vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - VK1972: BỐN MƯƠI NĂM ẤY TRÀN ĐẦY TÌNH XƯA...
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

VK1972: BỐN MƯƠI NĂM ẤY TRÀN ĐẦY TÌNH XƯA...
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 19, 20, 21 ... 35, 36, 37  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> NĂM 1972
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 878
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 13.11.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Cảm ơn Phan Hồng đã giới thiệu. Đọc kỹ thấy hay quá. Còn nhớ hồi ở Hung tôi rất chịu khó đọc các tuần báo Văn Nghệ. Thời ấy có nhiều bài nói về bí ẩn của tác giải có tên T.T.Kh của bài thơ hai sắc Hoa Tigon. Có nhiều giả thuyết nhưng không chỉ ra tên người như trong bài sưu tầm của Phan Hồng là Thâm Tâm.

Xin giới thiếu dưới đây một bài Huyền thoại TTKH và "Hai sắc hoa tigôn" đăng trên YuMi ngày 30/10/2011(có lẽ tác giả viết vào năm 2007. Không rõ tên tác giả bài viết, bí danh Cảo Thơm)


Huyền thoại TTKH và "Hai sắc hoa tigôn"

"Hai sắc hoa tigôn", huyền thoại lãng mạn gắn bó với Thâm Tâm, một trong những nhà thơ tài hoa mệnh yểu thời tiền chiến. TTKh hay Thâm Tâm là người đầu tiên sử dụng hai chữ "người ấy" và đem hình ảnh "hoa tigôn" vào trong thơ, như một hình tượng nghệ thuật mơ hồ và phiếm định về người tình và cuộc tình tan vỡ. Trong những bài thơ tác giả ẩn danh hoặc ký tên nhưng không biết rõ người ấy là ai, Hai sắc hoa tigôn và TTKh là một huyền thoại lãng mạn đã gây mối trắc ẩn cho nhiều thế hệ yêu thơ.

Câu chuyện bắt đầu cách đây 70 năm, ngày 27/9/1937 trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy, số 174 xuất bản tại Hà Nội, có đăng truyện ngắn Hoa tigôn của Thanh Châu, nội dung kể lại mối tình tan vỡ của đôi trai gái ngày trước đã hò hẹn dưới giàn hoa ty gôn. Ít lâu sau, có người đàn bà trẻ, dáng dấp bé nhỏ, nét mắt u buồn, mang đến tòa soạn Tiểu Thuyết Thứ Bảy một phong bì dán kín, gửi cho ông chủ bút, trong có bài thơHai sắc hoa tigôn, ký tên TTKh. Bài thơ Hai sắc hoa ty gôn được đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy số 179, ra ngày 30/10/1937, và sau đó còn ba bài nữa cũng ký tên TTKh được gửi bằng đường bưu điện đến tòa soạn:
- Bài thơ thứ nhất, Tiểu Thuyết Thứ Bảy số 182 (20/11/1937).
- Đan áo cho chồng, đăng trên Phụ Nữ Thời Đàm.
- Bài thơ cuối cùng, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, số 217 (23/7/1938).
Bài thơ thứ nhấtxuất hiện sau Hai sắc hoa tigôn gần một tháng, và Bài thơ cuối cùng đăng tám tháng sau.

Ngay khi Hai sắc hoa tigôn ra đời, giới văn nghệ sĩ đã xôn xao, thi sĩ J. Leiba, người cùng tâm sự với TTKh và là tác giả hai câu thơ nổi tiếng "Người đẹp vẫn thường hay chết yểu. Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai", chép lại nguyên văn bài Hai sắc hoa tigôn trên Ngọ Báo với lời mở đầu:
Anh chép bài thơ tự trái tim
Của người thiếu phụ lỡ làng duyên
Lời thơ tuyệt vọng ca đau khổ
Yên ủi anh và để tặng em.

Nguyễn Bính sau khi đọc Bài thơ thứ nhất đã viết bài Dòng dư lệ để tặng TTKh, in lại trong tập Lỡ bước sang ngang và Thâm Tâm có ba bài Màu máu ti gôn, Dang dở và Gửi TTKh, và nhiều thế hệ sau còn có những bài thơ khác sụt sùi thương cảm cho số phận TTKh. Vậy TTKh là ai ?

Giọt lệ tương tư mới

Hai sắc hoa tigôn mở đường cho một lối lãng mạn khác với lãng mạn Đông Hồ, Tương Phố. Có thể nói Hai sắc hoa tigôn là giọt lệ tương tư mới, nơi TTKh, không phải là giọt lệ khóc chồng của Tương Phố, khóc vợ của Đông Hồ, mà là giọt lệ khóc cho tình yêu; hơn thế nữa, khóc người tình ngoài hôn nhân, một đối tượng tự do, phóng khoáng, vượt khỏi khuôn khổ lễ giáo thời bấy giờ. Và lần đầu tiên hai chữ người ấy được chính thức đưa vào thi ca, sau này nó sẽ trở thành "cổ điển", trở thành ngôn ngữ gối đầu giường của giới trẻ trong nhiều thế hệ:

Một mùa Thu trước, mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn,
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc,
Tôi chờ người đến với yêu đương.
Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong,
Và phương trời thẳm mờ sương, cát,
Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng.
Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
Thở dài trong lúc thấy tôi vui,
Bảo rằng:"Hoa, dáng như tim vỡ,
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!"
Thuở ấy, nào tôi đã hiểu gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly,
Cho nên cười đáp:"Màu hoa trắng
Là chút long trong chẳng biến suy".
Đâu biết lần đi một lỡ làng,
Dưới trời đau khổ chết yêu đương.
Người xa xăm quá! - Tôi buồn lắm,
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường...
Từ đấy, Thu rồi, Thu lại Thu,
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ...
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng Thu chết, từng Thu chết,
Vẫn giấu trong tim bóng "một người".
Buồn quá! hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ.
Và đỏ như màu máu thắm pha!
Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một mùa Thu trước rất xa xôi...
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã,
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!
Tôi sợ chiều Thu phớt nắng mờ,
Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều Thu
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,
Người ấy ngang sông đứng ngóng đò.
Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,
Trời ơi! Người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa... vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?(1)

Người ấy

Trong văn xuôi Việt Nam, hai chữ người ấy đã được Nguyễn Trọng Quản dùng để chỉ người tình trong truyện ngắn Thày Lazaro Phiền từ 1887. Vậy Nguyễn Trọng Quản là người đầu tiên đưa danh từ Người ấyvào trong văn Việt. Và Thanh Châu xướng lên hình ảnh hoa tigôn trong truyện ngắn đăng trước bài thơ của TTKh một tháng, trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy.
Nhưng TTKh là người đầu tiên sử dụng hai chữ "người ấy" và hình ảnh "hoa tigôn"vào thơ, như một hình tượng nghệ thuật mơ hồ và phiếm định về người tình và cuộc tình tan vỡ. Về mặt tâm lý xã hội, người đàn bà có chồng những năm 36 - 37, mấy ai dám nói đến người tình một cách công khai? TTKh đã viết nên những lời tâm sự của bao nhiêu người đàn bà cùng cảnh ngộ ngang trái, sống trong xã hội Khổng Mạnh đầu thế kỷ:

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng Thu chết, từng Thu chết,
Vẫn giấu trong tim bóng "một người".


Hoa tigôn


TTKh là ai?

Trong Bài thơ thứ nhất, in sau Hai sắc hoa tigôn hai tháng, có những yếu tố xác định rõ hơn về cuộc tình này:

Ở lại vườn Thanh có một mình
Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh
Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo
Yêu bóng chim xa nắng lướt mành.
và nhất là hai câu cuối:
Biết đâu tôi một tâm hồn héo
Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.

Vườn Thanh và chồng nghiêm là hai yếu tố gây tranh luận về nơi xảy ra cuộc tình và tên người chồng. Vườn Thanh ở đâu? Có phải ở Thanh Hóa không? Và người chồng của TTKh tên là gì? Có phải là Nghiêm không?
Đến bài thơ thứ ba, bài Đan áo cho chồng, lời thơ xa xót đầy nước mắt:

Ngoài trời mưa gió xôn xao
Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm
Ai đem lễ giáo giam em
Sống hờ trọn kiếp trong duyên trái đời.
Và Bài thơ cuối cùng có những câu gần như khó hiểu:
Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy
Mà viết tình em được ích gì?

Bởi nếu TTKh là người đem chuyện của mình ra viết thành thơ, thì tại sao nàng lại trách ai? Vậy ai đây là ai? Nàng trách chính nàng hay nàng trách người yêu? Nhất là đoạn sau, lời hờn giận càng thêm gay gắt:

Là giết đời nhau đấy biết không?
Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung
Giận anh em viết dòng dư lệ
Là chút dư hương điệu cuối cùng.

Tất cả những lời trách móc u uẩn này với nhịp điệu du dương, lời thơ tha thiết, gắn bó, làm cho toàn bộ tác phẩm trở thành huyền thoại.
Nếu so sánh 4 bài thơ ký tên TTKh và 3 bài thơ "trả lời" của Thâm Tâm in trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy sau đó, người ta có thể mở được những nấc cửa đầu tiên vào những bí ẩn này. Bài Gửi TTKH của Thâm Tâm có những câu sau đây:

...

Tiếng xe trong vết bụi hồng
Nàng đi thuở ấy nhưng trong khói mờ
Tiếng xe trong xác pháo xưa,
Nàng đi có bốn bài thơ trở về
Tiếng xe mở lối vu qui
Nay là tiếng khóc nàng chia cuộc đời!
Miệng chồng, Khánh gắn trên môi
Hình anh, mắt Khánh sáng ngời còn mơ.
Từ ngày đàn chia đường tơ
Sao tôi không biết hững hờ nàng đan
Kéo dài một chiếc áo len
Tơ càng đứt mối, nàng càng nối dây.
Nàng còn gỡ mãi trên tay,
Thì tơ duyên mới đã thay hẳn màu.
Góp hai thứ tóc đôi đầu,
Sao còn đan nối những câu tâm tình?
Khánh ơi còn hỏi gì anh?
Lá rơi đã hết màu xanh màu vàng".
...

Thâm Tâm nhắc đến người yêu tên Khánh. Vậy TTKh là gì? Có phải là những chữ Thâm Tâm - Khánh, viết tắt? Hay là Tuấn Trình - Khánh (vì Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình). Hay TTKh là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm?

Có thể nói hầu hết những nhà biên khảo từ Hoài Thanh, Hoài Chân, trong Thi Nhân Việt Nam (1940), Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên (1965), Nguyễn Hữu Long, Nguyễn Tấn Trọng trong Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến (1968) ... và gần đây trong Tuyển Tập Thơ Mới 1932-1945 Tác Giả và Tác Phẩm do Lại Nguyên Ân và Ý Nhi tập hợp phát hành năm 1992, tất cả đều đánh dấu hỏi về TTKh.

Lập luận của Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng

Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng là hai nhà biên khảo đầu tiên có ý tìm hiểu kỹ nhất về cái mà hai ông gọi là "Nghi án TTKH và Thâm Tâm". Trong bộ Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, hai ông đưa ra những nhân chứng và những giả thuyết đã xuất hiện trên báo chí, văn đàn từ năm 38 đến 68 của các ông Giang Tử, Thạch Hồ, Y Châu, Nguyễn Bá Thế, Lê Công Tâm, Anh Đào. Người thì cho rằng TTKh chính là Thâm Tâm. Người lại quả quyết TTKh là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm.

Ông Giang Tử thuật lại cuộc gặp gỡ với nhà thơ Tế Hanh vào tháng 11 năm 1944 trên chuyến xe đi Quảng Ngãi: "Tế Hanh cho biết TTKh chính là Trần Thị Khánh, người em gái đồng tông với mình ở Thanh Hoá và kể rõ thiên tình hận của nàng và thi sĩ Thâm Tâm. Giả thuyết này không đứng vững vì Tế Hanh không phải người Thanh Hóa mà Quảng Ngãi và vườn Thanh trong bài thơ không chắc đã là Thanh Hóa.

Ông Thạch Hồ và ông Y Châu đều cho biết: TTKh là nhân vật có thật, đã đôi ba lần đến thăm thi sĩ Thâm Tâm ở Khâm Thiên, lúc ông này ở chung với Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân (giả thuyết này phù hợp với lời tường thuật của Nguyễn Vỹ sau này).

Ông Nguyễn Bá Thế, tức nhà văn Thế Nguyên lại xác định: TTKh chính là nhà văn Thẩm Thệ Hà, có tên thật là Tạ Thành Kỉnh, TT là Tạ Thành còn K và H là chữ Kỉnh viết tắt. Việc này bị Thẩm Thệ Hà phủ định hoàn toàn.
Nhưng có ba giả thuyết đáng chú ý:

- Trên tạp chí Giáo Dục Phổ Thông, số 49, ra ngày 1/11/1959, tại Sài Gòn, ông Lê Công Tâm cho biết: TTKh chính là thi sĩ Thâm Tâm, người đã dàn cảnh một thiếu phụ bị ép duyên, khóc tình dang dở bằng những bài thơ Hai sắc hoa ty gôn và Bài thơ thứ nhất.

- Báo Sống ra ngày 15/4/1967, ông Nguyễn Tố, xác định đã sống chung với Thâm Tâm năm 1936, cùng với Trần Huyền Trân, Vũ Trọng Can. Thâm Tâm có mấy bài thơ ký tên TTKh như bài Hai sắc hoa tiôn. Lúc đó Khánh là người mà Thâm Tâm yêu say đắm, lúc Khánh đi lấy chồng, Thâm Tâm đau khổ gần như phát điên. Lũ chúng tôi vừa giễu cợt, vừa khuyên lơn. Chính trong thời gian thất tình, Thâm Tâm viết được mấy bài thơ ký tên TTKh.

- Nhưng trong báo Nhân Loại, bộ mới số 108 ra tháng 7 năm 1958 tại Sàigòn, ông Anh Đào lại đưa ra một thoại mới mà thoại này, theo ông, do chính Thâm Tâm kể lại. Ông Anh Đào kể rằng: Năm 1941, trong một đêm Thu lạnh lẽo, ông được ngồi giữa hai nhà thơ Nguyễn Bính và Thâm Tâm bên một bàn đèn thuốc phiện và chính ông được nghe Thâm Tâm tâm sự. Thâm Tâm nói rằng: TTKh. là tên một thiếu phụ mà trước kia tôi yêu. Và Thâm Tâm xác định những bài thơ đăng trên báo là của nàng, và ông Anh Đào kết luận rằng Thâm Tâm xứng đáng là "người ấy" của TTKh.

Sau khi đưa ra các luận chứng và giả thuyết trên đây, Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng, tác giả Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, kết luận:
TTKh. không thể là sản phẩm tưởng tượng của Thâm Tâm vì đó là nỗi lòng tha thiết của một người, với những vần thơ lâm ly như thế thì người khác không thể viết thay được. Vậy Thâm Tâm là Thâm Tâm và TTKh là TTKh. Hai người có thể là đôi tri kỷ nhưng không thể cùng là một người. Các tác giả Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến muốn đóng hồ sơ nghi án trên một huyền thoại.


Hoa tigôn

Sự xác định của Nguyễn Vỹ

Nguyễn Vỹ là một trong những nhà thơ tiên phong trong phong trào Thơ Mới. Năm 1970, khi Nguyễn Vỹ xuất bản cuốn Văn Thi Sĩ Tiền Chiến tại Sài Gòn, thì ông đã đưa sự thực về Thâm Tâm và TTKh ra ánh sáng.

Như chúng ta đã biết, sau Phan Khôi, Nguyễn Vỹ cùng với Lưu Trọng Lư, Nguyễn Thị Manh Manh, Thế Lữ là những người đã phát triển phong trào Thơ Mới. Nguyễn Vỹ và Mộng Sơn lập trường phái Bạch Nga, chủ trương cách tân thơ, chú trọng đến khía cạnh âm nhạc và hình thức xếp chữ trong thơ. Trường phái Bạch Nga bị Thế Lữ và Hoài Thanh đả kích kịch liệt, thơ Nguyễn Vỹ không được tiếp nhận đúng mức. Đánh giá thơ Nguyễn Vỹ là một vấn đề khác mà chúng tôi không đề cập đến trong bài này. Nguyễn Vỹ là bạn thân của Lan Khai, Lưu Trọng Lư, Trương Tửu và trong cuốn Văn Thi Sĩ Tiền Chiến ông đã vẽ lại chân dung 35 nhà văn, nhà thơ sinh hoạt trong không khí văn học từ đầu thế kỷ đến 1945. Một tư liệu quý cho những người nghiên cứu văn học.

Sau hơn 30 năm im lặng, 1970, một năm trước khi mất, Nguyễn Vỹ đã công bố những lời tâm sự của Thâm Tâm 22 năm sau khi Thâm Tâm qua đời trong bài viết Thâm Tâm và sự thât về TTKh. mà chúng tôi xin lược trình sau đây:

Năm 1936, 37 có xuất hiện ở phố Chợ Hôm, ngoại ô Hà Nội, một nhóm văn sĩ trẻ với bút hiệu là Trần Huyền Trân, Thâm Tâm và một vài người nữa. Ít ai để ý đến họ. Huyền Trân và Thâm Tâm đều mới 18, 19 tuổi. Họ có một tờ tuần báo nhỏ, tên là Bắc Hà ở phố Chợ Hôm. Chủ động trên tờ báo là Trần Huyền Trân. Báo Bắc Hà bán không chạy lắm, tuy có vài mục hài hước, vui, nhờ mấy bức vẽ của Tuấn Trình. Thâm Tâm là bút hiệu của Tuấn Trình. Tuấn Trình vẽ nhiều hơn viết, thỉnh thoảng đăng một bài thơ, vài mẩu truyện ngắn. Đôi khi thấy xuất hiện trên mặt báo vài ba bài thơ có tính cách ca dao, ái tình của Nguyễn Bính học sinh lớp nhất trường tiểu học Hà Đông. Nguyễn Bính thi rớt, nghỉ học luôn.

Tôi - tức là Nguyễn Vỹ - tuy không chơi thân, nhưng quen biết Trần Huyền Trân khá nhiều vì anh ta ở trọ một căn nhà trong ngõ Khâm Thiên, phía sau chợ. Tôi ở một gác trọ của đường Khâm Thiên, gần Ô Chợ Dừa. Đôi khi Trần Huyền Trân nhờ tôi viết bài cho tuần báo Bắc Hà "cho vui" vì không có tiền nhuận bút. Để tỏ tình thông của văn nghệ, tôi có viết một truyện ngắn khôi hài, và chỉ có một lần.

Trong một số báo đặc biệt Mùa Hè, Tuấn Trình có vẽ một cặp Bạch Nga bơi trên Hồ Hoàn Kiếm và ghi ở dưới "Nguyễn Vỹ và Mộng Sơn".

Tôi quen biết Tuấn Trình là do Trần Huyền Trân giới thiệu. Nhà anh ở Chợ Hôm, cách chợ độ ba, bốn trăm thước. Anh đẹp trai, y phục lúc nào cũng bảnh bao, người có phong độ hào hoa, lịch thiệp. Tôi thấy ở Sàigòn có anh Hoàng Trúc Ly, nhà văn, na ná giống Tuấn Trình về dáng điệu cũng như tính tình, tư cách. Nhiều khi gặp Hoàng Trúc Ly trên đường Bonnard Sài Gòn, tôi quên lửng, cứ tưởng như gặp Tuấn Trình trên phố Chợ Hôm Hà Nội.

Một buổi chiều gần tối, Tuấn Trình đi lang thang gần chợ Khâm Thiên. Tôi từ Hà Nội về nhà, tôi tưởng anh đến Trần Huyền Trân, nhưng anh bảo: Thằng Huyền Trân nó đi đâu, không có nhà. Tôi rủ anh về gác trọ của tôi ở cuối phố. Hôm ấy, tôi có vài chục bạc trong túi, có thể làm một tiệc bánh giò chả lụa với Tuấn Trình. Tôi bảo anh ở lại ngủ với tôi cho vui. Đêm ấy cao hứng, Tuấn Trình ngà ngà say rượu Văn Điển, kể chuyện tình của anh với cô Khánh cho tôi nghe.

Câu chuyện tình

Trần Thị Khánh là một cô học trò lớp nhất trường tiểu học Sinh Từ. Thi hỏng, cô ở nhà giúp mẹ làm việc nội trợ. Nhà cô cũng ở đường Sinh Từ, ngay cạnh Thanh Giám, nơi đền thờ Khổng Tử.

Thanh Giám là một thắng cảnh Hà Nội, đã liệt vào cổ tích Việt Nam, xây cất từ đời nhà Lý, tu bổ cho tới đời nhà Lê, hình chữ nhật, xung quanh xây tường đá ong, cao độ hai thước Đền thì ở trong cùng, trước đền có Hồ Tròn, hai bên hồ có những tấm bia ghi tên các tiến sĩ đời nhà Lê. Vào Thanh Giám có cổng tam quan lớn, trước cổng có tấm bia đề hai chữ Hán "Hạ mã" và hai trụ cao. Trong vườn trồng rất nhiều cây cổ thụ và các cây kiểng, nơi đây rất yên tĩnh và mát mẻ, cũng là nơi các cặp trai gái hẹn hò tâm sự. Trước kia có một bầy quạ chiều tối bay về đây ngủ, cho nên người Pháp cũng gọi là Pagode des corbeaux. Chùa Quạ, ngoài danh từ lịch sử Temple de Confucius, Đền Khổng Tử.

Cô nữ sinh Trần Thị Khánh là một thiếu nữ đẹp. Tuấn Trình có một người cô, nhà ở phố Chợ Cửa Nam, gần Sinh Từ. Anh thường đến đây thăm cô và trông thấy cô Khánh đi chợ mỗi buổi sáng. Lúc ấy vào khoảng tháng 2 năm 1936, họa sĩ Tuấn Trình -tên gọi hồi đó- mới 19 tuổi, và cô Khánh 17 tuổi. Tuấn Trình mới bắt đầu vẽ và viết chút ít trong tờ tuần báo Bắc Hà của Trần Huyền Trân vừa xuất hiện.

Sau một vài tháng theo dõi, Tuấn Trình làm quen được với cô Khánh và gởi báo Bắc Hà tặng cô. Cô gái 17 tuổi, cảm mến người nghệ sĩ tài hoa, tình yêu chớm nở như cành hoa antigone trắng cũng vừa chớm nở trong tháng đầu hè trước sân nhà cô.

Antigone là loại hoa của người Pháp đem qua hồi đầu thế kỷ, không thơm nhưng đẹp. Nó là loại hoa dây, lá giống như lá nho, cho nên ở miền Nam nhiều người gọi là hoa nho. Có hai loại : hoa trắng và hoa hồng. Hoa nở vào đầu mùa hè thành những chùm rất dễ thương, nụ hoa giống hình trái tim nho nhỏ. Ở Hà Nội người ta trồng rất nhiều và bán cũng rất nhiều ở chợ Đồng Xuân, cũng như ở Chợ Hoa, bờ hồ Hoàn Kiếm. Cắm nó vào lọ để phòng khách, nó buông ra một vẻ lãng mạn, khả ái lắm. Người Bắc gọi tắt là hoa ty gôn. Ở phố Sinh Từ, antigone mọc rất nhiều, như trước sân nhà ông Nguyễn Văn Vĩnh và Nguyễn Nhược Pháp. Nhà trọ của Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều ở phố Hàm Long có cả một giàn hoa trắng và hồng. Nhưng mùa đông lá rụng, hoa tàn thì không cảnh nào tiêu sơ quạnh quẽ bằng.

Tình yêu của Tuấn Trình và Trần Thị Khánh chớm nở ngay lúc những chùm hoa antigone vừa hé nụ, và chết giữa mùa đông năm đó, trong lúc giàn hoa ty gôn úa tàn, rụng ngập đầy sân. Thời kỳ mơ mộng ngắn ngủi trong mấy tháng hè, sang hết mùa thu, không đem lại chút thỏa mãn nào cho tâm hồn khao khát của Tuấn Trình.

Chính lúc này Tuấn Trình lấy bút hiệu là Thâm Tâm. Một vài bài thơ tình thức đêm làm tặng cô Khánh. Những bài thơ đầu tiên đăng trên tuần báo Bắc Hà đều ký là Thâm Tâm, nhưng các tranh vẽ trong báo vẫn ký Tuấn Trình. Nhưng cô gái 17 tuổi, dè dặt, theo lễ giáo của gia đình, chưa thật bao giờ đáp ứng đúng với tình yêu tha thiết của Tuấn Trình Thâm Tâm.

Trong lúc những cặp tình nhân trẻ trung dắt nhau đi du ngoạn khắp nơi thơ mộng ở Hà Nội và ngoại ô, thì Trần Thị Khánh cứ phải từ chối những lời mời của Thâm Tâm. Cô thường nói: "Thầy mẹ em nghiêm lắm, gia đình em nghiêm lắm." Lần nào cô Khánh cũng lặp lại chữ nghiêm gia giáo ấy để trả lời kỳ vọng khát khao của người yêu.

Chỉ được hai lần Khánh đến nơi hẹn, nhưng không được lâu. Lần thứ nhất, một đêm trăng, Khánh lẻn băng qua đường vào vườn Thanh Giám. Tuấn Trình đã chờ người yêu nơi đây, dưới bóng cổ thụ. Nhưng cả hai cũng không nói được gì, Khánh run sợ. Tuấn Trình bối rối, tất cả những lời lẽ bay bướm đã sắp sẵn, bây giờ quên hết. Cuối cùng lại trách móc nhau vì những chữ "Thầy mẹ em nghiêm lắm" và rồi Khánh cũng vội vã chạy về nhà.

Lần thứ hai, vườn Thanh Giám đêm ấy cũng ngập ánh trăng thu. Nhiều người nói Thanh là Thanh Hóa, là hoàn toàn sai sự thật. Nhưng thái độ của Khánh lạ lùng, khó hiểu. Hình như Khánh muốn nói với Tuấn Trình một điều gì, nhưng ngại ngùng không nói. Rồi nàng buồn bã hỏi: "Anh định bao giờ đến xin thầy mẹ cho chúng mình ?" Chàng họa sĩ bối rối trước câu hỏi bất ngờ. Chàng lơ đễnh bảo: "Anh chưa nghĩ đến việc ấy, vì..." Câu chuyện bị bỏ dở nơi đây cho đến khi từ giã.

Hai người vẫn thư từ với nhau cho đến một hôm... Tuấn Trình nhận được bức thư của người yêu, không, của người đã hết yêu, báo tin nàng sắp lấy chồng. Thư viết bằng mực tím, trên bốn trang giấy học trò, xé trong một quyển vở Nam Phương Hoàng hậu (loại vở học trò rất thông dụng lúc bấy giờ).

Đại khái trong thư Khánh nhắc lại tình yêu "thơ mộng" của cô với "người nghệ sĩ tài hoa son trẻ", đó là những chữ cô dùng trong thư. Tình yêu rất đẹp, nhưng vì thầy mẹ của cô rất "nghiêm" theo lễ giáo, nên dù vị hôn phu của cô là một người chỉ mới biết sơ thôi nhưng cô vẫn có "bổn phận phải giữ tròn chữ hiếu", cô than thở đời cô khổ nên tình duyên ngang trái, cô khóc suốt đêm, v.v... Cuối thư ký tắt Kh.

Tuy Khánh không viết gì về vị hôn phu và ngày cưới, nhưng sau dọ hỏi, Tuấn Trình được biết chồng Khánh là một nhà buôn giàu có ở phố Hàng Ngang, 39 tuổi, đẹp trai, góa vợ và không có con. (Trong câu thơ bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi là chỉ sự cách biệt tương đối giữa tuổi 39 của người chồng và tuổi vị thành niên của Khánh). Tiệc cưới rất linh đình, rước dâu bằng 10 chiếc Citroën mới. Cô dâu đeo nữ trang rực rỡ, mặc chiếc áo màu đỏ tươi, lộng lẫy ngồi cạnh người chồng mặc áo gấm xanh.

Đêm trước hôm cô Khánh lên xe hoa, Thâm Tâm tổ chức tại tòa báo Bắc Hà một tiệc thịt chó, uống Mai quế lộ, mời Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính và Vũ Trọng Can tham dự. Họ say sưa ngâm thơ, làm thơ, cười đùa cho đến khuya rồi lăn ra ngủ trên đất.

Trái với mọi dự đoán, Khánh rất hạnh phúc với chồng. Người đau khổ là Tuấn Trình Thâm Tâm. Vừa nhớ thương đơn phận, vừa bị mặc cảm của người nghệ sĩ nghèo bị người yêu bỏ rơi, lại còn bị mấy thằng bạn chế nhạo, đùa bỡn, nhất là Vũ Trọng Can.

Vì một chút tự ái văn nghệ, Tuấn Trình đã thức suốt đêm, theo lời anh thuật lại, để làm bài thơ Hai sắc hoa tigôn, ký tên TTKh, với thâm ý cho Trần Huyền Trân và Vũ Trọng Can tin là của Khánh làm ra để thương tiếc mối tình tan vỡ. Muốn giữ tính cách bí mật, Tuấn Trình nhờ cô em họ chép lại bài thơ trên, dán kín bao thơ và nhờ cô này mang thư đến tòa báo.

Tất nhiên là giọng thơ lãng mạn của Tuấn Trình hoàn toàn khác với lời tâm sự trong bức thư cuối cùng của Khánh báo tin sắp lấy chồng. Cô Khánh không biết làm thơ. Và theo lời Tuấn Trình, cô ghét những bài thơ của Thâm Tâm. Sau khi nhận được bức thư cuối cùng của Khánh, trong thư Khánh tỏ ý không bằng lòng Tuấn Trình đã mượn tên cô để làm thơ kể chuyện tình duyên cũ trên báo, có thể làm hại đến cuộc đời của cô. Trong lá thư phản đối đó, Khánh xưng tôi chứ không xưng em nữa.

Thâm Tâm lấy lại những lời, những chữ trách móc giận dữ của Khánh trong thư để làm Bài thơ cuối cùng ký tên TTKh, với những câu:

Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy
Mà viết tình em được ích gì?
Bài thơ đan áo nay rao bán
Cho khắp người đời thóc mách xem.
Là giết đời nhau đấy biết không?
Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung
Giận anh em viết dòng dư lệ
Là chút dư hương điệu cuối cùng.
Từ nay anh hãy bán thơ anh
Còn để yên tôi với một mình

Rồi để đáp lại Bài thơ cuối cùng, Thâm Tâm làm bài Dang dở tặng TTKh, cũng là bài thơ kết thúc niềm đau của mối tình dang dở:

Nhưng anh biết cái gì xưa đã chết,
Anh càng buồn càng muốn kết thành thơ,
Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ,
Đây bài thơ chót kính dâng tặng bạn.

Huyền thoại Hai sắc hoa ti gôn, sở dĩ được những tên tuổi nổi tiếng của thi ca đương thời phụ hoạ và đứng vững lâu dài trong lòng người đọc, bởi nó chở những đớn đau chân thực của một người tình, dù viết dưới bàn tay trá hình Thâm Tâm. Và cũng nhờ tài năng của Thâm Tâm mà chúng ta có được hai hình tượng mới: người ấy và hoa ty gôn. Tính mơ hồ bóng gió của người ấy và cái chết thảm khốc của Antigone ẩn trong một chùm hoa nhỏ, xinh như mộng, càng làm tăng thêm chất bi đát thầm lặng của tình yêu, liệm thêm sự bí mật của những chữ TTKH.

* Phụ lục

Bài thơ thứ nhất – TTKh (2)

Thuở trước hồn tôi phơi phới quá
Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương
Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại
Êm ái trao tôi một vết thương.
Tai ác ngờ đâu gió lại qua
Làm kinh giấc mộng những ngày hoa
Thổi tan tâm điệu du dương trước
Và tiễn người đi bến cát xa.
Ở lại vườn Thanh có một mình
Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh
Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo
Yêu bóng chim xa nắng lướt mành.
Và một ngày kia tôi phải yêu
Cả chồng tôi nữa lúc đi theo
Những cô áo đỏ sang nhà khác
Gió hỡi làm sao lạnh rất nhiều.
Từ đấy không mong không dám hẹn
Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêm
Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ
Người ấy ghi lòng vẫn nhớ em.
Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên
Bỗng ai mang lại cánh hoa tim
Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên.
Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ
Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ
Tóc úa giết dần đời thiếu phụ
Thì ai trông ngóng chả nên chờ.
Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá
Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa:
“Cố quên đi nhé câm mà nín
Đừng thở than bằng những giọng thơ”.
Tôi run sợ viết lặng im nghe
Tiếng lá Thu khô xiết mặt hè
Như tiếng chân người len lén đến
Song đời nào dám gặp ai về.
Tuy thế tôi tin vẫn có người
Thiết tha theo đuổi nữa than ôi
Biết đâu tôi một tâm hồn héo
Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.


Đan áo cho chồng – TTKh (3)

Chị ơi, nếu chị đã yêu
Đã từng lỡ hái ít nhiều đau thương
Đã xa hẳn quãng đời hương
Đã đem lòng gửi gió sương mịt mùng
Hay chăng chị mỗi chiều đông
Đáng thương những kẻ có chồng như em
Vẫn còn giá lạnh trong tim
Đan đi đan lại áo len cho chồng
Con chim ai nhốt trong lồng
Hạt mưa nó rụng bên sông bơ thờ
Lưng trời nổi tiếng tiêu sơ
Hay đâu gió đã sang bờ ly tan
Tháng ngày miễn cưỡng em đan
Kéo dài một chiếc áo lam cho chồng
Như con chim nhốt trong lồng
Tháng ngày than tiếc ánh hồng nơi nao
Ngoài trời hoa nắng xôn xao
Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm
Ai đem lễ giáo giam em
Sống hờ hết kiếp trong duyên trái đời
Lòng em khổ lắm chị ơi
Trong bao ngờ vực với lời mỉa mai
Quang cảnh lạ, tháng năm dài
Đêm đêm nằm tưởng ngày mai giật mình.


Bài thơ cuối cùng – TTKh (4)

Anh hỡi, tháng ngày xa quá nhỉ ?
Một mùa thu cũ một lòng đau...
Ba năm ví biết anh còn nhớ,
Em đã câm lời có nói đâu!
Đã lỡ thôi rồi chuyện biệt ly,
Càng khơi càng thấy lụy từng khi
Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy
Mà viết tình em được ích gì?
Chỉ có ba người đã đọc riêng
Bài thơ "đan áo" của chồng em
Bài thơ "đan áo" nay rao bán
Cho khắp người đời thóc mách xem...
Là giết đời nhau đấy biết không ?
...Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung
Giận anh, em viết dòng dư lệ,
Là chút dư hương điệu cuối cùng!
Từ nay anh hãy bán thơ anh
Còn để yên tôi với một mình
Những cánh hoa lòng, hừ! đã ghét
Thì đem mà đổi lấy hư vinh.
Ngang trái đời hoa đã úa rồi,
Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi...
Buồng nghiêm thờ thẩn hồn eo hẹp
Đi nhớ người không muốn nhớ lời!
Tôi oán hờn anh mỗi phút giây,
Tôi run sợ viết, bởi rồi đây,
Nếu không yên được thì tôi ... chết
Đêm hỡi, làm sao tối thế này ?
Năm lại năm qua cứ muốn yên
Mà phương ngoài gió chẳng làm quên;
Và người vỡ lỡ duyên thầm kín
Lại chính là anh? anh của em!
Tôi biết làm sao được hỡi trời?
Giận anh không nỡ nhớ không thôi!
Mưa buồn mưa hắt trong lòng ướt...
Sợ quá đi, anh... "có một người"!…


Gửi T.T. Kh. – Thâm Tâm (5)

Các anh hãy uống thật say,
Cho tôi những cốc rượu đầy rồi im
Giờ hình như quá nửa đêm ?
Lòng đau đem lại cái tin cuối mùa
Hơi đàn buồn như trời mưa
Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi
Giờ hình như ở ngoài trời
Tiếng xe đã nghiến đã rời rã đi.
Hồn tôi lờ mờ sương khuya
Bởi chưng tôi viết bài thơ trả lời
Vâng, tôi biết có một người
Một đêm cố tưởng rằng tôi là chồng
Ðể hôm sau khóc trong lòng
Vâng tôi có biết cánh đồng thời gian
Hôm nay rụng hết lá vàng
Và tôi lỡ chuyến chiều tàn về không.
Tiếng xe trong vết bụi hồng
Nàng đi thuở ấy nhưng trong khói mờ.
Tiếng xe trong xác pháo xưa,
Nàng đi có bốn bài thơ trở về.
Tiếng xe mở lối vu qui
Nay là tiếng khóc nàng chia cuộc đời !
Miệng chồng Khánh gắn trên môi
Hình anh mắt Khánh sáng ngời còn mơ.
Từ ngày đàn chia đường tơ
Sao tôi không biết hững hờ nàng đan.
Kéo dài một chiếc áo len
Tơ càng đứt mối, nàng càng nối giây.
Nàng còn gỡ mãi trên tay
Thì tơ duyên mới đã thay hẳn màu.
Góp hai thứ tóc đôi đầu,
Sao còn đan nối những câu tâm tình ?
Từng năm từng đứa con non
Mỉm cười vá kín vết thương lại lành.
Khánh ơi còn hỏi gì anh?
Xưa tình đã vỡ, nay tình lại nguyên
Em về đan mối tơ duyên
Vào tà áo mới, đừng tìm duyên xưa.
Bao nhiêu giọt lệ còn thừa,
Hãy dành mà khóc những giờ vị vong.
Bao nhiêu giọt lệ còn thừa,
Hãy dâng cho trọn nghĩa chồng, hồn cha.
Nhắc làm chi chuyện đôi ta
Cuộc đời anh đã phong ba dập vùi...
Hãy vui lên các anh ơi
Nàng đi, tôi gọi hồn tôi trở về
Tâm hồn lạnh nhạt đêm nghe
Tiếng mùa lá chết đã xê dịch chiều
Giờ hình như gió thổi nhiều
Những loài "hoa máu" đã gieo nốt đời.
Bao nhiêu nghệ sĩ nổi trôi
Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh ?
Sá chi những chuyện tâm tình
Lòng đau đem chứa trong bình rượu cay.

Chú thích:

(1) Hai sắc hoa ty gôn - TTKH (Tiểu thuyết thứ bảy, số 179, 30/10/1937)
(2) Tiểu thuyết thứ bảy, số 182 ra ngày 20-11-1937)
(3) Phụ nữ thời đàm
(4) Tiểu thuyết thứ bảy, số 217, 23/07/1938)
(5) Tiểu thuyết thứ bảy, số 307, 04/05/1940)


Theo Huyền thoại TTKH và "Hai sắc hoa tigôn"
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 878
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 15.11.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

ĐI CHỢ BỐN CON HỔ

Đáng ra mục này thuộc về mục ĐĂNG TIẾP NHỮNG TẤM ẢNH TRONG CHUYẾN CÔNG TÁC HUNGARY THÁNG 4/2005 (tiếp theo), nhưng tôi muốn viết một đề mục riêng vì không có ảnh mà chỉ có kỷ niệm bằng thơ.





Chợ Bốn con hổ tại Budapest, Hungary (2006)



Đoàn sang đến Hung ngày 31/3/2005, sang ngày 01/4, sau buổi làm việc đầu tiên, anh Định phiên dịch dẫn anh em ra Chợ 4 Con Hổ để mua sim điện thoại gọi về Việt Nam. Ấn tượng đầu tiên bước vào chợ là người VN mình làm ăn sinh sống ở đây rất đông, vất vả, tất bật nhưng gặp người bên nước sang mọi người đều chân tình thân thiện. Có những cộng đồng người nước ngoài khác như Trung Quốc, Mông cổ, Ấn Độ… nhưng họ là thiểu số đối với bà con Việt Nam mình. Sau khi mua sin điện thoại, anh em toả ra mỗi người một hướng, hẹn đúng giờ tụ tập lại ở cổng chợ. Nhìn cảnh bà con buôn bán làm ăn ở đây, tôi chợt liên tưởng 16, 17 năm về trước (1989-1991) tôi cũng phải lăn lộn buôn bán như thế này. Ngày đó mới sau cuộc cách mạng nhung, bên Tiệp chưa hình thành chợ như ở đây, nên anh em chúng tôi đi bán quần áo khổ hơn nhiều. Ngày nghỉ mang theo bên mình một túi du lịch quần áo rồi leo lên ô tô Bus công cộng để đi các tỉnh cách xa nơi mình ở (Brno) để bán lẻ từng chiếc. Ngày mưa cũng như ngày nắng, mùa đông cũng như mùa hè, ngày bán được còn vui, hôm nào không bán được buồn như “chấu cắn”. Có hôm còn bị công an trấn lột (tôi đã kể tạị đây: BÁN HÀNG RONG BÊN TIỆP... ). Quay trở lại Hungary lần ấy, vào chợ quân ta bán hàng tôi hiểu lắm những khó khăn vất vả của mọi người ở đây.

Ghé vào một quán bán quần áo, gặp cô gái (người Hải Dương?) có khuôn mặt trẻ trung, xinh xắn, mến khách, tôi và Thông (cùng đoàn) vào “tán” và mua một số khăn về làm quà cho chị em phụ nữ trong đơn vị. Người con gái đó tôi không nhớ tên, nhưng kỷ niệm gặp nhau bất chợt lần đầu làm tôi không thể quên, đã 7 năm rồi vẫn nhớ khuôn mặt ấy…


Rưu nổi tiếng UNICUM bán ở chợ Bốn con hổ tại Budapest, Hungary. (2005)


Rời cô bán hàng quần áo, chúng tôi sà vào một “quán bán rựu” gần đó, chúng tôi được chủ quán giới thiệu loại rựu UNICUM do người Hung vừa mới nghiên cứu tạo ra, có đăng ký bản quyền. Rựu bán rất chạy. Chủ quán cho nếm thử, rất ấn tượng. Sau khi nếm thử một vài chén, anh em mỗi người mua 3, 4 chai về làm quà (Xem bình luận thêm ở dưới)

Tính tôi khi ra nước ngoài hay tạt vào các cửa hàng lưu niệm mua nhiều thứ linh tinh để ghi lại dấu ấn nơi mình đã qua. Lần đi Hung này cũng vậy, mọi người mua quần áo, tôi lại đi tìm cáccửa hàng lưu niệm để mua một số kỷ vật như các kiểu dáng chai đóng rưu Tokaji, búp bê, tranh… tất cả những sản phẩm lưu niệm này tôi vẫn còn giữ lại được (sau khi đã cho đi một số chai rựu).

Kỷ niệm về cô bán hàng, về quán rựu, về những người VN ta bán hàng ngày ngày vất vả bám trụ ở chợ Bốn Con Hổ… tôi như cảm thấy mình mắc nợ. ..

Bài thơ chưa kịp tìm ra đầu đề, thì các câu thơ cứ dần dần xuất hiện:

Kể từ xuân ấy, mấy xuân trôi
Tôi gặp được em ở chốn Người
Em buôn bán nhỏ nơi Chợ Hổ (*)
Hỏi người ngày đó có nhớ tôi?

Thấy “khách ta” em vội chào mời
Chuyện trò thân thiết chẳng nguôi ngơi
Vẫn biết khách nhà không mua sắm
Nhưng quý người xa ghé qua chơi

Hỏi em “một vốn” được “mấy lời”?
Em cười: rằng “bán để cho vui”
Đã trót tới đây là duyên nợ
Giàu nghèo mà chi… cũng vậy thôi!

Em bảo mùa Xuân thật tuyệt vời
Ra đường nắng trải ấm muôn nơi
Nếu anh nghé qua mùa Đông lạnh
Mặt rét căng, méo cả nụ cười

Tôi thương em như thể thương tôi
Ngày nào bên Tiệp cũng tuyết rơi (**)
Bám theo xe Bus mang hàng bán
Có những hôm chợ không một bóng người…
* *
*
Chào em, tạt qua hàng bán rựu
Chủ hàng đôn hậu gọi vào chơi
Anh rót mỗi người lưng chén tửu
Bảo rằng: loại mới uống thử coi!?

UNICUM chẳng phụ lòng người
Uống một rồi lại muốn uống hai
Mỗi người gói gém dăm ba cút
Đem về nước Việt góp cuộc vui.
* *
*
Bao năm rồi vẫn nhớ không nguôi
Mong cho em cuộc sống đổi đời
Mong Đất nước mình không nghèo nữa
Mong nụ cười luôn đến với em tôi

………….
(*) Chợ Bốn Con Hổ
(*) Năm 1987-1991 tôi làm NCS ở Tiệp. Sau cuộc cách mạng nhung năm 1989, thị trường tự do mở cửa, tôi cũng tham gia đi bán hàng rong trong những ngày tuyết lạnh để kiếm thêm tiền mua hàng gửi về giúp vợ con ở Việt Nam đang đói ăn.

Sau đây tôi post thêm một số ảnh về những vật kỷ niệm tôi mua được bên đó, năm 2005.


Bình đựng rựu có Quốc huy mới của nước Hungary



Bình rựu Tokaji mất tem niêm phong, nhưng chưa dùng (được 10 năm rồi)


Tranh cổ: Hoàng tử và Công chúa?


Búp Bê Cô gái Hungary (gần 8 năm rồi, váy hơi bị bẩn!) nerd


………………
Theo một số comment trên FiLUX, bình luận về UNICUM như sau:

Ðề: Chém gió về rượu mạnh

khongsovo:

Có một lần iem được mon men hầu rượu, uống một chai lạ lắm. Thấy bảo là rượu cỏ (hay men cỏ ?) của Buôn gà ri hay nước nào đó Đông Âu. Uống lần mà thèm mãi. Có cụ nào biết thì cho nhà iem một hai nhời với ạ:
1. Có "rượu cỏ" thực không ?
2. Nếu có, ví dụ là loại gì ?
3. Nếu có loại gì, có mua được ở xứ Vịt hay phải xách tay ?

son_bo:

Đúng là tầm này vẫn chém dó thì chỉ có các cụ không sợ vợ hoặc vợ không có ở đây .

Em nghĩ cái diệu cụ nói là loại Unicum của Hungary , loại này có mùi tiêu , hồi ngày xưa em uống ở nhà hàng Budapest tại Vincom Bà Triệu ( tiếc cái nhà hàng nầy bi dờ bán ế nên biến mất dồi )
Giang hồ đồn rằng : Hoàng đế Hasburg Joseph II đã thốt lên " Đúng là độc nhất vô nhị " với quan ngự y của mình vào năm 1790 khi ông ta lần đầu nếm thử loại rượu bổ tiêu thực này.
Ngày nay, UNICUM là loại thức uống phổ biến nhất trong các loại rượu mạnh của Hungary.
UNICUM được sản xuất từ hơn 40 loại thảo dược và gia vị, pha chế và chưng cất trước khi ủ cất trong thùng gỗ sồi trong 6 tháng để tạo nên hương vị và sự hài hòa không làm sao giống được.
UNICUM bổ ích cho hệ tiêu hóa và còn có thể thưởng thức như rượu khai vị hoặc tiêu thực.


Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 878
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 17.11.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


CHUYỆN Ở HỌC ĐƯỜNG BME (tiếp theo)

3. Chuyện du lịch hàng năm với bạn cùng lớp (Picnik)

Vừa rồi lên nhà anh Bạch chơi ở Thái Nguyên, xem lại tấm ảnh chụp chung cả Ngành truyền tin/Khoa điện (Villamosmérnöki Kari Híradástechnikhai Szak), tôi mới nhận ra là từ trước tới nay mình nhầm. Trong 3 năm học đầu tiên ngoài những buổi lên lớp chung toàn Ngành (Szak) tại giảng đường lớn, mọi người còn có những tiết học trong các lớp nhỏ. Từ các lớp nhỏ này 2 năm cuối lại tách ghép lại theo lớp chuyên ngành.

Híradástechnikhai Szak chia thành 4 chuyên ngành chính (tágozat):
- Kỹ thuật số máy tính ( Digitalis Szamitástechnikai tágozat):
- Truyền dữ liệu ( tápközlés és Adatátvíteli tágozat)
- Truyền hình (Televívizió és Műszór közlés tágozat)
- Vi sóng (Microhullám tágozat)

Tám anh em chúng tôi VK72/BME 2 năm đầu học trong 2 lớp cùng với các bạn Hung: lớp 1: Dũng, Hữu, Sơn, Quang; Lớp 2: Bạch, Thọ, Thuận, Hải. Khi phân chuyên ngành, tôi chuyển về học chung với với 4 anh ở lớp 1, học về Kỹ thuật số máy tính ( Digitalis Szamitástechnikai tagozat).


Tấm ảnh trên:
- Hàng 1 và 2: các giáo viên trong Szak
- Hàng 3: Lớp Digitalis, trong đó có 5 anh em VK72: Hữu(2), Hải(3), Sơn(10), Quang(13) và Dũng (cuối hàng)
- Hàng 4: Lớp Digitalis (không có VN)
- Hàng 5: lớp truyền hình: Khánh(4), Thanh Bình(8), Đức Vượng(13) và Quang Bình (15)
- Hàng 6: lớp Adatátvíteli: có 3 anh em VK72: Bạch(11), Thuận (13) và Thọ (15)
- Hàng 7, 8: lớp Adatátvíteli (không có VN)
- Hàng 9: lớp Microhullám tágozat: em Minh (9)
- Hàng 10: lớp Microhullám tágozat (không có VN).


Lớp 2 chúng tôi 3 năm đầu thường hay tổ chức đi du lịch Picnic chung mỗi năm 2 lần: đầu năm học và giữa học kỳ II. Do vậy 4 anh VK72 Bạch, Thọ, Thuận, Hải thường đi chung du lịch hàng năm. Ở lớp 2 này có nhiều chàng trai(không nhớ hết tên) và 2 cô gái Hung đó là cô Györe Emilia và cô Rozsa.


Thuận, Györe Emilia, Rozsa và Bạch

Đáng lẽ ra mỗi lần đi du lịch với lớp như thế này là một dịp tốt để giao lưu tiếng Hung với các bạn Hung trong lớp, song anh em VK thường hay tụ tập với nhau, nên tiếng Hung cứ “cùn” mãi. Chuyện ăn uống trong mỗi chuyến picnic một phần tôi đã kể trong bài trước ở hầm rựu Eger, bài này điểm thêm một số chi tiết nhỏ. Mỗi chuyến du lịch anh em Việt Nam thường mang theo vài chai “Lúa mới”, loại này bọn Tây rất khoái, chúng cứ dốc cả chai để tu mà không say. Vì tất cả đều là sinh viên nghèo nên chuyện ăn uống nói chung là phụ, các bữa ăn đều qua loa cho xong bữa (cơ bản là ăn đồ nguội).

Nước Hung tuy nhỏ nhưng có nhiều địa điểm thăm quan du lịch. Đặc trưng của các dịch vụ du lịch ở Tây là vào thăm các bảo tàng, các thành quách cổ kính, các nhà thờ… Ít khi xem các trò chơi như ở các nước ĐNA mình (ví dụ như ở Thái Lan). Đến các điểm du lịch mọi người thường mua bưu ảnh gửi cho bạn bè giới thiệu thắng cảnh nơi mình đã đặt chân tới. Do có phong tục này nên hồi mới sang tôi nhận được nhiều bưu ảnh của cô y tá Mártika gửi cho (xem tại: CHUYỆN VỀ EM Y TÁ MÁRTIKA ) và bị Trưởng đoàn nhắc nhở. Vào các bảo tàng bọn Tây rất chăm chú quan sát và tỏ vẻ thích thú, anh em mình thường tụ vào nhau hoặc là chụp ảnh, hoặc nói chuyện. Vì thế đã đi qua bao nhiêu thắng cảch đẹp của Hungary mà chẳng nhớ gì nhiều về những nơi đã từng đến. Trong những vị trí chúng tôi đã đi qua có 3 nơi tôi nhớ nhất đó là: Hồ Balaton, Hầm rựu Thành Eger, Nhà thờ Esztergom. Mặc dù trong chiến tranh cách mạng Pháp quân đội của Napoléon Bonaparte không vào chiếm đóng ở Hungary, nhưng nhiều bảo tàng của Hungary vẫn giới thiệu nhiều hiện vật và hình ảnh liên quan đến Napoleon (Trong thời gian Hội nghị Wien đầu thế kỷ 19, Napoleon mời Hungary tham gia trong tổ chức “Áo-Danmạch”, công nhận Hungary là một vương quốc độc lập dưới sự giám sát của Pháp bên cạnh các cạnh các nước Balkan).




Györe Emilia



Trong lớp Dígitális của chúng tôi có em Emilia xinh xắn và hiền. Mọi việc ‘cơm áo gạo tiền” đều do em lo giúp, đặc biệt là những lần đi du lịch. Các bạn nam rất quý em Emilia. Ngoài ra còn có em Rozsa hay chơi với em Emilia, nên trong nhiều sự kiện đều có hiện diện của 2 em.

Nhớ có lần đi Balaton vào cuối hè, đến nơi các nhà nghỉ vắng tanh, các bãi tắm không một bóng người, buổi tối cả lớp nghỉ tối trong một nhà nghỉ cạnh hồ. Con trai, con gái ngủ chung trên sàn nhà, không phân biệt nam nữ, khách, ta. Hôm đó em Emilia dẫn người yêu đi theo. Hai người cứ ôm nhau ngủ như trên trái đất này chỉ có 2 người vậy! lần đó nằm gần cứ nghe tiếng “loạt soạt” với “mùi hương lạ” làm tôi không sao ngủ được. Kỷ niệm này đã mấy chục năm rồi tôi vẫn nhớ mãi… Xin chép mấy câu thơ “tự bạch” hoài cổ về một thời:






Ngày xưa như “tờ giấy” trắng tinh
Chỉ lo rèn luyện, lo học hành
Như “kẻ tu” bốn mùa mưa nắng
Trong mấy bức tường… chỉ quẩn quanh

Phí một thời thiếu vắng yêu đương
Cứ ngờ nghệch như nai lạc lối
Không bực tức và không hờn dỗi
Cuộc sống bình bình chầm chậm trôi…

Giá cuộc đời cứ vậy có hay không
Sao giờ đây lắm điều rắc rối?
Cái tham lớn dần chặn đường, ngáng lối
Làm lòng người cứ lách đuổi theo!

Nhớ thời sinh viên thật đáng yêu
Vô tư không phân biệt giàu nghèo
Du lịch chung, chung giường, chung bát
Chén rựu uống chung thật ngọt ngào.

Mấy chục năm rồi chẳng thể quên
Đã thành máu đỏ ở trong tim
Các bạn Hung không còn nhớ mặt
Chỉ nhớ một người đó là em



Cột TV ở TP Pécs

Du lịch cùng lớp đại học còn đến nhiều nơi trên đất nước Hung. Có một thành phố chúng tôi đã đến đó là thành phố Pécs. Tại đây tôi có dịp gặp lại người con gái kinh Bắc khi tôi mới sang Hung hỏi tôi “anh có phải là người Việt Nam không ạ? Mà tôi đã kể ( ở đây: ANH CÓ PHẢI LÀ NGƯỜI VIỆT NAM KHÔNG Ạ?). Nơi lớp tôi nghỉ qua đêm lại cạnh ký túc xá đại học Y Khoa ở Pécs, nơi em ấy học. Ngày đó tôi đã “liều mình” đến tìm em để trò chuyện.

Du lịch ở Pécs lần này tôi có làm mấy câu thơ, xin sao trích lại:

BÀI THƠ VỀ PÉCS (trích)

PÉCS!
Ở với anh hai ngày
Ánh nắng thơm và say
Trở lại Budapest
Pécs vẫn còn đâu đây…

Pécs! Quê anh đẹp lắm
Pécs có nhiều lány xinh
Chăm làm và hay hát
Trông thật hiền, dễ thương

Xe lượn vòng quanh núi
Trườn lên đỉnh đèo cao
Nhà chọc trời thấy thấp (*)
Thành phố trong tầm mắt
Đẹp, thanh bình, bao la…

Pécs! trời chiều yêu quá
Nhìn Pécs nhớ quê nhà
Thầm ước mong Pécs đó
Là thành phố của ta!
…….

Ở với Pécs 2 ngày
Xa Pécs nhớ và thương
Cột TV cao vút
Cứ bay nhảy chập chờn
Đây: đỉnh cao khoa học
Nhớ vươn lên, vươn lên… (**)


Pécs, ngày 29, 30/3/1976
……………………..
(*) Ngày đó chỉ cần nhà cao 9, 10 tầng là thấy “chọc trời” rồi
(**) Thời đó còn “cách mạng” lắm, thấy cột TV hùng vĩ mà ước mơ vươn tới đỉnh cao khoa học.
(còn tiếp)
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 878
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 21.11.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

r3. Chuyện du lịch hàng năm với bạn cùng lớp (tiếp theo)

Tôi xin post tiếp một số hình ảnh thời sinh viên cùng đi picnic với các bạn Hung. Giá như Đinh Ích Bạch, Bùi Thế Thọ, Nguyễn Đình Thuận cùng lớp với tôi thời đó có vài comment lên 4rum của VNKATONÁK thì hay biết chừng nào, bổ sung cho nhau những điều tôi quên (Ba người này đều từng là giáo viên, đặc biệt đ/c Thuận vừa rời khỏi học Viện KHQS một năm nay và đang nghỉ hưu, thời gian thoải mái! Các đ/c chí chẳng hiểu sao ngại bày tỏ vậy?)
Thôi thì mình cứ xới lên cái đã…


Thầy giáo Trợ Giảng (không nhớ tên) thường đi với lớp trong mấy năm đầu. Trong những cuộc du lịch bao giờ thầy cũng có mặt.


Anh em trong lớp leo lên một “chòi canh” hay “chòi câu cá?” cạnh hồ Balaton để chụp ảnh. Từ trái sang phải: Thọ, Bạch, Hai bạn Hung không nhớ tên, Phan Hải, Papp Jolván, Szűcs Imre và Györe Emilia

“Có phải vô tình nên tôi cứ nhớ”
Những dịp thế này được ngắm nhìn ai?
Thời gian trôi bâng khuâng về một thuở
Thầm thích ai mà sao nhớ, nhớ hoài? batting eyelashes






Trong ảnh trên có bạn Szűcs Imre, người học giỏi nhất lớp. Rất thông minh và nhanh nhẹn. Có vấn đề gì thầy giáo nêu lên, chưa ai hiểu gì thì Szűcs Imre đã có ý kiến trước, kể cả thầy giáo cũng thán phục. Các bạn Hung tôi nhớ nhất 2 người đó là anh bạn này và cô Emilia. Trong ảnh còn có anh Bạch đang chống cằm, P. Hải đang mầy mò gì đó




Du lịch về mùa đông trên Hồ Balaton. Hai bạn Hung nay quên tên. Nếu Thọ còn nhớ bổ sung giúp


Györe Emilia và các bạn đang chờ đợi những người tới muộn…(Tại Mickolc?)


Györe Emilia đang tựa vào vai người yêu ngủ trên xe một trong những chặng du lịch xa


Một bạn đang ôm tượng hai mẹ con… (Kovács Ferenc?)


Hải, Thọ, Bạch chụp bên một biểu tượng ở TP Miskolc


Du lịch trên suối? Bạch, Hải, Thọ (đoàn khác). Ai biết chỗ này là đâu xin bổ sung giúp địa chỉ, köszi!


Những điểm cất giữ hiện vật tranh ảnh lịch sử như thế này ở Hung thường gặp mọi nơi.


Sau đây giới thiệu một số ảnh sưu tầm về TP Miskolc, Pécs, Balaton…


Bản đồ vị trí một số điểm (chưa nhớ hết) du lịch đã đến trong những năm 1973-1978 ở Hungary.

TP. MISKOLC

Huy hiệu Thành phố (Miskolc címere)


Tháp truyền hình TP Miskolc

src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/50/CityHallMiskolc01.jpg" width="640" height = "515" border="0" />
A miskolci városháza a Városház téren


Az avasi templom mellett álló harangtorony


Kollégium az Egyetemvárosban


1-es és 2-es villamos a Széchenyi utcán


Miskolci Nemzeti Színház


HÁMORI TÓ


Miskolc tapolca (Hungary)


Thác nước ở Miskolc


Một bảo tàng tại Miskolc


TP Miskolc


Levay Villa Hotel Miskolc


TP. PÉCS


Huy hiệu Thành phố (Pécs címere)


Régi városfal Pécs belvárosában



Nhà thờ Pécs (Pécs Nhà thờ St Peter và St Paul, được gọi là vártemplomnak), được xây dựng trong thời gian vua Saint Stephen, trải qua nhiều thế kỷ phong rêu. Việc xây dựng lại mới giữa 1882-1891 do Kiến trúc sư Frederick Schmidt và giữ được hình thức kiến trúc đến hiện nay. Nhà thờ được UNESCO công nhận di sản thế giới. Nhà thờ của Pécs là nhà thờ đầu tiên trong cả nước, được trang bị của hệ thống điều hòa không khí để ngăn chặn sự xuống cấp theo thời gian.
Năm 1990, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong chuyến thăm Pecs đã đến thăm tòa nhà thờ này.


Phía trong nhà thờ



Pécs legismertebb dzsámija hoặc có tên là Giáo hội của Đức Mẹ mang kiến trúc Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ, một công trình hoành tráng nhất Hungary, một trong những biểu tượng của Pécs. Nhà thờ Hồi giáo được xây dựng từ 1543-1546 bởi Gazi Kasim. Kích thước của chiều dài và chiều rộng của 100 bước. Ngày nay Giáo hội Công giáo hoạt động trở lại và mở cửa cho du khách thăm quan.


Một góc TP Pécs


Cờ Tây dưới nước ở Pécs


A 2010-ben épült tudásközpont
Thư viện và Trung tâm Tri thức Khu vực Nam dunántúli, một trung tâm văn hóa trong thị trấn Pécs. Trung tâm này cung cấp thông tin cho vùng Nam dunántúli và đáp ứng yêu cầu tài liệu, cũng như các cộng đồng, tổ chức các chương trình văn hóa, và giải trí, hơn 13 ngàn mét vuông mặt bằng, với bốn tầng xây dựng. Tòa nhà đã được thiết kế với khán phòng 100 chỗ ngồi và một phòng hội nghị, cũng như với các phòng nghiên cứu và các máy trạm truy cập Internet. Thư viện mở cửa 84 giờ một tuần, mỗi ngày từ tám giờ sáng cho đến tám giờ tối và mở cửa cả vào các ngày thứ Bảy và Chủ Nhật. Tại tất cả các điểm của tòa nhà với mạng wifi miễn phí có sẵn, và gần 300 máy tính có sẵn cho người đọc.
(theo Wikipédiá)


A pécsi Megyeháza - Trung tâm hành chính Pécs


Zsolnay-kút a Széchenyi téren (Zsolnay Vilmosalkotása 1900 körül)
Đài phun nước Pécs Zsolnay nổi tiếng nhất ở phần phía nam quảng trường Széchenyi. Được thực hiện trong nhà máy Zsolnay năm 1912. Do Chiến tranh Thế giới thứ nhất, công trình này được lưu trữ trong một nhà kho trong suốt18 năm, và cuối cùng vào năm 1930 đã được lắp đặt trở lại ở phía trước của nhà thờ Phaolô.


A pécsi Főpályaudvar


Pécs-Pogány repülőtér


A Magyar Tudományos Akadémia pécsi épülete


A Pécsi Nemzeti Színház épülete


Thành phố Pécs

HỒ BALATON

Balaton – Một phần cảnh hồ


A Balaton eső előtt hattyúkkal


A Balaton a Badacsonnyal a háttérben


A Balaton vizét a Sió vezeti le a Dunába


Bivalyrezervátum Balatonmagyaródnál
Trâu Hungary không xâu lỗ mũi!








BALATON-TIHANY (4/2005)


batting eyelashes [/code] angry


Được sửa chữa bởi Haidq ngày 22.11.2012, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
VKHCM
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Jan 31, 2006
Bài gửi: 377

Bài gửigửi: 22.11.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Mời bác Haidq cùng anh em
đoàn 72 cùng tham gia hát bài này
mỗi khi gặp nhau cho vui bác hè.
Dalszöveg
Száz forintnak ötven a fele,
Egye meg a fészkes fekete fene.
Nem lehet az ember fából,
Ki kell rúgni a hámfából.

Még azt mondják részeges vagyok,
Pedig csak a jó bort szeretem nagyon.
Megverem a csizmám szárát,
Csókolom a babám száját.

Bakkecskének nagy szakálla van,
Az én anyósomnak nagy pofája van.
Rusnya állat mind a kettő,
Verje meg a jeges eső!

Még azt mondják részeges vagyok,
Pedig csak a jó bort szeretem nagyon.
Megverem a csizmám szárát,
Csókolom a babám száját.

szóló...

Száz forintnak ötven a fele,
Egye meg a fészkes fekete fene.
Nem lehet az ember fából,
Ki kell rúgni a hámfából.

De a Bak Lacinak nagy pofája van,
Az ő anyósának nagy szakálla van.
Jó barátom mind a kettő,
Verje meg a jeges eső!

Még azt mondják részeges vagyok,
Pedig csak a jó bort szeretem nagyon.
Megverem a csizmám szárát,
Csókolom a babám száját.

Száz forintnak ötven a fele,
Egye meg a fészkes fekete fene.
Nem lehet az ember fából,
Ki kell rúgni a hámfából.

2x:

Még azt mondják részeges vagyok,
Pedig csak a jó bort szeretem nagyon.
Nem lehet az ember fából,
Ki kell rúgni a hámfából.
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 878
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 22.11.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Trích dẫn:
VKHCM đã viết: Mời bác Haidq cùng anh em
đoàn 72 cùng tham gia hát bài này
mỗi khi gặp nhau cho vui bác hè.....


@Anh Kơ ơi, VK72 chỉ có @khanhque thỉnh thoảng lướt mạng một chút, nhưng nay cũng lăn mất tăm rồi, nên "dàn đồng ca" mà @VKHCM mong muốn khó thành lắm.

Dù sao cũng Köszi thầy Kơ đã cho anh em thưởng thức giai điệu dân ca Hung. big grin
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 878
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 22.11.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Trích dẫn:
nqbinhdi-beke đã viết:
Trích dẫn:
Haidq đã viết:
Em Tâm ngày xưa ở B7/OTK, vợ anh Bích làm cơ khí ở A10. Không biết @HUUAI còn nhớ nữa không? Sau khi rời khỏi nhà máy, Tâm bán vé máy baycho Hãng Vietnam Airline ở góc Quang Trung giáp với Tràng Thi, rồi sang Hungary làm bạn với anh Thuỷ? Tháng 4/2005 sang bên đó tôi cũng không còn nhớ nổi, bởi Tâm thay đổi nhiều. Không biết bây giờ thế nào? 7 năm rồi mà…


Anh PH ơi,

Anh đăng ký vào Facebook, trên FB thì nickname của cô Tâm là An An Dieu

Chúc anh kết nối lại với nhiều bạn bè, người quen cũ bên Hung trên FB.


Beke ơi, có lẽ An An Dieu trên Facebook không phải là em Tâm mình kể ở trên. Cảm ơn Beke!
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
nqbinhdi-beke
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Sep 02, 2006
Bài gửi: 685

Bài gửigửi: 23.11.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Trích dẫn:
Haidq đã viết:
Trích dẫn:
nqbinhdi-beke đã viết:
Trích dẫn:
Haidq đã viết:
Em Tâm ngày xưa ở B7/OTK, vợ anh Bích làm cơ khí ở A10. Không biết @HUUAI còn nhớ nữa không? Sau khi rời khỏi nhà máy, Tâm bán vé máy baycho Hãng Vietnam Airline ở góc Quang Trung giáp với Tràng Thi, rồi sang Hungary làm bạn với anh Thuỷ? Tháng 4/2005 sang bên đó tôi cũng không còn nhớ nổi, bởi Tâm thay đổi nhiều. Không biết bây giờ thế nào? 7 năm rồi mà…


Anh PH ơi,

Anh đăng ký vào Facebook, trên FB thì nickname của cô Tâm là An An Dieu

Chúc anh kết nối lại với nhiều bạn bè, người quen cũ bên Hung trên FB.


Beke ơi, có lẽ An An Dieu trên Facebook không phải là em Tâm mình kể ở trên. Cảm ơn Beke!


Chắc là đúng chứ anh PH. Em đã post cả ảnh của em Tâm mà anh gửi lên đây lên trên FB và chính em Tâm (An An Dieu) đã xác nhận đó là ảnh em ấy mà. Ai lại đi nhận bừa ảnh chứ?
_________________
Amikor hazamentem a szívemet orokre Budapesten hagytam.
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 878
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 23.11.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Trích dẫn:
nqbinhdi-beke đã viết:
......
Chắc là đúng chứ anh PH. Em đã post cả ảnh của em Tâm mà anh gửi lên đây lên trên FB và chính em Tâm (An An Dieu) đã xác nhận đó là ảnh em ấy mà. Ai lại đi nhận bừa ảnh chứ?




Nhìn tấm ảnh An An Dieu chụp ở Nga thì không giống lắm, nhưng thấy có Bích Ngọc Vũ làm bạn vơi An Diêu thì mình tin là đúng rồi, cảm ơn Beke.
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> NĂM 1972 Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 19, 20, 21 ... 35, 36, 37  Trang kế
Trang 20 trong tổng số 37 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser