi không mệt mỏi của ông về thể loại văn thơ, về cách thức diễn tả, về câu chữ, âm thanh, nhạc điệu, tượng hình của từ, về việc tạo hình tạo dáng cho câu thơ, khai thác đến đỉnh cao khả năng gợi tả của âm và thanh tiếng Việt trong thơ ca, chính là bắt nguồn từ hai quẻ Bí của đời ông.

Năm Canh Thân, sau chuyến đi Huế, cũng là năm ông viết chuyện "Thề non nước", trong đó có bài thơ Thề non nước, bài thơ “mệnh”, đỉnh cao trong sự nghiệp văn thơ của ông. Đó là một bài thơ tiềm ẩn 3 ý nghĩa: mối quan hệ thiên nhiên giữa Nước và Non; tình yêu đằm thắm và bền chặt như Non với Nước; cuối cùng là lòng yêu nước thông qua cái đẹp tuyệt vời của Non Nước. Bài thơ này cũng tiêu biểu cho văn chương Tản Đà về mối quan hệ tương tác giữa cái Có và cái Không, tức cái hiện và cái tiềm ẩn, thể hiện ra trong rất nhiều bài thơ khác của ông (theo Văn Tâm: Góp lời thiên cổ sự. Sđd). Tản Đà là người đầu tiên, với 4 quẻ Cách và hai quẻ Bí trong đời mình, đã cách tân làm ra những câu thơ thoát khỏi những hình thức cố định của thơ niêm luật, mang âm hưởng của thơ mới sau này:

Cái hạc bay lên vút tận trời
Trời đất từ nay xa cách mãi
Cửa động
Đầu non
Đường lối cũ
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi


(Tống biệt)

Từ vào thu tới nay,
Sương thu lạnh
Trăng thu bạch
Khói thu xây thành,

Lá thu rơi rụng đầu ghềnh
Sóng thu đua lá bao ngành biệt ly
Nhạn về én lại bay đi
Đêm thì vượn hót ngày thì ve ngâm
Lá sen tàn tạ trong đầm
Nặng mang giọt lệ âm thầm khóc hoa
Sắc đâu nhuộm ố quan hà
Cỏ vàng cây đỏ bóng tà tà dương


(Cảm thu tiễn thu)

Ông cũng có nhiều bài báo nói về lao động làm thơ, về dịch thơ Đường. Riêng đối với bài "Cảm thu tiễn thu" trên đây, ông kể tỉ mỉ công việc làm thơ, cho ta thấy trong công việc bếp núc ăn uống, ông cầu kỳ bao nhiêu, thì trong bếp núc văn chương, ông còn cầu kỳ gấp bội, và đó chính là tinh thần quẻ Bí thâm nhập vào mệnh văn chương củaTản Đà. Ông viết:

Bài văn này tôi làm ra trong khi ở Hữu Thanh tạp chí, in ra báo khoảng tháng chín An Nam, chính là hợp thời cảnh. Bài này sau khi đã lập ý như bốn chữ đầu đề đó, rồi mới đem cái ý ấy dàn ra thế, chia làm mấy đoạn lạc. Nghĩ vì, có “thu” mới có “cảm”, có “cảm” mới có “tiễn”. Cho nên, chữ “thu” đem lên đoạn đầu, dùng thể văn tả cảnh, tả cho thấy thu vì sao mà cảm. Chữ “cảm” nói vào đoạn thứ hai, dùng thể văn tả tình, tả cho hết những ai trong thế gian hiện là người cảm thu. Chữ “tiễn” thì nói vào đoạn kết, là ý chính của bài văn đó. Sự dàn thế đã định, mới theo đoạn lạc mà làm việc.

Đoạn thứ nhất khởi đầu lập thế (thế riêng của một đoạn), thứ hai kiếm liệu, thứ ba lựa điệu, thứ tư luyện lời, sau thời ngâm vịnh riêng để kiểm soát.

Từ vào thu tới nay...

Năm chữ khởi đầu đó, tức là “lập thế”, không những xướng xuất cho một đoạn, mà còn tổng quán cả toàn bài, nói suốt trong cái thời gian từ đầu thu cho tới lúc mình tiễn. Các chữ cảnh vật đều để tả thu mà không được trùng điệp, nếu trùng điệp thì viết dài đến đâu cũng được, mà lời văn không có giá trị gì. Đó là việc “kiếm liệu”.

Mấy câu đầu tả cảnh, bốn chữ xuống ba, ba chữ lại lên bốn; chữ “hắt”, chữ “lạnh”, chữ “bạch”, các chữ vần trắc bắt luôn đó từ dấu sắc, xuống dấu nặng, lại xuống dấu nặng hơn nữa, rồi tiếp sang vần bằng là chữ “thành” để đi điệu lục bát. Đó là việc lựa điệu.

Một câu thứ thư, bốn chữ “khói thu xây thành” cần phải có sức để đứng lại, vì từ trên sắp xuống rất mạnh, nếu bốn chữ ấy mà yếu, thì thế văn đến đó phải xiêu đổ, không đủ dẫn các câu lục bát ở phần sau. Đó là việc “luyện lời”. Còn các câu lục bát ở sau, đã sẵn liệu, và có liệu, chỉ về việc luyện lời cả.

Các câu tả cảnh đó, xét lại chữ và ý không điệp, mà cũng không kiếm thêm được liệu nữa, như cảnh vật của thu có thể hồ hết, thu vì sao mà cảm, có như thế mà thôi. Đó là việc kiểm sát. (Tản Đà - khối mâu thuẫn lớn. Sđd)

Có bạn đọc hỏi: Nhưng còn Sấm chớp, cũng là một trong bốn tượng, trong cấu trúc Hà Lạc của Tản Đà, sao chẳng thấy câu thơ, bài thơ nào thật hay, bắt nguồn từ cảm xúc về Sấm? Xin thưa: khí chất Sấm không đi vào văn thơ của Tản Đà, mà đi vào hành động. Tư liệu văn học còn để lại rất nhiều câu chuyện và giai thoại về Tản Đà, đã nghĩ gì là nói ra, và làm ngay, làm cho bằng được. Trong túi còn 7 đồng, mà dám đi xuyên Đông Dương vào Sài Gòn chơi. Đó là khí chất của Sấm. Cho đến cách cái ông tự tiết chế bản thân cũng mạnh mẽ như sấm: Tịch cốc hàng tháng trời. Hết Tản Đà tu thư cục đến An Nam tạp chí, năm lần, tờ tạp chí này chết rồi sống lại, chính là khí chất của quẻ Địa Lôi Phục. Phục là trở lại. Và quẻ Lôi Thuỷ Giải nằm trong cơ cấu quẻ Địa Sơn Khiêm, nhưng cũng bắt nguồn từ giờ sinh của ông mà hình thành, cũng phát huy suốt đời ông. Giải là giải quyết, giải tỏa, là mở ra, là kết lại và tỏa sáng. Nhà nghiên cứu Văn Tâm, (tức Tầm Dương) trong cuốn "Góp lời thiên cổ sự" đã tổng kết rằng, một đời Tản Đà đã “giải” cho văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX này 10 vấn đề với tư cách nhà văn hóa tiền đạo.

Mười vấn đề như sau:

1- Người đã dạo bản đàn mở đầu của chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam. Đó là việc khẳng định “cái tôi” trong các tác phẩm như: Giấc mộng con I, II; Giấc mộng lớn, Hầu Trời... Là việc miêu tả những trạng thái tình cảm con người mà trước đó văn chương ta chưa có, như thói đa tình, mối sầu thiên cổ, tâm trạng cô đơn lạc loài... là cái văn phong ngông ngạo, khả năng tưởng tượng mãnh liệt. Rất nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thuộc các thế hệ sau như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Thế Lữ, Vũ Hoàng Chương... đã kế thừa những yếu tố trên do Tản Đà khai phá. Xuân Diệu đã đánh giá Tản Đà là “người thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại.”

2- Bàn tay đầu tiên phá cách, vứt điệu luật thơ cũ. Những bài tiêu biểu là Hoa rụng, Còn chơi, Non xanh xanh, Cảm thu tiễn thu...

3- Cây bút khai sơn phá thạch trong văn xuôi quốc ngữ.

4- Một trong những bàn tay đầu tiên khơi dòng văn học hiện thực phê phán.

5- Một nhà báo kỳ cựu, có bài đăng trên Đông Dương tạp chí từ 1915.

6- Tác gia đi tiên phong kiếm sống bằng ngòi bút. “Bán văn, buôn chữ kiếm tiền tiêu.”

7- Một trong những người biên soạn sớm nhất sách giáo khoa quốc ngữ (Lên Sáu, Lên Tám, Quốc sử huấn mông.)

8- Triết gia đầu tiên rao giảng triết học bằng chữ quốc ngữ (Thuyết Thiên lương).

9- Người có những đóng góp tân kỳ trong những lĩnh vực hoạt động sân khấu, dịch thuật.

10- Nhà văn hóa mở màn cho nghệ thuật ẩm thực.

Tản Đà đã đi qua thế kỷ này như một ánh chớp trong đêm.

Ánh chớp đó gồm 21 năm chuẩn bị, thao luyện, rồi đến 21 năm xuất thần, tỏa sáng, nghĩa là ông đi gọn một quẻ Sơn Thủy Mông bắt đầu từ hào 2 dương. Trước khi tắt lịm, ánh chớp đó còn sáng rực lên một lần nữa trong quỹ đạo hào 5 âm quẻ Địa Sơn Khiêm và 3 năm đầu hào 6 quẻ Khiêm. Ông không kịp đi hết cái hào Sáu ấy!

............Tháng 11-1999
................Xuân Cang



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 08.12.2012, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 08.12.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

(tiếp theo)

TÔ HOÀI - DẤU CHÂN TRÊN ĐẦM

Từ lâu, tôi vẫn thèm làm một cái chân dung văn chương Tô Hoài.

Tôi nói với bạn bè: Để xem cái mệnh ông ấy ra sao, mà thấy ông ấy làm lụng “khủng khiếp” thế, hơn một trăm năm mươi đầu sách, đứng đầu làng văn trong cả nuớc. Ở ta, may ra chỉ có Nguyễn Hiến Lê mới xếp hàng được với ông. Nhưng xem tiểu sử Ngưyễn Hiến Lê, thấy ông Lê cũng chỉ mới có hơn trăm đầu sách. Mà mệnh Nguyễn Hiến Lê thì cũng gớm lắm rồi: Phong Địa Quán với lại Địa Thiên Thái, nguyên khí của Giời và Đất rải đều trên khắp cuộc đời. Vậy mà, xem ra chưa sánh được với Tô Hoài, tất nhiên mới nói về số lượng. Vậy thì mệnh Tô Hoài phải thế nào? Nói là “thèm”, nhưng hỏi thẳng ông về ngày giờ sinh, thì tôi rất ngại.

Thông thường, những người tốt số ở thời này thường không quan tâm về số mệnh, mọi sự thành đạt là ở tài trí của họ. Tô Hoài chính là người không quan tâm chút nào về ngày giờ sinh và số mệnh của mình. Trong một cuốn hồi ký gần đây nhất, ông kể rằng, mãi đến năm 1990, sang Nga một đêm ở Mát-xcơ-va, ngủ ở nhà Ma-rích, một nhà văn Nga thân thiết với bạn văn Việt, dịch nhiều sách của Tô Hoài, thấy thư viện của Ma-rích có cả quyển “Năm Việt Nam so sánh âm lịch, dương lịch”.

"...Tôi tò mò lần đầu tiên tìm ngày sinh năm dương lịch của tôi. Khai sinh của tôi 16 tháng Tám là năm âm lịch. Tôi được sinh ở làng, thời ấy chưa có lệ làm giấy khai sinh. Đến năm ra học trường tiểu học Yên Phụ, mới đi xin khai sinh và lậu xuống ba tuổi, cho không quá tuổi lớp bét. Mẹ tôi bảo: “Đẻ con chập tối ngày 16 tháng Tám ta, hôm ấy trăng tròn hơn trăng đêm rằm”. Nhớ thế, giấy tờ nào về sau, cả khai sinh, tôi đều lấy ngày tháng âm lịch như lịch dương và năm Thân là năm 1920. Bây giờ, nằm ở Mát-xcơ-va, mới tìm ra tôi sinh ngày 23 tháng 9 dương lịch".

Ngay cả “ngày 23” cũng không đúng nốt. Đúng thật là ngày 27 (Lịch Vạn niên dịch học phổ thông, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, 1997) như lời ông “khai sinh” mới nhất tại cuốn "Nhà văn Việt Nam hiện đại" (Nxb Hội Nhà văn, 1997): sinh ngày 27-9-1920 (tức ngày 16 tháng 8 năm Canh Thân). Cái mà tôi “bắt được” ở cuốn hồi ký là hai chữ “chặp tối ”, tức giờ Dậu. Tức là Tô Hoài sinh giờ Dậu, ngày mười sáu tháng Tám năm Canh Thân. Tám chữ Can Chi của ông là năm Canh Thân, tháng Ất Dậu, ngày Mậu Tý, giờ Tân Dậu. Cấu trúc Hà Lạc của ông là Trạch Phong Đại Quá (Tiên Thiên), Thuần Càn (Hỗ Tiên Thiên), Phong Thiên Tiểu Súc (Hậu Thiên), Hoả Trạch Khuê (Hỗ Hậu Thiên).

Ông có Hoá Công, nghĩa là có ưu tiên năng lượng của Trời Đất vào các quẻ Đoài ở cả tiền vận và hậu vận. Tượng quẻ Trạch Phong Đại Quá là Đầm (hồ) và Gió (cây). Nghĩa quẻ Đại Quá là Quá lớn. Tượng quẻ cho thấy, Đầm ở trên, Cây ở dưới, vậy là nước lớn quá, ngập cây, đề phòng cây dễ bị đổ. Người quân tử xem tượng quẻ này biết rằng, phải hành động thì mới hanh thông. Phan Bội Châu giảng rằng: Chữ Đại Quá đối lập với chữ Bất Cập (chưa tới). Đại Quá là công việc quá chừng lớn, cũng tức là phi thường. Tất có người phi thường mới làm việc phi thường. Mà những việc phi thường, tất phải chờ đến người phi thường. Tức như, trải qua đời quân chủ mà đổi ra làm dân chủ, như cuộc đại cách mạng Pháp. Ở giữa nước Bà- la-môn giáo (Ấn Độ) mà lập nên Phật Giáo như Đức Thích Ca. Ở giữa nước quốc gia chủ nghĩa, mà lập nên chính phủ xã hội như ông Liệt Ninh (Lê-nin). Thảy là công việc Đại Quá, mà cũng chỉ một bậc người tài Đại Quá mới làm nên. Nhưng tất cũng phải đúng thời tiết, nếu có tài Đại Quá, mà chưa gặp thời Đại Quá, tất nhiên cũng không làm xong. Chỉ có gặp thời Đại Quá, thì người có tài Đại Quá mới làm nên những việc Đại Quá. Ở một đoạn phụ chú khác, Phan Bội Châu giảng thêm: Lời tượng quẻ Đại Quá có câu: Người quân tử thời Đại Quá một mình đứng riêng độc lập với thiên hạ cũng không sợ gì, dù có phải trốn đời cũng không phiền muộn (độc lập bất cụ, độn thế vô muộn). Vẫn chung một hạng quân tử, mà thủ đoạn có khác nhau. Việc gì đáng làm, dầu cả thiên hạ không ai làm, mà mình cứ làm, xông vào nguy hiểm, mà chẳng kinh, mắc lấy dèm chê mà chẳng quản, đó là cách “độc lập” mà “bất cụ”. Việc gì không đáng làm, dầu toàn thiên hạ thảy làm, mà mình không chịu làm, mình đã trái mắt thế gian, âu là bỏ tục, trốn đời mà tinh thần được tự do tự tại. Đó là cách “độn thế” mà “vô muộn”.

Đọc lời giải quẻ Đại Quá, tôi cho là, đã tìm đúng chân dung Tô Hoài. Sinh vào đúng thời khắc ấy, là giời đất đã cho ông làm một người Đại Quá, may mắn lại đúng vào thời Đại Quá, chính là thời của Cách mạng tháng Tám, nên ông đã làm được những việc Đại Quá, ít nhất trong địa hạt văn chương (Toán tứ trụ cho biết, ông có tài văn chương).

Ông đã sáng tạo một khối tác phẩm văn chương khổng lồ hơn một trăm năm mươi đầu sách, đúng là một việc Đại Quá, phi thường. Dấu ấn thời Đại Quá ấy chính là "Dế mèn phiêu lưu ký" tái bản rất nhiều lần, dịch ra nhiều thứ tiếng, "Truyện Tây Bắc" (Giải nhất Hội văn nghệ Việt Nam, 1956) mà cái đỉnh là truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" (dựng thành phim), tiểu thuyết "Miền Tây" (Giải thưởng Hội Nhà văn Á Phi, 1970).

Tính cách Đại Quá thể hiện một cách rất đầy đủ trong "Vợ chồng A Phủ". Mỵ, con dâu trả nợ đời nhà thống Lý Pá Tra trông thấy cảnh người trai lực lưỡng A Phủ bị trói đứng suốt mấy ngày ở góc nhà. Dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen... Mỵ rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. A Phủ thở phè từng hơi như rắn thở, không biết mê hay tỉnh... Hai người đỡ nhau lao xuống dốc núi. Hai người đi ròng rã hơn một tháng. Họ chuyền trên những triền núi cao ngất, lốm đốm nhà, thấp thoáng ruộng, đất đỏ, suối trắng tinh, trông thấy trước mặt mà đi mấy ngày chưa tới.

Nhưng tính cách Đại Quá sáng tỏ nhất là tác phẩm đầu tay "Dế mèn phiêu lưu ký". Tô Hoài đã từng phiền muộn về cuốn sách nhỏ (mà không nhỏ) này.

"Những chuyện "Con dế mèn" và "Dế mèn phiêu lưu ký" của tôi viết cho lứa tuổi thơ đến nay đã năm mươi tư năm qua. Có lần, Hồ Phương và Nguyễn Kiên kể cho tôi biết, ngày còn nhỏ, các anh thuộc từng đoạn, nhất là khi dế mèn rời bờ nước ra đi, thầm nhìn cảnh quê lúc ấy. Nhiều bạn đọc tôi, cũng như bạn đọc của nhà văn lão thành xô-viết Mác-sắc viết cho thiếu nhi, đã hỏi tác giả, năm nay ông bao nhiêu tuổi, ông đã một trăm tuổi hay hơn rồi. Bởi vì bạn lứa tuổi vừa lớn đã thấy trên giá sách từ đời ông và bố mẹ đã có "Dế mèn phiêu lưu ký". Tôi vui chứ, nhưng sau đấy lại buồn. Tôi đã viết và vẫn đương viết, có hàng trăm sách. Thế mà chỉ có vài nhân vật ấy được bạn đọc nhớ nhiều mà thôi. Sự thật và thời gian nghiệt ngã đến thế?" (Những gương mặt, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1995. Tr. 321)

Không có gì phải phiền muộn. "Dế mèn phiêu lưu ký" là tác phẩm thuộc về mệnh của Tô Hoài. Tượng quẻ Trạch Phong Đại Quá là Đầm nước và Gió (Cây). Khí chất thiên nhiên thấm nhuần vào cảm xúc văn chương Tô Hoài là chính cái đầm nước mà ông tả trong "Dế mèn phiêu lưu ký" cùng những dân cư của nó sống trên bờ và dưới nước, những dế choắt, dế trũi, cò, sếu, vạc, cốc, le le, sâm cầm, vịt trời, bồ nông, mòng két, những nhà trò, bọ muỗm, bọ ngựa, cào cào, châu chấu voi, ếch cốm, nhái bén, chẫu chàng, rắn mòng, rắn nước, diếc, ngão, săn sắt...Cả một vùng đầm nước bốn mùa với những sắc thái riêng, hiện lên hơn trăm trang sách, đọc một lần là thích thú, là nhớ. Không phải ngẫu nhiên mà các bậc cha mẹ đăt tên ông là Sen, Nguyễn Sen, một loài cây mọc trong đầm. Ắt phải có gì xui khiến. Để rồi sau đấy, ông lấy bút danh Tô Hoài, để nhớ dòng sông Tô ở phủ Hoài, nhiều đoạn về sau đã thành đầm. Mà không phải chỉ có cái tượng đầm nước phóng khoáng, vui vẻ, nếu ai đã đọc quẻ Đại Quá, lại đọc "Dế mèn...", sẽ thấy cả cái sắc thái quẻ Đại Quá cũng hiển hiện trong nhân vật Dế Mèn.

Ngay câu đầu tiên của truyện đã có hai chữ "độc lập": Tôi sống độc lập từ thuở bé. Anh chàng Dế Mèn đã từng “độc lập bất cụ”, ấy là cái cảnh từ biệt của ông anh nhát sợ mà quyết chí đi phiêu lưu; giữa xóm ếch, nhái, ễnh ương om sòm đe doạ, bắt nạt, cũng như giữa vòng vây kiến điệp trùng mà không biết sợ, vẫn giữ được cái vị thế anh hào của mình. Anh ta cũng đã từng ở bên lão Xiến Tóc ẩn sĩ, trốn đời, rồi ngay sau đó một mình trong hang Chim Trả, vẫn không chút hổ thẹn, kiên trung, đợi thời tìm lối thoát, đó là “độn thế vô muộn”. Khi hai chú dế trong chiếc bè cánh bèo trôi ra giữa bờ nước mênh mông, thì đó là thân phận cái cây cong giữa đầm (hào 3 quẻ Đại Quá); lại khi một mình trên võ đài đối mặt với võ sĩ Bọ Ngựa và sau đó từ chối thi đấu với chú em Dế Trũi để trở thành kẻ chăm lo cho dân vùng cỏ, thì đó là cây cột cứng, đứng vững giữa đời (hào 4 quẻ Đại Quá).

"Dế mèn phiêu lưu ký" trở thành tinh hoa của Tô Hoài, cũng là tác phẩm ghi dấu trên văn đàn Việt Nam.

Quẻ Hậu thiên phản ảnh chặng đường về sau của Tô Hoài là Phong Thiên Tiểu Súc. Phong là Gió, Thiên là Trời. Tiểu Súc là ngăn cản nhỏ. Trình Di giảng: quẻ Tiểu Súc bảo rằng, sức gió thì nhỏ, gió phải ở trên mặt đất thì mới có tác dụng, gió ở trên cao thì khó tích tụ mây để thành mưa, nên bức bối, bế tắc, nhưng là bế tắc nhỏ. Súc là ngăn trở, còn có nghĩa là chứa chất. Tiểu Súc là ngăn trở nhỏ, chứa chất nhỏ. Lời tượng quẻ Tiểu Súc bảo rằng, người quân tử gặp quẻ này, biết là vì ngăn trở mà chưa gặp thời, vậy hãy cứ (chứa chất) làm đẹp văn đức, ý nói hãy trau dồi đức, chăm việc học hành, nghiên cứu phát triển tài văn chương. Phan Bội Châu đặt câu hỏi: ở vào thời Tiểu Súc, người quân tử chỉ nên trau dồi văn đức, là vì sao? Bởi vì, xưa nay việc tu thân cứu thế cốt ở hành động, mà không cần hư văn. Chẳng may hoàn cảnh gay go, thời thế bắt buộc, chưa thể giương đôi cánh lớn, mới phải quay đầu làm những việc soạn sách, lập ngôn. Như Khổng Tử, Mạnh Tử, vì không gặp thời, chăm chỉ, dùi mài viết sách làm kinh, muôn đời sau bất hủ. Người đời sau coi đó là việc lớn, nhưng Thánh nhân chỉ xem bằng “tiểu súc” mà thôi.

Bạn đọc xem Cấu trúc Hà Lạc của Tô Hoài sẽ thấy, quẻ Hỗ tiềm ẩn trong quẻ Tiểu Súc là quẻ Hoả Trạch Khuê. Hoả là lửa. Trạch là đầm nước. Lửa ở trên thì bốc cao lên. Đầm ở dưới và nước thì thấm xuống. Trên dưới không thông với nhau, càng ngày càng cách xa nhau. Nên nghĩa quẻ là Khuê. Khuê là khác nhau, chia lìa nhau. Trong Dịch học, Khuê là quẻ xấu. Người gặp quẻ Khuê là người hay gặp cảnh khác biệt, chia lìa. Người quân tử gặp quẻ này phải biết thực dụng, biết lúc nào nên hòa cùng với người, biết lúc nào phải khác biệt với người, và biết rằng ở thời Khuê, chỉ làm được việc nhỏ mà thôi.

Cái thời ngăn trở nhỏ, làm cho người quân tử chưa thể giương đôi cánh lớn, đã diễn ra trong cuộc đời nhà văn như thế nào, bạn đọc đọc thiên hồi ký "Cát bụi chân ai" (Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, 1992) có thể nhận biết một phần. Sau cái thời Đại Quá, làm những việc quá lớn, phi thường, từ 49 tuổi ta, ông sang thời Tiểu Súc, bị ngăn trở nhỏ, thường gặp cảnh khác biệt, chia lìa, đòi hỏi ông phải biết Thời, lại phải biết Dụng, lúc nào nên hòa đồng, lúc nào nên tỏ ra khác người, dù có thiệt đến thân cũng không được hòa đồng; lại đòi hỏi nhà văn phải tiếp tục trau dồi đức văn, phát triển tài văn, lấy cái đó để tồn tại; nếu được như vậy (và Tô Hoài đã làm được như vậy), thì sẽ tiếp tục làm được việc lớn, tuy rằng đối với mệnh người, Thánh nhân cũng chỉ coi là kết quả của thời Tiểu Súc mà thôi. Ta sẽ thấy, sang thời Tiểu Súc, ông vừa làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, vừa làm Trưởng ban đại biểu khối phố nơi ông cư trú (giống như Chủ tịch phường sau này), vừa đi khắp các nước Đông Tây, vừa điều khiển đội quân phòng cháy, chữa cháy của khu phố đi thi giành cờ đỏ (mà cuộc thi này không thành công); vừa đi nghỉ ở bờ biển Yan-ta, vừa viết truyện họ Giàng ở Phìn Sa...

Nếu "Dế mèn phiêu lưu ký" là bức tranh chính diện thời Đại Quá của Tô Hoài, thì truyện ngắn "Một người bạn" chính là tấm gương về một thời Tiểu Súc, nhưng là tấm gương phản diện thời Tiểu Súc của tác giả (45 truyện ngắn 1975-1985, Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội, 1985, tr. 189).

Nhân vật người bạn tên là Châu, một người có khả năng kiếm sống không đến nỗi xoàng, là học sinh kỹ nghệ ra trường, có nghề sửa chữa điện, người Hà Nội vào Sài Gòn làm ăn. Suốt đời, anh ta bị một cái gì vô hình không biết từ đâu cản trở anh ta, mà chỉ cản trở nhỏ thôi, làm cho anh ta không ở đâu yên. Thoạt tiên là, do anh nghỉ ốm quá hạn bị chủ Tây đuổi, chán quá ra Hà Nội, làm quản lý cho ông anh tên Đức Lợi, buôn bán đang phất. Bản thân cũng giàu lên, lấy vợ, làm nhà, vi vu nay Sài Gòn, mai Hà Nội. Bà vợ cũng là người có chí làm giàu. Nhưng người bạn vẫn thấy mình không yên, và không bằng lòng với số phận của mình. Nhân vật Tôi, người kể chuyện, vào những năm trước Cách mạng tháng Tám, đã thu hút bạn mình theo Việt Minh, và số phận cũng đã đưa đẩy anh bạn đi theo kháng chiến, nhưng rồi, một cuộc càn của địch lại đẩy anh ta vào Hà Nội, vùng địch tạm chiếm. Lại bám ông anh, bây giờ trở thành ông chủ lớn, vào Sài Gòn cho đến khi Sài Gòn được giải phóng. Vào năm 1975, hai người bạn gặp nhau, sau bao nhiêu biến chuyển. Nhân vật Tôi đã trở thành nhà văn có danh tiếng, bạn của họ có người trở thành nhân vật tầm cỡ ở một Bộ. Còn Châu cũng có thể yên lành, không bị ai làm rầy rà, nhà cửa đàng hoàng, con trai đã sang Anh làm ăn, bạn bè gặp lại nhau, an ủi nhau, bỏ qua những chuyện cũ. Tưởng thế là yên. Nhưng không yên. Người bạn lại bỏ nước ra đi, bắt đầu từ những bế tắc chẳng đâu vào đâu. Danh tiếng những người bạn làm cho anh ta không yên. Cái tính hám giàu của người vợ làm cho anh không yên. Thậm chí, Sài Gòn năm ấy lạnh hơn, mùa bưởi Biên Hoà năm ấy chậm hơn, cũng làm cho anh ta không yên. Lại nhiều năm sau, hai người bạn tình cờ gặp nhau, khi nhân vật Tôi đi công tác sang thành phố An-giê (An-giê-ri), ngồi ăn ở một cửa hàng bên bờ biển. Người bạn bây giờ là một ông già râu tóc dài, bạc phơ, như Tô Vũ chăn dê trong tranh cổ, làm nghề bưng rượu vang ướp tiếp khách, ngoài ra các buổi tối còn đi xa ba muơi cây số làm thêm kiếm tiền. Làm gì, làm một pho tượng sống, một ông già châu Á, với gương mặt hấp dẫn, ở một cửa hàng rượu, để hấp dẫn khách, như thế, trong một giờ cũng có một món tiền. “Rõ khỉ?”. Người bạn kết thúc câu chuyện đời của mình như thế.

Hỏi ra thì biết, sang Anh, con trai và con dâu đối đãi rất tử tế, nhưng vợ chồng già suốt ngày trong phòng nhỏ như bị giam, buồn chán quá, không yên. Bèn nhờ người quen bên Pa-ri, sang đó làm ăn. Sang Pháp, cũng không yên, có người rủ sang An-giê, thế là bà ở lại Pa-ri, còn người bạn thì sang An-giê, làm nghề bưng bê rượu vang. Một người suốt đời không vượt lên nổi những cản trở nhỏ, bế tắc nhỏ, trở thành vô vị, cô đơn, tàn đời trong cô đơn. Rõ ra một thân phận Tiểu Súc, một tấm gương Tiểu Súc trong một cái chiều phản diện của số phận. Tô Hoài kể chuyện một người bạn, mà như kể chuyện mình, có lúc không giữ nổi ngòi bút, đã phải để cho nhân vật người bạn thốt lên:

"Đời tôi đã không phải là tôi. Đáng lẽ tôi là anh, rồi cũng không phải. Tôi có thể là Đức Lợi. Rồi cũng chưa bằng cái móng tay của Đức Lợi. Thế mà lúc nào anh cũng hiện ra trước mắt tôi. Cả đến cái lúc năm cùng tháng tận của đời người này. Ô hay, sao cứ luống cuống, bối rối suốt đời người đến thế. Quả quyết lên chứ (nhưng lúc ấy, Châu lại ngồi thừ rồi uống một hơi ly rượu mạnh). Những kỷ niệm xa xưa trở về dằn vặt, sỉ vả tôi. Thật đấy, anh có phải là cái gương sáng, cái gương mờ soi vào tôi, mà ở đâu, chạy đi đâu, tôi cũng chỉ là người nhìn gương" (Sđd., tr. 200).

"Một người bạn" chính là cái gương mờ của một thời Tiểu Súc, nói về một kiểu người tự hành hạ và làm hỏng đời mình, chỉ vì những cản trở nhỏ, những bế tắc nhỏ (Tiểu Súc còn là bế tắc nhỏ). Tôi cho rằng, đây là một truyện ngắn khó đọc, nhưng bạn đọc nhẩn nha thì sẽ được một truyện ngắn hay đến từng chữ. Vì nó là một tác phẩm được sáng tạo từ cái mệnh của một cây bút tài hoa. Nguyễn Tuân đọc xong, viết thư cho Tô Hoài “...đọc Sài Gòn giải phóng, 13 tháng giêng 1985, bài "Một người bạn", mình thấy có một cái gì mới mới ở ông. Nhưng phải khen cái truyện ngắn khá dài, khá sâu rộng này. Người thật việc thật trong chuyện này có thật không, hoặc có thì tới mức nào, đối với tôi không quan trọng. Cái quan trọng là, nó như thật. Nó hay đấy. Ông còn khoẻ hơn tôi. Cứ làm độ một tập như thế này, thì ông sẽ phá kỷ lục của Tô Hoài đó”. (Cát bụi chân ai, sđd., tr.158).

Nếu "Một người bạn" là cái gương mờ, thì "Cát bụi chân ai" (Nhà xuất bản Hội Nhà văn – Hà Nội, 1992) là cái gương sáng thời Tiểu Súc, được viết ra trong ánh sáng của một kiểu người hiểu được cái Thời của mình chưa thể giương đôi cánh lớn, biết vượt lên những cản trở, những bế tắc, mà suy cho cùng đó là những cản trở nhỏ, bế tắc nhỏ mà thôi, chịu khó trau giồi văn đức, làm từng việc nhỏ một mà thành sự nghiệp lớn. Những câu chuyện về Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng và bản thân Tô Hoài đều được nhớ lại và miêu tả dước góc độ những người đấu tranh vượt lên những phiền muộn, bối rối, những lỗi, những lầm, để rồi dốc tâm vào sự nghiệp văn chương của mỗi người. Mỗi nhà văn có một thời của mình, có hành lang số phận riêng mình, nhưng họ xuất hiện trong cuốn hồi ký này dưới sự soi chiếu của một người từ thời Đại Quá sang thời Tiểu Súc, làm cho cuốn hồi ký có một màu vị riêng mang dấu ấn Tô Hoài, khiến người đọc tự hào về dân tộc mình trải qua cách mạng, vừa có một niềm thông cảm sâu xa khôn nguôi đối với những số phận văn chương. Giá trị của cuốn sách chính là ở chỗ đó.

Trên kia có nói cảm xúc thiên nhiên đi vào văn Tô Hoài là từ tượng của Đầm (Chằm). Còn phải kể đến tượng Gió ở hai quẻ Trạch Phong Đại Quá và Phong Thiên Tiểu Súc. Phong là Gió, còn là Cây. Cần nói rằng câu văn, đoạn văn Tô Hoài sống động hẳn lên, mỗi khi ông tả gió tả cây. Trong "Chuyện cũ Hà Nội" (Nhà xuất bản Hà Nội,1998), có lẽ "Diều sáo" là bút ký hay nhất trong cả hai tập ghi chép. Kể diều có nghĩa là kể gió, mà là gió ở trên giời cao. Vùng tôi chơi diều sáo. Cánh diều tương tự bằng nhau, to rộng như nhau, chỉ khác nhau, hơn nhau, ganh nhau ở tiếng sáo. Cái diều không trọng màu sắc, cốt hình thù lực sĩ oai hùng và người ta lắng nghe thưởng thức tiếng sáo.

Tác giả kể chuyện người quê nhà lên tận vùng người Mường, trên Hoà Bình kén thứ hóp đá cứng nhất, làm thân diều. Hóp đá nhỏ con, rắn mặt, ruột đặc. Nói rõ mua hóp đá làm khung diều, người Mường mới tìm cho cây hóp chết dóc, đỏ tía, nhẹ như cái đòn tay, vác mấy cây về chọn, chẳng phí đi đâu. Cây hóp đa bửa đôi mà làm đòn gánh thì bền cổ hỷ...Cây tre, cây hóp ngả vào mùa lạnh mới chắc thớ, không bao giờ mọt. Hóp đá và tre đực được ngâm vào bùn trong ao cả mùa, cả năm. Vớt lên, đẽo vót qua loa rồi đem gác bếp cả bộ sườn, bộ khung. Cuối tháng giêng dỡ xuống, thanh hóp đá và những mảnh tre cật đã được hun óng đỏ, dẻo như cái lạt.

Làm thân diều công phu thế nào thì làm giấy diều, dây diều cũng vất vả, bền thuộc như thế.

Đến việc làm sáo diều: "Các vùng ven bên sông Cái hay chơi diều. Có lẽ vì ở nơi sông nước nhiều gió. Mày mò lên đấy mới kiếm được sáo tốt, không phải sáo hàng chợ. Nhưng cũng chỉ chuốc được cái lưỡi sáo và hai miệng sáo đẽo bằng mảnh tre gộc đực. Còn khoét cái thân sáo thì đi thợ tiện phố Hàng Tiện ngoài Kẻ Chợ, hay về làng Nhị Khê, quê gốc nghề tiện. Gỗ thị cũng không được, chỉ có gỗ thòng mực dẻo dai mới làm được thân sáo. Có ba thứ sáo diều: Sáo còi nhỉnh hơn đốt tay cái. Sáo đẩu như ống nứa. Sáo chiêng (còn gọi là sáo tù và) to bằng đốt vầu, ống dài nửa thước, hai miệng loe, nom cái sáo to tướng mốc thếch như con trăn gió. Hôm nào gió nhỏ, lắp sáo còi; gió lửng thì chơi sáo đẩu; có gió trên mới đóng sáo chiêng".

Khi thả diều lên thì: "Tiếng sáo diều văng vẳng liên hồi suốt đêm. Các cụ và trai làng ngồi bên gốc cây bàn tán, đánh cược và cho ngôi thứ cái diều mà tiếng sáo được đem ra cãi cọ trước nhất. Gió nho nhỏ, sáo còi lảnh lót trong không. Khi sáo đẩu rền rền, biết là diều sắp lên tới gió trên, tiếng đẩu chuyển gió dưới lên gió trên có êm không. Có gió trên, sáo chiêng mới lên tiếng và cả bộ ba chiêng, đẩu, còi trong thinh không hòa vào nhau vang lừng bầu trời. Không trông thấy diều, biết diều có lên đứng, tiếng sáo mới tròn, diều không chao chát, nghiêng ngả. Giải thi diều ăn thua ớ cái điểm tiếng sáo bổng trầm hoà khéo vào nhau như phường bát âm ngồi trên trời... Không nhìn thấy diều, nhưng sáo chiêng húc đổ hồi tù và, sáo đẩu rền vang, sáo còi lanh lảnh nỉ non thì rành rõ như nức nở trong tai, đêm về ngủ còn nằm mơ nghe sáo. Bây giờ cái diều lẫn trong bóng trăng, cả lũ đố nhau đứa nào nhìn thấy". (Sđd. tập II, tr. 17-22).

Chính cái mệnh làm làn gió đi trên trời cao (Phong Thiên Tiểu Súc) đã đưa Tô Hoài đi khắp vùng Tây Bắc, toàn chọn những vùng người Mèo núi cao có gió lộng mà leo lên.

Ông kể với nhà văn Nguyễn Công Hoan: "Đi bộ, trong khoảng bốn tháng, suốt vùng du kích, qua dọc núi Mèo Nghĩa Lộ, đến dọc núi Mèo Tú Lệ, đến dọc Mèo Tuần Giáo, đến dọc Mèo Điện Biên. Trên đường gặp ai, tôi cũng đi với người ấy. Lần thì đi với vợ chồng A Phủ, có A Phủ thật, anh ạ. Lần thì theo người đi chợ. Lần thì theo người đi thăm họ hàng". (Nguyễn Công Hoan. Chân dung văn học. Sđd., tr.125).

Tô Hoài tả gió núi, gió sông thường dữ dội: "Bóng tối trĩu nặng từng quãng, nhanh và dữ tợn. Các mỏm núi đương vàng rực bỗng xanh rợn. Gió chồm lên rồi chết đứng, từng đợt, ngay giữa các triền đồi tranh im lặng". (tiểu thuyết Miền Tây).

"Những thuyền lưới đương tấp nập từng quãng sông. Đôi lúc gió lớn như bão cạn, thổi cát lẫn phù sa đỏ ngùn ngụt bốc lên ngang trời, những chiếc thuyền qua lại mơ hồ như trong mây. Tiếng gõ cá, tiếng chèo va mạn thuyền, tiếng chài quăng roàn roạt, nghe văng vẳng trong thinh không. Gió cát và dòng nước nhuộm trời đất đỏ lừ". (tiểu thuyết Kẻ cướp bến Bỏi).

Quan sát cấu trúc Hà Lạc của Tô Hoài, tôi băn khoăn: Trong mệnh ông không có tượng Núi. Nếu có, thì chỉ có ở những quẻ Năm, trong thời Đại Quá. Vậy mà ông có khoảng hơn chục năm ròng rã đi các vùng núi cao, viết Truyện Tây Bắc, Miền Tây, và nhiều truyện hay khác về miền núi. Mệnh ông cũng không có dấu ấn của một đời phiêu lưu, làm khách lữ hành. Nhưng ông đã đi khắp thế giới. Có chuyên gia Hà Lạc nói rằng, những cuộc leo núi và đi xa ấy là đi chệch hành lang. Tôi nghĩ rằng, người có mệnh Đại Quá lại có ưu tiên năng lượng của trời đất (Hoá Công) thì họ có thể làm những việc phi thường, đi ra ngoài hành lang số phận. Vả lại, ông còn là làn gió bay trên trời cao (Phong Thiên), việc ông bay cao, bay xa là có thể hiểu đựoc. Chỉ có điều, giá như ông biết được mệnh của mình có tượng thiên nhiên là Đầm, là Gió, là Cây... ông tập trung cái năng lượng 150 đầu sách ấy vào những tác phẩm viết về vùng quê đầm hồ Tây Hồ (Hà Nội), thì tôi tin chắc, bạn đọc nước ta còn được nhờ ở ông nhiều hơn nữa, như đã được nhờ ông ở những Dế mèn, Giăng thề, Quê nhà, Cát bụi, Chuyện cũ...

Tôi thành thật tin như vậy và thành thật lấy làm tiếc như vậy.

...........Xuân Cang

Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 09.12.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

(tiếp theo)

NGUYỄN HIẾN LÊ - LÀN GIÓ ĐI TRÊN MẶT ĐẤT

Tôi biết tiếng Kinh Dịch đã lâu. Nhưng phải đến cuốn sách Kinh Dịch, đạo của người quân tử của Nguyễn Hiến Lê, tôi mới thật hiểu thế nào là Kinh Dịch.

Từ đó, tôi đọc thêm của Phan Bội Châu, Nguyễn Mạnh Bảo, Nguyễn Duy Cần, Ngô Tất Tố, mỗi người một vẻ, tôi càng hiểu sâu thêm. Nhưng trước hết, phải nhờ có Nguyễn Hiến Lê. Tôi biết ơn ông và để ý tìm hiểu ông. Trong cuốn Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, ông cho mọi người biết ngày giờ sinh và tám chữ Can Chi của đời ông. Tôi thử phác thảo cấu trúc Hà Lạc của ông, và đọc một mạch cuốn hồi ký 567 trang (13 x 19 cm) của ông để so sánh, thì có vẻ như ông không biết gì mấy về phép toán Hà Lạc, mặc dù ông coi Học Năng (tác giả cuốn Bát tự Hà Lạc lược khảo) như một người bạn, và nhờ ông kể mà tôi biết thêm chút ít về Học Năng.

Tôi thầm tiếc, giá như ông thật sự nghiên cứu Hà Lạc, chắc chắn ông sẽ cống hiến cho mọi người một cuốn hồi ký khác hẳn cuốn này. Bởi vì cái cấu trúc Hà Lạc của ông đã soi tỏ và cắt nghĩa rất nhiều điều về ông, kể cả dấu ấn những năm vui buồn trong đời ông. Tôi nêu một ví dụ: năm Canh Thân 1920 ông được quẻ Thuần Khảm, hào 6, năm cực hiểm của ông, lời hào có câu: cốt nhục khó yên. Diễn biến Nhân Quả là quẻ Sơn Hỏa Bí, hào 6: có tang phục bên ngoại . Chỉ khác một chi tiết, hào 6 bảo có tang bên ngoại, trong thực tế là năm này cha ông mất vào tháng Tám.

Nguyễn Hiến Lê sinh giờ Dậu, ngày 20 tháng 11 năm Tân Hợi (08-01-1912). Năm đó tiết Chớm rét (Tiểu hàn), tiết lệnh tháng 12, vào ngày 07-01-1912, nên Hà Lạc tính ông sinh vào tháng 12. Tám chữ Can Chi của đời ông là: Năm Tân Hợi, tháng Tân Sửu, ngày Quý Mùi, giờ Tân Dậu. Cấu trúc Hà Lạc của ông gồm 4 quẻ: Phong Địa Quán, nguyên đường chủ mệnh hào 4, quẻ Hỗ là Sơn Địa Bác; quẻ Hậu thiên là Điạ Thiên Thái, chủ mệnh hào 1, Hỗ Hậu thiên là Lôi Trạch Quy Muội. Ông có Thiên nguyên khí ở quẻ Tốn (Tiên thiên), Địa nguyên khí ở quẻ Càn (Hậu thiên). Mệnh hợp cách trung bình cao.

Một điều thú vị: Cấu trúc Hà Lạc của ông giống hệt của nhà thơ Trần Đăng Khoa. Chỉ khác một điều, Trần Đăng Khoa có Hoá công, mà ông thì không. Còn ông thì có Thiên nguyên khí, mà Trần Đăng Khoa thì không. Mệnh hợp cách của Trần Đăng Khoa thấp, còn của ông mức trung bình cao. Một điều nữa, theo toán Tứ trụ, Trần Đăng Khoa có tín hiệu Từ Quán trong thời trẻ, cho thấy anh nổi danh rất sớm, và đó là tín hiệu thần đồng, còn Nguyễn Hiến Lê thì không.

Tượng quẻ Phong Địa Quán là làn gió đi trên mặt đất.

Nguyễn Hiến Lê sinh ra với sứ mạng làm người quan sát và suy ngẫm, xem xét dân tình, để định ra phép tắc, giáo hoá nhân dân. Hào 4 âm chủ mệnh, lời hào là: xem vẻ sáng của đất nước mà lợi dụng địa vị thân cận với nguyên thủ. Mệnh hợp cách là tài đức đầy đủ, làm rường cột quốc gia, có quyền giám sát. Cuộc đời ông đã diễn ra đúng như thế: 23 tuổi tốt nghiệp Cao đẳng công chánh ở Hà Nội, ngay sau đó vào Nam, có hai năm thực tập ngành thuỷ lợi được đi đo mực đất khắp các sông rạch miền Tây Nam Bộ. Tha hồ mà quan sát, mà suy ngẫm.

“Hai năm lênh đênh trên sông rạch, tôi được biết gần khắp miền Tây, mấy năm sau nhờ đi kinh lý bằng xe hơi, khi bằng tàu thuỷ, tôi lại biết thêm ít nhiều về miền Đông nữa. Tôi nhận thấy Nam Việt không bằng phẳng, đơn điệu, buồn tẻ như ta tưởng lầm khi nhìn bản in trong sách địa lý. Nó chỉ rộng bằng nửa Bắc Việt mà có nhiều khác nhau về địa hình, phong cảnh, phong tục, lối sống”. (Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, Nhà xuất bản Văn hoc, 1993 tr.14).

Tuy lênh đênh trên sông rạch, nhưng ông không có duyên với sông nước, đúng như trong mệnh của ông đã chỉ ra. Tượng thiên nhiên đi vào cấu trúc Hà Lạc của ông là Gió, Đất, Núi. Y như Trần Đăng Khoa, chặng đường 10 năm đi với ngành thuỷ lợi của ông là 10 năm đi chệch đường hành lang số phận. Ông cũng nhận ra điều đó.

“Kết quả là 3 năm học nghề công chánh, tôi chỉ dùng được hơn mười năm để mưu sinh, mà vài năm học chữ Hán (tính số giờ thì vài năm đó, chỉ bằng sáu tháng liên tiếp chuyên học) lại dùng được suốt đời...” (Sđd tr.124).

Cái thời gian 6 tháng ấy chính là con đường thanh tu (lời hào 6 quẻ Quán) mà ông phải đi qua:

“Nhờ đó một phần lớn mà tôi đã sống trong sạch và phong lưu lại hiểu biết thêm nhiều, làm quen được một số bạn văn và khá nhiều độc giả, gây được một chút thanh danh cho nhà, đền đáp được một phần nào công của tổ tiên mấy đời” (Sđd.tr.124).

Cảm hứng về Gió, Đất, Núi, Trời thường chiếm ưu thế trong khi ông mô tả thiên nhiên:

“Trong gió mát, phảng phất hương xoài, hương mù u. Và chỗ nào cũng nghe tiếng đàn kìm từ trong nhà sàn bên đường, đưa ra các điệu Vọng cổ, Tây Thi, Tứ đại oán...cứ tiếng đàn sau lưng nhỏ dần thì đã văng vẳng tiếng đàn phía trước. Trời trong, nước trong. Trăng nhấp nhô trên mặt nước, lấp lánh trên đường cái, nhảy múa trên tàu dừa, chảy trên tóc, trên vai thiếu nữ...Mười một giờ khuya, buổi lễ mới vãn, trăng lúc này mới thật là đẹp. Tôi đi một mình, xuôi ra ngoài vàm, nghe tiếng lá xào xạc trong cảnh tĩnh mịch, tiếng nước bập bềnh vỗ vào bờ. Trong một bụi chuối cách đường vài thước, có những cặp tình tự với nhau. Xa xa vẳng lên một khúc xuân tình...”

Đây là cảnh Đèo Cả ban đêm:

“... Tôi đương ngắm cảnh biển mênh mông nhấp nhô dưới ánh trăng thì xe lửa ngoẹo vào một khúc quẹo, và những làn sóng bạc bỗng biến đâu mất, mà trước mặt tôi hiện lên một dãy núi đen tím với một cái vũng lốm đốm mươi ngọn đèn chài, đỏ như than hồng trên một làn nước phẳng lặng, cảnh biến đổi thật huyền ảo và trong một phút, tôi có cảm giác là mọc cánh mà lên tiên”.

Đây là cảnh xe lửa chạy qua đèo Hải Vân:

“Ở đây cũng như ở Đèo Cả, xe chạy ở giữa, một bên là vách đá dựng đứng, một bên là biển thẳm mênh mông. Nhưng cảnh rừng ở đây thay đổi luôn luôn, nhiều vẻ đẹp hơn Đèo Cả, chỗ thì cây cối thưa thớt, thoái mái và chỉnh tề; chỗ thì chen chúc nhau, cố bíu lấy nhau trên một sườn núi cho khỏi tuột xuống thung lũng. Có nơi rừng bị một giống dây leo lá tròn trùm kín hàng mấy chục mẫu, trông xa như một tấm mền xanh, căng ở sườn núi, có cột chống ở dưới.

Thỉnh thoảng xe qua những chiếc cầu nho nhỏ bắc qua suối. Dòng nước trong leo lẻo, xô đẩy nhau trên những phiến đá nhẵn, rồi chui vào một cửa tò vò chuối màu xanh non, sau cùng thoát ra ở một bãi cát vàng ở xa xa. Đẹp nhất là những thảm cỏ điểm hoa tím và vàng rung rinh như cánh bướm.

Xe vẫn phì phì uốn khúc gắng lên kịp con đường quốc lộ số 1, nó đã vờn mây ở dãy núi bên kia. Xe chui vào hầm - quãng đường này có bảy tám cái hầm – và mỗi lần ở hầm ra thì cả một trời cao biển rộng hiện ra trước mắt, trời xanh lơ, biển xanh ngọc thạch như Đèo Cả... Biển ôm những cù lao ở ngoài khơi, liếm những bãi cát vàng cánh cung ở bờ, vỗ vào những gốc si bám vào chân vách đá. Nó gần tới bờ rồi lại lùi ra, để lại một viền bọt trắng... Xe vẫn phì phì leo dốc. Càng lên, núi càng cao, ngọn núi càng xích lại gần nhau. Núi đã mờ mờ. Xe đã chui vào mây. Lạ thay tôi có cảm giác biển cũng dâng lên để dược gần trời. Mây lờn vờn ở ngoài khơi, bóng mây làm cho mặt biển lốm đốm như mai con đồi mồi”.

Đây là phong cảnh được soi chiếu bằng một cái nhìn...từ trời xuống:

“Cánh đồng Nha Trang từ trên cao nhìn xuống rõ là một hình tam giác, đỉnh A hướng về dãy núi Trường Sơn; hai cạnh AB, AC màu xám nhạt là hai dãy núi chạy dài ra tới biển; đáy BC là bờ biển, một đầu là Hải Học Viện, một đầu là nhà tu công giáo. Sông Nha Trang, lấp lánh uốn khúc từ A ra tới bờ biển qua một cánh đồng xanh mởn, nằm từ cạnh này tới cạnh kia, rồi qua một dải cát trắng rộng độ hai cây số sát bờ biển. Ở giữa dải cát đó, tại cửa sông Nha Trang là thành phố gồm hai khu vực: khu nhà lá thưa thớt, màu xám ở bên mặt (khi nhìn ra biển), và khu công sở, biệt thự ở bên trái, y như bàn cờ mà quân cờ tròn là những đám cây xanh, xen với những nóc đỏ, tường vàng như những mảnh giấy hình chữ nhật. Đây đó nhô lên vài ngọn đồi đá trên có một ngôi chùa cổ, và vài hòn nhỏ ở ngoài cửa biển như những đốm đen trên mặt nước xanh biếc. Dưới mắt ta, đủ cả cảnh rừng núi, sông biển, đồng ruộng, thành thị, thôn quê, với đủ các màu sắc thiên nhiên rực rỡ không nơi nào bằng”.

Chính cái cảm hứng từ trên cao nhìn xuống đã chi phối Nguyễn Hiến Lê suốt những năm Địa Thiên Thái trên đường mở mang sự nghiệp giáo hoá. Với ưu thế Địa nguyên khí ở quẻ nội Càn, bắt đầu từ năm 43 tuổi (1952), Nguyễn Hiến Lê bắt đầu rời bỏ nghề dạy học đi hẳn vào nghề viết sách.

Hoá ra, những năm Phong Địa Quán là những năm chuẩn bị. Những năm Địa Thiên Thái đối với ông mới thực sự là những năm cất cánh.

“Trong những năm 1949- 1953, tôi làm việc rất nhiều, vừa học vừa dạy học, lại vừa viết sách. Hễ miệng thôi giảng là tay cầm cuốn sách lên, đặt cuốn sách xuống tay lại cầm cây bút lên. Hấp tấp tới trường rồi hấp tấp về nhà. Mỗi tuần tôi chỉ nghỉ buổi chiều chủ nhật, để qua khu chợ (cách nhà tôi khoảng một cây số), để thăm bác tôi và một hai người bạn...Trong gia đình tôi muốn vợ con hiền lương, con học được và thích đọc sách chứ không ham sang giàu. Nhà ở, tôi không ham muốn sang trọng lộng lẫy, ít đồ đạc thôi, nhưng nhiều sách. Chỗ làm việc phải rộng rãi sáng sủa và trông ra một khu vườn có lá, có hoa. Hoa thì tôi muốn loại dễ trồng, mà có hương thơm, có bóng mát để chim chóc, ong bướm tới. Tôi ngại nhất loại hoa bắt người ta phải hầu hạ như hải đường, phong lan...” (Sđd)

Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Hiến Lê rất thích Nhà văn hoá Tô Đông Pha. Ông đã viết riêng một cuốn sách về Tô Đông Pha, và chép đoạn văn sau đây vào cuốn Hồi ký của mình:

“Tự ở nơi biến đổi mà xem ra thì cuộc trời đất cũng chỉ ở trong một cái chớp mắt; tự ở nơi không biến đổi mà xem muôn vật cùng với ta đều không bao giờ hết cả... Vả lại, ở trong trời đất, vật nào có chủ ấy, nếu không phải của ta thì dẫu một li ta cũng không lấy. Chỉ có ngọn gió mát ở trên sông, cùng vầng trăng sáng ở trong núi, tai ta nghe nên tiếng, mắt ta trông nên vẻ, lấy của ai không cấm, dùng không bao giờ hết, đó là cái kho vô tận của tạo hoá mà là cái vui chung của bác với tôi”.

Ông bảo là, trong văn học phương Tây ông chưa gặp bài nào vừa tao nhã vừa du dương như bài đó.

Yêu thích như thế, làm lụng như thế, nên suốt ba mươi năm ở quẻ Thái, ông cống hiến cho đời hơn trăm đầu sách. Mà toàn loại sách đòi hỏi một cái nhìn bao quát, xuyên suốt, phóng khoáng, cao cả, tích cực, nghĩa là một cái nhìn rộng từ trên cao nhìn xuống. Về văn học, có Hương sắc trong vườn văn, Đại cương văn học sử Trung Quốc, Tô Đông Pha...; về ngôn ngữ học có Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, Chúng tôi tập viết tiếng Việt...; về triết học có Đại cương triết học Trung Quốc, Nho giáo, một triết lý chính trị, Liệt Tử và Dương Tử, Kinh Dịch đạo của người quân tử...; Về gương danh nhân có Gương hy sinh, Gương kiên nhẫn, Những cuộc đời ngoại hạng..; Về giáo dục có Thế hệ ngày mai, Tìm hiểu con chúng ta, Tự học một nhu cầu thời đại... Đặc biệt, về dịch thụât ông tỏ ra có một khả năng sung mãn, ông đã dịch: Chiến tranh và hoà bình, Kiếp người, Cổ văn Trung Quốc, và nhiều sách khác...(theo Nguyễn Q Thắng. Hồi ký Nguyễn Hiến Lê. Sđd., tr.11)

Cuộc đời Nguyễn Hiến Lê được tổng kết một cách phong phú và sinh động trong cuốn Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê có thể là một bài học những ai muốn đi sâu vào nghiên cứu quẻ Quán. Nói cách khác, ai muốn giảng về quẻ Quán, thì chỉ việc đưa tác phẩm trên ra đối chiếu và so sánh, là có đầy đủ những khía cạnh đáng kể nhất của quẻ Quán. Do có ưu tiên Thiên nguyên khí và Địa nguyên khí giải đều ở cả tiên thiên và hậu thiên, nên có thể nói, Nguyễn Hiến Lê là người phát huy đến mức cao những ưu thế của quẻ Quán, để đi đến những thành đạt mà người khác cũng được quẻ Quán lại không có được. Tôi thử đưa ra mấy nhận xét sau đây:

Người quẻ Quán mà tượng là Làn gió đi trên mặt đất mà nghĩa quẻ là Quan, là quan sát, là thấy và suy ngẫm (khác với quẻ Cấu là Làn gió đi dưới Trời nên nghĩa quẻ là Gặp, là gặp gỡ bất ngờ), trước hết là người giàu khả năng quan sát, nhạy cảm với những diễn biến của thiên nhiên và sự sống xảy ra xung quanh, dễ thấy ra những đặc điểm của nó để mà so sánh và suy ngẫm.

Đọc Hồi ký của ông, ta thấy ông là người rất giàu khả năng quan sát. Mà khả năng quan sát này ở hào 4 là xem vẻ sáng của đất nước, nên ông thiên về quan sát phong cảnh và dân tình. Thuở bé, nhà ở ngõ Phất Lộc mà đi học trên Yên Phụ (Hà Nội), hằng ngày phải đi về trên chặng đường sáu cây số dọc bờ Hồ Tây và bờ đê sông Hồng, ông đã quan sát thấy bao nhiêu vẻ đẹp, thành những ấn tượng sâu sắc đầu tiên trong đời. Khi trở thành chuyên viên ngành công chính, được đi khắp sông rạch miền Tây Nam Bộ, ngay thời trẻ, ông đã ham muốn viết hồi ký để ghi lại những gì đã quan sát đụơc, rất tiếc tập hồi ký đó đã không giữ được. Những trích dẫn trên kia cho thấy ông giàu khả năng quan sát đến thế nào. Sau này, tập Hồi ký in khi ông đã mất, trở thành một tác phẩm có giá trị cho những ai muốn tu rèn khả năng quan sát và học làm người. Tập hồi ký đó là tấm gương toàn vẹn của một người hào 4 quẻ Quán mà khi viết ra, tôi có cảm tưởng là ông cũng không ý thức được mình là người quẻ Quán.

Người quẻ Quán là người có một sức mạnh tự thân rất lớn. Dựa vào cấu trúc Hà Lạc dưới đây (xem phụ lục) mà chiết ra tìm các vận Năm của chủ thể, ta sẽ thấy Nguyễn Hiến Lê có đến 4 quẻ Đại Tráng trong suốt thời Quán của ông. Tất cả các đại vận hào âm quẻ Quán, đều kết thúc bằng quẻ Lôi Thiên Đại Tráng, nghĩa là cứ sáu năm có một năm Đại Tráng. Tượng quẻ là Sấm ở trên Giời. nghĩa quẻ là Đại Tráng, là lớn mạnh. Người có Thiên nguyên khí ở ngay đầu đời quẻ Quán, lại có mệnh hợp cách, thì cái sức mạnh tự thân Đại Tráng ấy lớn đến chừng nào. Hồi ký Nguyễn Hiến Lê cho biết, ông có khả năng tự học rất lớn. Ông đã có một tổng kết giá trị trong đời ông là: Khi muốn học một vấn đề nào, thì cứ viết sách về vấn đề ấy. Muốn học một cách kỹ lưỡng, thì không gì bằng viết sách về điều mình học. Viết sách là tự ra bài cho mình làm (Sđd, tr.294). Học mà không làm bài, thì mới chỉ đọc qua, chứ không phải học. Ông nói thêm: Song tôi xin dặn bạn: khi viết nên nhớ là mục đích của ta là để tìm hiểu, chứ không phải để cầu danh. Đừng cầu danh thì danh sẽ tới. Cầu nó, nó sẽ trốn và sự học của ta hoá ra nông nổi (tr. 295)

Sức mạnh tự thân của Nguyễn Hiến Lê thể hiện trong quyết tâm rời bỏ nghề công chánh, để theo nghề dạy học, rời bỏ nghề dạy học để theo nghề văn, lấy nghề văn và làm xuất bản để nuôi mình và nuôi người.

Một đời miệt mài làm việc để cho ra hàng trăm đầu sách, quả là sức Đại Tráng phát triển đến phi thường.

Hào 4 âm quẻ Quán (hào chủ mệnh của Nguyễn Hiến Lê) ở gần sát hào 5, vị chí tôn, nên lời hào sau vế câu: xem vẻ sáng của nước, còn vế câu: mà lợi dụng địa vị thân cận với nguyên thủ. Vậy, nguyên thủ của chủ thể là những ai? Đọc Hồi ký Ngưyễn Hiến Lê, chúng ta thấy ông kể ra một số người lần lượt ở những địa vị chí tôn trong cuộc đời ông. Cha, người duy nhất mất sớm, nhưng gây dựng cho việc học hành ban đầu; Mẹ, người đã ở vậy nuôi các con ăn học; Bà ngoại, người có lời khuyên rất quan trọng là học chữ Hán để xem được gia phả, nhờ lời khuyên đó mà sau này chàng trai Nguyễn Hiến Lê có cái vốn chữ Hán đủ để lập nghiệp lớn; Ông bác cả, người đã gây dựng cho chàng trai cái vốn chữ Hán đầu tiên; Ông bác hai, người hoạt động cách mạng trong Đông Kinh Nghĩa Thục, nêu tấm gương hy sinh vì tiết nghĩa cho chàng trai; ông bác ba, người của Đông Kinh Nghĩa Thục, trốn tránh vào Nam, sau trở thành chỗ dựa cho chàng trai những năm đầu lập nghiệp trong Nam... (có thể kể một số người khác nữa, đã giữ vai trò nguyên thủ trong đời ông). Theo Hồi ký, ông đã tận dụng tất cả những lợi thế ảnh hưởng to lớn của những người gần gũi ấy, sau này, ông kể lại trong những cuốn sách như: Cháu bà nội, tội bà ngoại; Đông Kinh Nghĩa Thục; Hồi ký Nguyễn Hiến Lê và nhắc đến họ trong nhiều cuốn sách khác. Cuốn Đông Kinh nghĩa thục chính là một biểu thị của sự tận dụng cái lợi thế ở gần nguyên thủ. Nguyễn Hiến Lê kể: Hồi tản cư ở gần Tân Thạnh (1946-1947) tôi được bác Ba tôi, hiệu là Phương Sơn, giáo sư trong Đông Kinh Nghĩa Thục, cũng là rể cụ Lương Văn Can, kể cho nghe các hoạt động của trường.

Hồi cư về Sài Gòn, tôi tìm đọc trên hai chục cuốn về các nhà cách mạng thời đó, cả cuốn Đông Kinh nghĩa thục của Đào Trinh Nhất (Nhà sách Mai Lĩnh, 1938), vừa để kiếm thêm tài liệu để soát lại những lời bác tôi kể, rồi viết cuốn Đông Kinh nghĩa thục, xuất bản 1956. Đông Kinh nghĩa thục ghi được không khí thời đó (1907), chép được tinh thần các nhà cách mạng vừa hăng hái, vừa ngây thơ, nhất là tình đoàn kết, bình đẳng trong anh em, lại có nhiều giai thoại, nhiều tình tiết lý thú, cho nên sách bán khá chạy... In xong cuốn sách đó – cũng như cuốn Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười và bộ Đại cương văn học sử Trung Quốc – tôi gửi ngay về Long Xuyên tặng bác tôi một bản để đọc lại những hồi ký cùng bài thơ cảm khái của người ở cuốn sách:

Tuổi xanh kết bạn xoay trời đất
Năm chục năm nay thoả ước mong
Độc lập xa gần cờ phất phới
Anh hồn cố hữu khoái hay không?


Bài thơ đó người làm đầu mùa đông năm Ất Mùi (1955) khi Việt Nam không còn bóng một quân Pháp nào cả, ít tháng trước khi Đông Kinh nghĩa thục đưa cho nhà in sắp chữ... Sách in rồi tôi vẫn tiếp tục kiếm thêm tài liệu, đọc ở đâu hoặc được bạn bè (Nguyễn Hữu Ngư...) cho biết thêm điều gì tôi đều ghi lại, cho vào hồ sơ riêng để khi tái bản sẽ sửa chữa. Nhờ vậy mà lần in thứ nhì 1968, sách dày thêm được khoảng 30 trang, lần thứ ba thêm được hai chục trang nữa, tất cả là 200 trang...Từ năm 1974 đến nay, tôi lại kiếm thêm được ít tài liệu nữa, mà tôi sẽ chép trong phần phụ lục; nhưng chắc sẽ không có lần in thứ tư. Độc giả ai cũng cho đó là một trong những cuốn có giá trị của tôi; chính tôi cũng thích nó một phần vì ghi lại được hành động của các bác, cha, chú tôi.

Tôi chỉ nói thêm một câu: Ông không hề biết rằng hào 4 quẻ Quán chủ mệnh của đời ông đã báo trước rằng trên hành lang đường đời, ông luôn luôn được gần các nguyên thủ. Lời hào khuyên rằng hãy biết tận dụng cái vị thế ấy rất có lợi. Và ông đã lợi dụng theo cách người quân tử: Viết sách về những... nguyên thủ ấy.

Bắt đầu từ năm 61 tuổi (1971), Nguyễn Hiến Lê cố gắng đi hết hào 3 dương quẻ Thái. Lời hào 3 báo động rằng thời Thái của ông đã đến chỗ thịnh cực rồi, sắp suy đấy, trong gian nan hãy giữ lấy điều chính thì không lỗi.

Năm 1973, ông được quẻ Sơn Thiên Đại Súc, chủ mệnh ở hào 3. Lời hào bảo rằng: như hai con ngựa tốt chạy đua nhau. Chịu khó giữ đạo chính thì lợi... Hà Lạc giải: Cùng đi lên, cùng có cách thỏa đáng. Có thừa học vấn, tài đức để làm việc lớn. Đó là năm ông cùng mấy người nữa được đề xuất nhận giải thưởng của chính quyền Sài Gòn, giải mang tên Tuyên dương sự nghiệp văn học nghệ thuật năm 1973. Giải thưởng là một triệu đồng, mà giá vàng hồi đó 40.000 đồng một lượng. Ông đã từ chối không nhận giải thuởng, có lẽ đó là cách thỏa đáng (chịu khó giữ đạo chính) đã báo trước trong lời giải Hà Lạc và lời hào?

Năm 1979, ông làm cuốn sách cuối cùng trong bộ triết học Tiên Tần, cuốn Kinh Dịch, đạo của người quân tử. Đó là năm quẻ Trạch Địa Tụy, chủ mệnh hào 3, nằm trong đại vận hào 3 quẻ Thái (năm đầu của đại vận là năm 1971, Tân Hợi, năm can chi âm). Tụy là tụ họp, thi thố, tụ họp thì hanh thông nhưng vui buồn phức tạp, cần biết phòng thân. Hào 3 bảo rằng, năm này tụ họp chẳng chính đâu, có than thở đấy, nhưng cứ phải đi thôi, chỉ hối thẹn chút thôi. Mệnh hợp cách là toại chí, bốn bể là nhà... Công việc lớn của đời ông đã diễn ra đúng như lời hào 3 quẻ Tuỵ. Tụ ở đây là tụ về sách vở, tài liệu. Nguyễn Hiến Lê kể trong cuốn Hồi ký của mình: Tôi đã thu thập tài liệu Hoa, Việt, Pháp, Anh về Kinh Dịch từ non 20 năm trước, được 15 cuốn. Tôi đọc lại hết, ghi chép mất 4-5 tháng, rồi viết 6 tháng nữa, được khoảng 500 trang. Chủ trương của tôi khác hẳn các học giả của mình. Gần đây, tôi chỉ nhằm mục đích hướng dẫn những bạn trẻ muốn tìm hiểu triết lý trong Kinh Dịch, nghĩa là vũ trụ quan, nhất là nhân sinh quan, cách xử thế, tu thân trong Kinh Dịch, đạo của bậc chính nhân quân tử ngày xưa. Vì vậy, tôi bỏ hết phần bói toán huyền bí, nhất là phần tướng số, và ráng trình bày một cách có hệ thống, sáng sủa tư tưởng của cổ nhân... Ông nhận xét: Triết lý trong Dịch thực tế: Việc đời không bao giờ hết được, xong việc rồi (Ký tế) thì phải bắt tay vào việc khác (sau Ký tế tới Vị tế); lạc quan: Tuy biết rằng, không bao giờ diệt được cái ác, được tiểu nhân; thiện ác, quân tử, tiểu nhân, cũng như dương, âm vẫn thay đổi nhau lên lên xuống xuống, nhưng Dịch vẫn khuyến thiện, vẫn thiên vị với quân tử, chỉ cho quân tử cách đợi thời ra sao, hành động ra sao; Dịch lại rất thực tiễn: 64 quẻ đều xét những việc thường ngày, từ việc ăn uống, cưới xin, kiện cáo, xuất quân, dạy con, tới những việc trị dân, làm cách mạng, tu thân, tiến lui... Cả những cách giữ thân khi gặp nguy khốn, khi ở đậu đất khách; mà như vậy chỉ dùng có hai vạch liền và đứt thay đổi nhau, chồng chất lên nhau. Tôi nhấn mạnh vào phần nhân sinh quan đó trong phần giới thiệu và cả trong phần dịch 64 quẻ.

....Càng suy nghĩ, tôi càng thấy, Dịch là một kỳ thư.

Nếu ta hình dung rằng, ông viết bộ sách này vào năm Kỷ Mùi 1979, bốn năm sau khi thống nhất nước nhà, đọc những dòng trên, ta thấy vừa cảm phục vừa thương ông. Đúng tinh thần hào 3 quẻ Tụy: Làm bộ sách để quy tụ, cho toại chí mình, cho thỏa ý bốn bể là nhà, nhưng cũng biết “loại sách này của chúng tôi không thể xuất bản trong mươi năm sắp tới được” (Kinh Dịch, đạo của người quân tử. Sđd. tr. 505). Ông không biết rằng Nhân là Tụy, mà Quả là Đại Hữu, hào 3. Đại Hữu là Có lớn. Hào 3: Như bậc công hầu mở tiệc mời thiên tử. Hạng tiểu nhân không đương nổi việc đó. Ông không khỏi có lời than thở ghi vào những dòng cuối cùng của bộ sách vào ngày giỗ của Mẹ 15-3 – Kỷ Mùi (11-4-1979), khi ông nhớ lời khuyên của bà nên học chữ Hán, chính nhờ vậy mà ông làm được bộ sách quý này: Hôm nay là ngày giỗ của Người, không khí chung quanh bàn thờ thật lạnh lẽo: về hàng con, chỉ có hai vợ chồng tôi, về hàng cháu và chắt, không có một ai. Nhưng mừng rằng, còn được một nén hương trầm, một bình trà ngon của một bạn văn và một độc giả. (Kinh Dịch, đạo của người quân tử. Sđd. tr. 506). Cho đến năm 1980, kết thúc tập Hồi ký, vẫn còn những dòng mặc cảm: Bộ Kinh Dịch, đạo của người quân tử viết xong, tôi đưa cho bạn đọc, bạn nào cũng khen; một bạn chịu khó chép tay để giữ, (vì không biết bao giờ mới in được), một bạn khác nhờ đánh máy 6 bản để tặng người thân. (Hồi ký Nguyễn Hiến Lê. Sđd. tr. 548).

Ông không biết rằng, hơn 10 năm sau, vào những năm 90 này, cuốn sách tâm đắc của ông đã được in, giới thiệu với bạn đọc trên toàn quốc, đúng như lời hào 3 quẻ Tụy và hào 3 quẻ Đại Hữu đã nói trên kia.

.............12-1999
...........Xuân Cang



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 10.12.2012, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 10.12.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

(tiếp theo)

TÁM CHỮ HÀ LẠC VÀ CHÂN DUNG NHÀ THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA

Nhà thơ Trần Đăng Khoa sinh vào giờ Dậu ngày Tám tháng Ba năm Mậu Tuất (26-4-1958) ở vùng quê của anh bên bờ sông Kinh Thầy (Hải Dương). Cấu trúc Hà Lạc của anh phản ánh hết sức đầy đủ tâm tính và cảm xúc văn chương, cũng như những bước đường đời anh đã đi qua.

Quẻ Tiên thiên, là quẻ trời cho anh, là quẻ Phong Địa Quán. Phong là Gió, Địa là Đất. Tượng thiên nhiên của quẻ là Gió đi trên Đất. Quán, hay còn gọi là Quan. Quán là làm cho thấy, còn Quan là thấy, là quan sát, xem xét, nhìn ngắm và suy ngẫm. Khi đọc tên quẻ, người ta đọc là Quán, khi đọc lời của từng hào, thì gọi là Quan.

Các nguyên thủ đời xưa coi tượng quẻ làn gió lướt trên mặt đất mà bắt chước thiên nhiên đi quan sát dân tình, suy tính đặt ra các chính sách cho dân. Phan Bội Châu nêu ví dụ: Tỷ như, xứ nào suy mạt về nghề nghiệp, thì dạy bằng nông tang, xứ nào suy đồi phong hóa, thì dạy bằng lễ nghĩa, dân khiếp nhược thì dạy bằng thượng võ, dân hiếu dũng thì dạy bằng thượng văn. Đó là cách quán của bậc nguyên thủ vậy.

Còn đối với những người bình thường, người được quẻ Quán, người nào cũng mang sẵn trong mình một niềm ưa thích hoặc năng khiếu quan sát nhậy bén, thích nhìn ngắm, đối chiếu, so sánh, suy ngẫm. Quẻ Quán cho ta biết, ta ở vào thời Quán, thời của quan sát và suy ngẫm. Người được quẻ Quán lại có hào chủ mệnh tốt, ở vào giai đoạn có vị, có thế, có cơ hội, có ưu tiên năng lượng của trời đất (Hóa công), có nguyên khí của Trời và Đất (Thiên nguyên khí, Địa nguyên khí) thì đó là những tín hiệu của tài năng, người đó có thể thành các nhà báo, các nhà văn, nhà khoa học.

Người mẹ quê mùa ở đất Nam Sách đã may mắn sinh được cậu con trai vào một thời điểm có gần đủ những tố chất đó. Trong "Chân dung tự họa" của Trần Đăng Khoa, hình như anh có linh cảm thấy mình được Trời cho một cái gì: Đối với Trần Đăng Khoa, thơ hay là thơ giản dị, xúc động và ám ảnh.

"Suốt đời, y có ý thức vươn tới loại thơ đó. Nhưng để làm được điều ấy, một phần do y, một phần khác còn do... ông Trời! Nhưng ông Trời ở đâu, tính khí ông ta thế nào, thì suốt đời y, y cũng không thể hiểu được". (Chân dung và Đối thoại - Nhà xuất bản Thanh Niên - Hà Nội 1998).

Trong bài viết này, chúng tôi cố gắng quán cái điều anh còn có vẻ nghi ngờ đó.

Ta hãy ngắm nghía cái cấu trúc Hà Lạc của anh và lần theo những dấu vết đường đời anh đã đi qua, những dấu vết mà cấu trúc Hà Lạc đó để lại trong văn chương của anh.

Quẻ của Trần Đăng Khoa thuộc loại Mệnh hợp cách ở mức thấp, nhưng mặt khác lại có nhiều ưu tiên thuận lợi. Những ưu tiên đó là: Về cuối đời, sẽ có ưu tiên về năng lượng của Ông trời và có nguyên khí của Đất. Thôi, hãy để đấy và đợi xem cái ưu tiên ấy nó thế nào.

Tuổi Mậu Tuất có mệnh Mộc (đất bằng), gặp quẻ Tốn là tín hiệu cho thấy, tuổi nhỏ có nhiều dao động, trắc trở, lo âu, thiếu tự chủ và bình tĩnh. Nhưng cũng chính tuổi nhỏ ấy đã chiếm cái hào 4 là hào Nguyên đường, chủ mệnh, với lời hào thật đẹp: [i[Xem vẻ sáng của đất nước mà biết sử dụng cho tốt cái lợi thế ở gần bậc nguyên thủ[/i[. Hà Lạc cho biết, người được hào này có chứa chất trong mình cái nghĩa của người nguyên thủ và người phụ tá trong thời thịnh. Đó là tín hiệu cho biết, người này sinh ra là để làm người quan sát, chiêm ngưỡng và ca ngợi những vẻ đẹp của đất nước, suy ngẫm và làm lợi cho thiên hạ.

Chủ thể sẽ có tư thế người phụ tá cho các bậc nguyên thủ, và là phụ tá trong thời thịnh, lời hào khuyên phải biết tận dụng cái lợi thế ấy và giữ cái nghĩa làm phụ tá, chớ có vượt qua. Tượng của hào còn nhấn mạnh ý nghĩa xem vẻ sáng của nước, mà sinh chí hướng muốn hiến thân cho nước. Hào 4 là chủ mệnh sẽ đi xuyên suốt cuộc đời chủ thể, đồng thời, phản ánh chặng đường từ 1 đến 6 tuổi. Ngay sau đó là hào 5, phản ánh chặng đường từ 7 đến 15 tuổi. Hào 5 là hào có vị trí chí tôn, hào vua trong 6 hào của quẻ Dịch. Lời hào cho biết, chủ thể đến chặng đường này sẽ coi trọng việc quan sát và suy ngẫm về bản thân mình, qua vẻ sáng của đất nước và của nhân dân phản ánh vào mình, để từ đấy mà thấy được mình như tấm gương của đất nước và thiên hạ. Tượng của Hào còn cho biết thêm: Xem xét mình, đâu phải chỉ xem xét mình. Vì mình (ở chặng đường này) ở vào vị trí chí tôn, nên cái mình ấy đã phản ánh trong nhân dân, nên xem xét mình có nghĩa xem xét nhân dân, có nghĩa, coi nhân dân như tấm gương để xem xét mình. Cái sứ mệnh tuyệt đẹp đó ở tuổi thần tiên, từ 7 đến 15 tuổi, thì đó chính là tín hiệu thần đồng ở Trần Đăng Khoa, như mọi người đã biết. (Tín hiệu thần đồng đó cũng phản ánh trong bài toán Tứ trụ: Đại vận Đinh Tị của chủ thể từ 4 đến 13 tuổi là đại vận Từ Quán. Từ Quán là tín hiệu tài trí ở bậc hàn lâm, học viện).

Do tượng của quẻ, ta biết những tố chất thiên nhiên ảnh hưởng vào tâm tính, vào cảm xúc, tiềm ẩn trong Trần Đăng Khoa là Gió (cũng là Cây), Đất, Núi, Trời, sau đó đến Sấm chớp và Đầm hồ. Thơ của Trần Đăng Khoa nhuần thấm những vẻ đẹp và những khí chất thiên nhiên đó. Không phải ngẫu nhiên mà anh đặt tên cho tập thơ đầu cũng là tác phẩm hay nhất của anh cho đến nay, in đi in lại trên 30 lần, là "Góc sân và Khoảng trời". Góc sân, chính là Đất. Còn cái bầu trời sau này sẽ trùm lên trong hậu vận của anh (quẻ Địa Thiên Thái) thì ở tuổi thơ mới hiện lên lấp lánh trăng sao và xanh biếc mênh mông trong một khoảng nào còn rất hạn chế ở một góc sân nhà.

Góc sân nho nhỏ mới xây
Chiều chiều em đứng nơi này em trông
Thấy trời xanh biếc mênh mông
Cánh cò chớp trắng trên sông Kinh Thầy.


Cảm xúc thiên nhiên mạnh nhất thời thơ ấu của nhà thơ là Đất và Cây cối, lúa má.

Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa
Của sông Kinh Thầy
Có hương sen thơm
Trong hồ nước đầy...


.......(Hạt gạo làng ta).

Những bài thơ hay như Côn Sơn, Đêm Côn Sơn, Khi mùa thu sang... thấm đẫm cái cảm xúc về Đất, Gió, Cây đã đi vào mệnh văn chương của Trần Đăng Khoa.

Sáng trên đỉnh Côn Sơn
Hương đồng thơm trong túi
Chiều xay thóc góc nhà
Tóc lại bay gió núi


...........(Côn Sơn)

Tiếng chim vách núi nhỏ dần
Rì rầm tiếng suối khi gần khi xa
Ngoài thềm rơi cái lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng.


..........(Đêm Côn Sơn)

Mặt trời lặn xuống bờ ao,
Ngọn khói xanh lên lúng liếng
Vườn sau gió chẳng đuổi nhau
Lá vẫn bay vàng sân giếng

Xóm ngoài nhà ai giã cốm
Làn sương lam mỏng rung rinh,
Em nhỏ cưỡi trâu về ngõ,
Tự mình làm nên bức tranh

Rào thưa tiếng ai cười gọi,
Trông ra nào thấy đâu nào
Một khoảng trời trong leo lẻo
Thình lình hiện lên ngôi sao


..........(Khi mùa thu sang)

Câu Tự mình làm nên bức tranh là câu thơ của định mệnh, đó là câu thơ của hào 5 quẻ Quán.

Bạn đọc hãy chú ý, Trần Đăng Khoa cũng rất nhạy cảm với Sấm chớp (xem quẻ hỗ Hậu Thiên):

Cánh cò chớp trắng trên sông Kinh Thầy

.................(Góc sân và khoảng trời).

Bỗng đâu vang tiếng sấm rền
Tỉnh ra, em thấy trong đền đỏ hương


.................(Đêm Côn Sơn).

Xuân Diệu cũng rất chú ý loại cảm xúc sấm chớp này, nhưng ông không hề biết, nó tiềm ẩn từ trong mệnh văn chương của Trần Đăng Khoa.

"...Ông đặc biệt chú ý bài "Mưa". Ông chất vấn:

-Tại sao lại đội sấm, đội chớp? Ông sấm ông ấy đánh cái sẹt. Thế cậu muốn bố cậu chết hay sao, mà bắt ông ấy đội sấm?

Tôi không dám cãi Xuân Diệu, chỉ cười trừ. Xuân Diệu cũng cười. Nhưng mấy ngày sau, vào lúc 10 giờ đêm ngày 1-6-1968, cái làng quê hẻo lánh, yên tĩnh của tôi, đã vang lên giọng bình thơ của ông Tây qua cái loa công cộng, trong buổi phát thanh "Tiếng thơ". Giọng Xuân Diệu sang sảng:

Bố em đi cày về
Đội sấm
Đội chớp
Đội cả trời mưa..."


(Chân dung và Đối thoại - Sđd)

Đặc biệt, trong trường ca "Đánh thần hạn", Trần Đăng Khoa thả sức vùng vẫy đôi cánh lớn của cảm súc về Sấm Chớp, vì đó là trường ca về những cuộc chiến đấu ở trên trời:

Bỗng thần sực tỉnh
Dọc ngang vỗ cánh,
Vòi quật chéo không trung
Lửa trắng
Lửa xanh
Lửa tím,
Lại bốc lên đùng đùng


Trần Đăng Khoa đã đi gọn một chặng đường chói sáng 9 năm hào 5 quẻ Quán.

Chú bé cũng đã tìm thấy nguyên thủ của mình: Đó phải chăng là nhà thơ Xuân Diệu ? Chú bé đã thành người phụ tá của ông. Ông đã đến góc sân nhà em, hỏi chuyện và nhìn ngắm, đã giới thiệu chú bé làm thơ trên báo Văn Nghệ và đưa chú bé về Hà Nội. Đã chữa thơ cho chú bé, và nhiều khi, chỉ chữa một chữ thôi, nhưng câu thơ hay hẳn lên.

Về ông bụt trên chùa Côn Sơn, Trần Đăng Khoa viết:

Sợ gì ông vẫn ngồi yên lưng đền

Xuân Diệu chữa là:

Nghĩ gì ông vẫn ngồi yên lưng đền

Sau này, trong cuốn sách "Chân dung và Đối thoại", bài viết về Xuân Diệu là một trong những bài viết hay nhất của Trần Đăng Khoa. Họ đã đi trọn cái nghĩa nguyên thủ và phụ tá trong thời thịnh. Nhưng, tiếc thay, cả Xuân Diệu và Trần Đăng Khoa đều không biết rằng, thánh nhân đã nhắc nhở Trần Đăng Khoa bằng quẻ Hỗ mang tên Sơn Địa Bác.

Hào 5 quẻ Quán ứng với hào 6 quẻ Bác. Lời hào 6 quẻ Bác nói rằng: Còn một trái lớn trên cây, không hái xuống ăn. Có nghĩa là, những thành tựu giành được ở hào 5 quẻ Quán chẳng qua là hào Dương duy nhất còn lại ở quẻ Bác, phản ánh thời âm thịnh, dương suy, ví như trái lớn cuối cùng còn lại trên cây. Ngon đấy, nhưng là người quân tử thì chớ dại mà hái xuống ăn. Ăn là hết đấy. Hãy để cho trái chín rụng xuống, hạt nó lại nẩy mầm, và ta sẽ lại có cây có quả.

Nhưng chú bé Trần Đăng Khoa đã hái xuống và ăn hết, ăn ngon lành.

Bài thơ đầu tiên của Trần Đăng Khoa được in trên báo Văn Nghệ vào năm 1966.

"Khi đó y 8 tuổi, đang học ở học kỳ 2 lớp Một trường làng. Và năm 1968, tròn 10 tuổi, tập thơ Góc sân và khoảng trời của y ra đời. Lúc ấy, người làm thơ còn ít, trẻ con làm thơ lại càng ít, nên nghiễm nhiên, y thành của hiếm, thành đặc sản. Nhiều người tò mò, lặn lội hàng trăm cây số bom đạn, tìm đến nhà y, chỉ cốt để xem... xem y như xem... ma quỷ hiện hình. Có người còn bắt y xòe tay nom đường chỉ, vạch tóc ngó xoáy đầu, rồi lặng lẽ ra đi với gương mặt rất bí hiểm. (Chân dung tự họa. Sđd).

"Hàng ngàn chú bộ đội đã lần lượt giải chiếu ngủ trên nền đất nhà tôi, đã mắc võng nằm trong vườn cây nhà tôi. Các chú nghe thơ tôi, chép thơ tôi vào sổ tay và mang nó ra mặt trận". (Đôi lời của tác giả, Góc sân và khoảng trời, NXB Văn hóa - Hà Nội - 1998).

Đọc những câu ấy ta thấy, cho đến giờ, Trần Đăng Khoa vẫn còn thưởng thức cái dư vị ngon lành của trái cây duy nhất còn lại trên cành âm thịnh dương suy ấy. Nhưng biết làm sao được. Chính mọi người đã hái trái cây ấy xuống, và chú bé chỉ việc bóc ăn. Mãi đến bây giờ, chúng ta mới nhìn ra cái quẻ Bác ấy.

Bởi vì, sau cái thời đoạn ấy, là đến những chặng đường gian nan.

Từ 16 đến 24 tuổi củaTrần Đăng Khoa ứng với hào 6 quẻ Quán: Trở lại với bản thân để tự trị, làm tiêu biểu cho dân. Có nghĩa là, tự xét mình, trăn trở muốn vượt lên xứng đáng là tấm gương đối với mọi người. Hà Lạc giải đoán: Tâm trạng u uất, không phát triển được tài năng. Tiến lên một cách gian nan, chưa toại ý. Thánh nhân khuyên: Nên đi vào con đường thanh tu (tu tỉnh cho trong sáng). Từ 25 đến 30 tuổi tiếp theo là một chặng đường xấu nữa của chủ thể, ứng với hào 1 quẻ Quán. Hào này tả cách quan sát giống như đứa trẻ con nhìn lên phía trên, là trẻ con thì như thế không sao, nhưng đã trót làm người quân tử rồi, thì như vậy là hối tiếc. Hà Lạc giải đoán: Không có đức, cảm thấy không xứng đáng với nguyên thủ (ở đây là nhân dân và Đảng). Trở về với cái nhậy cảm thời trẻ nhỏ, muốn đi lại con đường đã qua, nhưng chỉ tỏ ra vụng về. Muốn hướng về đồng quê, nhưng muộn rồi, hối tiếc. Tính thì khéo, làm thì vụng, có lúc ngớ ngẩn, dễ bị lừa. Sáu năm tiếp theo nữa, từ 31 đến 36 tuổi, cũng thế: Cách quan sát giống như người con gái trinh, thích nhìn trộm, thường lặng lẽ, lén nhìn lên cái thời rực rỡ hào 5 của mình, đối với người gái có nết trinh, thì như thế còn thích hợp, nhưng đối với kẻ trượng phu mà như thế, thì đáng xấu hổ. Hà Lạc giải đoán: Nhìn lại một thời rực rỡ, thấy xấu hổ. Chí thấp, tài mỏng, không nhìn xa được. Trong lời giải cụ thể, Hà Lạc còn chỉ rõ thêm một cách đáng sợ: văn lý không thông hoạt (ý nói văn chương xuống hạng). Tối ở nhà, sáng ở chợ, lang thang quê người, muốn làm giàu. Được quý nhân là nữ giúp đỡ (nếu lấy vợ thì được vợ giàu). Mức sống kém, vẫn giữ nếp quê mùa. Buồn vui phức tạp. Có điều gì xấu hổ khi có ai nhắc đến chuyện vợ con. (Xin bạn đọc giở xem quẻ Phong Địa Quán, đọc lần lượt các hào 6, 1, 2).

Ba chặng đường, thấm thoắt hơn hai chục năm trời, ứng nghiệm đến đâu, chỉ có chủ thể mới biết được. Còn chúng ta, là người thiên hạ, yêu mến TĐK thì được biết như sau: Mười tám tuổi, anh đi bộ đội Hải quân. Đó là hành động đã được báo trước: Xem vẻ sáng của nước mà sinh ý chí muốn hiến thân cho nước. Chỉ có đều buồn cho người đọc là chặng đường này, anh ít có thơ hay. Nhìn vào cấu trúc Hà Lạc của anh thì thấy hoàn toàn không có tượng Nước, cảm xúc về Nước của anh không có ưu thế trong mệnh văn chương. Dấu vết chặng đường này được bạn đọc biết đến qua bài thơ nổi tiếng "Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn" (Giải nhất thi thơ báo Văn Nghệ 1981-1982). Tuy nhiên, nhìn bằng con mắt quẻ Quán, thì bài thơ này cũng giống như đứa trẻ nhỏ (hào 1) nhìn lên thời thơ rực rỡ của mình (hào 5), muốn bắt chước mà chỉ thấy vụng về.

Ôi hòn đảo Sinh Tồn, hòn đảo thân yêu
Dẫu chẳng có mưa, chúng tôi vẫn sinh tồn trên mặt đảo
Đảo vẫn sinh tồn trên đại dương đầy gió bão
Chúng tôi như hòn đá ngàn năm trong trái tim người
Như đá vững bền, như đá tốt tươi...


Có cái gì đó như trong một bài xã luận.

Và vẫn là cái nhìn từ Đất nhìn lên khoảng Trời. Anh không có duyên với những gì thuộc về Nước gắn với sông, biển (trừ con sông Kinh Thầy quê hương). Đề tài hải quân, biển, đối với anh vẫn là xa lạ. Những ngày tháng đi với biển có lẽ là những ngày anh đi chệch khỏi hành lang số phận. May mà anh đã an toàn trở về với Đất.

Anh đi vào con đường thanh tu, đúng với những gì Hà Lạc đã mách bảo. Hết học Đại học viết văn Nguyễn Du đến Học viện Goóc-ki, làm khách quý nước ngoài (điều này đã được ghi nhận trong hào 4 quẻ Quán). Nhưng đây cũng là những năm buồn vui phức tạp. Sự hối tiếc một thời thơ oanh liệt được Trần Đăng Khoa nhắc đến ở đây đó:

"Bây giờ thì y đã già và dứt khoát không phải là kẻ đắc đạo, vậy mà y vẫn phải còng lưng ì ạch vác cái cây thánh giá ở lứa tuổi trẻ con". (Chân dung và Đối thoại - Sđd). Và đặc biệt, trong bài thơ rất hay anh viết "Gửi bác Trần Nhuận Minh", nhà thơ, anh ruột mình. Tôi không biết Khoa có nghiên cứu Hà Lạc không, nhưng trong bài thơ này, anh cảm thấy rất rõ vận mệnh mình gắn với Đất, Trời và Gió (Cây cỏ), còn ông anh mình thì gắn với những kiếp người.

Bác âm thầm chìm nổi
Cùng kiếp người lang thang
Em lông nhông bầu bạn
Với kiến đen, chó vàng

Biết bao nhiêu giun dế
Đã khiêng vác em lên
Tên tuổi em xủng xoảng
Những trống ran mõ rền.
.........

Em quẩy bầu trăng gió
Bác gánh bao nỗi người


Và không phải là không có chút hối tiếc, khi chợt thấy mình hình như đã đi chệch khỏi hành lang, so với ông anh:

Bác đã bay dưới đất
Em đành đi trên trời.


(Tôi nhấn hai chữ "đi" và "bay". XC). Và thú nhận, và ao ước:

Giờ thì em đã chán
Những vinh quang hão huyền
Muốn làm làn mây trắng
Bay cho chiều bình yên

Trả niềm vui cho cỏ
Trả nỗi buồn cho cây
Lại áo tơi, nón lá
Ta về với luống cày

Đất trời thì chật hẹp
Làng quê thì mênh mông
Thung thăng em với bác
Ta cưỡi thơ ra đồng.


Chỉ có hai câu cuối này, nhà thơ cảm nhận hơi chủ quan và nhầm một chút: ông anh Trần Nhuận Minh đã yên phận với quẻ hậu thiên Phong Thủy Hoán (Gió mây tan) trên bờ biển Hạ Long, ông không thể "cưỡi thơ ra đồng" cùng chú em được nữa. Phải đành vậy thôi, đúng như Trần Đăng Khoa đã linh cảm thấy:

Sóng đôi mà đơn độc
đi mang mang trong đời.


Những ngày chúng tôi làm bài này, nhà thơ Trần Đăng Khoa đang đi nốt chặng đường cuối của quẻ Phong Địa Quán (1994-1999).

Toán Hà Lạc giải: Đây là chặng đường nghiêm túc xem xét bản thân để liệu đường lui tới. Ra sức tu dưỡng, rèn luyện nghề nghiệp, làm người hiền sáng. Nay tiến mai thoái, cô lập, gian nan. Cạnh tranh với đồng nghiệp. Cái được cái hỏng. (Xem hào 3 quẻ Quán).

Đoạn đời này được phản ánh đầy đủ và sâu sắc trong cuốn sách "Chân dung và Đối thoại" (1998).

Cái sự nghiêm túc xem xét bản thân đã thể hiện, không gì rõ hơn, qua bài văn ngắn "Chân dung tự họa" (sau đó là bài thơ "Gửi bác Trần Nhuận Minh" đã trích trên kia), không phải nói thêm gì nữa. Còn cái được, cái hỏng thì hàng loạt bài cảm nhận và phê bình cùng cuộc hội thảo do báo Văn Nghệ tổ chức và phản ánh (tháng 5-1998) cũng đã chỉ ra.

Cái được của Trần Đăng Khoa trong loạt bài "Chân dung và Đối thoại" này là những gì, nếu không phải là những đề tài bắt nguồn từ những ưu tiên, thế mạnh trời cho trong cảm xúc thiên nhiên của Trần Đăng Khoa: Đất, Gió (Cây). Những bài về Lê Lựu, Phù Thăng, Nguyễn Viết Chộp, những con người từ Đất dấy lên, là những "cái được" như thế. Bài về Xuân Diệu thì "cái được" lại bắt nguồn từ việc Trần Đăng Khoa đã thực hiện cái nghĩa giữa người phụ tá và nguyên thủ, nằm trong ưu thế về khí chất của hào 4 quẻ Quán.

Bạn đọc chú ý, hào 3 quẻ Quán còn đi đôi với hào 2 và hào 4 quẻ Bác nằm ẩn bên trong. Hào 2: Giường hỏng đến thân, họa tiểu nhân càng gần. Hào 4: Giường hỏng đến da người nằm. Mưu xấu, tai họa. Tự mình hại mình. Những tín hiệu ấy cũng thể hiện một cách đầy đủ trong "Chân dung và Đối thoại". Cuốn sách được bạn đọc vồ vập đón nhận, nhưng đối với Trần Đăng Khoa, chẳng qua đó là một dữ liệu về số mệnh để liệu đường lui tới mà thôi. Không phải không có những ý kiến phàn nàn xác đáng về những chỗ chưa được của cuốn sách.

Đỉnh cao trong cuộc đời anh lại sắp sửa bắt đầu với quẻ Địa Thiên Thái, quẻ đẹp tuyệt vời, đứng hàng thứ ba trong Kinh Dịch, sau quẻ Càn và quẻ Khôn. Thái là Thịnh, là Hanh thông, Yêu thích, Hòa thuận.

Hậu vận Trần Đăng Khoa bắt đầu từ năm 2000 (43 tuổi âm) là một thời thịnh vượng, rực rỡ, sự nghiệp phát triển, thành đạt lớn.

Có ưu tiên năng lượng của Trời Đất và có Địa nguyên khí. Tuy nhiên, do có quẻ Lôi Trạch Quy Muội kề bên mà biết rằng, đi đôi với sự hanh thông, cũng thường có những vấp váp, lỡ làng kiểu đại khái, qua quýt, sơ xuất không đáng có, kể cả những sai sót đáng yêu (xem ý nghĩa quẻ Quy Muội - cưới chồng cho em gái), trong suy nghĩ và hành động thường có nhiều hiện tượng hão huyền, thiếu thực tế (do tín hiệu mệnh Mộc gặp quẻ Càn).

Từ 43 đến 51 tuổi: Có tài, nhưng vị trí còn thấp. Liên kết với đồng nghiệp, bạn bè, tìm người đồng tâm, dìu dắt nhau gánh việc thiên hạ, nên việc dễ kết quả. Tiến hành những hoạt động lớn. Quang minh chính đại, lập lại sự nghiệp, hưởng phú quý.

Từ 52 đến 60 tuổi (ứng với Đại vận Nhâm Tuất, đại vận Từ Quán trong Toán Tứ Trụ): Tài năng phát triển mạnh. Bạn bè đông. Được lãnh đạo tin cậy. Sẽ mở vận hội lớn, giàu sang, được quý trọng, danh tiếng nổi như cồn, lập nghiệp lớn. Thánh nhân khuyên người được thời này: Một là về độ lượng, cần biết bao dung, có thể phải dung nạp những tệ hại cũ còn sót lại, đừng mong trừ tiệt nó ngay từ đầu. Hai là về khí phách, phải như người mạo hiểm tay không vượt sông. Ba là về kế hoạch cần tính trước những việc xa xôi sẽ xảy ra. Bốn là về đức, cần công tâm, chớ bè phái mà có hại cho nghĩa lớn. Tất cả những cái đó đều chú ý giữ cho vừa phải, chẳng hạn bao dung quá hay mạo hiểm quá đều nguy hại (theo Phan Bội Châu).

Bắt đầu từ 61 tuổi sẽ sang thời Suy, nhưng mà là suy trong thời Thái, nên vẫn thịnh vượng, nhưng xu thế sẽ là lui về nơi thôn xóm, trở về với vận hội thời trước, dìu dắt nhiều kẻ thấp kém cùng tiến lên, lấy lòng thành mà xuống với người hiền.

Phải luôn coi chừng vận Bĩ sẽ đến và tất cả sẽ đổ sụp thành đống đất, như khi mới sinh ra từ đất.

...........(5-1999)
.........Xuân Cang


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 11.12.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

(tiếp theo)

NGUYỄN TUÂN - ÁNH LỬA LỮ HÀNH TRÊN NÚI

Nhà văn Nguyễn Sinh Tuân sinh ngày 10-7-1910, tức năm Canh Tuất (Nhà văn Việt Nam hiện đại. Nhà xuất bản Hội Nhà văn - Hà Nội - 1997).

Tôi ngờ rằng, thời này, các bậc cha mẹ thường hay dùng ngày tháng âm lịch ghép với năm dương lịch. Bèn thử xem ngày 10-7 là ngày âm lịch, ghép với 12 giờ sinh khác nhau trong ngày xem sao. Thì thấy, vào giờ Ngọ ngày 10-7 năm Canh Tuất (14-8-1910) sừng sững hiện lên một cấu trúc Hà Lạc chỉ thuộc về Nguyễn Tuân, chứ không ai khác. Đó là tám chữ can chi: năm Canh Tuất, tháng Giáp Thân, ngày Tân Hợi, giờ Giáp Ngọ.

Cấu trúc Hà Lạc của ông gồm bốn quẻ Dịch: Tiên thiên là Thuần Cấn, hỗ là Lôi Thủy Giải; Hậu thiên là Hỏa Sơn Lữ, hỗ là Trạch Phong Đại Quá.

Trước hết, tôi xem thử mấy thời điểm dấu ấn trong đời là mấy năm ông bị thực dân Pháp bắt giam.

Năm Kỷ Tỵ (1929), ông gặp quẻ Thiên Trạch Lý. Lý là Lễ, là Trật tự, Pháp luật. Thánh nhân có lời răn người quẻ Lý: Dẫm lên đuôi cọp, mà cọp không cắn, là hanh thông. Hào 2 chủ mệnh bảo rằng: phải hết sức kín lặng, không được khinh xuất. Năm này, chàng trai Nguyễn Tuân đúng là dám "dẫm lên đuôi cọp". Ông tham gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên người Pháp nói xấu người Việt Nam, và ông bị đuổi học. (Theo Nguyễn Đình Thi - Người đi tìm cái đẹp, cái thật - Tuyển tập Nguyễn Tuân tập 3. Nhà xuất bản Văn học 1998. Từ đây, những chú thích không ghi chú riêng là trích trong TTNT nói trên, các tập 1, 2, 3).

Năm Canh Ngọ (1930), hào 3 quẻ Càn bảo rằng: Mạnh đấy, như rồng lên, nhưng thế chưa vững. Làm người thức thời, nhưng suốt ngày trí não căng thẳng như nơm nớp lo sợ ở thế nguy. Năm này, chàng trai lại bị thực dân Pháp bắt ở Băng Cốc đưa về giam ở Thanh Hóa (Diễn biến nhân quả hào 3 quẻ Tiểu Súc: Vì cương quá nên bị có kẻ ghìm lại).

Còn đây là năm Tân Tỵ (1941), ông được quẻ Tiết, chủ mệnh hào 3 bảo rằng: năm nay không giữ chừng mực, sống bê bối, gặp chuyện buồn, phải lo, than thở. Đó là năm ông lại bị bắt ở Hà Nội, giam ở Vụ Bản - Hà Nam (Theo Nguyễn Đình Thi. TTNT. Sđd).

Lại thử xem một năm khởi sắc trong đời ông.

Năm Mậu Tý (1948), ông được quẻ Sơn Thiên Đại Súc. Đại Súc là Chứa lớn. Chủ mệnh hào 3 bảo rằng: Như hai con ngựa tốt chạy đua nhau, cùng đi lên, cùng có cách thỏa đáng, có thừa học vấn, tài đức để làm việc lớn, đợi lên cao. Năm này, giữa cuộc kháng chiến gian nan chống Pháp, ông được bầu giữ chức vụ nặng nề: Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam. (Diễn biến nhân quả hào 3 quẻ Đại Hữu: Ông lớn được cấp trên tin dùng).

Mấy thời điểm ứng nghiệm ấy đủ cho tôi tin rằng, tôi đã tìm đúng ngày giờ sinh (giờ Ngọ, ngày 10-7 năm Canh Tuất) và Cấu trúc Hà Lạc của Nguyễn Tuân.

Nhưng cái niềm tin gây hứng thú đối với tôi lại chính là hai quẻ Dịch phản ánh sâu xa cuộc đời và chân dung văn học của ông: que Thuần Cấn và quẻ Hỏa Sơn Lữ.

1

Quẻ Thuần Cấn phản ánh cái nguyên thể 42 năm đầu đời của Nguyễn Tuân. Thuần Cấn là liên kết trùng hợp hai quẻ Cấn. Cấn có tượng thiên nhiên là Núi. Thuần Cấn có tượng là trùng điệp Núi. Theo Kinh Dịch, Núi là tượng của sự đứng yên, sự tĩnh lặng, sự cao sâu, sự trọng hậu, sự ngăn trở, sự ngừng. Trong những tính chất trên, thì tính trọng hậu là bao trùm hơn cả. Trọng hậu là dày dặn về sau, do cao sâu mà dày dặn, càng về sau càng dày dặn. Người trọng hậu là người ăn ở đầy đặn, có trước có sau, càng về sau càng đầy đặn. Nhưng nói tới Núi, trước hết phải nói tính ngăn trở, tính ngừng là đặc trưng hơn cả. Chữ "Cấn", Phan Bội Châu dịch là "ngừng", là "chỉ" (trong nhóm từ "đình chỉ" là "bắt buộc ngừng lại"). Ngô Tất Tố dịch là "đậu". Đậu là dừng cánh và đặt chân. Đã lên núi mà đậu, có nghĩa là ngừng ở nơi tĩnh lặng nhất, ý đó vận vào con người, có nghĩa là ngừng ở lưng. Bởi vì, trong cơ thể con người, cái lưng là nơi tĩnh nhất. "Ngừng ở lưng", câu nói chất phác, đơn giản mà triết lý rất sâu.

Phan Bội Châu phải để hàng trang, giải từng chữ, để cho rõ đạo Cấn. "Ngừng ở lưng" là dừng lại, đậu lại, để cho tinh thần lắng đọng lại ở nơi tĩnh nhất, nơi đây đối với người quân tử, bên trong thì quên cả bản thân không thấy thân mình (quên mình), bên ngoài thì đi trong sân (là nơi có người) mà không thấy người (bất hoạch kỳ thân, hành kỳ đình bất kiến kỳ nhân). Nghĩa là người quẻ Cấn, đi giữa cuộc đời, đi giữa mọi người đấy, mà “trong óc và trong con mắt” chỉ thấy có đạo rất lành (chí thiện) mà thôi. Nguyễn Tuân là một người như thế.

Giời đất giao cho ông cái mệnh Cấn là giao cho ông thiên sứ nhìn ngắm thiên nhiên và cuộc sống tìm ra sự rất lành, chí thiện và kể lại, tả lại. Để tìm ra cái chí thiện ấy, ông phải biết quên thân mình và coi như đi trong sân mà không thấy người. Theo cách nói ngày nay, là "hết mình vì cái hay cái đẹp". Hào chủ mệnh chi phối thời Cấn của Nguyễn Tuân là hào 1 âm quẻ Cấn, cho biết ông tuy có thiên mệnh cao cả như trên, nhưng vận mệnh còn đang ở bước sơ khởi của thời Cấn, phải biết ngừng ngay từ ngón chân, có nghĩa phải thận trọng ngay từ những bước đầu tiên, khiêm tốn giữ phận nhỏ, nếu biết giữ đường đi nước bước cho ngay thẳng, bền bỉ (chính bền) thì sẽ có kết quả hay, tránh được tai nguy. Nhìn một cách tổng quát suốt đời Nguyễn đã sống và viết như thế: dấn thân đấy mà thận trọng đấy, thận trọng tỉ mỉ trong việc tìm kiếm tư liệu, dẫn liệu, phóng túng trong cảm hứng mà thận trọng khi đặt bút viết, trong chọn chữ, đặt câu sao cho mẫu mực tài hoa một cách riêng. Một đời viết, viết rất hay mà không nhiều lắm, tính theo bộ Tuyển tập đầy đủ nhất xuất bản gần đây, khoảng 1665 trang. Và như trên đã điểm một vài sự kiện: trong thời trẻ, chỉ cấn sơ xuất, “dẫm lên đuôi cọp”, hoặc “thiếu sự tiết chế”, là gặp tai biến ngay, trong vòng 11 năm hai lần bị thực dân bắt giam.

Để thực hiện thiên mệnh hết mình vì cái hay cái đẹp, Nguyễn đã chọn đúng một thể loại văn chương đắc địa: thể tùy bút, bút ký. Và ông đã tung hoành suốt nửa thế kỷ với thể loại này, đặc biệt là thể tùy bút.

Như cái tên của nó, tùy bút là thể văn xuôi cho phép người viết tự do phóng bút, đưa bạn đọc đi theo những ý tưởng nhiều khi nẩy sinh theo tùy hứng của tác giả. Nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh cắt nghĩa: “Có thể hiểu một cách đại khái thế này: người viết tùy bút thường mượn cớ thuật lại một sự kiện, một mẩu chuyện nào đó mà mình có trải qua để nhân đấy, nêu lên những vấn đề này khác mà bàn bạc, mà nghị luận, triết luận, ném ra những suy tưởng của mình một cách thoải mái, phóng túng” (TTNT. Sđd. Lời giới thiệu, tr. 66). Dĩ nhiên, viết ký thì cái tôi phải hiện lên. Phải bắt đầu từ cái tôi. Vậy mà Kinh Dịch lại bảo người quẻ Cấn phải biết quên cái tôi (quên thân mình), phải “hành kỳ đình, bất kiến kỳ nhân”, đi trong sân mà không thấy người. Điều này cũng dễ dàng nhận thấy trong văn chương Nguyễn Tuân. Cái Tôi trong các bài viết của ông chỉ là phương tiện. Ông bắt đầu từ cái tôi để chiếu một góc nhìn đầy mỹ cảm vào sự vật, cái đẹp xưa còn vang bóng, cái đẹp nay ẩn tàng trong hiện thực đời sống, cái đẹp độc đáo trong văn chương của những tác giả kiệt xuất: Tú Xương, Hồ Xuân Hương, Tônstôi, Tsêkhốp, Đốtxtôiépxki... Cái tôi của ông nhiều khi lẫn vào với nhân vật trong các truyện ngắn, hoặc nói cách khác, trong nhiều nhân vật truyện thấy thấp thoáng cái tôi của Nguyễn.

"Chùa Đàn" là một ví dụ. Toàn bộ phần Hai của chuyện mang tên "Tâm sự của Nước Độc" là do một người tù cách mệnh tên là Lịnh ghi chép, nhưng đọc lên thì ai cũng thấy đó là văn Nguyễn Tuân, chứ không phải ai khác. Thậm chí, trong tác phẩm Nguyễn, tự truyện hẳn hoi, ông đề ở đầu truyện: “Kính tặng tôi”. Đây cũng là một đặc điểm của người quẻ Cấn. Nguyễn Hiến Lê giảng: Không phân biệt mình với người, coi nhân (người), ngã (mình) chỉ là nhất thể, đó là nghĩa sâu sắc của quẻ Cấn. Như vậy, viết tùy bút, bút ký thì phải bắt đầu từ cái tôi, nhưng ở Nguyễn Tuân, cái tôi ấy ẩn chìm vào trong công việc cốt yếu đi tìm cái chí thiện. Nguyễn Đình Thi quả là có linh cảm trong bài Thay lời bạt ở Tuyển tập Nguyễn Tuân (Sđd tập 3, tr. 511) gọi ông là "Người đi tìm cái đẹp, cái thật". Cái đẹp và cái thật đối với Nguyễn Tuân phải chăng chính là cái chí thiện? Và phải chăng, nó đã được thể hiện một cách tối ưu trong tác phẩm xuất chúng "Vang bóng một thời", tác phẩm vừa ra mắt đã có sức chinh phục ngay tức khắc bạn đọc?

Dưới ánh sáng Hà Lạc ngày nay, chúng ta thấy hơn thế, đó là tác phẩm bắt nguồn từ thiên mệnh của Nguyễn Tuân. Cái đẹp mà ông tìm thấy và phô diễn ở đây là cái thú vui tao nhã của một lớp kẻ sĩ thượng lưu vốn được coi như lớp người tiêu biểu một thời. Đó là cái thú “đánh thơ”, “thả thơ”, uống rượu nhắm với cuội bọc kẹo mạch nha ướp hương lan và ngâm thơ (Hương cuội). Đó là cái sành sỏi uống trà bằng “những chiếc ấm đất” nung, cái thú nhắp “chén trà sương”. Đó là cái khao khát cháy bỏng muốn có một hàng chữ đẹp của một văn nhân bị tội chết (Chữ người tử tù). Đó là lòng biết ơn chí thành đối với tổ nghiệp của hai chị em học trò nghèo cất công rước thày địa lý về đặt lại Ngôi mả cũ. Và đó là câu chuyện huyền thoại về thiên nhiên bí ẩn và thiêng liêng Trên đỉnh non Tản. Tất cả những cái mà Nguyễn Đình Thi gọi là cái đẹp, cái thật, chính là cái chí thiện, cái cực tốt lành, nó không chỉ là lối sống riêng của lớp kẻ sĩ thượng lưu, nó là niềm ao ước của mọi người bình dân Việt Nam hướng về một lối sống hòa bình, thân thiện, có văn hóa, yêu cái đẹp, cái tinh tế, yêu thiên nhiên thuần khiết, hướng về tổ tiên...

Chính vì thế, trong đông đảo bạn đọc mấy ai đã được biết những thú vui tao nhã ấy, mà người ta vẫn thích đọc "Vang bóng một thời", đến nay vẫn thích. Trong "Vang bóng một thời" có điểm một Bữa rượu máu (sau đổi, gọi là Chém treo ngành) kể chuyện một tên đao phủ tập phạt cây chuối để chém đầu người sao cho có “nghề”. Chuyện kết thúc bằng cảnh 12 cái thủ cấp những người nghĩa quân Bãi Sậy, “còn dính vào cổ người chết”, “dưới trận gió xoắn giật, hút cát bụi lên”, “xoay vòng quanh đám tử thi và lật rơi chiếc mũ trắng” của tên quan Tây công sứ, “lăn lộn mấy vòng”... Chính bữa rượu máu cực kỳ độc ác đen tối ấy tạo nên cái phản cảm để tỏa sáng vẻ đẹp cực tốt lành (chí thiện) của những thiên truyện còn lại, làm cho bức tranh "Vang bóng một thời" càng thêm long lanh vẻ chí thiện thuần khiết, bức tranh của một nhà văn Thuần Cấn.

Người ta đọc "Vang bóng một thời" còn để thưởng thức cái đẹp của văn chương tiếng Việt, sau này là để thấm thía “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”.

Nguyễn Tuân viết "Vang bóng một thời" trên một chặng đường đẹp thứ hai của thời Thuần Cấn, đó là đại vận hào 5 quẻ Thuần Cấn từ năm 1937 đến năm 1942, khi nhà văn 28 đến 33 tuổi, cái tuổi trưởng thành, tuổi chín nục nạc của một đời người. Hào 5 bảo rằng, người quẻ Cấn đến chặng đường này biết ngừng (đậu) ở vấn đề ngôn ngữ, là người có đức, có lời nói hay, lập ngôn, nói năng “có thứ tự”, đâu ra đấy; lớn thì làm nhà ngoại giao, nhỏ thì làm nhà giáo, bình thường thì cũng ngâm nga thơ phú, luận bàn kim cổ, được bạn bè hội tụ.... Cứ như là giời đất đã giao cho ông sứ mạng hết mình vì cái chí thiện, thì cũng giao luôn cho ông cái chặng đường tỏa sáng về ngôn ngữ, lập ngôn. Chính cái chặng đường lập ngôn này để lại dấu ấn rất sâu sắc trong đời sống văn học của Nguyễn Tuân.

Trong "Vang bóng một thời", truyện nào cũng ý vị khác nhau, nhưng nếu phải bầu chọn một truyện hay nhất, thì Cấu trúc Hà Lạc của Nguyễn Tuân mách bảo tôi: đó là "Trên đỉnh non Tản".

Biểu tượng thiên nhiên đi vào cuộc đời và văn chương Nguyễn Tuân là Núi trùng điệp Núi, tượng của quẻ Thuần Cấn. Cái khí chất Núi, tính chất Núi cao sâu, trọng hậu, trùng điệp ngăn trở, chứa chất đầy bí ẩn, đi vào Nguyễn từ thuở đưa nôi, không biết đã tích tụ trong tuổi trẻ Nguyễn như thế nào, bỗng vụt sáng lên thành "Trên đỉnh non Tản". Đó là một bài ca hòa quyện giữa óc tưởng tượng và tài hoa ngôn ngữ với tình yêu núi non rừng suối, vốn có nguồn gốc từ cấu trúc mệnh, hình như chính Nguyễn cũng chưa từng cắt nghĩa. Đó là một huyền thoại mới trên nền của huyền thoại cổ tích Sơn Tinh - Thủy Tinh. Một huyền thoại mang dấu ấn thế kỷ Hai mươi. Bởi vì bên cạnh cái không khí huyền ảo của các thần tiên, còn có con người hiện đại, cánh thợ mộc tài hoa làng Chàng Thôn, những nhân vật trần tục, dân gian, được thần non Tản bí mật gọi lên chữa ngôi đền Thượng, sau những năm bị Thủy Tinh dâng nước lên làm hư hỏng.

...”Thế rồi người con gái đi khuất. Thế rồi, được lời như mở tấm lòng tục, bon thợ mộc khuân rất nhiều đá cuội, cứ từng đống có ngọn một, mang về trước lều làm gạo nấu cơm và chế rượu uống. Họ đập đá bừa bộn, không cần để riêng hòn xanh hòn vàng. Mà có cái lạ, là không cần phải nấu nướng gì, những nhân đá xanh vàng kia, cứ đập rời ra, bốc bỏ mồm là đủ hương vị một hạt cơm, một hạt xôi rồi. Nhân đá trắng, thả vào những gióng tre đằng ngà khổng lồ, đựng nước suối, đem uống với nhau, thấy ngà ngà mà say, lâng lâng mà khuây vợi lòng tha hương”.

... “Hiệp thợ mộc vẫn tuần tự tiến hành công việc. Ngày tháng trên này không biết lấy gì mà đo tính, bởi vì chỗ sơn thượng không có đêm không có ngày. Đây là nơi của ánh sáng vĩnh viễn, nhờ nhờ như màu ngọc liệu, như chất nước quế trắng chính sơn pha loãng. Những buổi trời tái hẳn lại vì khí núi âm u, thì một vài hòn ngói trên lòng trần đền hình mai luyện, lại sáng rực hẳn lên như một nguồn lửa...”

...“Vào những phút này, mấy thân cây cột gỗ chò vẩy mới tỏ rõ cái đẹp cái quý của một thứ gỗ đặc biệt. Dưới ánh lửa ngói sáng choang, cột gỗ chò nhấp nhánh lộng lẫy chớp chớp lên như vẩy rồng vàng cốm chạm nổi.”

Trên bức tranh "Vang bóng một thời" sừng sững một mảng xanh xanh non Tản óng ánh một tình yêu thiên nhiên chí thiện. Đó chính là tín hiệu đầu tiên của một nhà văn Thuần Cấn, sau này ta sẽ thấy cái tượng núi non chi phối văn chương ông đến như thế nào. Chẳng bao lâu sau, lối viết "Trên đỉnh non Tản" đạt đến phong độ đỉnh cao trong "Cô Dó" và "Chùa Đàn".

“Làng Hồ Khẩu có nhà họ Chu làm giấy nổi tiếng đã đến mấy mươi đời liền”. Truyện "Cô Dó" bắt đầu như thế. Giấy nhà họ Chu nhắm mắt lại mà sờ cũng không lẫn. “Nó nhẵn mặt mà không cứng mình, mà chất lại dai, và lắm tờ khổ rộng mình dầy thế mà bắc đồng cân lên thì nặng đến chỉ như cái lông hồng. Mặt giấy xốp, nghiêng giấy ra sáng mà nhìn chất cát dó thì nó như làn da má trinh nữ phẳng đượm chất tuyết của lớp lông măng. Vuốt vào mặt giấy, người ta có cái cảm tưởng được sống là một điều dễ chịu; mùa nực, rờ vào giấy thấy mát cả lòng tay và về tiết đông ấp tay vào giấy nhà Chu, thấy nó ấm ấm như có sinh khí. Đưa lên mũi, tờ giấy đượm hơi thơm của một thứ mộc thảo còn tươi sống”. Thứ giấy quý ấy từ vua quan trong triều đình, sĩ tử bốn phương đến người bình dân, không ai không biết. Nhưng không ai biết rằng, nó lại là kết quả của một mối tình siêu đẳng giữa một chàng trai ông tổ nhà họ Chu với cô Dó, thần nữ của cây dó cổ thụ trên nương dó rừng Hoành Bồ. Chàng trai nghe đồn có cô gái ẩn trong cây dó thần, hát hay lắm, đã lên rừng khổ công rình nấp và bắt gặp nữ thần. Nàng Dó đã thương người trai chung tình theo chàng về xuôi, biến vào phiến đá xanh nghè dó vẫn để ngoài sân, đêm đêm hiện lên tình tự và giúp chàng nghè dó. Từ đấy, ái tình và cần lao huyền diệu đã giúp nhà họ Chu làm ra thứ giấy khiến người đời kính nể, đời này sang đời khác.

Với “Trên đỉnh non Tản” và “Cô Dó”, tôi nghĩ đủ để Nguyễn Tuân (cùng với Nguyên Hồng) xứng đáng được các nhà văn công nhân thời nay - trong đó có người viết bài này - tôn vinh làm ông tổ của mảng văn học đề tài công nhân hiện đại. "Chùa Đàn" cũng là một chuyện xảy ra trên “đường ngược”. Nhưng phong cảnh miền núi ở đây chỉ để làm đường viền cho một câu chuyện huyền ảo, bi tráng về sự siêu việt của nghệ thuật ca trù. Cái huyền ảo đã chứa chất trong “Trên đỉnh non Tản” và “Cô Dó”, nay chỉ còn việc tiếp nối. Còn cái bi tráng thì bắt nguồn từ những đam mê nghệ thuật “ả đào” từ thời trẻ, và cái cảm nhận nguy cơ mất mát sẽ đến.

Điều lý thú là "Chùa Đàn" được viết vào năm Bính Tuất (1946), năm Sơn Lôi Di (hào 1) của Nguyễn Tuân, trên chặng đường đẹp nhất của Thời Cấn. Quẻ Di nói về đạo Nuôi. Nuôi mình, nuôi người, nguyên thủ dựa vào hiền tài nuôi dân, nuôi vật chất, nuôi linh hồn, đó là tinh thần quẻ Di, đạo Nuôi trong Kinh Dịch. Ngay sau năm Cách mạng tháng Tám Nguyễn vừa thấy mình cần phải “lột xác” vừa có nhu cầu nóng bỏng trở lại một cách chính đáng với cái đẹp mà ông cho là chưa hết mình với nó nếu không viết một cái gì đó. Hào 1 bảo rằng: Bỏ mất con rùa thiêng của ngươi, cứ ngó ta xệ cả mép xuống, xấu. Theo truyền thuyết, “con rùa thiêng” đây là con Linh Quy, một giống chỉ nuốt linh khí để sống, biểu tượng của cái đẹp về linh hồn. Vậy là, như có sự mách bảo của số phận, Nguyễn quyết phải làm một cái gì đó cho nghệ thuật ca trù, “con rùa thiêng” trong đời sống văn hóa dân tộc, một là vào lúc này, hai là không bao giờ. Trong thâm tâm, Nguyễn biết rằng, viết "Chùa Đàn" lúc này là không còn hợp thời nữa, cả dân tộc đang sôi sục chuẩn bị đi vào cuộc đối đầu bảo vệ nền độc lập tươi rói vừa dành được. Viết ra không thể in. Nhưng mặt khác, cùng với tiếng gọi của lương tâm, của đời sống tâm hồn, là sự khinh miệt đối với kẻ sĩ, nếu anh ta từ bỏ cái đẹp, không biết bảo vệ nó, có nghĩa là bỏ cả tư cách của mình. Thánh nhân làm Kinh Dịch đã dùng câu nói khinh bỉ đối với kẻ hám cái lợi vật chất trước mắt: Bỏ mất con rùa thiêng của ngươi, cứ ngó ta xệ cả mép xuống, xấu !

Dưới ánh sáng Hà Lạc, tôi cho rằng, "Chùa Đàn" đã ra đời như thế. Và ông đã viết được những trang tuyệt tác, ở đỉnh cao thời Cấn và vào thời điểm hào 1 dương quẻ Di. Phần hai thiên truyện mang tên "Tâm sự của Nước Độc", cái tên quả thực hơi khó hiểu, nhưng nó chính là xuất phát từ tinh thần quẻ Di, “nước độc, uống chết người” hay nước lành nuôi người đây, bạn hãy nghe tâm sự.

Tên là "Nước Độc", nhưng bạn đọc một mạch sẽ được thưởng thức một áng văn rất đẹp về sự trung hậu của con người, về sự hấp dẫn, lôi cuốn “chết người” của nghệ thuật ca trù, cùng với thứ văn chương huyền ảo mà hiện thực, mang đầy đủ dấu ấn Nguyễn Tuân trước khi đi vào cuộc kháng chiến 9 năm. Hai chữ "Nước độc" (tên riêng) cũng như cái thủ pháp nghệ thuật “bữa rượu máu”, cốt tạo ra một phản cảm để tôn cái rất lành, cái chí thiện bên trong.

"Chưa bao giờ, cô Tơ thấy rõ cái đau khổ ngậm ngùi của tiếng đàn đáy buổi này. Tiếng đàn hậm hực, chừng như không thoát hết được vào không gian. Nó nghẹn ngào, liễm kết cái u uất vào tận bên trong lòng người thẩm âm. Nó là một cái tâm sự không tiết ra được. Nó là một nỗi ủ kín bực dọc bưng bít. Nó giống như cái trạng huống than thở của một cảnh ngộ vô tri âm. Nó là cái tấm tức sinh lý của một sự giao hoan lưng chừng. Nó là niềm vang dội quằn quại của những tiếng chung tình. Nó là cái dư ba của bể chiều đứt chân sóng. Nó là cơn gió chẳng lọt kẽ mành thưa. Nó là sự tái phát chứng tật phong thấp vào cữ cuối thu dầm dề mưa ẩm và nhức nhối xương tủy. Nó là cái lả lay nhào lìa của lá bỏ cành. Nó là cái lê thê của nấm vô danh hưu hưu ngọn vàng so le. Nó là cái oan uổng nghìn đời của cuộc sống thanh âm. Nó là sự khốn nạn khốn đốn của chỉ tơ con phím. Nó là một chuyện vướng vít nửa vời.

Tiếng đôi lá con cỗ phách Cô Tơ dồn như tiếng chim kêu thương trên dậm cát nổi bão lốc. Nhiều tiếng tay ba ngừng gục xuống bàn phách, nghe tàn rợn như tiếng con cắt lao mạnh xuống thềm đá sau một phát tên. Tay phách không một tiếng nào là nhụt. Mỗi tiếng phách sắc như một nét dao thuận chiều. Và gõ đến như thế thì thật là đem cái vinh quang đến cho tre cho trúc và tạo cho thảo mộc một tấm linh hồn". (TTNT. Sđd. T1. Tr 398)

Tinh thần quẻ Di (đạo Nuôi, trong đó có Nuôi về tinh thần, tâm hồn) và hào 1 quẻ Di (hãy cứu lấy con rùa thiêng của ngươi, bỏ nó là bỏ tư cách nghệ sĩ của ngươi đấy) đã thấm vào từng chữ trong "Chùa Đàn" bất tử. Câu cuối cùng trong "Chùa Đàn" là: Cho tới ngày nay, chưa có cuộc cách mệnh nào của Con Người mà bỏ được tiếng hát, cô Tơ ạ. Đó là tâm sự thiết tha của tác giả và đó là chân lý. Ngày nay mọi người đều biết, trong cuộc cách mạng của chúng ta, tiếng hát đã từng át tiếng bom, nhưng riêng với nghệ thuật ca trù, cũng phải hơn 40 năm sau "Chùa Đàn", trong cuộc đổi mới đất nước, những Cô Tơ mới tìm lại được tiếng tơ tiếng phách của mình. Và "Chùa Đàn" – vượt qua mọi thử thách - trở lại nguyên văn trong Tuyển tập Nguyễn Tuân năm 1998.

Tượng thiên nhiên Núi trùng điệp Núi trong mệnh Nguyễn Tuân còn đi theo ông đến hết đời.

Ngay trong kháng chiến chống Pháp đó là hai tập "Tình chiến dịch" và "Tùy bút kháng chiến" và hòa bình thấm đẫm một mối tình mây núi chiến khu.

“Chắc giữa Hà Nội đầu năm 1950 này, vào những buổi sớm chiều đau thương, cũng có những tâm hồn xám hối, đi tàu điện lên Hồ Tây thèm thuồng nhìn lên sơn hệ Tam Đảo mờ xa mà tự nói rằng sau cái chòm mây trắng đỉnh Tam Đảo tít xa ấy là thế giới của lẽ phải, của tươi sáng và hy vọng”.

“Những người sống ở Việt Bắc, đi trong mây ấy, gây cơ sở trong khu vực mây ấy, đắm đuối với việc làm tranh thủ thời gian, bốn mùa ngụp trong mây cụ thể, quen quá đến nỗi quên cả mây”.

“Tôi ngồi bên cửa sổ có bóng mây, nghĩ đến những đơn vị đi Tây Bắc đang luồn trong mây đèo phía bên ấy, và ghi lại ít sắc thái chiến trường thu đông vừa qua dưới bầu mây biên giới đông bắc”.

Những năm sau này là "Tình rừng"; toàn tập "Sông Đà" với những Người lái đò sông Đà, Đường lên Tây Bắc, Giăng liềm, Tây Trang, Phố núi, Gió Than Uyên; tập "Ký Nguyễn Tuân" với Suối quặng, Nhật ký lên Mèo, Mỏm Lũng Cú tột bắc...

Nguyễn Tuân chọn Lũng Cú để mà nhớ Cà Mau.

“Lũng Cú tột bắc và Cà Mau cực nam Nam Bộ trong đó là hai cái mũi nhọn cùng nằm trên một đường kinh tuyến 105 độ, mũi Lũng Cú đây ngả ngả sang mặt Đông, và mũi Cà Mau trong ấy chênh chếch sang phía Tây. Nó cũng là một chữ ét-xì hoa, nhưng gập góc hơn so với chữ ét-xì viền theo con đường biển từ bãi cát Móng Cái đến bờ biển Hà Tiên”.

“Ngồi ở mỏm Lũng Cú này, ngồi ở nhà cụ Mèo Dềnh đây, tưởng như mình là người thợ ngõa nào khom mình trên một nóc thượng lương để nghe tổ quốc đang như một bác thợ cả không ngớt lời truyền cho mình những bài học thấm thía về xây dựng cơ bản và giữ cửa giữ nhà. Lại thấy quý mến thêm Hà Giang, cái tỉnh núi đã được đất nước ông bà giao cho cái trọng trách đặt một cái nón lá lên đầu người khổng lồ Tổ quốc. Và nếu mũi Cà Mau trong kia là cái ngón chân cái người khổng lồ chưa khô bùn vạn dặm, thì mũi Lũng Cú đây đích thị là cái chóp nón một cái nón bài thơ muôn đời đó”.

Tôi nghĩ, dưới ánh sáng Hà Lạc, có lẽ sau này ta phải tập hợp một tuyển Nguyễn Tuân toàn các tác phẩm về Núi non, bắt đầu từ "Trên đỉnh non Tản". Ta sẽ được chiêm ngưỡng một cách kỳ thú một cái mệnh đời, mệnh văn Núi trùng điệp Núi và phát hiện những vẻ đẹp khác nhau của ông khi tả núi tả rừng, tả sông núi sông rừng. Và khi ta đọc lại "Tình rừng" chẳng hạn, ta sẽ nhớ ngay đến trận hồng thủy miền Trung cuối năm 99, và sẽ thương ông vô cùng đã phải từng phen lên bờ xuống ruộng với cái tình rừng đó. Trong "Tình rừng", ông đã báo động từ lâu cái nạn hồng thủy sẽ xảy ra sau này:

"Tôi còn biết rằng, rừng và cây rừng điều tiết được và cầm chịch cho mực nước sông Hồng, sông Đà. Núi hói đến đâu và rừng trọc đến đâu thì dưới đồng bằng không có rừng, đê điều càng dâng cao và mọc dài vòng quai, thành ra đã đê ngoài lại còn đê trong nữa. Gốc cây già, gốc cây trẻ rừng đại ngàn, nay thấy đúng là những công trình thủy lợi giời xây sẵn cho mình từ trên thượng nguồn. Mỗi năm lũ to kéo về, sông Hồng như một dòng nước mắt đỏ lừ của những cánh rừng của những cây ngàn bị giết oan trong những trận hỏa táng cũ mới không cần thiết. Dại dột có tính chất dốt nát gây ra đốt sách, đốt kho thuốc, và dâng mãi hồng thủy lên sát mặt đê. Chao ôi, căm thù cao độ Mỹ phá hoại miền Bắc kiến thiết xã hội chủ nghĩa và quên đi sao được tội ác Mỹ ném bom đê đập. Nhưng những người chủ nhân ông tập thể chân chính của đất nước ngày nay càng thêm canh cánh những nỗi niềm giữ nước giữ rừng".

Nhân nói đến "Tình rừng", tôi thấy cần nói thêm một chút về hào 1 quẻ Thuần Cấn, cái chủ mệnh đã chi phối suốt đời Nguyễn, là ngừng ở ngón chân. Nghĩa là, người này hễ cứ đi một bước là bị ngăn trở, đi một bước là phải biết ngừng lại, kẻo vấp.

Nguyễn Tuân là một người như thế, suốt đời ông bị vấp. Thời trẻ từng bị thực dân bắt hai lần, khi cuộc đời văn chương đã thành đạt, ông vẫn bị vấp. Ta hãy nghe Kim Lân nói về cái sướng cái khổ, cái gian truân vất vả trong đời văn của Nguyễn:

"Anh viết "Phở", phở bị đánh. Anh viết "Giò lụa", giò lại bị đánh. Ừ thì trong cái lúc đất nước còn nhiều khó khăn gian khổ, nói làm chi đến những món ăn xa xỉ ấy, đánh nó còn đi một nhẽ. Viết đến "Rau muống", cũng lại bị đánh nữa, thật không còn làm sao mà hiểu được. Thế là đánh lấy được. Đánh bằng thanh kiếm sẵn có với người viết, chứ không căn cứ bao nhiêu vào bài viết. Độ ấy, mỗi bài anh Tuân in ra, đều có những tiếng xì xào, sang tai nhau, tựa hồ như trong những bài ấy, có cái gì đấy nguy hại lắm, cần phải lưu tâm, cần phải chú ý, đề phòng. (Nhà văn Nguyễn Tuân. Tủ sách thế giới văn học. Nhà xuất bản Hội Nhà văn & Nhà xuất bản Hà Nội 1991, tr. 73).

Dù sao, đối với Nguyễn đó chỉ là những cái vấp, sự "ngừng ở ngón chân". Nhưng chỉ ngừng ở ngón chân thôi, nên cũng là vấp váp chút đỉnh thôi, người Thuần Cấn biết phận mình luôn tỉnh táo, đi một bước ngừng một bước thì vẫn tiến lên trên đường đời, cho đến những đỉnh cao của núi.

2

Quẻ Hậu thiên (hậu vận) chi phối hành lang vận mệnh Nguyễn Tuân bắt đầu từ năm 43 tuổi (lịch dương là năm 1952) là quẻ Hỏa Sơn Lữ. Hỏa là Lửa. Sơn là Núi. Tượng quẻ là trên Núi có Lửa. Chỗ ở của Lửa là trên mặt trời, hoặc trong lò. Lửa trên núi chẳng qua là hiện tượng nhất thời, như lửa của người du canh du cư. Nên người xưa chọn tượng Lửa trên Núi để nói về người lữ hành gửi thân nơi lữ quán, làm khách trọ quanh năm. Lữ là lữ hành, lữ quán. Người được quẻ Lữ là người có số phận làm khách giang hồ.

Cái thực tế nửa đời làm lữ khách của Nguyễn đã diễn ra đúng như thế.

Ham muốn đi và viết lúc nào cũng cháy bỏng. Không đi không yên. Trương Tửu gọi là cái bệnh giang hồ. Phạm Tường Hạnh gọi là máu giang hồ. Ngày nay, Hà Lạc cho biết thêm, Nguyễn có mệnh giang hồ. Tô Hoài từng nói rằng, khi về thế giới bên kia, Nguyễn xứng đáng được nằm trong chiếc quan tài bọc bằng da va ly. Như thơ xưa nói về các chiến binh “da ngựa bọc thây”.

Mệnh giang hồ của Nguyễn mãi đến năm 43 tuổi mới bắt đầu, nhưng âm hưởng của nó đã có từ "Những chuyến đi" in lần đầu năm ông 29 tuổi (1938). Sau đó là tùy bút với "Chiếc lư đồng mắt cua", "Chiếc va ly mới" (1941).

"Đã có nhiều bạn tìm đến đòi xem chiếc va ly mới. Xem chưa đủ, họ còn đòi ngửi nữa và kêu rằng, cái mùi da bò thuộc ấy vẫn còn ngái lắm, hăng lắm, cần có những trận gió đường trường thổi vào cho nhiều, thì mới hả hết cái mùi tanh nồng và mới dùng được. Đã đành. Họ chê mùi da, họ chê cả màu da. Những là sáng quá, tươi quá, sạch quá, thiếu mất cái đẹp của phong trần. Các anh ngắm cái va ly mới nhẵn nhụi sạch bóng, chưa được thụ phép giang hồ, chưa được gió mưa của khởi hành tắm cho ít bụi, các anh nghĩ đến gì?" (Chiếc va ly mới).

Dọc hành trình văn chương của mình, Nguyễn ghi lại rất nhiều đam mê ám ảnh về cái sự “đi” như thế.

"Buổi sớm khởi hành của cánh buồm căng thẳng, bao giờ cũng là vui mắt. Tôi muốn tôi mãi mãi được là một cánh buồm căng thẳng như thế, mỗi lúc có gió sớm nổi dọn đường cho một mặt trời mới nhô lên sau ngấn nước bể đông" (Cửa Đại).

"Đi, là một môn thuốc chữa bệnh hoài nghi.... Cuốn sách nói nhiều nhất vẫn là những mẩu chuyện nhỏ của người bạn ta bắt gặp trên con đường, thốt lên giữa hai ngụm nước bốc khói thuốc lào... Cuộc sống phân tán luôn luôn đổi chỗ lại còn tước khỏi đời chúng ta những cái tủ đứng bằng gỗ và theo cái tủ, chúng ta cũng rũ luôn đi bao nhiêu là thứ tình cảm bít khóa ẩm mốc tủn mủn... Đi bao giờ cũng vui. Chỉ những lúc ngừng mới là hết thú. Những buổi đằng đẵng ngóng anh giao thông khi mình phải bắt liên lạc ngang, ngồi nhìn mưa rừng và nhổ từng cánh cỏ may ống quần, biết để vào đâu cho hết nỗi bồn chồn!" (Đường vui).

Câu chuyện nghề của ông với các nhà văn bao giờ cũng bắt đầu bằng chữ Đi: Đi và viết I; Đi và viết II; Đi để rồi viết; Đi, Đọc và rồi Viết.

“Kh. Ph. và tôi có những buổi 17 giờ chiều Hà Nội hai đứa cùng bất giác nhớ tới một con suối Tây Bắc, một cái bến đò Tây Bắc, một đám bông lau trong mây Tây Bắc. Họ trò chuyện với nhau: ...Hình như cán bộ nhiều huyện cao huyện thấp trên ấy đều đã gắn tên bọn mình vào đèo dốc, ghềnh bến của Tây Bắc....Lâu lâu mà lên chưa kịp, thì lại có khối người nhắc, lắm hôm đang nuốt dở miếng cơm là cứ sặc khốn sặc khổ lên.”. (Đi để rồi viết).

Cái đam mê du hành khiến nhà văn có hàng loạt liên tưởng phong phú về đường xá trong hàng loạt bài tùy bút về đường: Đường vui, Một bài thơ đường, Đường lên Tây bắc, Đi mở đường, Bài ca trên mặt phần đường.

Cái mệnh lữ hành đã trang bị cho nhà văn một cách nhìn của một người du khách. Nguyễn Tuân đi đến đâu cũng ý thức được rằng mình đang đứng ở giao điểm nào của kinh tuyến vĩ tuyến trên địa cầu, cùng những cảnh và người đem lại sự kỳ thú cho những tâm hồn du hành. Đi lên Lũng Cú, ông ghi nhận rằng nơi đây “cao hơn mặt biển khoảng hai ngàn thước và nằm ở vĩ tuyến 23 độ lẻ 22 phút”. Năm 1980, nhân dự trại sáng tác của Hội Nhà văn tổ chức tại Huế, tôi có hân hạnh được hầu ông trong một chuyến đi chơi trên sông Hương. Tôi được ngắm nghía chiếc ba-toong ông vẫn mang theo mình. Trên thân chiếc gậy chống khắc chi chít những chữ số kinh tuyến vĩ tuyến. Ông bảo: "Đây là Lũng Cú, đây là một cái dốc Phăng-xi-păng, đây là Cô Tô...".

Không biết bây giờ gia đình hoặc cơ quan Hội có còn giữ được bảo vật ấy không. Tôi nghĩ, chiếc gậy chống ấy nên được đặt trang trọng trong bảo tàng Hội Nhà văn. Thăm Tây Trang, ông viết: "Cây số 120. Dốc núi bắt chếch lên mây trời thăm thẳm. Mây ấy là mây của nước khác rồi. Trên khối mây ùn như khói, trên cái không phận xanh lơ nước hàng xóm, sừng sững hiện lên một mái đồn Tây Trang" (Sđd. Tập 2. tr 102).

Bên cạnh những kinh tuyến vĩ tuyến và cột số, dấu ấn thời Lữ còn in đậm trên những trang ký ông chép tên những thác, những cầu, những vùng đất. Đây là những tên thác sông Đà: Thác Én, Thác Giăng, Bãi Chuối, Mó Sách, Bãi Lồi, Bãi Lành, Mó Tôm, Mó Nàng, Nánh Kẹp, Quai Chuông, Tà Phủ, Bãi Nai, Ba Hòn Gươm, Phố Khủa, Ghềnh Đồng, Suối Bạc,... (TTNT. Sđd. T2. Tr. 68).

Đây là những tên đất vùng căn cứ nghĩa quân Đề Thám: những làng Ngao, Nguộn, Hom, Sậy, Khuyên, Luộc, Lẻ, Lan, Lũa, Lèo, Thể, Hân, Hả, Gộc, Đa, Đện, Trung, Nứa, Chiềng. Những tên Mỏ Trang, Mỏ Thổ, Mỏ Sẹt. Những tên Rừng Phe, Rừng Tre, Rừng Ngầu, Rừng Báo. Những Ngã Tư Biền, Bến Gầm, Phố Tràng, Điếm Tổng, cầu Quan Âm, chùa Âm hồn. Những Trại Cau, Trại Gai, Trại Cọ, Trại Cờ, Đồng Vương, Đồng Cờ, Đồng Mơ (Cái kho thóc của quan Đề. Tr. 497).

Phải là một người lịch lãm, đi nhiều, hỏi chuyện nhiều về đèo núi mới dám hạ một câu thế này: "Đèo Pha Đin thuộc vào những đèo vừa cao vừa đẹp của cả miền Bắc miền Nam nước ta". (Tr. 93).

Đường đèo ngoặt chữ “chi” liên chi hồ điệp, nhiều dốc dựng cao. Nhìn ngang nhìn ngược nhìn xuôi đều thấy được những đường lượn vừa vượt qua và những khuỷu sắp lao xuống. Một tấm tranh toàn cảnh của núi rừng Tây Bắc điển hình. Núi trọc, sườn cỏ gianh, và đường xén vào núi, đất rực lên cái màu đỏ gạch nung già.

Ông cũng hạ hai câu như thế về bãi biển Cửa Tùng với hai chữ nhất, "đặc biệt nhất" và "đẹp nhất":

"Cửa Tùng là một bãi tắm biển đặc biệt nhất ở nước ta. Đứng ở bãi biển, nhìn ra là một hòn đảo, Hòn Cỏ, hoặc Hòn Gió, làm sinh động thêm cái vạch chân trời biển Đông cách bờ khoảng ba chục cây số. Nhìn lên mặt Bắc là Mũi Si, Mũi Lài, và vùng Hợp tác xã điển hình Vĩnh Kim. Nhìn về phía Nam, những buổi tối trời, thấy cả núi Ngũ hành Quảng Nam. Có thể ngó thấu tới núi Quảng Ngãi nữa kia; chỗ núi mờ mờ xanh nhọn nhọn lên là Quảng Ngãi đó. Cửa Việt trong tê cách ngoài ni cửa Tùng cùng tỉnh, mô có mấy chục cây. Đứng ở cửa Tùng đây nhìn rõ rặng phi lao đương xanh Cửa Việt, trong nớ, đó... Độ mặn của chất nước biển Cửa Tùng, cũng khác với các bãi biển khác, trên khắp 3241 cây số bờ biển toàn nước ta, và trên khắp 875 cây số bờ biển riêng miền Bắc. Độ mặn độ muối của biển Cửa Tùng, tác dụng bồi dưỡng của nó đối với cơ thể người nghỉ mát bãi biển, cũng tốt đủ hơn nhiều chỗ khác. Cái bãi tắm của nó càng đặc biệt, từ trong bờ lội thấu ra ngoài xa đến 600 thước, nước Cửa Tùng chỉ sâu đến ngang ngực, ít có nơi tắm mà địa thế lại thoai thoải một cách thuận lợi như vậy cho người đi tắm biển. Những năm đất nước còn chia cắt bằng một vạch giới tuyến quân sự tạm thời: Cái vạch vĩ tuyến ấy, chấm đúng ngay vào chính tâm bãi biển Cửa Tùng đẹp nhất nước ta". (TTNT. Sđd, tr 434-435).

Với mệnh Hỏa Sơn Lữ, mà tượng quẻ là Lửa trên Núi, văn chương Nguyễn Tuân chính là ánh lửa lữ hành trên các vùng núi Việt Bắc, Tây Bắc nước ta. Ánh lửa ấy rực sáng lên ở tập tùy bút "Sông Đà". Nguyễn Đình Thi coi "Sông Đà" là tác phẩm kết tinh của Nguyễn Tuân trên chặng đường dài từ sau cách mạng. Một tập tùy bút chắc mạnh và lộng lẫy (TTNT. Sđd. T3. Tr. 516). Sinh thời, nhà văn Nguyễn Minh Châu ghi sổ tay: Đọc lại "Sông Đà" của Nguyễn Tuân, câu văn Nguyễn Tuân viết như đem vật từng tảng đất lên trang giấy.

“Thuyền tôi trôi trên sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng lờ. Hình như từ đời Lý đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng lờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ tranh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ tranh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa... Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi”.

Nguyễn Minh Châu ghi thêm:

"Đọc Nguyễn Tuân có đoạn hay, ta cảm thấy nhà văn không viết cho người đời tầm thường xem, mà cho những bậc tiên tri và thần phật ở một thế giới cao siêu khác, và ta đọc, tiếc là ta dám nghe, ghé vào, ngồi góc chiếu mà hóng chuyện người trên, và vì thế phải đem lòng ngưỡng mộ mà nghe, mà đọc, phải nâng mình lên mức trong trẻo hết sức mà đọc văn. (Nhà văn Nguyễn Tuân. Tủ sách thế giới văn học. Nhà xuất bản Hội Nhà văn & Nhà xuất bản Hà Nội 1991 Tr. 102).

Bằng ánh sáng Hà Lạc, tôi chỉ muốn tán thêm: Không phải Nguyễn viết cho những cao nhân ở một thế giới nào, mà chính những bậc siêu phàm ấy xui khiến Nguyễn viết thế, đó là thứ văn viết từ mệnh Lữ.

Nhà văn mệnh Lữ còn cho người đời thưởng thức những thứ văn độc đáo khác. Xưa nay, hình như ta chỉ được đọc những áng văn thơ tả hoa, thưởng hoa trong tư thế tĩnh lặng, trầm ngâm. Chính Nguyễn cũng đã có truyện ngắn như thế tả một đêm xuân nhắm rượu cuội bọc kẹo mạch nha thưởng hoa lan (Hương cuội). Câu ngạn ngữ "cưỡi ngựa xem hoa" theo nghĩa hẹp là để chế diễu người không biết thưởng thức cái đẹp tinh tế như hương như hoa trong tư thế tĩnh, theo nghĩa rộng là chế diễu người chỉ biết đến cái đẹp cái tốt một cách chung chung, đại khái, cũng coi như chẳng biết gì. Nhưng cũng chính Nguyễn đã có một áng văn tuyệt đẹp tả hoa thưởng hoa trong tư thế động phi mã. Đó là những trang viết về hoa ban trong "Nhật ký lên Mèo".

"Hoa ban Tây Bắc, mùa ban pún hoa, nở rộ lung linh, hoa trắng núi trắng giời, (cũng trắng núi trắng giời như mưa mùa ở Tây Bắc), hoa ban nở không kịp rụng.

Ban đúng là thứ cây và thứ hoa đặc thù của Tây Bắc. Cũng là núi là rừng của chung tổ quốc, nhưng bên Việt Bắc không có hoa ban. Và ngay ở Tây Bắc, vào hẳn địa giới khu tự trị rồi mới thấy hoa ban chứ ở phía Suối Rút mà ngược lên mấy chục cây số quá cái mốc địa giới tỉnh Hòa Bình vẫn chưa có bóng một cây ban nào. Trên đường trục số 6, có nhiều quãng ban mọc tập trung hai ven đường. Như quãng Đại Cò Nòi, quãng Tiểu Cò Nòi, đèo Pha Đin và đèo Khau Ma Hông ở Lai Châu v.v... Mùa ban nở tháng hai hoa trắng có tí má hồng xếp hàng sẵn bên đường như một buổi liên hoan đón khách quý vào thăm khu tự trị. Không phải là cưỡi ngựa xem hoa mà là ngồi com-măng-ca mà xem hoa; ngồi bên cái máy nổ vận tải mà xuyên qua dặm hoa ban, cái xe hiện tại đi qua cả một thiên tình sử cũ của người Thái vẫn còn lưu lại một chút hương mát mát xa xa.

Theo chỗ tôi biết ở Tây Bắc, có một khu vực rừng ban rất dài rất rộng, cứ đi bộ với một đà bước vừa phải, thì đi đường rừng hai ngày liền mà không hết hoa ban. Từ bờ sông Đà qua Nậm Gin rồi bắt ra đường trục số 6, quãng rừng này toàn là ban. Hạnh phúc thay cho người đi công tác mùa xuân mà lọt vào trận địa hoa này vào lúc nó mãn khai thi đua nở cho hết để đóng mùa. Đứng ở bên phía Quỳnh Nhai nhìn sang núi bên Tuần Giáo, cứ thấy xanh xanh đùn đùn lên những chòm khói bằng cái nong, giống hệt tán khói đạn cao xạ nổ giữa bầu trời. Sang sông Đà, đi gần mãi lại thì mới sực nhớ là mùa xuân ban pún, rừng ban đang ra những tàn những tán hoa trắng.

...Trắng trời trắng núi một thế giới ban. Người anh ròng rã hai ngày quyện trong một mùi thơm mát nhẹ đăng đắng ẩn ẩn hiện hiện một mùi phong lan rừng cấm. Từ trên thinh không phả xuống cái hương tình của tình sử Thái, luồng thơm này liên tiếp những luồng thơm khác.... Con ngựa thồ tài liệu đi trước, móng ngựa trước móng ngựa sau đều bết những cánh ban vừa giẫm lên, còn hăng cái mùi hoa tươi bị nghiền nát". (TTNT. Sđd. T2. Tr. 301-303).

(Còn nữa)



Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 20.12.2012, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 16, 17, 18 ... 44, 45, 46  Trang kế
Trang 17 trong tổng số 46 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser