vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - VK1972: BỐN MƯƠI NĂM ẤY TRÀN ĐẦY TÌNH XƯA...
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

VK1972: BỐN MƯƠI NĂM ẤY TRÀN ĐẦY TÌNH XƯA...
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 5, 6, 7 ... 35, 36, 37  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> NĂM 1972
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 877
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 24.08.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Gửi @Hey_Miki:

… Em sẽ chào và vẫy tay, nhưng nếu không thấy thì Em sẽ là nước, là lửa, là cơn gió-luôn theo, là bóng tối, là ánh sáng, khi đó anh không thể biết…
(hết trích)

“Em sẽ là NƯỚC”
Nghĩa là tên em sẽ là sông, là biển?
Là tên sông có đến vạn tên sông:
Lam, La, Hà hay Thuỷ, hay Hồng,
Lục Bình, Hương, Hàn hay Mê Công, Dương Tử?…
Tên là Biển chẳng lẽ trùng tên tớ
HẢI dương mênh mông không bến, không bờ
Em là nước nghĩa tên em là THUỶ…
Là cội nguồn của những ước mơ?

Em là LỬA, không ai tên là Lửa bao giờ
Lửa là tính tình em đó?
Là lòng nhiệt tình vốn có của người ngay
Em là GIÓ vờn cao trên mây
Tên em là VÂN mỗi người vẫn gọi?
“Là ánh sáng, là bóng tối”
Đích không phải tên người
Chỉ là nơi khi vui, buồn em né tránh…

Anh chịu thua rồi, anh không thể đoán
Trong hàng vạn cái tên biết chọn tên nào
Nếu có ngày hai đứa gặp nhau
Nhìn ánh mắt, thấy tên em trong đó.

batting eyelashes batting eyelashes batting eyelashes
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 877
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 25.08.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CHUYỆN VỀ HÈ…(tiếp)

CHUYỆN VỀ HÈ…-1. Lên tàu; -2. Tạm trú tại Mockova
CHUYỆN VỀ HÈ…- 4. Trên đường trở lại Budapest


3. Trên đường về quê Đô Lương

Rời ga Bằng Tường, tàu xuyên qua mấy dãy núi là vào đất Việt Nam thân yêu. Ga đầu tiên của Tổ quốc hình chữ S là ga Đồng Đăng, Kỳ Lừa, Lạng Sơn. Ngày đó đất nước mình còn nghèo, nên tàu hoả trông cũng tiêu điều, nhếch nhác lắm. May mà đi tàu liên vận có phần đỡ hơn. Ở lại Hà Nội mấy ngày giải quyết thủ tục truy lĩnh, học chính trị rồi ai nấy về quê thăm gia đình. Tôi không có người nhà ở Hà Nội nên ở lì trong Trạm 66, Phan Đình Phùng trong một tuần chờ đợi. Xe đạp Sputnhik được lắp lên để đi lại ở Hà Nội và cùng hành trình về Đô Lương quê tôi.

Tàu nhanh Hà Nội-Vinh thường đỗ các ga chính như Phủ Lý, Nam Đinh, Ninh Bình, Thanh Hoá, riêng ở Nghệ An có 2 ga là Ga chợ Si và ga Vinh. Từ ga Si về Đô Lương (ĐL) chỉ khoản 35km, nhưng từ Vinh về phải xa gần gấp đôi, khoảng 65 km. Vì gửi xe đạp theo tàu nên phải xuống ở Ga Vinh. Ngày đó vừa thoát ra khỏi chiến tranh nên đi lại gặp nhiều khó khăn. Từ Vinh về ĐL xe khách mỗi ngày chỉ có mấy chuyến, lại khó mua vé nên tôi quyết định đi xe đạp về nhà. Mọi hành lý được chất lên xe thế là túc tắc đạp từ Vinh về ĐL. Lần ấy nếu thông minh hơn, chịu xa hơn 10km thì từ Vinh đạp ngược theo đường 1 ra Diễn Châu, từ Diễn Châu đạp về ĐL theo đường 7 thì khoẻ. Nhưng tôi không chọn đường đó. Tôi quyết định từ Vinh qua Hưng Nguyên, Nam Đàn, bám theo đường 46 và đường 15 về ĐL. Đây là một quyết định sai lầm vào thời đó, một tính toán không căn cứ vào tình hình hiện tại, vào hậu quả chiến tranh để lại chưa được hàn gắn!

Tàu về Vinh từ sáng sớm, sau khi buộc kỹ hàng lên xe đạp, ăn uống qua quít, khoảng 6h sáng xuất phát về ĐL. Qua Hưng Nguyên, Nam Đàn dọc theo đường 46 có nhiều ổ gà, “ổ trâu” nhưng vẫn vượt qua bình thường. Đến ngã 3 có 2 lối rẽ, một theo đường 46 đi tiếp về Đô Lương qua Thanh Chương, một theo đường 15, đường bị địch đánh phá nhiều trong chiến tranh. Trên tuyến đường này có một địa danh lịch sử đó là Truông Bồn, Tại đây, ngày 31/10/ 1968, 13 chiến sĩ của Đại đội Thanh niên xung phong 317 đã cùng lúc anh dũng hi sinh khi tuổi đời còn rất trẻ (17 - 22 tuổi). Truông Bồn đã được công nhận là di tích lịch sử Quốc gia. Đi về ĐL theo đường 15 gần hơn đường 46 qua Thanh Chương khoảng 6-7 km gì đó. Đi xe đạp cứ chọn đường gần đi cho khoẻ. Rẽ vào đường 15 được chừng 25km, nằm trong địa phận Đô Lương thì gặp sự cố. Đi trên đoạn đường này tôi đã nghờ ngợ là tại sao không gặp người qua lại, đường có vẻ lâu ngày không có vết xe qua, thế nhưng không có biển cảnh báo đường bị hỏng nên tôi vẫn cắm đầu đi. Khi gặp sự cố mới biêt đường bị bỏ từ lâu do có hố bom đúng giữa tim đường, hai bên là chướng ngại vật (độc đạo), sau chiến tranh đơn vị giao thông chưa khắc phục để thông đường. Một bài toán đặt ra, hoặc là đạp xe trở lại, hoặc là tìm cách vượt qua hố bom. Cuối cùng tôi quyết định tháo hàng xuống, chia thành từng gói nhỏ, với chiếc quần cộc lội qua hố bom. Sức trẻ và tiếng gọi của “một hình bóng người trong mộng” đã cho tôi nghị lực vượt qua (chuyện “người trong mộng” có dịp tôi sẽ trở lại sau). Đường kính hố bom chỉ hơn 10m mà phải “đi qua” mấy tiếng đồng hồ! Về đến nhà thì trời vừa tối. Bao nhiêu năm rồi hôm đó là ngày vất vả mệt nhọc nhất.


Di tích lịch sử Quốc gia Truông Bồn


Chuyện chưa kể về 18 cô gái Truông Bồn


C317 đang san lấp hố bom tại Truông Bồn


Vót cọc tiêu dẫn xe qua Truông Bồn (1968) ở đại đội TNXP 317


Xe-anh-Qua- Quyết chiến điểm Truông Bồn



Phong cảnh dọc đường 46 trong thời bình, đoạn qua huyện Thanh Chương, đường chạy dọc theo sông Lam.



Về đến nhà gặp lại Bố Mẹ mừng vui khôn xiết, nhìn Bố Mẹ gầy yếu mà lòng se thắt lại. Nhà tôi bị bom Mỹ đốt cháy 2 lần, lần thứ nhất tháng 6/1968, lần thứ 2 tháng 8/1972. Trong chiến tranh, huyện Đô Lương có 2 xã được xem là trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ, đó là xã Tràng Sơn và xã Lưu Sơn quê tôi. Xã Trang sơn có một số mục tiêu quan trọng như cầu Bara, Xưởng cưu, cầu Mụ Bà (giáp với xã Đông Sơn). Các mục tiêu trọng điểm bị máy bay Mỹ ném bom thường xuyên ở Xã Lưu Sơn quê tôi lại nằm hoàn toàn trong làng Diên Tiên, nơi nhà tôi ở. Những mục tiêu trọng điểm ở Diên Tiên đó là bến phà ĐL nối liền 2 bờ sông Lam trên tuyến huyết mạch giao thông Đường số 7 sang Lào (xuất phát từ Diễn Châu cắt với đường số 1) và Kho Chợ Sỏi, là kho chứa lương thực của toàn huyện Đô Lương. Lần đầu tiên giặc Mỹ ném bom xuống Đô Lương chính là ném vào kho Chợ Sỏi ngày 19/3/1965. Còn bến phà ĐL thì thường xuyên hứng chịu bom đạn.

Nhà cháy lần đầu tôi còn được chứng kiến, nhà cháy lần thứ hai tôi đang ở Bình Đà/Hà Tây để học chính trị chuẩn bị sang Hungary. Hai lần phải làm lại nhà nên sức khoẻ Bố Mẹ giảm sút do làm việc quá sức. Sau 2 năm lao động cật lực, lại phải ở trong cái lán làm tạm thấp ẩm, nóng nực nên Bố Mẹ già đi nhiều. Hai năm tằn tiện chắt bóp chỉ đủ để mua một căn nhà gỗ ở tạm. Đầu năm 1974 Bố quyết định mua nhà cũ ở xã Giang Sơn, cánh nhà tôi 15 km và thuê xe bò chở về. Đến đầu cầu Bara, xe bò không qua được vì cầu bị bom đánh sập, nên toàn bộ căn nhà gỗ được xếp xuống mặt đê sống Đào. Bố tôi và cô em gái phải vác cả cái nhà qua cầu phao cạnh đó (thay thế cầu Bara bị sập). Sông đào rất dốc và sâu, đường xuống cầu phao trơn, gập ghềnh, người đi không còn khó khăn, nói chi việc vác cả cái nhà gỗ qua sông! Qua đợt chuyển nhà này Bố tôi bị ốm nặng.



Đập nước Bara/Đô Lương, công trình do Pháp xây dựng, có chức năng dâng cao mức nước để nước sông Lam
chảy vào sông Đào, cung cấp nước tưới tiêu cho các huyện Yên Thành, Diễn Châu.


Anh trai hồi đó đang học tại trường Đại học Cơ Điện Thái Nguyên. Hai anh em cùng nghỉ hè giúp Bố Mẹ tôi dựng lại ngôi nhà gỗ, ngôi nhà do Bố và em tôi vác qua cầu phao sông đào trước đó 5 tháng:


Trong ảnh: Anh trai Phan Sơn (cạnh thang gỗ), 2 anh con bác ruột Phúc (đeo vỏ máy ảnh) Lộc (đội mũ), một chú em con dì ruột Bính (tựa cột) đang dựng lại nhà

Cảm xúc khi ngôi nhà vừa được dựng lại, ngày đó tôi có làm bài thơ dài, xin trích một đoạn:

…Và hôm nay,
Mái nhà tranh lại được dựng lên
Nhộn nhịp màu xanh, màu cuộc sống
Trái tim Mẹ lại toả ngàn hơi ấm
Mẹ đón con về, Mẹ đánh nhẹ lưng con:
“Thằng Cu Em mi lớn quá chừng (*)
Mi là bộ đội, năng nhìn mi khờ rứa…”
Con đứng bên Mẹ lòng bâng khuâng khó tả
Chẳng nói nên lời
Và thẹn thùng giữa những nụ cười vui…

Lưu Sơn, Ngày 10/7/1974

-----
(*) Hồi tuổi thơ, trong nhà mọi người gọi tôi là Cu Em, anh Sơn tôi là Cu Anh.


Như đã nói ở trên, do chuyển nhà qua sông đào, Bố bị kiệt sức, nằm ốm dài ngày trước đó cho đến lúc tôi về hè bố vẫn bị ốm. May là trong đợt nghỉ phép này, qua Liên Xô tôi mua cho Bố một chiếc đài bán dẫn VEF206, dùng 4 pin đại.


Radio VEF206 của Liên Xô

Nhờ có cái Radio này hàng ngày làm bạn với Bố, nên Bố đỡ buồn. Những hôm làm nhà, trời mưa, Bố dậy đi lại làm những việc lặt vặt cho vui. Tôi sợ Bố ốm thêm, bảo Bố cứ nằm nghỉ, các việc để chúng con làm. Bố không hiểu ý, bố giận và bảo: Ừ bây giờ tôi nằm một chỗ, không làm được gì… Khi quay trở lại Hungarry tôi cứ ân hận mãi, tôi đã làm cho Bố không vui vì câu nói vô tình làm Bố hiểu sai ý.

Nhà gỗ mua sẵn, chỉ dựng lại nên khoảng 2 tuần là xong. Trong những ngày hè còn lại tôi dành nhiều thời gian cho Bố. Tôi thường ngồi cạnh Bố tâm sự, kể cho Bố nghe những câu chuyện về một vùng đất xa xôi, thủ đô Budapest nơi tôi đang học tập; Bố nói cho tôi nghe về những ngày gian khổ khi nhà bị cháy lần thứ 2. Khi cháy nhà lần này Bố chỉ còn cái quần đùi mặc trên người. Bà con hàng xóm cưu mang đùm bọc, đó là bà Chắt Long cho ở nhờ, Ông Hùng Từ cho quần áo, rồi nồi niêu xong chảo, đồ dùng trong nhà mỗi người giúp đỡ một thứ. Thời điểm cháy nhà lần này ở nhà neo người, 2 anh em trai lớn thì đi học, chị thứ 3 đi TNXP bên Lào, chỉ còn lại 3 em gái nhỏ, cô út Thanh mới 7 tuổi, cô Hồng kề út 9 tuổi nên mọi công to, việc lớn đều tập trung vào Bố Mẹ và cô Lai 13 tuổi. Bố kể về chuyện hoc tập của các em; chuyện em Thái đòi tự nguyện đi thanh niên xung phong làm đường bên Lào như thế nào; chuyện bà con trong làng, chuyện hợp tác xã… rồi đến cả chuyện chính trị (Bố rất quan tâm tình hình chính trị của VNCH trong miền Nam).

Còn nhớ năm 1970 khi tuổi 17, tôi nhập ngũ và được điều về học nghề cơ khí tại một xưởng quân giới sửa chữa sùng pháo, xưởng X41-QK4. Lần đầu tiên xa Bố Mẹ, xa các em, xa quê hương… tôi viết thư cho Bố Mẹ và bảo là rất nhớ nhà. Bố đã viết thư khuyên tôi bằng một bài thơ rất cảm động:

KHUYÊN CON

Khuyên con lòng dạ tạc nghi
Phấn đấu, rèn luyện những gì Cha răn:
Học là không phải chữ không
Học trung, học hiếu học công mới tài
Thủ công nghiệp là việc bằng tay
Học cơ khí hoá là hay cho đời
Học sao cho kịp được người
Vệ tinh nhân tạo lên trời thử xem!

Nhà ta ngay xã Lưu Sơn
Giận quân tàn bạo là phường Mỹ kia
Con rằng có nhớ năm tê
Nhà ta giặc đốt mọi bề tan hoang?
Con yêu nếu nhớ xóm làng
Trừ xong giặc Mỹ lên đường về thăm.

Nhà ta từ Bắc, chí Nam
Quê ta bốn biển, sông Lam, sông Hồng
Ta là dòng giống Lạc Long
Có Lịch sử bốn ngàn năm lẫy lừng
Con rằng có nhớ Hiếu-Trung
CÔNG CHA như nước biển không đong
NGHĨA MẸ phải nhớ trăm năm không mờ
Nơi xa Bố Mẹ mong chờ
Trưởng thành, khôn lớn từng giờ nơi con
Đường đi trời biển nước non
Theo đường chính nghĩa lối mòn con đi.

Lưu Sơn, tháng 12/1970
Cha: Phan Văn Minh


Sau này những lúc khó khăn, những lần vấp ngã tôi luôn lấy bài thơ khuyên con của Bố để soi lại mình. Tôi không ngờ rằng cái hè năm đó lại là lần cuối cùng tôi được gặp Bố, được ngồi nói chuyện nhiều với Bố. Cái ốm dai dẳng, con cái lớn đi xa (có phần vô trách nhiệm), tiền không có nên tuy là bệnh không hiểm nghèo mà vẫn không cứu được Bố. Đúng 29 tết (năm thiếu thành 30 tết) năm đó năm giáp tuất (1974) Bố tôi không qua được tuổi 49, bỏ lại Mẹ và 6 anh em chúng tôi để về với Tiên Tổ. Tôi nhận được tin Bố mất khi đã trở lại Budapest, đang bước vào học kỳ 2 năm thứ hai. Ngày đó tôi đã thức, đã viết nhiều, đã mất thăng bằng nhiều ngày. Các bạn VK động viên nhưng vẫn không thể vơi đi nỗi buồn và ân hận…

Khi tôi mới sang Hungary, anh tôi đang học ở Thái Nguyên, trong hoàn cảnh giặc Mỹ vừa ngừng ném bom Miền bắc sau trận “Điện Biên Phủ trên không” thua đau, phải ký Hiệp định Pari ngày 27/01/1973; có chú em vừa được ra nước ngoài học tập nên cảm xúc đã thăng hoa, anh làm bài thơ “Học đi em” để tặng tôi:

HỌC ĐI EM


Học đi em, học đi cho kỹ
Ghi sâu vào tâm trí đừng quên
Đất nước ta một dải nối liền
Có đồng lúa mênh mông cánh cò bay bổng
Có núi Trường Sơn cao, có sông dài biển rộng
Có 4 mùa xanh một màu xanh
Có cây sai trĩu quả trên cành..

Học đi em, học đi em hỡi
Giữa đêm dài em có nghe tiếng dội
Tiếng gọi cha ông: Lịch sử 4000 năm
Em có nghe sóng vỗ Bạch Đằng
Nhịp trống Quang Trung kéo cờ ra trận
Máu Xô Viết quê ta trào sôi uất hận
Từ Ba Đình Bác gọi chúng ta đi
Làm nên Điện Biên oanh liệt thần kỳ
Dệt những mùa xuân dập dồn chiến thắng

Hãy nhớ đi em từ than bùn cay đắng
Đảng đã cho ta tung cánh ngang trời
Hãy biết quý từng hạt gạo cầm hơi
Từng tấc đất giành trong bàn tay giặc
Ta đi lên bằng mồ hôi, nước mắt
Hai bàn tay không xây dựng cơ đồ
Đời còn nghèo cơm độn mỳ, ngô
Chưa ngon lắm còn rau dưa, bí đỏ

Em có thấy không
Quê hương ta, ruộng đồng ta đó
Vẫn đòn tre đè nặng hai vai
Vẫn con trâu cặm cụi kéo cày
Và chiếc gàu dai thay trời khi úng hạn
Thành phố của ta chưa lấy gì làm mĩ mạn
Còn ngọn đèn dầu thay bóng nê-on
Chưa huy hoàng như Cung điện Mùa đông
Chưa lộng lẫy như Kremlink, hay đô thành Budapest

Nhớ đi em bầy hung thần sấm sét
B52, “Cánh cụp”, “Con ma”
Đã trút xuống Hải Phòng, Hà Nội-Trái tim ta
Tiếng bom đạn xé màu xanh cuộc sống
Mỗi ngôi nhà ta xầy nền đổ móng
Mỗi khúc đê chắn nước sông Hồng
Mỗi nhịp cầu cho mạch máu ta thông
Đâu làm tội, làm tình chi chúng nó
Đẹp biết bao những em quàng khăn đỏ
Rất trong trắng hồn nhiên
Bỗng sáng mai giữa tiếng bom rền
Em không kịp một lời gọi mẹ…

Nhớ đi em, đừng quên em nhé
Nhà ta bom Mỹ đốt hai lần
Cha Mẹ ta phải tần tảo quanh năm
Đi nằng về sương vẫn nhọc nhằn vất vả
Lửa chiến tranh đã cướp đi tất cả
Từ bát nước chè xanh thơm hương vị đồng quê
Tiếng võng ru ta kẽo kẹt trưa hè
Đến sự đoàn tụ gia đình bên nồi cơm gạo mới.
Các bạn của ta những chàng trai trẻ tuổi
Giàu mơ ước hoài bão, tương lai
Sức thanh xuân hứa hẹn những nhân tài
Phải cầm súng xa nhà đi đánh giặc

Học đi em cả hai miền Nam Bắc
Đang chờ ta từng phút, từng giây
Đường đi lên dù lắm chông gai
Song nhất định đích cuối cùng sẽ tới
Hãy kiên trì, đừng chồn chân mỏi gối
Khoa học sẽ dành cho ta đỉnh tương lai
Anh tin rằng trong sự nghiệp nay mai
Sẽ có tên em - tên những nhà khoa học.

Phan Văn Sơn, thàng 01/1973.


Những vần thơ của Bố cũng như của anh tôi đã giúp tôi nhiều trong những năm tháng xa nhà, những ngày miều mài học tập và rèn luyện nơi xa; định hướng cho tôi trong những hành vi hàng ngày của cuộc sống…

(Còn tiếp)

Sau đây tôi post một số hình ảnh về một thời đạn bom và hoà bình ở Việt Nam nói chung và quê tôi nói riêng


(Khi có dự án xây cầu Đô Lương, phía tây lang tôi phải giải toả để làm đường dẫn lên cầu. Phía đông giữ nguyên hiện trang, trong đó có nhà tôi. Cột điện trong ảnh là cột điện tải đường dây thông tin từ bờ Nam sang bờ Bắc sông Lam. Ngày xưa thời chăn trâu cắt cỏ chúng tôi thấy nó cao lồng lộng, cả lũ thi nhau trèo lên đỉnh cột men theo dây chằng chịu lực, chứ không theo bậc của cột. Mỗi lần bố mẹ bắt được là mỗi lần bị ăn đòn! Thật liều lĩnh, nhưng có phần can đảm.


Bức ảnh được chụp từ trên cầu ĐL. Từ trên cầu nhìn rõ vị trí cầu pháo và bến phà xưa. Đây là bến phà chiến lược nằm trên tuyến huyết mạch giao thông chiến lược- đường 7 sang Lào.
Thị trấn về khuya không ánh lửa
Rì rầm phà chở pháo qua sông…
(thơ Trương Đăng Dung)


Một đoạn Video clip quay năm 2010: đứng trên cầu nhìn về dòng sông kỷ niệm thời thơ ấu.


Những hố bom đầy nước từ các cuộc tấn công của B-52 trên những ruộng lúa và vườn cây phía Tây Sài Gòn, 1966


Máy bay B-52 rải bom (750-pound) trên một khu vực ven biển Việt Nam trong cuộc chiến tranh Việt Nam, ngày 5/11/ 1965. (AP Photo USAF)


Máy bay tiêm kích F4 tiếp nhiên liệu trước khi đánh phá miền Bắc Việt Nam


Ném bom xuống VN


Một số loại bom đã được phát hiện ở phía tây của tỉnh Quảng Trị trong thời gian 1965-1972 (dấu hiệu Bomb Mỹ được viết trên quả bom).


01 Mar 1973, Hà Nội, Việt Nam: Cách tượng sau ném bom Khâm Thiên, một phần của Hà Nội ở Bắc Vĩ tuyến 21


01 Mar 1973, Hà Nội, Việt Nam: Người dân Việt Nam, trong số đó có nhiều trẻ em, đứng cạnh đống đổ nát với hố bom chứa đầy nước, bên những túp lều và những ngôi nhà bị chiến tranh phá hoại.


...................

CÁC BÀI LIÊN QUAN:
CHUYỆN VỀ HÈ… - 1. Lên tàu; - 2. Tạm trú tại Mockova
CHUYỆN VỀ HÈ…- 4. Trên đường trở lại Budapest


Được sửa chữa bởi Haidq ngày 08.10.2013, sửa lần 6
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2855
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 25.08.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Hajrá anh Hải !

Cũng như HuuAi, hồi bên Hung, tôi ngưỡng mộ anh nhất ở môn bơi.

Vào bể bơi Đại học Bách Khoa (BME), chúng tôi được miễn phí. Bể bơi không to lắm. Nếu tôi nhớ không nhầm thì chiều dài chỉ 33 m. Mùa hè cũng như mùa đông, không khí "tập tành" ở đây sôi sùng sục. Nhìn những bạn Hung, cả trai cả gái, bơi đi bơi lại như con thoi, chúng tôi rất "khớp". Tuy nhiên, một gương mặt VN tỏ ra bền bỉ và dẻo dai, đã giúp chúng tôi có thêm sự tự tin đẻ rèn luyện thân thể. Đó chính là anh Haidq. Anh còn giành giải nhất nhiều lần trong các cuộc thi bơi của sinh viên (chúng tôi chỉ dám "kính nhi viễn chi" đứng ngó thôi, đọ làm sao nổi với các bạn Tây cao lớn lừng lững, hai cánh tay quạt nước như mái chèo xuồng máy).

Ngoài bơi lội, anh Haidq cũng là một tay chơi xà đơn và chơi tạ chăm chỉ. Doanh trại Petofi có nhiều cao thủ trong hai môn này, như các anh Vũ Minh Trực, anh Thanh.... không kể xiết.

Đọc những ký ức của anh Haidq về quê hương, về những người thân trong gia đình anh, thật cảm động.

Nếu nói về "người méo mồm" thì tôi nhớ, anh Hữu Hữu của đoàn VK72 mới là người đó (anh Haidq ít hơn).

Mong sẽ được tiếp tục đọc các bài viết của anh Haidq.

PH
(szintén PH vagyok) laughing


Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 30.08.2012, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 877
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 26.08.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Trích dẫn:
PhanHong đã viết: Hajrá anh Hải !

Cũng như HuuAi, hồi bên Hung, tôi ngưỡng mộ anh nhất ở môn bơi.

... Tuy nhiên, một gương mặt VN tỏ ra bền bỉ và dẻo dai, đã giúp chúng tôi có thêm sự tự tin đẻ rèn luyện thân thể. Đó chính là anh haidq. Anh còn giành giải nhất nhiều lần trong các cuộc thi bơi của sinh viên
....
Ngoài bơi lội, anh Haidq cũng là một tay chơi xà đơn và chơi tạ chăm chỉ. Doanh trại Petofi có nhiều cao thủ trong hai môn này, như các anh Vũ Minh Trực, anh Thanh.... không kể xết.

Đọc những ký ức của anh Haidq về quê hương, về những người thân trong gia đình anh, thật cảm động.

Nếu nói về "người méo mồm" thì tôi nhớ, anh Hữu Hữu của đoàn VK72 mới là người đó (anh Haidq ít hơn).

Mong sẽ được tiếp tục đọc các bài viết của anh Haidq.

PH
(szintén PH vagyok) laughing




Như câu thơ tặng Hữu Ái, anh PH chép lại tặng em PH:

Cảm ơn chú đã khen anh
Làm anh phổng mũi biến thành “cà chua”!


@Kedves Phan Hồng,
Chú sang sau nên không biết cái vụ anh PH “phải gió” nên bị méo miệng, chuyện này mình đã kể lại trong Topic này (trang 1). Có lẽ anh Hữu chưa bao giờ méo miệng thì phải.

Anh em mình có duyên nợ gì mà có nhiều điểm gần tương đồng (anh thấy thế)?. Cùng sang Hung, cùng sống trong một doanh trại bộ đội, cùng học trong trường đại học BME rồi cùng thích bơi lội nà những sở thích khác nữa. Nghĩ vậy, tôi làm mấy câu cho vui tặng Hồng:


Chúng mình có mấy điểm chung
Họ Phan cùng Tộc, cùng vần cái Tên
PH dễ mấy ai quên
“Seri chuyện kể” anh em mong chờ
không cùng tuổi, không cùng giờ
Lại thích du lịch, hội hè quanh năm
Hỏi chú mày có đúng không?
U60 đến quả nhanh không ngờ!
Ngày nào còn dại, ngu ngơ
Giờ sắp lên lão, tuổi thơ xa dần…



Chuyện đi bơi ở bể bơi BME, chuyện mình trong đội tuyển bơi lội của Trường BME để thi đấu với các trường khác ở nội đô Budapest định có dịp sẽ kể lại, nhưng chú Hữu Ái, chú Phan Hồng đã nhắc, xin ôn lại một số hình ảnh của thời sinh viên đi bơi hầu chuyện mọi người. Đúng là 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông, trừ những lần rời xa Budapest, ngày nào tôi cũng tranh thủ đi bơi. Đi bơi tưởng là đơn giản, nhưng mất thời gian, nếu không có quyết tâm thì cũng dễ bỏ cuộc. Mỗi buổi đi bơi ít nhất mất toi 2 tiếng (thời gian bơi chỉ được một tiếng, thời gian còn lại là công tác chuẩn bị như đi lai, tắm và thay quần áo). Bể bơi trường BME được thay nước hàng ngày nên quanh năm rất sạch. Mùa đông tuyết rơi nhưng vào bể bơi vẫn ấm vì có hệ thống sưởi. Sinh viên người Việt mình hầu như rất ít đến bơi, kể cả sinh viên ngoại quốc khác. Phần lớn là sinh viên Hung, có một số cô đến thường xuyên quen mặt, nhưng không biết tên vì chẳng bao giờ nói chuyện. Ngoài động lực rèn luyện sức khoẻ, “bệnh nghiên” đi bơi có lẽ do tuổi trẻ thích thưởng thức nét đẹp của tạo hoá ban cho những người phụ nữ! Phải công nhận “phom” của các em sinh viên Hung thật đẹp và quyến rũ (không biết Phan Hồng và Hữu Ái nhận xét thế nào?).

Tôi không nhớ vì sao tôi được chọn vào đội tuyển của trường BME. Có lẽ hàng ngày đi bơi quen mặt và quan sát tôi bơi nên họ “nhặt” mình vào. Tôi biết bơi hồi còn nhỏ. Làng tôi ngay cạnh sông Lam, nên tuổi trẻ tôi và các bạn hàng ngày thoả thích bơi lội trên sông. Ngày ấy nhìn con nước sông Lam rộng mênh mông, nhưng lũ con nít chúng tôi thường rủ nhau bơi qua sông để bẻ trộm ngô bên bãi bồi xã Đặng Sơn, xong lại bơi trở lại. Tháng 9 hàng năm mùa lũ lụt, nước dâng cao, chảy xiết, các bè củi, bè gỗ, bè nứa vô chủ từ thượng nguồn trôi về ngang qua làng tôi, dân trong làng cùng nhau vớt củi lụt. Thông thường mọi người đứng trên bờ, dùng sào để kéo củi vào. Có những bè nứa hay những cây gỗ lớn trôi xa bờ, chúng tôi liều mình bơi ra giữa dòng chảy xiết để kéo vào. Ngày đó thật liều lĩnh, coi thường mạng sống, giờ nghĩ lại vẫn còn kinh!

Trở lại chuyện đi bơi ở bể bơi trường BME. Ngày xưa bơi không theo một bài nào cả, bơi theo bản năng. Muốn bơi nhanh, bơi được lâu dưới nược, cần phải có chút hiểu biết về động tác bơi. Quan trọng nhất là kết hợp động tác chân tay với hít-thở không khí. Lần đầu mới bơi ở bể bơi, tôi cũng chỉ bơi được một vòng là phải nghỉ lấy sức. Qua thời gian rèn luyện học được cánh lấy hơi kết hợp hài hoà với động tác của chân tay, kết quả là bơi không thấy mệt nữa, có thể bơi được thời gian lâu, nhiều vòng liên tiếp vẫn thấy dư sức. Tuy nhiên khi thi bơi do căng thẳng, do cố hết sức để guồng cho nhanh nên có lần tôi đã bị rơi vào trạng thái “choáng váng”, mọi thứ quay cuồng, một trạng thái vô cùng nguy hiểm cho não bộ. Từ lần ấy về sau, rút kinh nghiệm tôi đã biết lượng sức mình, không để rơi vào trạng thái mất cân bằng. Ba năm cuối đại học, tôi được nhà trường cấp cho cái thẻ bơi, dùng thẻ này có thể bơi bất kỳ bể bơi nào trong thủ đô Budapest. Nhờ vậy tôi biết được nhiều bể bơi khác nhau ở Budapest thời đó.

Cuối cùng xin post mấy số hình ảnh về các bể bơi hiện nay ở Budapest để ai đã từng đến đó nhớ lại, như nhớ lại một thời tuổi trẻ khó quên:


Budapestcsaszar uszoda quotcsasziquot 1926


Toàn cảnh bể bơi cạnh đường Árpád út Budapest


Budapest, Gellért uszoda


Budapest - Rudasgyogy fürdo uszoda


Hai mẹ con đang nghich nước tại một bể bơi ở Budapest

Một đoạn Videoclip con gái quay khi đang bơi chơi tại bể bơi của khách sạn Hoàng Yến, Quy Nhơn nhân đợt nghỉ hè tháng 7 năm 2011.


Mặt sau của khách sạn Hoàng Yên-Quy Nhơn, giáp với biển, nơi cả nhà nghỉ hè năm 2011
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 877
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 28.08.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CHUYỆN VỀ HÈ…(tiếp theo và hết)

CHUYỆN VỀ HÈ…- 1. Lên tàu; - 2. Tạm trú tại Mockova
CHUYỆN VỀ HÈ…- 3. Trên đường về quê Đô Lương

4. Trên đường trở lại Budapest

Hết thời gian nghỉ phép thăm nhà, trở lại Hà Nội tập trung, chuẩn bị sang Budapest.
Tạm biệt Cha Mẹ kính yêu, rời Đô Lương trở lại Hà Nôi, lòng tôi luôn nghĩ về họ. Nghĩ về căn nhà vừa dựng lên lợp tạm tranh tre, nghĩ về người Cha kính yêu đang lâm bệnh lâu ngày chưa khỏi, nghĩ về các em còn nhỏ, cuộc sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn… Tôi chép lại những suy nghĩ đó bằng mấy câu thơ:

Nhà vừa dựng, còn lợp tạm tranh tre
Con hết phép! Phải xa Cha, xa Mẹ
Thương Mẹ thương Cha, thương em còn bé
Nặng trĩu lòng con phải xa quê…

Cha kính yêu ơi, xin Cha đừng làm nhiều nữa
Rau cháo đã nhiều, sống kham khổ đã từng quen
Và giờ đây nhà được dựng lên
Chúc Cha sống yên vui với những ngày hạnh phúc

Con xa Cha cố nén không giám khóc
Con hiểu nhiều sự thật hôm nay
Mang mãi trong tim hình ảnh Mẹ Cha gầy
Con xin nguyện suốt đời hiếu thảo.
Hà Nội, ngày 15/8/1974


Thời gian không ngừng trôi, vẫn phải tiếp tục sống, tiếp tục làm việc.

Lần này ở Hà Nôi muốn đi đâu phải cuốc bộ vì xe đạp để lại ở quê Đô Lương. Tranh thủ thời gian rỗi tôi lên kế hoạch thăm quan một số địa danh Hà Nội. Điểm thăm quan đầu tiên là cầu Long Biên. Chiến tranh vừa kết thúc hơn một năm, nên vết thương chiến tranh vẫn chưa lành. Cầu Long Biên vừa được khắc phục chắp vá, Thời đó chỉ có duy nhất một chiếc cầu Long Biên bắc qua sông Hồng nên lưu lượng người và xe qua lại đông đúc, suốt ngày đêm. Điểm thứ 2 tôi tới là Công viên Thống Nhất. Vào đó có nhiều đôi nam nữ tâm tình trên những chiếc ghé đá, một mình thấy buồn đành mua một ổ bánh mỳ (không giặc lái) để cùng tình tự với nàng bánh. Kế đến là ra Bờ Hồ, vào bách hoá Tràng Tiền, thăm chùa Một cột…

Đợt quay trở lại Hà Nội lần này có nhiệm vụ mang thư tay cho bố mẹ của cô bạn mới quen ở Budapest, khi đến nhà đã xẩy ra một chuyện khó xử tôi sẽ kể sau đây. Nhưng trước lúc kể chyện này, xin phép dài dòng “dẫn đề” một chút.

Trước tiên nói về người bạn gái cùng làng biết nhau từ thuở bé. Nếu tính đến năm 1974, tôi thích nàng đã 6 năm (nghĩa là từ thời niên thiếu!). Phải nói là nàng đẹp, vì thế trong bữa liên hoan kết thúc năm học ngoại ngữ (tháng 7/1973) các bạn chuốc rựu cho uống thật say, hôm đó Bùi Thế Thọ “gạ gẫm” tôi kể về nàng, trong cơn say tôi đã bảo “Nh. đẹp nhất Đông Dương!”.

Đã có lần khi buồn tự hỏi:

Thanh Nh. tên ai sao mà thương mà nhớ
Ấm áp chân tình như một đoá hoa thơm
Chẳng hiểu nhau nhiều nhưng thất thương, thấy mến
Qua nụ cười và ánh mắt tuổi thơ…


Trong dịp về quê lần này đã cùng nàng ngồi trên sườn đê gần Rú Chùa tâm sự, nhưng chủ đề không đi xa hơn ngoài những câu chuyện chắp vá… Tại sao ư? Tại nàng chưa bao giờ viết cho tôi một dòng thư trong 4 năm xa cách, mặc dù trong 4 năm ấy tôi gửi cho nàng đến trăm lá thư! Tại vì sự im lặng khó hiểu của nàng để cho hoàn cảnh mới vô tình xô đẩy tôi quen một người bạn khác trước ngày về phép... Chuyện về Nh. còn nhiều, nhưng thuộc về chủ đề khác, có dịp xin trở lại.

Trong năm thứ nhất ở BME tôi có anh bạn đồng hương có tên là Nguyễn Quang Dĩ, chú ấy sang sau tôi một năm. Chúng tôi khá thân nhau.


Một lần sang chơi với Quang Dĩ ở Nemzetközi Előkészítő Intézet, tình cờ gặp một người bạn gái của Dĩ, lân la hỏi chuyện rồi làm quen. Anh em VK ở Petőfi laktanya không phải chỉ mình tôi biết nàng. Nàng hay đến thăm anh Lưu Bá Cơ (VK67, 68 gì đó) nàng gọi bằng chú và chơi với Trần Việt Trung (VK75, em của chị bạn?). Trong năm học 73-74, tôi học năm thứ nhất ở BME, nàng học ngoại ngữ ở Nemzetközi Előkészítő Intézet, nên chiều chiều đi tập thể thao, chạy dài lên đồi đều gặp nàng. Ban đầu còn có anh Nguyễn Quang Dĩ kèm, sau “tác chiến” một mình. Nói chuyện với nhau nhiều lần nên quen thân.

Nàng con nhà lành, sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, bố mẹ đều là bộ đội. Mới sang Hung nàng hay khóc vì nhớ nhà. Nhân dịp tôi về phép nàng mạnh dạn nhờ tôi cầm thư tay của nàng gửi cho bố mẹ. Hôm về nàng và Quang Dĩ có ra tận sân ga tiễn đưa, nàng dúi cho tôi một lọ cao sao vàng và dặn nhớ giữ gìn sức khoẻ trên đương về…Lần đầu tiên trong đời tôi được một người con gái tặng cho một món quà ý nghĩa như vậy! Lúc đó nhìn 2 đứa đi với nhau, tôi đã kịp ghi lại cảm tưởng:

Mong manh mảnh áo tiễn đưa
Gió Thu lành lạnh, cảnh thơ trữ tình

Đẹp sao hai đứa nét hiền, xinh
Chúng nó mến nhau thắm nghĩa tình
Như bông hoa thơm trên đỉnh núi
Như dòng suối mát buổi bình minh

Xa bạn hôm nay một chút say?
Lâng lâng khó nói... khó giãi bày
Ôi tuổi 20 sao đẹp vậy
Nghị lực, nhân tài dây tương lai!


Chuyện khó xử là thế này: Khi đến nhà, ngạc nhiên thấy bố mẹ nàng còn trẻ quá, nên giây phút đầu tiên trót nhỡ miệng chào họ bằng anh chị. Khi bị gọi nhỡ, mỗi lần tiếp xúc sau đó rất khó xưng hô, nhưng chẳng hiểu vì sao dạo đó không mạnh dạn sửa chữa ngay. Những lần đến nhà bố mẹ nàng tiếp đón rất chu đáo, thân thiện, cô chú khi nói chuyện xưng “tôi” còn tôi thì xưng “em” nghe nó cứ ngang ngang, bây giờ nhớ lại có phần không phải với cô chú. Khi sang Hung kể lại cho nàng nghe hai đứa buồn cười quá.

Quay trở lại Budapest, sự “chuyển giao” đột ngột đã xẩy ra. Nàng không còn thân thiết với tôi như xưa nữa, có một người khác thay thế, người đó sau này là chồng nàng. Tên anh ấy là V (VK74), hơn nàng 6 tuổi. Rất buồn là Anh V vừa mất hồi cuối năm 2011 do ung thư gan.

Có lẽ tuổi trẻ ngộ nhận, nên cứ “tưởng bở” rằng họ có cảm tình với mình là mình có thể hiện diện trong trái tim của họ. Trước lúc về phép anh V, Quang Dị, nàng và tôi có gặp nhau giao lưu, tôi đùa với anh V rằng “nhờ anh trông giùm nàng, khi trở lại Budapest anh giao nàng lại cho em…”. Qua hè trở lại anh V đã không giao lại mà giữ chặt luôn.

Nghĩ lại ngày ấy cũng lạ, tôi như một người mất hồn chạy khắp Budapest tìm nàng! Ban đầu chạy sang Intézet, mọi người bảo lớp học kết thúc, nàng chuyển về ký túc xá một trường Foiskola trong thành phố. Đến ký túc xá của trường leo lên leo xuống mấy lần cầu thang, nhưng nàng tránh mặt. Tại sao ngày đó mình lại ngộ nhận ngây thơ đến vậy? Nghĩ mà ân hận với người bạn gái thời niên thiếu. Thế mà khi bước chân xuống sân ga, tôi hồ hởi viết mấy câu thơ thế này:

Trở lại rồi Budapest thân yêu
Thổn thức hồn ta những buổi chiều
Canh cánh trong lòng ngày gặp lại
Ánh mắt xinh và một nụ cười yêu!
Budapest, ngày 2/9/1974.


Nghĩ lại thật hổ thẹn…

Lưu luyến mãi về hình ảnh của nàng, không dễ quên được ngay. Nhớ về những ngày ở Hà Nội gặp mẹ của nàng, cho đến lúc này vẫn chưa đổi cách xưng hô, nên trong vần thơ nhớ về bà thời đó vẫn gọi bà bằng “chị”:

Con đường ấy giữ thủ đô Hà Nội
Những ngày hè mát rượi bóng hàng me
Ngày lại ngày
Chị đi về
Theo nhịp bánh xe quay…

Em đi xa em nhớ những ngày
Chị đi về trên con đường ấy…

Budapest, 01/10/1974


Chuyện về hè xin kết thúc tại đây. Chuyện hai nàng còn nhiều điều để nói.

(HẾT)

Những hình ảnh về cầu Long Biên xưa và nay


01 Mar 1973, Hà Nội, Việt Nam: Một người Việt chỉ đạo công trình thang máy bằng còi và bằng dấu hiệu tay tại cầu Long Biên, bắc qua sông Hồng tại Hà Nội với chiều dài 1.683 mét. Ảnh chụp ảnh tháng 3 năm 1973, thời gian bắt đầu tái tạo lại nó. Con đường sắt trên cầu có tầm quan trọng chiến lược từ đầu của thế kỷ 20 đã bị phá hủy nhiều lần trong các cuộc không kích bằng máy bay Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Máy bay Hoa Kỳ thực hiện khoảng 2.000 cuộc không kích vào các thành phố và các mục tiêu ở miền Bắc Việt Nam trong "vụ đánh bom Giáng sinh" vào năm 1972. Ảnh: Werner Schulze --- Ảnh: © Werner Schulze / DPA / Corbis


Hà Nội năm 1973. Cây cầu Long Biên đang được khẩn trương xây dựng lại những nhịp bị bom Mỹ đánh sập mùa đông năm 1972.


Cầu Long Biên xưa




Ầu Long Biên Ngày nay.



Những hình ảnh về Bách hoá và đường Tràng Tiền xưa& nay










Tràng Tiền plaza

Những hình ảnh về Hồ Hoàn Kiếm và tàu điện bờ hồ





Trại lính tập bên bờ hồ Hoàn Kiếm


Tháp báo Ân bên bờ hồ Hoàn Kiếm


Ảnh hồ Gươm qua góc nhìn của cụ Võ An Ninh


Hồ Gươm ngày nay


Những hình ảnh về Chùa Một cột xưa&nay








Tọa lạc tại đường Nguyễn Văn Bi, quận Thủ Đức, Nam Thiên Nhất Trụ là ngôi chùa Một Cột được nhiều người biết đến không những bởi kiến trúc độc đáo mà còn là nơi lui tới của nhiều chư tăng phật tử ở phương Nam.
Với khuôn viên rộng khoảng 1 ha, chùa Nam Thiên Nhất Trụ được Hòa thượng Thích Trí Dũng xây dựng năm 1958. Kiến trúc sư Nguyễn Gia Đức đã vẽ thiết kế ngôi chùa này dựa theo kiến trúc chùa Diên Hựu (chùa Một Cột ở Hà Nội) được dựng lên vào đời nhà Lý.


Những hình ảnh về Công viên Thống nhất


Bức tượng Bác Hồ ở công viên


Toàn cảnh công viên Thống nhất


.........

CÁC BÀI LIÊN QUAN:
CHUYỆN VỀ HÈ…- 1. Lên tàu; - 2. Tạm trú tại Mockova
CHUYỆN VỀ HÈ…- 3. Trên đường về quê Đô Lương


Được sửa chữa bởi Haidq ngày 08.10.2013, sửa lần 3
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
HUUAI
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 862

Bài gửigửi: 29.08.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Trời càng đọc mới càng thấy nhìu ng tài. Văn thơ lai láng chảy tràn cả diễn đàn vnkatonak.
Ngày xưa sao ng ta cứ phải giấu giếm tình cảm , để tận khi đầu bạc răng long mới đc thể hiện ra thế này? Chắc còn khối chuyện tình dang dỡ nữa ở Petofi Laktanya. Chung ta hãy chờ các anh viết tiếp. big hug
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Yahoo Messenger
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 877
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 29.08.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Trích dẫn:
HUUAI đã viết: Trời càng đọc mới càng thấy nhìu ng tài. Văn thơ lai láng chảy tràn cả diễn đàn vnkatonak.
Ngày xưa sao ng ta cứ phải giấu giếm tình cảm , để tận khi đầu bạc răng long mới đc thể hiện ra thế này? Chắc còn khối chuyện tình dang dỡ nữa ở Petofi Laktanya. Chung ta hãy chờ các anh viết tiếp. big hug



Chào chú Ái đã quá khen
Bao năm bận rộn để quên một thời
Nay tôi được nghỉ hưu rồi
Thời gian rảnh rỗi nhớ thời ngày xưa…
big grin big grin big grin
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
khanhque
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Dec 08, 2005
Bài gửi: 517
Đến từ: Hanoi, Vietnam

Bài gửigửi: 29.08.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Trích dẫn:
[b]Haidq đã viết:

Trước tiên nói về người bạn gái cùng làng biết nhau từ thuở bé. Nếu tính đến năm 1974, tôi thích nàng đã 6 năm (nghĩa là từ thời niên thiếu!). Phải nói là nàng đẹp, vì thế trong bữa liên hoan kết thúc năm học ngoại ngữ (tháng 7/1973) các bạn chuốc rựơu cho uống thật say, hôm đó Bùi Thế Thọ “gạ gẫm” tôi kể về nàng, trong cơn say tôi đã bảo “Nh. đẹp nhất Đông Dương!”.

Đã có lần khi buồn tự hỏi:
[color=blue]
Thanh Nh. tên ai sao mà thương mà nhớ
Ấm áp chân tình như một đoá hoa thơm
Chẳng hiểu nhau nhiều nhưng thất thương, thấy mến
Qua nụ cười và ánh mắt tuổi thơ…




Chuyện này chứng kiến Khanhque, đến nay vẫn phục nết quê vẹn tình.
@ Phan hải & Phan Hồng
Con nhà cùng TÔNG (cùng họ Phan) nỏ giống ”lông” (bút pháp) cũng giống ”cánh” (gu):
Đông tây kim cổ ngắn dài, chuyện tình, chuyện sử có bài có tranh.
rất cám ơn 2 bạn. Nhiều người ngồi một chỗ mà vẫn được chu du đó đây với đầy kiến thức phong phú và cảm xúc thơ mộng.
big hug
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn MSN Messenger
Haidq
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Aug 08, 2012
Bài gửi: 877
Đến từ: Việt Nam

Bài gửigửi: 29.08.2012    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Văn xuôi anh Khánh đọc lên biến thành thơ. Đúng là dân kinh bắc chứa đậm chất trữ tình, lãn mạn. PH tôi còn phải học anh nhiều. Ngày 3/9/ tới rủ “Người quan họ” đến cho vui đi anh Khánh. Cho dù người đó đối với anh:

Trích dẫn:
khanhque đã viết:
Với mình em mãi trong tim
Gặp nhau chẳng phải đi tìm đâu xa

nhưng với tôi vẫn là bóng dáng xa xăm một thời. confused
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn gửi email Yahoo Messenger
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> NĂM 1972 Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 5, 6, 7 ... 35, 36, 37  Trang kế
Trang 6 trong tổng số 37 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser