vnkatonakPetofi Laktanya, Budapest 112 PF 90K
VNKATONÁK FORUMS :: Xem chủ đề - Tháp Chàm
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Nhóm làm việcNhóm làm việc   Thông tin cá nhânThông tin cá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng nhậpĐăng nhập 

Tháp Chàm
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8  Trang kế
 
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2344
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 08.10.2009    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

NHỮNG DI TÍCH CHĂM PA Ở TỈNH BÌNH THUẬN
(tiếp theo)

THÁP PÔ ĐAM (PÔ TẰM, PO DAM, PO TAM)

Tháp xây để thờ vua Pô Đam, tên thật là Pô Ka Thit (sử sách Việt chép là Bàn La Trà Duyệt). Theo sử liệu dân gian Chăm thì Ngài sinh năm 1387, là con của vua Para Chanh (Bàn La Trà Chanh), và là em của Công chúa Pô Sah Inư. Khi Ngài mất, được nhân dân tôn thành thần với tên hiệu Pô Đam. Để tưởng nhớ, bà con dân tộc Chăm đã xây tháp thờ cúng Ngài, vì Ngài đã có công lớn hướng dẫn, giúp đỡ nhân dân khai khẩn đất đai, khai mương đắp đập, trồng trọt sản xuất nông nghiệp. Hiện nay, hệ thống thủy lợi vẫn phát huy tác dụng ở vùng Tuy Phong, Bắc Bình.

.....

Nhóm đền tháp tọa lạc dưới chân một ngọn núi có tên là núi Ông Xiêm, thuộc địa phận xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, cách thành phố Phan Thiết khoảng 110 km về phía Tây Bắc. Núi Ông Xiêm được dân địa phương gọi là đồi Ba Họng, có nghĩa là 3 họng nước: nước từ sông Lòng Sông đổ về đây rồi chia làm 3 ngả, tưới cho 3 cánh đồng các xã Liên Hương, Phú Lạc, Long Điền; nhờ vậy mà lúa và nho tươi tốt quanh năm.

Nhóm tháp này giống với nhóm tháp Pô Sha Inư, cả về kỹ thuật xây dựng và nghệ thuật kiến trúc, và cũng có niên đại nửa cuối thể kỷ 8 đầu thế kỷ 9, thuộc phong cách kiến trúc nghệ thuật Hòa Lai, một phong cách kiến trúc cổ trong lịch sử kiến trúc của Vương quốc Chămpa.

Nhóm tháp gồm 6 tháp, chia thành hai khu riêng biệt, mỗi khu 3 tháp, sắp xếp theo hai trục song song. Có thể nhận ra ngay sự khác biệt của hai nhóm tháp, từ kỹ thuật xây dựng, trang trí nghệ thuật đến nội dung thờ phụng. Nhóm tháp ở phía Bắc hiện chỉ còn phần chân đế, trong khi đó, nhóm tháp ở phía Nam vẫn tồn tại. Hai tháp nhỏ đã bị mất sụp mất phần nóc, chỉ còn tường tháp, riêng tháp Chính nhờ được trùng tu nên khá vững chãi. (Tuy vậy, người bảo vệ cũng chỉ dám quét nhẹ nhàng, hai tháp còn lại không dám động vào vì sợ sập).

Niên đại của nhóm tháp Bắc khoảng thế kỷ 8 – 9, niên đại nhóm tháp Nam muộn hơn, khoảng thế kỷ 15. Nhóm tháp Nam có lẽ được xây dựng để thờ Pô Ðam (Pô Tằm), vị vua trị vì vương quốc Chăm Pa từ 1433 đến 1460.

Bên trong nhóm tháp Bắc thấy có 7 viên đá được sắp xếp cẩn thận trên một bệ thờ. Đây là tục lệ thờ đá của người Chăm. Các trụ đá này tượng trưng cho các bia mộ kút (patâu kut), nằm trong khuôn viên nghĩa trang dòng họ (tính theo bên mẹ), gọi là nghĩa trang kút.

Bên trong nhóm tháp Nam các nhà nghiên cứu tìm thấy bệ thờ Linga-Yoni bằng đá xanh, song phần Linga không gồm 3 phần tượng trưng cho 3 vị thần của Ấn Độ giáo như ở nhiều tháp Chàm khác (theo truyền thống tam vị nhất thể), mà thấp hơn, chỉ gồm phần hình trụ trên cùng, có nghĩa, tháp này chỉ thờ một mình thần Siva. Hình dáng và kết cấu bệ thờ Linga-Yoni ở đây giống với bệ thờ Linga-Yoni tìm thấy ở tháp Pô Sha Inư, song kích thước nhỏ hơn nhiều. Các tháp ở nhóm Nam nhỉnh hơn, song nhìn chung, nếu so với các tháp Chàm khác, thì cả 6 tháp trong nhóm tháp Pô Ðam đều nhỏ và thấp hơn. Tháp cao nhất khoảng 7m - 8m, chiều dài cạnh đáy chỉ 3 m - 3,50 m..

Thông thường các tháp Chàm đều xây cửa chính trổ về hướng Ðông như một nguyên tắc bất di bất dịch, nhưng ở đây, tất cả các cửa chính của 6 tháp đều quay về hướng Nam. Lòng tháp cũng hẹp hơn và dài hơn. Cũng có thể, nguyên nhân dị biệt nằm ở khía cạnh điều kiện địa lý và tôn giáo, song cho đến nay, chưa có sự phân tích, giải nghĩa nào thực sự rõ ràng.

Kỹ thuật xây dựng và nghệ thuật trang trí tập trung chủ yếu ở tháp Chính (tháp C nhóm Nam). Ở đây, tuy thời gian đã làm tàn lụi phần đỉnh tháp, nhưng trên thân tháp, vòm cuốn, trụ áp tường vẫn còn nguyên vẹn những hình tượng nghệ thuật trang trí đều và dày đặc. Những hình thù kỳ quái, những bông hoa xoắn xít nhau, tượng thủy quái Makara, tượng thần canh giữ đền tháp là nét đặc trưng của phong cách Hòa Lai cổ.

Tháp Pô Ðam là nơi thực hiện nghi lễ, thờ cúng vua Chăm hàng năm của người Chăm Phú Lạc và các vùng lân cận. Hiện những dòng tộc là hậu duệ của Vua còn lưu giữ 8 sắc phong do các vua triều Nguyễn, từ Minh Mạng đến Khải Ðịnh, phong tặng cho vua-thần Pô Ðam. Chúng được cất giữ đặc biệt, vì đó là báu vật của dòng tộc và trách nhiệm của hậu duệ vua.

Nhóm đền tháp Pô Ðam được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1993.



* * *
Lễ hội Pô Đam gắn với tín ngưỡng thờ thần Pô Đam, tổ chức ba năm một lần, vào tháng 4 theo lịch Chăm (tức khoảng tháng 7 Dương lịch). Khi đó, bà con dân tộc Chăm thôn Lạc Trị, xã Phú Lạc lại lũ lượt trở về quây quần bên tháp Pô Đam trong bầu không khí rộn ràng vui tươi.

Lễ hội bắt đầu bằng nghi lễ khởi hành đến tháp, rước sắc phong hòa trong âm hưởng của tiếng trống gi-năng, trống pa-ra-nưng và tiếng kèn sa-ra-nai. Những thôn nữ Chăm duyên dáng trong sắc phục dân tộc, thướt tha với điệu múa Dền Tron, tạo nét văn hóa Chăm độc đáo.

Sau đó, các vị chức sắc tiến hành các phần nghi lễ còn lại: Hành lễ tắm gội tượng trong đền tháp, Hành lễ Chà Và ra mắt Ngài, và Hành lễ cúng tế Ngài, cầu cho mưa thuận gió hòa, để bà con xóm làng có một vụ mùa sản xuất nông nghiệp bội thu.

Sau phần lễ là phần hội, hàng trăm nam nữ thanh niên tham gia phần thi đấu và vui chơi các môn thể thao dân gian: kéo co, bịt mắt đập nồi, đội nước ...

Lễ hội Pô Đam là lễ hội văn hóa Chăm cổ truyền vẫn còn lưu giữ đến ngày nay, được các thế hệ con cháu Chăm Pa nâng niu, tôn tạo và giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc mình.

Pô Đam có 2 người con trai là Pô Ka Brah và Pô Ka Bih, đều được dân Chăm dựng đền thờ.

Pô Ka Brah có đền thờ tại thôn Vĩnh Hanh xã Phú Lạc, còn Pô Ka Bih có đền thờ tại ruộng Cây Táo, thuộc hợp tác nông nghiệp thôn Lạc Trị, xã Phú Lạc.
























Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2344
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 09.10.2009    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

NHỮNG DI TÍCH CHĂM PA Ở TỈNH BÌNH THUẬN
(tiếp theo)

SUỐI NƯỚC NÓNG VĨNH HẢO

Cách tháp Pô Đam không xa về phía biển có một dòng suối thiêng của người Chăm. Gọi là suối thiêng bởi nhiều người bị bệnh uống nước dòng suối này bống dưng khỏi bệnh; tắm gội thường xuyên bằng nước suối ở đây, da dẻ tự nhiên hồng hào, tinh thần trở nên sảng khoái. Người Chăm gọi tên dòng suối là Eamu.

Năm 1306, vua Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý làm lễ vật xin cưới công chúa Đại Việt là Huyền Trân.

Đó là cách nói của sử Việt. Chế độ xã hội của người Chăm là chế độ mẫu hệ (gia phả tính theo bên mẹ), nhưng không phải chế độ mẫu quyền (vua vẫn là đàn ông). Vì thế, vua Chế Mân không dễ gì có quyền dâng đất đai của tổ tiên để làm lễ vật (phải được sự đồng ý của Hội đồng gia tộc bên ngoại của vua). Điều đó đúng. Tuy nhiên, phân tích bối cảnh lịch sử có thể thấy, việc “dâng đất” chỉ là cách nói và cách viết, còn trên thực tế, vua Chế Mân đã “bắn một mũi tên hạ ba con thỏ”. Hai châu Ô, Lý (Rí) thời đó là vùng đất giao tranh ác liệt giữa Đại Việt với Chăm Pa, và vua Chế Mân hiểu rằng, khó mà giữ được, vì thế của Đại Việt mạnh hơn. Vả lại, vua cũng muốn nhân cơ hội này, mượn bàn tay Đại Việt hạ thủ một số thế lực chống đối mình đang ẩn náu ở đây. Mục đích thứ ba thì quá rõ ràng: muốn xin cưới công chúa nước Đại Việt.



Sự hy sinh của công chúa Huyền Trân đã được một tác giả vô danh đề cao trong một bài ca Huế theo điệu Nam bình được truyền tụng cho đến ngày nay:

Nước non ngàn dặm ra đi,
mối tình chi,
Mượn màu son phấn,
đền nợ Ô Ly,
Đắng cay vì,
đương độ xuân thì,
Số lao đao,
hay nợ duyên gì?
Má hồng da tuyết,
quyết liều như hoa tàn trăng khuyết,
Vàng lộn với chì,
Khúc ly ca
cớ sao mà mường tượng Nghê thường!
Thấy chim hồng nhạn bay đi, tình tha thiết.
Bóng dương hoa quỳ
Nhắn một lời Mân quân, nay chuyện mà như nguyện,
Đặng vài phân,
vì lợi cho dân,
Tình đem lại mà cân,
Đắng cay trăm phần...


Sau ngày tổ chức hôn lễ vào tháng Sáu năm Bính Ngọ (niên hiệu Hưng Long thứ 14) tại kinh đô Trà Bàn, vua và hoàng hậu cùng nhau lên thuyền đi hưởng tuần trăng mật tại vùng Panduranga. Tại đây, lần đầu tiên trong đời, công chúa nước Đại Việt được thưởng thức thứ nước thần tiên và tận hưởng cái thú tắm gội nước suối thiêng Eamu. Hoàng hậu Paramecvari (tên người Chăm gọi công chúa Huyền Trân) đã đổi tên cho nguồn nước quý giá thành Vĩnh Hảo, nghĩa là “đời đời tốt đẹp”.

Bẵng đi 7 thế kỷ, không thấy ai nhắc tới dòng suối này.



Suối nước khoáng nổi tiếng hiện nằm ở xã Vĩnh Hảo, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Đây là nơi giao hòa của những đám núi cuối cùng của dãy Trường Sơn với biển Đông, tạo nên phong cảnh núi non hùng vĩ, chùa tháp hang động kỳ thú, tràn đầy sức hấp dẫn và quyến rũ. Từ huyện lỵ của Tuy Phong là thị trấn Liên Hương, theo quốc lộ 1 đi về phía Bắc khoảng 7 km, vượt qua đèo Yên Ngựa rồi qua núi Tào, sau đó rẽ trái, đi độ 1,5 km thì đến ngay suối nước khoáng Vĩnh Hảo, nằm trong khuôn viên của Nhà máy nước suối Vĩnh Hảo.

Ngày 28/01/1928, Toàn quyền Đông Dương ký Nghị định cho phép thành lập “Société Civile d’ Études des Eaux Minérals de Vinh Hao” (Công ty dân sự nghiên cứu nước khoáng Vĩnh Hảo) để tiến hành khảo sát và nghiên cứu việc khai thác và thương mại hóa nguồn nước khoáng Vĩnh Hảo. Ngay trong năm này, Công ty bắt tay xây dựng nhà máy với công suất 3.000 lít/giờ.

Tháng 10/1930, sản phẩm nước khoáng Vĩnh Hảo được chính thức tung ra thị trường, xuất khẩu sang các nước Đông Dương và sang cả Pháp, vì được người Pháp đánh giá có chất lượng cực tốt, ngang bằng với nước khoáng Vichy nổi tiếng của Pháp. Người Pháp gọi thứ nước khoáng này là "Vichy Đông Dương".

Ngày 28/03/1944, Toàn quyền Đông Dương lại ký Nghị định số 676-SE/H/7 cho phép đổi tên Công ty dân sự nghiên cứu nước khoáng Vĩnh Hảo thành “Société Anonyme d’ Exploitation des Eaux Minérals de Vinh Hao” (Công ty nặc danh khai thác nước khoáng Vĩnh Hảo); đồng thời, cho phép Công ty này được thuê vùng đất rộng 5,4 ha xung quanh vùng mỏ nước khoáng, cũng như được phép tổ chức khai thác và bán sản phẩm trong thời hạn 30 năm, tức là đến hết ngày 28/01/1974.

Sau Hiệp định Genève 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh số 64/KT ngày 28/02/1958, buộc Công ty nặc danh khai thác nước khoáng Vĩnh Hảo phải nhận khoản tiền bồi thường là 10 triệu phơ-răng để chuyển nhượng mọi đặc quyền khai thác tại vùng mỏ nước khoáng Vĩnh Hảo cho một công ty mới thành lập, lấy tên là Công ty Vĩnh Hảo, hoạt động dưới hình thức cổ phần, với 51% cổ phần thuộc Bộ Kinh tế-Kế hoạch của chính quyền Ngô Đình Diệm, và 49% thuộc các cổ đông tư nhân. Lúc này, nước khoáng Vĩnh Hảo được đóng chai hoàn chỉnh, có mẫu mã trang nhã và nhãn hiệu được in thẳng trên chai thủy tinh có nhãn hiệu (logo) như hiện nay.

Thực hiện “chính sách kinh tế hậu chiến”, chính quyền Việt Nam Cộng hòa thực hiện giải thể 100% các công ty cổ phần quốc doanh. Tại Công ty Vĩnh Hảo, số vốn 21 triệu đồng (tiền Việt Nam Cộng hòa) của Bộ Kinh tế-Kế hoạch được phát hành ra ngoài thành 7.000 cổ phần, và được bán hết veo ngay trong buổi sáng ngày đầu tiên 25/04/1973. Sau khi việc tư nhân hóa hoàn tất, Công ty Vĩnh Hảo đổi tên thành Công ty cổ phần nặc danh Vĩnh Hảo và đệ trình kế hoạch phát triển lên Bộ Kinh tế-Kế hoạch, bao gồm các nội dung:

• Mở rộng diện tích thuê đất từ 5,4 ha lên 250 ha, để tăng công suất khai thác nguồn nước khoáng Vĩnh Hảo.
• Thành lập một nhà điều dưỡng tại Vĩnh Hảo, để khai thác hoạt động kinh doanh du lịch và chăm sóc sức khỏe.
• Kéo dài thời hạn thuê đất đến năm 2027 (tổng cộng 99 năm, tính từ ngày Toàn quyền Đông Dương ký Nghị định lần đầu tiên).

Năm 1975, Ủy ban Nhân dân huyện Tuy Phong tiếp quản Nhà máy Vĩnh Hảo.

Năm 1976, Bộ Lương thực thực phẩm quản lý toàn diện Công ty cổ phần nặc danh Vĩnh Hảo (kể cả Văn phòng Công ty tại 109 Nguyễn Biểu - Quận 5, TP.HCM), và đổi tên Công ty thành Xí nghiệp quốc doanh nước suối Vĩnh Hảo.

Năm 1995, UBND tỉnh Bình Thuận cho phép cổ phần hóa Xí nghiệp quốc doanh nước suối Vĩnh Hảo đề hình thành Công ty cổ phần nước khoáng Vĩnh Hảo, và hoạt động liên tục cho đến nay.

Số vốn của Công ty qua các năm:
• Năm 1995: được đầu tư 10 tỷ đồng mua thiết bị và dây chuyền hiện đại.
• Năm 1996: vốn tăng lên 15 tỷ đồng
• Năm 1997: vốn tăng lên 20 tỷ đồng
• Năm 2001: vốn tăng lên 30,5 tỷ đồng
• Năm 2004: vốn tăng lên 45,5 tỷ đồng.



Người Pháp – quốc gia nổi tiếng về các nhãn hiệu nước khoáng và nghệ thuật ẩm thực – gọi nước khoáng Vĩnh Hảo là “Vichy Đông Dương”. Danh xưng này dĩ nhiên có nguồn gốc từ chính phẩm chất tuyệt vời của nước khoáng Vĩnh Hảo, và đã được kiểm nghiệm bởi nhiều nghiên cứu khoa học qua các thời kỳ, từ năm 1919 đến nay:

• Năm 1919, dược sĩ Gabinel Lambert viết bài đăng trên Tạp chí Đông Dương số 86, nhận xét như sau: “Nước khoáng Vĩnh Hảo là loại nước khoáng Bicarbonate Natrium, có tính chất giống như nước khoáng Vichy, hay Vals của Pháp ”.

• Năm 1920, để chuẩn bị cho việc thành lập Công ty dân sự nghiên cứu nước khoáng Vĩnh Hảo, bác sĩ Labill, Viện trưởng Viện Pasteur Sài Gòn đã lập báo cáo gửi Toàn quyền Đông Dương về nước khoáng Vĩnh Hảo, với kết luận về chất lượng nguồn nước khoáng Vĩnh Hảo tương tự như nhận định của dược sĩ Gabinel Lambert.

• Năm 1956, Tạp chí Phân tích của Viện Pasteur Sài Gòn (số 2211, ngày 18/02/1956) cũng có bài viết nhận xét về nước khoáng Vĩnh Hảo giống như các nhận xét trước đây. Hàm lượng Bicacbonate được xác định là 2.500 mg/lít; thuộc loại cao.

• Năm 1988, tiến sĩ Pavel Hoope, trưởng đoàn chuyên gia Tiệp Khắc, trong khi thực hiện chương trình nghiên cứu khoa học về các nguồn nước khoáng Việt Nam, đã có kết luận về nước khoáng Vĩnh Hảo như sau: “Nước khoáng Vĩnh Hảo có tổng chất rắn hoà tan là 3,6 g/lít, và thành phần khoáng chất hoà tan tự nhiên tương tự như nước khoáng Javi-Jako (Tiệp Khắc) và Borjomi (Ucraina)”.

• Năm 1991, kỹ sư Phan Thanh Sáng, Đoàn địa chất 705, trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước mang tên “Kết quả tìm kiếm nước dưới đất tại vùng Tuy Phong-Thuận Hải ”, đã có kết luận về nước khoáng Vĩnh Hảo như sau: “Đối với nguồn nước khoáng Vĩnh Hảo, ranh giới của đới tích tụ nước khoáng được xác định khá rõ qua khảo sát bằng sóng cực dài (sóng radio B33). So sánh kết quả phân tích chất lượng nước từ năm 1956 đến nay, nhận thấy, thành phần cơ bản của nước khoáng Vĩnh Hảo hầu như không thay đổi, kể cả giữa các mẫu nước lấy vào các mùa khác nhau trong năm”.

Phẩm chất tuyệt vời của nước khoáng Vĩnh Hảo có được là nhờ vào kết cấu địa tầng và điều kiện địa chất lý tưởng của vùng đông-nam Trường Sơn: Khu vực địa lý có áp lực lớn, có nhiều nét đứt gãy của vỏ địa cầu, với cấu tạo địa chất phức tạp với nhiều lớp đá đan chéo, xen kẽ nhau. Chính nhờ vào các điều kiện tự nhiên này, nên nguồn nước khoáng Vĩnh Hảo chứa nhiều khoáng chất hòa tan tự nhiên trong nước, có tác dụng tốt cho cơ thể con người:

Các khoáng chất đó là:

• Can-xi: Giúp cho xương cứng, răng tốt, cơ bắp khỏe mạnh.
• Ma-giê: Tham gia vào nhiều phản ứng xúc tác và kích thích cơ thần kinh.
• Potassium: Duy trì sự cân bằng độ pH và cần thiết cho các phản ứng hóa học, cung cấp năng lượng bên trong cơ thể.
• Sodium: Duy trì sự cân bằng lượng chất lỏng của cơ thể, giúp cho sự vận động của hệ thần kinh.
• Acid silic: Giúp cho hệ thần kinh vận động tốt hơn.
• Bicarbonate: Giảm độ acid trong dạ dày.



Công ty cổ phần nước khoáng Vĩnh Hảo là doanh nghiệp sản xuất nước khoáng đầu tiên của Việt Nam được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn Hệ thống quản lý chất lượng quốc tế ISO 9002:2000.

Tận dụng tính ưu việt mà thiên nhiên ban tặng, Công ty cổ phần nước khoáng Vĩnh Hảo đã không ngừng nghiên cứu, cải tiến công nghệ khai thác, chế biến và đóng chai để phục vụ người tiêu dùng. Từ một loại sản phẩm "thô" ban đầu có ga, đến nay, đã đa dạng hóa sản phẩm, bao bì và mẫu mã nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của người tiêu dùng. Chỉ riêng mặt hàng nước khoáng có ga từ một loại, nay đã sản xuất ra thị trường 3 mặt hàng với hàm lượng Bicacbonate khác nhau, là 2.500 mg/lít; 1.600 mg/lít; và 850 mg/lít. Bên cạnh đó, là nước khoáng không ga với hàm lượng khoáng thấp, được đóng với nhiều dung tích khác nhau: 350 ml, 600 ml, 1,5 ml, 5 lít và 20 lít, theo dạng chai Pet. Đặc biệt, dòng sản phẩm hoàn toàn khác nữa là tảo Spirulina, đây là một loại thực phẩm giàu dinh dưỡng có nhiều công dụng.

Năm 2004, giá bán nước suối Vĩnh Hảo là:
• Loại có ga (chai màu xanh): 4.000 đ/chai 0,5 lít và 8.000 đ/chai 1 lít.
• Loại không có ga (chai màu hồng): 2.500 đ/chai 350 ml; 3.200 đ/chai 600 ml; và 6.200 đ/chai 1,5 lít.

Năm 2009, bắt đầu bán bình nước 20 lít không ga với giá 34.000 đồng (dung tích chính xác là 18,9 lít).

Sau khi ổn định về chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thị trường và người tiêu dùng, Công ty đẩy mạnh mạng lưới phân phối rộng khắp toàn quốc. Sản lượng nước khoáng từ 15,6 triệu lít/năm vào năm 2001, lên 30,2 triệu lít vào năm 2003, và hiện nay đã khai thác trên 34 triệu lít. Không những thế, Công ty còn xuất khẩu sang các quốc gia, lãnh thổ trên thế giới như Mỹ, Úc, Canada, Đài Loan, Hồng Công...

Không dừng lại ở việc sản xuất kinh doanh các mặt hàng nước khoáng, Công ty đã đầu tư thêm khu tắm bùn khoáng tại huyện Tuy Phong - Bình Thuận, đồng thời cung ứng bùn khoáng cho các khu biệt thự cao cấp (resort) trong tỉnh. Khu du lịch Tắm khoáng- Tắm bùn Vĩnh Hảo nằm giữa núi rừng thiên nhiên hoang dã, không khí rất trong lành. Tại đây, phục vụ loại hình dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng: du khách có thể ngâm mình trong dòng nước khoáng ấm, hay ngâm mình trong bùn khoáng.






Đứng ở Khu du lịch tắm khoáng - tắm bùn nhìn về hướng Tây, bỗng thấy một hệ thống núi đá trùng điệp như trong bộ phim Tây Du Ký, cảnh vật thực là sơn thủy hữu tình. Nổi lên trên sườn núi là ngôi chùa Pháp Võ, tục gọi là chùa Đá Mẹp, vốn là một danh lam thắng cảnh của huyện Tuy Phong, cách thị trấn Liên Hương khoảng 12 km về hướng Bắc. Hai bên đường vào chùa là rừng cây nhỏ lưa thưa và nhiều loài hoa rừng tuyệt đẹp. Có lẽ vì nơi đây vẫn còn là vùng sâu vùng xa, ít ai biết đến, nên chưa thấy sử sách hoặc báo chí nào viết về chùa này.

Các tín đồ Phật giáo thường xuyên đến đây cúng lễ, cầu nguyện vào các ngày lễ, ngày rằm, mồng một. Ngày Tết và các ngày rằm lớn, rất đông khách hành hương đến từ Phan Thiết, Phan Rang và cả TP.Hồ Chí Minh.... Thuận tiện là xe ô tô có thể vào tận chân núi, chỉ cần đi bộ leo núi đá khoảng 10 phút là tới hang Tổ.

Chùa không lớn, nhưng cảnh vật xung quanh thật thơ mộng và hùng vĩ, các tảng đá lớn, nhỏ chồng lên nhau tạo thành các hang đá tuyệt mỹ. Hang đá lớn nhất dùng để thờ Phật Tổ Như Lai. Kề bên hang Tổ có phòng khách và phòng ngủ rộng thênh thang, tha hồ mắc võng. Bên chánh điện thờ Phật Thích Ca, Phật Bà Quan Âm và Đường Tam Tạng, có miếu thờ Quan Công, và các hang đá nhỏ hơn thờ các vị thần khác nhau. Đi bộ qua hang đá hẹp, leo lên độ cao trên 100 m sẽ bắt gặp tượng Phật Bà Quan Âm đứng sừng sững giữa lưng chừng núi, trên một tảng đá lớn, cao gần 10 m. Đứng trên chánh điện và hang Tổ nhìn ra biển Cà Ná, thấy đảo Cù lao Câu nổi lên trên nền biển xanh biếc đẹp tuyệt vời.

Nếu có dịp nghỉ lại qua đêm thì thú vị hơn nữa. Màn đêm buông xuống giữa khu rừng già, có ánh điện lung linh của máy nổ, như một hòn ngọc lạc giữa chốn sơn lâm. Ngồi bên hang Tổ nhìn ra biển, vị sư già trụ trì chùa sẽ cho chúng ta thưởng thức món trà xanh tuyệt hảo, ai có bệnh thì được bốc thuốc nam biếu không lấy tiền. Đêm, tất cả cùng ngồi thiền với vị sư già để chiêm ngưỡng và hòa quyện tâm hồn vào núi rừng thiêng âm u, tĩnh mịch. Vị sư cho biết, ngày xưa, một lần ở vùng này gặp hạn hán nặng, dân các làng kéo nhau tụ họp về chùa rất đông làm lễ cầu mưa. Đúng lúc đang cầu khấn thì bất ngờ gió thổi mạnh, mây đen kéo đến rợp trời. Một cơn mưa như trút nước làm nức lòng nhân dân. Từ đấy, chùa mang tên là Pháp Vũ, sau mới đổi thành Pháp Võ. Thời chiến tranh ác liệt, các chiến sĩ giao liên cách mạng trú quân thường trực ở đây để bảo vệ đường vào căn cứ chiến khu Phan Dũng. Đêm đêm, các trận địa pháo giặc nã vô số những loạt đạn đỏ chói về phía hang Tổ này, nhưng thật kỳ lạ, chưa có một viên nào bay lạc vào đây cả.



Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2344
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 12.10.2009    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

NHỮNG DI TÍCH CHĂM PA Ở TỈNH BÌNH THUẬN
(tiếp theo)

BỘ SƯU TẬP DI SẢN VĂN HOÁ CỦA HOÀNG TỘC CHĂM PA





Ít ai dám tin rằng, sau 400 năm, hiện giờ vẫn còn giữ được nguyên vẹn hơn 100 di vật của nhà vua Pô Klong Mơh Nai và hoàng tộc, ngoài ra, còn có cả một số di vật của các bậc vua chúa Chăm Pa khác. Điều may mắn này có được là nhờ dòng tộc bà Nguyễn Thị Thềm, một trong những hậu duệ của nhà vua. Trước kia, nhiều tài liệu của người Pháp có nhắc tới bộ sưu tập này, và đánh giá, đó là một trong những “kho tàng của các vị vua Chăm Pa”.

Bà Nguyễn Thị Thềm đã qua đời vào năm 1975. Hiện tại, Bộ sưu tập di sản văn hoá hoàng tộc Chăm đặt tại nhà bà Nguyễn Thị Đào - người được thừa kế lưu giữ - ở thôn Tịnh Mỹ, xã Phan Thanh, huyện Bắc Bình.

Các hiện vật trong bộ sưu tập được làm từ nhiều chất liệu, với nhiều chức năng và tác dụng khác nhau. Những chất liệu chính có thể kể ra như: kim loại (vàng, bạc, đồng, sắt,), gỗ, giấy, sứ, vải thổ cẩm, kim tuyến. Tuy có nguồn gốc từ thế kỷ 17, nhưng các hiện vật vẫn hầu như mới nguyên, vì chúng được cất giữ vô cùng cẩn thận, do sự linh thiêng và trang nghiêm của nó, cũng như ý thức bảo vệ và lưu giữ các giá trị văn hóa tinh thần của những người được giao công việc này.



Nổi bật nhất là chiếc vương miện của vua Pô Klong Mơh Nai chế tác bằng vàng, hình trụ, cao 19,5cm, đường kính 19,5cm. Đây là chiếc vương miện duy nhất còn lại của các vị vua Chăm Pa. So với các loại vương miện các triều đại của Đại Việt và Trung Hoa, cấu tạo của vương miện của vua Pô Klong Mơh Nai khác hẳn, từ hình dạng đến nội dung thể hiện. Từ đây cho thấy sự khác biệt trong lễ nghi cung đình giữa văn hóa của Chăm Pa với văn hóa của Đại Việt và Trung Hoa. Nhờ chiếc vương miện này mà chúng ta biết được, đặc trưng của các vương miện vua Chăm Pa qua các thời kỳ có dạng hình ống. Các nghệ nhân Chăm xưa đã sử dụng kỹ thuật chạm trổ, điêu khắc điêu luyện tạo lên trên mặt ngoài của vương miện những tác phẩm nghệ thuật tuyệt tác. Trong đó, thủy quái makara là hình tượng chủ đạo trên vương miện, thể hiện uy quyền của nhà vua. Hình tượng makara có nguồn gốc từ văn hóa dân gian Ấn Độ, biểu trưng cho loài vật có sức mạnh. Những con makara sống động quấn quýt nhau quanh vương miện, y như hình tượng con rồng trên vương miện của các vua chúa triều Nguyễn. Đỉnh vương miện có ba đường viền để gắn các hạt đá quý phát sáng.

Khách tham quan cũng như các nhà nghiên cứu, khi đến đây ai cũng muốn được xem chiếc vương miện quý giá này. Lý do trước hết là do nó có cấu trúc lạ và đẹp, chứa đựng nhiều giá trị lịch sử văn hóa nghệ thuật, chứ không hẳn là do nó được chế tác bằng vàng. Hơn nữa, nó là đồ dùng quý báu của một ông vua, là người đứng đầu vương quốc Chăm Pa trong lịch sử.

Trong bộ sưu tập còn thấy một số trang phục của vua chúa Chăm Pa có niên đại từ thế kỷ 16 – 17, bao gồm: áo ngự triều của Vua và Hoàng hậu; trang phục sinh hoạt và đồ trang sức của Vua và Hoàng hậu; trang phục của Hoàng tử và Công chúa. Đáng chú ý là chiếc áo bào của vua Pô Klong Mơh Nai dùng khi ngự triều. Áo có màu đỏ tía, cổ áo và ngực thêu những con thủy quái makara bằng chỉ màu vàng, biểu hiện uy quyền của nhà vua. Những con makara xoắn xuýt vào nhau tôn cho chiếc áo đẹp hơn.
Bộ sưu tập di sản văn hóa Hoàng tộc Chăm chứa đựng các giá trị to lớn về khảo cổ học, lịch sử, nghệ thuật điêu khắc, và văn hóa.

Từ năm 1993, Bộ sưu tập được Bảo tàng Bình Thuận phối hợp với hậu duệ của Hoàng tộc Chăm nghiên cứu phân loại và tiến hành trưng bày, mở cửa phục vụ nhân dân và khách tham quan nghiên cứu.

Năm 2008, tỉnh đầu tư quy mô xây dựng Trung tâm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của cộng đồng người Chăm, đặt ngay tại thôn Tịnh Mỹ, xã Phan Thanh, huyện Bắc Bình. Chức năng chính của công trình là lưu giữ bảo tồn và giới thiệu các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể văn hóa người Chăm ở Bình Thuận đến với đông đảo công chúng, nhân dân trong nước và thế giới.

Những giá trị vật thể có thể nhìn thấy rõ là những công trình kiến trúc văn hóa, như: đền tháp, thành quách, thôn làng, phù điêu, đền thờ, bia đá, tượng đất nung. Bên cạnh đó, người Chăm còn để lại những giá trị văn hóa phi vật thể rất phong phú, bao gồm: ngôn ngữ, chữ viết, huyền thoại, cổ tích, ca dao, tục ngữ, tín ngưỡng, phong tục, tập tục, nghề truyền thống, lễ hội, dân ca, điệu múa rất đặc trưng của dân tộc mình.

Với sự phối hợp tích cực và sự giúp đỡ nhiệt tình của dòng tộc bà Hoàng Thị Thềm, nhiều hiện vật quý hiếm về văn hóa Chăm trong Bộ sưu tập di sản văn hóa Hoàng tộc Chăm được chế tác lại theo đúng như nguyên mẫu, có tỷ lệ 1:1, từ kích thước, hình dáng, đến chi tiết hoa văn, chất liệu bằng vàng, bằng đồng, bằng vải thổ cẩm có đính kim tuyến....



Nhờ vậy, tại phòng trưng bày của Trung tâm, khách tham quan sẽ được chiêm ngưỡng những hiện vật có giá trị như: vương miện Vua, vương miện Hoàng hậu, bộ gươm đao, kiếm, chiết A-tâu (hộp đựng đồ thờ của một dòng tộc), đồ sứ cổ, cùng những đồ dùng sinh hoạt trong hoàng cung, như: búi tóc, hoa tai, vòng xuyến chế tác bằng vàng của Hoàng hậu. Thậm chí, có cả một nải chuối làm bằng vàng.

Những tượng quý của các vua Po Klong Mơ Nai, Po Klong Khul cùng các hoàng hậu; bệ thờ Linga-Yoni của tháp Po Sah Inư cũng được tạc lại bằng đá xanh đen, theo đúng như nguyên mẫu. Kèm theo đó là khu trưng bày các nông cụ, ngư cụ, các sản phẩm dệt thủ công truyền thống, các dụng cụ làm gốm của người Chăm ở thôn Bình Đức, huyện Bắc Bình.

Một phòng chiếu phim hiện đại giới thiệu cho du khách những giá trị văn hóa phi vật thể của người Chăm: đó là lễ hội Ka-tê của người Chăm Bà-la-môn; lễ hội Ramư-wan và đám cưới của người Chăm Bà-ni ở huyện Bắc Bình; lễ hội chém trâu của người Chăm ở Lạc Tánh, huyện Tánh Linh; lễ hội tộc họ Đặng và Nguyễn của người Chăm tại xã Phan Hiệp; và đám hỏa thiêu của người Chăm Bà-la-môn.

Có thể nói, Trung tâm là nơi trưng bày một cách đầy đủ nhất về những giá trị văn hóa của người Chăm Bình Thuận, mà trước đây công chúng chỉ mới biết qua lời kể hay sách báo. Trong tương lai, nơi đây sẽ trở thành một Bảo tàng văn hóa người Chăm, và sẽ là một điểm đến hấp dẫn cho du khách mỗi khi đến Bình Thuận.





Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 19.10.2009, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2344
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 13.10.2009    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

NHỮNG DI TÍCH CHĂM PA Ở TỈNH BÌNH THUẬN
(tiếp theo)

TÌM HIỂU LỊCH CHĂM



Trong tấm bia đá của vua Indravarman III ở Tháp Bà (Nha Trang), dựng năm 918, thấy ghi những dòng chữ Phạn cổ: "Năm Saka biểu hiện bằng Vyoma-Amburasi-Ianu, hôm Mặt trời, ngày 12 hết trăng, tháng Suci, Đức vua cho đúc pho tượng vàng Nữ thần Bhagavati". Nếu không biết gì về lịch cổ Chăm Pa, sẽ chẳng thể hiểu nổi sự kiện mà tấm bia đề cập tới xảy ra khi nào. Nhìn chung, để hiểu được các mốc thời gian ghi trên bi ký, cũng như thời điểm tổ chức các ngày lễ hội của người Chăm, cần tìm hiểu sơ qua về lịch Chăm.

Cùng với tôn giáo, triết học, kiến trúc, điêu khắc, nghệ thuật ca múa nhạc, từ xa xưa, Ấn Độ đã du nhập thứ lịch cổ của họ, ra đời vào năm 78 sau Công nguyên, có tên gọi là lịch Saka, vào vương quốc Chăm Pa. Tuy nhiên, người Chăm đã có nhiều cải tiến sáng tạo để lịch mang tính thực tiễn, phù hợp với đời sống của mình.

Lịch Chăm là loại lịch âm dương hỗn hợp, có hai cách gọi theo tiếng Chăm là: Sakawi hoặc Takawi. Ngày nay, lịch Chăm đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hoá tinh thần của cộng đồng người Chăm ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận (tang ma, cưới gả, dựng nhà, tân gia, mua trâu bò, mua sắm, đình đám, lễ hội, cúng kính,... thậm chí cả sản xuất và phân bố vật nuôi cây trồng cho từng năm).

Đề cập đến lịch là đề cập đến cách tính thời gian. Hiển nhiên, người xưa dựa vào sự dịch chuyển của các thiên thể to lớn trên bầu trời như Mặt trời, Mặt trăng, và các vì sao để phát hiện ra các quy luật tuần hoàn trong vũ trụ, từ đó tính ra các mốc thời gian phục vụ lao động sản xuất và sinh hoạt.

Một năm (thun, thăn) trong lịch Chăm cũng có 12 tháng. Ban đầu, tên các tháng trong lịch Chăm sao y nguyên bản như trong lịch Saka, nhưng về sau, người Chăm đã thay đổi, gọi tên các tháng theo thứ tự con số từ 1 đến 10, riêng tháng thứ 11 và tháng thứ 12 thì dùng hai cái tên là PuisMak - khác hẳn với tên hai tháng cuối năm của lịch Ấn Độ, là DiestaSađa. Hai tên riêng PuisMak nghĩa là gì thì hiện giờ chưa ai giải thích được. Điều này rất đỗi bình thường, vì người Việt cũng không giải thích được, vì sao lại gọi là “tháng Giêng”. Gần đây, có người tham khảo lịch cổ ở Tây Nguyên và một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á cũng chịu ảnh hưởng của Ấn Độ như: Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Inđônêxia... đã đưa ra giả thuyết là các tháng từ 1 đến 10 (tương ứng với tháng 4 đến tháng 2 năm sau trong Dương lịch) là tháng lao động sản xuất, còn 2 tháng còn lại là hai tháng dành cho đất nghỉ ngơi, con người cũng hội hè, chuẩn bị Tết nhất, vì thế... thời gian cứ việc tự do trôi, chả ai thèm đoái hoài.



Các tháng trong lịch Chăm (balan, bilan, pilan) lần lượt là: balan Tha (tháng 1), balan Dua (tháng 2), balan Klau (tháng 3), balan Pak (tháng 4), balan Lima (tháng 5), balan Năm (tháng 6), balan Tajuh (tháng 7), balan Dalipăn (tháng 8), balan Thalipăn (tháng 9), balan Thapluh (tháng 10), balan Puis (tháng mười một), balan Mak (tháng mười hai).

Ở Tây Nguyên, lịch của một số dân tộc chỉ có 10 tháng, và các tháng đều gắn với công việc sản xuất. Ví dụ, một năm của người Raglai gồm các tháng sau đây:

Tháng 1 (bơlan Sa) và tháng 2 (bơlan Đoa) - là các tháng phát hạ cây làm rẫy;
Tháng 3 (bơlan Khâu) và tháng 4 (bơlan Pă) - là các tháng gieo sạ lúa;
Tháng 5 (bơlan Rơma) và tháng 6 (bơlan Năm) - là các tháng làm cỏ lúa;
Tháng 7 (bơlan Juh) và tháng 8 (bơlan Păn) - là tháng đuổi chim lúa sớm và tháng gặt lúa sớm;
Tháng 9 (bơlan Doa Rơpăn) và tháng 10 (bơlan Pluh) - là các tháng gặt lúa trên rẫy;

Còn hai tháng cuối không tên được gọi là tháng nghỉ ngơi (bơlan Ning Nông).

Cả tên gọi và lịch tiết trời và cây trồng giữa lịch của người Chăm và của người Raglai có sự tương đồng kỳ lạ. Và sự tương đồng này chỉ có thể lý giải bằng sự tương đồng về nguồn gốc, chứ không thể bằng sự ảnh hưởng qua lại.

Tên của 12 con giáp (anuk nuthăk) trong lịch Ấn Độ và lịch Chăm đều là: chuột (Takuh), trâu (Kabao), cọp (Rimong), thỏ (Tapai), rồng (Inư girai), rắn (Ula neh), ngựa (Athêh), dê (Pabê), rùa (Kra), gà (Mưnuk), chó (Athau), heo (Pabuai). Điều này bổ ích, vì trong một số bi ký người Chăm dùng các tên này để chỉ năm và tháng.



Dễ hiểu và dễ thông cảm là các tài liệu khi phiên âm các từ trong tiếng Chăm cổ và Phạn cổ sang chữ La-tinh, không nhất quán 100%, có chút ít sai lệch, chẳng hạn, có tài liệu phiên âm tên 12 con giáp lần lượt là: Takuh, Kabau, Rimong, Tapai, Inư girai, Ula raneh, Atheh, Pabe, Kra, Mưnuk, Asau, Pabui.

Một ví dụ nữa minh chứng tính sáng tạo của người Chăm là việc đặt tên cho các ngày (haray, herei) trong tuần. Một tuần trong lịch Chăm cũng có 7 ngày, đó là:

1- Ngày thứ nhất - Chủ nhật - biểu tượng là Mặt trời (Adit - từ chữ Rivit trong tiếng Phạn cổ), tôk mưh = nhận vàng
2- Thứ hai - biểu tượng là Mặt trăng (Thôm - từ chữ Sôma), tôk pariak = nhận bạc
3- Thứ ba - sao Hoả (Angor- từ chữ Mangal), tôk pathei = nhận sắt.
4- Thứ tư - sao Thuỷ (But - từ chữ Bud), tôk tănh bâch = nhận đất đai
5- Thứ năm -sao Mộc (Jip - từ chữ Bruha), thần Gió, tôk drap mưtakai = nhận súc vật
6- Thứ sáu - sao Kim (Suk - từ chữ Sukra), Thượng đế, tôk pacha = nhận y phục
7- Thứ bảy - sao Thổ (Tha - từ chữ Sami), Trái đất, tôk pa dai = nhận thóc lúa.

Như vậy, trong tấm bia đá ở Tháp Bà nói ở trên, “hôm Mặt trời” nghĩa là ngày Chủ nhật.

Giống với lịch Saka của Ấn Độ cổ đại, các tháng trong lịch Chăm xếp xen kẽ một tháng Đực (tháng dương - tháng lẻ - tiếng Chăm là balan tapăk = tháng thẳng) lại đến một tháng Cái (tháng âm - tháng chẵn, tiếng Chăm là balan u = tháng thiếu). Tháng Đực có 30 ngày, tháng Cái có 29 ngày, tính theo chu kỳ mọc-lặn của Mặt trăng. Mỗi tháng lại chia thành hai nửa, nửa đầu và nửa cuối - giống như người Việt có Thượng tuần và Hạ tuần - gọi là thời gian có trăng (bungun) và thời gian hết trăng (klăm - trăng khuyết).



Ngày trong tháng được tính đếm như sau.

Nửa đầu của tháng, các ngày đếm từ mồng 1 đến 15. Các ngày này có tên chung, gọi là tha bangun (tăl thapluh lima bangun – 15 ngày có trăng), riêng ngày 15 (ngày rằm) thì gọi là haray pôrami.

Nửa sau của tháng, các ngày cũng đếm lại từ mồng 1 đến 14, hoặc 15. Các ngày này có tên chung gọi là (haray ia balan abih – ngày trăng tối).

Do cách tính ngày tháng như vậy, nên một năm của lịch Chăm chỉ có 354 ngày (6 tháng có 29 ngày, 6 tháng có 30 ngày).

Người Ấn Độ cổ đại rất giỏi về toán học và thiên văn. Họ đã phát hiện ra có sự sai lệch nhỏ nhoi trong quá trình Mặt trăng di chuyển xung quanh Trái đất. Theo đó, một năm chính xác ra phải là 354 ngày, cộng thêm 6 giờ. Tuy nhiên, 1 giờ của họ (tiếng Chăm là tuk) không phải 60 phút như ở Châu Âu, mà bằng 90 phút. Theo lịch Ấn Độ, một ngày chia ra thành 16 giờ: 8 giờ ban ngày và 8 giờ ban đêm. Họ giải thích điều này theo nguyên lý âm dương thống nhất, và bằng tư tưởng thiên-địa-nhân của họ.

“Con người là biểu tượng của vũ trụ thu hẹp, trên trời (lingik) thuộc về Dương, dưới đất (tanưk) thuộc về Âm. Giữa trời và đất là Con người, là một sinh vật có đủ lương tri, do khí Âm và khí Dương cấu tạo mà thành".

Cơ thể con người, phân tích kỹ ra, cũng gồm đủ ngũ hành và màu sắc, như sau:
1- Kim (pathei) - tượng trưng cho xương, màu trắng
2- Mộc (kayâu) - tượng trưng cho lông, tóc, màu xanh lá cây.
3- Thủy (ia) - tượng trưng cho máu, màu đen.
4- Hỏa (apui) - tượng trưng cho nhiệt, màu đỏ.
5- Thổ (tanưk) - tượng trưng cho da thịt, màu vàng.

Đồng thời, trên cơ thể con người có hai vị trí đặc biệt:

1- Xoáy đầu (kayon): tượng trưng cho rốn Trời, vì khi Mặt trời chiếu đứng bóng thì người Chăm gọi là Mặt trời đứng ở đỉnh đầu (Yang harei đi krưk akauk)

2- Rốn (bauk pasak): tượng trưng cho rốn Đất, vì chiều dài từ chân đến rốn đo được 4 gang tay, từ rốn đến đỉnh đầu cũng đo được 4 gang tay. Ở người nào thì đo gang tay của người đó.

Tổng cộng, chiều dài (chiều cao) của cơ thể con người đo được 8 gang tay. Hơn thế, khi giang hai cánh tay ra và đo khoảng cách từ bàn tay trái sang bàn tay phải, cũng đúng bằng 8 gang.

Đây là một điểm khá mấu chốt, cho phép giải thích vì sao trong lịch Chăm thường xuyên sử dụng con số 8 (khác với lịch Trung Hoa cổ đại). Qua đó cũng thấy, những người tạo ra lịch cổ Ấn Độ đã gắn kết con người vào quá trình làm lịch, chứ lịch không chỉ phụ thuộc vào các thiên thể, tinh tú và các vị thần (lịch can-chi dựa vào Hà đồLạc thư, là những yếu tố huyền thoại).

Từ cách đo đếm chính xác “1 năm gồm 354 ngày cộng thêm 6 giờ”, sẽ thấy, năm tiếp theo có 354 ngày cộng thêm 12 giờ; năm tiếp theo (năm thứ ba) có 354 ngày cộng thêm 18 giờ, tức 355 ngày cộng 2 giờ (vì một ngày có 16 giờ !); năm tiếp theo (năm thứ tư) có 354 ngày cộng thêm 8 giờ; năm tiếp theo (năm thứ năm) có 354 ngày cộng thêm 14 giờ; năm tiếp theo (năm thứ sáu) có 355 ngày cộng thêm 4 giờ; năm tiếp theo (năm thứ bảy) có 354 ngày cộng thêm 10 giờ; năm tiếp theo (năm thứ tám) có 355 ngày chẵn; và mọi chuyện trở lại từ đầu.



Bằng cách này, thời gian quay vòng các năm của Ấn Độ cổ đại là 8 năm, trong đó có 5 năm có 354 ngày (gọi là thun wak - năm móc nối, móc xích) và 3 năm có 355 ngày (gọi là thun mưh - năm tách rời, năm đứng độc lập). Do lịch Saka khởi đầu từ năm 78 sau Công nguyên, nên năm 80 sau Công nguyên là năm nhuận, do vậy, quy luật đơn giản là, lấy năm Dương lịch chia cho 8, nếu số dư là 0, 3, hay 5, thì đó là năm nhuận trong lịch Chăm. Ví dụ, các năm 2000, 2003, 2005 đều là năm nhuận.

Sách cổ của người Chăm hướng dẫn cách tính “klau thun nưh, lima thun wăk, dalipăn thun yah”, nghĩa là “3 năm tách rời, 5 năm móc xích, 8 năm xoá”, tức là trong 8 năm có 3 năm nhuận và 5 năm thường, hết 8 năm lập chu kỳ khác. Chu kỳ 8 năm người Chăm gọi là “dalipăn thun” và đặt tên riêng cho từng năm trong chuỗi 8 năm đó là: Lier, Har, Jim, Jưi, Dal, Pak, Wau, Jim Iwic (hay Jut). Người Chăm không dùng ngũ hành để gán cho mệnh các năm (như lịch can-chi của Trung Hoa cổ đại), mà dùng chính 8 cái tên này để xác định cung mệnh (băng nuthăk). Chẳng hạn trong chuyện xem tuổi để dựng vợ gả chồng, người ta phải xem năm sinh của đôi trai gái và luận xem hai cung mệnh có hợp nhau không.

* * *
Trở lại với số ngày trong 1 năm. Do lịch phục vụ sản xuất nông nghiệp, mà năng suất cây trồng chịu tác động chủ yếu của Mặt trời, nên một năm Mặt trăng - dù là 354 ngày, hay 355 ngày đi nữa - đều bị hụt so với vòng quay của Trái đất xung quanh Mặt trời, là 365-366 ngày đêm.

Do vậy, người xưa đã tạo ra tháng nhuận để bù thêm ngày cho đúng với lịch thời tiết. Cách tạo ra tháng nhuận dựa vào chu kỳ 8 năm, nghĩa là, trong năm nhuận sẽ bù thêm tháng nhuận (tháng thứ 13, gọi là balan bhang) có 29 ngày, chứ không chỉ bù thêm 1 ngày.

Cách làm này hợp lý, vì tổng số ngày chu kỳ 8 năm là 2.922 ngày bằng: (5 năm thường x 354 ngày = 1.770 ngày; 3 năm nhuận x 355 ngày = 1.065 ngày; 3 tháng nhuận x 29 ngày = 87 ngày).

Tổng số ngày của 8 năm dương lịch (có 2 năm nhuận, vì cứ 4 năm, nhuận một lần) cũng bằng đúng ngần ấy, vì (6 năm thường x 365 ngày = 2.190 ngày; 2 năm nhuận x 366 ngày = 732 ngày; cộng lại cũng cho ra con số 2.922 ngày).

Lịch Chăm còn có chu kỳ 32 năm, gọi là “klau pluh dua thun”, gồm 4 lần chu kỳ 8 năm. Tuy nhiên, tháng nhuận tính vào năm thứ 32 không gọi là balan bhang như thường lệ, mà gọi là balan barau.

Người Chăm cũng tính sẵn cho dễ nhớ, năm mở đầu (thun Har) bắt đầu là Thứ ba; năm tiếp theo (thun Jim) bắt đầu là Chủ nhật; năm tiếp (thun Jưi) bắt đầu là Thứ năm; năm tiếp (thun Dal) bắt đầu là Thứ hai; tiếp theo (thun Pak) bắt đầu là Thứ bảy; năm tiếp (thun Wau) bắt đầu là Thứ tư; cuối cùng (thun Jim lwic) bắt đầu là Chủ nhật.

Một câu hỏi đặt ra là tháng nhuận của người Chăm rơi vào tháng thứ mấy?

Để biết câu trả lời, phải tìm hiểu về các mùa trong năm. Người Chăm cũng chia một năm thành các mùa như bên Ấn Độ, nhưng do điều kiện khí hậu có những nét khác biệt, nên người Chăm chỉ có 3 mùa, trong khi bên Ấn Độ có tới 6 mùa, mỗi mùa kéo dài 2 tháng, đó là: mùa xuân (vasanta), mùa hạ (giusma), mùa mưa (varsa), mùa thu (sharat), mùa đông (hemanta), và mùa lạnh (sisira)

Ba mùa của lịch Chăm là:

1 - păl kabo (mùa đầu, hay mùa có tiếng sấm đầu tiên rền buổi đầu năm): từ tháng 1 đến tháng 4 lịch Chăm (tức là từ tháng 4 và 5 đến tháng 7 và 8 Dương lịch), và là mùa gieo hạt

2 - păl halim hacan (mùa mưa gió) từ tháng 5 đến hết tháng 9 lịch Chăm (từ tháng 8 và 9 đến tháng 12 và tháng 1 Dương lịch), là mùa nước lớn, vì lúc này lũ từ trên vùng núi chảy xuống nhiều

3 - păl pinh piang (mùa nóng nực, mùa trơ trụi) từ tháng 10 đến hết tháng 12 lịch Chăm (từ tháng 1 và 2 đến tháng 3 và 4 DL.) là mùa gặt hái đã xong, ruộng đất còn trơ gốc rạ, trời nóng, cây cỏ không mọc nổi, thậm chí bị cháy xém đi, vì thế mùa này còn được gọi là mùa nắng.

Để biết đúng thời tiết tháng 1 của lịch Chăm (tương đương với tháng 4 Dương lịch, tức là đầu mùa hạ), sách cổ khuyên: “Hãy căn cứ vào địa lý và thiên văn”.

1- Địa lý (jutăng tanưh riya): Căn cứ vào môi trường và các hiện tượng thiên nhiên xảy ra xung quanh.
- Thun uôn (tiếng sấm rền): Cây cỏ nẩy mầm, trổ lá báo hiệu vào tiết tháng Giêng.
- Djơp balan tha hala anuih thrôh: Đúng tiết tháng Giêng, cây me trổ lá.
- Djơp balan tha ka diên mưnhi: Đúng tiết tháng Giêng, ve sầu kêu.
- Djơp balan pak harek mưrok thrôh bunga: Đúng tiết tháng Tư cây cổ rùa trổ bông.



2- Thiên văn (ju tăng akan): Căn cứ vào ba ngôi sao
- Sao Rua (sao Tua Rua), (patuk bangu nung, danh từ khoa học: Pleiades)
- Sao Cày (patuk boh lingal, danh từ khoa học: Baudrier d’Orion)
- Sao Thần Nông (patuk cho, danh từ khoa học: Sirus)

Về sự vận hành ba ngôi sao ấy, sách cổ ghi như sau:
1. Ngày mồng 8 hạ tuần tháng 1, sao Tua Rua ẩn; ngày mồng 8 hạ tuần tháng 2, sao Tua Rua nở.
2. Ngày mồng 8 hạ tuần tháng 2, sao Cày ẩn; ngày mồng 8 hạ tuần tháng 3, sao Cày nở.
3. Ngày mồng 8 hạ tuần tháng 3, sao Thần Nông ẩn; ngày mồng 8 hạ tuần tháng 4, sao Thần Nông nở.

Thời gian ẩn, nở của 3 ngôi sao ấy, người Chăm gọi là băr pađiăk (mùa hạ), thời tiết oi bức, nông dân nghỉ ngơi làm lễ hội cầu đảo (yuôn yang palao rija sah) cầu an, cầu phúc, cầu hòa. Họ không trồng bất cứ loại giống cây gì, vì cho rằng đây là thời kỳ đất bệnh (ruăk tanưh).

Theo cách tính của người Chăm, khi sao Rua xuất hiện và sao Thần Nông bắt đầu ngồi thẳng dậy về phía Bắc, là bắt đầu mùa mưa, có thể khởi sự việc cày bừa, và cũng là bắt đầu của một năm. Người Chăm tin rằng, bao giờ sao Rua cũng nở vào cuối tháng 2 lịch Chăm, và các ông thầy bao giờ cũng phải tính, sao cho khi sao Rua nở, là rơi đúng vào cuối tháng 2. Sách cổ dạy, khi nào nhìn về hướng Đông vào lúc trời rạng sáng mà thấy sao Rua xuất hiện trên đỉnh núi được một lúc rồi tan biến bởi ánh bình minh, thì thời điểm đó, lịch Chăm phải gọi là tháng 2.

Theo kinh nghiệm của người Chăm, chỉ sau khi sao Rua nở thì trời mới bắt đầu mưa, còn khi sao Rua đang nở, sẽ có những “tiêm lửa” nóng làm chết hoa màu. Do vậy, người Chăm thường chờ cho sao Rua nở xong và đã có mưa, thì mới bắt tay vào công việc đồng áng.

Dân gian có câu:

Sao Tua Rua nở, vàng cây héo lá
Sao Tua Rua lặn, chết cá chết tôm




Bởi vậy, năm nào đã hết tháng 1 rồi, mà sao Rua hãy còn ở trên cao, nghĩa là không thể nở kịp vào cuối tháng 2, thì các ông thầy liền thêm vào 1 tháng, và gọi luôn tháng 1 thêm ấy là tháng mới, coi như là tháng thừa dôi da từ năm trước. Năm ấy gọi là năm nhuận. Nếu các ông thầy không thêm vào tháng nhuận, thì năm sau sao Rua sẽ nở vào tháng 3, điều này trái với những điều đã quy định trong sách cổ.

Không chỉ người Chăm, người Việt, mà còn nhiều dân tộc khác ở Đông Nam Á có truyền thống xem sao Rua, sao Cày, và sao Thần Nông để xác định điểm khởi đầu của một năm.

Nếu trường hợp trời u ám, nhiều mây, không xem được sao Rua, thì các ông thầy người Chăm xem sao Cày (nở sau sao Rua một tháng) để tính năm. Nếu trường hợp không xem được sao Cày, thì xem sao Thần Nông (nở sau sao Cày một tháng).

Tục ngữ người Chăm có câu:
- Cha rah bilan glăng patuk
- Ikak tuh glăng yang harei
- Cha dar harei glăng yang bilan


Nghĩa là:
- Chỉnh tháng thì nhìn ngôi sao
- Định giờ thì nhìn Mặt trời
- Định ngày thì nhìn Mặt trăng

Người Chăm cũng “mê tín” gán cho từng tháng trong năm những điều thuận của chúng:

Tháng 1: balan Tha, binhưk than ươn = thuận về tương tư
Tháng 2: balan Dua, binhưk danuk khan = thuận về.....
Tháng 3: balan Klau, binhưk pa dai = thuận về thóc lúa
Tháng 4: balan Pak, binhưk mưtai = thuận về chết chóc
Tháng 5: balan Lima, binhưk mưthao = thuận về gây hấn
Tháng 6: balan Năm, binhưk pagun drap = thuận về tài sản
Tháng 7: balan Tajuh, binhưk than kih = thuận về đau ốm
Tháng 8: balan Dalipăn, binhưk gamuk khak = thuận về tội lỗi
Tháng 9: balan Thalipăn,binhư mưthao = thuận về gây hấn
Thang 10: balan Thapluh, binhưk than rap biak = thuận về phát tài
Tháng 11: balan Pius, binhưk rat dabrat dhinh = thuận về hưng thịnh
Tháng 12: balan Mak, binhưk apui băng = thuận về lửa cháy

Dựa trên kinh nghiệm, sách lịch cổ của người Chăm “hướng dẫn” về thời tiết các năm như sau:

1. Năm con chuột (takuh): 2 con rồng đi kiếm ăn, 2 con rồng đi chơi, 2 con rồng lấy nước làm mưa.
- Năm ấy thời tiết mát mẻ, người, vật nuôi (trâu, bò, dê, ngựa, gà) cây trồng sinh sôi nẩy nở.
- Tháng 2, 3, 10 trời nắng, sương nhiều.
- Tháng 6 thượng tuần mưa.
- Tháng 9, 11 ít mưa.
- Được mùa lúa, trái cây, có dịch bệnh cho con người.

2. Năm con trâu (kabao): 2 con rồng ở nhà, 3 con rồng đi lấy nước làm mưa.
- Tháng 2, 3 mưa, tháng 4 ít mưa, tháng 6 sương nhiều.
- Ruộng gò tốt lúa, ruộng sâu bị úng.
- Tháng 7 mưa nhiều, có dịch bệnh cho người và vật, trong xứ bình yên.
- Được mùa hoa màu: mè, đậu, bo bo, bông vải, trái cây, cà.

3. Năm con cọp (rimong): 1 con rồng bị bệnh, 6 con rồng đi lấy nước làm mưa.
- Tháng 1, 2 nắng.
- Tháng 3, 4 thuận mưa, được mùa hoa màu: đậu, hạt kê, bo bo.
- Tháng 7, 8 thượng tuần nắng, hạ tuần mưa.
- Tháng 9 thuận mưa, ruộng gò tốt lúa, ruộng sâu lúa bị ngập úng.
- Trong xứ có loạn lạc vài nơi nhưng không đáng kể.

4. Năm con thỏ (tapai): 4 con rồng bị bệnh, 2 con rồng ở nhà, 6 con rồng đi lấy nước làm mưa.
- Tháng 1, 3 thuận mưa, tháng 7 nắng được mùa trái cây, trong xứ có dịch bệnh xảy ra.
- Tháng 8 mưa cả xứ, tháng 9 mưa lụt.

5. Năm con rồng (inư girai): 8 con rồng bị bệnh, 2 con rồng đi lấy nước làm mưa.
- Dịch bệnh cho gia súc, người chết nhiều.
- Được mùa: biển, trái cây, sâu bọ phá hại mùa màng, vua chúa bất an.
- Tháng 2, 8, 11 thuận mưa, lụt ngập đồng bằng, trong xứ loạn lạc.

6. Năm con rắn (ula neh): 1 con rồng bị bệnh, 2 con rồng ở nhà, 6 con rồng đi lấy nước làm mưa.
- Được mùa hoa màu, trâu bò chết đầy rừng.
- Tháng 2, 12 mưa ít, tháng 4, 6 thuận mưa, tháng 7 nắng, tháng 8, 9, 11 mưa ít được nhiều thịt.

7. Năm con ngựa (athêh): 2 con rồng ở nhà, 2 con rồng đi lấy nước làm mưa.
- Tháng 1, 2 hay mưa, tháng 7 nắng.
- Được mùa lúa, hoa màu, dịch bệnh cho người, vật nuôi, ruộng bò bị thất mùa. Ruộng sâu bị sâu bọ phá hại mùa màng, không có giông bão.

8. Năm con dê (pabê): 2 con rồng bị bệnh, 2 con rồng ở nhà, 3 con rồng đi lấy nước làm mưa.
- Tháng 1 nắng.
- Ruộng gò tốt lúa, ruộng sâu bị ngập úng, có dịch bệnh cả xứ, sâu bọ phá hoại mùa màng.
- Tháng 2, 3, 4, 6 mưa ít, tháng 7 vào hạ tuần mưa nhiều, có gió to, tháng 8, 9 chuột phá lúa, tháng 10 mưa.

9. Năm con rùa (kra): 2 con rồng bị bệnh, 2 con rồng ở nhà, 2 con rồng đi lấy nước làm mưa.
- Tháng 2 thuận mưa, được mùa lúa, hoa màu, dịch bệnh gia súc.
- Tháng 3, 4 nước mắt như mưa (người chết nhiều), dân trong xứ bất an.
10. Năm con gà (mưnuk): 4 con rồng bị bệnh, 2 con rồng đi lấy nước làm mưa.
- Tháng 2, 4, 6 mưa ít, mất mùa. Trong xứ bất an, thời tiết lộn xộn (bất thường), có bão lớn.

11. Năm con chó (athau): 3 con rồng bị bệnh, 1 con rồng ở nhà, 3 con rồng đi lấy nước làm mưa.
- Tháng 1, 2 hay mưa, tháng 7 nắng, được mùa hoa màu.
- Tháng 7, 8, 9 mưa vào thượng tuần. Trong xứ bình yên, vài địa phương có dịch bệnh cho người.

12. Năm con heo (pabuai): 5 con rồng bị bệnh, 2 con rồng ở nhà, 2 con rồng đi lấy nước làm mưa.
- Lúa bị sâu bệnh, mất mùa cả lúa và hoa màu, người và gia súc bệnh nhiều, trong xứ có nhiều tranh chấp.
- Tháng 2 mưa nhiều, tháng 3, 4 nắng, tháng 6 gió thổi mạnh.
- Tháng 7, 8 nắng, tháng 9, 10 mưa lụt, cây cối tàn tạ, trong xứ có loạn lạc.

* * *
Trước thế kỷ thứ 15, người Chăm dùng lịch Saka của Ấn Độ cổ đại. Sau thế kỷ thứ 15, Chăm Pa cũng như các quốc gia Căm-pu-chia, Lào, Thái Lan chuyển hệ thống lịch Saka sang hệ thống lịch 12 con giáp.

Hơn nữa, ở vương quốc Chăm Pa tồn tại hai hệ thống lịch khác biệt, đó là Sakarai Sakawi.

Sakarai (Saka+Raja) có nghĩa là niên đại hoàng gia, hay là lịch hành chính, dùng trong văn kiện quốc gia. Lịch này chỉ dùng tên 12 con giáp, sau đó là ngày tháng. Thí dụ: di thun nasak tikuh, bulan lima, tujuh bigun but. Và trong hơn 20.000 tư liệu hoàng gia Champa từ năm 1600 đến năm 1810 đang lưu giữ ở Pháp, đều ghi ngày tháng theo thể thức này. Nhiều người biết, lịch hành chính Sakarai có sự sai lệch một tháng giữa khu vực Phan Rang và Phan Rí, kể từ ngày khởi nghĩa của Ja Thak Wa vào năm 1834. Vì thế, khi đề cập đến các sự kiện lịch sử xảy ra ở hai vùng này, cần thận trọng.

Sakawi (Saka+Jawi) có nghĩa là niên đại Mã Lai (Jawi), hay lịch Hồi Giáo, dựa trên chu kỳ 8 cung mệnh.





Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 19.10.2009, sửa lần 1
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2344
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 19.10.2009    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

THÁP CHÀM TRÊN CAO NGUYÊN

THÁP YONG PRONG Ở ĐẮC LẮC

Tháp Yang Prong (Thần Vĩ đại), hay còn gọi là Tháp Chàm Rừng xanh, ở xã Ea Rok, huyện Ea Súp, tỉnh Đắc Lắc, cách thị trấn Ea Súp khoảng 15 km, cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 100km.

Tháp rất đặc biệt, bởi đây là ngôi tháp Chàm duy nhất không được xây dựng trên những ngọn đồi cao, trơ trụi không bóng cây như những ngọn tháp khác, mà lại nằm chìm lấp dưới những tán cổ thụ của rừng già Ea Súp và bên dòng sông Ea H'leo. Đây cũng chính là ngọn tháp Chàm duy nhất được tìm thấy trên Tây Nguyên. Niên đại của tháp là cuối thế kỷ 13, do vua Chế Mân xây dựng.

Toàn bộ tháp Yang Prong được xây bằng gạch nung đỏ trên một nền cao bằng đá xanh. Tháp cao 9m, có đáy vuông, mỗi cạnh dài 5m. Chỉ có một cửa ra vào mở về hướng đông, còn ba mặt tường ngoài của tháp đều có 3 cửa giả. Đỉnh tháp nhọn như củ hành. Bên trong tháp có bệ thờ thần Siva dưới hình thể Mukha-Linga.

Trong thời gian chiến tranh, tháp bị đánh mìn nên đã hư hỏng nhiều. Hiện tháp Yang Prong đã được tu bổ và trở thành một điểm tham quan quan trọng ở Đắc Lắc.

...........



THÁP CHÀM Ở GIA LAI

Năm 2006, Sở Văn hoá thông tin Gia Lai cho biết, lần đầu tiên đã phát hiện một tháp Chàm ở độ cao 103 m, bị vùi trong đất và cây rừng tại buôn Jú, xã Krông Năng, huyện Krông Pa. Đây là tháp Chàm đầu tiên được phát hiện tại tỉnh này.

Tháp đã bị sạt phần nóc, chiều dọc dài 6,9 m, cạnh tháp dài 5 m. Giữa lòng tháp là một hố sâu, đường kính 1 m, có gạch chèn xung quanh, có nhiều khả năng đây là vị trí của một bệ thờ.

Đoàn khảo sát còn phát hiện thêm nhiều viên gạch có kích thước khác nhau, nặng 14 kg/viên, được nung đỏ, rất chắc. Tại một địa điểm gần đó thuộc thôn Jú, xã Phú Cần cũng phát hiện nhiều viên gạch cùng loại nằm rải rác trên diện tích hàng trăm mét vuông.

Ngôi tháp này đang có nguy cơ bị xâm thực bởi dòng chảy sông Krông Năng, vì vị trí tháp chỉ cách mép nước chừng 10 m. Theo tài liệu của Viện Viễn đông Bác cổ để lại thì từng có thông tin về tháp Chàm thế kỷ 15 ở khu vực này.


PHÁT HIỆN THÊM VỀ NGÔI THÁP CHÀM Ở GIA LAI

ThS. Nguyễn Quang Tuệ
(Bảo tàng tỉnh Gia Lai)

A. Sơ lược về tháp Chăm ở Tây Nguyên và Gia Lai

Từ khá sớm, một số tài liệu trong nước và ngoài nước (chủ yếu là của người Pháp) đã đề cập tới các vấn đề liên quan đến di tích Chăm trên đất Tây Nguyên. Theo đó, những cái tên Yang Mum (Ayun Pa, Gia Lai), Kon Klor (Kon Tum), Yang Prong (Ea Súp, Đak Lak),… vẫn thường được nhắc lại nhiều lần.

1. Tổng hợp nhiều nguồn thư tịch có giá trị khác nhau một cách có hệ thống, theo tác giả sách Sons of the mountains (Những đứa con của núi rừng) thì cái mà người ta từng thấy (qua một văn bản mô tả của một cha đạo) ở Kon Klor khoảng trước năm 1886 chỉ là một “pho tượng làm bằng kim loại cao một mét, có chân tay được tạc rất nghệ thuật”. Vẫn sách trên cho hay, đến 1923, một học giả Pháp khác đến vùng này khai quật và họ đã tìm thấy một vài hiện vật có chứa đựng chữ viết trên đó. Nội dung các kí tự vừa nêu liên quan đến tư tưởng Phật giáo Đại thừa và niên đại của hiện vật (bia?) mang kí tự này là 914. Năm 1967, tác giả cuốn sách đang dẫn đã trực tiếp đến di chỉ Kon Klor và thấy nó “chỉ gồm có mấy hòn gạch, hầu hết đã vỡ”(1). Kế thừa hợp lí nhiều nguồn tài liệu nước ngoài, các tác giả Việt Nam cũng đã có những lưu ý trùng hợp với những gì đã được nêu từ trước về Kon Klor.

Những thông tin nêu trên đã được nhiều tài liệu dẫn lại.

2. Về Yang Prong, vẫn theo tác giả sách Sons of the… thì năm 1901, Viện Viễn đông Bác cổ đã có thông tin về ngôi tháp ở gần sông Hleo, thuộc Bản Buôn Đôn này. Ngày 9/3/1904, Odend’hal (người sau này đã bị Vua Lửa giết chết) đã thăm nó và ông ta phải chờ đến 5 ngày để đuổi hết dơi ra khỏi tháp. Tháng 7/1906, H. Maitre cũng đến xem Yang Prong và chụp ảnh tháp. Cả hai người Pháp vừa kể đều thấy trong tháp này khi đó, có “cái tượng dương vật có đầu Siva ở chỗ bàn thờ”… H. Parmentier cho rằng, tháp trên được xây dựng vào khoảng cuối thế kỉ 14 (2), còn theo các nhà nghiên cứu Việt Nam, khoảng thời gian sau 1285, khi vua Chăm là Chế Mân lấy em gái vua Đại Việt Trần Anh Tông là công chúa Huyền Trân, và ông ta chết ngay sau đấy, thì trước đó, Chế Mân đã cho xây dựng Yang Prong (3).

Yang Prong từng bị tàn tạ, nhưng nay thì đã được tu bổ lại.

3. Cheo Reo là địa danh từ lâu đã gắn liền với tháp Yang Mum (Ayun Pa, Gia Lai hiện nay). Theo Sons of the… thì từ 1901, Viện Viễn đông Bác cổ đã có thông tin về hai cái tháp Chăm ở gần Cheo Reo; vị trí của chúng cận kề với buôn Chu, thung lũng sông Ayun…



Tháng 6/1902, H. Parmentier đã đến và thấy các tháp ở khu rừng gần đấy bị che phủ bởi cây cối rậm rạp. Tháp được xây dựng trên nền đất đá ong; còn có một tấm bia, chữ còn đọc được, và một bức tượng thần Siva cưỡi trên con bò thần Nandin… Tháng 3/1904, H. Parmentier và Odend’hal quay lại thăm tháp. Lúc này, nó đã có tên là Yang Mum (theo cách gọi của người Jrai tên Yă H’Mum, từ cái tên Rcom H’Mum, một bà tổ của thị tộc Rcom, tác giả sách dẫn lời J. Dourner). Tại Cheo Reo, Drang Lai cũng thường được nhắc đến như là một dấu tích về đền tháp của người Chăm.

Tuy vậy, vẫn theo tài liệu đang dẫn thì vào thời điểm đó, Drang Lai đã là một phế tích (cái còn lại là “một cái nền đá ong và một chồng gạch”), cách Yang Mum chừng 4 km về phía tây, gần buôn De (Buôn Đê, thị trấn Phú Thiện, Ayun Pa ngày nay – NQT). Dù vậy, tác giả Sons of the… dẫn lời các nhà khoa học Pháp cho rằng, những kí tự mà người ta tìm thấy ở hai ngôi đền tháp trên đều cho biết niên đại của các kiến trúc này là thế kỉ 15 (4).

Hiện nay, cả Yang Mum và Drang Lai đều không còn hiện hữu ở Ayun Pa, Gia Lai với những dấu vết rõ ràng của đền tháp.

4. TS. Nguyễn Thị Kim Vân (nguyên cán bộ Bảo tàng Gia Lai, hiện làm việc tại Sở VHTT tỉnh) cho biết, từ cuối 6/1996, chị đã có những thông tin thực địa về các di tích Chăm ở Ayun Pa, Gia Lai (5). Liên tiếp trong các năm 1993, 1996, 1999, TS. Vân đã lần lượt có các bài viết được công bố trong Hội nghị Thông báo những phát hiện mới về khảo cổ học do Viện Khảo cổ học Việt Nam tổ chức. Đó là các bài “Bức phù điêu Phật ở Gia Lai”, “Dấu tích văn hóa Chăm ở thị trấn Ayun Pa” và “Bức phù điêu Chăm ở chùa Bửu Tịnh”; trước đó, cùng với Bùi Minh Trí, TS. Vân cũng đã công bố tại Hội nghị Thông báo những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1992 bài “Về bức phù điêu Chăm lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Gia Lai”…

Chúng tôi chú ý nhiều đến bài viết “Dấu tích văn hóa Chăm ở thị trấn Ayun Pa” của Nguyễn Thị Kim Vân. Vào thời điểm 14/8/1996, ngoài việc dẫn các đoạn viết liên quan từ Sons of the…, tác giả còn cho biết cụ thể về hiện trạng của từng đền tháp ở nơi đây:

- Yang Mum xưa nay thuộc mảnh đất trồng mì (sắn) của gia đình ông Phu trên đồi 52, xóm 4, thị trấn Ayun Pa. Tại đây, trên nền đất “có rất nhiều mảnh gạch Chàm dùng để xây tường và rất nhiều mảnh đá ong thường được dùng để xây chân tháp nhưng không tìm thấy viên gạch nào cũng như đoạn chân tháp nào nguyên vẹn”. Linh mục Nguyễn Hoàng Sơn cho tôi xem 2 viên gạch còn nguyên vẹn mà ông nói là đã tìm thấy ở Yang Mum. Cả 2 viên gạch đều có màu nâu đỏ, một viên hình vuông và một viên hình chữ nhật. Viên thứ nhất có kích thước 20 x 20 x 2,5cm. Viên thứ hai chúng tôi đo được: 24 x 12 x 7cm”.

- Về Drang Lai (TS. Vân viết là Drang Glai): Nay nằm trong nền nhà của ông Hà Văn Hồng (70 tuổi), khu phố 1 thị trấn Ayun pa. Khu vực này nay dân cư đã ở kín. Người viết đã tìm thấy tại đây “9 viên đá ong khá nguyên vẹn, trong đó có 2 viên có 1 cạnh dọc được cắt lõm vào chừng 4cm để tạo gờ nối với những viên khác. Các viên đá ong này có kích cỡ tương đương nhau: 70 x 40 x 22cm. Theo chủ nhà, nền tháp này có diện tích 11m x 7m. (Ngày 19/10/2006 vừa qua, chúng tôi đã cùng TS. Vân đến địa điểm vừa nêu. Chúng tôi đã xin chị Rơlan Hmrit (cư trú tại mảnh đất phía sau, sát nhà ông Hồng 3 viên gạch Chăm đang được gia chủ dùng làm đầu rau bếp mang về Bảo tàng Gia Lai; viên còn nguyên vẹn nhất, khoảng 85%, có kích cỡ rộng: 13cm; dài: 32cm; dày: 7,5cm; nặng: 5,5kg. Các viên đá ong lớn khi xưa nay đã bị xẻ ra làm nhiều mảnh nhỏ hơn, hiện được kê lại làm nơi giặt giũ, tắm rửa…).

- Ngoài ra, người viết còn để cập đến một đền tháp mang tên Quai King. Theo TS. Nguyễn Thị Kim Vân, J. Dournes (người viết không nêu nguồn tài liệu dẫn – NQT) từng cho rằng đây là “một vị trí hành chính của người Chàm” và “nếu xét về vị trí thì Yang Mum nằm ở phía Đông, Drang Lai ở phía Tây, còn Quai King thì ở phía Nam, tạo thành một thế chân kiềng mà mỗi cạnh cách nhau khoảng 1km. Quai King còn lại dấu vết rõ nét của một cái thành, hiện nằm trong vùng đất, thuộc khu phố 8 thị trấn Ayun Pa”…

5. Dựa trên tư liệu thành văn về văn hóa Chăm ở Gia Lai hiện có mà chúng tôi biết được, có thể nhận xét rằng:

- Các tư liệu được cung cấp từ địa phương (chủ yếu qua TS. Vân) có vai trò quan trọng không chỉ đối với việc “thông báo phát hiện khảo cổ” mà còn là cơ sở, dẫn chứng cho một số bài viết, công trình liên quan đến đền tháp Chăm tại Gia Lai, Tây Nguyên được thực hiện từ Trung ương hoặc tỉnh bạn;

- Đền tháp Chăm tại Ayun Pa, Gia Lai sau những phát hiện của người Pháp hồi đầu thế kỉ 20 đến nay gần như không có gì thay đổi, về thông tin. Có chăng đó là các văn bản, những hình ảnh mô tả sự tàn lụi không gì cứu vãn nổi của những Yang Mum hay Drang Lai thiêng liêng một thời.
- Krông Pa (hiện nay) là một khu vực chưa từng được nói đến với những phát hiện về đền tháp của người Chăm.

B. Về phế tích tháp Chăm trên đất Krông Pa

Tại Gia Lai, nếu như các tài liệu của Pháp và giới nghiên cứu trong nước chỉ nhắc đến một vài tháp Chăm cụ thể ở Ayun Pa, một huyện liền kề với Krông Pa hiện nay, thì những nghiên cứu của tất cả họ về Phú Yên cũng không đả động gì đến Krông Pa, với tư cách là một mảnh đất liền kề, có khả năng có tháp Chăm.

Nằm giữa Ayun Pa và Phú Yên, cũng là nằm giữa Kon Tum và Đak Lak (những nơi đã phát hiện dấu vết, tháp Chăm), trên con đường cổ nối liền cao nguyên với đồng bằng miền Trung, mà tại sao Krông Pa lại không có tháp Chăm? Hơn thế, chính tại xã Đất Bằng của địa phương này cách nay 20 năm, người ta đã từng tình cờ tìm thấy một bức phù điều Chăm… Nhiều năm mang theo thắc mắc ấy, chúng tôi đã cố gắng để ý đến các yếu tố văn hóa dân gian, nhất là đền tháp Chăm ở đây nhưng chưa gặp. Cho đến một ngày:

1. Ngày 10.10. 2006, buôn Jú, xã Krông Năng:

Sau nhiều ngày điều tra bằng nhiều cách tại các buôn của xã Đất Bằng (nơi được “nghi ngờ” nhất) mà vẫn không mang lại kết quả, chúng tôi (Nguyễn Quang Tuệ, Nguyễn Giác – Phó Trưởng Phòng Nghiệp vụ Bảo tàng Gia Lai và Ngô Tuyến – Phó Trưởng Phòng VHTT-TT Krông Pa) quay sang Krông Năng – xã giáp giới với tỉnh Phú Yên.

Tổng hợp các nguồn tin, chúng tôi được ông Ksor Jônh (Ama Quang) Chủ tịch UBND xã này xác nhận tại địa bàn buôn Jú có một tháp Chăm có tên gọi là Bang Keng, từng bị đào bới và nay thì hoang tàn. Lúc đó đã hơn 10h trưa, chúng tôi vội vàng lên đường theo sự chỉ dẫn của anh Nay Yut (tức Ama Trăng, cán bộ văn hóa xã). Từ trung tâm xã, có thể đi xe máy chỉ hết chừng vài chục phút là đến buôn Jú (khoảng 2km) nhưng từ đó đến tháp Chăm thì không dễ dàng chút nào (khoảng 1,5km). Chúng tôi liên hệ và mời được ông Ksơr Tak (ơi Trinh) 80 tuổi, người buôn Jú dẫn đường đi tiếp. Chặng đường đi bộ tiếp theo dài hơn 1 km, nhưng khá quanh co, khó đi. Buôn Jú ở bên này, còn Bang Keng thì ở bên kia sông Krông Năng.

Ông Trinh đồng ý cho thuê thuyền và mặc dù là người đã bạo gan, từng mang hai viên gạch Chăm ở đây về kê dưới chân thang nhà sàn, nhưng lúc này lại sợ, không dám qua nơi ấy. (Tất cả mọi người Jrai ở đây đều coi Bang Keng là nơi linh thiêng, có Yang). Anh Nay Yut phải làm người chèo thuyền bất đắc dĩ. Thuyền nhỏ, sông rộng, có chỗ nước xoáy khá mạnh, mỗi lần chỉ có một người qua được bờ bên kia..

Bang Keng (bang: hang, hầm; keng: tên một loài chim trước kia thường ở khu vực này) nằm ngay trên bờ bắc Krông Năng ở vị trí cao nhất (một tuần sau, chúng tôi được cán bộ địa chính của huyện cho biết đây là nơi có độ cao 103m, ở kinh độ 024764 và vĩ độ 1448764) nhưng khuất lấp trong một lùm cây rậm rạp, nhiều dây leo chằng chịt. Một mặt hướng sông, ba bề còn lại của di tích đều là những rẫy lúa, đậu, chen lẫn những cây điều. Ngay từ dưới triền sông đi lên, nơi đất bùn còn nhão ướt, đã nhìn thấy ít nhất một hàng gạch đỏ được xếp đặt theo một trật tự nhất định.

Vạch cỏ cây, tiến sâu vào trong (thực ra là leo lên khu vực cao hơn), cái đập vào mắt người đến đây là một đống gạch lớn bị vỡ đôi, vỡ ba được xếp chồng lên nhau một cách lộn xộn – hậu quả của những cuộc đào bới đã xảy ra từ trước đây khá lâu (phù hợp với thông tin mà người dân địa phương cung cấp). Từ đây, có thể nhìn thấy một cái hố sâu chừng 1,5m – 2m, gần với hình chữ nhật, một cạnh có độ dài khoảng 7m, cạnh còn lại chừng 4m. Bốn xung quanh cái hố nói trên đều được xây bằng gạch (đa phần còn nguyên vẹn) và vẫn còn hết sức chắc chắn. Gạch xây tháp có kích thước chủ yếu là rộng: 21,2cm; dài: 40,9cm; dày: 8,5cm; nặng: 14kg, nhưng đôi khi cũng có những viên nhỏ, mỏng hơn chút ít. Bằng mắt thường có thể nhận ra hai loại đất làm gạch khác nhau: loại thứ nhất pha cát nhiều hơn, viên gạch trắng, thớ có vẻ xơ; loại thứ hai được làm bắng đất đỏ, da mịn hơn và lòng trong đỏ. Quan sát kĩ vị trí của các khối gạch, có thế nhận ra những vách ngang, chứng tỏ lòng tháp từng được chia ra làm nhiều phần, nhằm những mục đích khác nhau.

Giữa lòng đáy di tích, có một hố sâu khoảng 1m, đường kính chừng 0,5m đã bị cỏ cây, đất đá che lấp nhưng vẫn có thể nhận ra sự đào bới của con người ở vị trị trung tâm di tích này. Nhiều khả năng đây vốn là vị trí của một bệ thờ, nay đã bị mang đi. Chúng tôi không đào bới thêm trong lòng tháp và cũng không tìm thấy những viên đá tảng nào ở khu vực này. Toàn bộ bề ngoài của tường thành tháp vẫn bị vùi trong đất cát, bị bao phủ bởi cỏ cây.

Để xác minh việc phát hiện tháp Chăm, ngày 19.10.2006, chúng tôi trở lại buôn Jú, xã Krông Năng. Đoàn đi hôm ấy còn có ông Giám đốc Sở VHTT Gia Lai, ông Chủ tịch UBND huyện, TS. Nguyễn Thị Kim Vân cùng một số cán bộ liên quan của huyện. Nước sông đã cạn nhiều, nhưng người ta vẫn phải dùng thuyền để đi qua chỗ sâu nhất. Các thông tin về ngôi tháp cổ này thêm một lần nữa được xác nhận lại. Có một điểm cần lưu ý là, theo những người dân địa phương thì đất của khu vực này thuộc buôn Jú, xã Krông Năng (Chủ tịch xã cũng xác nhận điều này), song mảnh đất có ngôi tháp hiện tại lại đang thuộc quyền khai thác và sử dụng của ông Nay Siêm, buôn Jrông, xã Ia Dreh (thông tin được Nay Jút, Trưởng ban Văn hóa xã cung cấp và khẳng định).

2. Ngày 13.10. 2006, buôn Dúi, xã Ia Rmok:

Sau khi mang một vài hiện vật (gạch Chăm và đồ gốm) về gửi tại huyện, chúng tôi đến xã Ia Rmok. Đêm đó, tôi và Nguyễn Giác ngủ tại nhà Kpă Nik (ama Pléch), buôn Thiơl, anh nguyên là cán bộ Văn hóa của xã. Trong câu chuyện, tôi đề cập đến người Chăm, tháp Chăm… Và kết quả là 6h sáng hôm sau, chúng tôi đã có mặt tại nhà già làng buôn Dúi mới. Giống như Ama Pléch từng nghe ông bà xưa kể về nơi này, ông Ksor Bhuar/ Bhoar (tức Ama Breh, 75 tuổi) cho biết, từ xưa ông đã nghe ông bà nó về nó. Nhưng nó không phải là tháp mà chỉ một cái… lò gạch xưa(?).

Lập tức chúng tôi cùng ông ra bờ bắc sông Ba, đoạn chảy qua buôn Dúi cũ (đối diện với chỗ này ở bên kia sông là đất buôn Thiêm, xã Phú Cần). Trong mưa, giữa những lùm cây rậm rạp, chúng tôi vui mừng nhận ra những viên gạch có hình thù và kích cỡ gần giống với các viên gạch đã được biết đến ở buôn Jú, Krông Năng. Gạch (đa phần không còn nguyên vẹn) được phân bố rải rác nhiều nơi trong một khu vực rộng hàng trăm mét vuông, cạnh bờ sông. Các viên gạch thu nhặt được ở đây (có 1 viên còn nguyên vẹn khoảng 95%) có kích cỡ hiện tại như sau: rộng: 20cm; dài: 30,8cm; dày: 7,5cm; nặng: 8kg. Một viên gạch nhỏ hơn cũng thu được tại đây lại có kích cỡ khác, cụ thể là rộng: 7,8cm; dài: 9,5cm; dày: 6,5cm; nặng: 2kg. Mắt thường có thế thấy chất đất làm nên các viên gạch ở đây gần như là một loại: khá mịn và đỏ tươi.

Theo già làng Breh thì xưa kia, ông bà vẫn còn nhìn thấy rất rõ nhiều phần của cái “lò gạch” này, nhưng nay do sông Ba ăn sang bên này nên đã “nuốt” mất nó. “Lò gạch” xưa nằm gần với lối đi xuống sông lấy nước, đi tắm của buôn Dúi cũ. Lối đi ấy nay đã mất và cũng chính vì sự bồi, lở của dòng sông, mà cộng đồng này đã phải di chuyển đến một địa điểm khác, cách xa nơi cũ khoảng hơn một cây số, trên một ngọn đồi cao. Sau khi thu nhặt thêm một số đồ gốm vương vãi xung quanh khu vực, chúng tôi trở về huyện và tiếp tục công việc của mình.

C. Mấy nhận xét bước đầu

1. Về Bang Keng: Quá trình khảo sát thực địa, đối chiếu với tài liệu chuyên ngành hiện có, chúng ta có thể khẳng định Bang Keng là tháp Chăm lần đầu tiên được phát hiện tại huyện Krông Pa. Cho đến nay, đây cũng chính là di tích Chăm duy nhất còn sót lại với hình hài khá nguyên vẹn, đã được tìm thấy ở Gia Lai, Kon Tum. Vấn đề niên đại, qui mô,… của tháp chắc chắn sẽ được làm rõ trong thời gian tới. Cũng như vậy, tên của tháp cũng sẽ được tìm hiểu lại, thay vì cái tên “tháp Bang Keng” như hiện nay.

Tại sao cho đến nay Bang Keng mới được biết đến? Vì sao người Pháp đã biết tường tận hầu hết các tháp Chăm ở miền Trung và Tây Nguyên nước ta, mà lại không nhắc đến Bang Keng?

Thứ nhất, theo chúng tôi, có lẽ ngôi tháp này đã được xây dựng ở một vị trí không thuận lợi về giao thông, nên không nhiều người (hiện đại) biết đến nó. Việc các tháp Chăm vùng Ayun Pa sớm được nhắc đến, rất có thể là do chúng ở những nơi gần dân cư, gần đường đi lại?

Thứ hai, có thể trong lịch sử đã xảy ra những biến cố nhất định khiến người Jrai ở quanh khu vực này rất sợ Bang Keng. Họ (người dân buôn Jú và những vùng phụ cận) gọi đó là Yang sang ia – nhà (của) thần nước. Tin theo tín ngưỡng cổ truyền, không chỉ có những người thuộc lớp tuổi trên 50 (trường hợp ơi Trinh) mà ngay cả những người còn trẻ, có học vấn, nhận thức nhất định (Ama Trăng, 34 tuổi, cán bộ xã) cũng đều sợ hãi, kiêng dè khi nói đến hay đi qua Bang Keng. Phải chăng vì vậy mà những thông tin về Bang Keng không được phát tán rộng, từ đời này qua đời khác.

Thứ ba, quan sát hiện trạng của tháp, có thể nêu thêm một giả thiết rằng, từ lâu (chẳng hạn 300 hoặc 400 năm) Bang Keng đã từng bị đất bồi (từ sông) lấp kín, rồi cây cỏ mọc trùm lên, và rồi nó mất dấu hẳn, khi người Chăm rời bỏ châu Thượng Nguyên xưa.

2. Về lò gạch ở buôn Dúi: Những di vật còn lại ở khu vực này chưa cho phép khẳng định chắc chắn rằng từng tồn tại một đền tháp Chăm ở đây. Chúng tôi xin nêu mấy giả thiết ban đầu:

Thứ nhất, tổng hợp các thông tin từ những người dân địa phương (đặc biệt là từ già làng đã nêu) có thể cho rằng ở đây từng xuất một cái “lò gạch” – sang chuh lon. Cũng theo nguồn tin này thì các thế hệ trước kia của họ từng kể rằng, khi gạch làm vừa xong thì đám “người ấy” (“người ấy”: có người nói đó là người Chăm, có người nói đó là người Việt, có người nói đó là người Pháp…) lại bỏ đất này ra đi (hình như là vì chiến tranh). Lò gạch xưa tồn tại một thời gian dài, rồi bị sông Ba cuốn trôi, đến nay đã mất dấu hẳn. Những gì còn sót lại – gạch, gốm – là thứ vương vãi, không gần với lò gạch.

Giả thiết trên tỏ ra phù hợp khi biết rằng, dân buôn Dúi không hề sợ hãi hay kiêng dè khi nói về cái “lò gạch” ấy. Điều này càng có lí hơn, khi mọi người đều đã thấy dân buôn Jú sợ Bang Keng ra sao. Do đó, cũng có thể nghĩ đây là một lò gạch của người Chăm (làm để phục vụ việc xây tháp) nhưng công việc xây dựng chưa hoàn thành thì bị dừng lại vĩnh viễn. Đó là lí do khiến người Jrai không sợ lò gạch Chăm như sợ tháp Chăm.

Thứ hai, có thể ở khu vực đang bàn từng tồn tại một tháp Chăm, nhưng nay đã bị nước cuốn trôi. Có thể vì một lí do nào đó, việc “định danh” của đồng bào Jrai đã bị nhầm từ tháp sang lò gạch. Điều này có thể xảy ra, nếu những người cung cấp thông tin cho chúng tôi cũng không có được những thông tin phù hợp với thực tế khi xưa.

Như vậy, vấn đề đặt ra là những di vật còn lại ở vị trí nêu trên, nếu đúng là gạch Chăm thì câu trả lời vẫn còn thiếu là: chúng đã được làm ra nhằm mục đích gì? Câu hỏi này cũng như các giả thiết trên sẽ được tiếp tục tìm hiểu trong thời gian đến. Tuy vậy, chúng tôi vẫn muốn nghiêng về ý kiến cho rằng nhiều khả năng nơi đây đã từng có tháp Chăm.

3. Cuối cùng, có thể nhận ra một số điểm chung giữa Bang Keng xã Krông Năng và “lò gạch” xã Ia Rmok, là: chúng đều được tìm thấy ở bên bờ sông; hình thức, kích cỡ và chất liệu gạch gần giống nhau. Quan trọng hơn, nếu sự so sánh của TS. Vân (đã dẫn ở trên) là đúng, khi chị thấy Yang Mum, Drang Lai và Quai King ngày xưa đã tạo thành một “thế chân kiềng”, thì rất có thể những gì hiện hữu ở Krông Pa ngày nay cũng sẽ là một gợi ý khiến người ta nghĩ đến mối liên hệ giữa Bang Keng – “lò gạch” và một (vài) điểm đền tháp nào đó nữa quanh đây. Giả thiết này không phải là không có cơ sở khi mà cách đây 20 năm, người dân địa phương ở xã Đất Bằng, huyện Krông Pa đã từng sở hữu bức phù điêu Chăm (Bảo tàng Gia Lai hiện đang lưu giữ). Phù điêu ấy hẳn là có nguồn gốc từ đền tháp, nhưng đó là đền tháp nào (có phải của Krông Pa, Gia Lai hay không) thì vẫn còn là điều cần tiếp tục lí giải.

Sử liệu, những di vật được tìm thấy và cả các câu chuyện dân gian Jrai, Bahnar nữa đều cho biết dấu chân của người Chăm đã in trên đất trên Tây Nguyên từ hàng ngàn năm trước. Việc phát hiện thêm những phế tích tháp Champa tại Krông Pa, Gia Lai hi vọng sẽ cung cấp thêm được chút ít tư liệu cho những người quan tâm đến vấn đề này. Trong khi chờ đợi sự thẩm định của giới khoa học chuyên ngành, các cơ quan chức năng địa phương đã có những động thái tích cực đối với việc bảo tồn những di tích văn hóa vật thể hiếm hoi còn sót lại này và nếu không có gì thay đổi, năm 2008 tới đây, phế tích Bang Keng sẽ được khai quật. Chúng ta cùng chờ đợi những câu trả lời chính thức từ trong lòng đất.

Chú thích:
1, 3, 4. Gerald Cannon Hickey, Sons of the mountains, New Haven and London Yale University Press, 1982, pp. 78 – 120.
Trong bài viết này, chúng tôi không dẫn ra tên của nhiều tác giả, tác phẩm liên quan, khi mà chúng đã được G. Hickey liệt kê, phân tích, chú dẫn một cách khá đầy đủ, hợp lí. Dù vậy, để chắc chắn hơn, chúng tôi đã vẫn đối chiếu lại khi nguồn tài liệu gốc và khả năng cho phép.

2. Lưu Trần Tiêu, Ngô Văn Doanh, Nguyễn Quốc Hùng, Giữ gìn những kiệt tác kiến trúc trong nền văn hóa Chăm, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2000, tr. 64.

5. Nội dung phần này được chuyển dẫn từ các tài liệu đánh máy (đã công bố trên báo chí) do TS. Nguyễn Thị Kim Vân nhiệt thành cung cấp.

.............................................ThS. Nguyễn Quang Tuệ (Bảo tàng tỉnh Gia Lai )


THÁNH ĐỊA CÁT TIÊN Ở LÂM ĐỒNG

Thánh địa Cát Tiên là tên gọi quần thể di chỉ khảo cổ được phát hiện từ năm 1985, nằm trong một bồn địa rộng hàng trăm héc-ta và trải trên chiều dài khoảng 15 km, dọc theo hệ thống sông Đạ Đường-Đồng Nai, bao gồm rất nhiều gò đồi và bãi bồi ven sông, được bao bọc bởi dãy núi cuối cùng của dãy Nam Trường Sơn. Toàn bộ khu di tích này thuộc địa phận kéo dài từ xã Quảng Ngãi đến xã Đức Phổ, trong đó mật độ di chỉ khảo cổ tập trung dày đặc ở khu vực xã Quảng Ngãi, thuộc huyện vùng sâu vùng xa Cát Tiên của tỉnh Lâm Đồng, khu vực Nam Tây Nguyên. Khu di tích ở cách đường quốc lộ 20 khoảng 35 km. Từ Thành phố Hồ Chí Minh lên, đến ngã ba Mađagui rẽ trái theo đường tỉnh lộ 721, đi tiếp 35 km là đến.

Các nhà khoa học đoán định, Thánh địa này xuất hiện khoảng thế kỷ 4 đến thế kỷ 8, thuộc về nền văn hóa của một vương quốc mà ý kiến của nhiều nhà khoa học, trong nỗ lực tìm kiếm chủ nhân đích thực của thánh địa, vẫn chưa đạt sự đồng thuận. Các hiện vật, lăng mộ và tháp tại Thánh địa Cát Tiên ra đời trong thời kỳ nào; thuộc phong cách nghệ thuật nào; chủ nhân là ai; nằm trong bối cảnh nào trong tiến trình lịch sử phương Nam; có vai trò gì trong quá trình hình thành quốc gia cổ đại; mối quan hệ của thánh địa với cộng đồng dân cư bản địa đã sinh sống nơi đây từ những thế kỷ trước công nguyên thuộc di chỉ tiền sử Phù Mỹ ra sao; là những câu hỏi gây tranh luận sôi nổi trong giới khảo cổ học, văn hóa học, sử học qua nhiều hội thảo, tọa đàm khoa học.

Bên tả ngạn sông Đồng Nai thuộc địa phận huyện Cát Tiên là một số gò đồi và bãi sa bồi. Từ lâu tại vùng đất này, người dân đã nhặt được các di vật là những tượng đá, những bộ sinh thực khí linga, yoni, các mảnh gốm và gạch ngói vỡ v.v. nhưng không ai biết gì về chúng. Mãi đến khi qua những phát hiện tình cờ trong chuyến đi điền dã điều tra về dân tộc học của cán bộ Bảo tàng Lâm Đồng tại vùng quê vào này năm 1985, và các nhà khảo cổ học gọi vùng đất này là "Thánh địa Cát Tiên" thì mọi người mới sững sờ.

Bằng cách nào để đọc được những thông điệp của người xưa để lại, để bảo tồn và phát huy tốt những giá trị to lớn khu di sản này, đó là điều được nhiều người quan tâm.

Sau 4 đợt khai quật đầu tiên (1994-2000), những phế tích của Cát Tiên dần hé lộ những bí ẩn sâu thẳm trong lòng đất qua hàng chục thế kỷ, và các nhà khoa học bước đầu xác định, đây là một đô thị tôn giáo cổ mang ý nghĩa một thánh địa Bà-la-môn giáo và Hin-du giáo được kiến tạo trong giai đoạn lịch sử không thành văn. Đây là lần đầu tiên ở Lâm Đồng cũng như ở Tây Nguyên phát hiện được một đô thị tôn giáo, một địa chỉ khảo cổ quan trọng để nghiên cứu sự hình thành quốc gia và những nhà nước cổ đại phương Nam, cũng như mối quan hệ của chúng với những lân quốc.

Khu vực quy mô nhất là đền dốc Khỉ (gò 1A), nằm trên một quả đồi cao nhất trong khu di tích, mặt quay về hướng Đông. Tại đền tháp này, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những bộ Linga - Yoni khổng lồ, nhẵn bóng, chứng tỏ ngày xưa nơi đây rất cường thịnh. Theo tín ngưỡng, cư dân Bà-la-môn lên đền, lấy một ít nước đổ lên ngẫu tượng, muốn sinh con gái thì sờ tay lên Yoni, còn muốn sinh con trai thì sờ tay lên Linga, và hứng nước từ khe tượng Yoni chảy ra để uống, thì tất sẽ được toại nguyện.

Tại cuộc hội thảo về khu di tích khảo cổ học Cát Tiên tổ chức đầu tháng 3 năm 2001, các nhà khoa học đều khẳng định, Nhà nước cần đầu tư cho công tác khai quật, bởi lẽ ở dưới lòng đất đang còn rất nhiều điều bí ẩn cần được giải mã để có cái nhìn đầy đủ và sâu hơn cho một kết luận thật chính xác về khu Thánh địa này, đặc biệt là những chứng cứ đủ thuyết phục về chủ nhân của nó.

Những gì khai quật được mới là một phần rất nhỏ trong quần thể di tích này. Giá trị văn hóa và những bí ẩn đầy sức hấp dẫn của vùng đất thiêng này, theo giáo sư Trần Quốc Vượng, không kém gì khu Thánh địa Mỹ Sơn. Các nhà sử học, văn hóa hàng đầu của Việt Nam và Nhật Bản đã thống nhất đề nghị khẩn trương lập hồ sơ để di tích này được công nhận ở tầm quốc tế, là di sản của nhân loại.

Từ năm 2001 đến 2006, đã tiến hành thêm 4 đợt khai quật.

Kết thúc đợt khai quật lần thứ 6, kéo dài hơn 40 ngày, thực hiện vào năm 2003, đã hé lộ nhiều thông tin bất ngờ, cho thấy cư dân của Thánh địa cổ xưa từng giao lưu mạnh với các nền văn hóa khác, và có thể, nơi đây đã tồn tại một tiểu quốc nằm trong vương quốc Phù Nam.

Tại di chỉ gò số 6 ở xã Quảng Ngãi, huyện Cát Tiên, các nhà khoa học đã phát hiện phế tích của một đền thờ gạch có hình vuông (3,35x3,35 m), tiền điện xây theo hình bán nguyệt chưa hề thấy trước đây. Sâu xuống hơn 3 mét xuất lộ một trụ gạch, trong lòng chứa nhiều mảnh kim loại bằng vàng, chạm khắc hình các vị thần như Siva, Visnu, Ganesa (mình người đầu voi), và đặc biệt là hình Đức Phật.

Tại đây, nhóm khảo cổ còn tìm được một hộp kim loại bằng bạc hình bầu dục, kích thước 9x18 cm, trên nắp chạm nổi hình một con sư tử oai vệ, lông bờm dài trong tư thế nằm soãi mình (có thể là vật dụng cúng tế?), mang dáng dấp của yếu tố văn hóa bên ngoài, rất giống với nền văn hóa Lưỡng Hà.

Không xa di chỉ này, đoàn khai quật cũng đã phát hiện một kiến trúc mộ chum, trong đó ngoài tro, than, xương, còn có đồ tùy táng là những bông hoa nhỏ tám cánh bằng kim loại.

Cách gò số 6 vài trăm mét là một phế tích kiến trúc gạch khác không có bậc tam cấp, dài đến 5,7 mét và rộng 40 cm, có dấu vết của một Yoni. Theo các nhà khoa học, kiến trúc này chính là một Somma-Sutra: Mỗi khi hành lễ, nước được dội lên bệ Linga-Yoni phía trong, hóa thành nước thánh, theo vòi chảy ra máng thiêng, từ đó được sử dụng để xức hoặc rắc lên tín đồ, mang lại sự an lành, may mắn, đem đến nhiều con cái.

Cũng ở xã Quảng Ngãi, các nhà khảo cổ đã tìm thấy một hệ thống máng dẫn nước lớn bằng gạch rộng 1 mét, cao 60 cm, lòng máng rộng 40 cm, dự đoán có thể chạy dài hàng trăm mét, đi qua nhiều đền tháp khác trong quần thể.

Những phát hiện lần này là bằng chứng cho thấy cư dân của Thánh địa Cát Tiên cổ đã có sự giao lưu mạnh mẽ với bên ngoài, và khung niên đại của di tích có thể sớm hơn nhận định ban đầu, là thế kỷ 8-11 sau Công nguyên. Đoàn nghiên cứu cũng không loại trừ khả năng tại Cát Tiên từng tồn tại một tiểu quốc nằm trong vương quốc Phù Nam, nhưng đã biến mất từ lâu.

Ngoài ra, khi khai quật cách điểm nói trên 15 km, tại thôn 3 và 4, xã Đức Phổ huyện Cát Tiên, nhóm nghiên cứu còn phát hiện phế tích một đền tháp hình chữ nhật (lần đầu xuất hiện ở quần thể di tích Cát Tiên) dạng bẻ góc. Tại đây, ngoài những tấm kim loại màu vàng in hình ảnh tín ngưỡng tôn giáo, một con dấu bằng đá khắc hoa văn và in chữ cổ, họ còn tìm ra những hiện vật bằng đồng mang “hơi thở” từ vùng Địa Trung Hải - văn hóa Hy La (Hy Lạp-La Mã) như ống, vòng có núm, chày, ly cốc chân cao, chuông nhỏ… đều bằng đồng.

Qua 4 đợt khai quật say này (2001-2006), các nhà khoa học nhận thấy, các đền tháp có kết cấu hoành tráng nhưng giản dị, không cầu kỳ phức tạp như kiến trúc Chăm Pa, và về tổng thể, vẫn chưa hoàn thiện, không đồng trục, có kiến trúc (2D) trong quần thể phải nối thêm độ dài và độ dày của tường khá mỏng.

Sự hạn chế nhất định trong những kỹ thuật xây dựng nói trên đã mang đến cho các nhà khoa học một thông tin mới: niên đại của Thánh địa Cát Tiên có thể sớm hơn, khoảng từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 8, khác với nhận định ban đầu của nhiều nhà khoa học. Ngoài ra, xem xét cẩn trọng các hiện vật như nồi, vò, kendi, vòi kendi, rìu đồng và khuôn đúc, những đồ gốm thuộc giai đoạn Óc Eo sớm, đặc biệt là loại chai gốm cổ cao có nhiều trong các di tích Glimanuk, Plawangan ở Indonesia thuộc niên đại từ những thế kỷ đầu Công nguyên, được tìm thấy ở Thánh địa; cùng với việc phân tích các mẫu than lấy từ lòng tháp ở độ sâu gần 3m, đưa đi phân tích đồng vị phóng xạ các-bon C14 tại Viện Khảo cổ học thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Trung tâm Hạt nhân thành phố Hồ Chí Minh; đã góp phần củng cố chắc chắn hơn giả thiết này.

Ý kiến về chủ nhân của Thánh địa vẫn còn trong vòng tranh cãi. Nhiều khả năng trong quá khứ, đây hoặc là một tiểu quốc của Phù Nam, một vương quốc với cương vực trải dài từ đồng bằng Nam Bộ đến Phú Yên-Khánh Hoà, hạ Lào, Căm-pu-chia; hoặc cũng có thể là một quốc gia riêng, từng tồn tại song song với Phù Nam, Chân Lạp. Thánh địa này khá sầm uất khi nằm trong mạng lưới của con đường thương mại từ Đông sang Tây phát triển khá mạnh vào khoảng thế kỷ 3 và thế kỷ 4, nhưng sau đó suy tàn dần, khi con đường này dịch chuyển sang vùng biển Malắcca từ cuối thế kỷ 5.

Sau đợt khai quật lần thứ 8 năm 2006, giới khảo cổ lại tỏ ra thận trọng khi phát ngôn với báo giới về kết quả nghiên cứu cũng như hướng nghiên cứu, khảo sát thánh địa tương lai. Đồng thời họ cũng cho rằng, do công tác bảo quản di vật hiện còn nhiều khó khăn, không nên tiếp tục khai quật nữa. mà trước mắt, chỉ nên cố gắng tư liệu hóa một cách cao nhất những gì thu được.

Thánh địa Cát Tiên được công nhận là Di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia từ năm 1997. Từ đó đến nay, tỉnh Lâm Đồng, Bộ Văn hóa Thông tin và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã đầu tư hơn 4 tỷ đồng để tiến hành các cuộc khai quật khảo cổ, làm mái che và hàng rào bảo vệ. Tuy nhiên, vườn quốc gia Cát Tiên nói chung và khu Thánh địa Cát Tiên nói riêng vẫn đang ngủ yên, chờ được đánh thức để nơi đây trở thành một khu du lịch sinh thái và du lịch văn hóa tâm linh. Bắt đầu từ năm 2001, công ty Du lịch tỉnh Lâm Đồng đã có tour du lịch khám phá khu Thánh địa hàng tuần.

Ngày 29-12-2006, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Lâm Đồng cho biết Hội đồng di sản Quốc gia đã thông qua chương trình lập đề án quy hoạch Thánh địa Cát Tiên từ năm 2006 đến năm 2010 với tổng kinh phí đầu tư xây dựng khoảng 137 tỷ đồng. Theo đề án này, diện tích quy hoạch dự kiến sẽ rộng 100ha và vùng lõi sẽ nằm tại khu di chỉ xã Quảng Ngãi, trong đó, vùng lõi khu vực 1 rộng 28ha, khu vực 2 rộng 35ha, khu vực 3 rộng 43ha. Đồng thời, Hội đồng di sản Quốc gia cũng tiến hành triển khai lập hồ sơ trình Chính phủ đề nghị UNESCO xét công nhận Di tích Cát Tiên là Di tích lịch sử văn hoá thế giới.

Trong một động thái nhằm thực hiện cuộc tổng quảng bá đầu tiên về giá trị bí ẩn của quần thể di tích khảo cổ học nổi tiếng này, tỉnh Lâm Đồng đã cho phép Bảo tàng Lâm Đồng đưa hiện vật khảo cổ của Thánh địa Cát Tiên ra khỏi tỉnh, trưng bày tại Hà Nội. Cuộc quảng bá mang tên "Cổ vật Cát Tiên-dấu ấn của một di tích huyền thoại" được triển lãm trong vòng 8 tháng, từ ngày 28-8-2007 đến hết tháng 4-2008 tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

Cùng với hình ảnh và phim tài liệu, 237 hiện vật tiêu biểu nhất về Thánh địa cổ ra mắt người dân Thủ đô cùng du khách trong và ngoài nước. Người xem được tận mắt thấy những bộ Linga-Yoni bằng đá khổng lồ, những tượng điêu khắc bằng vàng, bạc, đồng, thạch anh về các vị thần Brahma, Visnu, Siva, Uma, hay Ganêsa; cùng nhiều hiện vật khác như: các mảnh vàng cổ xưa chạm khắc một số loài động vật, thực vật: ngựa, voi, rùa, cá sấu, bò, rắn, hoa sen, hoa chanh, vầng trăng khuyết, bánh xe luân hồi, cùng các mảnh kim loại có khắc cổ tự Sancrite, gốm, đồ trang sức của cổ nhân, con triện bằng đá... Bên cạnh những hiện vật mang đậm hơi thở văn hóa cổ Ấn Độ, một số hiện vật đầy bí ẩn thể hiện sự giao lưu đến lạ lùng với nền văn hóa Ba Tư, Trung Á cổ xưa… trên lãnh thổ Việt Nam trong quá khứ tìm thấy ở di tích Cát Tiên, cũng được đưa ra trưng bày trong đợt này.

Ngày 22-8-2007, đoàn xe chở cổ vật Thánh địa Cát Tiên đã lên đường ra Hà Nội, với sự hộ tống của lực lượng công an cùng chuyên gia ngành bảo tàng Việt Nam.













Được sửa chữa bởi PhanHong ngày 30.10.2009, sửa lần 2
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2344
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 20.10.2009    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

MỘT SỐ THÀNH LŨY CHĂM PA TIÊU BIỂU

THÀNH CAO LAO HẠ

Niên đại: thế kỷ 4
Vị trí: làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình; nằm giữa sông Gianh và sông Tróc, cách sông Gianh 1 km về phía nam.

Nhà sử học Đào Duy Anh trên cơ sở nghiên cứu các tài liêụ lịch sử đã phỏng đoán thành Cao Lao Hạ chính là thành Khu Túc của Lâm Ấp được nhắc đến trong thư tịch cổ Trung Hoa.

Mô tả về thành Cao Lao Hạ của mục sư Cadiere như sau: “... thành hình vuông, mỗi bề chừng 200 m, lũy đất dài chừng 5m ở chân, 2-3 m trên mặt, cao chừng 2m. Ở ngoài lũy có dãy đất rộng chừng 3 m chạy chung quanh,… xung quanh thành có hào sâu, nay đã hóa ruộng…hào rộng chừng 15 m, cách lũy bằng 6 m.” (Linh mục Cadiere- Les lieux historiques du Quang-binh, BEFEO, III,1903, tr.169-170).

Theo đợt khảo sát của Bảo tàng Quảng Bình, tư liệu về thành Cao Lao Hạ như sau:

Thành có bình đồ hình chữ nhật, đắp bằng đất, có 3 cửa hướng đông, nam, bắc. Tường thành kéo dài theo hướng đông tây, cạnh Đông-Tây dài 249 m, cạnh Bắc-Nam dài 179,70 m. Mặt thành rộng 5 m, chân thành rộng 10,80 m, độ cao trung bình của đoạn thành còn lại là 1,7 m, hào nước quanh thành rộng gần 30 m.

Sau đợt khảo sát năm 2000, các nhà khoa học đã xác định dấu tích thành đã được mô tả trước đây có thể là tòa thành Nội nằm trong một khu thành lớn.

Thành Cao Lao Hạ có quy mô lớn hơn rất nhiều, và vị trí của thành cũng có nhiều điểm phù hợp với mô tả của sách Thủy Kinh chú “…thành ở khoảng giữa hai con sông, ba mặt giáp núi,… sông Thọ Linh từ phía tây nam của thành chảy về phía đông, hợp với sông Lô Dung, phía đông thì suối Lang chảy về, nước suối tích tụ thành hồ, gọi là Lang Hồ… từ phía nam hồ trông ra ngoài thì thông với sông Thọ Linh, sông này theo Lang Hồ mà chảy vào cửa Tứ Hội…”.

“Ba mặt giáp núi” - ở Cao Lao Hạ, phía tây là dãy Trường Sơn, phía nam là một dãy núi dài chưa xác định tên, phía bắc là dãy Hoành Sơn; “hai con sông” có thể là sông Gianh và sông Tróc; “sông Thọ Linh” rất có khả năng là sông Gianh; “cửa Tứ Hội” có lẽ là cửa sông Ron.

Từ những tư liệu có được, có thể hình dung thành Cao Lao Hạ như sau: dấu tích khu thành tìm thấy là thành Nội, nơi đóng của quân Lâm Ấp. Bên ngoài thành, phía Đông là khu miếu thờ tự, phía Tây là khu ở và sinh hoạt của dân chúng, phía Bắc có thêm một lũy thành, vòng thành ngoài là sông Gianh và sông Tróc.


THÀNH NHÀ NGO

Niên đại: thế kỷ 5
Vị trí: làng Uẩn Áo, xã Liên Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình. Thành nằm ngay sát dòng Kiến Giang, cách vực Yên Sinh về phía đầu nguồn khoảng 3 km.

Thành được mô tà trong thư tịch như sau: “… thành ở địa phận xã Uẩn Áo, huyện Lệ Thủy, sông Bình Giang chảy phía trước, sông Ngô Giang ôm phía sau, hai sông ấy chảy đến Tây Bắc thì hợp thành một. Thành ba mặt giáp sông, một mặt là núi. Có lẽ vương công đặt thành nơi hiểm để làm phên giậu cho thành Hóa vậy. Ở cửa phía Nam thành có đá khắc, đề là: Ninh Viễn thành. Vệ Trấn Bình đóng ở đây…”(Dương Văn An, Ô châu cận lục, bản dịch, nxb KHXH, 1997, tr. 22).

Quy mô của thành theo khảo sát được là khá lớn: thành hình chữ nhật, chiều dài Đông-Tây gần 600 m, chân thành rộng 20 m, 3 mặt Tây, Đông và Bắc có hào nước rộng gần 30 m, cửa thành 15 m ở hướng Đông Bắc.

Về vấn đề niên đại của thành, thư tịch cổ không chép lại, hơn nữa, thành chỉ mới được khảo sát chứ chưa được khai quật, vì vậy không thể xác định chính xác được. Nhưng có thể khẳng định, đến thế kỷ 10, thành Nhà Ngo là tòa thành của vương quốc Chăm Pa. Bằng chứng là đã tìm thấy một tảng đá có trang trí một dãy hoa văn chạm khắc hình hoa dây dài có các vòng uốn xoáy đối nhau qua trục dây chính lượn sóng chạy dọc ô trang trí, hình hoa sen nở 12 cánh lớn nhỏ xen kẽ nhau, chạy quanh đài sen tròn để trơn, chính giữa là kiểu hoa văn rất đặc trưng của phong cách Mỹ Sơn A1 (thế kỷ 10).

Đến giữa thế kỷ 11, năm 1069, vua Lý Thánh Tông đem quân đi đánh Chiêm Thành, vào đến kinh đô Chà Bàn. Chăm Pa phải dâng 3 châu: Địa Lý, Bố Chính, Ma Linh. Thành Nhà Ngo nằm trong châu Địa Lý, có thể đã được Đại Việt sử dụng với tên gọi Ninh Viễn thành.

Như vậy, thành Nhà Ngo với vị trí hiểm trở “khống chế sông dài”, rất có khả năng là một trị sở của châu Địa Lý, một kiến trúc dân sự- quân sự quan trọng trong lịch sử Chăm Pa. Và sau này, rất có khả năng được dùng để đặt Vệ Trấn Bình của Đại Việt trong một thời gian dài.


THÀNH CỔ LŨY (THÀNH HỒ, LŨY CHIÊM THÀNH, BẾN LŨY, BÃI LŨY)

Vị trí: nằm ở bờ bắc sông Bến Hải, làng Phước Mỹ, thuộc địa phận tỉnh Quảng Trị. Xưa thuộc châu Ma Linh.

Tòa thành này ít thấy đề cập trong chính sử. Sách Đại Nam nhất thống chí chỉ có một câu viết về tòa thành “…ở xã Dan Duệ, huyện Minh Linh, đạo Quảng Trị, có truyền thuyết là người Chiêm Thành đắp thành ở đây, nền cũ nay vẫn còn…”

Ngày nay, dấu vết thành hết sức mờ nhạt, bị san ủi gần hết.

Qua những dấu vết còn lại, có thể nhận thấy kết cấu của thành như sau: thành có hai vòng lũy, đắp bằng dất, nền đá nện chặt bằng đá kè và gạch vụn giống như nhiều thành Chăm cổ khác. Quanh lũy có hệ thống hào, được tận dụng từ chiều uốn cong của con hói, bàu nước hay đoạn sông, hệ thống hào này vừa có tác dụng bảo vệ thành, vừa là trục giao thông đường thủy.

Vòng thành Nội tương đối vuông, cạnh 120-150 m. Vòng thành Ngoại còn thấy rõ theo hướng Bắc-Nam. Lũy Bắc và Nam tương đối thẳng, lũy Tây là một đường uốn cong theo con hói và dòng sông, lũy Đông thẳng tắp. Bờ thành Nam cách sông Bến Hải 50 m.

Chưa thể xác định vai trò chính trị của thành, nhưng có thể thấy được vị trí chiến lược về quân sự của thành khi nằm ven con sông chính của vùng và gần một cửa biển. Thành là một công trình phòng thủ tương đối quy mô có tác dụng trấn giữ địa bàn trọng yếu ven biển, nơi có một cửa biển nối thông từ bên ngoài với vùng đất khá rộng lớn ở phía bắc Quảng Trị.

Ngoài ra, việc ở gần một cửa biển cũng giúp ta suy đoán về vai trò kinh tế của thành. Nhiều khả năng, thành cũng là một đầu mối thương mại, không chỉ trong nước mà cả với các nước khác.

Đặc biệt, nếu quan sát thành trong mối quan hệ với khu vực xung quanh, sẽ thấy được một bản quy hoạch tương đối hoàn chỉnh của “không gian văn hóa Chăm Pa”: thánh địa- trung tâm chính trị quân sự - cảng biển. Đó là hệ thống đền tháp An Xá, Duy Viên, Huỳnh Xá ( phía trên cửa Tùng) - cửa Tùng - và thành Cổ Lũy .

Như vậy, thành Cổ Lũy đã tồn tại như một tiền đồn, án ngữ tại một vị trí trọng yếu của châu Ma Linh, nằm ở miền bắc vương quốc Chăm Pa, không chỉ có vai trò về quân sự mà còn là một trung tâm thương mại.

Vì thành chưa được nghiên cứu, khai quật toàn diện nên hiện tại chưa thấy tài liệu nào nói về thời gian xây thành, chỉ biết rằng năm 1069, thành cùng với vùng đất Ma Linh được dâng cho Đại Việt.

* * *
Di chỉ khảo cổ học Cổ Lũy được phát hiện trên một đồi đất ba-dan dài 2 km thuộc xã Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Di chỉ là một toà thành cổ toạ lạc ở bờ bắc sông Bến Hải. Nhân dân gọi toà thành với các tên khác nhau như: Thành Hồ, Luỹ Chiêm Thành. Thành được đắp bằng đất, gồm 2 vòng thành; vòng trong là Thành Nội, hình vuông mỗi cạnh từ 120 – 150 m, phía trong còn các địa danh như Cồn Kha, Cồn Mạn… và gạch vỡ, mủn. Thành ngoài lợi dụng địa hình tự nhiên, còn rõ vết tích ở các hướng tây, nam và bắc. Trong khu vực Cổ Lũy thu được nhiều bình, vỏ sành có nắp, một số tiền đồng. Có thể, đây là toà thành là di tích có niên đại vào thời Trần-Lê.


PHÒNG THÀNH CỔ LŨY

Di tích phòng thành Cổ Lũy nằm ở xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Tên gọi Cổ Luỹ ngày xưa chỉ vùng đất Chiêm Thành nhường cho Hồ Quý Ly năm 1402, nay thuộc địa phận tỉnh Quảng Ngãi. Thành do Chiêm Thành xây dựng bên hữu ngạn sông Trà, giáp cửa biển. Hệ thống phòng thành Cổ Lũy gồm 3 công trình liên hoàn là: lũy Cổ Lũy, thành Bàn Cờ, và thành Hòn Vàng.

Cửa Cổ Lũy (hay còn gọi là cửa Đại), là nơi sông Trà Khúc đổ ra biển, ở phía Bắc xã Nghĩa An, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Cửa biển hẹp nhưng có vũng sâu, tàu từ 50 tấn đến 70 tấn có thể ra vào được, trước đây là cửa biển chính của tỉnh.

Lũy Cổ Lũy nằm cách cửa Đại 700 m về phía Tây, lũy cao 3-5 m, tường dày 2 m. Nay chỉ còn lại một đoạn nhỏ. Hệ thống phòng thành Cổ Lũy có tác dụng ngăn chặn tàu thuyền bên ngoài tấn công vào Chiêm Thành qua cửa Đại, đồng thời là nơi báo hiệu cho thành Châu Sa. Năm 1353, đời Trần Dụ Tông, tháng 6 cử đại binh đi đánh Chiêm Thành. Quân thủy chở lương, quân bộ đến Cổ Luỹ, gặp trở ngại buộc phải quay về.



Cổ Lũy vốn là một thôn nhỏ thuộc xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, nơi dòng sông Trà Khúc đổ ra biển. Xưa nơi đây là một đồn phòng thủ kiên cố của Chiêm Thành. Sau người Chiêm dâng đất cho Đại Việt, đồn Cổ Luỹ được dùng làm trị sở hành chính. Khi trị sở dời đi nơi khác, đồn bị bỏ hoang, thành lũy đổ nát. Cư dân Cổ Luỹ đa số sống bằng nghề đánh cá. Cảnh vật trong thôn yên tĩnh, vắng vẻ như một vùng sương khói lờ mờ.

Nguyễn Cư Trinh từng ca ngợi địa danh này, được xem là một trong số 10 cảnh đẹp của xứ Quảng xưa, qua bài thơ nổi tiếng "Cổ Lũy cô thôn":

Giặc giã đời mô đã dẹp rồi
Lũy xưa còn đắp xóm mồ côi
Đá xây quanh quất theo bờ biển
Người ở cheo veo dưới cửa lồi
Trông thấy thuyền rinh ba bốn phía
Vẳng nghe trống giục một đôi hồi
Hỏi thăm Tạo hoá bao giờ đó
Thạch trận về đây mới đắp bồi


THÀNH SÔNG LŨY

Sông Lũy thuộc huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, phát nguyên từ cao nguyên Di Linh, chảy đến thị trấn Chợ Lầu lại quay ngược về phía Đông, có phụ lưu bên trái là sông Mao Gió.

Sông Lũy còn gọi là sông Kỳ, sông Phan Rí, hay sông Cạn. Tương truyền, khi xưa quốc vương Chiêm Thành xây thành ở đó, dấu vết hãy còn.



Nhớ Phan Rí

Đã lâu lắm anh không về Phan Rí
Chạy theo em những tối bắt còng
Đuốc lấp loáng trên triền cát ướt
Soi gió lùa lạnh buốt mùa đông .

Em mười sáu mắt xinh tròn lúng liếng
Thả hồn anh đắm đuối những bãi bờ
Gã còng nhỏ vung đôi càng lớ ngớ
Ngo ngoe nhìn gắp vụng hạt sương mơ .

Biển một bên - dập dềnh chao sóng
Em một bên - tóc lộng mây trời
Còng trên cát anh vồ cứ trượt
Kỷ niệm cười lấp lánh ánh sao rơi .

Bên bếp lửa đôi mình ngồi nấu cháo
Nước chợt sôi lúng búng những nỗi niềm
Anh thêm củi chỉ thêm vào bối rối
Khói cay nồng đặc quánh bóng biển đêm .

Tô cháo ấy em rắc đầy hành lá
Còng ngọt đậm đà, gạch đỏ hơn son
Anh húp mãi cạn cùng nỗi nhớ
Đến bây giờ vị đầu lưỡi còn ngon.

Anh đi xa nhớ miền quê biển
Nhớ mắt em xưa, nhớ món cháo còng
Gió du lãng trải tháng ngày phiêu bạt
Bỗng lặng lờ neo nhớ bến mong …


(Tập thơ Cỏ hoa thì thầm – NXB Thanh Niên 2002)


THÀNH CHÂU SA

Thành có tên là thành Đại La, hay thành Châu Sa, vì nằm ở làng Châu Sa, nay là xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh, cách Thành phố Quảng Ngãi chừng 7 km về hướng Đông Bắc. Nếu như Đồng Dương ở Quảng Nam là kinh đô của người Chăm thế kỷ 9-10, thì Châu Sa là thành lũy kiên cố và cũng là trung tâm kinh tế ở vùng phía Nam. Hiện dấu tích chỉ còn 3 km, bờ thành rộng 4 m, chiều cao 6m, chu vi chừng 4 km được đắp bằng đất. Theo các nhà nghiên cứu, Châu Sa là thành bằng đất duy nhất của người Chăm đã tìm thấy được.

Khuôn viên của thành được bao bọc bởi những bờ hào khá sâu. Thành còn có hai gọng thành (gọi là càng cua) nối thành Nội với sông Trà. (Người Chăm rất giỏi thuỷ chiến nên thường xây dựng thành quách ở gần những con sông lớn). Châu Sa là địa điểm có nhiều ưu thế về phòng thủ, nên được các nhà quân sự chọn điểm xây thành. Nơi đây vẫn còn sót lại những hào thành có hình bàn cờ nổi với Cổ Lũy, vốn là tiền đồn của người Chăm. Vào những đêm tối trời chỉ cần đốt lên một ngọn lửa ở đây là quan quân ở thành Châu Sa sẽ nhận ra tín hiệu cấp báo có quân giặc tới.

Ở gọng thành phía Đông, ngày xưa vốn là nơi sản xuất gốm. Qua khai quật người ta đã tìm được ở đây nhiều loại gốm với chủng loại và hoa văn khác nhau. ở vùng cửa biển Sa Kỳ và bến sông Vực Hồng vùng Thu Xà cũng tìm được những mảnh gốm có cùng niên đại với Châu Sa. Điều đó đã nói lên sự giao thương mở rộng giữa thành cổ với khu vực phụ cận qua mạng lưới đường thuỷ. Ngoài ra, người ta cũng phát hiện ra nhiều hiện vật gốm cổ như thẻ bài để đeo trên người, gọi là "kút". Các "kút" này dày 1 cm, bề ngang 5 cm và dài chừng 7-10 cm.

Cách thành Châu Sa chừng 500 m có tháp cổ Gò Phố, là nơi hành hương của những tín đồ Bà-la-môn vào những ngày lễ. Trong thành cổ người ta còn tìm thấy dấu vết của một kho lương thực khá lớn. Người có công phát hiện ra thành cổ này là nhà khảo cổ kiêm kiến trúc sư người Pháp H.Parmentier (vào năm 1924).

Năm 1988, qua một đợt khảo sát, PTS Lê Đình Phụng ở Viện khảo cổ đã phát hiện thêm gọng phía Tây của thành. Và Châu Sa không chỉ có thành Nội, mà còn có thành Ngoại, với phạm vi rất rộng.

Năm 1994, Bộ Văn hoá Thông tin đã công nhận thành cổ Châu Sa là di tích lịch sử văn hoá quốc gia.



Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2344
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 23.10.2009    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

NHỮNG DI TÍCH CHĂM PA Ở TỈNH QUẢNG TRỊ

HỆ THỐNG DẪN THỦY NHẬP ĐIỀN Ở GIO AN

Một loạt giếng cổ ngàn năm tuổi, những cây cải soong sum suê xanh mướt lớn lên từ nước giếng mà không cần chăm bón - hai câu chuyện bí ẩn thú vị này được phát hiện ở xã Gio An, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.

Cây rau cải soong ở Gio An có đặc tính rất đặc biệt là không sống trong nguồn nước bị nhiễm bẩn, đất bùn, không sống chung với phân bón và thuốc trừ sâu. Loại rau này chỉ thích hợp với những nơi có môi trường trong sạch, nước suối đá trong vắt và mát rượi chảy ra từ lòng núi hàng ngàn năm, đáy ruộng càng nhiều đá, rau càng phát triển mạnh. Rau sinh trưởng mạnh nhất vào mùa đông và đầu mùa xuân, không cần chăm bón gì mà cứ đua nhau mọc xanh mướt.

Không chỉ phục vụ cho việc tắm giặt, tưới rau, hệ thống giếng này còn là nguồn nước uống tinh khiết cho dân làng.



Ai đã đào giếng cổ?



Câu hỏi này đến nay cả làng Hảo Sơn không ai biết. Cụ Trần Đức Điền (80 tuổi) dẫn chúng tôi đi xem những giếng cổ và cho biết: “Cả xã có hơn 20 giếng cổ, 14 cái được công nhận di tích văn hóa cấp quốc gia, hằng ngày bà con trong làng vẫn lấy nước này để uống, tắm giặt và trồng rau bình thường. Giếng cổ lắm rồi, có ngàn năm tuổi, không ai còn biết rõ nguồn gốc của nó nữa”.

Ông Nguyễn Quang Chức, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích và danh thắng tỉnh Quảng Trị, thông tin thêm: 14 giếng cổ nói trên vẫn chưa được xác định cụ thể niên đại và đã có nhiều giả thiết khác nhau về chủ nhân của nó. Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học cho rằng hệ thống giếng cổ Gio An được tạo ra vào thời kỳ cuối của thời đại đồ đá mới.

Lục tư liệu, chúng tôi được biết từ những năm 1937-1940, bà M. Colani, nhà khảo cổ học người Pháp đã nghiên cứu những giếng cổ ở Gio An một cách công phu và quy mô, với một tập sơ đồ về cấu trúc, vị trí giếng cổ vùng này. Tuy nhiên, bà M. Colani kết luận là các giếng này “thuộc về một dân tộc ngoại lai đã để lại hậu duệ của mình ở Quảng Trị”, và cho rằng, thời điểm họ có mặt là “sau Công nguyên” (?).

Sau bà M. Colani, linh mục Cadière cho rằng, chủ nhân của những giếng cổ này là một tộc đoàn ở đại dương tiến vào sinh sống dọc bờ biển Quảng Trị. Ông cũng cho biết thêm, tộc người này bị tiêu diệt vào nửa sau thế kỷ 16 khi đám tù binh nhà Mạc của tướng Mạc Lập Bảo bị Nguyễn Hoàng đày đến đây.

Sau này, hai ông Tạ Chí Đại Tường và Trần Viết Điền lại phủ nhận những giả thiết trên và cho rằng, chủ nhân của những giếng cổ ở Gio An là những chiến tù nhà Mạc năm 1572. Tuy nhiên, theo nghiên cứu mới đây nhất của các nhà nghiên cứu Đào Hùng, Bùi Huy Đáp, Phan Ngọc Chiến, Lê Duy Sơn, Lâm Mỹ Dung thì đều cho rằng hệ thống giếng cổ đó là thành quả của người Chăm, hoặc là thành quả của sự giao lưu Chăm Pa-Đại Việt.

Kiến trúc khai thác nước độc đáo



Hệ thống dẫn thủy nhập điền với những con mương được ghép bằng đá cuội là hệ thống thủy lợi độc đáo, thể hiện rõ đặc trưng của cư dân nông nghiệp. Ảnh: NGUYÊN LINH

Để tạo ra những giếng cổ này, người xưa đã biết tận dụng những mạch nước ngầm chảy từ lòng núi ra để xếp đá, ngăn dòng, lập bể, khai mương làm thủy lợi... Theo ông Chức, những giếng cổ này là “hệ thống dẫn thủy cổ”, vừa có giá trị khảo cổ, vừa có giá trị văn hóa quý báu, là công trình thủy lợi độc đáo, tiêu biểu cho loại hình khai thác nước cổ ở miền Trung.



Giếng Bà, một trong số ít giếng cổ có tuổi đời khoảng 5.000 năm còn nguyên vẹn cho đến ngày nay. Ảnh: NGUYÊN LINH

Các giếng đều mang những cái tên gọi khá độc đáo như: giếng Ông, giếng Bà, giếng Tép, giếng Gai, giếng Cõi, giếng Pheo... nằm ở giữa hoặc dưới chân các quả đồi để khai thác các mạch nước ngầm chảy ra từ trong lòng núi. Ông Trần Văn Thụn (76 tuổi, người làng Hảo Sơn) phấn khởi: “Thời tiết khô hạn đến mô thì giếng cổ Gio An vẫn không bao giờ cạn nước. Vào mùa đông mạch nước ở giếng cổ rất ấm, mùa hè thì mát lạnh, nên không chỉ tắm giặt, tưới rau mà hệ thống giếng này còn là nguồn nước uống tinh khiết cho dân làng”.

Giếng cổ ở đây được chia thành ba loại, một loại giếng có bể lắng và máng dẫn. Nước nguồn từ khe núi chảy ra bãi hứng xếp bằng đá cuội lớn. Từ bãi hứng này nước sẽ theo các máng chảy xuống bể chứa, gọi là giếng. Sau đó giếng nối với các mương dẫn nước đắp bằng đá chảy vào các ruộng bậc thang bên dưới. Loại thứ hai là những giếng gồm bể chứa đào sâu được xếp đá mồ côi ngay cửa mạch nước chảy trực tiếp ra từ trong sườn núi, không thông qua máng dẫn. Thứ ba là loại giếng dùng những khối đá nguyên được chế tác thành hình trụ rỗng đường kính khoảng 1 m, cao 50 cm (gọi là bi) đặt sâu dưới lòng đất để khai thác nước dựa trên nguyên tắc bình thông nhau.

Gắn với giếng là hệ thống dẫn thủy nhập điền, với những con mương được ghép bằng đá cuội này là hệ thống thủy lợi độc đáo, thể hiện rõ đặc trưng của cư dân nông nghiệp buổi sơ khai. Hiện nay, giếng cổ Gio An trở thành một địa chỉ hấp dẫn thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến xem, nghe những câu chuyện cổ về giếng và để được tắm mình trong nguồn nước tinh khiết, mát lạnh...

Làng rau “độc nhất vô nhị”



Từ những giếng cổ này, dòng nước mát lạnh đã tưới tắm nên vùng rau cải soong Hảo Sơn nức tiếng miền Trung.

Chủ làng Hảo Sơn Trần Văn Lộc dẫn chúng tôi đi thăm đồng rau, kể: “Rau cải soong được đưa vào Huế làm vật dâng vua và thết đãi các vị quần thần. Nhà vua hết lòng khen ngợi và khuyến khích nông dân trồng loại rau đặc biệt này. Đến thời kỳ chiến tranh nơi đây là chiến trường ác liệt, cây rau này sống nhờ trời, nên đã gần như mất giống. Hòa bình, người dân mới trở về làng gom nhặt lại từng cọng rau, gầy dựng lại cánh đồng rau, phát triển kinh tế”.

Cánh đồng rau cải soong làng Hảo Sơn là những thửa ruộng bậc thang vắt qua thung lũng nhỏ hẹp, ruộng năm sáu bậc, lúc nào cũng tràn trề nước chảy ra từ long mạch của những chiếc giếng cổ. Nước và đá là hai “đặc sản” vùng này. Nước từ giếng cổ phun ra mát lạnh, trong vắt, chảy tỏa ra các thửa ruộng bậc thang trồng rau. Và đá xếp thành bè, thành khối. Có nơi đá mồ côi nằm rải rác, nằm chồm hổm ngay giữa cánh đồng rau, nhìn từ xa như có cả đàn voi, đàn trâu đang nằm nghỉ.

Chủ tịch xã Gio An Hà Hắc Chiểu cho biết ngày trước dân xã này nghèo, nhưng khi cây rau cải soong bán được giá nên đời sống người dân đã khá giả hơn rất nhiều. Nhờ cây rau đặc sản mà người dân giàu lên, xây được nhà rất khang trang với tiện nghi sinh hoạt đắt tiền và còn nuôi được con cái học hành đến nơi đến chốn.

Anh Thuyền, một “đại gia” rau cải soong ở làng Hảo Sơn, khoe: “Có mùa bán rau thu về 30-40 triệu đồng. Nhà tui cũng nhờ mấy sào rau mà xây được nhà, mua được xe máy, chu cấp cho con cái học hành”. Mỗi mét vuông trồng rau cải soong có thể thu được 25-30 bó mỗi lần, cứ 10 đến 15 ngày thu hoạch một lứa, chỉ tưới bằng nước giếng, chứ không cần đầu tư gì. Lúc chia tay, ông Chiểu vui vẻ: “Rau cải soong quê tui đã xuất khẩu cả sang Lào, đắt như tôm tươi. Tới đây, chúng tôi sẽ xin kinh phí đầu tư xây mương thủy lợi để chủ động nguồn nước, hình thành một vùng chuyên canh rau cải soong cho thị trường cả nước, đồng thời xây dựng tour du lịch khám phá giếng cổ để tạo thêm nguồn thu nhập, nâng cao đời sống cho bà con”.










CHUYÊN GIA ĐÀO GIẾNG

Hàng bao đời nay, nguồn cung cấp nước cho người dân cả vùng miền tây Gio Linh (Quảng Trị) là những chiếc giếng cổ tự chảy từ lòng núi. Nguồn nước này đủ cho dân dùng, nhưng để vận chuyển nước về nhà là cả một kỳ công.

Ở đây muốn đào một cái giếng phải tốn hàng trăm triệu đồng, vì tầng đá tổ ong, đá xanh rất dày phía dưới. Thế nhưng ba năm trở lại đây, người dân bắt đầu nghĩ đến chuyện đào giếng, vì có một người khoan giếng nức tiếng một vùng. Mỗi năm, mũi khoan của ông tạo ra hàng trăm giếng nước. Ông được gọi là "thần Nước"của người dân Gio Linh. Nước ngọt đang dần có mặt trên miền đá...

Lên với miền Tây, về với miền Đông

Vùng đất phía tây Gio Linh được gọi là miền đá. Người dân sống trên miền đá, nên chuyện đào một cái giếng nước là rất khó, vì tầng đá ở phía dưới dày vài ba chục mét. Trong vùng có nhiều giếng cổ tự chảy từ lòng núi, nước đủ cung cấp cho người dân nhưng đưa được nước về nhà là một việc khó. Nước cũng chỉ đủ dùng, chứ không ai có sức gánh về tưới cho vườn cây. Công việc gánh nước lại "ưu tiên" cho phụ nữ. Gia đình nào có một cái giếng trong vườn được xem là hạnh phúc, là sung túc lắm rồi. Có nhiều nhà bỏ ra vài ba chục triệu đào giếng nhưng không có nước. Những cái giếng với độ sâu 25-30 mét trở lên xem như là chuyện thường. Sống trên miền đá nên muốn có một cái giếng phải thuê thợ đào hàng tháng trời. Đá phải đục, chẻ theo vòng tròn lòng giếng. Thợ đào giếng dù thật khoẻ, đục đá được chừng hai giờ đồng hồ là phải lên, vì ở phía dưới thiếu không khí, càng xuống sâu sức càng yếu. Gia đình anh Tâm, anh Ái (thôn An Nha, Gio An) đã bỏ ra nhiều tiền của, đào được chừng 25 mét, nhưng đành lấp giếng, vì mãi vẫn chưa gặp được nước. Ông Hùng trưởng thôn Trảng Rộng (Linh Thượng) thuê thợ khoan đến 54 mét đá, không có nước, đành bỏ.

Dân miền Tây sống trên đá, còn dân vùng phía Đông sống trên cát, bao đời nay phải chịu cảnh uống nước nhiễm phèn. Đào giếng chỉ cần sâu 3-5 mét là có nước, nhưng muốn uống được, phải dùng hệ thống bể lọc váng phèn. Tầng đất tại Lại An (Gio Mỹ) 15-20 mét phía trên là nước phèn, đến 35 mét gặp nước mặn, và phải đến độ sâu 65 mét mới có nước ngọt.

Nước không có, nước nhiễm phèn gần như gắn với cuộc sống của người dân Gio Linh ở một số nơi. Nhưng rồi, người được gọi là "thần Nước" ấy đã đưa mũi khoan của mình đến với từng hộ dân. Ông tên là Lý Văn Ký, chủ doanh nghiệp Nhật Ký, cái tên"thần Nước" cũng do người dân đặt cho ông.

Dưới nhiều lớp đá là... nước

Người đàn ông cao, gầy ấy không có dáng gì của một ông chủ doanh nghiệp như trong tưởng tượng của tôi. Ông bảo, phải thành lập doanh nghiệp "cho dễ ăn nói với người ta, ký hợp đồng với các đơn vị khác cũng dễ dàng hơn"". Còn bí quyết để khoan cái giếng nào cũng thành công, chính là lòng kiên trì. "Người ta bỏ cuộc, nhưng tôi thì nhận làm hết, lỗ cũng phải làm. Cái giếng nước gắn với cuộc đời người phụ nữ, mình làm được tức là giải phóng một phần công việc cho họ. Vì ở dưới nhiều lớp đá là... nước".

Trước khi đến với nghề khoan giếng, ông Ký đã trãi qua nhiều nghề khác nhau. Trước những năm 1980 ông từng có một xưởng may nhỏ, rồi thời gian từ 1980-1990 ông chuyển sang nghề cơ khí. Ông từng nổi tiếng với máy xay xát gạo mang tên L-200 khi nghiên cứu, cải tiến máy xay L-400 của Nhà nước sản xuất để kích thước của nó chỉ còn lại một nửa, vì nó quá lớn so với nhu cầu của dân vùng nông thôn. Gần 1.000 máy xay xát loại nhỏ ra đời cung cấp cho thị trường nông thôn vùng Bắc Trung bộ thời ấy. Ông bảo trong tay ông giờ có đến 14 nghề có thể lấy được tiền thiên hạ. Đến với nghề khoan giếng là một sự tình cờ đối với ông.

Nhà ông ở cạnh quốc lộ, mở quán cơm nên cần một cái giếng để đủ nước dùng và cho khách tắm rửa, ông thuê người khoan giếng. Nhưng đội khoan ấy chỉ đào được chừng 15 mét thì bỏ cuộc, do không có mũi khoan nào chịu được lớp đá phía dưới. Nếu dùng mũi khoan có giá 1,5 triệu đồng/mũi thì chỉ khoan 2 mét là phải thay mũi khác, càng xuống sâu càng tốn kém, mà cũng không chắc có nước ở bên dưới hay không. Thế là ông mày mò đi tìm hiểu ở các dàn khoan khác, rồi chế tạo một dàn khoan riêng, mũi khoan có thể chịu đựng xuyên qua những lớp đá. Ông thử nghiệm nhiều lần, hỏng thì thay, hư thì sửa, hơn một tháng, cuối cùng cũng khoan đến tầng nước. Cái giếng ấy 8 mét phía trên là đất, gần 17 mét đá, đạt độ sâu 25 mét.

Rồi người dân vùng đá Gio An, Gio Sơn nghe tin tìm đến, nhờ ông khoan giúp giếng cho họ. Ông định từ chối, vì không có kinh nghiệm khoan giếng, không có kinh nghiệm xác định nguồn nước, chỉ có độc tay nghề cơ khí giỏi. Nhưng nghe họ kể chuyện đào một cái giếng có khi mất hàng chục năm, mà tính ông lại thích làm những nghề mới, nên nhận lời. Cũng may, đó là thời điểm Trường Đại học Mỏ-địa chất tiến hành khoan thăm dò tại Quảng Trị. Họ thuê ông chế mũi khoan. Bù lại, ông học được rất nhiều kinh nghiệm về khoan xuyên đá, về kiến thức địa chất, mạch ngầm nguồn nước, những điều đó đây là lần đầu tiên ông được học. Thế là ông nhận lời đi khoan giếng cho bà con. Công trình đầu tiên là giếng nước của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp Gio Linh tại Cồn Tiên. Sau 18 ngày khoan liên tục, dòng nước được hút lên ở độ sâu 63 mét. Sau khi tính toán mọi chi phí, ông lấy 8 triệu đồng. Mức giá ấy làm nhiều người ngạc nhiên, vì trước đó một đơn vị nhà nước khoan một cái giếng ở vùng này có giá... 130 triệu đồng!

Theo nghề một thời gian, ông quyết định xách túi đi Hà Nội, mới đây, ông đi tiếp Sài Gòn một chuyến. Đi để học cách người ta chế mũi khoan như thế nào. Hiện nay, ông có trong tay hơn 100 mũi khoan khác nhau, 26 công nhân và 6 giàn khoan. Tất cả mọi bí quyết thành công, ngoài lòng kiên trì, đều nằm ở thông số máy móc do ông chế tạo. Ông có cách riêng để chế tạo mũi khoan. Khoan liên tục, nếu quay nhanh sẽ bể mũi, quay chậm không mài được đá; nếu gián đoạn thì đất đá quyện chặt, máy khoan ngưng chạy; mạch tĩnh, sâu, cạn thì dùng máy loại lớn hay nhỏ. Trước khi khoan, ông tiến hành khảo sát loại đất, đá; khi có nước rồi thì phải đo lưu lượng, chất lượng nước, nước đạt tiêu chuẩn mới chấp nhận khoan. Chỉ mới ba năm trong nghề mà ông đã học được kinh nghiệm cầm đá biết loại gì, cường độ bao nhiêu, trong đá có nước, hay không có nước. Dấu chân của ông đã đặt khắp vùng đất Gio Linh, Vĩnh Linh, Đăk Rông. Tại vùng đất Hải Thái (Gio Linh), ông đã khoan 70 giếng nước cho đồng bào dân tộc theo nguồn vốn của Tổ chức Oxfam Hồng Kông. Mới đây, ông nhận khoan cho 78 hộ gia đình tại làng tái định cư thôn Trúc Lâm (Gio Quang, Gio Linh) theo hợp đồng của Tổ chức rà phá bom mìn MAG. Mỗi cái giếng có độ sâu 40 mét, giá thành chỉ có 3 triệu đồng/giếng. Từ khi bắt đầu theo nghề khoan giếng đến giờ, ông Ký và tổ khoan của mình đã làm được hơn 200 giếng nước cho người dân. Những vùng toàn đá như An Nha, Hảo Sơn (Gio An, Gio Linh) ông cũng lấy không quá 2 triệu đồng/giếng. Ông xác định, dân quê mình còn nghèo, chỉ lấy công làm lãi mà thôi. Dù năm đầu tiên theo nghề khoan giếng, ông nợ ngân hàng và bạn bè 44 triệu đồng.

Dự định của ông trong thời gian tới sẽ chế tạo một máy bơm vùng cao, giá rất rẻ, chỉ khoảng tám trăm nghìn đồng, trong khi giá thị trường hiện nay là 2,5 triệu đồng. Ông đã chế tạo thử trên đồ nhựa và thực hành tại đồi C1 thành công. "Nếu ngon lành, tôi sẽ đăng ký bản quyền", ông tự tin khẳng định như vậy.

Ông Ký đã từng sống một tuổi thơ nghèo khổ, lớn lên làm nhiều nghề, rồi gắn bó với nghề cơ khí, gần 20 tuổi ông mới biết chữ. Nhưng nói tới máy móc, ông có thể ngồi nói hàng giờ. Tại Quảng Trị bây giờ, ông gắn với chương trình nước sạch nông thôn như máu với thịt vậy.

.....................................Nguyệt Linh
(Theo báo Thanh Nien)

Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
UNhien
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Oct 19, 2009
Bài gửi: 91

Bài gửigửi: 23.10.2009    Tiêu đề: Gửi Anh Phan Hồng Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Có một điều mà ít ai biết đến là đặc điểm của cây cải soong, nếu ăn nó nhiều bữa trong ngày hoặc ăn liên tục trong nhiều ngày thì sẽ bị tật đái dắt liên tiếp mấy bữa. Theo kết quả nghiên cứu thì nguyên nhân là do thứ rau này có một hoạt chất làm rối loạn cơ co bóp ở bộng đái. Thứ rau này không phải chỉ ở Gio Linh mới có đặc điểm thích nước sạch, mà ở bất kỳ đâu nó cũng phát triển nhanh và non tươi khi ở chổ nước chảy. Nhưng đặc điểm lạ nhất của cải soong Gio An là ăn nhiều vẫn không bị đái dắt, thế mới lạ. Hơn nữa loại cải này hái lên là phải ăn trong ngày mới ngon, nếu để qua ngày thì chát, đắng. Riêng cải Gio Anh thì không. Có lẽ như bài viết nói chính là do nguồn nước đặc biệt của Gia An.
Món ăn tuyệt vời nhất của cải soong, cũng là món ăn dân dã của vùng này, xép cải tươi rữa sạch lên dĩa, xối nước dấm pha tỏi lên trước, sau đó xào tái thịt bò bỏ đổ lên trên, lúc ăn kẹp thịt bò với rau, ăn bá chấy luôn...hì hi..
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn Website của thành viên này
PhanHong
Thành viên
Thành viên


Ngày tham gia: Nov 27, 2005
Bài gửi: 2344
Đến từ: Hà Nội

Bài gửigửi: 23.10.2009    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Qua bài viết này của Ư Nhiên, tôi đồ rằng bạn là Nam giới, vì ít Nữ giới dám viết kiểu này lắm. hypnotized

Họ kín đáo hơn.

À, mà quê ư Nhiên ở BN phải không? whew!

PH
Chuyển lên trên
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    VNKATONÁK FORUMS -> Trang văn nghệ của VNKATONÁK Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ]
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8  Trang kế
Trang 7 trong tổng số 8 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Trang chính  | Diễn đàn  | Gửi bài viết  | Hiệp Hội Doanh Nghiệp  | Hội Hữu Nghị  |
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Copy Right© VNKATONÁK
Design by VietCom™ SC, 9/37 Tạ Quang Bửu, Hanoi.
MB: +84983019375, E-mail: sonhai937@gmail.com
Using PHP-Nuke and phpBB engine code
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Best with Mozilla's Firefox Web Browser